Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu Hội thảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu Hội thảo. Hiển thị tất cả bài đăng

12/1/13

Chính Trung Quốc là kẻ gây căng thẳng trên Biển Đông

Học giả hàng đầu của Trung Quốc bị chất vấn nhiều lần tại Singapore về vấn đề biển Đông khi thuyết giải về chiến lược quốc gia đối với Đông Nam Á.

Giáo sư Chu Phong (thứ hai từ phải sang) không thuyết phục được cử tọa về lập trường của Trung Quốc trong vấn đề biển Đông - Ảnh: Thục Minh
Giáo sư Chu Phong, Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế của ĐH Bắc Kinh, hôm 10.1 đã trình bày tại Singapore về “Nhìn nhận của Trung Quốc về vai trò của Mỹ ở Đông Nam Á (ĐNA)”. Bài thuyết giải nằm trong khuôn khổ Diễn đàn dự báo khu vực năm 2013 do Viện Nghiên cứu Đông Á (ISEAS) thuộc ĐH Quốc gia Singapore tổ chức. Cùng với ông Chu trong cuộc thảo luận về “Địa chính trị và dự báo chiến lược an ninh ĐNA” là Giám đốc Trung tâm Đông - Tây Washington (Mỹ) Satu Limaye và tiến sĩ Ian Storey thuộc ISEAS.

Ông Chu, cũng như tiến sĩ Limaye, có bài phát biểu chuẩn bị rất chu đáo nhưng không đọc bài, mà diễn thuyết. Ông không dùng lời lẽ sáo rỗng mà thay bằng ngôn ngữ đơn giản, đôi khi nhún nhường nhưng lại không thiếu tính đe dọa. Gần như bác bỏ toàn bộ thông điệp hòa bình về chiến lược tái cân bằng của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương mà ông Limaye đưa ra, ông Chu đổ lỗi rằng chính chiến lược này đã gây căng thẳng trong khu vực và dẫn đến những hành động cứng rắn của Trung Quốc trong các tranh chấp lãnh thổ. Ông cho rằng chiến lược của Mỹ khắc sâu cảm giác về “thế cuộc an ninh tiến thoái lưỡng nan”, gây ra “sự bất tín chiến lược” giữa Bắc Kinh và Washington và đặc biệt ảnh hưởng đến “không gian chính trị và ngoại giao” thân thiện truyền thống Trung Quốc - ASEAN. 

Ông cũng cảnh báo: “Chiến lược tái cân bằng của Mỹ có thể làm hỏng những tính toán an ninh của Trung Quốc, nhưng không nhất thiết làm tổn hại việc hợp tác kinh tế và ngoại giao của Trung Quốc với ĐNA”. “Cũng khó để mà nói rằng chiến lược của Mỹ có thể làm yếu đi tuyên bố chủ quyền truyền thống của Trung Quốc ở biển Đông. Trong thực tế, phản ứng khắc nghiệt của Mỹ không dẫn tới việc Trung Quốc mềm dẻo hơn hay thỏa hiệp”, ông Chu tuyên bố. Với ASEAN, ông “nhắc nhở” khối có thể gia cố sự hợp tác với Bắc Kinh trước bất kỳ đề xuất nào về dàn xếp vấn đề biển Đông. Ông cũng nói thẳng, “Bắc Kinh thích làm việc song phương” với các nước có tuyên bố chủ quyền ở biển Đông hơn.

Bị chỉ trích

Trong bài tham luận với chủ đề “Trục quan hệ Mỹ - Trung - ASEAN trong vùng biển ĐNA”, tiến sĩ Ian Storey nhìn nhận rằng Mỹ trở nên dính líu nhiều hơn trong vấn đề biển Đông từ khi căng thẳng bắt đầu năm 2007-2008 với việc Trung Quốc gây áp lực lên các tập đoàn dầu khí của Mỹ hoạt động ở đây. Tiếp theo là tuyên bố chủ quyền đường lưỡi bò của Trung Quốc “liếm” đến 80% biển Đông. Gần đây là các hành động gây hấn như cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam, đụng độ với Philippines ở bãi cạn Scarborough, mời thầu 9 lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, lập cái gọi là thành phố Tam Sa và đồn trú quân giữa biển Đông… khiến không chỉ Mỹ mà cả thế giới đều quan ngại.

Mặt khác, Trung Quốc không hề tỏ thiện chí muốn giải quyết tranh chấp một cách công bằng, minh bạch theo công pháp quốc tế. Bằng chứng là thái độ khó hợp tác trước việc xây dựng một Bộ quy tắc ứng xử biển Đông, theo ông Storey.

Gần 400 cử tọa gồm các học giả, nhà quân sự, ngoại giao… tham dự diễn đàn đã gửi ông Chu nhiều câu hỏi cật vấn đề tính pháp lý của tuyên bố chủ quyền đường lưỡi bò, lý do Trung Quốc không tháo gỡ căng thẳng bằng cách đưa tranh chấp ra tòa án quốc tế và liệu thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc có lập trường cứng rắn hơn và dùng giải pháp quân sự để giải quyết tranh chấp?

Cũng với những luận điệu và biện bạch không mới trong vấn đề này, ông Chu không thuyết phục được cử tọa về một Trung Quốc “trỗi dậy hòa bình” và “chính nghĩa” của nước này trong vấn đề biển Đông. Riêng về thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc, ông Chu cho rằng: “Với những ám ảnh nội địa nặng trên vai ông Tập Cận Bình, ít có khả năng chính sách của Bắc Kinh về biển Đông sẽ cứng rắn hơn”.

Nhà quan sát Ian Storey cho rằng tình hình biển Đông sẽ không có cải thiện nhiều trong năm 2013. Tuy nhiên, theo ông, ASEAN dưới sự chủ trì của Brunei, quốc gia ít gần gũi với Trung Quốc, sự đồng thuận nội khối sẽ dễ đạt được hơn.
Philippines cảnh báo “hành động đe dọa” từ Trung Quốc
Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario ngày 10.1 tuyên bố những hành động “mang tính đe dọa” từ Trung Quốc nhằm củng cố tuyên bố chủ quyền của họ ở các vùng biển tranh chấp đang gây nguy cơ bất ổn cho châu Á, theo AFP. Tuyên bố trên được nêu ra sau khi Tân Hoa xã dẫn lời Cục trưởng Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc Lưu Tứ Quý ngang ngược tuyên bố sẽ tiếp tục ngăn chặn các tàu Việt Nam, Philippines và Nhật Bản trong những vùng biển Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền.
Trước đó, trong cuộc thảo luận với người đồng cấp Nhật Bản Fumio Kishida, Ngoại trưởng Rosario đề nghị Tokyo nhanh chóng cung cấp 10 tàu tuần tra cho Manila như đã thỏa thuận, theo Đài NHK. Chuyến thăm Philippines của ông Kishida nằm trong chiến lược đẩy mạnh quan hệ hợp tác với Đông Nam Á của Nhật. Tuần tới, Thủ tướng Nhật Shinzo Abe sẽ thăm Việt Nam, Thái Lan và Indonesia. Dự kiến, ông sẽ tuyên bố tăng cường hợp tác an ninh và kinh tế với 3 nước, theo Kyodo News.
Văn Khoa
Thục Minh
(VP Singapore)

11/12/12

Giúp Đông Nam Á tự cường trước Trung Quốc

(Báo VietNamNet.) - "Nếu ASEAN không đoàn kết, không thống nhất ý chí với nhau trong cuộc chống bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, thì Mỹ có muốn giúp mấy cũng đành chịu." - Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, Đại học George Mason (Hoa Kỳ).

LTS: Bên lề Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ 4, diễn ra tại Hà Nội vào 26-28.11.2012, phóng viên Tuanvietnam đã có cuộc phỏng vấn Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng của Đại học George Mason, một chuyên gia về chính sách ngoại giao Hoa Kỳ và chính trị Đông Á, về những điều chỉnh có thể của chính sách đối ngoại của Mỹ trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Barrack Obama và vị thế của ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới.

Obama đủ trí tuệ để không sa lầy chiến tranh ở Syria

Ông đánh giá thế nào về hành trang mà Tổng thống Obama mang theo sang nhiệm kỳ thứ hai?

Về phương diện ngoại giao, ông đã thành công. Trong nhiệm kỳ đầu, ông Obama đã thành công rồi, thành ra trong cuộc tranh luận trên truyền hình lần cuối cùng, ông Romney gần như đồng ý với ông Obama.

Thứ hai, là ông Obama sẽ bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai với sự tự tin và từng trải hơn. Tất nhiên, là có những vấn đề khó khăn nảy sinh mà không lường trước được, như vấn đề khủng hoảng ở Syria. Nhưng tôi tin ông Obama đủ trí tuệ và cẩn trọng để không đưa nước Mỹ sa lầy vào một cuộc chiến tranh không có đường ra.

Chẳng hạn, như vụ Syria, ông Obama đã bị áp lực của Đảng Cộng hòa đòi can thiệp, nhưng ông dứt khoát không.

Và nếu đủ minh mẫn và khả năng chịu sức ép, ông Obama sẽ có đủ lực lượng để chuyển trọng tâm sang châu Á, để tiếp tục thi hành cái chính sách đã được bắt đầu ở nhiệm kỳ trước. Đó là chiều hướng thuận lợi cho châu Á.

Tất nhiên, ông ta còn phải làm một việc nữa liên quan đến tính kế thừa. Ông ta hoàn toàn không phải là một "tại nạn của lịch sử", mà có nhiệm kỳ hai hẳn hoi. Tức là ông ta được bầu vì tài cán hẳn hoi, và được người Mỹ chấp nhận. Ông thúc đẩy được việc chăm sóc y tế cho người Mỹ, trong khi các đời Tổng thống trước chỉ có Lindon Johnson ngày xưa mới làm được bảo hiểm cho người già.

Nếu ông ta phục hồi được kinh tế, và khiến càng nhiều quốc gia ở khu vực này trở nên dân chủ hơn, thì ông ta quá thành công.

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, Đại học George Mason (bìa phải). Ảnh: Huỳnh Phan

Xin ông đánh giá về hai chuyến thăm Myanmar và Thái Lan vừa rồi của Tổng thống Obama?

Khi sang Myanmar, ông Obama rất khôn khéo. Chẳng hạn, Quốc hội Mỹ họ bảo Tổng thống quá vội vã, Myamar vẫn còn là chế độ độc tài mà. Ông Obama bảo rằng ông muốn thể hiện sự cam kết với quá trình dân chủ hóa mới bắt đầu, và thứ hai là cần có sự khuyến khích nhất định.

Với Myanmar, ông cũng nói thẳng rằng việc giúp đỡ của Mỹ sẽ tùy theo tiến trình dân chủ hóa, tiến đến đâu giúp đến đó. Thành ra, Quốc hội không "cãi" được ông.

Thái Lan trước đây áo đỏ - áo vàng đánh nhau liên miên... Ông Obama nói rằng ông thăm Thái Lan để khuyến khích quá trình dân chủ hóa.

Chờ động thái đáp lại của ĐNA

Ông dự đoán thế nào sự trở lại châu Á của Mỹ, trong nhiệm kỳ thứ hai của ông Obama?

Thời ông Tổng thống Bush (con), khu vực này trách móc là Mỹ đã bỏ quên họ. Thực ra, vào cuối nhiệm kỳ của ông Bush, Mỹ đã trở lại khu vực này rồi.

Từ khi nhậm chức nhiệm kỳ đầu, Tổng thống Obama lại càng khẳng định sự trở lại mạnh mẽ của Mỹ. Có một sự đồng thuận rất lớn trong chính quyền của ông, khi cả tổng thống, bộ trưởng quốc phòng và bộ trưởng ngoại giao lên tiếng khẳng định điều này tại các diễn đàn khác nhau. Vì vậy, những chuyến thăm của họ, nhất là của Tổng thống Obama, sang khu vực này là sự thể hiện sự cam kết của nhà cầm quyền Washington.

Thế nhưng, chính sách của Mỹ luôn phù hợp với quyền lợi của Mỹ, bao gồm vấn đề an ninh, kinh tế, và giá trị Mỹ.

Về an ninh thì khỏi nói rồi, khi mấy năm trở lại đây nổi lên vấn đề tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Trung Quốc với Nhật Bản, và Trung Quốc với một số nước Đông Nam Á. Căng thẳng gia tăng hoàn toàn có thể dẫn tới sự hạn chế tự do hàng hải và thương mại. Là một cường quốc hàng đầu về hải quân và hàng hải, Mỹ chắc hẳn không thể để những diễn tiến này vượt khỏi tầm kiểm soát của họ.

Về kinh tế, Tổng thống Obama đã giải thích với Quốc hội rằng khu vực này là trục phát triển trong tương lai, và Mỹ muốn thịnh vượng thì phải xuất khẩu được sang khu vực này càng nhiều càng tốt.

Nhưng đối với vấn đề thuộc về giá trị Mỹ như dân chủ - nhân quyền, ông không thể nào bỏ qua được. Bởi, nếu bỏ qua, chắc chắn ông sẽ không có sự ủng hộ trong nước, và gặp khó khăn trong việc thi hành các chính sách quốc nội khác.

Tất nhiên, cũng có những ngoại lệ, trong tình trạng khẩn cấp. Chẳng hạn, Mỹ với Liên Xô rất ghét nhau, nhưng vẫn phải liên minh với nhau để cùng đánh Đức Quốc xã trong chiến tranh thế giới II. Hay, tuy Mỹ với Trung Quốc không ưa nhau nhưng lại cùng bắt tay trong vấn đề Campuchia của Việt Nam.

Chúng ta phải hiểu rõ điều này để đừng lầm lẫn rằng chính sách của Mỹ cũng tiền hậu bất nhất, như ở nước này nước nọ. Mỹ rất nhất quán trong chính sách đối ngoại, chủ yếu dựa trên các quyền lợi mà tôi đã đề cập ở trên.

Tổng thống Obama dự Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á tại Campuchia.
Ảnh: AP

Vậy cam kết của Mỹ ở khu vực này là gì? Ý tôi muốn nói đến khu vực Đông Nam Á.


Mỹ chỉ cam kết rằng "nếu các anh muốn khỏe mạnh, tự cường, thì tôi giúp cho các anh khỏe, tự cường, chứ tôi không cam kết là tôi sẽ đánh lại người nào đánh các anh".

Tổng thống Obama đã giải thích rõ ràng điều này với Quốc hội, thể hiện qua việc như tăng cường khả năng quân sự cho Philippines, bắt chặt tay hơn với Indonesia, sau một thời gian dài hờ hững.

Theo tôi hiểu, phía Mỹ đã làm phần của họ rồi. Phần còn lại là khu vực này phải có những động thái thể hiện sự đáp lại mà thôi.

Còn nếu mà ASEAN không đoàn kết, không thống nhất ý chí với nhau trong cuộc chống bá quyền của Trung Quốc ở Biển Đông, thì Mỹ có muốn giúp mấy cũng đành chịu.

Tiến bộ đến đâu, giúp đến đó

Quay lại câu chuyện Myanmar, có ý kiến cho rằng Mỹ không muốn lặp lại bài học với Liên Xô của ông Gorbachev ngày xưa. Khi tiến hành "perestroika" Tổng thống Gorbachev đã gặp rất nhiều khó khăn trong nước, và rất mong phương Tây, đứng đầu là Mỹ hỗ trợ. Tuy nhiên, vì câu chuyện quá khứ thời "chiến tranh lạnh", nên dường như Mỹ đã mặc kệ cho Liên Xô ngập vào khủng hoảng và tan vỡ...


Một kết cục tương tự cũng hoàn toàn có thể xảy ra với Myanmar, nhất là trong khi nước láng giềng khổng lồ bên trên vẫn muốn áp đặt lại ảnh hưởng đang bị thách thức của họ?

Không, hai điều này khác nhau nhiều lắm. Thứ nhất, nhiều người chỉ trích ông Gorbachev đổi mới chính trị, trước khi đổi mới kinh tế, nên mới bị sập tiệm. Thực ra mô hình Xô Viết đã thâm căn cố đế đến 60 năm, nên nếu không đổi mới chính trị thì không bao giờ đổi mới được kinh tế.

Chính vì vậy, ông Gorbachev đã phải chuyển quyền lực từ Đảng Cộng sản Liên Xô sang cho Quốc hội, tức là Xô Viết Tối cao. Theo tôi, ông Gorbachev là người rất giỏi, nhưng ông đã không thành công trong đổi mới chính trị vì lực lượng chống đối quá lớn.

Thứ hai, về việc viện trợ kinh tế, Mỹ và phương Tây đã có bàn rồi. Hồi đó, có một nhóm chuyên viên Liên Xô và Mỹ đề nghị Mỹ viện trợ cho chính quyền của ông Gorbachev theo Kế hoạch Marshall, mỗi năm khoảng 20 tỷ USD, không tính lãi, trong ba năm liền. Nhưng tốc độ giải ngân sẽ dần dần, phù hợp với tiến trình cải cách của ông Gorbachev.

Khác với Đặng Tiểu Bình có thời gian dài hơn để thử nghiệm cải cách kinh tế lâu hơn, ông Gorbachev vẫn muốn giữ nền kinh tế tập trung, tức là không muốn chấp nhận hoàn toàn thị trường tự do. Trong khi đó, phía Tổng thống Bush (cha) thì gặp phải ngân sách thâm thủng, nên không dám can đảm ra kêu gọi sự phê chuẩn của Quốc hội với một số tiền quá lớn như vậy.

Thế rồi, chuyện không thành, và cuối cùng ông Gorbachev đổ, với sự tan rã của Liên Xô. Các nhà học giả mơ mộng thì vẫn chỉ trích Mỹ về việc không thực hiện Kế hoạch Marshall đối với Liên Xô, nhưng quả thực trong bối cảnh lúc đó là không thể thực hiện được.

Thế còn trường hợp của Myanmar thì sao ạ?

Myanmar còn bé quá, ông Obama chưa cam kết gì cả, trừ tháo gỡ những hạn chế thương mại áp đặt trước đây. Ông Obama tuyên bố với giới lãnh đạo Myanmar rằng "các ông tiến bộ đến đâu, chúng tôi sẽ giúp đến đó". Tức là ý ông vẫn đòi hỏi Myanmar phải thúc đẩy nhanh tiến trình dân chủ hóa, như tiếp tục thúc đẩy việc trả tự do cho tù chính trị. Phía Mỹ còn muốn theo dõi xem chính quyền Myanmar sẽ đối xử với bà San Suu Kyi ra sao nữa.

(còn nữa)
Huỳnh Phan

14/7/12

Phát biểu của bà Clinton ở Phnom Penh

Cung điện Hòa Bình
Thủ đô Phnom Penh, Cambodia

12-02-2012
Người dịch: Dương Lệ Chi
.
Ngoại trưởng Clinton: Vâng, cảm ơn quý vị rất nhiều về sự kiên nhẫn của quý vị. Đã có rất nhiều việc làm hữu ích và những đối thoại trên tinh thần xây dựng. Và tôi rất vui khi có được dịp, như tôi đi khắp châu Á trong tuần này để nói về sự tham gia rộng lớn của Mỹ, đặc biệt là công việc của chúng tôi để tăng cường các mối quan hệ kinh tế và hỗ trợ dân chủ và nhân quyền, cùng với cam kết của chúng tôi đối với an ninh chung. Đây là tất cả mọi thứ về việc gia tăng tầm nhìn của chúng tôi về một trật tự trong khu vực mở rộng, công bằng và bền vững cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương dựa trên các tổ chức, quy tắc, và quan hệ đối tác có lợi cho tất cả mọi người và tất cả các quốc gia. Và tôi nghĩ rằng, chúng ta đang thấy điều đó có ý nghĩa gì trên thực tế.

Trước tiên, đối với các thể chế, hôm nay tôi đã dành nhiều giờ để họp với các đồng sự ở cả hai Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á và Diễn đàn khu vực ASEAN, và hôm qua ở Hội nghị Bộ trưởng Mỹ-ASEAN. Các tổ chức này là tâm điểm của sự mở rộng của Mỹ, tham gia nhiều lĩnh vực trong khu vực. Từ thúc đẩy thương mại cho tới mở rộng trao đổi giáo dục và văn hóa, tăng cường sự bố trí về an ninh, những cuộc họp này là cơ hội đáng giá cho tất cả nước chủ chốt trong khu vực ngồi lại với nhau để đương đầu với một số thách thức quan trọng nhất mà chúng ta đang phải đối mặt.

Hôm nay, chúng tôi xem xét sự tiến bộ ở Miến Điện, và tôi tuyên bố rằng Hoa Kỳ nới lỏng các biện pháp trừng phạt, cho phép các doanh nghiệp Mỹ đầu tư ở đó. Chúng tôi thảo luận về Bắc Triều Tiên và tầm quan trọng của việc duy trì một mặt trận thống nhất để hỗ trợ khu vực phi hạt nhân một cách hòa bình và có thể thực hiện được trên bán đảo Triều Tiên. Và chúng tôi tập trung vào sự cần thiết để cải thiện sự phối hợp về các vấn đề quan trọng như an ninh mạng và cứu trợ thiên tai. Rất quan trọng [để thảo luận vấn đề này] khi 45% thiên tai trên thế giới xảy ra ở khu vực Đông Á này.

Một trong những vấn đề khác mà chúng tôi thảo luận, đặc biệt nhấn mạnh giá trị của các tổ chức đa phương và tầm quan trọng trong việc thiết lập các quy tắc rõ ràng trong khu vực, và đó là biển Đông (nguyên văn: biển Hoa Nam). Như quý vị đã biết, Hoa Kỳ không có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông, và chúng tôi không đứng về phía bên nào trong các tranh chấp lãnh hải và lãnh thổ, nhưng chúng tôi có một mối quan tâm cơ bản về tự do hàng hải, duy trì hòa bình và ổn định, tôn trọng luật pháp quốc tế, và mậu dịch hợp pháp không bị cản trở. Và chúng tôi tin rằng các nước trong khu vực nên giải quyết tranh chấp bằng con đường hợp tác và ngoại giao, không nên ép buộc, không nên hăm dọa, không nên đe dọa, và chắc chắn là không nên sử dụng vũ lực.

Không nước nào không thể không quan tâm đến sự gia tăng căng thẳng, gia tăng những lời lẽ hùng hổ đối chọi nhau, và những bất đồng về khai thác tài nguyên. Chúng tôi thấy những trường hợp đáng lo ngại về áp bức kinh tế và sự khó hiểu về việc sử dụng các tàu quân sự và các tàu của chính phủ liên quan đến các tranh chấp giữa các ngư dân. Cho nên chúng tôi mong ASEAN và Trung Quốc có được sự tiến bộ có ý nghĩa về việc hoàn thành một quy tắc ứng xử ở biển Đông, đó là dựa trên luật pháp quốc tế và các thỏa thuận. Như tôi đã nói với những người đồng sự của tôi, điều này sẽ cần sự lãnh đạo, và ASEAN ở vị trí tốt nhất khi ASEAN đáp ứng các mục tiêu và các tiêu chuẩn riêng của mình và có thể cùng nói chung một tiếng nói về các vấn đề mà khu vực đang phải đối mặt.

Yếu tố thứ ba về một trật tự khu vực có hiệu quả, là một mạng lưới các quan hệ đối tác và liên minh, và hôm nay tôi đã có một cuộc họp hữu ích ba bên, với Nhật Bản và Nam Triều Tiên, và cuộc họp song phương với bà Ashton, đại diện cấp cao của Liên minh châu Âu, các bộ trưởng ngoại giao của Trung Quốc, Indonesia và Singapore. Các liên minh của Mỹ với Nhật Bản và Hàn Quốc là nền tảng của sự tham gia của chúng tôi trong khu vực, và cả ba nước chúng tôi đã tăng cường tham gia với các nước ASEAN, gồm cả việc thiết lập các nhiệm vụ chuyên môn với ASEAN ở Jakarta. Cho nên đây là cơ hội để so sánh các lưu ý về một loạt mối quan tâm chung và những ưu tiên.

Quay sang châu Âu, Hoa Kỳ hoan nghênh việc tăng cường tham gia của Liên hiệp Châu Âu ở châu Á, và đại diện cấp cao [Liên hiệp Châu Âu], bà Ashton và tôi đã thảo luận những cách mà chúng tôi có thể cùng nhau làm việc trong khu vực, để thúc đẩy lợi ích chung trong việc thúc đẩy hòa bình và sự thịnh vượng rộng lớn hơn.

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, Dương [Khiết Trì] và tôi đã xem xét một danh sách dài về những nỗ lực hợp tác chung giữa Mỹ – Trung Quốc, tất cả mọi thứ từ khoa học và công nghệ, cho tới năng lượng và môi trường, cho tới y tế công cộng và an toàn. Chúng tôi nhận ra rằng một phương pháp tiếp cận có tổng bằng không (zero-sum approach) ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương chỉ dẫn đến các kết quả tiêu cực, do đó, chúng tôi cam kết làm việc với Trung Quốc trong khuôn khổ thúc đẩy hợp tác, điều chỉnh lợi ích và giải quyết những khác biệt ở những nơi chưa giải quyết. Đó là một phần để đạt được một trật tự có hiệu quả trong khu vực.

Vì vậy, bằng mọi cách chúng tôi có thể, chúng tôi đang gửi một thông điệp rõ ràng: Hoa Kỳ là một cường quốc Thái Bình Dương và chúng tôi cam kết [điều đó] trong tương lai. Trong các cuộc họp của tôi khắp châu Á, đôi khi tôi nghe câu hỏi về việc liệu Hoa Kỳ sẽ gia tăng các cam kết của mình hay không, bằng cách gia tăng nỗ lực, thời gian và ngân quỹ (increased resources). Nên ở đây, tại Phnom Penh, tôi hãnh diện thông báo một nỗ lực mới quan trọng để cải cách và khôi phục các chương trình hỗ trợ ASEAN và hơn thế nữa. Được gọi là Sáng kiến Tham gia Chiến lược châu Á – Thái Bình Dương (Asia Pacific Strategic Engagement Initiative), hoặc là APSEI, và tôi sẽ có nhiều điều để nói về điều này vào ngày mai tại các cuộc họp về Sáng kiến Hạ lưu sông Mekong.

Tôi cũng mong được đến Siem Reap để tham gia Diễn đàn Doanh nghiệp Mỹ-ASEAN và thảo luận về tầm quan trọng của quyền công nhân và quyền phụ nữ tại một cuộc họp Hạ lưu sông Mekong về bình đẳng giới và trao quyền hạn. Chúng tôi thảo luận rất nhiều điều, cho tôi dừng lại ở đây và nhận các câu hỏi của quý vị.

Bà Nuland: Chúng tôi sẽ nhận ba câu hỏi trong đêm nay. Chúng ta bắt đầu với Nicole Gaouette của báo Bloomberg.

Hỏi: (Tắt micro) .

Ngoại trưởng Clinton: Không, chỉ cần cô nói vào đó -

Hỏi: Được rồi. Thử xem?

Ngoại trưởng Clinton: Vâng.

Bà Nuland: Vâng.

Hỏi: Bà có thể phác thảo cho chúng tôi – cho chúng tôi [biết] những mối nguy nếu ASEAN và Trung Quốc không đạt được một thỏa thuận về một quy tắc ứng xử ở biển Đông (nguyên văn: biển Hoa Nam)? Và chúng tôi cũng biết rằng ASEAN gặp rất nhiều khó khăn để đạt được một thỏa thuận về một thông cáo cuối cùng. Và tôi muốn biết suy nghĩ của bà về khả năng của nhóm để đối phó với những thách thức gai góc trong khu vực.

Ngoại trưởng Clinton: Vâng. Hãy để tôi bắt đầu bằng cách nói rằng, các cuộc thảo luận đang tiếp diễn và chúng được thảo luận với cường độ cao, cho nên chúng ta hãy chờ xem kết quả sẽ như thế nào. Nhưng thật tình mà nói, tôi nghĩ rằng đó là dấu hiệu của sự trưởng thành của ASEAN, rằng họ đang vật lộn với một số vấn đề rất khăn ở đây. Họ không tránh né chúng, họ đang đi thẳng vào chúng. Và tôi đã làm việc trong nhiều khuôn khổ đa phương, và không phải hoàn toàn bất thường cho các tổ chức trưởng thành hơn để làm việc và thảo luận, và thậm chí tranh luận về một số vấn đề nào đó quá hạn, để cố gắng xem có cách nào ở phía trước.

Cho nên tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ chờ. Và không phải tùy thuộc vào nước Mỹ, cũng không phải tùy thuộc vào Trung Quốc, mà là tùy thuộc vào ASEAN. Không phải tùy thuộc vào bất kỳ quốc gia hoặc tổ chức nào bên ngoài, mà tùy thuộc vào chính các thành viên ASEAN. Và ASEAN nhấn mạnh đến sự thống nhất, và khẩu hiệu của cuộc họp mặt ở đây là: “Một cộng đồng, Một vận mệnh”. Và tổ chức như ASEAN trưởng thành và phát triển, trở nên cần thiết để giải quyết các vấn đề khó khăn, và chúng tôi chúc họ gặp điều tốt lành.

Ms. Nuland: Người kế tiếp. (Không nghe). Xin lỗi?

Hỏi: (Tắt micro).

Ngoại trưởng Clinton: Vâng, chúng ta hãy đợi xem chuyện gì xảy ra.

Ms. Nuland: Người kế tiếp, Khan Sophirom từ Nhật báo Ramsei Kampuchea.

Hỏi: (Không nghe). Có chính sách cụ thể nào đối với Campuchia trong chuyến thăm hai ngày của bà ở Phnom Penh? Và về hơn 400 triệu (không nghe) có bất kỳ tiến triển nào về điều đó?

Ngoại trưởng Clinton: Tôi không hiểu phần thứ hai của câu hỏi. Tôi đã nghe, có bất cứ điều gì – trong chuyến viếng thăm này của tôi về sự trợ giúp Campuchia. Nhưng tôi không hiểu được phần thứ hai.

Hỏi: Về khoản nợ Campuchia – khoản nợ của chúng tôi 400 triệu Mỹ kim –

Ms. Nuland: Nợ của Campuchia.

Ngoại trưởng Clinton: Ồ, nợ. Nợ. Được rồi. Tôi xin lỗi. Cảm ơn. Trước hết, Hoa Kỳ vẫn cam kết mạnh mẽ để làm việc và hỗ trợ người dân Campuchia. Sự giúp đỡ của chúng tôi đã tăng hơn gấp đôi trong thập kỷ qua. Hiện giờ là hơn 75 triệu đô. Thông qua các nỗ lực của chúng tôi về y tế toàn cầu và HIV/ AIDS, chúng tôi cũng đã làm việc với Chính phủ Campuchia và các tổ chức phi chính phủ trong cuộc chiến chống HIV/ AIDS. Chúng tôi cũng được khích lệ từ công việc chúng tôi đã và đang làm trong một vài năm, đã thấy tỷ lệ tử vong ở bà mẹ và trẻ em giảm bớt gần đây. Chúng tôi đang làm việc với Campuchia thông qua tổ chức Feed the Future Initiative, giúp đáp ứng nhu cầu của gần 25% dân số Campuchia thiếu thực phẩm. Cho nên chúng tôi đang làm việc để biến sự hỗ trợ phát triển thành những cải thiện có ý nghĩa cho cuộc sống của người dân Campuchia.

Đôi khi cũng có một chút thất vọng, tôi thừa nhận, đối với Hoa Kỳ, bởi vì cho đến giờ chúng tôi chỉ có thể chuyển viện trợ của chúng tôi được bao nhiêu đó tới tay người dân. Chúng tôi muốn có thêm nhiều người dân được ăn uống. Chúng tôi muốn nhiều người khỏe mạnh hơn. Chúng tôi muốn có nhiều người nam giới, phụ nữ, và đặc biệt là trẻ em có cuộc sống tốt đẹp hơn. Vì vậy, chúng tôi không thể lưu ý tới một tòa nhà lớn chúng tôi đã xây, mà chúng tôi lưu ý tới nhiều trẻ em còn sống sót, nhiều người bệnh HIV / AIDS được cứu sống, nhiều phụ nữ sống sót khi sinh con, và chúng tôi sẽ tiếp tục làm tất cả mọi thứ mà chúng tôi có thể làm được để giúp đỡ người dân Campuchia nhìn thấy tương lai của chính họ.

Về khoản nợ song phương, theo luật pháp quốc tế, các chính phủ chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của những người tiền nhiệm, mặc dù điều này có vẻ không công bằng trong nhiều trường hợp. Cho nên điều mà chúng tôi muốn làm là, làm việc với Chính phủ Campuchia để cố gắng giải quyết những vấn đề có từ lâu, bằng giải pháp công bằng, để giúp Chính phủ Campuchia nâng cao khả năng thanh toán nợ của họ, gia tăng khả năng tiếp cận thị trường vốn quốc tế. Chúng tôi nghĩ rằng đó sẽ là lợi ích của Campuchia về việc có thể tham gia vào thị trường tài chính quốc tế, không phải lệ thuộc vào bất kỳ nguồn tài trợ nào, nhưng có thể thỏa thuận và làm việc nhắm tới uy tín để được vay nợ thực sự. Vì vậy, chúng tôi đang làm việc với Chính phủ Campuchia, và tôi hy vọng chúng tôi sẽ có tiến bộ trong việc cố gắng giải quyết vấn đề này. Đó là điều mà cá nhân tôi cam kết thực hiện.

Ms Nuland: Câu hỏi cuối cùng trong đêm nay, bà Margaret Brennan từ đài CBS, xin mời.

Hỏi: Kính thưa bà ngoại trưởng, bà có thấy bất kỳ dấu hiệu nào về việc Nga sẽ hỗ trợ các biện pháp trừng phạt Syria trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc? Đã có một số diễn biến trong tuần này, tin tức về các tàu của Nga hướng về Syria, sự đào tẩu của đại sứ Syria ở Iraq và bây giờ nói về cuộc tranh luận công khai ở Iran về việc hỗ trợ chế độ Assad. Ý kiến của bà như thế nào?

Ngoại trưởng Clinton: Vâng, Margaret, tôi đã có cơ hội thảo luận về những vấn đề này cuối cùng với đặc phái viên LHQ, ông Kofi Annan tối qua, sau các cuộc tham vấn của ông ấy ở Damascus, Tehran và Baghdad, nhưng trước khi ông ấy thông báo tóm tắt với Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Và tôi được động viên rằng ông ấy hiện đang yêu cầu hỗ trợ nhiều hơn nữa, qua hình thức một nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, không chỉ ủng hộ kế hoạch chuyển đổi chính trị mà nhóm hành động đã nhất trí ở Geneva, mà điều đó còn có hậu quả thực sự cho việc không tuân thủ. Hoa Kỳ xác định sẽ hỗ trợ ông ấy, bởi vì kinh nghiệm của chúng tôi năm ngoái đã nói rõ ràng rằng, chế độ Assad sẽ không làm bất cứ điều gì nếu không có áp lực thêm nữa. Tôi đã có một cuộc thảo luận đầy đủ về các vấn đề này với Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, Dương [Khiết Trì] hôm nay, và chúng tôi đã đồng ý làm tất cả những gì chúng tôi có thể làm được ở New York để xem kế hoạch Geneva, kế hoạch đã được tất cả năm ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ký – gồm cả Nga và Trung Quốc – được thực hiện.

Cho nên chúng tôi thấy áp lực chồng chất. Các nhân vật quân sự cao cấp từ quân đội Syria đang đào ngũ mỗi tuần. Chúng ta vừa có vụ đào ngủ ngoại giao quan trọng đầu tiên là đại sứ Syria ở Iraq chống lại chế độ hôm qua. Kinh tế [ở Syria] đang trong tình trạng hỗn độn. Chế độ [Syria] đang vật lộn để kiểm soát phần lớn đất nước.

Vì vậy, chúng tôi trông cậy vào Hội đồng Bảo an [Liên Hiệp Quốc] và tất cả các thành viên của HĐBA, gồm cả Nga, tham gia vào một nghị quyết quan trọng với chúng tôi, giúp cho đặc phái viên Kofi Annan những gì ông ấy cần, những gì ông yêu cầu, và áp đặt những hậu quả thực sự lên chế độ [Syria] về việc tiếp tục không tuân theo nghĩa vụ của họ đầu tiên và trước nhất đối với chính người dân của họ và sau đó là đối với cộng đồng quốc tế. Và chúng tôi kêu gọi quân đội Syria và cộng đồng doanh nghiệp lựa chọn một tương lai dân chủ, thay vì bám víu vào chế độ đang đổ nát này. Cho nên chúng tôi đang làm việc rất nhiều ở New York, ở các thủ đô khác, cố gắng bảo đảm rằng, chúng tôi tin cậy vào yêu cầu và báo cáo mới nhất của ông Kofi Annan, và chúng tôi hy vọng nhìn thấy sự tiến bộ vững chắc. Cảm quý vị rất nhiều.

Ms Nuland: Cảm ơn bà, cảm ơn tất cả mọi người.

12/7/12

Đã đến lúc chấm dứt sự mơ hồ chiến lược tại Biển Đông

(Nghiên cứu Biển Đông) - Nhằm đối phó với sự mập mờ chiến lược trong yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông, các bên tranh chấp phải có lập trường rõ ràng về những gì là tranh chấp thực sự ở Biển Đông và những gì không. Chừng nào điều căn bản này vẫn chưa rõ ràng thì phần thua thiệt vẫn sẽ thuộc về các nước láng giềng nhỏ hơn.


Đúng như dự kiến, các cuộc thảo luận, có tiêu đề "Biển Đông và châu Á - Thái Bình Dương đang thay đổi: Tìm kiếm lựa chọn cho việc quản lý tranh chấp," chứng kiến sự căng thẳng giữa các diễn giả. Điều này đặc biệt đúng giữa các diễn giả Trung Quốc với Philíppin và Trung Quốc với Việt Nam . Nhưng sau một ngày rưỡi thảo luận gay gắt, một thông điệp rõ ràng là: sự mập mờ trong tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và biển tại Biển Đông không phục vụ lợi ích của bất kỳ ai.

Trong khi những người tham gia có xu hướng xem xét lại các vấn đề chủ quyền và đưa ra những ý tưởng nhằm quản lý chứ không phải là giải quyết tranh chấp, hội thảo năm nay thể hiện rõ những điểm khác so với năm trước. Có thể cảm nhận được sự căng thẳng trong phòng hội thảo khi ba chuyên gia Trung Quốc tìm cách bảo vệ lập trường của Bắc Kinh. Một điều quan trọng cần ghi nhận là người ta chưa biết rõ lập trường chính xác của Trung Quốc là thế nào. Những người tham dự hội nghị đã có những phát biểu mạnh mẽ cho thấy rằng không ai mong muốn các tuyên bố mơ hồ về chính sách và giải trình của Trung Quốc.

Những gì họ thể hiện chính là sự bực tức đã lan truyền khắp các cộng đồng chính sách tại Oasinhtơn và châu Á. Đó không chỉ là sự bực tức về các tranh chấp ở Biển Đông, hay thậm chí là nhận thức về thái độ gây hấn gần đây của Bắc Kinh, cả hai điều đã trở thành một phần trong bức tranh chung của khu vực. Đúng hơn, đó là sự thất vọng trước sự mập mờ lâu nay từ chính sách của Trung Quốc, muốn tránh phải có một lập trường rõ ràng bằng mọi giá. Nếu không có một lập trường rõ ràng của Trung Quốc, việc giải quyết các tranh chấp và hòa hợp các lập trường là điều không thể.

Chính sách mập mờ chiến lược của Trung Quốc là nhằm mục đích của nó. Nó cho phép Trung Quốc linh hoạt để giải thích lập trường của mình. Đây là lý do tại sao Bộ Ngoại giao Trung Quốc có thể ra tuyên bố công khai vào tháng Hai năm 2012 nói rằng họ không tuyên bố chủ quyền quốc gia với toàn bộ Biển Đông và chỉ có tranh chấp về "hải đảo và vùng biển lân cận." Điều này đã làm dấy lên hy vọng tại Mỹ và các bên tranh chấp châu Á khác rằng Trung Quốc đang rút khỏi tuyên bố đường lưỡi bò và đưa lại tuyên bố của mình phù hợp với luật pháp quốc tế.

Tuy nhiên, điều đó rõ ràng là không đúng. Các căng thẳng trong năm nay trên biển bắt đầu với hai tháng bế tắc giữa các tàu Trung Quốc và Philíppin tại bãi cạn Scarborough .

Cuộc đối đầu đó, cho dù có những tuyên bố ngược lại từ Bắc Kinh, là một ví dụ về một sự điều chỉnh dần dần trong tuyên bố của Bắc Kinh. Trong nhiều năm, tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông chỉ giới hạn trong quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa. Bất kỳ tuyên bố nào với các cấu trúc địa chất khác, như bãi cạn Scarborough, chỉ được ngụ ý là nằm trong đường lưỡi bò đầy mơ hồ. Sau đó, Trung Quốc mở rộng tuyên bố chủ quyền với bãi Macclesfield hoàn toàn nằm dưới mặt nước dưới cái tên Trung Sa do tưởng tượng, mặc dù có không có cách nào theo quy định của pháp luật quốc tế để tuyên bố chủ quyền với một cấu trúc địa chất thấp hơn mặt nước giống như một hòn đảo. Hơn nữa, trong những năm gần đây, khi Bắc Kinh cố gắng không bị quá phụ thuộc vào đường chín đoạn không thể giải thích được, bãi cạn Scarborough đã được đưa vào thành một phần của Trung Sa. Việc bãi này nằm cách Macclesfield hàng trăm dặm hay việc nó chưa hề xuất hiện trong các tài liệu lịch sử mà Trung Quốc đưa ra để chứng minh chủ quyền với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa dường như không quan trọng.

Bắc Kinh thể hiện sự bất chấp tương tự với chính sách mà tuyên bố của Bộ Ngoại giao đưa ra hồi tháng Hai khi áp đặt lại lệnh cấm đánh bắt hàng năm đơn phương cho toàn bộ Biển Đông bên trên vĩ tuyến 12. Lệnh cấm như vậy sẽ chỉ có thể khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với tất cả các vùng biển trong đường chín đoạn, chứ không chỉ với "các đảo và vùng biển lân cận." Sau đó, vào cuối tháng Sáu, Tập đoàn Dầu khí CNOOC khiêu khích Việt Nam bằng việc thông báo công ty sẽ mở 9 lô dầu khí ở Biển Đông cho nước ngoài dự thầu. Vấn đề là ở chỗ toàn bộ chín lô này nằm trong phạm vi 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, và trong thực tế, nhiều lô trùng với các lô mà hiện Việt Nam đã cho các công ty nước ngoài thầu, trong đó có công ty Exxon-Mobil. Quan trọng hơn, các lô của CNOOC không thể biện hộ được theo tuyên bố chủ quyền với "các đảo và vùng biển lân cận" của Biển Đông vì không có hòn đảo nào trong vòng 200 hải lý (EEZ tối đa cho phép) của tất cả các lô.

Những diễn biến này làm nổi bật sự cần thiết cho các bên tranh chấp ASEAN-Việt Nam, Philíppin, Malaixia và Brunây, phải có lập trường về những gì là tranh chấp thực sự ở Biển Đông và những gì không. Chừng nào điều căn bản này vẫn chưa rõ ràng, Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục sử dụng các tuyên bố mơ hồ và mâu thuẫn để theo đuổi lợi ích của mình ở Biển Đông với phần thua thiệt thuộc về các nước láng giềng nhỏ hơn.

Một số bước đi đã được thực hiện theo hướng này. Việc Việt Nam và Malaixia năm 2009 nộp hồ sơ chung về thềm lục địa mở rộng ở phía Nam lên Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Ranh giới Thềm lục địa là một bước quan trọng đầu tiên trong nỗ lực này. Luật về đường cơ sở của Philíppin, thông qua cùng năm đó, thiết lập đường cơ sở ven biển theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), cũng là một nỗ lực nữa.

Các nước ASEAN đã có lập trường thống nhất về nhiều vấn đề. Ví dụ, cả bốn nước có vẻ như đã chấp nhận rằng Trường Sa và Hoàng Sa không phải là các đảo theo luật pháp, mà chỉ đơn thuần là đá và do đó chỉ được hưởng lãnh hải 12 hải lý.

Một nỗ lực thực tâm để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông đòi hỏi những quan điểm này phải được luật hóa. Điều này không có nghĩa là các bên tranh chấp phải từ bỏ bất cứ điều gì liên quan đến tuyên bố chủ quyền của mình đối với các cấu trúc địa chất trên Biển Đông. Thay vào đó, nó sẽ cho phép họ củng cố cơ sở pháp lý cho tuyên bố về biển của mình và tách biệt các tranh chấp lãnh thổ khó khăn hơn nhiều nhưng có phạm vi địa lý nhỏ hơn rất nhiều. Quan trọng nhất, nó sẽ cho phép các nước này thể hiện một mặt trận thống nhất trước Trung Quốc trong lập luận về một điểm tối quan trọng: cơ sở duy nhất chấp nhận được cho các tuyên bố về biển trên Biển Đông phải là luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS.

Nếu các bên tranh chấp ASEAN tạo được một khuôn khổ thống nhất về những gì có và không có tranh chấp, phần trách nhiệm còn lại sẽ là của Bắc Kinh phải làm rõ cơ sở cho tuyên bố của mình. Tại thời điểm đó, Bắc Kinh sẽ có các lựa chọn giới hạn. Áp lực như vậy có thể tạo ra các tiếng nói ôn hòa hơn, giống như những tiếng nói trong Bộ Ngoại giao, sự đáng tin cậy hơn, cho phép Trung Quốc làm rõ tuyên bố của mình bằng cách giữ nguyên tuyên bố chủ quyền với Trường Sa và Hoàng Sa, nhưng từ bỏ đòi hỏi quá đáng đối với các vùng biển nằm giữa. Điều này sẽ đánh dấu một bước quan trọng hướng tới việc giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Theo cách khác, Bắc Kinh có thể loại bỏ hoàn toàn luật pháp quốc tế đã được chấp nhận trong tranh chấp, nhưng nó sẽ gây tổn hại cho lợi ích lớn hơn của Trung Quốc. Bắc Kinh có thể sẽ từ chối tham gia bất kỳ cuộc đối thoại nào. Nếu điều đó xảy ra, thì nó sẽ cho thấy Trung Quốc là bên tham chiến không thể chối cãi trong tranh chấp và dư luận quốc tế sẽ ủng hộ lập trường của các bên tranh chấp trong ASEAN. Cuối cùng, Trung Quốc có thể sẽ thấy việc làm rõ tuyên bố chủ quyền ít gây tổn hại đến danh tiếng và lợi ích của mình hơn so với việc bám vào sự mơ hồ lâu nay.

Hầu hết thời gian trong hội thảo CSIS được dành để thảo luận về các cơ sở của tranh chấp và tìm kiếm những cách thức để giải quyết các sự cố không thể tránh khỏi chứ không phải là đề xuất cách thức thực sự để giải quyết các tranh chấp. Do sự phức tạp và thời gian lâu dài của vấn đề Biển Đông, những khó khăn như vậy được dự đoán là chắc chắn có.

Nhưng lý do quan trọng nhất của việc dường như có rất ít ánh sáng ở cuối đường hầm là vì rất nhiều tranh chấp vẫn còn mơ hồ. Giờ là lúc các bên tranh chấp ASEAN phải luật hóa đầy đủ, cả luật trong nước và trong một khuôn khổ đa phương, những gì tranh chấp và không phải là tranh chấp theo luật pháp quốc tế. Đó sẽ là một lập trường mà cộng đồng quốc tế, trong đó có Mỹ, có thể ủng hộ một cách chính đáng bởi vì nó sẽ có nghĩa là không bảo vệ những tuyên bố riêng của bất kỳ bên tranh chấp nào, mà là ủng hộ chính luật pháp quốc tế.

Theo CSIS

Trần Quang (gt)

Phát biểu của Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman tại Hội thảo Biển Đông tại Mỹ

"Hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông đang đẩy khu vực theo hướng sai và gửi một thông điệp gây thất vọng về loại cường quốc mà Trung Quốc sẽ trở thành và Trung Quốc sẽ quan hệ như thế nào với các nước láng giềng. Việc yêu sách của Trung Quốc có phạm vi quá rộng ..đang tạo ra một bầu không khí lo âu ...Tôi nghĩ sự mập mờ.. của đường 9 đoạn Trung Quốc đặc biệt đáng lo ngại."


Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS)
“Biển Đông và Châu Á - Thái Bình Dương trong thời kỳ quá độ”

Giới thiệu:

John Hamre,

Giám đốc và CEO CSIS

Diễn giả:

Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman (ID-CT)

Địa điểm:

CSIS, Trung tâm Hội nghị B1, Đường 1800 K, NW, Washington, D.C.

Thời gian: 8:30 a.m. EDT

Ngày: Thứ 5, 28 tháng 6, 2012


JOHN HAMRE: Xin chào quý vị. Chào mừng các quý vị đến với ngày thứ hai trong hội thảo của chúng tôi. Tôi rất vui vì sự có mặt của quý vị tại đây. Tên tôi là John Hamre. Tôi là Giám đốc của CSIS và tôi rất hài lòng vì chúng tôi có một số lượng người tham dự đông đảo như thế này. Như quý vị đã biết, ở Washington, mọi người thường tham gia ngày đầu tiên và bỏ qua ngày thứ hai, do vậy tôi rất biết ơn vì điều này. Nhưng tôi nghĩ rằng tôi biết lý do cho điều đó, và đó là vì sự có mặt của Joe Lieberman tại đây.

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thượng nghị sĩ Lieberman vì đã đến đây ngày hôm nay. Tôi có biết một chút về cuộc sống của ông ấy, đã từng làm việc tại Thượng viện trong 10 năm và tôi biết rằng thời gian vô cùng, vô cùng quý giá. Vì vậy, đối với một thượng nghị sĩ với tất cả các nghĩa vụ của mình để sắp xếp thời gian đến với một viện nghiên cứu chiến lược để nói về một chủ đề phức tạp thực sự là một đặc ân và một điều hiếm có bây giờ. Điều này có thể không phải là đặc trưng của Thượng viện hiện tại, nhưng nó là đặc trưng của Joe Lieberman. Ý của tôi là, Lieberman luôn là một thượng nghị sĩ có suy nghĩ rằng công việc của mình là mang lại những ý tưởng mới và những ý kiến trung thực cho Thượng viện và ông làm điều đó theo một cách rất mới, và đó là một trong những lý do tại sao ông là một nhà lãnh đạo đáng kính tại Thượng viện. Đây là một trong những lý do chúng ta sẽ nhớ tới ông khi ông rời Thượng viện, bởi vì cùng với ông, chúng ta còn có người có cùng suy nghĩ rằng chất lượng của các ý tưởng và sự trung thực của cuộc đối thoại là ưu tiên hàng đầu, chứ không chỉ là phép thử chính trị. Và chúng ta sẽ nhớ điều đó.

Nhưng chúng tôi sẽ không để cho ông xa rời giới hoạch định chính sách. Chúng tôi sẽ đảm bảo rằng ông ấy sẽ trở lại nhiều hơn và nhiều hơn nữa, vì ông sẽ có thời gian nhiều hơn một chút, mặc dù - (cười)- các quý vị đã biết, tất cả mọi người, khi họ rời khỏi chức vụ thường có xu hướng bận rộn hơn, và do đó, ông sẽ khôn khéo chờ đợi xem vai trò trong tương lai của mình như thế nào. Nhưng quý vị biết đấy, chúng tôi muốn ông trở lại, và tôi biết quý vị sẽ hiểu điều đó và lắng nghe điều đó khi sáng nay ông sẽ chia sẻ với chúng tôi những hiểu biết của ông về Biển Đông. Và tôi nghĩ với chủ đề của Hội thảo này là Tìm kiếm giải pháp, thì thực sự không có ai có thể đại diện cho tập thể lãnh đạo và chính phủ để tìm kiếm giải pháp tốt hơn Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman. Xin quý vị hãy chào đón ông bằng một tràng pháo tay. Chúng ta mong đợi bài phát biểu của ông. (Vỗ tay)

Thượng nghị sĩ Joseph Lieberman: Vâng, cảm ơn John rất nhiều vì lời giới thiệu rất hào phóng. Tôi rất vui mừng khi có mặt ở đây. Tôi luôn luôn muốn nói rằng tôi sẽ rút khỏi Thượng viện, nhưng tôi không nghỉ việc, và tôi mong muốn tiếp tục được tham gia vào các cuộc thảo luận này. Khi tôi nghĩ về nó, tôi hy vọng những người đồng sự của tôi có thể đi theo giá trị, như tôi đã theo đuổi, mà tôi cho là cơ bản của văn hóa châu Á, trong đó kính trọng người già. (Cười) - (cười) - hoặc ít nhất là tôn trọng người già.

Tôi xin cảm ơn John. Tôi vô cùng biết ơn những lời lẽ vô cùng tốt đẹp đó, đặc biệt là từ John Hamre, người đã có những đóng góp phi thường cho đất nước của chúng ta trong nhiều vai trò khác nhau, trong đó bao gồm sự dẫn dắt tài tình, tiến bộ và mang tính xây dựng CSIS. Tôi vui mừng khi có mặt tại đây sáng nay.

Đối với tôi, đây là một chủ đề thú vị và quan trọng. Tôi cũng ấn tượng bởi số lượng người tham gia từ khắp nơi trên thế giới cũng như tài năng của những người có mặt tại đây. Nhưng tôi phải nói, theo một cách mà có lẽ quý vị sẽ hiểu, đây là cơ hội duy nhất và có lẽ mang tính phép màu để có mặt ở đây sáng nay bởi vì đây có lẽ là cuộc họp duy nhất tại Washington vào sáng nay không nói về những gì Tòa án Tối cao sẽ quyết định - (cười) - về cải cách chăm sóc sức khỏe. Do đó đây là một niềm vui. Nếu tôi sẽ cảnh báo quý vị điều đó nếu khoảng 10 giờ sáng nay quý vị cảm thấy tòa nhà này đang rung lên - (cười) – không phải vì động đất. Mà đó đơn giản là vì Tòa án Tối cao đã ra quyết định về luật cải cách chăm sóc sức khỏe.

Tôi xin cảm ơn tất cả quý vị đến từ khắp các nơi trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đã đến Washington để tham dự hội thảo này. Tôi đã đến Singapore gần một tháng trước để tham dự Đối thoại Shangri-La, vì vậy tôi biết quý vị đã phải trải qua một chuyến bay dài để đến đây, và tôi đánh giá cao những nỗ lực đó.

Hội thảo này là một minh chứng về việc quan điểm của thế giới và nước Mỹ đang thay đổi đến đâu. Tôi xin mạo muội nói rằng cách đây một vài năm, có rất ít người ở Washington dành rất nhiều thời gian hoặc sự chú ý cho vấn đề Biển Đông. Điều này đã không còn xảy ra nữa. Ngày nay đã có một sự công nhận rộng rãi tại đây, tại thủ đô Mỹ từ Quốc hội đến các cơ quan hành pháp đều cho rằng Mỹ có lợi ích quốc gia quan trọng đang bị đe dọa tại Biển Đông, và việc các tranh chấp đang diễn ra nếu được quản lý tốt sẽ có những tác động chiến lược lan tỏa vượt qua bờ biển của Biển Đông tới bờ biển của nước Mỹ. Vì vậy, sáng nay tôi muốn nói với quý vị về chính sách của Mỹ đối với Biển Đông. Nhưng trước đó, tôi muốn tóm tắt ngắn gọn và đưa ra bối cảnh rộng hơn cho các cuộc thảo luận.

Tổng thống Obama, thật đáng khen, tôi nghĩ rằng, đã làm tăng cường sự hiện diện và tham gia của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, một trong những ưu tiên chính sách đối ngoại của ông. Để theo đuổi cái này gọi là tái cân bằng đối với châu Á, chính quyền Obama đang xây dựng dựa trên một loạt cam kết lưỡng đảng. Điều này lặp lại nhiều thập kỷ từ buổi đầu Mỹ bước vào vũ đài thế giới và gần đây hơn là trở lại chính quyền Clinton và Bush. Từ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam dưới thời Tổng thống Clinton tới hợp tác chống khủng bố với các nước như Philippines và Indonesia sau vụ 9/11. Sự tham dự của Mỹ tại Đông Nam Á đã là xu hướng gia tăng trong thời gian qua.

Chính sách của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương rõ ràng bắt nguồn từ từ thực tế rằng Mỹ là một cường quốc Thái Bình Dương và tự do, an ninh và thịnh vượng của người dân Mỹ không thể tách rời với an ninh, tự do và thịnh vượng của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Bob Gates đã đúng khi nêu bật chính sách này trong lần xuất hiện cuối cùng của mình tại cuộc đối thoại Shangri Singapore năm ngoái, và tôi xin trích dẫn lời phát biểu này, "các cam kết và sự hiện diện của Mỹ với tư cách là một quốc gia Thái Bình Dương là một trong các hằng số tương đối ít giữa những thay đổi mãnh liệt trong khu vực hơn nửa thế kỷ qua”, kết thúc trích dẫn.

Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng rõ ràng là có một cái gì đó khác và quan trọng đang diễn ra trong chính sách của Mỹ đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Rõ ràng chúng tôi đang dành nhiều sự quan tâm về ngoại giao và năng lượng đối với khu vực Đông Nam Á, đương nhiên bao gồm cả Biển Đông. Khu vực này đã rút khỏi vị trí hàng đầu trong các cân nhắc chiến lược của Mỹ sau khi chiến tranh Việt Nam nhưng ngày nay, vì một loạt các lý do, khu vực này lại là ưu tiên trong cân nhắc chiến lược toàn cầu của Mỹ.

Với ý nghĩa này, tôi muốn đề nghị trong buổi sáng nay rằng Mỹ không chỉ đang tái cân bằng đối với châu Á, mà chúng ta cũng tái cân bằng tại châu Á. Tôi nói là tái cân bằng, chứ không phải là xuay trục , bởi vì chúng tôi đương nhiên vẫn giữ cam kết đối sâu sắc đối với liên minh lâu đời và truyền thống của chúng tôi ở Đông Bắc Á. Chúng tôi nên và - chúng tôi nên giữ cam kết từ các mối quan hệ truyền thống này như một phần của chính sách tái cân bằng ở châu Á và có thể giảm bớt trọng tâm trong quan hệ của mình, ví dụ, ở Trung Đông như một phần của tái cân bằng của chúng tôi đối với châu Á.

Nhưng điều khác biệt ngày hôm nay là cảm giác, một có thể cảm nhận được cảm giác ở đây tại Washington rằng chúng tôi có một cơ hội chưa từng có và một trách nhiệm để mở rộng quan hệ đối tác và hợp tác với các nước Đông Nam Á. Khả năng này chưa tồn tại vài năm trước đây, dựa trên cơ sở song phương hoặc cấu trúc khu vực đa phương ngày càng hoàn thiện.

Trong sáu tháng qua, trên thực tế, tôi đã có cơ hội và đặc ân thăm sáu nước là thành viên của ASEAN. Ngoài Singapore, tôi đã đến các Philippin, Việt Nam, Malaysia, Thái Lan và Miến Điện. Mặc dù hoàn cảnh của mỗi nước khác nhau, có một điểm chung là họ đều mong muốn tăng cường và mở rộng quan hệ với Mỹ.

Và có vẻ như đối với tôi, chúng ta đều có một mong muốn giống nhau từ quan điểm của chúng tôi. Câu hỏi tôi nghĩ chúng ta ở Mỹ phải tự hỏi bản thân chúng ta là liệu chúng ta sẽ có những đánh giá tốt, tầm nhìn và quyết tâm để làm những gì là cần thiết để nắm bắt các cơ hội lịch sử và cơ hội mang lại lợi ích chung của thời điểm này.

Tôi tin rằng chúng tôi đã bắt đầu thực hiện điều đó. Tôi nghĩ đây là lần đầu tiên, nhờ tài lãnh đạo ngoại giao hiếm có Ngoại trưởng Hillary Clinton, và người trợ lý phụ trách Đông Á -Thái Bình Dương, Kurt Campbell, người mà tôi biết đã phát biểu ở đây ngày hôm qua. Ngoại trưởng và Kurt đã duy trì những cuộc công du cũng như cam kết cá nhân cao độ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương và đặc biệt là ở Đông Nam Á. Bất cứ ai tiếp bước họ trong năm tới sẽ cần phải noi gương họ và phải chắc chắn rằng những ngày các quan chức cấp cao của Mỹ bỏ qua hội nghị thượng đỉnh trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã là quá khứ.

Nhưng đó là phần dễ dàng. Phần khó khăn hơn là đưa ra các quyết định sáng suốt ở đây, Washington, là cần thiết để xây dựng các liên minh này và duy trì cam chính trị và kinh tế của chúng tôi tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Đối với tôi, đó cũng có nghĩa là làm một số thứ ngay ở đây. Nó có nghĩa là tái cấu trúc lại hệ thống tài chính: hay nói cách khác, thông qua chương trình giảm nợ. Và điều đó có nghĩa là tránh cắt giảm ngân sách tự động, mà là một từ tôi tin tưởng quý vị đã tự được xác định - (cười) - một thuật ngữ trong một nhóm nhỏ các nhà quản lý tài chính ở đây tại Washington. Và đó, tiếp theo, có nghĩa là chúng ta sẽ tiếp tục có khả năng đầu tư vào tiềm lực quân sự và vị thế sức mạnh cần thiết trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương năng động và đầy biến đổi.

Nó cũng có nghĩa là, đưa ra chương trình nghị sự về thương mại đầy tham vọng và dài hơi cho khu vực. Mọi người thường nói rằng chương trình nghị sự của châu Á là thương mại, nhưng tôi sẽ cho quý vị biết rằng đối với hiệp định thương mại tự do, có lẽ với một ngoại lệ, Mỹ đã bỏ qua việc ký kết thương mại trong một vài năm qua. Điều này đang thay đổi bằng cuộc đàm phán hiệp định Xuyên Thái Bình Dương, tôi hy vọng rằng đây là một bước đi đúng hướng mới. Tôi nghĩ rằng chúng ta cần thúc đấy nó càng nhanh càng tốt.

Nhưng tôi tin rằng chúng ta cũng cần phải thực hiện các bước khác táo bạo hơn ngoài TPP. Ví dụ, bởi vì Miến Điện cuối cùng bắt đầu mở cửa và cải cách nên đây là lúc để đưa các ý tưởng của mộtThỏa thuận thương mại tự do Mỹ-ASEAN lên trên bàn và bắt đầu thảo luận tích cực với các thành viên của ASEAN.

Như quý vị cũng biết, ASEAN đã có FTA với các nước khác, Trung Quốc, Ấn Độ

và Úc. ASEAN, từ quan điểm của Mỹ, là một thị trường lớn với dân số khoảng 600 triệu người và là một nền kinh tế tập thể lớn thứ ba ở châu Á. ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ tư của Mỹ trên thế giới, với tiềm năng tăng trưởng rất lớn.

Việc hoàn thành một FTA giữa Mỹ-ASEAN đương nhiên sẽ không diễn ra trong một sớm một chiều. Để bắt đầu, cần có bước tiến đáng kể đối với cải cách dân chủ và kinh tế ở Miến Điện. Tuy nhiên, cách tốt hơn để tất cả mọi người trong khu vực và ngoài khu vực tiếp tục đầu tư là giữ Miến Điện đi đúng hướng và chắc chắn rằng hiệp định tự do thương mại ASEAN-Mỹ sẽ là một trong những lợi ích khi thực hiện điều đó? Và một lần nữa, nó sẽ là lợi ích chung của mọi người.

Tôi nghĩ sự tham gia sâu sắc của Mỹ ở Đông Nam Á, cũng là nhu cầu một địa chính trị. Và bây giờ tôi đi đến vấn đề trọng tâm của Hội thảo Biển Đông.

Cách đây một thập kỷ,khi các chuyên gia an ninh khi được triệu tập để nói chuyện về tương lai của châu Á thì cuộc thảo luận không tránh khỏi việc bị chi phối bởi hai điểm nóng là bán đảo Triều Tiên và Đài Loan. Ngày nay, cuộc thảo luận vẫn còn bao gồm hai vấn đề trên nhưng nó chắc chắn đã mở rộng về phía nam.

Mỹ, như quý vị cũng biết, không phải là một bên tranh chấp chính thức trong tranh chấp Biển Đông. Nhưng những gì xảy ra tại Biển Đông có ý nghĩa rất lớn đối với chúng tôi, không chỉ vì hơn thương mại qua các vùng biển của Biển Đông chiếm 1,2 nghìn tỷ USD thương mại Mỹ hàng năm hoặc do cam kết lâu dài duy trì tự do hàng hải và quyền tiếp cận với hàng hải cho tất cả mọi người, đó ngẫu nhiên là một trong những lý do tại sao khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã tăng trưởng kinh tế bùng nổ và tiến bộ trong các thập kỷ kể từ sau chiến tranh thế giới thứ II.

Không, những gì sẽ xảy ra ở Mỹ - những gì xảy ra tại Biển Đông cũng có ý nghĩa đối với Mỹ bởi vì Biển Đông và cách thức ứng phó các xung đột là một phép thử liệu địa chính trị của một châu Á đang lên sẽ được xác định bằng sự hợp tác đôi bên cùng có lợi hay sự cạnh tranh mất-còn. Cách chúng ta xử lý những xung đột sẽ là một thử nghiệm liệu các nước trong khu vực có thể giải quyết những bất đồng một cách hòa bình theo luật pháp quốc tế hay thông qua cưỡng chế và vũ lực.

Và quan trọng nhất, tôi nghĩ rằng, trong bức tranh lớn đối với Mỹ, khu vực và thế giới, Biển Đông và các cuộc xung đột đang diễn ra là một phép thử đặc biệt và rất quan trọng đối với bản thân Trung Quốc, điều đó cho thấy quan hệ của Bắc Kinh với các nước láng giềng như thế nào khi Trung Quốc phát triển mạnh mẽ hơn, và với một ý nghĩa lớn hơn, Trung Quốc sẽ trở thành loại cường quốc thế nào trong thế kỷ này.

Tuy nhiên, vấn đề Biển Đông cơ bản không phải là về quan hệ Mỹ-Trung Quốc. Đó là về mối quan hệ của Trung Quốc với các nước láng giềng. Nhưng hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ không tránh khỏi ảnh hưởng đến mối quan hệ của Trung Quốc với Mỹ và cũng như với các nước khác trên thế giới. Và về khía cạnh này, những gì xảy ra trong vùng biển Đông đều liên quan đến mọi người.

Khi Trung Quốc theo đuổi chính sách độc đoán hoặc thiếu cơ sở rõ ràng về luật pháp quốc tế tại Biển Đông thì điều này đương nhiên tạo ra sự mất lòng tin, làm tăng nguy cơ tính toán sai lầm và tôi e rằng Trung Quốc sẽ bị cô lập nhiều hơn trong khu vực và trên thế giới. Đó là không phải là một kết quả mà bất cứ ai trong chúng ta muốn, ít nhất là Mỹ.

Ngược lại, Mỹ đã thường xuyên hỗ trợ Trung Quốc hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và hệ thống quốc tế trong nhiều thập kỉ. Chúng tôi tin rằng điều đó tốt cho Mỹ, tốt cho Trung Quốc và cho thế giới. Mỹ không tìm cách kiềm chế Trung Quốc. Chúng tôi không cần phải làm như vậy. Như bộ trưởng ngoại giao của Singapore gần đây cho biết, thế kỷ 21 là đủ lớn cho một Trung Quốc hùng mạnh và thịnh vượng và một nước Mỹ mạnh mẽ và thịnh vượng. Đó là lý do tại sao tôi tin rằng các quốc gia trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương không nên cảm thấy gượng ép để lựa chọn giữa Washington và Bắc Kinh, nhưng việc họ có cảm thấy ép buộc khi thực hiện sự lựa chọn đó hay không phụ thuộc vào cách các cường quốc hành xử.

Và mặc dù các quan sát và những gì tôi có là sự thật, khi chúng ta tập trung ngày hôm nay, tôi phải nói rằng tôi đang lo ngại về hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông. Tôi tin rằng Trung Quốc đang đẩy khu vực theo hướng sai và gửi một thông điệp gây thất vọng về loại cường quốc mà Trung Quốc sẽ trở thành và Trung Quốc sẽ quan hệ với các nước láng giềng gần gũi nhất như thế nào. Việc yêu sách của Trung Quốc có phạm vi quá rộng và tính chất, cơ sở yêu sách này đang tạo ra một bầu không khí lo âu và thúc đẩy các bên khác, gần đây nhất Việt Nam và Philipin, củng cố các yêu sách của mình. Hãy nhìn vào tin tức từ Việt Nam và Bắc Kinh trên các phương tiện truyền thông trong vài ngày qua. Tôi nghĩ sự mập mờ, ví dụ về cơ sở của đường 9 đoạn Trung Quốc đặc biệt đáng lo ngại.

Không nhất thiết phải theo cách này. Trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đã có những tiền lệ quan trọng và đầy triển vọng về giải quyết hòa bình các tranh chấp khác nhau theo luật pháp quốc tế. Và ở đây tôi xin trích dẫn việc giải quyết những tranh chấp tương đối gay gắt giữa Malaysia và Singapore và giữa Malaysia và Indonesia. Thay vì trở thành một vùng chiến sự vì sự cạnh tranh giống thế kỷ 19, Biển Đông nên trở thành một mô hình về hợp tác thế kỉ 21 và phát triển chung cùng có lợi nguồn tài nguyên tự nhiên khổng lồ dưới đáy biển theo cách có lợi cho người dân trong khu vực và trên thế giới.

Tuy nhiên, để làm như vậy, tôi nghĩ tất cả các bên cần phải công nhận một số nguyên tắc. Đầu tiên, do các yêu sách về chủ quyền quốc gia theo nghĩa đen chồng chéo nhau nên các cuộc đàm phán song phương sẽ không giải quyết được tất cả các bất đồng lớn. Chỉ bằng cách làm việc chung trong bối cảnh đa phương, và tốt hơn hết là dưới sự trung gian hòa giải của bên thứ ba hoặc trọng tài viên, thì những thách thức của Biển Đông mới có thể được giải quyết một cách công bằng và toàn diện.

Bước quan trọng đầu tiên rõ mà ASEAN và Trung Quốc cần thực hiện nhanh nhất có thể là thỏa thuận bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông . Và tôi chắc chắn rằng quý vị đã thảo luận về điều đó ở đây trong 24 giờ qua.

Thứ hai, tất cả các bên cần phải thừa nhận rằng bất đồng về Biển Đông chỉ có thể

giải quyết trên cơ sở luật pháp quốc tế. Ngược lại, cố gắng giải quyết những bất đồng trên cơ sở yêu sách lịch sử, sẽ là một công thức cho những bất đồng bất tận, căng thẳng tiếp diễn và nguy cơ bạo lực thực sự.

Thứ ba, chúng ta biết trong lịch sử các tranh chấp lãnh thổ thường rất nhạy cảm đối với người dân của các nước liên quan. Và chính vì lý do này, các quốc gia được tham gia vào các tranh chấp ngày nay cần phải kiềm chế và tiết chế. Về mặt này, tôi phải nói rằng sự xuống thang gần đây giữa Trung Quốc và Philippin tại bãi cạn Scarborough là một sự tiến triển đầy triển vọng.

Thứ tư, mặc dù tranh chấp trên Biển Đông rõ ràng mang tính quốc tế, nhưng về bản chất, việc giải quyết tranh chấp sẽ yêu cầu phải có sự cải cách trong nước. Ví dụ, tôi rất quan tâm đến báo cáo của Nhóm Khủng Hoảng Quốc tế. Trong đó nói rằng rất nhiều các thực thể trong Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Quốc được trao trách nhiệm đối với Biển Đông. Do đó, rất khó để xác định ai là người chịu trách nhiệm, điều này khiến cho việc quản lý các tranh chấp và quá trình xuống thang xung đột trở nên khó khăn hơn.

Nhưng không phải chỉ có Trung Quốc cần phải thực hiện một số cải cách trong nước. Mỹ cũng cần thực hiện một cải cách lớn trong nước với những tác động quốc tế. Rõ ràng điều đầu tiên là điều mà tôi đã đề cập trước đó, đó chính việc tái thiết lại hệ thống tài chính, tôi sẽ không lặp lại nữa. Tuy nhiên, điều thứ hai là sự cấp thiết của việc Hoa Kỳ phê chuẩn Công ước Luật Biển. Đây là một trong những thông điệp trọng tâm, không đáng ngạc nhiên, tôi đã giảm các chuyến du hành riêng tới khu vực Đông Nam Á trong năm nay. Và tôi hy vọng rằng vào cuối năm 2012, Thượng viện Hoa Kỳ cuối cùng sẽ bỏ phiếu và phê chuẩn Công ước này.

Tôi sẽ cho quý vị biết rằng, theo quan điểm của tôi, trong Thượng viện đã có thừa số phiếu để phê chuẩn công ước này. Nhưng điều đáng nói là – giới lãnh đạo của Thượng viện đã quyết định tổ chức cuộc bỏ phiếu này sau cuộc bầu cử - một số đồng nghiệp của tôi, những người vẫn còn cực lực phản đối Công ước Luật Biển sẽ sử dụng các thao tác thủ tục để ngăn chặn Thượng viện đưa nó lên và làm việc theo ý chí của nó. Tôi hy vọng điều đó không xảy ra.

Cuối cùng, cho phép tôi kết thúc bằng việc đưa ra một dự đoán. Như quý vị đã biết, chiến dịch vận động tranh cử tổng thống Mỹ đang nóng lên. Cuộc thăm dò cho thấy đây sẽ là một cuộc bầu cử ngang tài ngang sức, và tôi đồng ý với điều đó. Cũng như quý vị đã thấy trong khi ở đây và có lẽ trong khi quý vị đang ở nhà ,tôi không có nghi ngờ rằng trong những tháng tới chiến dịch này sẽ tạo ra, nếu không có gì khác, vô số, trong thuật ngữ của Shakespeare, "âm thanh và cuồng nộ." - (cười) – Nhưng hy vọng một chút ánh sáng, tôi tự tin sẽ có âm thanh và cuồng nộ.

Nhưng đây là dự đoán của tôi mà tôi tin là có liên quan đến cuộc thảo luận của chúng ta sáng nay. Khi chiến dịch tranh cử kết thúc, bất kể ứng cử viên trở thành người chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống tháng 11 thì hướng cơ bản của chính sách đối ngoại của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đương nhiên bao gồm cả khu vực Đông Nam châu Á và Biển Đông sẽ vẫn không thay đổi. Nói cách khác, có là một sự đồng thuận thực sự về khía cạnh đặc biệt quan trọng này của chính sách đối ngoại của Mỹ.

Tầm quan trọng của khu vực Đông Nam Á và Biển Đông sẽ tiếp tục được công nhận ở cấp cao nhất của chính phủ Mỹ. Và tôi hy vọng và tin tưởng rằng những hành động mạnh mẽ để thực hiện mà sự đồng thuận chính sách đó cũng sẽ được chính phủ Mỹ thực hiện trong những năm tới, bất kể đảng nào có đặc quyền lãnh đạo. Cảm ơn quý vị rất nhiều. (Vỗ tay)

PHẦN HỎI ĐÁP

MR. : (Không thể nghe được)

MR. : Tôi nghĩ rằng tôi sẽ, yeah.

MR. : Cảm ơn Thượng nghị sĩ Lieberman, cảm ơn ngài nhiều vì đã đưa ra

các quan điểm tổng quan gợi mở về tình hình tại châu Á, bao gồm cả Biển Biển Đông, và vai trò của Mỹ trong khu vực. Tôi nghĩ rằng ngài đã đưa ra rất nhiều điều đáng suy nghĩ, do đó chúng tôi cảm kích điều đó.

Ngài Thượng nghị sĩ đã vui lòng đồng ý trả lời một số câu hỏi. Vì vậy, nếu quý vị có một câu hỏi, xin vui lòng tự giới thiệu. Cố găng hỏi các câu hỏi ngắn. Không không đưa ra câu hỏi dài dòng. Và ngay bât giờ chúng ta bắt đầu. Cảm ơn quý vị.

MR. : Đại sứ Cuisia.

Q: Tôi là Jose Cuisia, đại sứ Philippin.

MR. : Rấy vui được gặp ngài, Đại sứ.

Q: Cảm ơn ngài vì bài trình bày rất sâu sắc, Thượng nghị sĩ Lieberman. Trong buổi thảo luận ngày hôm qua, hai diễn giả đã bày tỏ lo ngại rằng các cuộc thảo luận liên quan đến bộ quy tắc ứng xử đã không được tiếp diễn như chúng tôi hy vọng và có một mối lo ngại rằng bộ quy tắc ứng xử sẽ tương tự như tuyên bố ưng xử được ký kết vào năm 2002. Nếu trường hợp đó xảy ra thì những người đang tìm kiếm giải pháp giải quyết xung đột bằng cách dựa vào việc thúc đẩy một bộ quy tắc ứng xử giữa ASEAN và Trung Quốc tất nhiên sẽ rất thất vọng.

Vậy sau đó điều đó sẽ diễn ra như thế nào, bởi vì nếu không có một bộ quy tắc ứng xử, thì căng thẳng sẽ tiếp tục xảy ra, và cuộc đối đầu trong thực tế có thể dẫn đến một số -hy vọng không- một số cuộc đụng độ trong tương lai.

MR. : (Tắt mic.)

TNS. Lieberman: Đó là một câu hỏi rất quan trọng. Vì vậy, để nói rằng rõ ràng, mà tôi đề cập đến trong bài phát biểu của tôi, có các yêu sách khác nhau đang được khẳng định ở đây, cả về chủ quyền đối với các phần cụ thể của Biển Đông cũng như các cơ sở pháp lý hay lịch sử cho các yêu sách này. Và một lần nữa, chúng tôi đã nhìn thấy điều này diễn ra ngay trong tuần trước với sự quả quyết của Trung Quốc khi Việt Nam thông qua nội luật trong đó khẳng định một số quyền; Trung Quốc bây giờ, như các quý vị thấy, thông qua - (không nghe được) - đưa ra hồ sơ dự thầu thăm dò, phát triển ở các vùng tiếp giáp với Việt Nam dường như chắc chắn, theo quy định của pháp luật quốc tế, vùng đó nằm trong phạm vi lãnh thổ của Việt Nam.

Vì vậy, có bất đồng thực sự ở đây. Và tôi sẽ nói ngắn gọn rằng có hai các loại bất đồng. Bất đồng ngay trước mắt và cấp bách và có khả năng bùng nổ nhất là các yêu sách chủ quyền rõ ràng có liên quan đến với tiềm năng nguồn tài nguyên thiên nhiên to lớn dưới biển và sự thịnh vượng sẽ đến từ nó.

Ngoài ra còn có vấn đề liên quan, quan trọng đối với chúng tôi vì chúng tôi không phải là bên tranh chấp về vấn đề, đó là nếu những yêu sách không được giải quyết một cách hòa bình theo luật pháp quốc tế thì những gì chúng tôi lo lắng về việc chúng được giải quyết thông qua đe dọa hoặc cưỡng ép, nói một cách thẳng thắn, chúng tôi lo lắng về việc liệu sẽ có một sự cám dỗ để bắt đầu thỏa hiệp tự do hàng hải, điều mà chúng tôi coi là một cuộc tấn công trực tiếp Mỹ.

Vì vậy, chúng tôi đã có một chặng đường dài để đến đây. Đó là lý do tại sao tôi nói sự xuống thang của cuộc xung đột tại bãi cạn Scarborough là rất quan trọng. Và tôi đánh giá cao việc Tổng thống Aquino đã thực sự phản ứng - Tôi nghĩ rằng ông ấy đã xử lý nó một cách rất cân bằng và nhạy cảm.

Bộ quy tắc ứng xử cho chúng ta một cơ hội, theo một nghĩa nào đó, lấy sự xuống thang gần đây nhất liên quan đến Bãi cạn Scarborough và cố gắng giữ tinh thần đó – trái lại, đừng lấy các yêu sách mang tính công kích của Trung Quốc liên quan đến chủ quyền của Việt Nam- và đưa tinh thần đó vào bộ quy tắc. Và chúng ta không thể mong đợi quá nhiều vào điều này. Nhưng nếu đó chỉ là lời nói suông thì sẽ rất đáng thất vọng, và nó sẽ là bước lùi.

Vậy chúng ta đang tìm kiếm cái gì? Chúng tôi đang tìm kiếm, tôi nghĩ rằng, các điều khoản chung nhất, cho cái mà tôi gọi là một khuôn khổ dựa trên luật lệ để giải quyết những bất đồng này. Bây giờ, hy vọng rằng - và điều này là một sự khác biệt cơ bản - chúng tôi và hầu hết các đồng minh của chúng tôi trong Biển Đông và ASEAN điều này được quyết định đa phương. Và tôi đã giải thích lý do tại sao tôi nghĩ rằng đó là sự thật. Thứ hai, chúng tôi muốn nó được quyết định theo luật pháp quốc tế, lý tưởng nhất trình lên một bên thứ ba để phân xử và quyết định.

Và như vậy điều mà tôi hy vọng bộ quy tắc ứng xử tạo ra một lời nói đầu dẫn chúng ta đến điểm đó. Bây giờ, bạn bè của tôi ở Bộ Ngoại giao Mỹ đã lạc quan hơn một chút so với các diễn giả mà ngài đã đề cập đến ngày hôm qua. Họ nghĩ rằng có một số tiến bộ được thực hiện. Nhưng có thể họ có trách nhiệm ngoại giao phải lạc quan, do đó, tất nhiên chúng ta sẽ thấy - (cười) - khi điều đó- Khi điều đó - khi cuộc họp diễn ra tại Campuchia vào tháng tới. Cảm ơn ngài.

MR. :.Xin mời

Q: Cảm ơn Thượng nghị sĩ. Tên tôi là Donghui Yu đến từ Thông tấn xã Trung Quốc. Ngày hôm qua tại Heritage Foundation, đại biểu Randy Forbes lập luận rằng lập luận rằng Mỹ nên nhìn nhận một cách trung thực và thẳng thắn rằng Trung Quốc là một đối thủ cạnh tranh. Và ngài nói rằng Biển Đông có ý nghĩa chính trị đối với Mỹ. Vậy ngài có nghĩ rằng sẽ không thể tránh khỏi việc hai nước có một cuộc cạnh tranh chiến lược tại Biển Đông? Ngài luôn luôn lập luận rằng Mỹ và Trung Quốc có thể tránh chiến tranh năng lượng thông qua hợp tác và đối thoại.

TNS. Lieberman: Đúng

Q: Nhưng làm thế nào để quản lý cuộc cạnh tranh chiến lược Biển Đông để ngăn chặn cạnh tranh từ leo thang trở thành xung đột trong tương lai giữa hai nước? Cảm ơn ngài.

SEN. Lieberman: Yeah. Đó là một câu hỏi thực sự quan trọng, và tôi đánh giá cao câu hỏi này. Anh nói đúng. Tôi là một người lạc quan - (cười) - về quan hệ Mỹ-Trung Quốc trong thế kỷ này, đó không chỉ là vấn đề thiện chí mà là một vấn đề thực tiễn và tôi nghĩ thực tế. Tôi nghĩ rằng cả hai cường quốc này đều có lợi ích quốc gia trong việc duy trì mối quan hệ đôi bên cùng có lợi và điều đó sẽ xảy ra. Bây giờ, đôi khi những điều khéo léo và hợp lý lại không xảy ra giữa hai nước, và họ kết thúc trong các cuộc xung đột. Nhưng tôi không nghĩ rằng nó sẽ xảy ra với chúng ta.

Tuy nhiên, nếu có những cách rõ ràng mà Trung Quốc và Mỹ sẽ cạnh tranh thì tôi nghĩ rằng đó chắc chắn là một cuộc cạnh tranh hòa bình và tôn trọng lẫn nhau. Ý tôi là, chúng tôi cạnh tranh với một số - (cười) –đồng minh thân cận nhất của chúng tôi. Chúng tôi có cuộc cạnh tranh căng thẳng- tôi đang nói về cuộc cạnh tranh kinh doanh - ví dụ với một số đồng minh thân cận nhất của chúng tôi ở châu Âu. Và họ khơi dậy cảm xúc tuyệt vời. Họ đưa ra, ví dụ, những điều khoản "Mua hàng Mỹ" thông qua Quốc hội. Và họ thường không liên quan đến Trung Quốc như quý vị nghĩ. Họ có liên quan thực sự đến các công ty quốc phòng châu Âu đang cạnh tranh với sự hỗ trợ của chính phủ các nước châu Âu cho hợp đồng của Mỹ. Tôi trích dẫn điều đó như là một ví dụ về cạnh tranh.

Nhưng hãy nhìn, tôi càng tham gia nhiều vào các vấn đề chính sách đối ngoại, dường như với tôi - và tôi biết điều này là đơn giản - dường như tôi càng tin rằng chúng ta có thể học hỏi từ các mối quan hệ cá nhân làm thế nào để có mối quan hệ tốt giữa các quốc gia. Và điều này bắt đầu với - Đủ tôn trọng lẫn nhau và tin tưởng là trung thực với nhau và không để rơi vào những thay đổi bất thường của ngôn ngữ ngoại giao, nhưng rất thẳng thắn với bạn bè của chúng tôi ở Trung Quốc, nói về các lợi ích của họ ở Biển Đông, để giải thích lý do-những lợi ích của chúng tôi là gì và lợi ích của các đồng minh của chúng tôi là gì để xem liệu chúng ta không thể tìm thấy một cách để giải quyết những vấn đề này theo cách đôi bên cùng có lợi hay không. Nếu ước lượng, Chúa biết và tôi hiểu nhu cầu rất cấp bách của Trung Quốc đối với năng lượng, trong một đất nước rất lớn - nhưng nếu dự đoán về lượng khí thực tế và dự trữ dầu dưới Biển Đông là chính xác, nếu tôi có thể sử dụng một câu nói thân mật Mỹ thì có đủ cho mọi người. Ở đó có rất nhiều. Và thay vì tham gia một cuộc chiến ở đó, chúng ta nên tìm ra một cách mà tất cả chúng ta đều có thể hưởng lợi từ nó.

Vì vậy, tôi xin lỗi nếu điều đó là chung chung, nhưng tôi thực sự nghĩ nó theo cách đó. Chúng tôi đã phải tôn trọng những ưu tiên trong nước của nhau, cũng thừa nhận rằng nếu chúng ta tham gia vào một cuộc xung đột thực sự thì điều đó không chỉ bất lợi cho thế giới, nhưng nó còn bất lợi với mỗi nước.

Yeah.

MR. Larry.

SEN. Lieberman: vâng

Q: tôi là Larry Niksch đến từ CSIS. Thượng Nghị sỹ Lieberman, hiện nay Hoa Kỳ đã bắt đầu cho cung cấp một số thiết bị hải quân cho Philippines.

TNS. LIEBERMAN: Vâng

Q: Và ít nhất một đồng minh của Mỹ là Hàn Quốc đang đàm phán với Philippines trong việc bán máy bay chiến đấu phản lực. Vậy có bất kỳ một kế hoạch hay cuộc thảo luận của Ủy ban Quân vụ Thượng viện xem xét kỹ hơn vấn đề này, nhìn vào đó cho thấy sự hiện diện của hải quân Philippines có thể duy trì ở biển phía Nam Trung Quốc, và ngoài ra, các loại viện trợ quân sự và chương trình đào tạo của Mỹ có thể hỗ trợ cho Philippines duy trì được sự hiện diện thích hợp ở đó hay không?

TNS. LIEBERMAN: Câu trả lời là có. Như tôi đã nói và như anh biết, mặc dù - Ủy ban quân vụ trong Quốc hội thực sự yêu cầu CSIS tiến hành nghiên cứu và đưa ra một số khuyến nghị về lực lượng quân đội Mỹ và chính sách chiến lược tổng thể của chúng ta trong khu vực, mặc dù, mục đích chính của cuộc thảo luận là tập trung giải quyết các vấn đề về Nhật Bản.

Nhưng không có vấn đề gì cho việc chúng tôi tham gia thảo luận với Ủy ban quân vụ Philippines về vấn đề họ đang quan tâm, với mục đích cung cấp cho họ một số khả năng phòng thủ. Ý tôi là, rõ ràng chúng ta có một hiệp ước phòng thủ quan trọng với Philippines. Đó là sự thực. Và đây là một nghĩa vụ quốc gia mà chúng ta cần thực hiện. Nhưng hy vọng của chúng tôi là có thể tăng cường khả năng tự bảo vệ của Philippines như vậy không ai có thể mạo hiểm lợi dụng điểm yếu của Philippines. Và rất nhiều trong số những vấn đề này là giúp cho Philippines có nhận thức tốt hơn về môi trường biển.

Tôi phải nói với anh rằng khi anh nhìn vào vấn đề này, điều đó không phải không có cơ sở thực tế để lo lắng về nó, ví dụ với Trung Quốc. Hôm nay, khi tôi nhớ lại, - nơi đó là Vance, kiểm tra cho tôi về điều này- viện trợ cho Philippines vào khoảng 30 triệu USD/năm.

Bây giờ, đó là một con số rất nhỏ. Bởi vậy, mặc dù vậy, tôi xin nói rằng, câu hỏi của anh đã gợi lên phản ứng này – đó là một phần việc của tái cân bằng chính sách đối ngoại của Mỹ đối với khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, như anh thấy – và tôi sẽ nói ngắn gọn – và Bộ trưởng Panetta đã phát biểu điều này rất rõ ràng và cụ thể với phía Philippines, tại Shangri-La – nơi mà chúng ta đang cam kết tăng sự hiện diện của hải quân chúng ta tại Châu Áo Thái Bình Dương nhiều hơn so với trước đây. Và chúng tôi - chúng tôi đã ký kết một số hiệp định không dành cho các căn cứ, căn cứ Mỹ trong khu vực – điều đó sẽ không xảy ra nữa. Và những gì anh có thể thấy, tôi nghĩ - và điều này phụ thuộc vào các quan hệ song phương, chúng tôi có với các đồng minh của chúng tôi - anh sẽ thấy sự hiện diện của quân đội Mỹ quay trở lại nhiều hơn, chẳng hạn như đã bắt đầu ở phía bắc của Úc.

Như bạn đã biết, bốn tàu chiến duyên hải, sẽ là loại đóng quân ở Singapore vào cuối thập kỷ này. Và làm thế nào tiếp tục mở rộng sự hiện diện này, phụ thuộc, rõ ràng, trong trường hợp đầu tiên vào các nước trong khu vực. Nhưng tôi nghĩ rằng - Tôi hy vọng và tôi tin rằng tôi đang nói hộ quan điểm của cả Ủy ban Quân vụ Thượng viện rằng chúng ta sẽ có trách nhiệm, trong khả năng của chúng ta, để đáp ứng các mong muốn của các đồng minh của chúng ta trong khu vực, bao gồm cả trong ASEAN, để làm việc với họ nhàm đảm bảo an ninh của chính họ.

MR. Vâng, và câu hỏi cuối cùng. Có lẽ chúng ta nên để cho một nhà báo đặt câu hỏi.

TNS. LIEBERMAN: Đó đương nhiên không phải là lựa chọn của tôi. (cười). không, tôi đùa đấy. Cứ tiếp tục đi.

Q: tôi là… đến từ Đài Tiếng nói Việt Nam. Tôi có 1 câu hỏi cho ông

SEN. LIEBERMAN: : vâng

Q. Ông có đề cập đến bất kỳ sự nhầm lẫn nào trong khu vực biển Đông sẽ dẫn đến sự leo thang căng thẳng, có thể dẫn đến bạo lực ở khu vực này. Ông có ý kiến gì về sự kiện công ty dầu Trung Quốc kêu gọi đấu thầu … trong vùng đặc quyền kinh tế ….của Việt Nam?

TNS. LIEBERMAN: Đây không phải là một loại hoạt động mà một người, theo nghĩa đen bắt buộc phải làm. Ý tôi là, tôi luôn nói rằng khi mọi người nói hay làm việc gì, có thể đó là một lời giải thích chính trị, nhưng dù sao bạn cũng hiểu việc đó theo nghĩa đen bởi vì những người nói điều đó có thể thực sự nghĩ như vậy

Và nếu bạn bắt đầu suy đoán phía sau lời tuyên bố này, bạn thực sự không có cơ sở, bởi vì tốt hơn là bạn nên tin vào tuyên bố đó. Nhưng trên khuôn diện đó, đấy là, theo quan điểm của tôi, một yêu sách chưa có tiền lệ, không có cơ sở mằm trong vùng đặc quyền kinh tế được công nhận của Việt Nam. Và như bạn biết, đó là một số toan tính - mà hoặc là PLA hoặc lực lượng khác của Bộ Ngoại giao ở Bắc Kinh đã yêu cầu các công ty dầu quốc gia Trung Quốc đưa ra tuyên bố này như là một phần của 1 hình thức đấu tranh đang diễn ra hiện nay. Nhưng tuyên bố này khá khiêu khích, và nhằm đáp lại việc Việt Nam khẳng định các quyền pháp lý bằng quy định của pháp luật trong nước vào tuần trước

Nhưng đây chính là những vấn đề cần chấm dứt ngay vì khi những khiêu khích bành trướng này tiếp diễn, như tôi đã nói trong bài phát biểu của mình, bất kể trước những suy đoán của người dân về đâu là động lực thực sự của những ý kiến này – và đối với trường hợp của Trung Quốc, thì có lẽ các tuyên bố này nhằm phục vụ các chính sách đối nội nhiều hơn là đối ngoại, thì vấn là các tuyên bố khá khiêu khích. Và tất cả các bên bắt buộc phải dừng lại và đó là lý do tại sao vấn đề này đánh dấu một kết thúc tốt đẹp, lý do tại sao chúng ta quay trở lại với câu hỏi đầu tiên, điều thực sự quan trọng là thảo luận của ASEAN về Bộ Quy tắc ứng xử Biển Đông cần tạo ra các nội dung thực chất làm giảm các căng thẳng leo thang từ các tranh chấp trong khu vực trước khi chúng gây ra sự hiểu nhầm; giảm những rủi ro từ việc đưa ra các tuyên bố yếu sách mà có thể thực sự gây ra bạo lực; tạo tiền đề cho các hình thức hợp tác, hòa bình và lợi ích chung phù hợp với luật quốc tế.. Không ai có lợi ích khi bạo lực xảy ra và chắc chắn đây cũng không phải là lợi ích của một quốc gia có thượng viện mà tôi rất vinh dự được là thành viên.

Cảm ơn các bạn rất nhiều. Những câu hỏi của các bạn rất thú vị, cảm ơn các bạn vì đã tham dự buổi hội thảo ngày hôm nay. Chúc các bạn một ngày tốt lành (Vỗ tay)

MR. Ngài Lieberman, cảm ơn ông rất nhiều. Buổi nói chuyện của chúng ta bây giờ sẽ chuyển sang phần trọng tâm, đó là trao đổi về cân bằng, chúng ta sẽ chuyển sang thảo luận về những biện pháp có thể để làm giảm nhiệt ở Biển Đông, có thể là những giải pháp, phương cách để vận dụng các khuôn khổ pháp luật và những biện pháp khác để xây dựng lòng tin. Ngài đã cho chúng tôi một bài phát biểu dẫn đề tuyệt vời để chúng tôi tiếp tục thảo luận. Cảm ơn các ngài rất nhiều.

KẾT THÚC

Dịch: Quách Huyền; Hiệu đính: Lan Anh
Nguồn: CSIS: Sen. Lieberman's Keynote Address

VỀ CUỘC HỘI THẢO AN NINH BIỂN ĐÔNG CSIS 2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 11/7/2012
TTXVN (Oasinhtơn 7/7)

Trong hai ngày 27-28/6 vừa qua, Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) Mỹ đã tổ chức cuộc hội thảo hàng năm về vấn đề Biển Đông, với sự tham gia của nhiều học giả quốc tế và cả chính khách Mỹ. Nhà nghiên cứu Gregorv Associate thuộc Chương trình Đông Nam Á của CSIS đã có bài viết tổng kết trên trang web của tổ chức này ngày 5/7. Sau đây là nội dung bài viết:

Đúng như dự kiến, các cuộc thảo luận, có tiêu đề “Biển Đông và châu Á – Thái Bình Dương đang thay đổi: Tìm kiếm lựa chọn cho việc quản lý tranh chấp,” chứng kiến sự căng thẳng giữa các diễn giả. Điều này đặc biệt đúng giữa các diễn giả Trung Quốc với Philíppin và Trung Quốc với Việt Nam. Nhưng sau một ngày rưỡi thảo luận gay gắt, một thông điệp rõ ràng là: sự mập mờ trong tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và biển tại Biển Đông không phục vụ lợi ích của bất kỳ ai.

Trong khi những người tham gia có xu hướng xem xét lại các vấn đề chủ quyền và đưa ra những ý tưởng nhằm quản lý chứ không phải là giải quyết tranh chấp, hội thảo năm nay thể hiện rõ những điểm khác so với năm trước. Có thể cảm nhận được sự căng thẳng trong phòng hội thảo khi ba chuyên gia Trung Quốc tìm cách bảo vệ lập trường của Bắc Kinh. Một điều quan trọng cần ghi nhận là người ta chưa biết rõ lập trường chính xác của Trung Quốc là thế nào. Những người tham dự hội nghị đã có những phát biếu mạnh mẽ cho thấy rằng không ai mong muốn các tuyên bố mơ hồ về chính sách và giải trình của Trung Quốc.

Những gì họ thể hiện chính là sự bực tức đã lan truyền khắp các cộng đồng chính sách tại Oasinhtơn và châu Á. Đó không chỉ là sự bực tức về các tranh chấp ở Biển Đông, hay thậm chí là nhận thức về thái độ gây hấn gần đây của Bắc Kinh, cả hai điều đã trở thành một phần trong bức tranh chung của khu vực. Đúng hơn, đó là sự thất vọng trước sự mập mờ lâu nay từ chính sách của Trung Quốc, muốn tránh phải có một lập trường rõ ràng bằng mọi giá. Nếu không có một lập trường rõ ràng của Trung Quốc, việc giải quyết các tranh chấp và hòa hợp các lập trường là điều không thể.

Chính sách mập mờ chiến lược của Trung Quốc là nhằm mục đích của nó. Nó cho phép Trung Quốc linh hoạt để giải thích lập trường của mình. Đây là lý do tại sao Bộ Ngoại giao Trung Quốc có thể ra tuyên bố công khai vào tháng Hai năm 2012 nói rằng họ không tuyên bố chủ quyền quốc gia với toàn bộ Biển Đông và chỉ có tranh chấp về “hải đảo và vùng biển lân cận.” Điều này đã làm dấy lên hy vọng tại Mỹ và các bên tranh chấp châu Á khác rằng Trung Quốc đang rút khỏi tuyên bố đường lưỡi bò và đưa lại tuyên bố của mình phù họp với luật pháp quốc tế.

Tuy nhiên, điều đó rõ ràng là không đúng. Các căng thẳng trong năm nay trên biển bắt đầu với hai tháng bế tắc giữa các tàu Trung Quốc và Philíppin tại bãi cạn Scarborough. Cuộc đối đầu đó, cho dù có những tuyên bố ngược lại từ Bắc Kinh, là một ví dụ về một sự điều chỉnh dần dần trong tuyên bố của Bắc Kinh. Trong nhiều năm, tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông chỉ giới hạn trong quần đảo Trường Sa (Nam Sa) và quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa). Bất kỳ tuyên bố nào với các cấu trúc địa chất khác, như bãi cạn Scarborough, chỉ được ngụ ý là nằm trong đường lưỡi bò đầy mơ hồ. Sau đó, Trung Quốc mở rộng tuyên bố chủ quyền với bãi Macclesfield hoàn toàn nằm dưới mặt nước dưới cái tên Trung Sa do tưởng tượng, mặc dù có không có cách nào theo quy định của pháp luật quốc tế để tuyên bố chủ quyền với một cấu trúc địa chất thấp hơn mặt nước giống như một hòn đảo. Hơn nữa, trong những năm gần đây, khi Bắc Kinh cố gắng không bị quá phụ thuộc vào đường chín đoạn không thể giải thích được, bãi cạn Scarborough đã được đưa vào thành một phần của Trung Sa. Việc bãi này nằm cách Macclesfield hàng trăm dặm hay việc nó chưa hề xuất hiện trong các tài liệu lịch sử mà Trung Quốc đưa ra để chứng minh chủ quyền với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa dường như không quan trọng.

Bắc Kinh thể hiện sự bất chấp tương tự với chính sách mà tuyên bố của Bộ Ngoại giao đưa ra hồi tháng Hai khi áp đặt lại lệnh cấm đánh bắt hàng năm đơn phương cho toàn bộ Biển Đông bên trên vĩ tuyến 12. Lệnh cấm như vậy sẽ chỉ có thể khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với tất cả các vùng biển trong đường chín đoạn, chứ không chỉ với “các đảo và vùng biển lân cận.” Sau đó, vào cuối tháng Sáu, Tập đoàn Dầu khí CNOOC khiêu khích Việt Nam bằng việc thông báo công ty sẽ mở 9 lô dầu khí ở Biển Đông (Biển Đông) cho nước ngoài dự thầu, vấn đề là ở chỗ toàn bộ chín lô này nằm trong phạm vi 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, và trong thực tế, nhiều lô trùng với các lô mà hiện Việt Nam đã cho các công ty nước ngoài thầu, trong đó có công ty Exxon-Mobil. Quan trọng hơn, các lô của CNOOC không thể biện hộ được theo tuyên bố chủ quyền với “các đảo và vùng biển lân cận” của Biển Đông vì không có hòn đảo nào trong vòng 200 hải lý (EEZ tối đa cho phép) của tất cả các lô.

Những diễn biến này làm nổi bật sự cần thiết cho các bên tranh chấp ASEAN-Việt Nam, Philíppin, Malaixia và Brunây, phải có lập trường về những gì là tranh chấp thực sự ở Biển Đông và những gì không. Chừng nào điều căn bản này vẫn chưa rõ ràng, Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục sử dụng các tuyên bố mơ hồ và mâu thuẫn để theo đuổi lợi ích của mình ở Biển Đông với phần thua thiệt thuộc về các nước láng giềng nhỏ hơn.

Một số bước đi đã được thực hiện theo hướng này. Việc Việt Nam và Malaixia năm 2009 nộp hồ sơ chung về thềm lục địa mở rộng ở phía Nam lên Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Ranh giới Thềm lục địa là một bước quan trọng đâu tiên trong nỗ lực này. Luật về đường cơ sở của Philíppin, thông qua cùng năm đó, thiết lập đường cơ sở ven biển theo quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), cũng là một nỗ lực nữa.

Mặc dù có các bước này, vẫn còn quá nhiều mơ hồ về Biển Đông. Quốc hội Việt Nam gần đây đã thông qua Luật Biển nhắc lại tuyên bố chủ quyền của mình với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng vẫn chưa rõ ràng về việc Việt Nam tuyên bố cái gì trong vùng biển của mình. Ngoài các ranh giới phía Nam với Malaixia, đâu là đường cơ sở và vùng thềm lục địa mở rộng của Việt Nam? Việt Nam có coi Hoàng Sa và Trường Sa được hưởng quy chế EEZ hay không? Các câu hỏi tương tự phải được đặt ra và trả lời với ba nước ASEAN có tranh chấp, gồm Brunây, Malaixia và Philíppin.

Các nước ASEAN đã có lập trường thống nhất về nhiều vấn đề. Ví dụ, cả bốn nước có vẻ như đã chấp nhận rằng Trường Sa và Hoàng Sa không phải là các đảo theo luật pháp, mà chỉ đơn thuần là đá và do đó chỉ được hưởng lãnh hải 12 hải lý.

Một nỗ lực thực tâm để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông đòi hỏi những quan điểm này phải được luật hóa. Điều này không có nghĩa là các bên tranh chấp phải từ bỏ bất cứ điều gì liên quan đến tuyên bố chủ quyền của mình đối với các cấu trúc địa chất trên Biển Đông. Thay vào đó, nó sẽ cho phép họ củng cố có sở pháp lý cho tuyên bố về biển của mình và tách biệt các tranh chấp lãnh thổ khó khăn hơn nhiều nhưng có phạm vi địa lý nhỏ hơn rất nhiều. Quan trọng nhất, nó sẽ cho phép các nước này thể hiện một mặt trận thống nhất trước Trung Quốc trong lập luận về một điểm tối quan trọng: cơ sở duy nhất chấp nhận được cho các tuyên bố về biển trên Biển Đông phải là luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS.

Nếu các bên tranh chấp ASEAN tạo được một khuôn khổ thống nhất về những gì có và không có tranh chấp, phần trách nhiệm còn lại sẽ là của Bắc Kinh phải làm rõ cơ sở cho tuyên bố của mình. Tại thời điểm đó, Bắc Kinh sẽ có các lựa chọn giới hạn. Áp lực như vậy có thể tạo ra các tiếng nói ôn hòa hơn, giống như những tiếng nói trong Bộ Ngoại giao, sự đáng tin cậy hơn, cho phép Trung Quốc làm rõ tuyên bố của mình bằng cách giữ nguyên tuyên bố chủ quyền vói Trường Sa và Hoàng Sa, nhưng từ bỏ đòi hỏi quá đáng đối với các vùng biển nằm giữa. Điều này sẽ đánh dấu một bước quan trọng hướng tới việc giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Theo cách khác, Bắc Kinh có thể loại bỏ hoàn toàn luật pháp quốc tế đã được chấp nhận trong tranh chấp, nhưng nó sẽ gây tổn hại cho lợi ích lớn hơn của Trung Quốc. Bắc Kinh có thể sẽ từ chối tham gia bất kỳ cuộc đối thoại nào. Nếu điều đó xảy ra, thì nó sẽ cho thấy Trung Quốc là bên tham chiến không thể chối cãi trong tranh chấp và dư luận quốc tế sẽ ủng hộ lập trường của các bên tranh chấp trong ASEAN. Cuối cùng, Trung Quốc có thể sẽ thấy việc làm rõ tuyên bố chủ quyền ít gây tổn hại đến danh tiếng và lợi ích của mình hơn so với việc bám vào sự mơ hồ lâu nay.

Hầu hết thời gian trong hội thảo CSIS được dành để thao luận về các cơ sở của tranh chấp và tìm kiếm những cách thức để giải quyết các sự cố không thể tránh khỏi chứ không phải là đề xuất cách thức thực sự để giải quyết các tranh chấp. Do sự phức tạp và thời gian lâu dài của vấn đề Biển Đông, những khó khăn như vậy được dự đoán là chắc chắn có.

Nhưng lý do quan trọng nhất của việc dường như có rất ít ánh sáng ở cuối đường hầm là vì rất nhiều tranh chấp vẫn còn mơ hồ. Giờ là lúc các bên tranh chấp ASEAN phải luật hóa đầy đủ, cả luật trong nước và trong một khuôn khổ đa phương, những gì tranh chấp và không phải là tranh chấp theo luật pháp quốc tế. Đó sẽ là một lập trường mà cộng đồng quốc tế, trong đó có Mỹ, có thế ủng hộ một cách chính đáng bởi vì nó sẽ có nghĩa là không bảo vệ những tuyên bố riêng của bất kỳ bên tranh chấp nào, mà là ủng hộ chính luật pháp quốc tế.

(Đài TNHK 2/7)

Nhiều người tham dự hội thảo bày tỏ quan tâm về những diễn biến không mấy tích cực hồi gần đây trong cuộc tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, nghiêm trọng nhất là vụ đối đầu giữa Trung Quốc và Philíppin tại bãi cạn Scarborough và vụ Trung Quốc cho mời thầu các lô dầu khí trong khu vực mà Việt Nam coi là thuộc khu đặc quyền kinh tế của mình. Có người cho rằng những hành động đó đã tạo ra một đợt căng thẳng mới trong khu vực và những phát biểu có phần cứng rắn, không nhượng bộ của diễn giả người Trung Quốc tại hội thảo của trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (CSIS) về an ninh ở Biển Đông là ông Ngô Sĩ Tồn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biển Đông Trung Quốc, đã không làm giảm thiểu những quan tâm đó.

Trả lời ban Việt ngữ đài TNHK về phản ứng của Việt Nam trước vụ Trung Quốc cho mời thầu các lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của việt Nam, Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam Đặng Đình Quý nói rằng đây là một sự “vi phạm thô bạo chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam trong khu đặc quyền kinh tế của Việt Nam”. Ông Đặng Đình Quý cho rằng làm như thế là vi phạm luật quốc tế, kể cả Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Ông cho rằng các hành động vi phạm đó gây nhiều lo ngại trong khu vực.

Ông Đặng Đình Quý: Việt Nam từ xưa tới nay vẫn chủ trương giải quyết các vấn đề bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở UNCLOS và DOC. Trung Quốc làm như thế sẽ khiến cho các nước ASEAN lo sợ, lo ngại về những hành động như vậy và lòng tin chính trị vốn đã quá hiếm nay lại càng xấu đi.

TNHK: Ông có thấy bi quan về triển vọng giải quyết tranh chấp Biển Đông hay không?

Ông Đặng Đình Quý: Giải quyết tranh chấp Biển Đông là vấn đề rất lâu dài, nhưng tôi không bi quan, tôi thường vẫn lạc quan bởi vì tất cả các bên liên quan đến Biển Đông đều có lợi ích chung để duy trì hòa bình, ổn định và phái triển. Trung Quốc càng mạnh, càng phát triển thì càng phải duy trì ổn định, hòa bình đối với các nước xung quanh. Đó là một yếu tố rất quan trọng đế bảo đảm cho quá trình phát triển của Trung Quốc lâu dài, không thể nói các nước Đông Nam Á cần hòa bình nhiều hơn hay Trung Quốc cần hòa bình nhiều hơn. Tất cả mọi người đều cần hòa bình và ổn định. Người Trung Quốc hiểu điều đấy.

TNHK: Việt Nam và Philíppin có hợp tác với nhau trong các cuộc thảo luận về chiến lược để có thể cùng đương đầu với Trung Quốc trong cuộc tranh chấp hay không?

Ông Đặng Đình Quý: Việt Nam và Philíppin đều ở trong một gia đình lớn hơn là ASEAN. Tất cả các nước ASEAN đều chia sẻ một quan điểm chung là phải duy trì hòa bình ổn định ở Biển Đông, tăng cường hợp tác giữa các nước ASEAN với nhau để làm điều đó. Đây là lợi ích chung và cũng là lợi ích của Trung Quốc.

Cũng có mặt ngay từ đầu cuộc hội thảo để lắng nghe phần phát biểu của ông Ngô là bà Nguyễn Thị Ngọc Giao, Chủ tịch Hội tiếng nói người Mỹ gốc Việt. Bà Ngọc Giao cho biết ý kiến về bài phát biểu của ông Ngô:

Bà Ngọc Giao: Ông Ngô Sĩ Tồn nói không khác gì luận điệu của Trung Quốc từ trước tới nay. Họ nói Biển Đông hoàn toàn thuộc về chủ quyền của Trung Quốc và là điều không thể tranh cãi được. Ông Ngô nói “đường lưỡi bò” hay “bản đồ đường 9 đoạn” hoàn toàn thuộc về Trung Quốc và đã được nhiều nước công nhận. Ông ta khăng khăng nói rằng Trung Quốc sẽ không nhượng bộ và khẳng định tất cả mọi quyền lợi của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông, kể cả quyền về dầu khí và đánh bắt cá cũng như tất cả các nguồn lợi khác từ biển.

TNHK: Năm ngoái bà cũng dự buổi hội thảo này, năm nay, lập trường của Trung Quốc, theo bà có cứng rắn hơn so với năm ngoái hay không?

Bà Ngọc Giao: Có hai chiều hướng, trên phương diện phát ngôn họ nói theo hướng của thế giới nhiều hơn, nhưng trên phương diện hành động, họ hành động cứng rắn hơn và họ có phần lấn át những nước tại Đông Nam Á nhiều hơn. Chuyện xảy ra trước mắt là điều ta chứng kiến ở đảo Hoàng Nham (Scarborough) và chuyện mới đây là họ mang ra đấu thầu 9 lô dầu tại khu vực Biển Đông.

TNHK: Bà có nhận định nào khác về những gì đã được thảo luận trong buổi hội thảo hôm nay?

Bà Ngọc Giao: Ngoại trừ ông giáo sư của Trung Quốc, còn tất cả những diễn giả còn lại và hầu hết cử tọa đều phủ nhận tuyên bố của ông ta. Giáo sư Thayer của Học viện Quốc phòng Ôxtrâylia cũng nói lên những cách hành xử rất ngang ngược của Trung Quốc, đặc biệt với Việt Nam. Giáo sư Thayer nói rất nhiều đến chuyện Trung Quốc hà hiếp, giết hại ngư dân Việt Nam, cướp thuyền Việt Nam và có những hành động rất tàn bạo. Khi Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc tuyên bố đấu thầu 9 lô trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và đồng thời có tin Trung Quốc và Mỹ đã tiến tới một số thỏa hiệp để thảo luận với nhau về quân sự, Hội Tiếng nói người Mỹ gốc Việt hỏi Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Kurt Campbell một câu là: Liệu hai sự kiện này có liên hệ với nhau không và trong tiến trình ngoại giao mà ông Campbell cho biết Mỹ rất chú trọng tới việc thảo luận riêng với Trung Quốc, hai điểm này có được bàn cãi hay không. Và ông Campbell nói rằng ông không thảo luận vấn đề đó, nhưng hai bên có đề cập đến vấn đề tìm hiểu lẫn nhau về quân sự, vì Mỹ muốn biết rõ về thực lực quân sự của Trung Quốc.

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng thuộc Trường Đại học George Mason có nhận định sau đây về lập trường của Trung Quốc.

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng: Trung Quốc có lập trường nhất quán từ trước tới nay. Trung Quốc đặt ra đường lưỡi bò và Trung Quốc thử áp dụng chủ quyền của mình dựa trên đường lưỡi bò đó, theo một cách thức chậm mà chắc, cứ từng vụ từng vụ, tiến lên xong rồi lùi lại cho tới khi Trung Quốc đạt được mục tiêu, cho tới khi bị chặn lại.

TNHK: Trong các điều kiện đó, có hy vọng nào Việt Nam sẽ giành lại được Hoàng Sa?

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng: Giành lại Hoàng Sa là một vấn đề khó. Khó là bởi vì một khi đã chiếm được thì họ khó trả lắm. Nhưng nguyên tắc là cứ phải đòi thôi, để mình đòi họ phải nhân nhượng ở chỗ khác, không đòi thì mọi chuyện sẽ qua đi.

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng những hành động lấn chiếm biển đảo của Trung Quốc cũng nhằm thử sự đoàn kết trong khối ASEAN và ông chỉ trích tổ chức khu vực này đã không mạnh mẽ lên tiếng về cuộc tranh chấp này, trong một giai đoạn có tính quyết định như hiện nay.

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng: Diễn biến quan trọng nhất là những gì xảy ra ở Scarborough. Theo nhận xét của tôi trên The Diplomat, tôi thấy vụ việc này thử thách rất nhiều cái gọi là “ASEAN centrality”, là ASEAN là trọng tâm của mọi vấn đề, bởi vì nó chứng tỏ ASEAN rất yếu, sự đoàn kết trong các nước thuộc khối ASEAN cũng rất yếu. Trong một giai đoạn như thế này mà ASEAN không lên tiếng gì cả. Trong bài viết, tôi có nói trong trường họp này (Scarborough) Trung Quốc đã thắng, bởi vì sự kiện đầu tiên xảy ra khi Philíppin điều tàu đến để áp dụng luật của mình đối với tàu đánh cá Trung Quốc xâm nhập vào hải phận vùng đặc quyền kinh tế của nước này, thế nhưng Trung Quốc lại đưa tàu đến chặn. Đến giữa tháng 5, ở đó có 3 tàu của Philíppin và khoảng 30 tàu Trung Quốc cộng với những thuyền nhỏ, khoảng 80 chiếc nữa. Cuối cùng khi đoàn giải quyết xong thì không có một tàu đánh cá nào của Philíppin, cũng không có một tàu nào của chính phủ Philíppin! Đó là để đổi lại việc Trung Quốc rút tàu về, nhưng mà lại có 30 tàu đánh cá Trung Quốc ở trong ấy. Khởi đầu là Philíppin cấm Trung Quốc đến, cuối cùng Philíppin rút về, Trung Quốc đến thì rõ ràng là Trung Quốc được rồi! Trung Quốc làm như vậy là để thử sự đoàn kết của ASEAN, thử phản ứng của Mỹ và thử sức mạnh của Philíppin. Trong trường hợp này, tôi thấy Trung Quốc đã thắng ở bước đầu./.

Ngoại trưởng Clinton phát biểu với Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sau buổi họp

Nhà khách chính phủ
Hà Nội – Việt Nam
10-07-2012

Người dịch: Dương Lệ Chi

 
 
Bộ trưởng Ngoại giao Minh: (Nói tiếng Việt).

Ngoại trưởng Clinton: Cảm ơn ông rất nhiều, Bộ trưởng Ngoại giao Minh, về sự đón tiếp nồng nhiệt của ông hôm nay. Thật là tuyệt vời khi trở lại Việt Nam, và tôi đánh giá cao cơ hội này để tái khẳng định quan hệ đối tác đang phát triển và đôi bên cùng có lợi, giữa hai nước chúng ta.

Tôi rất thích khi nhớ lại chuyến thăm đầu tiên của tôi đến đây hồi năm 2000, và đặc biệt đây là chuyến thăm lần thứ ba của tôi trên cương vị ngoại trưởng, để thấy tất cả các thay đổi và tiến bộ mà chúng ta cùng thực hiện với nhau. Chúng ta đang làm tất cả mọi thứ, từ an ninh hàng hải và chống phổ biến [hạt nhân], cho đến vấn đề y tế công cộng và cứu trợ thảm họa, thúc đẩy thương mại và tăng trưởng kinh tế. Và dĩ nhiên, như Bộ trưởng và tôi đã thảo luận, chúng tôi tiếp tục giải quyết các vấn đề quá khứ để lại, chẳng hạn như chất độc da cam, bom mìn, cũng như tìm kiếm những người mất tích khi làm nhiệm vụ.

Việt Nam đã nổi lên như một lãnh đạo ở khu vực hạ lưu sông Mêkông và Đông Nam Á, Hoa Kỳ và Việt Nam chia sẻ lợi ích chiến lược quan trọng. Khi Bộ trưởng Ngoại giao và tôi đi đến Diễn đàn Khu vực ASEAN ở Phnom Penh, chúng tôi sẽ có cơ hội tham gia với những người đồng nhiệm, [về các vấn đề] như hội nhập khu vực, vấn đề biển Đông (nguyên văn: biển Hoa Nam), an ninh mạng, Bắc Triều Tiên, và tương lai của Miến Điện.

Hoa Kỳ đánh giá rất cao sự đóng góp của Việt Nam trong việc giải quyết các tranh chấp bằng con đường hợp tác, ngoại giao, và giảm căng thẳng ở biển Đông và chúng tôi mong ASEAN đẩy nhanh tiến độ với Trung Quốc về một quy tắc ứng xử hữu hiệu để bảo đảm rằng, khi có những thách thức phát sinh, thì chúng bị chế ngự và giải quyết một cách hòa bình, thông qua quá trình đồng thuận, phù hợp với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế đã được thiết lập.

Bộ trưởng Ngoại giao và tôi đã thảo luận những vấn đề này và nhiều vấn đề khác, bao gồm sự quan tâm của chúng tôi trong việc gia tăng các mối quan hệ văn hóa, giáo dục, và kinh tế. Chúng tôi có một đoàn doanh nghiệp đi cùng chúng tôi trong chuyến đi này, và tôi sẽ họp mặt với họ sau đó.

Tôi cũng sẽ giúp chào mừng kỷ niệm 20 sự trở lại của Chương trình Fulbright ở Việt Nam. Gần 15.000 sinh viên Việt Nam du học ở Hoa Kỳ hàng năm. Các sinh viên này đã trở về nước và góp phần phát triển đất nước Việt Nam, và chúng tôi hy vọng rất nhiều trong việc tăng cường các mối quan hệ hơn nữa bằng cách gửi các tình nguyện viên của Tổ chức Hoà bình (Peace Corps) đến Việt Nam trong tương lai không xa.

Khi tôi viếng thăm cùng với Phòng Thương mại Hoa Kỳ và một số lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam và Mỹ, chúng tôi sẽ tìm cách mở rộng thương mại và đầu tư. Khi Bộ trưởng và tôi thảo luận, thương mại đã tăng từ thực tế là con số 0 hồi năm 1995 lên tới con số hiện tại là hơn 22 tỉ đô la. Thật vậy, chỉ trong hai năm, từ năm 2010 đến nay, thương mại đã gia tăng hơn 40%.

Cho nên chúng tôi đang làm việc để mở rộng thương mại, thông qua thỏa thuận thương mại mới trong khu vực, có ảnh hưởng sâu rộng, được gọi là Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương, trong đó sẽ hạ thấp các rào cản thương mại, trong khi nâng cao tất cả các tiêu chuẩn, từ điều kiện lao động cho đến bảo vệ môi trường, đến quyền sở hữu trí tuệ. Cả hai nước chúng ta sẽ được hưởng lợi. Thật vậy, các kinh tế gia hy vọng rằng Việt Nam sẽ là một trong những quốc gia được hưởng lợi nhiều nhất khi tham gia Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương. Và chúng tôi hy vọng sẽ hoàn tất thỏa thuận này vào cuối năm nay.

Nâng cao các tiêu chuẩn thì rất quan trọng, bởi vì nếu Việt Nam tiếp tục phát triển và chuyển sang một nền kinh tế kinh doanh sáng tạo cho thế kỷ 21, sẽ có nhiều không gian được tạo ra cho tự do trao đổi ý tưởng, tăng cường pháp trị và tôn trọng các quyền phổ quát của tất cả các công nhân, gồm cả quyền thành lập và tham gia công đoàn.

Tôi muốn nhấn mạnh điều mà hôm qua tôi đã nói ở Mông Cổ. Tôi biết có một số người lập luận rằng, phát triển kinh tế cần phải đặt tăng trưởng kinh tế lên hàng đầu, còn lo nghĩ về cải cách chính trị và dân chủ thì hãy để sau, nhưng đó là một kiểu mặc cả thiển cận. Dân chủ và thịnh vượng đi đôi với nhau, cải cách chính trị và tăng trưởng kinh tế liên quan với nhau, và Hoa Kỳ mong muốn hỗ trợ sự phát triển trong cả hai lĩnh vực này.

Cho nên tôi cũng lo ngại về vấn đề nhân quyền, bao gồm việc tiếp tục giam giữ các nhà hoạt động, các luật sư và các blogger phát biểu ý kiến ôn hòa. Đặc biệt, chúng tôi quan tâm về các hạn chế tự do ngôn luận trên mạng, và phiên tòa sắp diễn ra để xử những người sáng lập [nhóm] được gọi là Câu Lạc bộ Nhà báo Tự do. Bộ trưởng Ngoại giao và tôi đã đồng ý tiếp tục nói chuyện thẳng thắn và tiếp tục mở rộng quan hệ đối tác.

Cho nên, một lần nữa, Bộ trưởng Minh, cho tôi cảm ơn sự hiếu khách của ông và cảm ơn ông đã từ Cambodia trở về để gặp tôi. Tôi đánh giá rất cao nỗ lực đó của ông, và chúng tôi mong muốn tiếp tục hợp tác song phương và hợp tác trong khu vực [với Việt Nam].

Người điều khiển: (Nói tiếng Việt).

Hỏi: (Bằng tiếng Việt).

Bộ trưởng Minh: (Nói tiếng Việt).

Người điều khiển: (Nói tiếng Việt).

Câu hỏi: Cám ơn bà rất nhiều. Bà Ngoại trưởng, tòa án tối cao Ai Cập và các tướng lĩnh cao cấp ở đó đã bác bỏ lời kêu gọi tái triệu tập quốc hội của Tổng thống Morsi, và điều đó sẽ đặt họ vào một cuộc xung đột trực tiếp. Bà nghĩ, điều này sẽ ảnh hưởng như thế nào đối với sự ổn định chính trị ở Ai Cập? Bà có xem đó như là một vấn đề thu tóm quyền lực hay là sự bảo vệ nền dân chủ?

Ngoại trưởng Clinton: Vâng, trước tiên, tôi nghĩ những gì đang xảy ra trong bối cảnh hiện nay thì rất quan trọng. Có một cuộc cách mạng khá yên bình, một cuộc bầu cử cạnh tranh, và bây giờ có một cuộc bầu cử tổng thống, rất lâu mới có cuộc bầu cử đầu tiên trong lịch sử ở Ai Cập, và Hoa Kỳ vẫn cam kết làm việc với Ai Cập, với chính quyền và xã hội dân sự để hỗ trợ nước này trong việc hoàn thành quá trình chuyển đổi qua dân chủ, đặc biệt, đối phó với rất nhiều vấn đề khó khăn về an ninh và kinh tế mà chính phủ mới sẽ phải đối mặt. Nhưng tôi nghĩ, điều quan trọng là nhấn mạnh rằng, dân chủ không phải chỉ là các cuộc bầu cử, mà là việc tạo ra một cuộc đối thoại chính trị toàn diện, đầy hứng thú, lắng nghe các xã hội dân sự, có quan hệ tốt đẹp giữa các quan chức dân sự và các quan chức quân sự, nơi mà mỗi nhóm người làm việc để phục vụ cho lợi ích của công dân, và dân chủ thực sự là việc trao quyền cho công dân của mình để xác định hướng đi của đất nước.

Và tôi cũng nhận thấy rằng thay đổi thì khó khăn. Thay đổi sẽ không xảy ra cách nhanh. Chúng tôi thấy, trong vài ngày qua có rất nhiều việc ở Ai Cập đang đi về phía trước để giữ cho quá trình chuyển tiếp này đi đúng hướng, và chúng tôi mong rằng có sự đối thoại chuyên sâu giữa tất cả các bên có liên quan để bảo đảm rằng, có một con đường rõ ràng để họ đi theo và những người dân Ai Cập được hưởng những gì mà họ mong đợi khi xuống đường và những gì họ đã bầu chọn, là một chính phủ hoàn toàn được bầu, ra quyết định cho đất nước để đi về phía trước. Và Hoa Kỳ là một đối tác với Ai Cập trong một thời gian dài. Chúng tôi muốn tiếp tục làm việc với họ để thúc đẩy sự ổn định trong khu vực, ngăn ngừa xung đột, cố gắng bảo vệ lợi ích chung trong khu vực. Mối quan hệ với Ai Cập thì quan trọng đối với chúng tôi. Nó cũng quan trọng đối với các nước láng giềng của Ai Cập.

Cho nên tôi mong được gặp và nói chuyện với Tổng thống Morsi và các quan chức hàng đầu khác của Ai Cập, cùng với những người đại diện từ một bộ phận rộng lớn của xã hội Ai Cập khi tôi tới Ai Cập cuối tuần này, để lắng nghe các quan điểm của họ. Tuy nhiên, chúng tôi yêu cầu đối thoại và một nỗ lực phối hợp tất cả các nhóm để cố gắng đối phó với những vấn đề có thể hiểu được, nhưng phải được giải quyết để tránh bất kỳ trở ngại nào có thể làm hỏng quá trình chuyển đổi đang diễn ra.

Người điều khiển: (Nói tiếng Việt).

Hỏi: (Bằng tiếng Việt).

Người điều khiển: Câu hỏi đó dành cho bà.

Ngoại trưởng Clinton: Dành cho tôi à? (Cười). Xin lỗi, tôi đã không nhận ra. Như chúng tôi thảo luận, tôi đã làm việc rất nhiều để bảo đảm rằng Hoa Kỳ đang giải quyết vấn đề chất độc da cam. Đó là một vấn đề quá khứ để lại mà chúng tôi vẫn quan tâm, và chúng tôi đã gia tăng cam kết tài chính của chúng tôi để giải quyết vấn đề đó. Bộ trưởng [Minh] và tôi đã thảo luận ý kiến về một kế hoạch dài hạn để chúng tôi không chỉ xem xét mỗi năm, mà nhìn vào tương lai để cố gắng xác định các bước mà cả hai nước có thể thực hiện. Bộ trưởng cũng đã đề cập đến ý kiến đưa thành phần tư nhân tham gia vào nỗ lực khắc phục hậu quả, và chúng tôi chắc chắn sẽ khảo sát ý kiến đó khi phần thảo luận này diễn ra.

Liên quan đến vấn đề những người mất tích khi làm nhiệm vụ, Hoa Kỳ rất cảm kích sự hợp tác của Việt Nam hơn hai thập kỷ qua, trong nỗ lực giải quyết các quân nhân Hoa Kỳ mất tích. Thật ra, chúng tôi bắt đầu nỗ lực đó trước khi chúng tôi chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao hồi năm 1995. Khi tôi cùng với chồng tôi đến thăm [Việt Nam] năm 2000, khi ông ấy còn làm tổng thống, chúng tôi đã thấy công việc mà các đội Mỹ-Việt cùng thực hiện chung, và tôi vô cùng xúc động về điều đó. Và chúng tôi muốn tiếp tục công việc đó. Đó là công việc mà chúng tôi tin tưởng mạnh mẽ. Thông qua những nỗ lực này, chúng tôi đã xác định được và đưa về nước gần 700 người Mỹ. Nhưng vẫn còn gần 1.300 quân nhân mất tích, và khi Bộ trưởng [Quốc phòng] Panetta đến đây, Việt Nam đã thông báo sẽ mở các khu vực mà trước đây bị hạn chế, và chúng tôi rất cảm kích về điều này. Chúng tôi cũng muốn làm nhiều hơn nữa để giúp Việt Nam lấy lại những gì đã mất, có rất nhiều điều để chúng tôi làm, và chúng tôi muốn tập trung làm tiếp những điều đang làm khi có thể được.

Người điều khiển: (Nói tiếng Việt).

Câu hỏi: Cảm ơn bà, thưa bà, tôi là Brad Klapper từ AP. Bà cũng sẽ đi Israel tuần tới và trong một nỗ lực để thúc đẩy hòa bình. Cùng lúc, Thủ tướng Palestine – Tổng thống Palestine đã chấp thuận khai quật cựu lãnh đạo Yasser Arafat, trong lúc có các tuyên bố rằng ông ấy có thể đã bị Israel đầu độc. Trong bầu không khí này, liệu có lợi cho bất kỳ tiến bộ hòa bình nào không? Và nếu có tìm ra bất kỳ bằng chứng nào, hoặc thậm chí tạo thêm nghi ngờ về cái chết của Arafat, sẽ có ý nghĩa gì cho những nỗ lực hòa bình? Cảm ơn bà.

Ngoại trưởng Clinton: Vâng, Bradley, tôi sẽ không trả lời câu hỏi nào liên quan đến các giả thuyết. Không ai có thể tiên đoán điều gì có thể hoặc không thể xảy ra về hành động như thế. Tôi sẽ đi đến Israel để thảo luận về một loạt các vấn đề mà Israel, Hoa Kỳ, và các nước trong khu vực quan tâm sắc, và chắc chắn các nỗ lực liên tục để tạo ra một môi trường thuận lợi cho quá trình hòa bình đó. Nhưng đó không phải là vấn đề quan trọng duy nhất trong chương trình nghị sự của chúng tôi. Tôi nghĩ rằng, chúng tôi sẽ không trả lời các tin đồn hoặc các giả thuyết mà những người khác đang thực hiện. Tôi sẽ chờ bất cứ cuộc điều tra nào được thực hiện. Nhưng tôi cũng mong muốn tiếp tục đối thoại với người Palestine. Như ông biết, tôi đã gặp Tổng thống Abbas ở Paris vài ngày trước. Tôi cũng mong gặp các nhà lãnh đạo Palestine khác. Nên tôi nghĩ rằng, có một cuộc thảo luận rộng rãi, quan trọng đối với chúng tôi, mà không có cách nào để đoán trước kết quả của bất kỳ vấn đề cá nhân nào.

Người điều khiển: (Nói tiếng Việt).

Bộ trưởng Minh: Cám ơn bà.

Ngoại trưởng Clinton: Cảm ơn ông.

Nguồn: US Department of State
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...