Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

27/12/12

Philippinese xác minh vụ TQ đầu tư 1,6 tỉ USD cho "Tam Sa"

(GDVN) - Alex Chua, Đại biện lâm thời đại sứ quán Philippines tại Trung Quốc phụ trách việc xác minh thông tin này

Tờ Manila Standard Today ngày 26/12 dẫn nguồn tin Bộ Ngoại giao Philippines cho hay, cơ quan này đang xác minh thực hư chuyện Trung Quốc rót 1,6 tỷ USD để xây dựng cơ sở hạ tầng, sân bay, cầu cảng, đóng thuyền cho cái gọi là "thành phố Tam Sa" trước khi quyết định đưa ra phản ứng chính thức.

Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đang cho xác minh thông tin Trung Quốc đầu tư 1,6 tỉ USD xây dựng cái gọi là "thành phố Tam Sa"

Trước đó, ngày 25/12 hãng tin Bloomberg dẫn nguồn tin từ Tưởng Định Chi, Tỉnh trưởng tỉnh Hải Nam cho hay, giới chức Trung Quốc đã phê duyệt gói kinh phí 10 tỉ nhân dân tệ, tương đương 1,6 tỷ USD để xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó có 1 sân bay, cầu cảng ở cái gọi là "thành phố Tam Sa" mà Trung Quốc thành lập phi pháp hồi tháng 6 để "quản lý" 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam - PV) và 80% diện tích Biển Đông, bao gồm cả bãi cạn Scarborough mà Philippinese đang quản lý.

Ngoài phần cứng là cơ sở hạ tầng, khoản tiền này còn được sử dụng vào việc triển khai hoạt động mà Bắc Kinh gọi là "chấp pháp" trên Biển Đông, bao gồm hoạt động của các lực lượng tuần tra, ngư nghiệp...

Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario trong một tin nhắn trả lời tờ Manila Standard Today cho biết, ông đã chỉ đạo Đại sứ quán Philippines tại Trung Quốc xác minh thông tin này: "Tôi sẽ phải xác minh nó trước khi đưa ra phản ứng."


Alex Chua, Đại biện lâm thời Philippines tại Bắc Kinh phụ trách xác minh vụ việc

Ông Rosario đã chỉ thị cho ông Alex Chua, Đại biện lâm thời đại sứ quán Philippines tại Trung Quốc phụ trách việc xác minh thông tin này, ông hiện là quan chức ngoại giao cao cấp nhất của Manila tại Bắc Kinh.

Trước đó, Philippines đã bổ nhiệm nữ Thứ trưởng Ngoại giao kỳ cựu Erlinda Basilio làm Đại sứ tại Trung Quốc, tuy nhiên Bắc Kinh vẫn chưa chấp nhận nhân sự mới, 2 bên vẫn đang tiếp tục đàm phán.

Ngoại trưởng Philippines nhấn mạnh thêm, việc thành lập phi pháp cái gọi là "thành phố Tam Sa" là một bước leo thang hòng tăng cường tính pháp lý của đường lưỡi bò chín đoạn, còn gọi là đường chữ U do Trung Quốc vẽ ra ôm trọn gần như toàn bộ diện tích Biển Đông. Các bên liên quan đã kịch liệt phản đối động thái này của Bắc Kinh.

Hồng Thủy (Nguồn: Manila Standard Today)

Philippines: Động thái của TQ trên Biển Đông không thể chấp nhận được

(GDVN) - "Hành động đó nhằm củng cố tuyên bố về đường chín đoạn của Trung Quốc trên Biển Đông, đây là một vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển"

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippines Raul Hernandez

Tờ Inquirer ngày 26/12 đưa tin, sau khi xác minh thông tin Trung Quốc quyết định rót 1,6 tỷ USD để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (trái phép) gồm sân bay, cầu cảng và các hạng mục khác của cái gọi là "thành phố Tam Sa", Philippines đã chính thức lên tiếng phản đối động thái này của Bắc Kinh và cói đó là sự vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế.

"Cái gọi là 'thành phố Tam Sa' đã trở thành tiêu điểm của một cuộc biểu tình tại Philippines sau khi Trung Quốc tuyên bố nó được lập ra để quản lý hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam - PV), bãi cạn Scarborough và một phần lớn diện tích Biển Đông", người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippines Raul Hernadez cho biết, "hành động đó nhằm củng cố tuyên bố về đường chín đoạn của Trung Quốc trên Biển Đông, đây là một vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển".

Ông Raul Hernandez cho biết thêm, Philippines sẽ thúc đẩy các kế hoạch chính trị, pháp lý và ngoại giao để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Các bên tranh chấp trên Biển Đông gồm Philippines, Việt Nam, Brunei và Malaysia đều khẳng định Biển Đông là tuyến hàng hải quan trọng đối với hoạt động thương mại toàn cầu, cần duy trì hòa bình, ổn định và giải quyết tranh chấp theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển.

Philippines khẳng định không thừa nhận cái gọi là "thành phố Tam Sa" do Trung Quốc thành lập một cách trái phép cũng như mọi hoạt động gần đây của phía Trung Quốc trên Biển Đông, ông Raul Hernandez gọi đó là điều "không thể chấp nhận được".

Trước đó, khi nhận được thông tin từ báo chí về việc Trung Quốc đầu tư 1,6 triệu USD xây dựng cơ sở hạ tầng cho cái gọi là "thành phố Tam Sa", Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario đã lập tức chỉ thị cho Đại biện lâm thời Philippines tại Bắc Kinh Aex Chua xác minh thông tin này trước khi Bộ có phản ứng chính thức.

Hồng Thủy (Nguồn: Inquirer)

17/12/12

Biển Đông: Những hành động đáng quan ngại từ ngày 1/1/2013

(GDVN) - Trung Quốc sẽ nghiêng về triển khai tàu phi quân sự và bán quân sự như tàu hải giám để có cớ lu loa là “bị hại”, nhưng có thể trang bị vũ khí trong thời chiến.

Tàu Hải giám 137 là tàu hải giám mới nhất lớp 3.000 tấn, trang bị cho Tổng đội Đông Hải vào ngày 14/11/2012, do Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản chụp được.

Trang mạng “Strategy Page” Mỹ vừa có bài viết cho rằng, gần đây, Trung Quốc tuyên bố, từ ngày 1/1/2013, tàu hộ vệ tuần tra của Hải quân Trung Quốc sẽ “hộ tống” hoặc xua đuổi tàu thuyền nước ngoài trên biển Đông. Cách làm này đã bị nhiều nước phản đối.

Nhưng, Hải giám Trung Quốc biết sử dụng thủ đoạn này như thế nào. Trung Quốc không định điều tàu chiến hải quân màu trắng xám để tiến hành các hoạt động ngăn chặn, nhưng họ sẽ sử dụng các tàu ngư chính sơn trắng, có sọc thẳng màu đỏ. So với tàu hộ vệ, khả năng đe dọa của tàu ngư chính tương đối yếu.

Trung Quốc đồng thời còn kêu gọi tàu dân sự tham gia đóng vai trò của tàu ngư chính. Như vậy, “khi tàu hộ vệ nước ngoài muốn khai hỏa để xua đuổi những tàu dân sự này, sai lầm sẽ hoàn toàn thuộc về tàu hộ vệ nước ngoài”.

Trung Quốc đã và đang chế tạo 36 tàu hải giám mới, trong đó có 7 tàu hải giám có lượng giãn nước 1.500 tấn (Mỹ gọi là tàu tuần tra), những tàu này đều thuộc Hải giám Trung Quốc (CMS). Ngoài 7 tàu này, các tàu hải giám khác tương đối nhỏ. 15 tàu có lượng giãn nước 1.000 tấn, 14 tàu 600 tấn.

Trong một thời gian dài, Trung Quốc đã không coi trọng lắm đến lực lượng hải giám. Nhưng, trong 10 năm qua, sức mạnh của Hải giám Trung Quốc đã liên tục được tăng cường, đồng thời ngày càng nhiều tàu cỡ nhỏ được cho về hưu. Tất cả 36 tàu hải giám mới sẽ hoàn thành công tác bàn giao trong 2 năm tới.

Trung Quốc vừa biên chế tàu Ngư chính 206 lớp 5.800 tấn cho Tổng đội Đông Hải vào ngày 11/12/2012. Đây là tàu có trọng tải lớn nhất, tính năng tiên tiến nhất hiện nay của Ngư chính Trung Quốc.

Bên cạnh đó, Trung Quốc “chuyển những tàu hộ vệ hải quân cỡ nhỏ có tuổi thọ tương đối lâu tới các cơ quan chấp pháp trên các lĩnh vực, chuyển sang làm công tác an ninh biển”.

Từ ngày 1/1/2013 tới đây, Trung Quốc sẽ chính thức đưa bờ biển của rất nhiều hòn đảo, đá ngầm, rạn san hô không có người ở trên biển Đông vào vùng mà nước này tuyên bố là “lãnh hải chấp pháp”. Như vậy, một vùng biển quốc tế lớn do quốc tế công nhận sẽ bị Trung Quốc coi là “lãnh hải” của riêng Trung Quốc (biến biển quốc tế thành ao nhà). Trung Quốc cũng muốn trang bị nhiều tàu hơn để khuấy động các vùng biển trên.

Ở Trung Quốc, có 5 tổ chức đồng thời thực hiện nhiệm vụ “chấp pháp” trên biển, và Hải giám Trung Quốc là một trong số đó. 4 tổ chức còn lại lần lượt là cảnh sát biển biên phòng của Công an Trung Quốc, Cục hàng hải, Cục ngư chính, Cục chống buôn lậu Hải quan.

Cảnh sát biển Trung Quốc có tàu sơn màu trắng, là một lực lượng thường xuyên làm nhiệm vụ tuần tra bờ biển. Cục hàng hải phụ trách công tác tìm kiếm cứu nạn ở vùng biển duyên hải. Cục ngư chính làm nhiệm vụ bảo vệ nghề cá; còn Cục buôn lậu Hải quan làm công tác tấn công tội phạm buôn lậu.

Tàu Hải tuần 01 là tàu tuần tra cứu hộ cỡ lớn, có chức năng giám sát hàng hải và cứu hộ, lượng giãn nước 5.418 tấn, dài 128,6 m, tốc độ 20 hải lý/giờ, khả năng chạy liên tục 10.000 hải lý; có thể mang theo trực thăng, chở 200 nhân viên được cứu. Hải tuần 01 là tàu có trang bị tiên tiến nhất, khả năng tổng hợp mạnh nhất hiện nay của Cục hàng hải Trung Quốc, được hạ thủy ngày 28/7/2012.

Có thể trang bị cả tên lửa, ngư lôi

Cục hải giám Trung Quốc thành lập năm 1998, là cơ quan chấp pháp trên biển thành lập muộn nhất. Hải giám Trung Quốc thực ra chính là “lực lượng cảnh sát” của Cục Hải dương Trung Quốc, phụ trách thăm dò, đo đạc các vùng đặc quyền kinh tế và khảo sát môi trường ở các vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.

Công trình chế tạo tàu mới sẽ đưa lực lượng hải giám từ 9.000 nhân viên mở rộng lên 10.000 nhân viên. Hải giám Trung Quốc đã trang bị 300 tàu và 10 máy bay.

Ngoài ra, Hải giám Trung Quốc tiến hành thu thập và tổng hợp các số liệu, dữ liệu thu được từ các hoạt động giám sát biển của các đô thị duyên hải. “Khi các quần đảo còn tranh chấp ở biển Đông xảy ra xung đột vũ trang, thường sẽ thấy tàu tuần tra của Hải giám Trung Quốc xuất hiện trong con mắt của cộng đồng quốc tế”.

Hải giám Trung Quốc và 4 “lực lượng cảnh giới bờ biển” khác sở hữu mấy trăm tàu cỡ lớn (trên 1.000 tấn, trong đó có một số tàu hơn 3.000 tấn) và mấy nghìn tàu tuần tra cỡ nhỏ.

Biên đội tàu tuần tra Hải cảnh Trung Quốc (cảnh sát biển)

Bài viết cho rằng, Trung Quốc đang xây dựng căn cứ cỡ nhỏ ở các quần đảo tranh chấp để làm công tác bảo đảm cho các tàu huấn luyện cỡ nhỏ, điều cần chú ý chính là những tàu tuần tra này có thể trang bị vũ khí hạng nặng trong thời chiến như tên lửa, ngư lôi.

“Phương hướng” hiện nay của Trung Quốc chính là tập trung ở “vùng đặc quyền kinh tế”, Trung Quốc sẽ tiến hành các hoạt động tuần tra tới tấp và mang tính chế áp hơn.

Căn cứ vào luật pháp quốc tế (Công ước biển năm 1994), vùng biển 22 km xung quanh các hòn đảo chịu sự kiểm soát của quyền quản lý tư pháp của các nước sở hữu đảo. Điều này có nghĩa là, trong trường hợp không được phép, tàu thuyền nước khác không thể đến các “lãnh hải” này.

Nhưng, vùng biển 360 km xung quanh đảo là vùng đặc quyền kinh tế của nước sở hữu đảo, tất cả các nước sở hữu vùng đặc quyền này có thể kiểm soát nguồn lợi hải sản, khai thác tài nguyên thiên nhiên dưới đáy biển ở những vùng biển này.

Song, tất cả các nước sở hữu vùng đặc quyền kinh tế không thể cấm nước khác triển khai đường ống và dây cáp thông tin ở những vùng biển này. .

Tàu tuần tra của Hải quan Trung Quốc trên biển

Trong 2 thế kỷ qua, Trung Quốc đã không thể tuyên bố chủ quyền đối với các vùng biển xung quanh, chính là do Trung Quốc đã gặp phải những lực lượng hải quân nước ngoài mạnh (trước hết là các tàu pháo của châu Âu, kế tiếp là tàu chiến sắt thép kiểu mới của Nhật Bản).

Nhưng, sau khi nước Trung Quốc mới ra đời, Trung Quốc ngày càng cố gắng tuyên bố chủ quyền đối với những vùng biển này, coi các khu vực đó là một bộ phận của “Thiên triều”.

Vùng biển được Trung Quốc đặc biệt chú ý là quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam), quần đảo này có hơn 100 đảo nhỏ và đá ngầm. Tổng diện tích chỉ có 5 km2, nhưng lại rải rác trên trên một vùng biển rộng 410.000 km2 ở biển Đông.

Vùng biển này có ngư trường giá trị nhất trên thế giới, đồng thời được cho là tàng trữ rất nhiều tài nguyên dầu khí.

Tàu Hải giám 83, có lượng giãn nước 3980 tấn, của Trung Quốc, hoạt động trên biển Đông.

Trung Quốc có xu hướng nghiêng về triển khai các loại tàu phi quân sự hoặc hỗ trợ quân sự (như tàu hải giám) để tiến hành xua đuổi tàu thuyền nước ngoài ra khỏi “vùng đặc quyền kinh tế” hoặc vùng biển tranh chấp (“đường lưỡi bò” bất hợp pháp). Trung Quốc sử dụng phương thức này có thể làm giảm xác suất xảy ra xung đột quân sự, đồng thời Trung Quốc có lý do để “lu loa” mình là “người bị hại”.

Ấn Độ và Mỹ đều cho biết, họ sẽ không tuân thủ quy định mới (bất hợp pháp, do Trung Quốc tự nghĩ và đưa ra), đồng thời tuyên bố, tàu hộ vệ của Ấn Độ và Mỹ có thể thoải mái đến biển Đông hơn vào năm 2013.

Tàu Ngư chính 311 của Cục Ngư chính - Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, có lượng giãn nước là 4.600 tấn, trước đây là tàu chiến của Hải quân Trung Quốc.

Tàu Ngư chính 21, có lượng giãn nước là 10.975 tấn (có số liệu là: 8.500 tấn), tốc độ 22 hải lý/giờ, hoạt động trên biển Đông, vốn là tàu tiếp tế Kính Bạc Hồ, số hiệu 884 của Hải quân Trung Quốc.

Tàu Hải giám 75 của Trung Quốc, trang bị năm 2010, lượng giãn nước 1.290 tấn, hoạt động trên biển Đông.

Tàu Hải giám 84 Trung Quốc hoạt động trên biển Đông.
Việt Dũng

'Duyên nợ' Việt Nam của John Kerry

(Tiền Phong Online) - John Kerry, người đề nghị gỡ bỏ cấm vận Việt Nam năm 1994, một trong các tác giả của nghị quyết mới đây về Biển Đông, là ứng viên nhiều triển vọng nhất trở thành Ngoại trưởng Mỹ.



Báo chí Mỹ dẫn nhiều nguồn tin cho biết, Tổng thống Obama đã quyết định đề cử Thượng nghị sĩ John Kerry trở thành ngoại trưởng tiếp theo, thay thế bà Hillary Clinton. Việc tuyên bố chính thức có thể diễn ra tuần tới.

Trước đó, đại sứ Mỹ tại LHQ Susan Rice đã rút lui khỏi cuộc chạy đua vào chiếc ghế ngoại trưởng sau nhiều tuần hứng chịu chỉ trích của phía Cộng hòa.

Nếu được Thượng viện thông qua, ông Kerry sẽ thay thế Ngoại trưởng đương nhiệm là bà Hillary Clinton. Thượng nghị sĩ cấp cao đến từ Massachusetts, đương kim Chủ tịch UB Đối ngoại Thượng viện, từng là ứng viên tranh cử tổng thống năm 2004 của đảng Dân chủ.

Đề nghị Thượng viện bỏ cấm vận Việt Nam

Những chuyến đi khắp thế giới là “bản tính thứ hai” của Kerry, 69 tuổi. Sinh ra ở Denver, ông đã trải qua phần lớn thời thơ ấu của mình ở nước ngoài, sống tại Berlin trước khi đến một trường nội trú ở Thuỵ Sĩ ở tuổi 11.

Sau khi tốt nghiệp Đại học Yale năm 1966, Kerry được điều động tới Việt Nam trong vai trò trung uý hải quân, chỉ huy tàu tuần tra hoạt động ở tiểu vùng Mekong. Những năm tháng ở chiến trường đã dạy cho Kerry bài học đau thương không bao giờ quên.

Giữa các trận chiến, John Kerry đã chứng kiến cảnh nhiều người bỏ mạng vì những quyết định sai lầm của các nhà lãnh đạo Washington. John Kerry quyết định phản đối chiến tranh.

Trở lại Mỹ đầu những năm 1970, Kerry được công chúng đánh giá cao khi đứng đầu một nhóm cựu binh tham chiến ở Việt Nam phản chiến.

Năm 1971, ông ra trước UB Đối ngoại Thượng viện Mỹ để điều trần về quan điểm của mình về chiến tranh Việt Nam. Các cựu binh Mỹ và giới truyền thông đứng chật gian phòng điều trần.

Bài phát biểu của John Kerry được coi là diễn văn nổi tiếng nhất suốt cuộc đời chính trị của ông cho đến nay.

Câu chất vấn: "Làm sao có thể yêu cầu một con người phải chết cho một sai lầm?" của Kerry trở thành câu nói được trích dẫn nhiều nhất trong các bài viết về chân dung John Kerry.

Trong bài diễn thuyết này, Kerry cũng tố cáo những hành vi sát nhân của binh lính Mỹ tại Việt Nam. Sau buổi điều trần này, chính Tổng thống Nixon phải thừa nhận: "Gã này thật sự có hiệu quả" và ra lệnh cho cố vấn Halderman ngăn chặn việc lính Mỹ bắn giết thường dân Việt Nam.

Từ 1991-1993, Kerry làm chủ tịch UB Đối ngoại của Thượng viện Mỹ, đặc trách về việc tìm hiểu, gom góp dữ kiện về POW/MIA.

Năm 1994, Thượng viện thông qua đề nghị của Kerry và John McCain yêu cầu gỡ bỏ cấm vận Việt Nam. Đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình bình thường hóa Việt - Mỹ. Tới năm 1995, Mỹ chính thức nối lại quan hệ ngoại giao với Việt Nam. 
 

Cho tới hiện tại, với tư cách là Chủ tịch UB Đối ngoại Thượng viện, ông John Kerry vẫn hợp tác chặt chẽ với thượng nghị sĩ John McCain để tìm kiếm hài cốt các binh sĩ mất tích tại Việt Nam.

Đầu tháng 8 năm nay, trước các hành động ngày càng quả quyết thậm chí là gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông, John Kerry và một số thượng nghị sĩ đã giới thiệu lên Thượng viện nghị quyết mang số hiệu S.Res.524 về vấn đề Biển Đông.

Người hàn gắn

Nếu John Kerry chính thức thế chân Hillary Clinton ở cương vị ngoại trưởng, ông sẽ đảm nhận trọng trách này với đầy đủ thách thức, khủng hoảng ngoại giao: Từ cuộc nội chiến Syria, tới chuyện hạt nhân Triều Tiên và Iran.

Bất kỳ ai thế chân Clinton cũng đều phải rất nỗ lực. Không chỉ là thành viên được mến mộ nhất trong nội các của Obama suốt 4 năm qua, bà còn rất nổi tiếng và được đánh giá cao ở hầu hết những nơi bà đặt chân tới.

Tuy nhiên, là một thành viên của UB Đối ngoại Thượng viện gần 30 năm, bản thân là chủ tịch UB này suốt 4 năm qua, ông Kerry cũng là nhân vật được đánh giá cao trên vũ đài quốc tế.

Trong khi Obama không gần gũi với nhiều lãnh đạo thế giới, thì Kerry lại có những mối quan hệ sâu sắc với rất nhiều nguyên thủ.

Ông không còn xa lạ với công việc ngoại giao và thường xuyên đi nước ngoài nhân danh chính quyền Obama trong vai trò “người dàn xếp” và hàn gắn. Kerry thuyết phục Tổng thống Afghanistan Hamid Karzai nhất trí về một cuộc bầu cử vòng hai năm 2009; đi tới Pakistan hàn gắn quan hệ song phương bị sứt mẻ.

Giống như Obama, Kerry nhìn thấy lợi ích của việc tiếp cận các đối thủ như Iran và Syria đồng thời cung cấp cho họ cơ hội đàm phán.

Kerry từng xông xáo với mọi nỗ lực tiếp cận Tổng thống Syria Bashar al-Assad trước khi Washington lên án Assad do đàn áp người biểu tình.

Nhưng Kerry cũng kêu gọi vũ trang cho lực lượng nổi dậy và các cuộc không kích từ NATO - điều mà chính quyền Obama phản đối.

Trong cuộc bầu cử tổng thống vừa qua, Kerry đã giúp Obama chuẩn bị cho các cuộc tranh luận với Mitt Romney và đưa ra những lập luận mạnh mẽ trong chính sách đối ngoại của chính quyền tại bài phát biểu trước đại hội đảng Dân chủ hồi tháng 9.

Tuy nhiên, Kerry cũng giống như Clinton, không có sự liên kết chặt chẽ với tổng thống, và ảnh hưởng của ông trong việc tạo lập, định hình chính sách đối ngoại Mỹ sẽ không rõ ràng.

Kerry và Obama có những khác biệt trong chính sách đối ngoại - như quan điểm về Syria. Tuy nhiên, đây có thể là lợi thế. Kerry có thể sẵn sàng thách thức tổng thống và trình bày quan điểm khác theo cách mà Susan Rice có lẽ không có.

Trong khi thất bại ở cuộc bầu cử tổng thống 2004 đã tác động tới Kerry nhiều năm, thì người trong cuộc nói rằng, cuối cùng, ông đã vượt qua nó và sẵn sàng phụng sự một tổng thống.

Bạn bè và các cộng sự nói rằng, ông coi vị trí mới có thể đạt được là một cơ hội để tạo dựng ảnh hưởng của mình trong chính quyền và cả trong lịch sử.

Theo Thái An
Vietnamnet

Trung Quốc bất cần phải trái?

Tác giả: Châu Giang theo Nytimes

(TUANVIETNAM.NET) - Khu vực và Washington lo ngại các tranh chấp liên quan đến biển đang sôi sục giữa các nước Đông Nam Á sẽ tiếp tục leo thang. 
 

Theo một chuyên gia thuộc Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, từ trước tới nay, một số nước ASEAN cho rằng Trung Quốc không muốn có xung đột liên tiếp tại hai mặt trận biển: biển Hoa Đông với Nhật Bản và biển Đông với các nước khác. Nhưng với việc tỉnh đảo Hải Nam vừa thông qua các quy định cho phép chặn và kiểm tra mọi tàu bè qua lại trên biển Đông, thì giả định này giờ không còn đúng nữa.

Các quy định mới mà một tỉnh của Trung Quốc vừa thông báo, theo đó cho phép chặn và kiểm tra mọi tàu bè qua lại trên biển Đông, đang làm dấy lên lo ngại trong khu vực, và tại Washington, rằng các tranh chấp liên quan đến biển đang sôi sục giữa các nước Đông Nam Á sẽ tiếp tục leo thang.

Động thái của tỉnh đảo Hải Nam, cùng với những yêu sách của chính quyền Trung Quốc trên biển Đông, được một số chuyên gia nước ngoài xem là một bước đi mới trong nỗ lực của nước này nhằm củng cố các yêu sách của mình đối với một phần diện tích quá lớn trên biển, bao gồm cả các hải trình quốc tế quan trọng mà hơn 1/3 thương mại toàn cầu được vận chuyển qua đây.

Trong khi các chính phủ nước ngoài thi nhau làm rõ các quy định trên, vốn rất mập mờ và gây ra nhiều cách hiểu khác nhau, một nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc về các vấn đề liên quan đến biển Đông đã cố làm dịu những lo ngại do thông báo này gây ra.

Tổng giám đốc Văn phòng Đối ngoại của tỉnh Hải Nam, ông Wu Shicun, cho biết tàu bè Trung Quốc sẽ được phép tìm kiếm và cản trở các tàu nước ngoài chỉ khi các tàu này liên quan đến các hoạt động bất hợp pháp (dù ông không nói rõ đó là gì) và chỉ khi các tàu này nằm trong vùng biển rộng 12 hải lý quanh các đảo mà Trung Quốc đang đòi chủ quyền, bao gồm cả các đảo mà một số nước khác, trong đó có Việt Nam và Philippines, cũng tuyên bố chủ quyền.


Các quy định trên được cơ quan lập pháp tỉnh Hải Nam thông qua chỉ chưa đầy một tháng sau khi Trung Quốc bầu chọn lãnh đạo mới là ông Tập Cận Bình, và giữa lúc nước này đang vướng vào một tranh chấp nghiêm trọng với Nhật Bản trên biển Hoa Đông liên quan đến quần đảo mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư và Nhật Bản gọi là Senkaku.

Các quy định này dường như không liên quan trực tiếp tới ông Tập Cận Bình, nhưng chúng làm gia tăng những lo ngại rằng Trung Quốc, giờ đã có trong tay hàng không mẫu hạm của riêng mình và một lực lượng hải quân ngày một lớn mạnh, đang lao về phía trước với các kế hoạch nhằm củng cố yêu sách rằng họ có quyền chủ quyền đối với hầu hết diện tích biển Đông, bao gồm hàng chục hòn đảo lớn nhỏ mà nhiều quốc gia khác cũng đòi chủ quyền.

Và các quan chức cấp cao Trung Quốc vẫn chưa nói rõ ý định của mình, để ngỏ cánh cửa cho những lời đồn đoán.

Theo các chuyên gia về hàng hải, nếu Trung Quốc thực thi các quy định mới này thực sự trong vùng biển rộng 12 hải lý, thì quyền tự do hàng hải sẽ bị ảnh hưởng, quyền mà không chỉ Mỹ và các cường quốc phương Tây khác mà chính Trung Quốc - một nhà nhập khẩu dầu lớn từ Trung Đông - được hưởng lợi.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, ông Wu cho biết các quy định mới áp dụng đối với toàn bộ hàng trăm hòn đảo trên khắp biển Đông, và các vùng nước liền kề, nơi mà ông gọi là "nằm bên trong đường 9 đoạn và các vùng nước liền kề". Đường 9 đoạn này là một bản đồ mà Trung Quốc vẽ ra cuối những năm 1940 nhằm mô phỏng yêu sách lãnh thổ của mình - bao bọc khoảng 80% diện tích biển Đông, nơi được cho là có chứa lượng dầu và khí tự nhiên khổng lồ dưới đáy biển.

Bản đồ trên đã được Trung Quốc dùng làm nền tảng các yêu sách hiện nay của họ. Một số nước láng giềng cũng đã phản ứng tức giận khi gần đây Trung Quốc còn đưa tấm bản đồ này vào hộ chiếu điện tử mới của mình.

Ông Wu, cũng là người đứng đầu một viện nghiên cứu về biển Đông do Chính phủ Trung Quốc tài trợ, cho biết ý định của các quy định mới là đối phó với cái mà ông gọi là các tàu cá bất hợp pháp của Việt Nam đang hoạt động xung quanh đảo Phú Lâm, nơi Trung Quốc vừa dựng một doanh trại quân đội mở rộng.

Hòn đảo này có một sân bay dài và được thế giới biết đến là một phần của quần đảo Hoàng Sa (mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền). Các nước láng giềng cho rằng Trung Quốc đang sử dụng đảo Phú Lâm như một kiểu hiện diện trong nỗ lực giành quyền kiểm soát nhiều hơn đối với biển Đông.

Các quy định mới nói trên sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2013. Theo một bài báo trên tờ China Daily của nhà nước Trung Quốc, viết bằng tiếng Anh, cảnh sát và lực lượng bảo vệ bờ biển sẽ được phép lên boong khám xét và kiểm soát bất cứ tàu nước ngoài nào "xâm phạm bất hợp pháp" các vùng biển của Trung Quốc và ra lệnh cho các tàu này đổi hải trình.

Ông Wu thừa nhận rằng các quy định mới đã gióng lên hồi chuông cảnh báo tại châu Á, và Mỹ, vì chúng có thể bị hiểu là một sự thâu tóm quyền lực của Trung Quốc. Ông nói: "Các nước láng giềng và các nước ngoài khu vực có một nỗi lo lắng lớn là Trung Quốc đang đi quá nhanh, và họ thấy là có thể Trung Quốc sẽ chiếm các đảo này bằng vũ lực". Ông cho rằng Trung Quốc cần thuyết phục các nước láng giềng là mọi chuyện không phải như vậy. Theo ông, quan trọng là các nước phải tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ không sử dụng vũ lực trên biển.

Philippines, một đồng minh của Mỹ và một trong những nước chỉ trích mạnh nhất các yêu sách của Trung Quốc trên biển Đông, đã phản ứng mạnh mẽ trước các quy định mới trên. Trong một tuyên bố của mình, Bộ Ngoại giao Philippines cho biết: "Hành động đã được lên kế hoạch này của Trung Quốc là bấp hợp pháp và sẽ càng khiến Philippines tiếp tục nhắc lại tuyên bố rằng yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền không thể tranh cãi đối với gần hết biển Đông không chỉ là một yêu sách thái quá mà còn là một mối đe dọa đối với tất cả các nước khác".

Một chuyên gia của Mỹ về biển Đông, ông Taylor Fravel cho rằng để xua tan sự mất tinh thần liên quan đến các quy định mới, Trung Quốc cần giải thích thêm. Ông Fravel, một giáo sư khoa chính trị tại Viện Công nghệ Massachusetts, cho biết Mỹ và các nước châu Á có thể đang phản ứng thái quá về quy định này. Ông nói: "Quy định trên không phải do Bắc Kinh thông qua".

Ông Fravel cho biết thêm: "Mỹ sẽ tìm cách làm rõ với Trung Quốc ý định của các quy định trên và liệu chúng có được sử dụng ở bên trong và xung quanh các đảo đang tranh chấp hay không, bởi nếu vậy thì đây là một động thái có thể rõ ràng làm leo thang căng thẳng".

Trong một nỗ lực nhằm tránh tình hình căng thẳng thêm, chính quyền Obama chỉ chỉ trích một cách không trực diện vào hành động của Trung Quốc. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Peter P. Velasco nói: "Tất cả các bên liên quan nên tránh các hành động khiêu khích đơn phương làm gia tăng căng thẳng và hủy hoại triển vọng tìm một giải pháp ngoại giao hoặc hòa bình".

Tại một hội nghị thượng đỉnh của các lãnh đạo châu Á ở Phnom Penh vừa qua, Tổng thống Obama đã đưa vấn đề biển Đông với Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Ông Obama đã đề nghị Trung Quốc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, và đảm bảo tự do hàng hải. Nhưng theo chuyên gia Bonnie Glaser, thuộc Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, cách tiếp cận nhẹ nhàng này sẽ không có hiệu quả. Bà cho rằng Mỹ chưa có một chiến lược cụ thể.

Bà nói Trung Quốc tin rằng họ có thể vượt trội 10 quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), những nước vốn chưa tìm ra được con đường chung để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Bà nhận định: "Tại ASEAN, người ta không sẵn sàng đương đầu với Trung Quốc, các nước này đang chia rẽ".

Bà Glaser nhấn mạnh: đến nay, một số nước ASEAN tin rằng Trung Quốc không muốn có xung đột liên tiếp tại hai mặt trận biển: biển Hoa Đông với Nhật Bản và biển Đông với các nước khác. Nhưng với việc tỉnh đảo Hải Nam thông qua các quy định trên, giả định này giờ không còn đúng nữa./.

Lấn lướt láng giềng, Đại Hán nghênh ngang chiếm biển

Tác giả: Nguyễn Huy theo Business Insider

(TUANVIETNAM.NET) - Bắt đầu từ ngày 1/1, cảnh sát tỉnh Hải Nam, Trung Quốc sẽ tiếp cận các tàu tiến vào khu vực mà Trung Quốc coi là lãnh thổ của mình ở Biển Đông. Họ được phép lên tàu, kiểm soát các tàu nước ngoài "xâm nhập trái phép" và yêu cầu các tàu thay đổi lộ trình. 
 

"Các hoạt động như xâm nhập vào vùng biển của tỉnh đảo mà không được phép... và công khai tham gia đe dọa an ninh quốc gia là phi pháp", tờ Nhật báo Trung Quốc viết. "Nếu các tàu nước ngoài hoặc thủy thủ đoàn vi phạm quy định đưa ra, cảnh sát Hải Nam có quyền tiếp quản tàu hoặc hệ thống thông tin liên lạc trên tàu".

Động thái ngày một quả quyết thậm chí là lấn lướt gây hấn của Trung Quốc đã làm phức tạp và tăng nhiệt cho một "điểm nóng" của châu Á - nơi có những tuyến đường vận chuyển nhộn nhịp nhất thế giới được cho là đảm nhận hơn nửa lượng vận chuyển dầu của toàn cầu.

"Điều này là không thể", Tướng Juancho Sabban, chỉ huy lực lượng quân sự Philippiines miền tây cho biết. "Đó là sự vi phạm luật pháp quốc tế, vi pháp quyền tự do đi lại quốc tế".

Ngoài Trung Quốc, còn một số nước châu Á tuyên bố chủ quyền với các đảo nhỏ trong khu vực được coi là vùng biển chiến lược với các vùng đặc quyền kinh tế giàu tiềm năng năng lượng, nguồn cá.

Tiến sĩ Ely Ratner, nhà nghiên cứu tại Trung tâm An ninh Mỹ mới cho rằng, động thái này biểu hiện cách thức sử dụng lối ngoại giao, kinh tế hoặc quân sự "áp chế" nhằm giành lợi thế trong yêu sách chủ quyền ở Biển Đông và Hoa Đông.

Tuy nhiên, điều mới mẻ ở đây là trong các cuộc xung đột khác - kiểu như bãi cạn Scarborough, hay cái gọi là "thành phố Tam Sa" hoặc quần đảo Senkaku - Trung Quốc biện hộ là phản ứng với sự khiêu khích từ các nước khác. Còn trong trường hợp mới nhất này, họ không tuyên bố đó là một phản ứng.

"Nó rõ ràng là sự leo thang và gây mất ổn định", Ratner nói. "Đó là hành động đơn phương của Trung Quốc, và là kiểu 'ra tay trước' mà mọi người luôn luôn lo lắng".

Theo chuyên gia Ratner: "Rõ ràng là về trung hạn, phản ứng ngoại giao từ khu vực và cả những cường quốc bên ngoài là khá mạnh mẽ" bởi nó gắn liền với thực tế rằng, nền kinh tế thế giới phụ thuộc nhiều vào tự do hàng hải, tự do qua lại ở Biển Đông.

Mỹ - quốc gia nhiều lần nhấn mạnh rằng, họ có một lợi ích quốc gia trong đảm bảo tự do hàng hải ở khu vực - đã và đang thay đổi nguồn lực quân sự hướng về châu Á.

Nhưng điều khiến Trung Quốc gây khó dễ với các nước khác là Bắc Kinh sử dụng các cơ quan phi quân sự và thực thi pháp luật (nghĩa là bớt đe dọa hơn so với việc sử dụng tàu hải quân) để lấn lướt ở Biển Đông. Nước này cũng không tỏ ra mặn mà trong việc xây dựng và phát triển một bộ quy tắc ứng xử cung cấp khuôn khổ hành xử cho các nước khác ở các khu vực tranh chấp trên biển.

Tuy vậy, điều đó cũng không có nghĩa là Trung Quốc sẽ áp dụng cách thức này trong thời gian dài. "Đó không phải là một chiến lược có lợi cho Trung Quốc trong dài hạn", Ratner nói. "Mỗi khi họ làm điều gì tương tự như vậy, điều chúng ta được chứng kiến là sự tăng cường hợp tác của các quốc gia trong khu vực; là yêu cầu gia tăng hiện diện cũng như tham gia các nỗ lực ngoại giao của Mỹ trong khu vực".

Sự tăng cường chú tâm của Mỹ với châu Á đã thúc đẩy nhiều nước đứng lên chống lại sự hăm dọa của Trung Quốc. Theo nhà nghiên cứu Ratner, các quốc gia trong khu vực và Mỹ có thể nói chung tiếng nói về vấn đề này. "Họ có thể cung cấp sự đối trọng ngoại giao ấn tượng cho các hành động của Trung Quốc".

Ratner nhấn mạnh rằng, Mỹ sẽ có khả năng tiếp tục đưa những sự cố đụng độ trên biển vào trong quan điểm rộng lớn hơn của mối quan hệ Trung - Mỹ. "Câu hỏi thực sự đặt ra là Trung Quốc sẵn sàng đi bao xa - nước này đã vượt qua luật pháp quy định hay thực sự đã sẵn sàng vươn ra biển lớn, bắt đầu bắt giữ các ngư dân hay bất cứ thứ gì đang ở vùng biển quốc tế hoặc ở vùng lãnh thổ tranh chấp nơi họ đánh bắt hay làm việc trong nhiều thế kỷ qua?", Ratner cho biết. "Trung Quốc giống như con voi trong phòng và là người cuối cùng sẽ quyết định giải quyết vấn đề một cách hòa bình hay không".

* ("Con voi trong phòng" là cụm từ được dịch từ tiếng Anh "Elephant in the Room". Đây là thành ngữ ý muốn ám chỉ một vấn đề mà ai cũng biết, nhưng không ai dám nói ra do ngượng ngùng hoặc do đó là điều kiêng kỵ).

11/12/12

Báo cáo Việt Nam thực thi Công ước Luật Biển 1982

(VietnamPlus, TTXVN) - Nhân kỷ niệm 30 năm ngày mở ký Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, mới đây Việt Nam đã cho lưu hành tại Liên hợp quốc Báo cáo “Việt Nam thực thi Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 với tư cách là một thành viên có trách nhiệm của Công ước.”

Ảnh minh họa.

TTXVN giới thiệu toàn văn báo cáo này:

Việc 107 quốc gia cùng ký vào Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển tại Montego Bay (Jamaica) 30 năm trước là một thành quả hết sức quan trọng của Hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc về Luật Biển.

Sự ra đời của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (Công ước Luật Biển 1982) đã đáp ứng nguyện vọng và mong đợi của cộng đồng quốc tế về một chuẩn mực pháp lý quốc tế công bằng mang tính toàn cầu đối với tất cả các vấn đề về biển và đại dương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.

Quá trình xây dựng Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 đã diễn ra nhiều năm với sự nỗ lực của trên 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ. Đến nay, thành viên của Công ước Luật Biển năm 1982 đã lên tới 164 quốc gia.

Công ước Luật Biển 1982 không chỉ quy định về quyền, nghĩa vụ của quốc gia ven biển mà còn đề cập đến quyền được tiếp cận với biển của các quốc gia không có biển, do vậy Công ước Luật Biển 1982 được nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia không có biển, cùng chấp nhận.

Công ước Luật Biển 1982 ra đời đã đặt nền tảng cho sự thiết lập một trật tự pháp lý mới liên quan đến các vấn đề biển và đại dương. Nội dung của Công ước 1982 đề cập toàn diện đến các lĩnh vực biển, có tính đến lợi ích của tất cả các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát triển hay nước đang phát triển, dù là nước nhỏ hay nước lớn, dù là nước có biển hay không có biển.

Từ khi có hiệu lực ngày 16/11/1994, Công ước Luật Biển 1982 đã trở thành cơ sở pháp lý quan trọng để điều phối các vấn đề liên quan đến biển, một công cụ pháp lý quan trọng để giải quyết, xử lý các tranh chấp biển và được coi là “Hiến pháp của đại dương.” Trong 30 năm tồn tại, Công ước Luật Biển 1982 đã được vận dụng khá hiệu quả để giải quyết nhiều tranh chấp biển phức tạp kéo dài, tránh được những nguy cơ xung đột tiềm tàng.

Là một quốc gia ven biển có bờ biển dài trên 3.260km, Việt Nam có nhiều lợi ích lớn gắn liền với biển.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của biển cả, Việt Nam đã tích cực tham gia vào quá trình thương lượng xây dựng Công ước Luật Biển năm 1982 và có nhiều nỗ lực trong việc thực thi Công ước Luật Biển 1982; luôn đề cao tôn chỉ và mục tiêu của Công ước, đồng thời có những hành động thiết thực vào việc thực hiện Công ước.

1. Từ trước khi Công ước Luật Biển 1982 ra đời, Việt Nam đã tích cực vận dụng các quy định liên quan của luật pháp quốc tế để xây dựng các văn bản pháp quy về biển. Căn cứ vào xu thế phát triển tiến bộ của luật biển quốc tế, năm 1977 Việt Nam ban hành “Tuyên bố của Chính phủ về các vùng biển Việt Nam” xác lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, cho phép mở rộng quyền của Việt Nam ra biển, không chỉ giới hạn trong quyền đánh cá mà còn có các quyền chủ quyền và quyền tài phán khác.

Với Tuyên bố này, Việt Nam cũng như các nước Kenya, Myanmar, Cuba, Yemen, Dominica, Guatemala, Ấn Độ, Pakistan, Mexico, Seychelles được coi như những nước đi tiên phong trong việc đưa khái niệm vùng đặc quyền kinh tế trở thành khái niệm có giá trị tập quán và sau này trở thành một nội dung quan trọng của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.

2. Việt Nam là quốc gia tham gia Hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc về Luật Biển tại Montego Bay (Jamaica). Ngay sau khi Công ước Luật Biển 1982 được thông qua, ngày 30/4/1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước.

Trước khi Công ước có hiệu lực, ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam đã ra Nghị quyết về việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Điểm 1 trong Nghị quyết nêu rõ: “Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển.”

Nghị quyết phê chuẩn khẳng định chủ quyền của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước Luật Biển 1982 và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế; yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam.

Nghị quyết khẳng định chủ trương của Việt Nam giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển 1982, tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được quy định bởi những nguyên tắc của Công ước Luật Biển 1982.

3. Vận dụng các quy định của Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo môi trường pháp lý cho công tác quản lý biển và các hoạt động kinh tế biển, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Ngày 21/06/2012, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật biển Việt Nam. Luật biển Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các quy định của Công ước Luật Biển 1982, có tham khảo các thông lệ quốc tế và thực tiễn của các nước.

Luật biển Việt Nam gồm 7 chương với 55 điều, đề cập đến các nguyên tắc quản lý và sử dụng biển; phạm vi và quy chế các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa; quy chế các đảo, quần đảo; các hoạt động trong các vùng biển Việt Nam; tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ; bảo vệ tài nguyên và môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; phát triển kinh tế biển; tuần tra kiểm soát trên biển; hợp tác quốc tế về biển.

Với việc thông qua Luật biển, Việt Nam đã làm cho các quy định của luật pháp về biển của mình hài hoà với các quy định của Công ước Luật Biển 1982. Việc Luật biển Việt Nam khẳng định chủ trương giải quyết các tranh chấp biển, đảo bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển 1982 càng khẳng định rõ Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển 1982, thể hiện quyết tâm của Việt Nam phấn đấu vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.

Trước đó, ngày 14/6/2005, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Bộ Luật hàng hải Việt Nam sửa đổi, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2006, điều chỉnh các hoạt động giao thông hàng hải trên biển, chế độ ra vào các cảng biển Việt Nam. Ngoài ra, Việt Nam đã thông qua một số bộ luật khác liên quan đến quản lý và sử dụng biển như Luật Dầu khí (1993), Luật Tài nguyên nước (1998), Luật Bảo vệ môi trường (1993), Luật Biên giới quốc gia (2003), Luật Thủy sản (2004) và nhiều pháp lệnh, nghị định khác.

4. Căn cứ vào các quy định của Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam đã và đang tiến hành quản lý có hiệu quả và triển khai các hoạt động kinh tế biển trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của mình phục vụ phát triển kinh tế đất nước, nâng cao đời sống nhân dân. Chính phủ Việt Nam luôn bảo vệ những lợi ích hợp pháp của các đối tác nước ngoài trong hợp tác kinh tế, quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên biển phù hợp với các quy định của Công ước 1982.

Việt Nam cũng đã chủ động và hợp tác cùng các bên liên quan trong việc bảo vệ môi trường biển, cứu hộ, cứu nạn trên biển, phòng chống thiên tai và triển khai các biện pháp phòng chống tội phạm trên biển, nhất là cướp biển, góp phần thực hiện đầy đủ các quy định của Công ước Luật Biển 1982.

Vấn đề bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường biển là vấn đề luôn được Chính phủ Việt Nam hết sức coi trọng và đã được quy định trong các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý biển của Việt Nam trong các lĩnh vực khác nhau như: vận tải biển, dầu khí, nuôi trồng khai thác thủy hải sản và kiểm soát và tuần tra biển. Việt Nam cũng là quốc gia đã chủ động đưa ra nhiều sáng kiến liên quan khai thác bền vững nguồn tài nguyên biển và đại dương, liên quan đến bảo vệ môi trường biển, chống nước biển dâng cao.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác tìm kiếm và cứu nạn mà Công ước Luật Biển 1982 đặt ra cho các quốc gia ven biển, Việt Nam đã thành lập Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn theo quyết định số 780/TTg ngày 23 tháng 10 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ. Ủy ban có nhiệm vụ chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc tìm kiếm-cứu nạn người và phương tiện (tàu bay, tàu thuyền, thiết bị dầu khí…) bị lâm nạn trên không, trên biển và vùng trách nhiệm tiếp giáp giữa Việt Nam với các nước. Đến nay, Việt Nam đã là thành viên của Công ước về Tìm kiếm Cứu nạn và đang chuẩn bị để đàm phán với các nước liên quan về phân định vùng tìm kiếm cứu nạn trên vùng biển.

5. Với chủ trương nhất quán thông qua các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả Công ước Luật Biển 1982 giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước láng giềng, trong đó luôn đề cao nguyên tắc công bằng để tìm ra giải pháp hợp lý, cụ thể là: Việt Nam đã ký với Thái Lan Hiệp định về Phân định biển ngày 09/8/1997; ký với Trung Quốc Hiệp định về Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác Nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000; ký với Indonesia Hiệp định về Phân định Thềm lục địa ngày 26/6/2003.

Việt Nam đang đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc, đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia và đang chuẩn bị đàm phán về vấn đề trên biển với các nước láng giềng khác.

Thực tiễn đàm phán, ký kết các văn kiện phân định biển của Việt Nam với các nước láng giềng đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo các quy định của Công ước Luật Biển 1982, đóng góp và làm phong phú thêm luật pháp quốc tế về phân định biển. Kết quả đàm phán giải quyết phân định giữa Việt Nam với Thái Lan và Trung Quốc góp phần khẳng định xu thế không thể phủ nhận của việc sử dụng đường trung tuyến hoặc cách đều làm xuất phát điểm để đi tới một giải pháp phân định công bằng và xu thế sử dụng đường phân định đơn nhất cho phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Mặt khác, Việt Nam luôn tích cực đấu tranh bảo vệ luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Luật Biển 1982.

Theo đó, khi bàn về các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, Việt Nam kiên trì yêu cầu “tôn trọng luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển 1982,” coi đây như một nguyên tắc để giải quyết và xử lý các tranh chấp liên quan đến biển đảo. Việt Nam đã nỗ lực đưa nguyên tắc này vào các văn kiện của ASEAN, kể cả Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); Tuyên bố 6 điểm ngày 20/7/2012 của ASEAN về Biển Đông.

Với nỗ lực của Việt Nam, nội dung “căn cứ luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển 1982 để tìm ra giải pháp cơ bản lâu dài cho các tranh chấp tại Biển Đông” đã được đưa vào vào Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc ký ngày 11/10/2011. Điều đó cho thấy Việt Nam không chỉ chủ động thực hiện nghiêm túc các quy định của Công ước Luật Biển 1982 mà còn luôn có ý thức thúc đẩy việc tôn trọng và thực hiện đầy đủ các nội dung của Công ước.

6. Căn cứ vào khuyến nghị trong Điều 74 và Điều 83 của Công Luật Biển 1982, Việt Nam luôn sẵn sàng cùng các bên hữu quan tiến hành hợp tác cùng phát triển ở những khu vực thực sự có tranh chấp, phù hợp với các quy định của Công ước Luật Biển 1982. Năm 1992, Việt Nam đã ký với Malaysia Thỏa thuận về việc hợp tác khai thác tài nguyên khoáng sản khu vực thềm lục địa chồng lấn và thỏa thuận này đang được triển khai có hiệu quả. Hiện nay, Việt Nam đang cùng Thái Lan-Malaysia đàm phán về hợp tác tại khu vực biển chồng lấn 3 bên Việt Nam-Thái Lan-Malaysia.

7. Thực hiện quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển theo quy định của Công ước Luật Biển 1982, sau gần 3 năm nỗ lực (từ 2007 đến 2009), Việt Nam đã hoàn thành Báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa bảo đảm chất lượng, xác định một cách có cơ sở khoa học và pháp lý phạm vi thềm lục địa mở rộng của Việt Nam ở Biển Đông theo đúng tiêu chuẩn, quy định của Ủy ban Thềm lục địa Liên hợp quốc.

Đầu tháng 5/2009, Việt Nam đã trình lên Liên hợp quốc Báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa khu vực phía Bắc và Báo cáo chung xác định ranh giới ngoài thềm lục địa khu vực phía Nam với Malaysia theo đúng thời hạn quy định của Liên hợp quốc. Trong các ngày 27 và 28/8/2009, Việt Nam đã trình bày hai bản Báo cáo này tại Ủy ban Thềm lục địa Liên hợp quốc, đồng thời đề nghị Uỷ ban Thềm lục địa Liên hợp quốc sớm thành lập các Tiểu ban để xem xét Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo đúng các quy định của Công ước Luật Biển 1982 cũng như Quy tắc hoạt động của Ủy ban Thềm lục địa. Việc làm này khẳng định rõ quyết tâm của Việt Nam trong việc thực thi Công ước Luật Biển 1982.

8. Việt Nam đã tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế được thành lập theo Công ước Luật Biển 1982. Việt Nam là thành viên của Hội đồng Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy Đại dương và đã từng được bầu làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy Đại dương.

Việt Nam tham gia đầy đủ các hội nghị của các quốc gia thành viên Công ước Luật Biển 1982 được tổ chức hàng năm tại Đại hội đồng Liên hợp quốc và luôn có những đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy thực thi hiệu quả Công ước; tham gia và có những đóng góp tích cực vào các hội nghị Cơ quan Quyền lực Đáy Đại dương trong đó đề cao vai trò của Công ước Luật Biển 1982; ủng hộ tăng cường hoạt động của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa và ủng hộ vai trò tư pháp của Tòa án Luật biển quốc tế; đồng thời đóng góp đầy đủ niên liễm để các cơ quan được thành lập theo Công ước hoạt động.

Tại các diễn đàn liên quan, Việt Nam luôn khẳng định: Trong hoạt động sử dụng biển, các quốc gia phải tuân thủ đúng các quy định trong Công ước Luật Biển 1982, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo Công ước Luật Biển 1982. Việt Nam đã tích cực tham gia thảo luận và ủng hộ thông qua hai Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc về đại dương và về đánh cá trên biển phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững; tham gia tiến trình tham vấn không chính thức về các vấn đề đại dương và Luật biển hàng năm.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã tham gia xây dựng nhiều văn kiện pháp lý quốc tế và khu vực liên quan đến biển như Công ước quốc tế về Tổ chức Vệ tinh Hàng hải (INMARSAT), Hệ thống An toàn và Cứu nạn Hàng hải toàn cầu (GMDSS)..., đồng thời lập hệ thống đài thông tin duyên hải đáp ứng thông tin liên lạc giữa các tàu và giữa các tàu với bờ. Việc tiến hành kiểm tra tại cảng biển các tàu luôn tuân thủ các Thỏa thuận khu vực về kiểm tra nhà nước tại cảng biển.

Ngoài Công ước Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO), Việt Nam đã tham gia rất nhiều các Công ước của IMO khác bao gồm: Công ước quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm biển từ tàu 1973 và Nghị định thư bổ sung 1978 (MARPOL 73/78), Công ước về tấn trọng tải (Tonnage 69), Công ước quốc tế về thống nhất các quy tắc chung liên quan đến đâm va giữa các tàu chung (COLREG 72), Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng người trên biển (SOLAS 74), Công ước quốc tế về Mạn khô (Load Line 66),

Công ước quốc tế về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp chứng chỉ chuyên môn và trực ca cho thuyền viên (STCW 78/95), Công ước quốc tế về ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng hải (SUA 88) và Nghị định thư về ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng hải đối với các dàn khoan cố định ở thềm lục địa; Công ước quốc tế về giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tàu đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu (CLC 1992 - Việt Nam tham gia ngày 1 tháng 7 năm 2003 và Công ước có hiệu lực với Việt Nam từ 1 tháng 7 năm 2004); Công ước về Tạo thuận lợi trong giao thông đường biển (FAL); Công ước về Tìm kiếm, cứu nạn (SAR 79).

Việt Nam đã ký kết nhiều Hiệp định chung trong khuôn khổ hợp tác ASEAN liên quan đến vận tải biển và dịch vụ hàng hải như: Hiệp định về tạo thuận lợi cho tàu biển bị nạn và cứu người trên tàu bị nạn ngày 15/5/1975, Hiệp định khung ASEAN về Tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải hàng hoá quá cảnh ngày 16/12/1998, Hiệp định khung về thương mại dịch vụ (GATS) tháng 12/1995, Hiệp định khung ASEAN về Tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải liên quốc gia ngày 26/3/2012.

Việc Việt Nam tham gia các văn kiện pháp lý liên quan đến biển của khu vực và quốc tế thể hiện rõ quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc thực thi đầy đủ những nội dung của Công ước Luật Biển 1982.

Tóm lại, 30 năm nay, Công ước Luật Biển 1982 đã thực sự trở thành căn cứ pháp lý quốc tế vững chắc để xác định quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của quốc gia ven biển, đồng thời cũng là cơ sở để xử lý các vấn đề liên quan đến biển và đại dương, kể cả những tranh chấp về biển.

Là một quốc gia gắn liền với biển, Việt Nam luôn đi đầu và không ngừng nỗ lực trong việc thực hiện Công ước Luật Biển 1982. Việt Nam tin tưởng chắc chắn rằng, nếu các quốc gia ven biển đều thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ được quy định bởi Công ước Luật Biển 1982 thì nhân loại không những sẽ tránh được những căng thẳng, xung đột trên biển mà sẽ có điều kiện tốt hơn để khai thác biển và đại dương phục vụ lợi ích con người.

Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục hành động theo mục tiêu, tôn chỉ và các quy định của Công ước Luật Biển 1982, đồng thời yêu cầu, kêu gọi các quốc gia khác tuân thủ nghĩa vụ này./.

(TTXVN) 

Philippines ủng hộ Nhật nâng cấp quân đội

(TNO) Philippines sẽ ủng hộ nhiệt thành việc Nhật sửa đổi hiến pháp hòa bình để nâng cấp Lực lượng Phòng vệ nhằm trở thành một đối trọng với Trung Quốc trong khu vực, theo Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario.

Tàu chiến và cờ của Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật - Ảnh: AFP

Phát biểu trong một cuộc phỏng vấn được tờ báo Anh Financial Times đăng tải hôm 9.12, ông del Rosario nói: “Chúng tôi sẽ rất hoan nghênh điều đó. Chúng tôi trông đợi những yếu tố cân bằng trong khu vực và Nhật có thể là một yếu tố cân bằng đáng kể”.

Theo tờ Financial Times, tuyên bố bất thường của ông del Rosario phản ánh sự lo ngại của Manila trước những hành vi khiêu khích của Trung Quốc tại biển Đông.

Phát biểu có thể khiến Bắc Kinh tức giận được đưa ra trước thềm cuộc bầu cử Nhật vào ngày 16.12, vốn được dự đoán sẽ chứng kiến sự trở lại của cựu Thủ tướng Shinzo Abe, người cam kết sẽ sửa đổi hiến pháp hòa bình của Nhật và tăng cường quân sự.

Việc sửa đổi hiến pháp nhằm nâng cấp Lực lượng Phòng vệ Nhật thành quân đội toàn diện sẽ cho phép lực lượng này nhiều quyền tự do hoạt động hơn và có thể thay đổi cán cân quân sự ở châu Á, theo Financial Times.

Sự cổ vũ từ các quốc gia châu Á có thể sẽ góp phần khuyến khích ông Abe sửa đổi hiến pháp.

Lâu nay, Bắc Kinh vẫn bày tỏ lo ngại về sự trở lại của chủ nghĩa quân phiệt Nhật. Tuy nhiên, thái độ của Philippines, nước từng bị Nhật chiếm đóng, gợi ý rằng những lo ngại về sự hung hăng của Trung Quốc có thể đã bắt đầu lấn át ký ức về các hành động xâm lược trước đây của Nhật.

Mới đây, Philippines đã phản ứng dữ dội tuyên bố của chính quyền tỉnh Hải Nam về việc ngăn chặn và khám xét tàu bè trong vùng biển mà tỉnh này cho là thuộc quyền quản lý của họ.

Philippines cũng phản đối và từ chối đóng dấu vào hộ chiếu in “đường lưỡi bò” của các công dân Trung Quốc.

Nhật và Philippines vốn có nhiều hoạt động tăng cường hợp tác quân sự trong thời gian gần đây. Vào tháng 7, Nhật và Philippines đã ký thỏa thuận có thời hạn 5 năm nhằm tăng cường hợp tác quân sự thông qua việc trao đổi sĩ quan và công nghệ. Nhật sẽ cung cấp 12 tàu tuần tra cho lực lượng tuần duyên Philippines theo hình thức viện trợ ODA.

Sơn Duân

Thời báo Hoàn cầu lại giở thói ngang ngược với Việt Nam

(TNO) Tờ Thời báo Hoàn cầu ngày hôm nay, 11.12, đã đăng tải bài bình luận ngang ngược vu cáo Việt Nam “ăn cắp” dầu khí của Trung Quốc đồng thời cổ vũ cho các hành động gây hấn và phi pháp của Trung Quốc ở biển Đông.

Vị trí tàu Bình Minh 02 bị phá cáp theo thông tin của Tập đoàn dầu khí VN (PVN) và phần cáp bị đứt (ảnh nhỏ) - Đồ họa: Hồng Sơn

Trong bài bình luận có tựa “Việt Nam xem nhẹ ý chí bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc”, tờ báo thường xuyên thể hiện giọng điệu hiếu chiến nhắc lại vụ tàu cá Trung Quốc phá cáp tàu Bình Minh 02 và kêu gọi Trung Quốc tiếp tục sử dụng những hành động có “cường độ nhẹ” để quấy phá hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam ở biển Đông, đồng thời tung hỏa mù về cách phản ứng của Trung Quốc.

Ấn phẩm phụ của tờ Nhân dân Nhật báo bộc lộ rõ thái độ hung hăng qua đoạn: “Chúng tôi không biết liệu tàu Trung Quốc có cố ý cắt cáp thăm dò gắn phía sau tàu Việt Nam hay không. Nhưng ngay cả khi họ cố ý, thì người dân Trung Quốc vẫn ủng hộ cách hành xử này”.

Tờ báo này còn rêu rao rằng Việt Nam là nước bạo dạn nhất trong việc khai thác dầu ở biển Đông so với các nước khác và vu cáo Việt Nam “ăn cắp” dầu khí của Trung Quốc thông qua sự hợp tác với các công ty dầu khí từ “một nước thứ ba”.

Thời báo Hoàn cầu khẳng định Trung Quốc hiện cương quyết bảo vệ chủ quyền hơn bao giờ hết và dọa dẫm Việt Nam và Philippines đừng trông đợi Trung Quốc thoái lui dưới “cái gọi là áp lực quốc tế”.

Bài bình luận cũng mạo danh toàn thể nhân dân Trung Quốc với đoạn: “Họ phải hiểu dư luận quần chúng Trung Quốc là trên hết. Bảo vệ chủ quyền Trung Quốc là ý chí chung của 1,3 tỉ công dân Trung Quốc”.

Tàu Bình Minh 02 của Việt Nam vốn bị hai tàu cá Trung Quốc mang số hiệu 16025 và 16028 cố tình cản trở và gây đứt cáp vào hôm 30.11, khi đang tiến hành thăm dò địa chấn bình thường trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam (tại tọa độ 17026,2’ vĩ tuyến Bắc, 1080 02’ kinh tuyến Đông, nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa Việt Nam, chỉ cách đảo Cồn Cỏ (Việt Nam) khoảng 43 hải lý).

Vụ gây đứt cáp tàu Bình Minh 02, cũng như các động thái đưa ra “Điều lệ quản lý trị an biên phòng ven biển tỉnh Hải Nam”, xuất bản bản đồ cái gọi là “thành phố Tam Sa” của phía Trung Quốc đã bị người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam lên tiếng phản đối vào hôm 4.12.2012.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nêu rõ: “Những hành động nói trên của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; xâm phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển của Việt Nam; vi phạm Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ký tháng 10.2011; trái với tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) và Tuyên bố cấp cao kỷ niệm 10 năm DOC, làm cho tình hình biển Đông thêm phức tạp".

Ông Lương Thanh Nghị cho biết, ngày 3.12.2012, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao công hàm kiên quyết phản đối những việc làm nói trên của Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, chấm dứt ngay những việc làm sai trái đó và không để tái diễn những hành động tương tự.

Sơn Duân

Philippines sẽ kéo tàu Mỹ vào Biển Đông giải lệnh cấm phi pháp của Trung Quốc

(GDVN) - Tàu chiến của Mỹ và các nước khác sẽ tăng cường diễn tập, tập trận hoặc huấn luyện trên Biển Đông nhằm phá vỡ một lệnh cấm phi pháp của Trung Quốc.
Tân Hoa Xã ngày 11/12 đưa tin, Lầu Năm Góc và Bộ Quốc phòng Philippines sẽ tổ chức hội đàm trong tuần này để thảo luận việc Mỹ tăng quân số đồn trú tại các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Philippines.

Tờ The Nation, Thái Lan cũng đưa tin, trong hai ngày 11, 12/12 tại Manila sẽ diễn ra cuộc họp đặc biệt giữa các quan chức Mỹ, Philippines xoay quanh việc hợp tác quốc phòng và các vấn đề khu vực, Trợ lý Ngoại trưởng Philippines Carlos Sorreta cho biết.

Trợ lý Ngoại trưởng Philippines Carlos Sorreta

"Quan trọng nhất trong chương trình nghị sự là tăng cường sự hiện luân phiên của Mỹ tại Philippines", ông Carlos cho biết.

Điều này sẽ liên quan tới việc tàu chiến của Mỹ và các nước khác sẽ tăng cường diễn tập, tập trận hoặc huấn luyện trên Biển Đông nhằm phá vỡ một lệnh cấm phi pháp của Trung Quốc.

Quan chức hai nước sẽ thảo luận về việc tăng số lượng các chuyến thăm của quân đội Mỹ bao gồm tàu chiến và máy bay trong khi Mỹ tăng cường viện trợ cho quân đội Philippines xây dựng năng lực phòng thủ.

Từ năm 2002 một lực lượng gồm 600 quân của Mỹ đã đóng tại miền Nam Philippines để giúp nước này huấn luyện lực lượng chống lại các phần tử Hồi giáo cực đoan.

Philippines đã tìm cách tăng cường quan hệ với Mỹ trong những năm gần đây sau khi Trung Quốc ngày càng có nhiều động thái leo thang trên Biển Đông với việc khuếch trương cái gọi là "đường chín đoạn", đường lưỡi bò nuốt trọn gần như toàn bộ Biển Đông.

Tàu sân bay George Washington tới đây sẽ xuất hiện nhiều hơn trên Biển Đông?

Trong tháng 10, một quan chức Philippines cho biết một căn cứ hải quân của quốc gia này nhìn ra Biển Đông có thể đóng một vai trò quan trọng như một trung tâm cho tàu chiến của Mỹ, ví dụ tàu sân bay George Washington có thể di chuyển dễ dàng để tăng cường sự hiện diện của nó ở Biển Đông.

Sorreta nói rằng, Trung Quốc không nên lo ngại bởi những nỗ lực cải thiện quan hệ quân sự Philippines - Mỹ, ông cũng nhấn mạnh: "Kể cả không có người Mỹ, chúng tôi cũng phải tìm chỗ đứng cho mình."

Hồng Thủy (Nguồn The Nation)

Giúp Đông Nam Á tự cường trước Trung Quốc

(Báo VietNamNet.) - "Nếu ASEAN không đoàn kết, không thống nhất ý chí với nhau trong cuộc chống bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, thì Mỹ có muốn giúp mấy cũng đành chịu." - Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, Đại học George Mason (Hoa Kỳ).

LTS: Bên lề Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 4, diễn ra tại Hà Nội vào 26-28.11.2012, phóng viên Tuanvietnam đã có cuộc phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng của Đại học George Mason, một chuyên gia về chính sách ngoại giao Hoa Kỳ và chính trị Đông Á, về những điều chỉnh có thể của chính sách đối ngoại của Mỹ trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Barrack Obama và vị thế của ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới.

Obama đủ trí tuệ để không sa lầy chiến tranh ở Syria

Ông đánh giá thế nào về hành trang mà Tổng thống Obama mang theo sang nhiệm kỳ thứ hai?

Về phương diện ngoại giao, ông đã thành công. Trong nhiệm kỳ đầu, ông Obama đã thành công rồi, thành ra trong cuộc tranh luận trên truyền hình lần cuối cùng, ông Romney gần như đồng ý với ông Obama.

Thứ hai, là ông Obama sẽ bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai với sự tự tin và từng trải hơn. Tất nhiên, là có những vấn đề khó khăn nảy sinh mà không lường trước được, như vấn đề khủng hoảng ở Syria. Nhưng tôi tin ông Obama đủ trí tuệ và cẩn trọng để không đưa nước Mỹ sa lầy vào một cuộc chiến tranh không có đường ra.

Chẳng hạn, như vụ Syria, ông Obama đã bị áp lực của Đảng Cộng hòa đòi can thiệp, nhưng ông dứt khoát không.

Và nếu đủ minh mẫn và khả năng chịu sức ép, ông Obama sẽ có đủ lực lượng để chuyển trọng tâm sang châu Á, để tiếp tục thi hành cái chính sách đã được bắt đầu ở nhiệm kỳ trước. Đó là chiều hướng thuận lợi cho châu Á.

Tất nhiên, ông ta còn phải làm một việc nữa liên quan đến tính kế thừa. Ông ta hoàn toàn không phải là một "tại nạn của lịch sử", mà có nhiệm kỳ hai hẳn hoi. Tức là ông ta được bầu vì tài cán hẳn hoi, và được người Mỹ chấp nhận. Ông thúc đẩy được việc chăm sóc y tế cho người Mỹ, trong khi các đời Tổng thống trước chỉ có Lindon Johnson ngày xưa mới làm được bảo hiểm cho người già.

Nếu ông ta phục hồi được kinh tế, và khiến càng nhiều quốc gia ở khu vực này trở nên dân chủ hơn, thì ông ta quá thành công.

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, Đại học George Mason (bìa phải). Ảnh: Huỳnh Phan

Xin ông đánh giá về hai chuyến thăm Myanmar và Thái Lan vừa rồi của Tổng thống Obama?

Khi sang Myanmar, ông Obama rất khôn khéo. Chẳng hạn, Quốc hội Mỹ họ bảo Tổng thống quá vội vã, Myamar vẫn còn là chế độ độc tài mà. Ông Obama bảo rằng ông muốn thể hiện sự cam kết với quá trình dân chủ hóa mới bắt đầu, và thứ hai là cần có sự khuyến khích nhất định.

Với Myanmar, ông cũng nói thẳng rằng việc giúp đỡ của Mỹ sẽ tùy theo tiến trình dân chủ hóa, tiến đến đâu giúp đến đó. Thành ra, Quốc hội không "cãi" được ông.

Thái Lan trước đây áo đỏ - áo vàng đánh nhau liên miên... Ông Obama nói rằng ông thăm Thái Lan để khuyến khích quá trình dân chủ hóa.

Chờ động thái đáp lại của ĐNA

Ông dự đoán thế nào sự trở lại châu Á của Mỹ, trong nhiệm kỳ thứ hai của ông Obama?

Thời ông Tổng thống Bush (con), khu vực này trách móc là Mỹ đã bỏ quên họ. Thực ra, vào cuối nhiệm kỳ của ông Bush, Mỹ đã trở lại khu vực này rồi.

Từ khi nhậm chức nhiệm kỳ đầu, Tổng thống Obama lại càng khẳng định sự trở lại mạnh mẽ của Mỹ. Có một sự đồng thuận rất lớn trong chính quyền của ông, khi cả tổng thống, bộ trưởng quốc phòng và bộ trưởng ngoại giao lên tiếng khẳng định điều này tại các diễn đàn khác nhau. Vì vậy, những chuyến thăm của họ, nhất là của Tổng thống Obama, sang khu vực này là sự thể hiện sự cam kết của nhà cầm quyền Washington.

Thế nhưng, chính sách của Mỹ luôn phù hợp với quyền lợi của Mỹ, bao gồm vấn đề an ninh, kinh tế, và giá trị Mỹ.

Về an ninh thì khỏi nói rồi, khi mấy năm trở lại đây nổi lên vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Trung Quốc với Nhật Bản, và Trung Quốc với một số nước Đông Nam Á. Căng thẳng gia tăng hoàn toàn có thể dẫn tới sự hạn chế tự do hàng hải và thương mại. Là một cường quốc hàng đầu về hải quân và hàng hải, Mỹ chắc hẳn không thể để những diễn tiến này vượt khỏi tầm kiểm soát của họ.

Về kinh tế, Tổng thống Obama đã giải thích với Quốc hội rằng khu vực này là trục phát triển trong tương lai, và Mỹ muốn thịnh vượng thì phải xuất khẩu được sang khu vực này càng nhiều càng tốt.

Nhưng đối với vấn đề thuộc về giá trị Mỹ như dân chủ - nhân quyền, ông không thể nào bỏ qua được. Bởi, nếu bỏ qua, chắc chắn ông sẽ không có sự ủng hộ trong nước, và gặp khó khăn trong việc thi hành các chính sách quốc nội khác.

Tất nhiên, cũng có những ngoại lệ, trong tình trạng khẩn cấp. Chẳng hạn, Mỹ với Liên Xô rất ghét nhau, nhưng vẫn phải liên minh với nhau để cùng đánh Đức Quốc xã trong chiến tranh thế giới II. Hay, tuy Mỹ với Trung Quốc không ưa nhau nhưng lại cùng bắt tay trong vấn đề Campuchia của Việt Nam.

Chúng ta phải hiểu rõ điều này để đừng lầm lẫn rằng chính sách của Mỹ cũng tiền hậu bất nhất, như ở nước này nước nọ. Mỹ rất nhất quán trong chính sách đối ngoại, chủ yếu dựa trên các quyền lợi mà tôi đã đề cập ở trên.

Tổng thống Obama dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á tại Campuchia.
Ảnh: AP

Vậy cam kết của Mỹ ở khu vực này là gì? Ý tôi muốn nói đến khu vực Đông Nam Á.


Mỹ chỉ cam kết rằng "nếu các anh muốn khỏe mạnh, tự cường, thì tôi giúp cho các anh khỏe, tự cường, chứ tôi không cam kết là tôi sẽ đánh lại người nào đánh các anh".

Tổng thống Obama đã giải thích rõ ràng điều này với Quốc hội, thể hiện qua việc như tăng cường khả năng quân sự cho Philippines, bắt chặt tay hơn với Indonesia, sau một thời gian dài hờ hững.

Theo tôi hiểu, phía Mỹ đã làm phần của họ rồi. Phần còn lại là khu vực này phải có những động thái thể hiện sự đáp lại mà thôi.

Còn nếu mà ASEAN không đoàn kết, không thống nhất ý chí với nhau trong cuộc chống bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, thì Mỹ có muốn giúp mấy cũng đành chịu.

Tiến bộ đến đâu, giúp đến đó

Quay lại câu chuyện Myanmar, có ý kiến cho rằng Mỹ không muốn lặp lại bài học với Liên Xô của ông Gorbachev ngày xưa. Khi tiến hành "perestroika" Tổng thống Gorbachev đã gặp rất nhiều khó khăn trong nước, và rất mong phương Tây, đứng đầu là Mỹ hỗ trợ. Tuy nhiên, vì câu chuyện quá khứ thời "chiến tranh lạnh", nên dường như Mỹ đã mặc kệ cho Liên Xô ngập vào khủng hoảng và tan vỡ...


Một kết cục tương tự cũng hoàn toàn có thể xảy ra với Myanmar, nhất là trong khi nước láng giềng khổng lồ bên trên vẫn muốn áp đặt lại ảnh hưởng đang bị thách thức của họ?

Không, hai điều này khác nhau nhiều lắm. Thứ nhất, nhiều người chỉ trích ông Gorbachev đổi mới chính trị, trước khi đổi mới kinh tế, nên mới bị sập tiệm. Thực ra mô hình Xô Viết đã thâm căn cố đế đến 60 năm, nên nếu không đổi mới chính trị thì không bao giờ đổi mới được kinh tế.

Chính vì vậy, ông Gorbachev đã phải chuyển quyền lực từ Đảng Cộng sản Liên Xô sang cho Quốc hội, tức là Xô Viết Tối cao. Theo tôi, ông Gorbachev là người rất giỏi, nhưng ông đã không thành công trong đổi mới chính trị vì lực lượng chống đối quá lớn.

Thứ hai, về việc viện trợ kinh tế, Mỹ và phương Tây đã có bàn rồi. Hồi đó, có một nhóm chuyên viên Liên Xô và Mỹ đề nghị Mỹ viện trợ cho chính quyền của ông Gorbachev theo Kế hoạch Marshall, mỗi năm khoảng 20 tỷ USD, không tính lãi, trong ba năm liền. Nhưng tốc độ giải ngân sẽ dần dần, phù hợp với tiến trình cải cách của ông Gorbachev.

Khác với Đặng Tiểu Bình có thời gian dài hơn để thử nghiệm cải cách kinh tế lâu hơn, ông Gorbachev vẫn muốn giữ nền kinh tế tập trung, tức là không muốn chấp nhận hoàn toàn thị trường tự do. Trong khi đó, phía Tổng thống Bush (cha) thì gặp phải ngân sách thâm thủng, nên không dám can đảm ra kêu gọi sự phê chuẩn của Quốc hội với một số tiền quá lớn như vậy.

Thế rồi, chuyện không thành, và cuối cùng ông Gorbachev đổ, với sự tan rã của Liên Xô. Các nhà học giả mơ mộng thì vẫn chỉ trích Mỹ về việc không thực hiện Kế hoạch Marshall đối với Liên Xô, nhưng quả thực trong bối cảnh lúc đó là không thể thực hiện được.

Thế còn trường hợp của Myanmar thì sao ạ?

Myanmar còn bé quá, ông Obama chưa cam kết gì cả, trừ tháo gỡ những hạn chế thương mại áp đặt trước đây. Ông Obama tuyên bố với giới lãnh đạo Myanmar rằng "các ông tiến bộ đến đâu, chúng tôi sẽ giúp đến đó". Tức là ý ông vẫn đòi hỏi Myanmar phải thúc đẩy nhanh tiến trình dân chủ hóa, như tiếp tục thúc đẩy việc trả tự do cho tù chính trị. Phía Mỹ còn muốn theo dõi xem chính quyền Myanmar sẽ đối xử với bà San Suu Kyi ra sao nữa.

(còn nữa)
Huỳnh Phan

Hải quân Ấn Độ sẽ chi 24,7 tỷ USD mua vũ khí trang bị đối phó Trung Quốc?

(GDVN) - Đây là sự tiếp diễn một loạt kế hoạch mua sắm vũ khí trang bị đắt tiền của Ấn Độ trong tình hình cuộc “chạy đua vũ trang” khu vực ngày càng gay gắt.

Tàu sân bay INS Vikramaditya

Tân Hoa xã ngày 10/12 dẫn các nguồn tin cho biết, Hải quân Ấn Độ vừa tuyên bố, trong 5 năm tới, có kế hoạch đầu tư 24,7 tỷ USD mua vũ khí trang bị gồm tàu sân bay, tàu ngầm thế hệ tiếp theo.

Tư lệnh Hải quân Ấn Độ, Đô đốc D.K. Joshi gần đây cho biết, quy mô lực lượng hải quân ngày càng tăng của Trung Quốc là “một nguyên nhân quan trọng đáng lo ngại”, vì vậy Ấn Độ phải điều chỉnh chiến lược.

Đầu năm 2012, Hải quân Ấn Độ từng gọi thầu chương trình 56 máy bay trực thăng trị giá 900 triệu USD, nhiều công ty như Boeing, Bell, Sikorsky, Kamov, Eurocopter và Agusta Westland đã tham gia tranh thầu. Hải quân Ấn Độ có kế hoạch bắt đầu từ năm 2016 chính thức nhập máy bay trực thăng thông dụng.

Theo thư gọi thầu, trong vòng 8 năm, chương trình này sẽ lần lượt nhập 56 máy bay trực thăng, 3 máy mô phỏng, 28 động cơ thông dụng và các phụ tùng linh kiện, thiết bị. Hải quân đồng thời có kế hoạch chi hơn 4 tỷ USD, mua 75 máy bay trực thăng trở lên.

Chương trình máy bay trinh sát trên biển tầm trung và máy bay tuần tra tầm trung năm 2011 cũng được xác định vào năm nay, công ty Saab và Boeing bước vào giai đoạn tranh thầu cuối cùng.

Năm 2010, Hải quân đã tuyên bố kế hoạch xây dựng công trình, thiết bị huấn luyện phòng thủ hạt nhân, sinh hóa, công trình này dự kiến khởi công ở bờ biển.

Ấn Độ mua máy bay trực thăng AH-64D Longbow Apache của Mỹ để đối phó Trung Quốc trong vấn đề biên giới

Năm 2011, Hải quân đã công bố thư mời thầu radar trinh sát đối không 3D (lắp ở tàu chiến có lượng giãn nước 3.000 tấn trở lên), máy bay không người lái, tên lửa bay lướt biển và 10 tàu đổ bộ cơ giới. Hiện nay, hai công ty Israel đã bày tỏ quan tâm đến chương trình máy bay không người lái.

Đầu tháng 12/2012, Ủy ban mua sắm quốc phòng Ấn Độ đã thông qua kế hoạch mua sắm 6 tàu ngầm tàng hình kiểu P75I thế hệ tiếp theo, đến năm 2020 tổng đầu tư là 15 tỷ USD.

Tàu ngầm thế hệ tiếp theo sẽ trang bị thiết bị tên lửa phóng thẳng tấn công đối đất và hệ thống AIP, tính năng tàng hình và khả năng chạy liên tục sẽ được nâng lên rất lớn.

Đồng thời, Ấn Độ có kế hoạch mua 262 tên lửa hệ thống phòng không khu vực Barak-1, trang bị cho 14 tàu chiến triển khai ở tiền phương, hợp đồng này trị giá 140 triệu USD.

Ấn Độ muốn tăng cường sức mạnh quân sự trên biển

Việt Dũng (nguồn Tân Hoa xã)

Trung-Ấn có thể trực tiếp xung đột do Trung Quốc đòi kiểm tra tàu ở biển Đông

(GDVN) - Trung Quốc tiếp tục đòi kiểm soát thực tế toàn bộ “đường lưỡi bò” hòng vơ vét tài nguyên ở biển Đông, có thể trực tiếp xung đột với Ấn Độ.

Tàu cá Trung Quốc được tổ chức thành đội hình đánh bắt hải sản trên biển Đông

Ngày 5/12, tờ “Kommersant” Nga cho rằng, Ấn Độ và Trung Quốc đều là nước lớn ở châu Á và là đối thủ địa-chính trị không thể điều hòa, đã rơi vào bờ vực xung đột mới, nguyên nhân chủ yếu là Công ty dầu khí quốc doanh Ấn Độ hợp tác với một đối tác ở Đông Nam Á để khai thác mỏ dầu khí ở biển Đông bị Trung Quốc kiên quyết phản đối.

Theo báo Nga, để bảo vệ lợi ích kinh tế của mình ở biển Đông, Ấn Độ đe dọa sẽ đưa tàu chiến đến khu vực biển Đông. Chính phủ Trung Quốc chuẩn bị từ ngày 1/1/2013 trở đi sẽ tiến hành cái gọi là “cưỡng chế kiểm tra” các tàu thuyền nước khác ở khu vực biển Đông. Động thái (bất hợp pháp, ngang ngược) này có thể gây ra xung đột trực tiếp giữa Trung Quốc và Ấn Độ - hai nước lớn sở hữu tên lửa hạt nhân ở châu Á.

Tham mưu trưởng Hải quân Ấn Độ, Đô đốc D.K. Joshi tuyên bố, chuẩn bị đưa tàu chiến tới biển Đông, mặc dù Ấn Độ không có chủ trương lãnh thổ đối với các hòn đảo ở biển Đông, nhưng sẵn sàng kiên quyết bảo vệ lợi ích kinh tế của họ cũng như công dân Ấn Độ hợp tác với Việt Nam tiến hành công tác thăm dò dầu khí ở biển Đông.

Ngày 26/5/2011, tàu hải giám Trung Quốc cũng đã cắt cáp của tàu khảo sát Bình Minh 2 của Việt Nam

Cuối tuần trước, tàu hải giám Trung Quốc đã gây tổn hải cho cáp thăm dò dầu khí của Việt Nam, đúng vào khu vực đang có hoạt động của Công ty dầu khí quốc doanh Ấn Độ.

Báo Nga cho rằng, để đòi hỏi cái gọi là “chủ quyền lãnh thổ” trên biển Đông, Trung Quốc sẽ không nhượng bộ, trong tương lai gần, khu vực này sẽ đối mặt với nguy cơ căng thẳng leo thang. Từ ngày 1/1/2013 trở đi, cảnh sát tỉnh Hải Nam, Trung Quốc sẽ tiến hành cái gọi là kiểm tra (phi pháp) tất cả tàu thuyền nước khác nằm ở “khu vực tranh chấp” (đường lưỡi bò do Trung Quốc tự vẽ ra).

Ngoài Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei đều đưa ra chủ trương của mình đối với các khu vực ở biển Đông. Mỹ cũng đã giáp tiếp cuốn vào xung đột, đầu năm nay quân Mỹ và Hải quân Philippines đã tổ chức diễn tập liên hợp ở khu vực gần quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam), đồng thời có biện pháp củng cố hợp tác với hải quân các nước trong khu vực.

Tàu Hải giám 83, có lượng giãn nước 3980 tấn, của Trung Quốc, hoạt động trên biển Đông.

Vào tháng 10 năm nay, Mỹ lại điều tàu sân bay USS George Washington đến khu vực biển Đông. Ngoài ra, Mỹ còn phê phán, chỉ trích Trung Quốc tiến hành kế hoạch “kiểm tra tàu thuyền ở biển Đông”. Các nước trong khu vực và nước ngoài khu vực có liên quan đang tìm kiếm “miếng bánh” dầu khí ở biển Đông.

Theo thống kê của các chuyên gia, trữ lượng dầu mỏ ở biển Đông tổng cộng có thể đạt 213 tỷ thùng, chỉ đứng sau Ả-rập Xê-út và Venezuela, hơn cả Nga. Trung Quốc có kế hoạch, bắt đầu từ năm 2015, mỗi năm khai thác 15 tỷ m3 khí đốt ở biển Đông, giảm mạnh sự phụ thuộc của Trung Quốc vào năng lượng nhập khẩu ở vịnh Ba Tư, châu Phi và các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS).

Ấn Độ có thể điều tàu chiến tới biển Đông để bảo vệ lợi ích kinh tế và công dân của họ.

Mỹ tích cực can dự vào biển Đông. Trong hình là tàu sân bay USS George Washington vừa đến biển Đông vào tháng 10/2012.

Đông Bình (nguồn báo Hoàn Cầu, TQ)

Trung Quốc muốn chạy đua vũ trang để làm sụp đổ nền kinh tế Nhật Bản?

(GDVN) - Trung Quốc muốn vượt mặt Nhật Bản để đóng vai trò thống trị châu Á, nhưng rất khó khăn do Nhật Bản rất nhiều đồng minh và đối tác…

Trung Quốc được cho là đã triển khai tên lửa đạn đạo tầm trung DF-21 tại Phúc Kiến nhằm vào nhóm đảo Senkaku

Ngày 7/12, Subhash Kapila, chuyên gia vấn đề quân sự của Tập đoàn phân tích Nam Á (SAAG) Ấn Độ có bài viết cho rằng, hiện nay Trung Quốc đang có ý đồ bắt chước cách làm đối phó Liên Xô cũ của Mỹ thời kỳ Chiến tranh Lạnh, ép buộc, lôi kéo Nhật Bản vào một cuộc chạy đua vũ trang, đạt mục đích làm suy yếu Nhật Bản về kinh tế, cuối cùng làm cho Nhật Bản mất đi vị thế đối thủ cạnh tranh chiến lược của Trung Quốc ở khu vực Đông Á.

Tuy nhiên, bài viết chỉ ra, chiến lược này của Trung Quốc gây tranh cãi rất lớn về kinh tế, chính trị và chiến lược, cuối cùng sẽ làm cho bản thân Trung Quốc bị cô lập trong cộng đồng quốc tế về chính trị và chiến lược.

Trung Quốc và Nhật Bản đều đã đến “ngã tư đường” chính trị và chiến lược, trong tương lai hai nước cho dù không đi theo hướng chạy đua quân sự trực tiếp, nhưng sẽ nổ ra cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt.

Ông chỉ ra, trong thời gian khoảng 5 năm trước, Trung Quốc đã phát động một loạt hành động khiêu khích đối với Nhật Bản, làm gia tăng cảm giác của Nhật Bản về mối đe dọa từ Trung Quốc.

Theo Kapila, hiện nay Trung Quốc đang ép buộc, lôi kéo Nhật Bản vào một cuộc chạy đua vũ trang, phương thức của họ tương tự như cuộc chạy đua vũ trang giữa Mỹ và Liên Xô cũ thời kỳ Chiến tranh Lạnh, mục đích là làm suy yếu Nhật Bản về kinh tế, làm cho Nhật Bản mất đi khả năng làm đối thủ cạnh tranh chiến lược của Trung Quốc ở khu vực Đông Á.

Gần đây, tàu chiến Trung Quốc thường xuyên đi qua các vùng biển Nhật Bản ra Tây Thái Bình Dương diễn tập, làm "nóng mặt" Nhật Bản

Ông cho biết, về chính trị, với ý thức ngày càng mạnh về mối đe dọa từ Trung Quốc, Nhật Bản đang tăng cường chuẩn bị quân sự để đón nhận bất cứ sức ép chính trị và quân sự nào từ Trung Quốc.

Gần đây, Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản phô diễn tàu sân bay trực thăng lớp 19.000 tấn chính là minh chứng mạnh mẽ cho thấy Trung Quốc thực sự đã lôi kéo Nhật Bản vào một cuộc chạy đua vũ trang. Kapila cho rằng, rất khó sử dụng “tàu khu trục” để hình dung tàu sân bay trực thăng của Nhật Bản.

Trên thực tế, về khả năng và hiệu quả, tàu sân bay trực thăng Nhật Bản đều là tàu sân bay mini. Hơn nữa, hiện nay Nhật Bản đang nhanh chóng chế tạo 2 tàu sân bay trực thăng như vậy, các tàu chiến khác và tàu ngầm.

Trong môi trường an ninh Đông Á bất ổn hiện nay, bên ngoài muốn tìm hiểu 3 vấn đề: Thứ nhất, muc tiêu chiến lược của Trung Quốc đối với Nhật Bản. Thứ hai, chiến lược thực hiện mục tiêu cuối cùng của Trung Quốc. Thứ ba, Trung Quốc phải chăng tin rằng Nhật Bản khuất phục về chiến lược trước sự chi phối chiến lược của Trung Quốc?

Tàu sân bay trực thăng của Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản. Nhật Bản đang tiếp tục chế tạo loại tàu này với lượng giãn nước lớn hơn nhiều.

Kapila cho rằng, mục tiêu cuối cùng của Trung Quốc là làm suy yếu sức mạnh của Nhật Bản về mặt chiến lược. Trước hết, và cũng là điểm quan trọng nhất, đó chính là làm mất đi độ tin cậy của Hiệp ước Bảo đảm An ninh Mỹ-Nhật.

Thứ hai, lật đổ vị thế đối thủ cạnh tranh chiến lược trước Trung Quốc của Nhật Bản ở khu vực Đông Á. Thứ ba, gây ra cuộc chạy đua vũ trang Trung-Nhật, từ đó lật đổ Nhật Bản về kinh tế.

Mỹ thể hiện một tâm lý mâu thuẫn trong tranh chấp đảo Senkaku có thể làm cho Nhật Bản đầy hoài nghi khi đưa ra chiến lược đối với Trung Quốc.

Hơn nữa, làm suy yếu phản ứng của Mỹ khi Trung Quốc gây sức ép với Nhật Bản về chính trị và quân sự, sẽ làm cho Nhật Bản tìm kiếm một sự lựa chọn khác. Hai khả năng này đều đều có lợi cho Trung Quốc.

Sau khi vị thế chiến lược giảm đi, Nhật Bản sẽ không thể phát huy vai trò như một đối thủ cạnh tranh bình đẳng của Trung Quốc ở Đông Á. Sự khác biệt về quân sự giữa hai nước Trung-Nhật là bất đối xứng, thông qua quan hệ Mỹ-Nhật và triệt tiêu sức mạnh quân sự của Mỹ, Nhật Bản đã lấp khoảng trống về sức mạnh quân sự của họ.

Nhưng, Kapila chỉ ra, Trung Quốc thông qua chạy đua vũ trang làm sụp đổ Nhật Bản sẽ gây tranh cãi rất lớn về kinh tế, chính trị và chiến lược.

Nhật Bản mới hạ thủy tàu ngầm lớp Soryu mới

Ông giải thích rằng, về kinh tế, mặc dù tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản có thể không bằng Trung Quốc, nhưng kinh tế Nhật Bản có sức sống mạnh mẽ, hơn nữa khi xảy ra xung đột sẽ không yếu ớt như kinh tế Trung Quốc.

Về chính trị, Nhật Bản được coi là người tham gia có trách nhiệm đối với an ninh Đông Á, họ không những giành được sự ủng hộ toàn lực của Mỹ, mà còn đã giành được sự ủng hộ toàn lực của EU và NATO. Trong khi đó, Trung Quốc chỉ có hai đồng minh là CHDCND Triều Tiên và Pakistan ở châu Á.

Về chiến lược, Nhật Bản duy trì vị thế đối thủ cạnh tranh cùng cấp với Trung Quốc là phù hợp với lợi ích của Mỹ, EU và NATO. Australia và Ấn Độ hầu như cũng có ý gia tăng sức nặng cho chiến lược tổng thể mà Mỹ hỗ trợ cho Nhật Bản.

Vấn đề cần bàn cuối cùng chính là, Trung Quốc phải chăng xác định Nhật Bản sẽ khuất phục sự thống trị của Trung Quốc ở châu Á, hay Trung Quốc phải chăng thực sự có thể coi thường Nhật Bản về chiến lược? Vấn đề này có hai mặt:

Thứ nhất, truyền thống lịch sử của Nhật Bản và chủ nghĩa dân tộc tiềm tàng của họ phải chăng sẽ khuất phục sự thống trị của Trung Quốc? Thứ hai, cộng đồng quốc tế và Mỹ phải chăng sẽ chấp nhận Nhật Bản khuất phục trước sự thống trị của Trung Quốc?

Mỹ cho rằng, Nhật Bản đang kiểm soát thực tế nhóm đảo Senkaku và vấn đề đảo Senkaku thích hợp với Hiệp ước An ninh Mỹ-Nhật.

Đối với hai vấn đề này, Kapila cho rằng, trong vấn đề thứ nhất, có thể khẳng định, đặc tính dân tộc và truyền thống lịch sử của Nhật Bản sẽ không cho phép Nhật Bản làm như vậy.

Về vấn đề thứ hai, đứng trước một nước Trung Quốc ngày càng muốn phô diễn, cộng đồng quốc tế càng muốn Nhật Bản giữ vị thế đối thủ cạnh tranh cùng cấp với Trung Quốc. Thậm chí có thể nhận định, ngay cả Nga cũng sẽ cho là như vậy.

Cuối cùng, Kapila đưa ra kết luận, Trung Quốc chắc chắn đang lôi kéo Nhật Bản vào một cuộc chạy đua vũ trang, nhưng Nhật Bản sẽ không “chạy trốn”. Cuối cùng, Trung Quốc sẽ bị cộng đồng quốc tế cô lập về chính trị và chiến lược.

Đông Bình

10/12/12

Mỹ xây dựng quan hệ với Ấn Độ để kiềm chế Trung Quốc

(BÁO ĐẤT VIỆT)  - Mỹ đang tìm cách để trở thành đối tác an ninh dài hạn với Ấn Độ nhằm kiềm chế sức mạnh quân sự của Trung Quốc và kiểm soát an ninh ở khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.


Nhằm tìm kiếm một mối quan hệ an ninh lâu dài với Ấn Độ, Đô đốc Sameul J Locklear III cho biết, Mỹ sẽ ủng hộ vai trò lãnh đạo của New Delhi ở Ấn Độ Dương và khu vực Nam Á.

Trong bối cảnh đó, Bộ tư lệnh Thái Bình Dương Mỹ (PACOM) sẽ tăng cường nỗ lực của mình để “nuôi dưỡng” và mở rộng mối quan hệ đối tác chiến lược với Ấn Độ cũng như hỗ trợ vai trò lãnh đạo của mình ở Ấn Độ Dương và Nam Á.

Đô đốc Locklear cho biết: "Chúng tôi sẽ cải thiện khả năng tương tác của mình".

Đề cập đến chuyến đi đầu tiên của mình đến Ấn Độ trong tháng 10/2012, ông nói rằng mình đã chứng kiến ​​tận mắt nền dân chủ lớn nhất và một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. "Hai nước sẽ cùng chia sẻ và hướng tới cùng một giá trị: yêu tự do và tinh thần kinh doanh sẽ tiếp thêm sức mạnh cho nền kinh tế toàn cầu", ông nói.

Đô đốc Sameul J Locklear III

Trước đó, tại một hội nghị ở Lầu Năm Góc, Đô đốc Locklear cho biết, ông đã nhận sự chỉ đạo của Tổng thống Mỹ Barack Obama để tìm kiếm một mối quan hệ lâu dài với Ấn Độ. “Tôi đã theo sự chỉ đạo của Tổng thống cũng như tất cả các bộ phận khác của chính phủ của chúng tôi đang có mối quan hệ an ninh lâu dài, nhằm tìm kiếm một quan hệ đối tác với Ấn Độ. Nó bao gồm rất nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng riêng trong lĩnh vực quân sự, chúng tôi mong muốn có cơ hội để hoạt động cùng nhau”, ông nói.

"Chúng tôi đang đi đầu theo hướng này” - Đô đốc Locklear nói - "Chúng tôi hỗ trợ rất nhiều cho Quân đội Ấn Độ. Ấn Độ đang trở thành người dẫn đầu trong các vấn đề an ninh trong và xung quanh Ấn Độ Dương. Chúng tôi đang tìm kiếm cơ hội tham gia và hoạt động cùng họ”.

Đàm Thuận (theo Space Daily)

Hàng trăm tàu cá nước ngoài bị bắt giữ, xua đuổi

(Biên phòng Hải Phòng đã tiếp nhận và bắt giữ 65 lượt tàu, phóng thích 35 tàu và xua đuổi 139 tàu cá nước ngoài vi phạm chủ quyền đánh bắt trộm hải sản ở vùng biển của Việt Nam. 
 

Theo đại diện Biên phòng Hải Phòng, cơ quan này đã tiếp nhận và trực tiếp bắt giữ, đồng thời tham mưu cho UBND thành phố xử lý 65 lượt tàu cá với 410 ngư dân nước ngoài vi phạm chủ quyền đánh bắt trộm hải sản; lập biên bản cảnh báo phóng thích ngay trên biển 35 tàu với 315 ngư dân nước ngoài, xua đuổi 139 tàu cá nước ngoài vi phạm chủ quyền đánh bắt trộm hải sản.

Lực lượng kiểm tra giám sát 23 tàu với 140 ngư dân nước ngoài hoạt động trong vùng đánh cá chung, giám sát 339 lượt tàu cá nước ngoài neo đậu, tránh gió tại vùng biển Hải Phòng, trong đó 50 chiếc hợp pháp tại Cát Bà, 289 chiếc bất hợp pháp tại Bạch Long Vỹ.

Qua công tác kiểm tra, kiểm soát, lực lượng Biên phòng Hải Phòng đã phát hiện, bắt giữ và xử lý 5.193 vụ. Riêng các vụ buôn lậu, đã xử phạt vi phạm hành chính, tịch thu báo cáo địa phương phát mại hàng hóa thu nộp ngân sách Nhà nước trên 17 tỷ đồng.

Đại tá Nguyễn Văn Nam, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng Hải Phòng cho biết, trong giai đoạn 2013 đến 2020, tình hình tại khu vực biên giới biển trên địa bàn thành phố sẽ có nhiều diễn biến phức tạp.

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, quản lý bảo vệ chủ quyền biển, đảo và giữ gìn an ninh trật tự khu vực biên giới biển, lực lượng biên phòng tiếp tục tham mưu cho UBND Hải Phòng tập trung tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương ven biển, xác định rõ và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong thực hiện nhiệm vụ tại khu vực biên giới biển.

Biên phòng sẽ tổ chức rà soát, bổ sung hoàn chỉnh các Quy chế phối hợp giữa các lực lượng chức năng, phát huy sức mạnh tổng hợp xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với phong trào quần chúng nhân dân, tham gia xây dựng bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Theo TTXVN

9/12/12

Các nước phản ứng trước việc Trung Quốc chặn bắt tàu ở Biển Đông

(BÁO ĐẤT VIỆT) - Singapore bày tỏ lo ngại và Ấn Độ tuyên bố có thể điều quân bảo vệ lợi ích của nước này ở Biển Đông trước việc Trung Quốc có kế hoạch chặn bắt các tàu đi lại trên Biển Đông

Tàu chiến Ấn Độ. Ảnh indiatvnews.com

Singapore đã bày tỏ quan ngại về kế hoạch của Trung Quốc chặn và kiểm tra các tàu hoạt động tại vùng biển mà Bắc Kinh coi là lãnh hải của Trung Quốc trên Biển Đông, trong bối cảnh căng thẳng leo thang tại tuyến hàng hải nhộn nhịp đi qua Đông Nam Á này liên quan tới những tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.

Bộ Ngoại giao Singapore ngày 3/12 nêu rõ: “Singapore quan ngại về những diễn tiến này”, đáp lại thông tin gần đây trên phương tiện truyền thông Trung Quốc về những qui định mới cho phép lực lượng cảnh sát tại tỉnh Hải Nam chặn và bắt giữ tàu nước ngoài “xâm nhập trái phép” lãnh hải nước này kể từ ngày 1/1/2013.

Trong một tuyên bố, Chính phủ Singapore nhấn mạnh: “Chúng tôi hối thúc tất cả các bên có tranh chấp chủ quyền trên Biển Hoa Nam (Biển Đông) không hành xử khiêu khích. Điều quan trọng là tất cả các bên tôn trọng những nguyên tắc luật quốc tế đã được chấp nhận và kiềm chế những hành động có thể làm leo thang căng thẳng”.

Singapore, nơi có các cảng côngtennơ nhộn nhịp thứ hai thế giới, là quốc gia Đông Nam Á thứ hai bày tỏ quan ngại trước những qui định mới nói trên sau khi Philippines hôm 1/12 chỉ trích kế hoạch này của Trung Quốc là bất hợp pháp.

Theo PTI, phát biểu tại cuộc họp báo ở New Delhi ngày 3/12, Tham mưu trưởng Hải quân Ấn Độ, Đô đốc D.K. Joshi, cho rằng sự hiện đại hóa nhanh chóng của Hải quân Trung Quốc là điều “quan ngại lớn”, đồng thời nói rõ “Ấn Độ sẽ bảo vệ các lợi ích của mình tại Biển Đông, kể cả khi phải điều quân đến đó.”

Trả lời câu hỏi của phóng viên về những kế hoạch bảo vệ lợi ích của Ấn Độ ở Biển Đông, ông Joshi cho hay: "Vấn đề hiện đại hóa lực lượng Hải quân Trung Quốc thực sự 'gây ấn tượng' song cũng là mối lo ngại lớn đối với chúng tôi. Chúng tôi sẽ tiếp tục đánh giá tình hình để vạch ra các giải pháp và chiến lược của mình."

Ông Joshi nhấn mạnh dù sự có mặt của Ấn Độ tại Biển Đông không phải “rất thường xuyên,” song Ấn Độ có các lợi ích như tự do hàng hải và thăm dò các nguồn tài nguyên tại khu vực này.

Ông nói: "Trong trường hợp cần thiết để bảo vệ các lợi ích của Ấn Độ, chẳng hạn như Videsh (công ty khai thác dầu mỏ ngoài khơi của Tập đoàn dầu mỏ và khí tự nhiên (ONGC), chúng tôi cần phải tới đó và đã sẵn sàng cho việc này".

Theo Vietnam+

Việt Nam phản đối việc làm sai trái của TQ ở Biển Đông

 ( - Ngày 4/12, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết bộ đã gửi công hàm một ngày trước đó để phản đối Trung Quốc về những hành động sai trái gần đây, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam.

Người phát ngôn Lương Thanh Nghị: Việt Nam đã yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay những việc làm sai trái. Ảnh vietnamnet.vn

Người phát ngôn Lương Thanh Nghị khẳng định phía Việt Nam đã yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay những việc làm sai trái đó và không để tái diễn những hành động tương tự.

Ngày 27/11/2012, tỉnh Hải Nam thông qua bản sửa đổi “Điều lệ quản lý trị an biên phòng ven biển tỉnh Hải Nam”, trong đó đã đưa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam vào phạm vi áp dụng.

Trước đó, ngày 23/11/2012, Trung Quốc cho xuất bản bản đồ “Tam Sa,” phạm vi bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.

Gần đây nhất, sáng sớm ngày 30/11/2012, trong khi tàu Bình Minh 02 của Việt Nam đang tiến hành thăm dò địa chấn bình thường trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam (tại tọa độ 17026,2’ vĩ tuyến Bắc, 1080 02’ kinh tuyến Đông, nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa Việt Nam, chỉ cách đảo Cồn Cỏ (Việt Nam) khoảng 43 hải lý) thì bị 2 tàu cá Trung Quốc mang số hiệu 16025 và 16028 cố tình cản trở và gây đứt cáp, bất chấp các lực lượng chức năng của Việt Nam đã phát tín hiệu cảnh báo.

Trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước những hành động trên của phía Trung Quốc, ngày 4/12/2012, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nêu rõ: “Những hành động nói trên của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; xâm phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển của Việt Nam; vi phạm Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ký tháng 10/2011; trái với tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và Tuyên bố cấp cao kỷ niệm 10 năm DOC, làm cho tình hình Biển Đông thêm phức tạp."

Ông Lương Thanh Nghị cho biết ngày 3/12/2012, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao công hàm kiên quyết phản đối những việc làm nói trên của Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, chấm dứt ngay những việc làm sai trái đó và không để tái diễn những hành động tương tự.

Theo Vietnam+

Phải cứng rắn để vô hiệu hóa lòng tham

(BÁO ĐẤT VIỆT) - Tiến sĩ Trần Công Trục phân tích hàng loạt động thái dồn dập của Trung Quốc (TQ) nhằm khẳng định chủ quyền phi lý của họ trên biển Đông. 
 

Những động thái của TQ đã là câu trả lời rõ ràng, không còn nghi ngờ gì, chủ trương của TQ tiến ra biển, khống chế làm chủ biển Đông là không có gì thay đổi, mà còn tính toán bài bản, tinh vi hơn để tạo dư luận có lợi cho họ, tạo bẫy pháp lý để các nước mặc nhiên thừa nhận chủ quyền TQ.

TQ sẽ tiếp tục chủ trương biến 80% biển Đông thành “ao nhà” của họ, trước mắt là tìm cách biến vùng biển không có tranh chấp thành vùng tranh chấp, hợp thức hóa yêu sách đường “lưỡi bò” phi lý. Do vậy không thể mơ hồ, hy vọng sự thay đổi- chí ít là thời gian trước mắt, về chủ trương của TQ.

- Liệu các động thái đó có ảnh hưởng đến đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử biển Đông (COC) không, thưa ông?
- COC là văn kiện có tính pháp lý mạnh mẽ, đi vào những quy định cụ thể để xử lý các tranh chấp xảy ra trong các phạm vi biển và thềm lục địa theo yêu sách do các bên vận dụng các tiêu chuẩn của Công ước Luật Biển năm 1982 để vạch ra, tất nhiên sẽ động đến đường “lưỡi bò” - một yêu sách “hoang tưởng”, phi lý, bất chấp mọi tiêu chuẩn của Luật Biển 1982 - do TQ tự ý vẽ ra. Đường “lưỡi bò” nếu không bị cắt đi, thì COC khó lòng mà đạt được. Nói thiện chí thì ASEAN quá thiện chí rồi.

Thực tế, nếu theo Công ước Luật Biển 1982 của LHQ- liên quan đến các vùng biển chồng lấn- các nước có thể ngồi với nhau ngay lập tức, xác lập đường cơ sở ra sao, đưa yêu sách theo từng điểm một, nếu trong quá trình đàm phán, chưa thống nhất được ranh giới cuối cùng thì có thể áp dụng giải pháp tạm thời “hợp tác khai thác chung” như đã từng có tiền lệ trong khu vực này. Chìa khóa vấn đề ngay trước mắt, nhưng TQ không cần. Họ cần một chìa khóa ảo do chính họ tạo ra mà không ai biết nó ra sao, mở thế nào.

- Dư luận cho rằng việc in đường “lưỡi bò” lên hộ chiếu là không có giá trị pháp lý. Ông nghĩ sao về việc ứng xử với TQ?

- Họ đưa ra biên giới “lưỡi bò” là một tính toán, không phải ngẫu nhiên, càng không phải của một bộ ngành nào, mà là chủ trương của họ về chiến lược. Hộ chiếu là một tài liệu pháp lý, rất phổ biến trên trường quốc tế, người TQ đi khắp thế giới, các nước khi xác nhận visa, đóng dấu vào đó nghĩa là mặc nhiên thừa nhận.

Nếu chúng ta không có phản ứng gì thì họ sẽ biến thành sự đã rồi, biến không thành có ngay. Cho nên, mặc dù bản đồ đường “lưỡi bò” trên hộ chiếu cũng được một số người xem là không có giá trị pháp lý, nhưng nếu làm ngơ, không có động thái quyết liệt vô hiệu hóa nó, thì TQ sẽ lợi dụng để nói rằng đã thừa nhận yêu sách của TQ. Điều đó sẽ rất bất lợi cho chúng ta.

Ta phải cứng rắn để vô hiệu hóa hành động của họ, nhưng cũng tạo điều kiện để người TQ qua lại làm ăn, vì đó là cuộc sống của nhân dân, của những người lao động chân chính... Nhưng nếu phía TQ không thay đổi thì buộc lòng ta phải có những động thái mạnh mẽ, cứng rắn hơn, với mục đích tối thượng là bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước, bảo vệ các quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của chúng ta trên các vùng biển và thềm lục địa.

- Ông nhắc tới cái bẫy pháp lý của TQ, vậy thì Việt Nam cần làm gì để tránh bẫy đó?

- Từ các sự việc trên, càng thấy các hành động của TQ đang triển khai là không thể xem thường. Công hàm phản đối của Việt Nam trong các trường hợp gần đây là cần thiết và đúng mực, nhưng có lẽ không nên lúc nào cũng chỉ nói về nguyên tắc. Cần nghiên cứu để có một công hàm phản đối có tính pháp lý đầy đủ, kín kẽ nhất. Không thể chỉ nói hành động của TQ là vi phạm chủ quyền, mà phải nói rõ vi phạm thế nào, đến đâu. Khi ra các diễn đàn quốc tế, phản ứng của ta trong các trường hợp sẽ phải được cân nhắc kỹ càng, nhất là các căn cứ, nguyên tắc pháp lý, tư liệu lịch sử, địa lý...

Một công hàm kín kẽ sẽ là chìa khóa pháp lý an toàn cho Việt Nam, khẳng định Nhà nước Việt Nam không thừa nhận chủ quyền của TQ. Công hàm đó không nên chỉ gửi đến bên phản đối, mà còn cần được gửi trực tiếp đến LHQ và một số tổ chức có liên quan, để chứng tỏ rằng mình đã có thái độ rõ ràng. Cũng cần công bố- thậm chí nguyên văn công hàm đó- để dư luận biết một cách rõ ràng và định hướng trong hành xử với TQ.

- Thông tin đầy đủ sẽ có vai trò như thế nào, thưa ông?

- Nếu ta không công khai, sẽ dẫn tới dư luận bất lợi cho chính ta. Thông tin không đến với mọi người sẽ dẫn tới sự hiểu lầm. Từ xưa tới nay ta luôn khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Gần đây, Nhà nước đã có những chủ trương về thu hút tập hợp các nghiên cứu về biển Đông. Cần có sự đoàn kết, tạo nên sức mạnh của toàn dân tộc, của các tầng lớp nhân dân. Tôi tin rằng, trước vấn đề bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, với niềm tự hào của dân tộc thì không có gì khác nhau cả. 
 
Theo Lao Động
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...