Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

29/5/12

TNS Mỹ John McCain nói về giải quyết tranh chấp ở Biển Đông

(VOV) - Việc đàm phán để đi đến một hiệp định chia sẻ những nguồn tài nguyên lớn sẽ giúp giảm căng thẳng trong khu vực.

Thượng nghị sỹ (TNS) John McCain, một chính khách và từng là ứng cử viên Tổng thống Mỹ của Đảng Cộng hòa cho rằng, Trung Quốc cần ngồi lại đàm phán chung với các nước hiện có tranh chấp ở Biển Đông.

Khu vực bãi cạn Scarborough- nơi đang xảy ra tranh chấp chủ quyền giữa Philippines và Trung Quốc 
(Ảnh: QQ)

Phóng viên Đài TNVN thường trú tại Mỹ phỏng vấn TNS John McCain về vấn đề này.

PV: Thưa TNS, thời gian gần đây căng thẳng liên tục gia tăng tại khu vực Biển Đông. Nhiều nước, trong đó có Việt Nam cho rằng, việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đường lưỡi bò là vô lý. Theo ông, tại sao trong 2 năm qua, Trung Quốc lại đẩy mạnh đòi chủ quyền ở Biển Đông và ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

TNS John McCain: Trung Quốc đang trở thành một cường quốc kinh tế, do vậy nước này đang cần rất nhiều nguyên liệu thô, trong đó có dầu mỏ. Trung Quốc thấy rằng, có một trữ lượng dầu mỏ rất lớn tại khu vực Biển Đông. Đây là một nhân tố quan trọng để giúp Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng.

Trong thời gian qua, Trung Quốc đã tuyên bố đường 9 đoạn. Họ cho rằng khu vực Biển Đông là thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc. Đó là một tuyên bố không đúng sự thật. Khu vực Biển Đông là khu vực lãnh hải quốc tế. Chính vì thế mà tất cả chúng ta đều mong muốn có sự thương lượng hòa bình giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực để giải quyết tranh chấp này một cách hòa bình.

Thời gian gần đây, trong khu vực đã diễn ra xung đột, căng thẳng tăng lên. Những căng thẳng đó cần phải được loại bỏ và đàm phán chính là câu trả lời cho vấn đề này.

Thượng nghị sĩ John McCain (giữa) nói chuyện với sinh viên Học viện Ngoại giao tại Hà Nội trong chuyến thăm Việt Nam tháng 4/2010 (Ảnh: Tuổi trẻ)

PV: Cộng đồng quốc tế, đặc biệt là ASEAN cần phải làm gì để giúp giải quyết vấn đề tranh chấp ở Biển Đông? Việt Nam cũng như các nước có tranh chấp khác cần làm gì để duy trì hòa bình và an ninh trong khu vực?

TNS John McCain: Các nước ASEAN cần phải thúc giục Trung Quốc tiến hành đàm phán như Khối này đã từng làm trong thời gian qua. ASEAN cũng cần thúc giục Trung Quốc đàm phán chung với các nước. Tại các cuộc họp của ASEAN, từng nước thành viên trong Khối đã chủ động phê phán Trung Quốc vì không thực hiện công việc này. Tôi không cho rằng, Trung Quốc mong muốn xung đột hoặc đẩy căng thẳng lên cao, nhưng tôi tin rằng Trung Quốc không hành động theo cách nhằm hướng đến một giải pháp hòa bình hơn.

Như tôi đã nói, Trung Quốc cần phải đàm phán các nước trong khu vực như Philippines, Việt Nam, Indonesia và các nước khác có lợi ích trong khu vực cũng như các nước quan tâm đến việc giảm thiểu căng thẳng trong khu vực. Theo tôi, những cuộc đàm phán đó sẽ rất có hiệu quả.

Chiến lược của Trung Quốc hiện nay là sẽ đàm phán với từng nước một, nhưng tôi cho rằng đó không phải là cách đàm phán mà các nước nên tiến hành, mà các nước cần thực hiện theo hướng đàm phán chung cho dù cơ hội thành công là rất ít.

PV: Theo ông, với chiến lược quay trở lại châu Á của chính quyền Tổng thống Obama, Mỹ sẽ làm gì để giúp ổn định tình hình và duy trì hòa bình, an ninh trong khu vực?

TNS John McCain: Mỹ không tin rằng sẽ có xung đột với Trung Quốc. Bản thân tôi không tin rằng sẽ có xung đột với Trung Quốc. Chúng tôi có các đồng minh mạnh trong khu vực và tiến hành hợp tác trên các lĩnh vực như kinh tế, chính trị cũng như quân sự.

Hiện Mỹ có căn cứ quân sự tại Australia. Tôi mong muốn được chứng kiến những hợp tác quân sự theo kiểu đó với các nước khác trong khu vực châu Á. Trong trường hợp đó, Mỹ và các lực lượng của nước chủ nhà có thể tiến hành diễn tập chung để đào tạo chứ không phải để đe dọa Trung Quốc.

PV: Thưa TNS, Trung Quốc nên làm gì để giải quyết vấn đề ở Biển Đông?

TNS John McCain: Tôi cho rằng, bước đầu tiên mà Trung Quốc nên làm là thực hiện theo khuyến nghị của ASEAN cũng như tất cả các nước trong khu vực. Trung Quốc cần ngồi vào bàn đàm phán với các nước có tuyên bố chủ quyền với những tài sản ở khu vực Biển Đông để đi đến một hiệp định chia sẻ những nguồn tài nguyên lớn đó và như thế sẽ giúp giảm căng thẳng trong khu vực.

Tất nhiên sẽ vẫn còn xảy ra những căng thẳng khi kinh tế phát triển nhưng Mỹ sẽ đóng một vai trò hòa bình trong khu vực. Tôi tin rằng, giữa Mỹ và Trung Quốc không thích thú gì xung đột với nhau và tôi cũng cho rằng, các nước khác ở trong khu vực cũng như vậy. Bởi vì khi căng thẳng xảy ra sẽ cũng không mang lại lợi ích gì cho các nước. Mặc dù lúc này, lúc khác vẫn xảy ra xung đột, nhưng tôi cho rằng ASEAN là một tổ chức tốt để các nước phối hợp với nhau giải quyết hiệu quả các vấn đề liên quan đến Trung Quốc.

PV: Ông đánh giá như thế nào về quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề tranh chấp tại khu vực Biển Đông trong thời gian qua?

TNS John McCain: Tôi biết rằng, đây không phải là lần đầu tiên trong lịch sử căng thẳng diễn ra giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhưng tôi tin rằng Việt Nam cam kết và rất mong muốn đạt được một giải pháp mang tính hòa bình về vấn đề này. Việt Nam đã đạt được những tăng trưởng kinh tế to lớn trong 20 năm qua, chúng ta đều không muốn điều gì ngăn cản đà tăng trưởng này. Nếu căng thẳng trong khu vực bị đẩy lên cao sẽ gây hại cho tốc độ tăng trưởng trong khu vực.

Theo tôi, Việt Nam là một quốc gia mạnh về quân sự. Tôi tin rằng, Việt Nam đã đóng một vai trò tuyệt vời, có tính xây dựng cao đối với diễn đàn ASEAN và các diễn đàn thế giới khác. Tôi hy vọng rằng, Mỹ và Việt Nam sẽ hợp tác nhiều hơn nữa trong lĩnh vực quân sự này.

PV: Mỹ đã làm gì để góp phần giải quyết tranh chấp đó và ông sẽ làm gì để giúp giải quyết tranh chấp ở khu vực Biển Đông?

TNS John McCain: Tôi cho rằng, chính quyền Mỹ và Tổng thống Obama hiện nay đã chuyến hướng tập trung sang khu vực châu Á vì Mỹ nhận ra rằng kinh tế thế giới giờ đây là ở châu Á -Thái Bình Dương chứ không phải ở châu Âu như trước đây.

Mỹ cũng thừa nhận rằng, Trung Quốc hiện là một siêu cường trên thế giới. Mỹ có những mối quan hệ với các nước ở châu Á và cần vun đắp mối quan hệ đó. Tôi tin rằng, Mỹ cũng như Việt Nam không có ý định tạo ra căng thẳng. Những nỗ lực của chúng tôi là làm giảm căng thẳng và với những đồng minh tốt về kinh tế, chính trị và quân sự. Chúng ta có thể đạt được mục tiêu giảm những căng thẳng trong khu vực.

PV: Xin cảm ơn Thượng nghị sỹ!./.

Minh Hiển/từ Washington

Tàu chiến đổ đến Tây Thái Bình Dương

(Thanh Niên Online) - Tại khu vực đang diễn ra nhiều chuyển động quân sự sôi nổi trong bối cảnh căng thẳng gia tăng trên biển.

Tàu USS Vandegrift bắn tên lửa SM-1 trong một đợt diễn tập - Ảnh: US Navy

Tờ Philippine Star đưa tin 3 tàu chiến Nhật Bản ngày 28.5 đã đến vịnh Manila, bắt đầu chuyến thăm hữu nghị Philippines. Trong đó, tàu JS Kashima có độ choán nước 4.050 tấn, được trang bị súng 76 li và 2 cặp ống phóng 3 ngư lôi cùng thủy thủ đoàn 360 người; 2 tàu JS Shimayuki và JS Matsuyuki có độ choán nước 3.050 tấn, trang bị tên lửa đối đất và chống tàu ngầm cùng bệ phóng ngư lôi. Chuyến thăm diễn ra sau tuyên bố của Nhật về việc cung cấp cho Philippines 10 tàu tuần tra mới vào cuối năm nay. Cả hai nước đều đang vướng vào tranh chấp gay gắt với Trung Quốc trên biển Đông và biển Hoa Đông. Mới đây, tờ Yomiuri Shimbun đăng bài xã luận cho rằng Tokyo không thể khoanh tay ngồi nhìn Trung Quốc gia tăng hoạt động quân sự tại biển Đông và sự ổn định tại khu vực này liên quan trực tiếp đến lợi ích quốc gia của Nhật. Trước tàu Nhật, tàu ngầm USS North Carolina của Mỹ và 2 tàu chiến Ấn Độ cũng vừa thăm Philippines.

Cũng trong ngày 28.5, các chiến hạm của Mỹ đã cập cảng Surabaya của Indonesia, theo tờ Jakarta Post. Tàu khu trục USS Vandegrift FFG-48, tàu tấn công đổ bộ USS Germantown LSD-42 và tàu tuần dương USCG Waesche mang theo khoảng 830 quân nhân và tham gia tập trận chung với hải quân Indonesia. USS Vandegrift sẽ được triển khai ở khu vực trong 6 tháng và tập trận chung với hải quân các nước Bangladesh, Brunei, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan.

Trong một diễn biến khác, cuộc tập trận chung đầu tiên giữa hải quân Hàn Quốc và Úc cũng đã được triển khai ngoài khơi bờ biển Jeju từ ngày 28.5. Trọng tâm diễn tập là dò tìm tàu ngầm và ngư lôi địch. Yonhaps đưa tin 2 nước đã triển khai tổng cộng khoảng 10 tàu chiến lẫn tàu ngầm. Trong đó, nổi bật có tàu khu trục Ballarat của Úc được trang bị tên lửa dẫn đường và tàu khu trục Sejong Đại đế của Hàn Quốc với hệ thống phòng thủ Aegis.
Mỹ gửi phái đoàn lớn đến Đối thoại Shangri-La

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta, Tổng tham mưu trưởng Martin Dempsey và người đứng đầu Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Samuel Locklear sẽ dự diễn đàn an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương thường niên mang tên Đối thoại Shangri-La (SLD) tại Singapore vào đầu tháng tới, báo Straits Times dẫn nguồn tin riêng cho hay. Sự hiện diện cùng lúc của 3 quan chức hàng đầu quân đội Mỹ phần nào phản ánh chiến lược chuyển trọng tâm quân sự và ngoại giao về châu Á - Thái Bình Dương của nước này. Sau SLD, ông Panetta sẽ thăm Việt Nam và Ấn Độ. Diễn ra từ 1-3.6, nghị trình SLD năm nay chú trọng vấn đề an ninh biển, đặc biệt là mâu thuẫn ở biển Đông.

Ngược lại, theo nguồn tin riêng của Thanh Niên, Trung Quốc năm nay sẽ không đưa các nhân vật cấp cao đến SLD như Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt (2011) hay Phó tổng tham mưu trưởng Mã Hiểu Thiên (2010). Tuy vậy, ngay trước SLD, Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì lại thăm chính thức Singapore từ ngày 28-29.5. Đây là lần đầu tiên ông Dương đến Singapore trong vai trò mà ông đảm nhiệm từ tháng 4.2007.

Thục Minh
(VP Singapore)
Trung Quốc hỗ trợ Campuchia 20 triệu USD

Hôm qua, phái đoàn 10 nước ASEAN bắt đầu đến Campuchia để tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng (ADMM) trong 2 ngày 29-30.5. Dự kiến, ngoài các chương trình hợp tác quốc phòng và an ninh thì vấn đề biển Đông cũng sẽ được tập trung bàn thảo. Một trong những trọng tâm là Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC), vốn vừa được ASEAN hoàn tất dự thảo các điểm chính.

Tướng Tea Banh (phải) và tướng Lương Quang Liệt tại Campuchia hôm qua - Ảnh: AFP

Đáng chú ý, ngay trước khi hội nghị diễn ra thì Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt đã đến thăm Campuchia. Ngày 28.5, ông Lương và người đồng cấp nước chủ nhà Tea Banh ký nghị định thư về hợp tác song phương. Theo đó, Trung Quốc sẽ giúp Campuchia 20 triệu USD để củng cố quốc phòng. Tướng Tea Banh cho biết đã mời tướng Lương phát biểu trong ADMM và dự kiến ông này sẽ nêu quan điểm của Trung Quốc trong vấn đề biển Đông. Đầu tháng 4, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào cũng đã thăm Campuchia ngay trước Hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại nước này.

Minh Quang
(VP Bangkok)
Thụy Miên

Đài Loan triển khai tên lửa tầm xa nhắm vào Trung Quốc?

(Thanh Niên Online) - Đài Loan lần đầu tiên đưa vào sử dụng tên lửa tầm xa có khả năng bay đến các căn cứ quân sự quan trọng dọc theo bờ biển phía đông nam Trung Quốc, AFP dẫn lời một tờ báo địa phương đưa tin ngày 28.5.

Tên lửa Hùng Phong 2E của Đài Loan có khả năng bay đến các căn cứ quân sự quan trọng của Trung Quốc - Ảnh: AFP


Một số lượng lớn tên lửa Hùng Phong 2E, với tầm bắn lên đến 500 km, do Đài Loan chế tạo đã được xuất xưởng và đưa vào sử dụng, tờ Liberty Times dẫn nguồn tin giấu tên từ quân đội Đài Loan cho hay.

Bộ Quốc phòng Đài Loan đã từ chối bình luận về thông tin này, nhưng Liberty Times khẳng định dự án sản xuất tên lửa này có mật mã là Chichun và có kinh phí khoảng 1,02 tỉ USD.

Các chuyên gia Đài Loan ước tính, Trung Quốc hiện đã cho dựng hơn 1.600 tên lửa nhắm vào Đài Loan.

“Ở mức độ nào đó, thì các tên lửa của Đài Loan được xem như là vũ khí để phòng vệ. Trong trường hợp chiến tranh nổ ra, Đài Loan có thể dùng các tên lửa này để tấn công các sân bay và các căn cứ quân sự của Trung Quốc”, ông Kevin Cheng - Tổng biên tập tạp chí Quốc phòng châu Á - Thái Bình Dương tại Đài Bắc - nói với AFP.

Ông Cheng cũng nhẩm tính hiện có hơn 100 tên lửa Hùng Phong 2E nhắm vào Trung Quốc.

Ông Song Jaw Wen - thành viên một ủy ban chuyên phân tích báo cáo của Quốc phòng Đài Loan năm 2011 - nói rằng, đây là lần đầu tiên Đài Loan triển khai tên lửa hành trình nhắm vào Trung Quốc.

Hoàng Uy

Trung Quốc tuyên bố sẽ dùng vũ lực ở Biển Đông

(Viet Bao) - Tờ China Daily – cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, hôm nay (28/5) đăng tải một bài viết, trong đó tuyên bố sẽ dùng vũ lực ở Biển Đông nếu thấy cần thiết.


Theo China Daily, Manila đang doạ dẫm Bắc Kinh bằng một loạt những hành động như quấy nhiễu tàu thuyền; tìm cách lôi kéo Mỹ vào tranh chấp Biển Đông; đặt lại tên đảo Hoàng Nham; khuấy động những cuộc biểu tình chống Trung Quốc...

Trung Quốc cho rằng, Philippines đang “ảo tưởng” về việc có thể giành giật đảo Hoàng Nham với nước này. Bài báo trên tờ China Daily khẳng định, trong thời quan qua, Trung Quốc đã luôn kiềm chế trong cuộc tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông với Philippines. Trong khi đó, Philippines lại đang “xâm lấn vào các hòn đảo, bãi cạn, vùng lãnh hải và cả nguồn lực của Trung Quốc ở Biển Đông”.

Trung Quốc cũng thể hiện thái độ tức giận trước việc Philippines lôi bên thứ 3, cụ thể là Mỹ, vào cuộc tranh chấp ở Biển Đông. Bài viết trên China Daily đã dùng những ngôn từ mạnh mẽ và quyết liệt nhằm chỉ trích Philippines. Theo tờ báo này, Manila đã cự tuyệt những đề nghị thân thiện của Bắc Kinh “trong việc gạt những tranh chấp sang một bên và cùng nhau phát triển”.

Trung Quốc cho rằng, Philippines đang tận dụng chiến lược quay trở lại Châu Á của Mỹ để “làm lợi” cho họ ở Biển Đông. “Bất chấp sự kiềm chế của chúng tôi, Manila vẫn tiếp tục khiêu khích Trung Quốc. Rõ ràng, Philippines đang trở nên bạo gan hơn ở Biển Đông vì họ nghĩ rằng, họ có sự hậu thuận của sức mạnh quân sự Mỹ ở đằng sau”, bài báo của China Daily đã viết như vậy.

Chưa hết, tờ China Daily còn cáo buộc, Tổng thống Philippines Benigno Aquino III đang hy vọng có thể doạ dẫm Trung Quốc nhờ dựa vào Mỹ. Bắc Kinh đã gửi lời cảnh báo đầy sắc lạnh đến Tổng thống Aquino rằng, “Trung Quốc sẽ không bao giờ bị doạ dẫm và sẽ dùng vũ lực để bảo vệ lãnh thổ nếu thấy cần thiết”.

Lối thoái nào cho tranh chấp Philippines-Trung Quốc?

Nếu Philippines và Trung Quốc tiếp tục căng thẳng với nhau ở Biển Đông thì cuộc đối đầu này rất có thể sẽ leo thang thành một cuộc chiến tranh toàn diện. Đây không phải là lời cảnh báo “suông”. Với những ngôn từ cứng rắn kèm theo một loạt hành động đầy kiên quyết của cả Manila và Bắc Kinh, có nhiều khả năng các bên trong cuộc xung đột ở Biển Đông sẽ “vượt qua lằn ranh đỏ”.

Trong suốt cuộc đối đầu căng thẳng nhất kéo dài gần 2 tháng qua giữa Philippines và Trung Quốc xung quanh tranh chấp ở bãi cạn Scarborough, người ta đã chứng kiến một Manila ngày càng quyết liệt và một Trung Quốc ngày càng cứng rắn.

Khác với những lần đụng độ trước, lần này, Philippines tỏ ra mạnh mẽ hơn rất nhiều. Nước này nhiều lần tuyên bố sẽ không lùi bước trong cuộc tranh chấp lãnh thổ hiện nay với Trung Quốc. Điều đó được thể hiện rất rõ qua các động thái của giới lãnh đạo ở Manila trong thời gian qua.

Tổng thống Beningo Aquino III cũng như nhiều quan chức cấp cao khác của Philippines không ngần ngại chỉ trích, tố tội Trung Quốc bằng những ngôn từ mạnh mẽ, sắc nhọn. Sự cứng rắn của Manila khiến nhiều nước láng giềng Châu Á bất ngờ.

Việc Philippines có đủ dũng khí để đối đầu trực diện với nước láng giềng khổng lồ Trung Quốc được cho là có nguyên do. Thứ nhất, Philippines đang trông cậy vào sự giúp đỡ của Mỹ - cường quốc quân sự số 1 thế giới. Thứ hai, Manila tin rằng, trong cuộc đối đầu mới nhất ở Biển Đông hiện nay, họ sẽ nhận được sự ủng hộ của các nước cũng đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.

Về phần mình, Trung Quốc cũng thể hiện sự cứng rắn ở mức cao nhất vì cho rằng, Philippines đang đặt ra một thách thức lớn đối với việc đòi chủ quyền của nước này đối với Biển Đông. Hơn nữa, Bắc Kinh cũng không thể không nổi giận trước việc Manila lôi kéo Mỹ vào cuộc tranh chấp hiện nay. Theo Trung Quốc, Philippines thường xuyên cố tình nhắc đến hiệp ước phòng thủ chung với Mỹ là để hăm doạ nước này.

Với việc cả Trung Quốc và Philippines đều không ai chịu lùi bước, cuộc khủng hoảng ở Biển Đông hiện nay dường như không có lối thoát. Theo một số chuyên gia, cách duy nhất để tháo gỡ “ngòi nổ” này là Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc cùng ký vào Bộ Quy tắc Ứng xử Biển Đông (COC).

Trung Quốc và Philippines bắt buộc phải tận dụng kênh ASEAN và thông qua cơ chế COC để giải quyết cuộc đối đầu giữa họ. Đây rõ ràng là cách tốt nhất để họ vừa làm dịu được tình hình vừa có thể “giữ thể diện” cho mình.

Hồi tuần trước, trong cuộc họp ở thủ đô Phnom Penh, Campuchia, các quan chức cấp cao của ASEAN đã hoàn thành việc phác thảo những điểm chính của COC. Sau khi được ASEAN nhất trí thông qua, Bộ Quy tắc Ứng xử Biển Đông sẽ được đưa ra thảo luận với phía Trung Quốc. Nếu hai bên không nhất trí được với những nội dung đưa ra trong COC trước cuối năm nay thì tình hình Biển Đông được dự đoán là sẽ tiếp tục căng thẳng.

 (Theo VnMedia)

Việt Nam bước đầu phát triển hợp tác quốc phòng với Mỹ

(Infonet) - Ở kênh song phương, Việt Nam thúc đẩy hợp tác quốc phòng với nhiều nước. Trong đó, củng cố quan hệ đối tác chiến lược với Nga và bước đầu phát triển hợp tác quốc phòng với Mỹ phù hợp với khuôn khổ quan hệ song phương.

Việt Nam bước đầu phát triển quan hệ quốc phòng với Mỹ phù hợp với khuôn khổ quan hệ song phương - Ảnh: HC

Ngày 28/5 tại Đà Nẵng, Bộ Ngoại giao đã tổ chức toạ đàm với các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên, lấy ý kiến đóng góp cho báo cáo chuyên đề được Bộ Ngoại giao thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ để phục vụ quá trình soạn thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế của nước ta đến năm 2020.

Trong "Báo cáo đánh giá quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010" do Vụ Chính sách đối ngoại (Bộ Ngoại giao) trình bày tại buổi toạ đàm, việc mở rộng hợp tác an ninh - quốc phòng được xem là lĩnh vực trọng yếu có quan hệ mật thiết đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội của Việt Nam.

"Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này được triển khai có bài bản, theo lộ trình cụ thể, với từng đối tác, trong từng nội dung và ở từng thời điểm phù hợp. Tuy không đi nhanh như hội nhập kinh tế và chính trị nhưng hợp tác quốc phòng - an ninh đã đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận, phục vụ đắc lực yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" - ông Vũ Lê Thái Hoàng (Vụ Chính sách đối ngoại) nhấn mạnh.

Theo đó, ở kênh song phương, Việt Nam thúc đẩy hợp tác quốc phòng với nhiều nước, đặc biệt là các nước có tầm quan trọng chiến lược, biến quốc phòng thành nội dung lớn của hợp tác song phương. Việt Nam ưu tiên hợp tác hợp lý với Lào và Campuchia; từng bước đưa hợp tác quốc phòng Việt - Trung phát triển về mọi mặt; thiết lập quan hệ quốc phòng với các nước ASEAN.

Đồng thời củng cố quan hệ đối tác chiến lược với Nga và bước đầu phát triển hợp tác quốc phòng với Mỹ phù hợp với khuôn khổ quan hệ song phương. Việt Nam xây dựng cơ chế đối thoại chiến lược cấp Thứ trưởng Quốc phòng với các nước lớn như Mỹ, Nhật, Pháp, Ấn Độ, Trung Quốc. Trên thực địa, Việt Nam bước đầu đa dạng các hình thức hợp tác như tuần tra chung trên biển, trao đổi chuyến thăm của tàu hải quân, phối hợp diễn tập cứu hộ cứu nạn...

Trên kênh đa phương, Việt Nam tích cực tham gia các cơ chế và diễn đàn quốc phòng khu vực cũng như quốc tế. Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN 4; đề xuất sáng kiến Hội nghị Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), lần đầu tiên quy tụ Bộ trưởng Quốc phòng từ tất cả các cường quốc ở châu Á - Thái Bình Dương, cùng nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế khác.

"Nhờ có đổi mới quan trọng trong tư duy hợp tác và trong nhận thức về đối tác, đối tượng, hợp tác quốc tế về an ninh có bước chuyển về chất, nâng cao hiệu quả quan hệ với các đối tác láng giềng, khu vực, truyền thống,mở rộng quan hệ với các nước lớn cả trong bảo vệ an ninh nội địa và an ninh biên giới cũng như phòng chống các loại hình tội phạm có yếu tố quốc tế" - báo cáo của Vụ Chính sách đối ngoại (Bộ Ngoại giao) nhấn mạnh.

Tuy nhiên theo báo cáo này, hội nhập quốc tế của Việt Nam về chính trị - an ninh - quốc phòng vẫn còn một số hạn chế, tồn tại. Đặc biệt là chủ trương của Đảng và Nhà nước trong phát triển quan hệ đối tác chiến lược, toàn diện với một số nước chưa được quan tâm quán triệt đầy đủ đến các Bộ, ngành, địa phương... nên việc triển khai thực tế còn chưa đồng bộ. Có trường hợp đặt cao lợi ích cục bộ, địa phương, ngắn hạn mà chưa quan tâm đầy đủ đến lợi ích tổng thể, dài hạn của quốc gia trong phát triển quan hệ với đối tác.

HẢI CHÂU

Mỹ sẵn sàng chiến tranh với Trung Quốc? (kỳ 3)

(BÁO ĐẤT VIỆT) - Để tiếp tục vươn mình trỗi dậy Trung Quốc sẽ phải đối đầu với vô vàn thách thức bởi cường quốc số 1 thế giới chắc chắn sẽ hành động ngày càng quyết liệt để ngăn chặn họ.

Trung – Mỹ có thể chuyển đối đầu thành đối tác

Hiện nay, dường như cả Mỹ và Trung Quốc đang bị cuốn vào một tình thế tiến thoái lưỡng nan cổ điển là: Mỹ quan ngại Trung Quốc hiện đại hóa quân đội và quyết định phải tăng cường hiện diện tại Thái Bình Dường nhằm để có thể để mắt đến mọi động tĩnh của con rồng châu Á. Đáp lại, Trung Quốc cũng nhận thấy rằng họ cần phải nỗ lực hơn nữa mới đủ khả năng đối phó với Mỹ. Tình huống này gợi lại cuộc Chiến tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô.

Sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 chứng tỏ cuộc đối đầu giữa các cường quốc đang yếu dần và các đối thủ của họ không phải là không thể tránh được. Liên Xô trong những năm 1980 đã bắt đầu ký kết nhiều Hiệp ước kiểm soát vũ khí cũng như các cam kết, thỏa thuận hợp tác khác với phương Tây.

Tuy nhiên, do mắc nhiều sai lầm và thiếu sót không được khắc phục kịp thời và hiệu quả, hệ thống Chủ nghĩa xã hội Liên Xô và Đông Âu tự suy yếu rồi sụp đổ chứ không phải sụp đổ bởi các áp lực đến từ chương trình “Cuộc chiến tranh giữa các vì sao” của Tổng thống Ronald Regan như nhiều người ủng hộ luận điệu “ngăn chặn” Trung Quốc tranh luận.

Ngoài ra, có một tin tốt là chiến tranh giữa các cường quốc mới nổi và những kẻ thống trị đang trên đà suy giảm khá hiếm. Trước năm 1914, Đế quốc Đức đã thách thức Vương quốc Anh, tuy nhiên, chiến tranh thế giới lại nổ ra vì những nguyên cớ khác.

Chưa dừng lại ở đó, kịch bản chiến tranh giữa các cường quốc lớn khó có thể xảy ra còn bởi tính chất hủy diệt của các loại vũ khí hiện đại, tối tân mà mỗi bên đang sở hữu ngày nay.

Ngoài ra, sự kết hợp của các yếu tố hữu hình và vô hình cũng làm giảm tần số các cuộc chiến tranh lớn, quy mô và chết chóc. Ngày nay, hàng loạt tin tức từ Syria hay từ Tây Tạng có thể khiến nhiều người quan ngại song trên thực tế, thế giới đang có xu hướng bài trừ bạo lực.

Trong khi đó, theo Diplomat, các tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc hiện nay không bao giờ nên được và sẽ được giải quyết bằng một cuộc xung đột - từ những tranh chấp thương mại cho đến quyền sở hữu trí tuệ. Người Mỹ có thể không ưa các chính sách của Trung Quốc đối với nhóm bất đồng chính kiến thách thức chế độ Cộng sản và đối với các dân tộc thiểu số như người Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ và thậm chí, Đài Loan.

Tuy nhiên, Mỹ cần phải nhận ra thực tế rằng, các áp lực bên ngoài, chẳng hạn, việc gia tăng sự hiện diện của Thủy quân lục chiến Mỹ tại các căn cứ ở Australia, sẽ không thể khiến Bắc Kinh thay đổi chính sách của họ. Ngược lại, bất cứ dấu hiệu nào chứng tỏ Mỹ đe dọa Trung Quốc sẽ chỉ làm khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa và bài ngoài nổi lên mạnh mẽ hơn trong lòng đất nước 1,3 tỷ dân này. Trong khi đó, thực tế, căng thẳng với Mỹ mà lắng dịu, các giá trị dân chủ, tự do sẽ được truyền bá và nhân rộng hơn trong xã hội Trung Quốc.


Trung - Mỹ có thể chuyển từ đối đầu thành đối tác? Ảnh minh họa: AP.

Hơn nữa, nhiều nhà phân tích lập luận, lãnh đạo Trung Quốc, ít nhất là Mao Trạch Đông, không có tham vọng bành trướng ra bên ngoài các khu vực không được xem là thuộc về biên giới lịch sử của Trung Quốc. Bởi xem một số khu vực tại biển Đông thuộc về biên giới lịch sử của mình, Bắc Kinh tuyên bố mở rộng sự hiện diện của họ tại đây bất chấp quan ngại của nhiều quốc gia trong khu vực đồng thời cũng không giấu giếm tham vọng hợp nhất Đài Loan vào Đại lục.

Do đó, tình hình trên đảo Đài Loan trong tương lai, có thể bất ổn và phức tạp. Tuy nhiên, Đài Bắc đang bắt đầu học cách thắt chặt hơn nữa các quan hệ kinh tế thương mại cùng như nhiều quan hệ khác với Đại lục trong khi không từ bỏ lập trường độc lập. Họ đang chứng tỏ khả năng tự lo cho mình mà không cần đến sức mạnh của Hạm đội 7 của Mỹ.

Theo Ngoại trưởng Singapore K. Shanmugam, Mỹ không nên suy nghĩ kiểu “thắng – thua” như thuật ngữ trong lĩnh vực thể thao đối với Trung Quốc. Thay vào đó, người Mỹ cần hiểu rằng: “Thế giới và châu Á đủ lớn để chứa đựng một Trung Quốc đang vươn mình trỗi dậy và cả một nước Mỹ đang hồi sinh”.

Trong "một thế giới phẳng” như hiện nay, Mỹ và Trung Quốc trên thực tế, có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Sự tương tác ngày càng sâu rộng giữa hai nước mang lại cho họ khả năng hỗ trợ lẫn nhau hoặc làm tổn thương lẫn nhau. Xuất phát từ những bất đồng và tranh cãi Một cuộc chiến tranh thương mại là điều có thể xảy ra nhưng hoàn toàn vô nghĩa.

Dòng chảy tự do về hàng hóa và nhân lực mang lại cho Mỹ nhiều lợi ích. 90% người có học vị Tiến sĩ của Mỹ đến từ Trung Quốc nằm trong lực lượng lao động Mỹ đóng vai trò quan trọng giúp cường quốc số 1 thế giới duy trì chất lượng giáo dục cao hơn và giúp họ đi đầu trong công cuộc sáng chế và đổi mới công nghệ.

Cuối cùng, theo Diplomat giới lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc sẽ khôn ngoan hơn để bắt tay hợp tác cùng có lợi. Cả hai bên đều cần năng lượng sạch, thực phẩm và các hệ thống cấp nước sạch, các hệ thống chăm sóc sức khỏe tiên tiến hơn cũng như cần chung sức nỗ lực để giảm thiểu các mối đe dọa an ninh đến từ khu vực Đông Bắc Á (Bán đảo Triều Tiên) và Nam Á (Pakistan).

Do đó, tốt nhất cả Washington và Bắc Kinh không nên hành động ích kỷ nhằm phục vụ cho các lợi ích riêng – yếu tố gia tăng nguy cơ xung đột, đối đầu. Trách nhiệm cao cả của mỗi nước là nên hợp tác với nhau và có ý thức để làm bất cứ điều gì trong khả năng của họ nhằm giúp thế giới phát triển cân đối hài hòa.

Bạch Dương (tổng hợp)

Mỹ sẵn sàng chiến tranh với Trung Quốc? (kỳ 2)

(BÁO ĐẤT VIỆT) - Để tiếp tục vươn mình trỗi dậy Trung Quốc sẽ phải đối đầu với vô vàn thách thức bởi cường quốc số 1 thế giới chắc chắn sẽ hành động ngày càng quyết liệt để ngăn chặn họ.

Khôn ngoan hay sai lầm?

Ngày nay, giới chức hàng đầu của Mỹ dường như đều tin rằng đó là điều tất yếu khi nền dân chủ lâu đời nhất trên thế giới sẽ phải đương đầu với nền văn minh lâu đời nhất trên thế giới đồng thời cũng là quốc gia đông dân nhất thế giới.

Trong giai đoạn hiện nay, Mỹ dù có những biểu hiện của sự suy giảm quyền lực toàn cầu song trên thực tế, họ vẫn mạnh hơn, giàu có hơn và sáng tạo Trung Quốc so với năm 1991. Nói cách khác, Mỹ không suy giảm đến mức tương xứng so với Trung Quốc hay bất cứ một quốc gia mới nổi nào khác.

Tuy nhiên, việc khẳng định điều này (bởi một bộ phận giới phân tích) lại gây ra những hiệu ứng vô cùng nguy hiểm có khả năng đẩy Washington và Bắc Kinh vào một cuộc đối đầu căng thẳng.

Dù Bắc Kinh tăng mạnh ngân sách quốc phòng trong khi Washington lại cắt giảm đi, thì chi tiêu quốc phòng hiện nay của Mỹ vẫn gấp 8 lần so với Trung Quốc. Những cảnh báo thổi phồng về chi tiêu quân sự của Trung Quốc khiến Lầu Năm góc rục rịch lên các kế hoạch và các chương trình đầu tư phát triển công nghệ. Kêu gọi cắt giảm ngân sách quốc phòng là vậy song Tổng thống Obama vẫn hào phóng ủng hộ rót cho Lầu Năm góc những khoản tiền kếch xù, lớn hơn cả khoản ngân sách quốc phòng của 10 quốc gia có ngân sách quốc phòng lớn nhất thế giới cộng lại. Đã thế, Mỹ sẽ không phải đổ tiền tấn hai cuộc chiến tốn kém tại Iraq và Afghanistan nữa sau khi chính thức quyết định rút lui khỏi vũng lầy Trung Đông.

Ngoài ra, bất chấp áp lực phải chi tiêu thắt lưng buộc bụng, hải quân Mỹ sẽ không giảm đội tàu sân bay từ 11 xuống còn 10. Trong khi đó, nhìn về phía Trung Quốc, con rồng châu Á chỉ tự hào với một tàu sân bay được tân trang lại từ khối sắt vụn mua lại của Ukraine, có thể di chuyển trên biển nhưng không được trang bị máy bay có căn cứ mặt đất.

Trong khi đó, Trung Quốc đang đối mặt với hệ quả của tăng trưởng nóng với sự nổi lên của hàng loạt các vấn đề nghiêm trọng như ô nhiễm môi trường, thiếu nước, các vấn đề nhân liên quan đến khẩu học… Đáng báo động là, nếu Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng nóng, những vấn đề trên sẽ ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Theo ước tính chính thức của Bắc Kinh, trong những năm tới, tăng trưởng của Trung Quốc sẽ giảm từ 9 – 10% / năm xuống còn 7%/ năm.

Tuy nhiên, không quan trọng GDP của Trung Quốc cao đến mấy, thu nhập bình quân đầu người của người dân nước này trên thực tế vẫn còn thấp hơn ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và phương Tây.

Bất chấp GDP cao, thu nhập bình quân đầu người của người Trung Quốc vẫn thấp hơn so với Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan và phương Tây. Ảnh minh họa: China Daily.

Ngoài ra, chính sách một con mà Trung Quốc áp dụng nhằm kìm hãm bùng nổ dân số đang đặt ra nhiều hệ quả đáng ngại cho xã hội. Trong vòng 20 năm tới, Trung Quốc sẽ có khoảng 300 triệu người đến tuổi về hưu tương ứng với tỷ lệ công nhân về hưu là 8 người/ ngày gấp bốn lần so với tỷ lệ hai người/ngày hiện nay.Công tác an sinh xã hội dành cho nhóm đối tượng này, theo ước tính có thể làm hao tổn đáng kể GDP của đất nước.

Hơn nữa, Trung Quốc cũng dễ bị tổn thương với các sự kiện ngoại sinh hơn Mỹ. Trung Quốc phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu nhiều hơn Mỹ và ngày càng phải tìm cách nhập khẩu thêm dầu mỏ nhằm thỏa mãn cơn khát năng lượng của nền kinh tế và ở một khía cạnh nhỏ hơn, là để đáp ứng đủ nhiên liệu cho trào lưu nghiện xế hộp của tầng lớp trung lưu ngày càng đông đảo trong nước.

Mỹ, ngược lại, đang tự khai thác nhiều hơn trữ lượng dầu mỏ và khí đốt đồng thời có nguồn cung năng lượng dồi dào và sẵn sàng từ các láng giềng tại châu Mỹ.

Ông K. Shanmugam, Ngoại trưởng Singapore – đồng minh lâu năm của Mỹ trong chuyến viếng thăm Nhà Trắng hồi tháng hai năm nay từng nhấn mạnh rằng các áp lực trong nước cũng như áp lực trước thềm bầu cử Tổng thống Mỹ chính là nguyên nhân "đẩy những luận điệu chống Trung Quốc tiến xa hơn trong các cuộc tranh luận trong nước”. Lập trường cứng rắn với Trung Quốc có thể sẽ giúp ông Obama hoặc bất cứ ứng viên Tổng thống nào ghi điểm trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng vào tháng 11 tới.

Tuy nhiên, theo ông K. Shanmugam, Mỹ không nên đánh giá thấp mức độ của các cuộc tranh luận chống Trung Quốc bởi chúng có thể châm ngòi cho các tình huống phức tạp, nguy hiểm và không ai mong muốn bùng lên, ảnh hưởng đến sự ổn định và hòa bình trong khu vực”.

Nói cách khác, xu hướng đối đầu và không ngừng chuẩn bị cho một kịch bản như trên với Trung Quốc của Mỹ, không có gì phải nghi ngờ sẽ chỉ tổ khiêu khích con rồng châu Á trở nên hung hăng hơn và sẵn sàng cho một cuộc chiến tranh – thảm họa đối với tất cả các bên.

Bạch Dương (tổng hợp)

Lữ đoàn 125 Hải quân bắn đạn thật

(Cuối tháng 5, Lữ đoàn 125 Hải quân Nhân dân Việt Nam sẽ tiến hành cuộc diễn tập bắn đạn thật tại khu vực Hòn Đá Tý, Bình Thuận.

 
Theo thông báo của Lữ đoàn 125 hải quân, đơn vị này sẽ diễn tập quân sự bắn đạn thật trên biển trong 2 ngày 31/5 và 1/6/2012.

Địa điểm bắn đạn thật tại khu vực Hòn Đá Tý thuộc ngoài khơi biển tỉnh Bình Thuận được giới hạn từ Vĩ độ 10010’00”N đến 10100’00”N; từ Kinh độ 108049’00”E đến 108059’00”E.

Để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hoạt động diễn tập quân sự bắn đạn thật trên biển, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Bình Thuận yêu cầu tất cả tàu cá của ngư dân không được đi vào khu vực bắn đạn thật trong thời gian và địa điểm nói trên.

Khi tàu thuyền qua lại trong khu vực ngoài khơi biển Bình Thuận cần phải chú ý đi cách xa tối thiểu khu vực bắn đạn thật trên 3 hải lý.

Theo báo Bình Thuận

Lữ 971 thích nghi với chiến tranh hiện đại

(BÁO ĐẤT VIỆT) - Lữ đoàn vận tải 971 (thuộc Cục vận tải, Tổng cục Hậu cần) là đơn vị cấp chiến lược làm nhiệm vụ vận chuyển đảm bảo cho các đơn vị trên địa bàn thuộc các tỉnh miền Bắc.

Đội hình xe của Lữ đoàn 971 trên đường hành quân thực hiện nhiệm vụ. Nguồn: báo Quân đội Nhân dân
 
Lữ đoàn 971 thành lập ngày 27/5/1997 trên cơ sở sát nhập các trung đoàn vận tải 681, 682 và 32. Lữ đoàn được giao nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, đạn dược, binh khí kỹ thuật, vật chất hậu cần và cơ động bộ đội cho các đơn vị đóng quân trên địa bàn 30 tỉnh, thành phố từ phía Bắc (tính từ Quảng Trị trở ra), tổ chức vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt từ ga phía Bắc vào cho các đơn vị ở miền Trung, miền Nam.

Luôn hoàn thành nhiệm vụ

Những năm qua, khối lượng vận chuyển giao cho lữ đoàn 971 rất lớn, tính chất hàng hóa, đa dạng phức tạp, có nhiều nhiệm vụ quan trọng. Có những thời điểm, lữ đoàn đượ giao nhiều nhiệm vụ đồng thời cùng triển khai một lức, yêu cầu ngày càng cao, nhưng với sự chỉ đạo của các cấp chỉ huy, cán bộ chiến sĩ vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Chỉ tính riêng trong 5 năm (2007 - 2011), lữ đoàn đã vận chuyển 160.093 tấn vũ khí đạn, xăng dầu, quân trang, quân y cho các đơn vị. Ngoài nhiệm vụ chuyển hàng hóa quân sự, lữ đoàn còn thực hiện vận chuyển hàng cứu trợ lữ lụt thiên tai cho đồng bào miền Trung, vận chuyển pháo hoa phục vụ dịp lễ tết, vận chuyển hàng giúp nước bạn Lào – Campuchia.



Cán bộ chiến sĩ đoàn 971 vận chuyển xe tăng - thiết giáp bằng tàu hỏa. 
Nguồn: Tạp chí Quốc phòng toàn dân.

Trong vận chuyển, đơn vị đã duy trì nghiêm nề nếp chính qui, từ hạ mệnh lệnh hành quân đến công tác bảo đảm trên đường. Các đội hình đều được chọn “xe tốt, lái tốt” chỉ huy đội hình có nhiều kinh nghiệm trong tổ chức vận tải đường dài.

Đơn vị cũng thường xuyên tổ chức luyện tập các phương án sẵn sàng chiến đấu. Ví dụ điển hình, trong năm 2009 lữ đoàn tổ chức diễn tập HC09 với một nội dung huấn luyện thực binh được xem là lớn nhất trong ngành vận tải quân sự từ trước tới nay.

Lữ đoàn đã huy động 180 xe các loại, gần 400 cán bộ chiến sĩ tham gia, thực hiện đầy đủ các bước, chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, từ khi nhận lệnh đến đảm bảo vận chuyển cho các đơn vị tác chiến đánh địch tiến công bằng hỏa lực, chú trọng chỉ huy hành quân, triển khai mọi hoạt động tại khu sơ tán, tập trung bí mật và vận chuyển sát với tình hình thực tế, bảo đảm đánh địch trong mọi tình huống có thể xảy ra.

Thích nghi với chiến tranh hiện đại

Trong các cuộc chiến tranh, công tác bảo đảm hậu cần là yếu tố quyết định tới thắng hay bại, đánh hay rút. Và công tác vận tải luôn là khâu trung tâm, vì kẻ địch luôn tìm mọi thủ đoạn để ngăn chặn, đánh phá giao thông vận tải. Vì vậy, mặt trên giao thông luôn là mặt trận nóng bỏng nhất, bởi những trận đánh mang tính sống còn của chiến trường, mọi cuộc chiến tranh.

Kế thừa truyền thông kinh nghiệm thế hệ cha anh đi trước, nghiên cứu kỹ thủ đoạn đánh phá của kẻ địch trong các cuộc chiến tranh gần đây. Lữ đoàn đã đưa ra nhiều sáng kiến để bảo toàn lực lượng, tổ chức bảo đảm vận tải cho các lực lượng vũ trang tác chiến đánh địch.

Đầu tiên, phải chọn khu sơ tán, khu tập trung bí mật. Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng, nới trú ẩn phải vừa thuận tiện cho việc cất giấu phương tiên, vừa đảm bảo cơ đông tốt các xe ra giao nhận hàng hóa ở các kho chiến lược.

Đối với vấn đề cơ động, đội hình xe vận tải thực hiện phân tán theo cấp trung đội, điều hành tập trung, thực hiện ngụy trang, nghi binh theo ba hình thức: ngụy trang giả dạng; ngụy trang truyền thống (đóng giàn mướp che cabin, dùng lá, cành cây khô ngụy trang theo từng địa hình); ngụy trang hiện đại (dùng lưới, bạn che cabin, thùng xe).

Chiến sĩ lữ đoàn 971 trong một lần hành quân, cơ động đường rừng.
Nguồn: báo Quân đội Nhân dân

Trong cất giấu phương tiện, có thể sử dụng một số phương án sau:

- Xây dựng hầm giấu xe một cửa ra vào, kiểu hầm xương cá, ưu điểm loại hầm này bố trí ở địa hình tương đối chật nhưng có nhược điểm khi tập kết đưa xe vào hầm phải quay đầu xe, tốn thời gian.

- Xây dựng hầm giấu xe hai cửa ra vào, kiểu hầm hình thuyền, bố trí ợ địa hình rộng có điều kiện cơ động vào ra một chiều, hầm có ưu điểm rất thuận tiện cho việc cơ động nhưng độ che đỡ không bằng hầm một cửa, khối lượng đào đắp nhiều.

- Lợi dụng địa hình địa vật để cất giấu xe như vườn bạch đàn, keo lá chàm, sườn đồi, núi đều là nơi lý tưởng, vừa đảm bảo bí mật vừa thuận tiện cơ động.

Trong chiến tranh, chúng ta cần triệt để lợi dung hình thức giấu phương tiện này, cùng với việc bố trí nơi sơ tán, khu tập trung bí mật, tổ chức cất giấu phương tiện, ngụy trang nghi binh, bảo đảm vận tải thì việc phối hợp hiệp đồng chặt chẽ với đơn vị bạn và địa phương nơi trú quân, cũng như trên tuyến vận chuyển là yếu tố quan trọng để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Lê Nam

Việt Nam sẽ tham gia tập trận và gìn giữ hòa bình quốc tế

(BÁO ĐẤT VIỆT) - Việt Nam sẽ nâng cấp hội nhập quốc phòng lên mức tham gia các hoạt động quân sự và trao đổi quân sự trên thực tế.

Buổi toạ đàm do Bộ Ngoại giao tổ chức tại Đà Nẵng ngày 28/5

Thông tin trên được trích dẫn từ Dự thảo báo cáo chuyên đề "Định hướng hội nhập quốc tế của Việt Nam đến năm 2020" của Bộ Ngoại giao Việt Nam.

Như tin đã đưa, tại tọa đàm do Bộ Ngoại giao tổ chức ngày 28/5 tại Đà Nẵng lấy ý kiến đóng góp của các tỉnh, thành miền Trung - Tây Nguyên cho dự thảo báo cáo chuyên đề "Định hướng hội nhập quốc tế của Việt Nam đến năm 2020" (do Bộ Ngoại giao thực hiện nhằm phục vụ quá trình soạn thảo Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế của nước ta đến năm 2020), hội nhập về quốc phòng - an ninh (Quốc phòng - An ninh) là một trong những lĩnh vực thu hút nhiều quan tâm của các đại biểu.

Từ những kết quả mở rộng hợp tác Quốc phòng - An ninh giai đoạn 2001 - 2010 (Infonet đã đưa tin), dự thảo báo cáo chuyên đề "Định hướng hội nhập quốc tế của Việt Nam đến năm 2020" do Giám đốc Học viện Ngoại giao Đặng Đình Quý trình bày tại buổi toạ đàm nhấn mạnh, Việt Nam sẽ hướng tới các cấp độ và phạm vi hội nhập cao hơn trong lĩnh vực Quốc phòng - An ninh.

Tham gia tập trận chung, giữ gìn hoà bình

"Hội nhập về Quốc phòng - An ninh sẽ được triển khai theo đúng định hướng "Chủ động, tăng cường hợp tác quốc tế về Quốc phòng - An ninh" và các chủ trương lớn về đối ngoại được nêu trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển 2011; đồng thời phải phù hợp với các xu thế ở khu vực và trên thế giới. Hội nhập về Quốc phòng - An ninh cần phát huy cao tinh thần độc lập, tự chủ và phục vụ tốt nhất cho các mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần hướng tới các cấp độ và phạm vi hội nhập cao hơn trong lĩnh vực Quốc phòng - An ninh" - ông Đặng Đình Quý nói.

Theo báo cáo nêu trên, trước đây Việt Nam từng hội nhập Quốc phòng - An ninh ở cấp độ cao là tham gia các các liên minh quân sự (với Liên Xô cũ). Tuy nhiên hiện nay hội nhập Quốc phòng - An ninh của Việt Nam mới chỉ dừng ở cấp độ thấp nhất là "tham gia các diễn đàn hợp tác AN", cụ thể là tham gia các cơ chế Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Cấp cao Đông Á (EAS)...

Từ nay đến năm 2020, nhóm nội dung đầu tiên mà hội nhập về Quốc phòng - An ninh của Việt Nam sẽ tập trung là "nâng cấp hội nhập QP lên mức tham gia các hoạt động quân sự và trao đổi quân sự trên thực tế", trước hết là các hoạt động gìn giữ hoà bình, kiểm soát vũ khí huỷ diệt, tập trận chung, các dự án hợp tác công nghiệp QP, đào tạo, huấn luyện quân đội.

Ông Đặng Đình Quý đã trình bày nhiều cơ sở lý luận và thực tiễn cho nội dung hội nhập này. Theo đó, xu thế chung của các quốc gia trên thế giới đều tham gia các hoạt động vừa nêu. Một mặt, đóng góp và chia sẻ trách nhiệm gìn giữ hoà bình, an ninh và ổn định trên thế giới; qua đó nâng cao vị thế quốc tế. Mặt khác, tăng cường xây dựng lòng tin với các đối tác.

"Hiện nay, 130 trong số 192 thành viên Liên hợp quốc đã tham gia hoạt động gìn giữ hoà bình. Riêng ở Đông Nam Á. Chỉ còn Lào, Myanmar và Việt Nam là chưa tham gia. Trong ASEAN, đã có ý kiến thành lập lực lượng gìn giữ hoà bình ASEAN và hiện nay ASEAN đã đóng góp hơn 5.000 quân cho lực lượng gìn giữ hoà bình quốc tế" - ông Đặng Đình Quý cho hay.

Bên cạnh đó, theo ông Quý, việc tập trung cho nhóm nội dung "nâng cấp hội nhập QP" sẽ mở thêm cho Việt Nam mặt trận ngoại giao QP trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thông qua hợp tác quốc tế để tranh thủ nguồn lực, xây dựng quân đội nước ta ngày càng hiện đại và chuyên nghiệp. Đồng thời, nhóm nội dung này cũng phù hợp với các nguyên tắc, phương châm, quan điểm chỉ đạo của Việt Nam về Quốc phòng - An ninh, thể hiện được phương châm độc lập, tự chủ trong triển khai đường lối đối ngoại.

Hải quân và Biên phòng Việt Nam huấn luyện nghiệp vụ chung với Hải quân Mỹ tại Đà Nẵng


Hội nhập để tăng cường tiềm lực Quốc phòng - An ninh

Nhóm nội dung quan trọng thứ hai là "tiếp tục chủ động tham gia các cơ chế đối thoại, giao lưu QP song phương và đa phương". Theo dự thảo báo cáo "Định hướng hội nhập quốc tế của Việt Nam đến năm 2020", đây là một trong những cách thức hiệu quả để xây dựng lòng tin và là một hình thức ngoại giao phòng ngừa.

Đồng thời tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị với quân đội các nước nhằm tăng cường trao đổi thông tin, hiểu biết lẫn nhau, tránh hiểu nhầm, hạn chế nghi kị, chuyển thông điệp về tính chất hoà bình tự vệ chung nhưng kiên quyết sẵn sàng giáng trả các hành động xâm hại chủ quyền quốc gia trong chính sách Quốc phòng - An ninh của Việt Nam, thực hiện các cơ chế tích cực và tập quán tốt như tham vấn, thông báo trước, cảnh báo sớm.

Bên cạnh đó, việc chủ động tham gia các cơ chế đối thoại, giao lưu QP song phương và đa phương là để Việt Nam tác động nội dung, tính chất hoạt động của các diễn đàn này theo hướng có lợi, chẳng hạn như đảm bảo vai trò chủ động của ASEAN trong ASEAN và ADMM+, hạn chế các bên nước ngoài sử dụng ASEAN để tiến hành các hoạt động bất lợi cho Việt Nam.

Nhóm nội dung quan trọng thứ ba là "tích cực, chủ động tham gia các hoạt động chung về AN trên thế giới như chống khủng bố quốc tế, chống tội phạm xuyên quốc gia, cứu trợ, cứu nạn, bảo vệ môi trường..." nhằm tăng cường năng lực và sức mạnh của lực lượng AN Việt Nam, góp phần đảm bảo AN toàn diện của đất nước.

Nhóm nội dung quan trọng thứ tư là "tham gia vào các cơ chế, sáng kiến và các đối thoại liên quan đến các vấn đề nhạy cảm về AN mà Việt Nam và các đối tác có sự khác biệt; tăng cường hợp tác AN và hợp tác tương trợ tư pháp với các nước và các tổ chức trên thế giới, bảo đảm AN phục vụ quá trình hội nhập quốc tế của đất nước". Qua đó tăng cường hiểu biết lẫn nhau, chia sẻ khác biệt về quan điểm và giá trị nhằm giảm bớt các bất đồng trên các vấn đề nhạy cảm và chia sẻ thông tin, chuyên môn nghiệp vụ về AN.

Theo dự thảo báo cáo "Định hướng hội nhập quốc tế của Việt Nam đến năm 2020", để có thể hướng tới các cấp độ và phạm vi hội nhập cao hơn trong lĩnh vực Quốc phòng - An ninh một cách thành công, Việt Nam cần nhanh chóng tăng cường tiềm lực mọi mặt của đất nước, tăng cường tiềm lực Quốc phòng - An ninh, đảm bảo năng lực để có thể tham gia các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế.

Theo Infonet

Tranh chấp Biển Đông và Hiệp ước phòng thủ Mỹ-Philippines

(BÁO ĐẤT VIỆT) - Đối đầu căng thẳng Trung Quốc-Philippines ở Biển Đông khiến người ta chú ý đến Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philippines được ký kết cách đây hơn 60 năm.

Nhiều tàu thuyền đã được điều động đến bãi đá ngầm Scarbourough.
Ảnh worldaffairsjournal.org

Nhiều nhà phân tích cho rằng những suy tính chính trị hiện thời có thể sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thực thi hiệp ước này.

Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philippines đang được nghiên cứu ở Washington và Manila, trong đó có các nhà ngoại giao và chính khách chưa chào đời khi văn kiện này được ký kết vào năm 1951.

Giới chức hai nước đang tìm cách xác định phải chăng Mỹ có bổn phận trợ giúp Manila trong trường hợp xảy ra một vụ xung đột quân sự giữa Philippines và Trung Quốc tại một vùng biển cách Vịnh Subic chừng 200 cây số về hướng Tây.

Trong hơn một tháng nay nhiều tàu của Philippines và Trung Quốc đã được triển khai xung quanh bãi đá ngầm Scarborough, sau khi các tàu hải giám Trung Quốc ngăn không cho một tàu hải quân Philippines bắt giữ các ngư dân Trung Quốc.

Hiệp ước giữa Manila và Washington không đề cập một cách cụ thể tới vùng biển Trung Quốc gọi là Nam Hải, Việt Nam gọi là Biển Đông và Philippines gọi là Biển Tây Philippines.

Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Philippines đang lưu giữ những văn thư mà họ nhận được từ các giới chức Mỹ năm 1979 và 1999 như những bằng chứng cho thấy hiệp ước này bao gồm những khu vực ở Biển Tây Philippines (Biển Đông) mà Manila tuyên bố có chủ quyền. Những khu vực này bao gồm bãi đá ngầm Scarborough và một số đảo nhỏ ở Trường Sa - quần đảo đang có tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc, Philippines, Việt Nam, Đài Loan, Malaysia và Brunei.

Năm ngoái, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton nói rằng Washington “sẽ tuân thủ các nghĩa vụ trong hiệp ước với Philippines”. Tuy nhiên, bà Clinton lại không chịu cho biết phía Mỹ sẽ phản ứng ra sao trong trường hợp mà bà gọi là “những sự việc giả định”, như một vụ tấn công của Trung Quốc nhắm vào các lực lượng Philippines ở quần đảo Trường Sa.

Ông Denny Roy, một nhà nghiên cứu cấp cao của Trung tâm Đông Tây ở Hawaii, than phiền rằng hiện nay có một sự chú ý quá độ vào ngôn từ của hiệp ước và những tuyên bố trong những năm trước đây liên quan tới hiệp ước này. Ông nói thêm: "Tôi nghĩ rằng chúng ta nên có một cái nhìn bao quát hơn về những hành động phù hợp nhất với lợi ích của nước Mỹ trong những tình huống có thể xảy ra mà chúng ta có thể dự đoán. Và chắc chắn là việc Mỹ và Trung Quốc giao chiến với nhau vì những nơi được gọi là ‘đảo’ ở Trường Sa sẽ là một việc điên khùng. Cả Mỹ lẫn Trung Quốc, không nước nào chỉ vì những tờ giấy đó mà lâm vào một tình huống điên khùng như vậy”.

Theo ông Roy, là nước có một hạm đội hải quân cũ kỹ với khoảng vài chục chiến hạm cỡ nhỏ và không có một máy bay chiến đấu phản lực nào, Philippines sẽ bị lực lượng hùng hậu của Trung Quốc đè bẹp nếu đôi bên xảy ra chiến tranh. Do đó, ông cho rằng không có gì đáng ngạc nhiên khi chính phủ ở Manila cứ nhất định nói Mỹ có bổn phận giúp đỡ Philippines trong trường hợp xảy ra một vụ xung đột như vậy. Ông nói tiếp: "Đương nhiên, Philippines muốn có một sự diễn giải mạnh mẽ nhất đối với Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philippines. Điều đó có nghĩa là ràng buộc Mỹ càng nhiều càng tốt. Nhưng chúng ta nên biết rằng tất cả các bên đều có mục tiêu riêng và mục tiêu của Philippines là củng cố đòi hỏi chủ quyền của mình vào lúc này, khi họ có cơ hội. Mục tiêu này sẽ khó đạt được trong tương lai, khi sức mạnh mà Trung Quốc có thể phát huy ở khu vực này sẽ mạnh mẽ hơn”.

Đối với người Philippines, yêu cầu Mỹ hỗ trợ quân sự gây ra cảm xúc lẫn lộn. Quốc gia Đông Nam Á này là từng là thuộc địa của Mỹ và các lực lượng Mỹ đã giải phóng Philippines khỏi sự chiếm đóng của Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nhưng tình cảm bài Mỹ gia tăng trong thời hậu chiến đã khiến Thượng viện Philippines vào năm 1991 bỏ phiếu để đóng cửa các căn cứ quân sự của Mỹ ở nước này. Mặc dù vậy, hiệp ước quốc phòng năm 1951 đã không bị hủy bỏ.

Theo Carolina Hernandez - giáo sư danh dự của Đại học Philippines, một số người Philippines từng tranh đấu trong những thập niên trước đây để đòi quân đội Mỹ rút đi bây giờ đã thay đổi lập trường. Bà nói: "Ngay cả những người thuộc các tổ chức tả khuynh cũng nhận ra rằng Philippines không đủ sức để chống cự Trung Quốc. Và do đó, vì quyền lợi của Mỹ ở Biển Tây Philippines (Biển Đông) và quyền lợi của Philippines trùng hợp với nhau vào thời điểm này nên nhiều người trông đợi Mỹ sẽ ra tay để bảo vệ quyền lợi chung của cả hai nước”.

Bà Hernandez là người sáng lập và là người đứng đầu Viện Nghiên cứu Chiến lược và Phát triển ở Manila. Bà nói rằng nhiều người Philippines lo ngại mối quan hệ thương mại giữa Washington và Bắc Kinh sẽ đè bẹp những lợi ích chiến lược của Mỹ ở Philippines. Bà nói: "Có những người vẫn nghĩ rằng Mỹ không đáng tin cậy. Họ không nghĩ rằng Mỹ sẽ gây rủi ro cho mối quan hệ dễ vỡ với Trung Quốc để bảo vệ những quyền lợi hải dương của Philippines. Họ cho rằng Mỹ sẽ không ra tay giúp đỡ Philippines vì quan hệ song phương Mỹ-Trung có một vai trò vô cùng quan trọng trong tương quan quyền lực, không chỉ ở trong khu vực này mà trên toàn thế giới”.

Ông John Bolton, cựu Thứ trướng Ngoại giao Mỹ, cho rằng đó là những nhận định sai lầm. Ông nói: “Philippines có quyền khẳng định những đòi hỏi chủ quyền chính đáng đối với những gì mà họ nghĩ là lãnh thổ của mình, dựa trên các yếu tố địa dư, lịch sử và các hiệp ước… Và tôi nghĩ rằng có một sự đồng thuận là thật ra Trung Quốc mới chính là nước có những đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ rất không chính đáng”.

John Bolton: "Thật ra Trung Quốc mới chính là nước có những đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ rất không chính đáng”. Ảnh REUTERS

Ông Bolton cho rằng Washington nên khuyến khích các nước Đông Nam Á giải quyết những mối tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa họ với nhau, ngõ hầu các nước này có thể có một lập trường thống nhất để cùng với Hoa Kỳ chứng tỏ rằng những mưu toan của Trung Quốc nhằm kiểm soát các vùng biển quốc tế là không thể chấp nhận.

Ông Bolton, cũng từng giữ chức Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc, tiên đoán Trung Quốc sẽ tiếp tục “dọ dẫm và thúc đẩy” những đòi hỏi về chủ quyền biển đảo cho tới khi nào họ gặp phải một sự kháng cự quyết liệt. Ông nói tiếp: “Tôi e rằng họ sẽ tìm cách làm như vậy và sẽ lợi dụng tình hình hiện nay là Mỹ phải chú tâm vào cuộc bầu cử sắp tới. Họ nhận thấy có khả năng là ông Obama bị thất cử cho nên họ sẽ tận lực thúc đẩy trong lúc có một vị tổng thống yếu ở Nhà Trắng. Đó chính là lý do khiến tôi nghĩ rằng trong ngắn hạn các nước ASEAN cần phải ra sức đoàn kết với nhau trong vấn đề này”.

Một số các nhà phân tích cho rằng nếu Bắc Kinh xem chính quyền hiện nay của Mỹ là một chính quyền có xu hướng nhường nhịn thì đó là một nhận định sai lầm. Họ nói rằng Washington chắc chắn sẽ tính tới chuyện phái Hạm đội 7 chiếm lại Scarborough nếu các lực lượng mạnh hơn của Trung Quốc đoạt bãi cạn này từ tay hải quân Philippines.

Trong khi đó, cũng có nhiều nhà quan sát dự đoán trong ngắn hạn, tất cả các bên sẽ tìm cách thức giảm bớt căng thẳng mà không bên nào bị mất thể diện.

Nhưng cho dù căng thẳng có giảm đi nữa thì những vụ tranh chấp chủ quyền rộng lớn hơn vẫn chưa thể giải quyết được, trong lúc Trung Quốc tiếp tục khẳng định đòi hỏi chủ quyền đối với Biển Đông, một khu vực chiến lược và có nhiều tài nguyên thiên nhiên, và Mỹ đang chứng tỏ quyết tâm giữ vững vị thế của một cường quốc Thái Bình Dương.

Theo VOA

28/5/12

Phỏng vấn ông Trần Công Trục: Trung Quốc đánh lạc hướng để độc chiếm tài nguyên Biển Đông

(Phụ nữ & Đời sống) -  “Trung Quốc ý thức được rằng, nếu dùng hải quân đánh chiếm một số vị trí, chắc chắn sẽ khiến các nước trong khu vực và trên thế giới phản ứng rất mạnh mẽ. Cả thế giới sẽ không thể ngồi yên khi ý đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc được hiện thực hóa bằng vũ lực” – Ý kiến của TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ.

TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ


Bước tiến nhằm “độc chiếm tài nguyên Biển Đông”?

PV: - Vụ đụng độ giữa Trung Quốc và Phillipines ở khu vực bãi cạn Scarborough chính thức bắt đầu cho những căng thẳng trên Biển Đông năm nay. So với mọi năm, Trung Quốc nhắm vào Phillipines, thay vì Việt Nam, theo ông, có phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc chọn cách hành xử như vậy?

Trần Công Trục:
- Theo tôi, việc Trung Quốc nhằm vào bãi cạn Scarborough của Phillipines là một sự tính toán có thâm ý, có ý đồ rất sâu sắc, nằm trong những chiến lược bài bản của họ.

Ở đây, tôi xin không phân tích về phép thử phản ứng Mỹ của Trung Quốc vì đã có rất nhiều chuyên gia đề cập tới vấn đề này.

Tôi chỉ phân tích về mặt địa chất và địa lý của bãi cạn Scarborough, một lý do quan trọng khiến Trung Quốc nhằm vào mục tiêu này.

Bãi cạn Scarborough được Trung Quốc coi là một bộ phận của quần đảo Trung Sa - một trong 4 quần đảo ở Biển Đông được Trung Quốc tuyên bố thuộc chủ quyền của mình gồm: Tây Sa, Đông Sa, Trung Sa và Nam Sa - theo cách gọi của Trung Quốc).

Thực chất, nơi mà Trung Quốc gọi là quần đảo Trung Sa cũng là một bãi ngầm, phương Tây gọi là bãi ngầm san hô Macclesfield (Macclesfield Bank).

Theo Công ước về Luật Biển của Liên Hợp Quốc UNCLOS 1982 (phần 8, điều 121), bãi cạn Scarborough không phải là quần đảo, cũng không phải là đảo. Đó là bãi cạn san hô ngầm dưới biển, mang đặc trưng của vòng đai san hô của Thái Bình Dương, nằm ở giữa bãi Macclesfield và đảo Luzon (Phillipines), cách đảo Luzon khoảng 130 hải lý.

Vì thế, chỉ có thể coi đây là một bộ phận của thềm lục địa của quốc gia liên quan, tương tự như các bãi cạn thuộc thềm lục địa của Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Brunei, Philippinnes.

Động vào Scarborough chứng tỏ Trung Quốc muốn gộp Scarborough vào cái gọi là quần đảo Trung Sa (phương Tây gọi là bãi Macclesfield).

Nếu lần này Trung Quốc thành công, tiền lệ Scarborough sẽ tạo cơ sở cho Trung Quốc tiến hành thêm những bước mới, mở rộng phạm vi của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mà họ tự nhận họ có quyền thuộc chủ quyền do sự mở rộng các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia của Trung Quốc.

Những vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa riêng có của các nước sẽ đối mặt với bước đi của Trung Quốc.

PV:- Những căng thẳng ở khu vực bãi cạn Scarborough vẫn đang tiếp diễn với nhiều động thái có vẻ rất cương quyết của Phillipines và Trung Quốc. Theo ông, liệu có khả năng xảy ra xung đột như năm 1974 hay 1988?

Ông Trần Công Trục:- Trước hết, ngoài lợi ích cốt lõi về mặt hàng hải trên Biển Đông, Mỹ còn là đồng minh thân cận của Phillipines, đã ký kết với nước này Hiệp ước Hợp tác phòng thủ năm 1951.

Mỹ đã không làm ngơ trước những căng thẳng ở Scarborough, thể hiện bằng cả phản ứng ngoại giao và hành động thực tế (đưa tàu ngầm tới khu vực bãi cạn Scarborough).

Nếu thực sự xảy ra xung đột vũ trang, Mỹ có trực tiếp tham gia không đang là câu hỏi nhưng Trung Quốc vẫn phải e dè về điểm này.

Mặt khác, theo tôi, Trung Quốc ý thức được rằng, nếu dùng hải quân đánh chiếm một số vị trí, chắc chắn sẽ khiến các nước trong khu vực và trên thế giới phản ứng rất mạnh mẽ. Cả thế gới sẽ không thể ngồi yên khi ý đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc được hiện thực hóa bằng vũ lực.

“Đánh lạc hướng” dư luận thế giới

"Họ đặt Phillipines vào thế lựa chọn, hoặc là Trung Quốc hoặc là không ai cả, vì nếu xảy ra những tranh chấp như vậy, các công ty nước ngoài sẽ ngại hợp tác."
TS Trần Công Trục

PV:- Cố tình đẩy cao căng thẳng ở Scarborough, Trung Quốc nhằm vào mục đích gì?

Ông Trần Công Trục:- Thực chất, họ nhằm vào mục tiêu kinh tế, biến khu vực vốn không có tranh chấp lãnh thổ thành khu vực tranh chấp.

Trong lập luận mơ hồ rằng, bãi cạn Scarborough là một bộ phận của Trung Sa (bãi Macclesfield), Trung Quốc có chủ quyền, họ muốn kéo Phillipines vào đàm phán song phương, để được cùng khai thác, cùng thăm dò tài nguyên khoáng sản ở xung quanh khu vực này.

Họ đặt Phillipines vào thế lựa chọn, hoặc là Trung Quốc hoặc là không ai cả, vì nếu xảy ra những tranh chấp như vậy, các công ty nước ngoài sẽ ngại hợp tác (Exxon Mobiles đã phải rút lui).

Đối với các nước trong khu vực và trên thế giới, dường như giải quyết tranh chấp theo cách như vậy cũng hợp lý, hợp tình, nhất là khi Trung Quốc vẫn luôn tuyên bố tự do hàng hải ở khu vực Biển Đông khiến quyền lợi của họ chưa bị ảnh hưởng trực tiếp. Có thể nói, Trung Quốc muốn “đánh lạc hướng” dư luận thể giới để thực hiện ý đồ chiếm tài nguyên Biển Đông.

Sau Phillipines là Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Brunei
"Các nước không trực tiếp bị ảnh hưởng bởi sự tranh giành chủ quyền của Trung Quốc cũng không thể yên ổn khi căng thẳng và an ninh khu vực không được đảm bảo. Tôi chắc rằng, các nước ASEAN, những nước có liên quan chặt chẽ tới lợi ích và hiểu quá rõ bước đi của Trung Quốc sẽ sớm có tiếng nói đồng tình chung."

TS Trần Công Trục
PV:- Trước các hành động phạm luật quốc tế của Trung Quốc, chẳng hạn vụ Scarborough,Việt Nam luôn bày tỏ sự phản đối đúng luật pháp quốc tế. Liệu đó có phải là do “truyền thống hòa hiếu của dân tộc Việt”? Ông đánh giá như thế nào về những ý kiến cho rằng, Việt Nam cần thể hiện thái độ một cách kiên quyết và mạnh mẽ hơn?

Ông Trần Công Trục:- Mọi phản ứng ngoại giao giữa các quốc gia cũng phải tính toán rất nhiều yếu tố, cân nhắc các mối quan hệ rất nhiều mặt. Theo tôi, dư luận phải chia sẻ và thông cảm với điều đó.

Dù sao, trong các sự kiện đã xảy ra, Việt Nam cũng đã có những tuyên bố về mặt nguyên tắc: các bên phải đàm phán hòa bình và tôn trọng các thỏa thuận đã ký kết như UNCLOS 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông DOC 2002.

Tất nhiên, hi vọng Việt Nam có những tiếng nói mạnh mẽ, cụ thể và sâu sắc hơn cũng là nguyện vọng chính đáng của người dân. Đó là những nguyện vọng xuất phát từ lòng yêu nước, từ lợi ích quốc gia, dân tộc. Những người lãnh đạo hẳn sẽ quan tâm tới nguyện vọng này để có những bước đi cần thiết và phù hợp.

PV:- Ông bình luận thế nào về sự im lặng của Malaysia, Indonesia, Brunei… ? Bởi dù muốn hay không, nếu Trung Quốc thành công, như một vết dầu loang, các nước này sẽ phải đối diện với tham vọng của Trung Quốc.

Ông Trần Công Trục:- Như tôi đã nói từ đầu, trước mỗi sự phản ứng, nhất là đối với Trung Quốc, các nước đều tính toán lợi ích hoặc là trực tiếp hoặc là lâu dài. Nhưng tôi tin rằng, không phải họ im lặng vì họ không biết đến nguy cơ đó.

Mục tiêu của Trung Quốc là nhằm tới lợi ích kinh tế trên các vùng thềm lục địa, các vùng đặc quyền kinh tế trong phạm vi đường lưỡi bò phi lý, đụng chạm tới lợi ích kinh tế của các nước trong khu vực. Chẳng ai có thể ngồi yên khi lợi ích kinh tế của mình bị xâm phạm.

Các nước không trực tiếp bị ảnh hưởng bởi sự tranh giành chủ quyền của Trung Quốc cũng không thể yên ổn khi căng thẳng và an ninh khu vực không được đảm bảo. ASEAN đã đạt được Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông DOC, đang hướng tới mục tiêu thông qua Bộ quy tắc ứng xử COC trong năm 2012.

Tôi chắc rằng, các nước ASEAN, những nước có liên quan chặt chẽ tới lợi ích và hiểu quá rõ bước đi của Trung Quốc sẽ sớm có tiếng nói đồng tình chung.

PV:- Theo ông, ASEAN sẽ có vai trò như thế nào trong thuyết phục Trung Quốc từ bỏ tham vọng “đường lưỡi bò” một cách hòa bình?

Ông Trần Công Trục:- Vấn đề là làm sao đó để ngăn cản được bước phát triển gây ảnh hưởng tới lợi ích chính đáng của các quốc gia, đặc biệt về mặt kinh tế.

Theo tôi, hi vọng ASEAN trở thành một lực lượng thuyết phục Trung Quốc chỉ nhằm tới mục tiêu các nước có liên quan có thể đàm phán công khai, thẳng thắn, giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình.

Theo tôi, để thuyết phục Trung Quốc từ bỏ ý đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc là rất khó, nếu không muốn nói là không thể.

Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta đừng nhìn hoặc buông xuôi. Lịch sử của Việt Nam cũng như nhân loại đã chứng minh, có những điều tưởng chừng như không thể vẫn trở thành điều có thể.

Trong câu chuyện Biển Đông hôm nay, điều đó phụ thuộc vào ý chí, quyết tâm của mỗi người dân, vào bản lĩnh và sự đoàn kết của mỗi quốc gia trong khu vực.

Hoàng Hạnh (Thực hiện)

27/5/12

Điện mật từ Đại sứ quán Mỹ: Brunei nhắn nhủ với Đô đốc Keating, “Chúng tôi cần người Mỹ tại khu vực"

(Nghiên cứu Biển Đông) - Brunei muốn đẩy mạnh những hoạt động hợp tác quân sự với Mỹ, trong đó bao gồm các cuộc diễn tập hải quân, trao đổi, thăm viếng, và chia sẻ thông tin tình báo. Ngoài ra, Brunei cũng đánh giá ASEAN và Trung Quốc vẫn bế tắc trong đàm phán đối với vấn đề khai thác chung tại Biển Đông.


Xuất xứ: Đại sứ quán Mỹ tại Brunei
Thời gian điện: Thứ 5, ngày 01/05/2008;06h47’
Thời gian công bố: Thứ 4, ngày 06/04/2011; 19h54’
Phân loại: Điện mật

Tóm tắt

1.Trong chuyến thăm của Đố đốc Keating, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ tới Brunei, chúng tôi nhận được một thông điệp rõ ràng và nhất quán từ phát ngôn của Quốc vương Haji Hassanal Bolkiah, “chúng tôi cần người Mỹ quanh khu vực này.” Dưới khuôn khổ của một cuộc thảo luận sâu rộng, Quốc vương hoan nghênh các hoạt động hợp tác quân sự giữa Mỹ và Brunei, trong đó bao gồm diễn tập quân sự song phương (CARAT) hàng năm, các chuyến viếng thăm thường xuyên của tàu chiến Mỹ và việc chia sẻ thông tin tình báo mà hai bên đề nghị. Thái tử al-Muhtadee Billah làm chúng tôi ấn tượng vì đã có những bước tiến trong việc tăng cường vai trò của một người thừa kế ngôi vị quốc vương. Bộ trưởng Quốc phòng , Thiếu tướng Halbi và những quan chức quân sự cấp cao khác trình bày vắn tắt về tiến trình xây dựng các mục tiêu trong sách trắng Quốc phòng 2007, nhấn mạnh quan tâm của Brunei đối với việc mua các loại máy bay không người lái (UAVs). Ngoại trưởng Lim Jock Seng chia sẻ quan điểm chung của các nước ASEAN về việc không đạt được tiến triển trên những vấn đề khó trong đối thoại với Trung Quốc, trong đó bao gồm cả việc chia sẻ các nguồn tài nguyên tại Biển Đông. Hết tóm tắt.

Nhà vua “nhiệt tình tham gia”


2.Tư lệnh Bộ tư lệnh Thái Bình Dương, Đô đốc Timothy Keating đã viếng thăm Brunei từ ngày 8 tới ngày 9 tháng 4, gặp gỡ với Quốc vương Haji Hassanal Bolkiah, Thái tử al Muhtadi Billah, Bộ trưởng Quốc phòng Brunei, Thiếu tướng Halbi, các vị lãnh đạo thuộc các quân binh chủng và cả Ngoại trưởng Lim Jock Seng. Đô đốc Keating cũng viếng thăm Trụ sở Hải quân Hoàng gia Brunei tại Muara, ngồi trực thăng từ Bộ Quốc phòng để nghe báo cáo vắn tắt tình hình và quan sát Brunei từ trên không. Đô đốc cũng dành một cuộc phỏng vấn độc quyền cho báo Borneo Bulletin, mộtt tờ báo ra hằng ngày phổ biến nhất ở Brunei.

3.Đô đốc Keating mở đầu cuộc gặp với Quốc vương Brunei bằng việc nêu lên tầm quan trọng của việc Mỹ đẩy mạnh quan hệ hợp tác chống khủng bố chung, nhất là khi những kẻ cực đoan bạo lực đe dọa tới cả hai quốc gia. Đố đốc Keating cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hiệp ước về chia sẻ tin tức tình báo giữa quân đội hai nước, điều mà ngài Quốc vương đã đáp lại rằng, việc chia sẻ tin tức tình báo là “rất quan trọng” đối với Brunei. Khi nói về vấn đề hợp tác an ninh sâu rộng của khu vực Đông Nam Á, Quốc vương nói với Đô đốc Keating rằng “chúng tôi cần có sự hiện diện của người Mỹ ở khu vực này.”

4.Quốc vương cũng hoan nghênh việc Mỹ cam kết duy trì tập trận và liên kết ở một mức độ phù hợp với Brunei. Ông cũng cho biết rằng, những cuộc tập trận, như cuộc tập trận CARAT (Cooperation Afloat Readiness And Training), “là rất có lợi đối với chúng tôi.” Đáp lại nhận xét của Đô đôc Keating về giá trị của việc cho phép các thủy thủ trẻ của Mỹ khám phá thế giới, đặc biệt là với một quốc gia nhỏ, hiện đại, thịnh vượng và trung lập với phần lớn người dân theo đạo Hồi, Quốc vương chỉ ra rằng các chuyên thăm của các tàu Hải quân Mỹ là “rất có ích đối với lớp trẻ của chúng tôi.” Quốc vương đặc biệt nhấn mạnh việc hợp tác quân sự Mỹ-Brunei là “rất tốt”.

5.Trong nội dung cuộc thảo luận, Quốc vương đã tham khảo ý kiến của Đô đốc Keating về tình hình Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên và tiến trình hòa bình tại Trung Đông. Đô đốc trả lời rằng, những nỗ lực hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc cũng được coi là đáng quan ngại. Người Trung Quốc tuyên bố rằng họ chỉ muốn bảo vệ những gì thuộc về mình, theo Đô đốc thì điều này là xác đáng, tuy nhiên, việc phát triển các vũ khí tấn công của họ đe dọa đến các tàu thuyền của Mỹ, và “ làm cho chúng tôi thấy nghi ngờ về mục đích của họ (Trung Quốc).”

6.Về vấn đề Triều Tiên, Đô đốc cho biết ông khá lạc quan về triển vọng phi hạt nhân hóa của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và sự ổn định của bán đảo này. Quốc vương cũng đồng ý rằng, mọi việc xem ra có vẻ “đang đi theo đúng hướng.”

7.Về tiến trình hòa bình Trung Đông, Đô đốc đánh giá cao việc Brunei xem xét tham gia vào Lực lượng Giữ gìn Hòa bình Lâm thời của LHQ (UNIFIL) tại Lebanon. Đô đốc cũng nói về những trải nghiệm của ông khi đóng quân tại Bahrain, qua đó khẳng định rằng, trong khi những người bạn Arab của chúng ta phê phán chính sách của Mỹ trong một số lĩnh vực, Đô đốc cũng tin tưởng rằng họ vẫn đánh giá cao những đóng góp của Mỹ đối với hòa bình trong khu vực.

8.Không khí trong cuộc hội đàm giữa Đô đốc Keating và Quốc vương là rất tuyệt vời. Sau buổi gặp mặt này, Tướng Halbi nhận xét rằng, Quốc vương chưa từng trao đổi với một quan chức quân sự nước ngoài tới thăm Brunei một cách nồng nhiệt đến vậy.

Thái tử tham gia.

9.Cuộc gặp gỡ của Đô đốc Keating với Thái tử Billah cũng bao gồm hầu hết các vấn đề mà ông đã bàn bạc với Quốc vương. Thái tử tham vấn Đô đốc về việc Trung Quốc hiện đại hóa trang bị vũ khí và các vấn đề tiềm tàng xung quanh Thế vận hội Olympics tại Bắc Kinh. Đô đốc Keating nhấn mạnh tầm quan trọng của một cách tiếp cận quốc tế và rộng mở nhằm đối phó với Trung Quốc cũng như sự cần thiết của việc cần khuyến khích Trung Quốc trở thành “một quốc gia có trách nhiệm”. Thái tử ủng hộ dự định duy trì hợp tác của Mỹ đối với cả khối ASEAN và hợp tác song phương với những quốc gia trong khu vực. Trong khi Thái tử lắng nghe nhiều hơn phát biểu thì ông cũng rất chú tâm, ông thường hỏi thêm những câu hỏi cho thấy ông đang vừa theo dõi vừa tư duy về những gì mà Đô đốc Keating đã trình bày. (Bình luận: đây là điểm tiến triển rõ rệt so với sự thể hiện của Thái tử Billah trước đây khi nghe trình bày từ người tiền nhiệm của Đô đốc Keating là Đô đốc Fallon tại Bộ chỉ huy Thái Bình Dương hồi năm 2006. Khi đó thái tử Billah đã chủ động né tránh các vấn đề thực sự và giới hạn bản thân bằng nhận xét “Chúng tôi mong muốn có quan hệ tốt đẹp với tất cả các quốc gia.”)

Tướng Halbi và Quân đội trình bày về chiến lược

10.Trong nhiều cuộc gặp với Đô đốc, tướng Halbi đánh giá cao các hoạt động tập trận quân sự song phương của Mỹ với Lực lượng Vũ trang Hoàng gia Brunei (RBAF). Các nhân viên của Halbi tóm tắt nội dung Sách trắng Quốc phòng năm 2007 của Brunei, trong đó tập trung vào kế hoạch mua sắm các máy bay không người lái (UAVs). Ông Halbi ủng hộ đề xuất trao đổi tình báo quân sự của chúng ta ngay sau khi tạm dừng những hoạt động của Mỹ, điều này khiến cho trưởng Cơ quan Tình báo Quân đội Brunei, Đại tá Ra’smi Malek có phần không hài lòng. (Ghi chú: Đại tá Ra’emi đã trì hoãn những hoạt động trao đổi tin tức tình báo quân sự dù PACOM đã sẵn sang hợp tác, chỉ tới khi ông ta nhận quyết định thuyên chuyển việc này mới được tiến hành.) Đô đốc Keating đề cập đến khả năng trao đổi và đào tạo phát triển chuyên nghiệp cho các sĩ quan nghĩa vụ nếu Brunei có quan tâm.

Ngoại trưởng: Đối thoại ASEAN-Trung Quốc dẫm chân tại chỗ.

11.Trong bữa trưa tại nhà riêng của Đại sứ, Ngoại trưởng II Lim Jock Seng và phần lớn các Trợ lý bộ trưởng đều nói sơ qua về đối thoại ASEAN-Trung Quốc. Brunei hiện nay đang là đối tác đối thoại với Trung Quốc của ASEAN. Ông Lim đánh giá rằng Trung Quốc có chiến lược ngoại giao công khai tinh vi hơn nhiều so với các nước ASEAN. Trung Quốc đã công khai đề xuất một lộ trình quan hệ hòa bình và hợp tác vì sự thịnh vượng chung. Tuy nhiên, Trung Quốc khôn khéo bỏ túi những lơi ích của việc mở cửa thương mại trong buôn bán hàng hóa với ASEAN trong khi cố tình trì hoãn các tiến trình liên quan đến đầu tư và dịch vụ trong hiệp định thương mại tự do. Cũng với những cách thức tương tự, Trung Quốc đã né tránh hiệu quả vấn đề Myanmar (Burma) bằng cách tuyên bố với ASEAN, “các bạn đi đầu và chúng tôi sẽ theo sau.”

12.Ngoại trưởng Lim nói rằng, ASEAn đang cố gắng khuyến khích Trung Quốc trở nên minh bạch hơn bằng cách thông báo trước về các hoạt động quân sự của mình. Đây là một phần của chiến lược lớn hơn nhưng bất thành nhằm xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử tại Biển Đông (COC) giữa ASEAN và Trung Quốc. Ngoại trưởng cho rằng, ASEAN đã đưa ra ý tưởng về việc cùng phát triển các nguồn tài nguyên ở Biển Đông. Tuy nhiên phản ứng của Trung Quốc là, “tại sao lại là của chúng ta, nó là của chúng tôi chứ.” Philippines và Malaysia đã không phản ứng gì về vấn đề phát triển nguồn tài nguyên ở Biển Đông, điều khiến cho Việt Nam trở thành nước đi đầu, và là trung tâm đối phó với Trung Quốc.

Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao và Thương mại Brunei (MFAT), ông Pengiran Dato Osman Patra nói rộng hơn về vấn đề Biển Đông và cho rằng, Trung Quốc biết các lập luận của mình thiếu căn cứ, nhưng vấn đề Biển Đông ẩn chứa nhiều nguy hiểm tiềm năng đối với bất cứ bên nào liên quan. Các quốc gia rất sốt sắng trong vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bất chấp điều này, ông Osman tin tưởng rằng vẫn có khẳ năng tiến hành các dự án chung với Trung Quốc, và đây là vấn đề mà Brunei đã đang xem xét. Ông Osman lưu ý rằng quân đội Trung Quốc có vẻ có tiếng nói ảnh hưởng lớn trong chính sách Biển Đông của Bắc Kinh, nhưng việc đối thoại giữa ASEAN và Trung Quốc về vấn đề này xem ra đã dễ chịu hơn nhiều so với lúc ban đầu.

13.Ngoại trưởng Lim muốn tham vấn Đô đốc Keating về vấn đề Bắc Triều Tiên. Đáp lại quan điểm lạc quan thận trọng của Đô đốc Keating, ông Lim cho rằng, Bắc Triều Tiên biết vấn đề hạt nhân là “Lá bài cuối cùng mà họ còn có được, do vậy họ sẽ sử dụng nó một cách hiệu quả nhất có thể.” Ngoại trưởng Lim và ông Osman chỉ ra việc người dân Triều Tiên bị gò ép tư tưởng nặng nề đang phá hỏng các bước tiến tích cực, cụ thể như chuyên thăm của Dàn nhạc Giao hưởng Philharmonia New York và việc thúc đẩy gia tăng các công ty Hàn Quốc ở khu công nghiệp Kaesong.

Bình luận

Ấn tượng về cuộc gặp với ngài Quốc vương cũng tương tự như những cuộc gặp với tướng Halbi: Chuyến thăm của Đô đốc Keating được đón tiếp một cách nồng hậu nhất mà chúng tôi đã từng chứng kiến hoặc được nghe đối với một quan chức quân sự cấp cao của nước ngoài. Người Brunei đánh giá cao và tận dụng tốt thời lượng gặp mặt hạn chế mà họ có với các quan chức cấp cao của Mỹ. Thái tử Billah, người thường bị Ngoại giao đoàn (và cả người Brunei, về mặt riêng tư) đánh giá thấp do không chú tâm trong các vấn đề chính trị đã làm chúng tôi ấn tượng vì sự thể hiện chủ động và nắm bắt hơn trong trao đổi. Điều này cho thấy vai trò ngày càng tăng của ông với vị trí là người thừa kế ngai vàng Brunei số một trong tương lai. Hết bình luận.

Nguỗn trích dẫn: Wikileaks

Điện Mật Sứ quán Mỹ tại Indonesia: Áp lực của Trung Quốc đối với những công ty dầu khí tại Biển Đông

(Nghiên cứu Biển Đông) - Trung Quốc có vẻ tự tin hơn trong các hoạt động cạnh tranh nhằm thế chân Mỹ, Anh trong các liên doanh thăm dò, khai thác dầu khí ở Biển Đông. Với lợi thế được hậu thuẫn đầu tư vốn của chính phủ, doanh nghiệp Trung Quốc đang dần trở thành một đối thủ đáng gờm trong lĩnh vực khai thác năng lượng tại khu vực.

(Các lô khai thác dầu khí tại khu vực biển Natuna)


Xuất xứ: Đại sứ quán Mỹ tại Jakarta (Indonesia)
Thời gian phát điện: Thứ năm, ngày 28/02/2008: 06h13 UTC
Thời gian công bố: Thứ năm, ngày 01/09/2011: 23h24 UTC
Phân loại: Điện Mật

(1).Indonesia không phải là một bên xung đột trong các khu vực có tập trung tranh chấp tại biển Đông, (thảo luận trong điện riêng). Họ không có những mỏ dầu lớn nhất tại Biển Đông. Theo Chính phủ Indonesia ( Government Of Indonesia – GOI ) và các nhà thầu công nghiệp, Lô hợp đồng khai thác chung (PSC) D-Alpha tại vùng biển Natuna có chứa một lượng khí gas ước tính tới 46 tỷ mét khối có thể khai thác thương mại. Nhà Cổ đông ExxonMobil (EM) của liên doanh PSC hiện đang gặp bế tắc trong đàm phán với chính phủ Indonesia về các điều khoản và điều kiện nhằm gia hạn hợp đồng cho liên doanh PSC. Một vài hãng, trong đó có PetroChina của Trung Quốc đã yêu cầu chính phủ Indonesia xem liệu những bế tắc trong đàm phán với EM có cho họ một cơ hội mở để tham gia vào dự án này. Những người liên lạc của EM nói với chúng tôi rằng, cách hành xử của PetroChina là phù hợp với tính thực dụng thông thường của ngành công nghiệp.

(2).Không có tồn tại những tranh chấp về ranh giới của Natuna: Lô khai thác D-Alpha tại biển Natuna nằm trên tuyến phân giới cắm mốc hàng hải với Malaysia. Hai quốc gia đã đồng ý chia đường ranh giới hàng hải của họ năm 1972. Trong năm 2003, Việt Nam và Indonesia cũng đã ký một nghị quyết trên đường hải giới có tranh chấp tại biển Natuna. Kể quả là, Indonesia lấy lại lô cũ VAMEX 08/97 và Việt Nam giữ lại lô số 7.

(3).Trung Quốc quan tâm tới Natuna: Theo những người liên lạc tại ExxonMobil của chúng ta, kể từ khi chính phủ Indonesia tuyên bố cân nhắc việc lấy lại hợp đồng khai thác chung Lô D-Alpha tại Natuna từ EM hồi đầu năm nay, nhiều công ty năng lượng đã bắt đầu đưa ra yêu cầu theo đuổi việc khai thác lô này. Theo nhà quản lý hàng đầu của EM-Indonesia, chỉ có ba công ty là EM, Total và Shell có các báo cáo tài chính, công nghệ chuyên môn và đội ngũ kỹ sư lành nghề cho thấy họ có thể đưa được khí gas từ Natuna tới thị trường. Tuy nhiên, một vài công ty nhỏ hơn, trong đó bao gồm cả công ty PetroChina của Trung Quốc, đã đề nghị với chính phủ Indonesia về việc họ có sự quan tâm với lô khai thác này. Người liên lạc tại ExxonMoble cũng nói với chúng tôi rằng, dù sao, đó cũng là những hành động thực dụng công nghiệp theo tiêu chuẩn được thực hiện trước những thông tin về các vụ đàm phán bế tắc. Họ nói rằng không thấy những cản trở hay sự bất thường nào trong những yêu cầu của công ty PetroChina. Công ty ExxonMobil cũng chưa hề nhường nhịn Shell, họ cho rằng Shell đã có những hành động thiếu tin cậy khi tiếp cận trực tiếp với chính phủ Indonesia bằng những đề nghị phát triển thay thế chi tiết. ExxoMobil buộc tội cho nhiều những khó khăn hiện nay của họ là do đề nghị kia của Shell gây ra, điều đã khiến cho ExxonMobil bị cắt mất 3 tỷ trong bản kế hoạch phát triển 13 tỷ USD của họ. Những người điều hành của ExxonMobil nói với chúng tôi rằng, luật sư của họ đã gửi thư cho Shell đề nghị dừng sự việc (sease-and-desit) và họ sẽ còn có những biện pháp dân sự tiếp theo.

(4).Những cố gắng đa phương hiếm hoi: Liên quan tới những xung đột được nhắc tới qua đàm thoại, trong năm 1991 Indonesia dã bắt đầu một vòng những cố gắng ngoại giao đa phương nhằm tìm kiếm một giải pháp hòa bình đối với những yêu sách gây xung đột tại Biển Đông. Trong năm 1992, Indonesia tiếp tục có những tác động hậu trường để nhằm đạt được tuyên bố chung ASEAN-Trung Quốc, văn bản kêu gọi các bên cùng kiềm chế đối với những yêu sách lãnh thổ tại Biển Đông. Ông Hasjim Djalal, luật gia hàng hải hàng đầu của chính phủ Indonesia, ông cũng là người sáng lập của nhóm cố vấn Dino Djalal cho Tổng thống Indonesia đã tổ chức một loạt các cuộc hội thảo đa phương năm 1996 để tìm kiếm một giải pháp đột phá cho những hợp tác phát triển chung tại Biển Đông. Chính phủ hiện nay của Indonesia không có một quan điểm chính thức đối với những yêu sách gây xung đột tại Biển Đông và chưa cho ra được tuyên bố nào gần đây đối với vấn đề trên. Indonesia ủng hộ giải quyết tất cả các dạng tranh chấp như vậy theo khuôn khổ của Tuy bố chung ASEAN về cách ứng xử của các bên (COC) tại Biển Đông./

NCBĐ/Nguồn trích dẫn:Wikileaks

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton: 'Trung Quốc đang vượt quá giới hạn'

(VnExpress.net) - Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cho rằng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông vượt quá sự cho phép của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton. Ảnh: AFP

Tuyên bố của bà Clinton được đưa ra trong phiên điều trần hôm 23/5 tại Ủy ban Các vấn đề Đối ngoại của Thượng viện Mỹ. Tại phiên điều trần này, Ngoại trưởng cùng các tướng lĩnh quân sự Mỹ đã có lời đề nghị mạnh mẽ về việc Mỹ nên tham gia vào UNCLOS 1982. Bà Clinton cho rằng việc Mỹ không phê chuẩn công ước này làm suy yếu sự ủng hộ của Washington đối với các đồng minh trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.

Đối với vấn đề ở Biển Đông, chính quyền Tổng thống Barack Obama đã khẳng định từ năm 2010 rằng dù không phải là một nước có liên quan tới tuyên bố chủ quyền tại vùng biển này, nhưng Mỹ vẫn có lợi ích đối với việc giải quyết hòa bình các tranh chấp, cũng như tự do hàng hải tại các vùng nước vốn nằm trên tuyến đường biển trọng yếu của thương mại toàn cầu.

Theo ngoại trưởng Mỹ, những nước được Mỹ ủng hộ đang bị đe dọa bởi các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc. "Là một bên không tham gia UNCLOS, chúng ta nhường vị thế pháp lý cho Trung Quốc. Chúng ta không còn có được sự hỗ trợ tốt cho các đồng minh tại khu vực này như mức chúng ta muốn, và tôi không nghĩ rằng đây là tư thế của một cường quốc hàng hải".

Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển được hoàn tất vào năm 1982 và bắt đầu có hiệu lực từ năm 1994. Đảng Cộng hòa Mỹ đã ngăn cản việc Washington phê chuẩn công ước này suốt nhiều năm qua, dù quân đội Mỹ tuyên bố vẫn ứng xử phù hợp với các nguyên tắc của công ước. Thượng viện Mỹ cũng phản đối nước này ký Công ước vì lo ngại làm ảnh hưởng đến chủ quyền của Mỹ, cũng như cản trở hoạt động của Hải quân Mỹ trên các vùng biển của thế giới.

Tuyên bố của Ngoại trưởng Clinton cùng việc các quan chức cấp cao của Mỹ đề nghị việc phê chuẩn UNCLOS 1982 diễn ra trong bối cảnh Biển Đông có nhiều diễn biến mới. Bắc Kinh và Manilia có căng thẳng ngoại giao suốt từ đầu tháng 4 xoay quanh việc cùng tuyên bố chủ quyền đối với bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham. Trung Quốc thời gian qua còn liên tục đưa các phương tiện cỡ lớn ra Biển Đông, thu hút sự chú ý đặc biệt của dư luận.

Phan Lê

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sắp thăm Việt Nam

(VnExpress.net) - Ông Leon Panetta sẽ sang thăm Việt Nam tuần tới, trong khuôn khổ chuyến công du đến ba nước châu Á.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta. Ảnh: USDD

Trang web Bộ Quốc phòng Mỹ dẫn lời phát ngôn viên Lầu Năm Góc George Little cho hay, ông Panetta sẽ bắt đầu chuyến công du một tuần vào ngày 30/5 để tham dự Đối thoại Shangri-La tại Singapore, sau đó sẽ đến Việt Nam và Ấn Độ.

Khi nhấn mạnh rằng khu vực châu Á-Thái Bình Dương có ý nghĩa quan trọng đối với lợi ích an ninh Mỹ trong tương lai, ông Little cho rằng Washington hoàn toàn chuyển hướng về châu Á-Thái Bình Dương, xem đây như một khu vực mà lợi ích chiến lược của Mỹ ngày càng trở nên quan trọng.

Trên đường sang châu Á, người đứng đầu Lầu Năm góc sẽ có cuộc gặp với Tư lệnh Thái Bình Dương, Đô đốc Hải quân Samuel J. Locklear III, và các quân nhân tại trụ sở ở Hawaii.

Tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore, ông Panetta sẽ có bài phát biểu khai mạc về chính sách quốc phòng Mỹ trong thời kỳ "thắt lưng buộc bụng", trước khi hội đàm song phương với những người đồng cấp đến từ Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và nhiều quốc gia khác.

Sau Singapore, ông Panetta sẽ có chuyến thăm đến Việt Nam kéo dài hai ngày. "Mỹ cam kết lâu dài trong việc đẩy mạnh quan hệ quốc phòng song phương với Việt Nam, dựa trên sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau", ông Litte nói. "Chuyến thăm này sẽ giúp chúng tôi có cơ hội được tiếp tục hợp tác dựa trên mối quan hệ trọng yếu này".

Trước khi trở lại Mỹ, ông Panetta sẽ có hai ngày công du Ấn Độ.

Trong buổi họp báo thường kỳ hôm 24/5, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị cho biết: "Trong khuôn khổ chuyến thăm châu Á, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta sẽ thăm và làm việc tại Việt Nam từ ngày 3 tới 5/6". Theo ông Nghị, chuyến thăm này nhằm mục đích tăng cường sự hiểu biết và hợp tác giữa hai bộ quốc phòng.

Anh Ngọc

ASEAN tăng cường hợp tác vì hòa bình, an ninh

(Thanh Niên Online) - Từ 24 - 26.5, tại Phnom Penh (Campuchia) đã diễn ra các Hội nghị quan chức cấp cao (SOM) ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác trong khuôn khổ ASEAN+3, Cấp cao Đông Á (EAS) và Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF). 
 

Tại Hội nghị SOM ASEAN, các nước tiếp tục khẳng định nỗ lực thúc đẩy xây dựng Cộng đồng vào năm 2015, tăng cường liên kết và kết nối, mở rộng quan hệ với các đối tác trên cơ sở vai trò trung tâm của ASEAN. Theo đó, ASEAN sẽ tăng cường hơn nữa hợp tác vì hòa bình, an ninh và hợp tác ở khu vực.

Trong khuôn khổ các hội nghị các quan chức cấp cao liên quan (ASEAN, EAS, ARF…), các nước nhấn mạnh tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an ninh và an toàn hàng hải ở biển Đông, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế và Công ước luật Biển LHQ năm 1982, khuyến khích các nỗ lực thực hiện DOC và tiến tới Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC). Nhiều nước nhấn mạnh trong bối cảnh hiện nay, cần phải bảo đảm nguyên tắc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước luật Biển 1982 và tinh thần của DOC.

TTXVN

Đằng sau những tàu chiến Mỹ ở Singapore

(Thanh Niên Online) - Dù chỉ có 4 chiếc đồn trú luân phiên, nhưng những chiến hạm cận bờ của Mỹ ở Singapore sẽ mang một ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng.
Động thái này gửi đi một thông điệp chính trị cụ thể. Đó là biểu hiện cam kết ủng hộ của Mỹ đối với các đồng minh và đối tác ở Đông Nam Á trong việc đối phó với những nguy cơ tại vùng biển khu vực này

Tàu chiến cận bờ USS Freedom có thể sớm đến Singapore - Ảnh: Navy.mil

Tại Diễn đàn an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương ở Singapore hồi tháng 6.2011, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ khi ấy là ông Robert Gates tuyên bố Washington sẽ tăng cường sự hiện diện quân sự ở châu Á. Một trong những bước tăng cường đó là kế hoạch bố trí thêm chiến hạm cận bờ (LCS) tối tân của Mỹ đến Singapore.

Kế hoạch này gần như đã đi vào hiện thực trong chuyến thăm Lầu Năm Góc của Bộ trưởng Quốc phòng Singapore Ng Eng Hen hồi tháng trước. Tại đây, ông Ng và người đồng nhiệm chủ nhà Leon Panetta nhất trí rằng Mỹ dần dần đưa 4 chiếc LCS đến đồn trú luân phiên tại Singapore. Một hoặc 2 chiếc LCS sẽ có mặt tại đảo quốc sư tử vào đầu năm 2013 và đồn trú trong thời gian 10 tháng rồi thay thế bằng các tàu mới.


Trọng tâm biển

Ristian Atriandi Supriyanto, chuyên gia an ninh biển tại Trường nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam thuộc ĐH Công nghệ Nanyang (Singapore) nhận định kế hoạch trên của Mỹ thể hiện “trọng tâm biển” trong chiến lược địa chính trị mà Washington đề ra. Nằm ngay tâm điểm hàng hải châu Á, án ngữ các tuyến vận tải biển nhộn nhịp nhất thế giới, Singapore có vị trí địa chiến lược cực kỳ quan trọng. Với vị trí này, Singapore có thể cho Mỹ một điểm tựa tại trung tâm vành đai Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, hay còn được gọi là “trục địa lý” của thế kỷ 21. Việc bố trí các LCS ở đây thực sự phản ánh chủ trương chuyển trọng tâm về châu Á - Thái Bình Dương mà Washington công bố gần đây.

Xét về khía cạnh kỹ thuật, từ năm 1990, Singapore đã cho phép máy bay và tàu chiến Mỹ thuộc Bộ Hậu cần Tây Thái Bình Dương (COMLOG WESTPAC) sử dụng căn cứ không quân Paya Lebar và căn cứ hải quân Changi. Với chỉ khoảng 40 người trên một chiếc LCS và không đóng quân cố định, việc triển khai các LCS đến Singapore cho thấy Washington đã cân nhắc đến những vấn đề như diện tích nhỏ hẹp của đảo quốc sư tử, tránh bị đối thủ dòm ngó. 

Mặt khác, kế hoạch trên còn là ví dụ điển hình của chính sách “ngoại giao hải quân”. Theo ông Supriyanto, động thái này gửi đi một thông điệp chính trị cụ thể. Đó là biểu hiện cam kết ủng hộ của Mỹ đối với các đồng minh và đối tác ở Đông Nam Á trong việc đối phó với những nguy cơ tại vùng biển khu vực này. Những nguy cơ trải rộng từ tội phạm xuyên biên giới cho đến viễn cảnh nhiều nước bố trí các phương tiện chống tiếp cận gây khó khăn cho việc lưu thông chính đáng trên biển. Quan trọng hơn cả, đó là nguy cơ xung đột vũ trang trên biển Đông giữa lúc Trung Quốc đang ra sức phô trương sức mạnh quân sự và có nhiều hành động đáng quan ngại.

Không nhất thiết phải lớn !

Thật ra, trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, ngoài Singapore, Mỹ còn có kế hoạch đưa LCS đến Nhật Bản và sẽ triển khai đến 8 chiếc LCS lớp Freedom đến Bahrain. Nhận định về kế hoạch này, một số người hoài nghi về khả năng “sống sót” của những con tàu trên trong một thế trận lớn. Trong khi đó, Đô đốc Robert Work, Thứ trưởng hải quân Mỹ, giải thích trước quốc hội nước này hồi tháng 4 rằng LCS không được thiết kế để đối đầu với các loại khí tài mạnh mẽ.

Theo ông, tàu LCS cũng chẳng đóng vai trò tiên phong trong các trận đánh với những lực lượng hải quân hùng mạnh. Tuy nhiên, LCS mang nhiều sứ mệnh khác. Vào thời bình, nó có thể ngăn chặn các hành động gây hấn, phá rối trên biển. Đồng thời, LCS giúp đảm bảo sự thông thoáng cho những tuyến hải hành quốc tế và chống khủng bố, cướp biển. Trong chiến trận, LCS sẽ đóng vai trò bảo vệ tàu chiến lớn hơn. Khi đồn trú tại Singapore, LCS sẽ còn mang sứ mệnh biểu dương lực lượng như huấn luyện, tham gia tập trận, viếng thăm quân cảng các nước, cứu trợ nhân đạo… giúp những chiến hạm lớn như tàu sân bay, tàu khu trục có thời gian tập trung vào nhiệm vụ tác chiến.

Bên cạnh đó, việc điều động tàu chiến cận bờ đến Singapore là một phần trong chiến lược của Mỹ nhằm tăng cường hiện diện tại châu Á - Thái Bình Dương. Hồi đầu tháng trước, Mỹ đã đưa 200 lính thủy đánh bộ tới Darwin (Úc). Đây là lực lượng đầu tiên trong kế hoạch triển khai tổng cộng 2.500 binh sĩ đến Úc cho tới năm 2017. Mới đây, Bộ trưởng Quốc phòng Úc Stephen Smith còn cho biết Canberra và Washington sẽ cùng xây dựng căn cứ do thám, được biên chế máy bay không người lái, tàu ngầm hạt nhân… trên cụm đảo Cocos thuộc Ấn Độ Dương. Căn cứ này cách đảo Java (Indonesia) khoảng 1.000 km về phía tây nam. Mỹ cũng tái khẳng định cam kết bảo vệ đồng minh Philippines, nước đang mâu thuẫn gay gắt với Trung Quốc ở bãi cạn Scarborough, theo Hiệp ước tương trợ quân sự mà hai nước ký hồi năm 1951.

Quay trở lại với kế hoạch đồn trú tàu LCS của Mỹ ở Singapore, tiến sĩ Supriyanto còn nhận định đưa loại tàu chiến này đến đảo quốc sư tử là “đúng nơi cư trú”. Đó là vì đặc điểm tự nhiên của biển Đông khiến Mỹ khó vận hành các loại tàu chiến nổi hạng nặng tại đây. Cuối cùng, ông Supriyanto kết luận rằng việc Washington triển khai một loại chiến hạm mới, được thiết kế để đối phó với những nguy cơ cụ thể, đến điểm nóng căng thẳng trong khu vực sẽ gửi đi một thông điệp chính trị mạnh mẽ.
Nhiều ưu điểm

LCS được thiết kế cho mục tiêu tác chiến gần bờ, đặc biệt là chiến thuật chống tiếp cận với các phương tiện tác chiến phi đối xứng như thủy lôi, máy bay tiêm kích, tàu ngầm diesel... Do tính chất phi định hình của loại hình tác chiến cận bờ, LCS được thiết kế với những cụm trang thiết bị rời có thể “tháo lắp” để phù hợp với yêu cầu cụ thể như chống ngư lôi, chống tàu ngầm hoặc chống phương tiện nổi.

Hiện tại hải quân Mỹ dự kiến trang bị 55 tàu LCS thuộc 2 lớp là Freedom và Independence cùng có trọng lượng choán nước khoảng 3.000 tấn. Nhờ vào đặc tính có mức ngấn nước thấp và tốc độ cao, LCS rất thích hợp hoạt động trong môi trường duyên hải phức tạp của châu Á. Cả hai loại LCS trên đều đạt tốc độ tối đa trên 44 hải lý (80 km/giờ) và tầm hoạt hơn 3.500 hải lý (6.400 km).

Tàu chiến cận bờ Freedom và Independence được trang bị các loại pháo 57 mm cùng súng máy, tên lửa đối không, chở theo 2 trực thăng chiến đấu đa nhiệm MH-60 Seahawk, trực thăng do thám không người lái MQ-8 Fire Scout. Mặt khác, với mức giá khoảng 350 triệu USD/tàu, LCS rẻ hơn rất nhiều so với nhiều loại tàu chiến khác của Mỹ nên phù hợp với nước này trong bối cảnh ngân sách quốc phòng đang bị cắt giảm.
Thục Minh
(VP Singapore)

Mỹ sẵn sàng chiến tranh với Trung Quốc? (kỳ 1)

(BÁO ĐẤT VIỆT) - Để tiếp tục vươn mình trỗi dậy, Trung Quốc sẽ phải đối đầu với vô vàn thách thức bởi cường quốc số 1 thế giới chắc chắn sẽ hành động ngày càng quyết liệt để ngăn chặn họ.

Trước sự nổi lên của Trung Quốc, không ít người cho rằng Mỹ cần "để mắt" đến người khổng lồ châu Á. Ảnh minh họa: Telegraph.

Tại sao Mỹ quyết đối đầu với Trung Quốc?

Một bản ghi nhớ của Lầu Năm góc được biên soạn năm 1992, ngay sau sự sụp đổ của Liên Xô, dưới sự giám sát của Thứ trưởng Ngoại giao Paul Wolfowitz, bị rò rỉ trên truyền thông mới đây tiết lộ rằng Mỹ có một bản kế hoạch để “bằng mọi giá ngăn chặn bất cứ quyền lực thù địch nào thống trị những khu vực dồi dào tài nguyên và hội tủ đủ điều kiện cũng như lợi thế để dẫn tới sự hình thành của một quyền lực toàn cầu mới. Các khu vực trên bao gồm: Tây Âu, Đông Á, lãnh thổ Liên Xô và Tây Nam Á".

Trước đó, có nhiều quan điểm cho rằng Mỹ cần phải “để mắt” đến sự trỗi dậy của các cường quốc mới nổi, đặc biệt là Trung Quốc. 
 
Tháo lui khỏi hai cuộc chiến đầy đau thương và mất mát về sức người, sức của cũng như hình ảnh tại Iraq và Afghanistan, 2012 là năm đánh dấu bước chuyển mới của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc khi hướng trọng tâm chiến lược chính sách đối ngoại đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Giải thích các định hướng mới cho chính sách đối ngoại Mỹ trước Quốc hội Australia ngày 17/11/2011, Tổng thống Obaam nhấn mạnh rằng: “Chúng tôi sẽ phân bổ các nguồn lực cần thiết để duy trì sự hiện diện quân sự mạnh mẽ trong khu vực này”.

Từ tuyên bố này,giới phân tích quốc tế nhấn mạnh mục đích của Washington đã rõ. Từ giờ phút này trở đi, mục tiêu cơ bản của chiến lược quân sự Mỹ sẽ không nhắm vào các sa mạc cát Trung Đông hay “cuộc chiến chống khủng bố” trên phạm vi toàn cầu nữa mà sẽ tập trung hoàn toàn vào Trung Quốc bất chấp giới chức Mỹ ra sức phủ nhận điều này.

Robert Kaplan, một nhà phân tích kỳ cựu của Mỹ, có tên trong danh sách “100 học giả toàn cầu” năm 2011 do tạp chí Foreign Policy công bố, hoan nghênh chiến lược hướng Đông của chính quyền Obama. Theo ông Kaplan, chiến lược này chính là chìa khóa giúp Mỹ kiềm chế Trung Quốc và vực lại hình ảnh toàn cầu của họ.

Theo ông Kaplan: “Trung Quốc, về bản chất, là một xã hội năng động do đó, hiển nhiên họ sẽ mở rộng vai trò quân sự và kinh tế tại khu vực châu Á -Thái Bình Dương. Và sự trỗi dậy của bất cứ quyền lực mới nào cũng cần phải được kiềm chế”.

Cũng theo Kaplan – là người giám sát quyền tự do hàng hải, Mỹ phải chuyển trọng tâm tới Ấn Độ - Thái Bình Dương để kịp thời ngăn chặn bất cứ tình huống căng thẳng nào bị đẩy đi xa hơn khi khu vực này đang rơi vào cuộc chạy đua vũ trang vô cùng quyết liệt.

Đồng thời, với vai trò là người cầm trịch trật tự hàng hải quốc tế - Mỹ cũng có nghĩa vụ điều chỉnh một cách khéo léo để các nhu cầu và lợi ích của những “người chơi” mới ăn khớp với cả một hệ thống.

Điều này hoàn toàn phù hợp với hai châm ngôn trong nghệ thuật lãnh đạo đất nước của Mỹ từ thế kỷ trước đặt ra yêu cầu rằng cường quốc số 1 thế giới phải bảo vệ quyền tự do hàng hải tại các huyết mạch giao thông trên biển của thế giới.

Những năm gần đây, không chỉ riêng ông Kaplan, nhiều nhà phân tích chính trị Mỹ khác không ngừng thổi phồng sự nổi lên của một Trung Quốc ngày càng hung hăng hơn và như vậy, sự kết thúc của một thế giới đơn cực ngày một đến gần. Họ cảnh báo về xung đột giữa các cường quốc mới nổi với những kẻ thống trị cũ đang trên đà suy giảm và nhấn mạnh rằng Bắc Kinh quá ngạo mạn khi tuyên bố mở rộng sự hiện diện tại biển Đông.

Những cảnh báo như vậy tác động mạnh đến các nhà hoạch định chính sách Mỹ, khiến họ hoảng hốt. Kết hợp với việc phải đối mặt với các áp lực liên quan đến sự suy giảm về mặt kinh tế cũng như sự suy giảm trong vai trò lãnh đạo đối với các công việc chung của thế giới nên thay vì ủng hộ tự do thương mại, giới chính khách “bồ câu” kêu gọi ủng hộ chủ nghĩa trọng thương. Đồng thời, thay vì nỗ lực cho hòa bình và ổn định toàn cầu, một cách thực dụng, họ muốn hạn chế sự hiện diện về mặt quân sự lẫn chính trị của Mỹ trên thế giới. Trong khi đó, các chính khách “diều hâu” lại yêu cầu phải tăng cường khả năng quân sự để kìm chế Trung Quốc.

Nhưng điểm đáng chú ý là tất cả các chính khách Mỹ, dù quan điểm chính trị khác biệt như thế nào vẫn gặp nhau ở một điểm chung đó là nỗi sợ hãi tốc độ tăng trưởng kinh tế thần tốc của Trung Quốc nếu cứ tiếp diễn thì chỉ trong vài thập kỷ nữa thôi, GDP của họ sẽ vượt mặt Mỹ.

Xuất phát từ yêu cầu phải bảo vệ và giữ gìn an ninh cho đường biên giới đất liền dài miên man cùng với các tuyến đường biển trọng yếu dễ bị tổn thương, Trung Quốc không ngừng đổi mới công nghệ, phát triển khí tài quân sự, trong đó, thành tựu vô cùng quan trọng là một quả bom hạt nhân vào năm 1964.

Trung Quốc, trong những năm gần đây, cũng liên tục gặt hái được thành tựu trong các chương trình nghiên cứu không gian cũng như nhiều công nghệ, kỹ thuật tiên tiến và hiện đại khác – những công nghệ có thể đem áp dụng cho quá trình hiện đại hóa quân sự. Những cải tiến và thành tựu trong công nghệ chế tạo tên lửa mới của con rồng châu Á cũng đặt ra mối đe dọa an ninh đối với Đài Loan – đồng minh có lịch sử quan hệ hơn 60 năm của Mỹ.

Bạch Dương (tổng hợp)
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...