Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

31/12/11

Bàn giao tàu Cảnh sát biển số 3

(Dân trí) - Sáng nay 30/12, tại TP Đà Nẵng, Công ty Sông Thu (Bộ Quốc phòng) đã làm lễ bàn giao tàu kéo cứu hộ, cứu nạn mang số hiệu CSB 9003 cho Cục Cảnh sát Biển Việt Nam.

Lễ bàn giao tàu cho Cục Cảnh sát Biển

Đây là chiếc tàu Cảnh sát Biển số 3 được đóng tại Công ty Sông Thu. Tàu có công suất máy 3.500 CV, chiều dài thiết kế 46m, rộng 12m, chiều cao mạn 5,5m, mớn nước tối đa 4,5m, lượng giãn nước 1.400 tấn. 

Theo thiết kế, tàu có thể hoạt động ở mọi điều kiện thời tiết, mọi cấp sóng, không hạn chế với thời gian hoạt động liên tục 30 ngày đêm liên tục trên biển.

Theo Giám đốc Công ty Sông Thu - Đại tá Hà Sơn Hải - việc đóng mới và cung cấp các tàu kéo cứu hộ cứu nạn công suất lớn cho Cảnh sát Biển nhằm đáp ứng yêu cầu tìm kiếm cứu nạn ngư dân; tuần tra, bảo vệ chủ quyền, an ninh trên vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền của Việt Nam ở biển Đông.

Dự kiến, trong năm 2012, Công ty Sông Thu sẽ tiếp tục hoàn thành và bàn giao tàu cảnh sát biển 9004 cho Cục Cảnh sát Biển Việt Nam.

Công Bính

Nga giao thêm cho Việt Nam 4 chiếc chiến đấu cơ Sukhoi SU-30

Các công ty sản xuất máy bay Sukhoi của Nga đã giao thêm cho Việt Nam 4 chiếc chiến đấu cơ Sukhoi SU-30, sau khi đã giao 4 chiếc hồi tháng 6.
 
Máy bay Sukhoi Su-30

Bản tin hôm thứ 6 của Đài Tiếng Nói Nước Nga cho biết các chiến đấu cơ vừa kể được giao dựa trên một hợp đồng bán cho Việt Nam tổng cộng 12 chiếc SU-30 cùng với những loại vũ khí, thiết bị và linh kiện trị giá 1 tỉ đôla.

Một bản tin của báo chí Việt Nam cho biết hợp đồng vừa kể được ký kết năm 2010 sau khi đã ký một hợp đồng vào năm 2009 để mua 8 chiếc SU-30 MK2. Bản tin này nói thêm rằng SU-30 MK2 là chiến đấu cơ đa chức năng được thiết kế để tiêu diệt các mục tiêu trên không, trên đất liền và trên biển.

Đài Tiếng Nói Nước Nga cho biết hơn 130 chiến đấu cơ SU-30 đã được bán cho Trung Quốc, Indonesia, Việt Nam và Venezuela trong 10 năm qua.

Nguồn: Voice of Russia / Xaluan.com

Iran sẽ “rải thủy lôi tại eo Hormuz”

Website về thông tin tình báo DEBKAfile dẫn một số nguồn cấp cao tại Trung Đông cho biết tình báo Mỹ cảnh báo Iran sẵn sàng cho biệt kích rải thủy lôi tại eo biển chiến lược Hormuz. Căng thẳng đang dâng cao sau khi Iran cảnh báo sẽ phong tỏa eo Hormuz, cửa ngõ vận chuyển của 40% lượng dầu hỏa thế giới, nếu phương Tây tăng cường cấm vận. Hải quân nước này cũng đang tiến hành tập trận tại đây. Mỹ lập tức tuyên bố không chấp nhận hành vi cản trở tự do hàng hải ở Hormuz và mới cho tàu sân bay USS John C.Stennis đi qua eo biển này.

 
Theo DEBKAfile, Iran tính thả thủy lôi tại Hormuz và tin rằng chỉ cần một vụ nổ là không tàu bè nào dám qua lại. Nhờ đó, Tehran sẽ không cần tung lực lượng bịt kín hoàn toàn eo biển này. Trước đó, hãng thông tấn Fars loan tin hải quân Iran dự định sẽ thử nghiệm các loại thủy lôi, ngư lôi thông minh trong cuộc tập trận nói trên. Chưa bên nào có phản ứng về những thông tin nói trên.

Trong bối cảnh căng thẳng đang dâng cao giữa Mỹ và Iran, Washington chính thức xác nhận sẽ bán 84 chiếc F-15 cho Ả Rập Xê Út đồng thời nâng cấp 70 chiếc F-15 cho đồng minh Trung Đông, theo thỏa thuận trị giá gần 30 tỉ USD.

Trùng Quang 
 
Nguồn: Thanhnien Online

Tư pháp Nhật khởi tố thuyển trưởng tàu cá Trung Quốc

Hôm nay, 30/12/2011, tư pháp Nhật Bản đã quyết định khởi tố một thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc, bị bắt giữ hôm 20/12, về tội hành nghề trái phép trong vùng biển của Nhật Bản.

Chung Tiến Âm (Zhong Jinyin) thuyền trường tàu cá Trung Quốc bị đưa về Nagasaki hôm 20/12/2011 vì xâm nhập đánh cá trái phép trong lãnh hải Nhật Bản.REUTERS/Kyodo
 
Viện Công tố Nagasaki cho biết đã hoàn tất hồ sơ truy tố ông Chung Tiến Âm (Zhong Jinyin), 39 tuổi, thuyền trưởng một tàu cá Trung Quốc.

Ngày 20/12 vừa qua, sau 6 giờ truy đuổi, tuần duyên Nhật Bản mới bắt giữ được viên thuyền trưởng này, trong khu vực biển ngoài khơi các quần đảo phía đông nam Nhật Bản.

Trong vòng chưa đầy hai tháng, đây là vụ bắt giữ thứ hai các tàu cá và ngư dân Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Nhật Bản để đánh bắt hải sản. Hiện chưa rõ viên thuyền trưởng này có bị đưa ra tòa xét xử hay không.

Tuần trước, tuần duyền Nhật Bản cũng đã bắt giữ một thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc. Người này đã được được trả tự do sau khi nộp phạt 300 ngàn yên (3 900 đô la). Các vụ tàu cá Trung Quốc xâm nhập trái phép vào lãnh hải của Nhật Bản để đánh bắt hải sản thường xuyên xẩy ra.

Trong chuyến công du Trung Quốc vừa qua của thủ tướng Nhật Bản, hai bên đã đồng ý thiết lập đối thoại ở cấp cao hơn để giải quyết những vấn đề liên quan đến việc đánh bắt hải sản và tránh gây căng thẳng trong quan hệ song phương. 
 
Đức Tâm
Nguồn: RFI Tiếng Việt

Tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh bảo vệ biển đảo Tổ quốc

Tại khu vực nhà giàn DK1/2 cụm Phúc Tần thuộc khu vực thềm lục địa phía Nam Tổ quốc, Đoàn công tác đi chúc Tết các nhà giàn DK1 của Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng 2 trên tàu HQ624 (Hải đội 812) đã tổ chức lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh khi làm nhiệm vụ tại khu vực này.


Thả hoa tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ.


Các cán bộ chiến sĩ hải quân tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ.




Quang cảnh lễ tưởng niệm.




Trung tá Đặng Văn Dinh, Phó Chủ nhiệm hậu cần vùng 2 Hải quân đọc diễn văn tưởng niệm.

Chùm ảnh: Huy Hùng

XUNG QUANH VẤN ĐỀ NHÂN SỰ CẤP CAO KHÓA 18 CỦA TRUNG QUỐC

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ sáu, ngày 30/12/2011
TTXVN (Hồng Công 23/12)

Tạp chí Open của Hồng Công số tháng 12 cho biết chỉ chưa đầy một năm nữa, Đại Hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ diễn ra vấn đề phân phối quyền lực tối cao của Trung Quốc đã trở thành điểm nóng của giới truyền thông Hồng Công và cũng dần được giới truyền thông quốc tế quan tâm chú ý. Sau khi Thời báo Niu Yoóc (Mỹ) đưa ra dự đoán về nhân sự cấp cao khóa 18 của Trung Quốc, gần đây giới truyền thông còn lưu truyền một bản danh sách các nhà lãnh đạo khóa 18 của Trung Quốc có xuất xứ từ Hàn Quốc.

Theo tạp chí Open, các phóng viên nước ngoài rất khó có thể hiểu được nền chính trị của Trung Quốc, nhưng lại thường biết lợi dụng giá trị của mình để moi lấy một số thông tin nội bộ. Bản danh sách đang được lưu truyền nêu trên gồm có 9 vị Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị và 11 vị Ủy viên Bộ Chính trị, tổng cộng là 20 người. Cụ thể như sau:

Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị, gồm: 1/ Tập Cận Bình (Phó Chủ tịch nước đương nhiệm) làm Tổng Bí thư, chờ đảm nhiệm chức Chủ tịch nước; 2/ Lý Khắc Cường (Phó Thủ tướng Thường trực đương nhiệm) làm Chủ tịch Quốc hội; 3/ Vương Kỳ Sơn (Phó Thủ tướng đương nhiệm) làm Thủ tướng; 4/ Lưu Diên Đông (Ủy viên Quốc vụ viện đương nhiệm) làm Chủ tịch Chính hiệp; 5/ Bạc Hi Lai (Bí thư Thành ủy Trùng Khánh đương nhiệm) làm phó Thủ tướng; 6/ Lưu Vân Sơn (Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương đương nhiệm) làm Ủy viên Bộ Chính trị; 7/ Lý Nguyên Triều (Trưởng Ban Tổ chức Trung ương đương nhiệm) chờ đảm nhiệm chức Bí thư Ủy ban Kỉ luật Trung ương; 8/ Lệnh Kế Hoạch (Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương đương nhiệm) chờ làm phó Chủ tịch nước và 9/ Mạnh Kiến Trụ (Bộ trưởng Công an đương nhiệm) chờ làm Bí thư Ủy ban Chính trị- Pháp luật Trung ương.

11 vị Ủy viên Bộ Chính trị gồm: 10/ Vương Hộ Ninh (Chủ nhiệm Ban Nghiên cứu Chính sách Trung ương đương nhiệm); 11/ Tôn Chính Tài (Bí thư Tỉnh ủy Cát Lâm đương nhiệm); 12/ Doãn úy Dân (Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Nhân lực và Bảo đảm Xã hội) 13/ Quách Kim Long (Thị trưởng Bắc Kinh đương nhiệm); 14/ Triệu Hồng Trúc (Bí thư Tỉnh ủy Chiết Giang đương nhiệm); 15/ Thường Vạn Toàn (ủy viên Quân ủy Trung ương đương nhiệm); 16/ Hứa Kỳ Lượng (Tư lệnh Không quân đương nhiệm); 17/ Uông Dương (Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông đương nhiệm, chờ thay Lưu Vân Sơn làm Trưởng Ban Tuyên truyền); 18/ Trầm Dược Dược (Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương đương nhiệm); 19/ Khương Dị Khang (Bí thư tỉnh ủy Sơn Đông đương nhiệm) và 20/ Hàn Chính (Thị trưởng Thượng Hải đương nhiệm).

Open cho rằng so với những gì tờ tạp chí đã đưa, bản danh sách này đáng được phân tích ở một số điểm như sau:

Thứ nhất là vị trí của Lý Khắc Cường. Nhân vật này vào Thường vụ Bộ Chính trị từ Đại hội 17, là người kế cận của phái Đoàn Thanh niên, lọt vào mắt xanh của Hồ cẩm Đào. Sau khi Giang Trạch Dân chọn Tập Cận Bình, phe Thái tử chiếm ưu thế trong vấn đề kế nhiệm. Đến nay, vị trí kế nhiệm của Tập Cận Bình trở thành vấn đề đã định, không ai có thể thách thức. Từ chỗ được bồi dường làm người kế cận thứ nhất, trong Đại hội 17, Lý Khắc Cường đã chuyển sang thành lựa chọn thứ hai. Vị trí tương lai của Lý Khắc Cường là chiếc ghế Thủ tướng có thực quyền. Sau Hội nghị Trung ương 6 khóa 17 diễn ra vào trung tuần tháng 10 vừa qua, nhận thức chung về “thể chế Tập-Lý” đã hình thành.

Nếu Lý Khắc Cường kế nhiệm chức Chủ tịch Quốc hội (hiện do Ngô Bang Quốc nắm giữ), điều đó cho thấy phe Đoàn Thanh niên tiếp tục thua thêm một nước cờ nữa trong vòng cạnh tranh chính trị lần này. Việc không bảo vệ đựợc vị trí Thủ tướng của Lý Khắc Cường không chỉ nói lên rằng phe Hồ Cẩm Đào đã bất lực trong việc ủng hộ nhân vật này, mà còn cho thấy tình trạng hoài nghi về năng lực cầm quyền của Hồ cẩm Đào vẫn chưa thay đổi. Vương Kỳ Sơn là quan chức đợt đầu được lựa chọn trong làn sóng trẻ hóa cán bộ sau cải cách mở cửa, có thời gian dài công tác trong lĩnh vực kinh tế, chủ trương hội nhập tiến trình quốc tế hóa, rất được phố Uôn hoan nghênh. Nếu sự phục hồi kinh tế của Trung Quốc trong tương lai yếu, cần gấp tới sự giúp đỡ của bên ngoài, Vương Kỳ Sơn làm Thủ tướng sẽ tốt hơn Lý Khắc Cường. Việc Lý Khắc Cường hay Vương Kỳ Sơn làm Thủ tướng vì thế vẫn còn phải chờ tới kết quả đấu tranh giữa hai phe Hồ Cẩm Đào và Giang Trạch Dân.

Thứ hai là việc Lưu Diên Đông vào Thường vụ Bộ Chính trị. Trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc, ngoài Giang Thanh dựa vào sự bá quyền của Mao-Trạch Đông để bước vào tầng lớp lãnh đạo tối cao, chưa ai làm được điều này. Vì thế, mọi người thông thường cho rằng khả năng Lưu Diên Đông vào Thường vụ Bộ Chính trị không phải là rất cao và không có tiền lệ. Lưu Diên Đông chỉ có thể phá vỡ tiền lệ nếu có cống hiến to lớn, được ghi vào lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Xem xét việc Lưu Diên Đông từng kinh qua chức Trưởng Ban Công tác Mật trận Thống nhật Trung ương, vị trí tới đây nhiều khả năng nhất của Lưu Diên Đông là Chính hiệp nhưng các đời Chủ tịch Chính hiệp chưa nhân vật nào từng làm Trưởng Ban Công tác Mặt trận Thống nhất Trung ươmg đảm nhiệm Do đó khả năng Lưu Diên Đông tiếp bước tiền lệ Ngô Nghi, tấn thăng làm phó Thủ tướng, là tương đối lớn.

Tuy nhiên, Lưu Diên Đông cũng có khả năng vào Thường vụ Bộ Chính trị. Gần đây, trong một số bài báo, việc Lưu Diên Đông được xếp cùng với Lý Nguyên Triều và Lưu Vân Sơn dường như cho thấy công tác nhân sự Thường vụ Bộ Chính trị đang phát triển theo hướng có lợi cho nhân vật này. Xem xét ở khía cạnh thành tích chính trị, 9 vị Thường vụ Bộ Chính trị hiện nay cũng thường thường, không thấy nổi trội. Nhưng việc xuất hiện một nữ Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị kèm theo hi vọng giúp Đảng Cộng sản Trung Quốc tạo ra ấn tượng quốc tế mạnh vẫn là một ẩn số. Được biết, có không ít nhà quan sát đánh giá cao khả năng Lưu Diên Động vào Thường vụ Bộ Chính trị, cho rằng Lưu Diên Đông là nhân vật thuộc phái Đoàn Thanh niên, nên có thể giành điểm.

Thứ ba là khả năng Bạc Hi Lai vào Thường vụ Bộ Chính trị. Thông thường mà nói, trong việc phân công công tác của Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị, quan chức cao cấp thiên tả về chính trị sẽ được sắp xếp phụ trách công tác đảng. Bạc Hi Lai có kinh nghiệm cả trong công tác hành chính lẫn cương vị người đứng đầu địa phương. Hơn nữa, Bạc Hi Lai từng kinh qua vị trí của một trưởng ngành (Bộ trưởng Thương mại), nên có thể nói lý lịch của nhân vật này là hoàn chỉnh, có ưu thế hơn người khác thậm chí không loại trừ mục tiêu cuối cùng của Bạc Hi Lai là chiếc ghế phó Chú phó chủ tịch nược. Tuy nhiên, điểm bất lợi của Bạc Hi Lai là một số cán bộ lão thành và phân tử trí thức trải qua Cách mạng Văn hóa rất phản cảm với phong cách chấp chính của nhân vật này cũng như việc Bạc Hi Lai cổ súy hát nhạc đỏ, tán tụng Mao Trạch Đông. Họ thậm chí còn cho rằng nếu Bạc Hi Lai lên năm quyền, Đảng Cộng sản Trung Quốc sụp đổ càng nhanh hơn. Bên cạnh đó, ở Trung Quốc hiện còn tồn tại lo lắng rằng nếu Bạc Hi Lai chủ quản Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, tiến hành tấn công xã hội đen trên tọàn quốc không biết số vụ án oan sẽ là bao nhiêu. Chỉ có điều người ta không biết những phản ứng này ở bên dưới sẽ ảnh hưởng ở mức độ nào tới quyết sách cấp cao?

Thứ tư là liên quan tới Uông Dương. Vì tồn tại sự cạnh tranh giữa Uông Dương và Bạc Hi Lai, nên khả năng tấn thăng quyền lực và những bất đồng chính trị giữa Uông Dương và Bạc Hi Lai trở thành điểm nóng của truyền thông, thậm chí đã xuất hiện thuyết “mô hình Trùng Khánh” và thuyết “mô hình Quảng Đông”, nhận được sự quan tâm lớn của truyền thông Anh, Mỹ. Bạc Hi Lai chủ trương chia bánh công bằng, Uông Dương chủ trương trước tiên phải làm cho chiếc bánh to lên. Uông Dương cho rằng lý luận phát triển của Đặng Tiểu Bình tuyệt đối quan trọng hơn chủ nghĩa Mác-Lênin truyền thống. Ngược lại với việc tấn công các điểm đen xã hội của Trùng Khánh, Quảng Đông đồng tình với phong trào công nhân, chủ trương đàm phán với công hội, nhận được những bình luận tốt của “chủ nghĩa thực dụng”. Giới học giả còn cho rằng cuộc đấu tranh giữa Trùng Khánh và Quảng Đông là sự kéo dài của cuộc đấu tranh giữa hai đường lối trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Vì thế, không có ai hoài nghi khả năng hai nhân vật đại diện cho nó là Bạc Hi Lai và Uông Dương sẽ vào Thường vụ Bộ Chính trị khóa 18.

Tuy nhiên, trong bản danh sách trên, Uông Dương không vào được Thường vụ Bộ Chính trị và xếp ở vị trí thứ 17. Về phía Trùng Khánh, tin đồn về việc Hồ Cẩm Đào khảo sát Trùng Khánh không ngừng xuất hiện (trong 9 vị ủy viên Thướng vụ Bộ Chính trị Trung Quốc hiện nay, chỉ có Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo là chưa tới Trùng Khánh). Nếu xem xét việc phái tả giương oai thế lực khắp nơi, Uông Dương dường như lép vế. Nếu không vào được Thường vụ Bộ Chính trị khóa 18, làm Trưởng Ban Tuyên truyền, Uông Dương sẽ giống như Lý Trường Xuân, phải đợi thêm một khóa mới vào được Thường vụ Bộ Chính trị, con đường hoạn lộ sẽ ngày càng hẹp, Uông Dương khẳng định sẽ không muốn bỏ lỡ 5 năm ở vị trí bê bối mà Lý Trường Xuân và Lưu Vân Sơn nắm giữ nhiêu năm. Vị trí mà Uông Dương muốn hướng tới là Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị và phó Thủ tướng.

Thứ năm là việc Lý Nguyên Triều chờ đảm nhiệm chức Bí thư Ủy ban Kỉ luật Trung ương. Lý Nguyên Triều nhiều năm làm Trưởng Ban Tô chức Trung ương, rất thích hợp với vị trí Bí thư Ủy ban Kỉ luật Trung ương. Từng kinh qua chức vụ tại Bộ Văn hóa, tỉnh ủy Giang Tô và Ban Tổ chức Trung ương, Lý Nguyên Triều rõ ràng là đối thủ mạnh nhất của Bạc Hi Lai. Do đó, Lý Nguyên Triều cũng có khả năng trở thành phó Chủ tịch nước. Nếu phe Hồ cẩm Đào nhượng bộ trong vấn đề chức vụ của Lý Khắc Cường đương nhiên sẽ phải tìm sự cân bằng ở vị trí tương lai của Lý Nguyên Triều. Bố cục “song Lý” của Hồ Cẩm Đào sớm bắt đầu từ khi Ly Nguyên Triều ở tỉnh ủy Giang Tô.

về khả năng Mạnh Kiến Trụ vào Thường vụ Bộ Chính trị, chờ đảm nhiệm chức Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương, theo tạp chí Open đây là sự sắp xếp mang tính chiết trung. Bộ Công an tiếp nhận chức Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương nên là thông lệ, nhưng rõ ràng là việc này đã che phủ dư luận xuất hiện gần hai năm nay trên chính trường Bắc Kinh rằng Bạc Hi Lai có khả năng tiếp quản ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương. Là nhân vật lãnh đạo thuộc phái Thượng Hải, có khuynh hướng xử lý công tác giữ gìn ổn định mềm dẻo, Mạnh Kiến Trụ là một ứng cử viên cho chức Bí thư Ủy ban Chính trị Pháp luật Trung ương tương đối gây tranh cãi.

về việc Lệnh Kế Hoạch vào Thường vụ Bộ Chính trị, tạp chí Open cho rằng đây cũng là chuyện khó lý giải. Lệnh Ke Hoạch và Vương Hộ Ninh (Chủ nhiệm Ban Nghiên cứu Chính sách Trung ương) được coi là cánh tay trái và cánh tay phải của Hồ cẩm Đào, chỉ là những quan chức đại nội, khi chủ không còn cầm quyền, nhiều khả năng không thể tấn thăng làm lãnh đạo nhà nước.

Tạp chí Open kết luận từ nay tới Đại hội 18 còn gần một năm, việc phân phối quyền lực ở Trung Quốc chắc chắn vẫn chưa kết thúc. Do đo, danh sách Thường vụ Bộ Chính trị nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và chỉ có thể phản ánh một số động hướng nào đó trong giai đoạn hiện nay. Nếu Thường vụ Bộ Chính trị khóa 18 vẫn giữ kết cấu 9 ủy viên, chí ít có hai đến ba nhân vật trong danh sách trên đứng trước nguy cơ không xác định rất lớn.

Năm 2012, bốn trong năm nước thành viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc là Mỹ, Nga, Pháp và Trung Quốc sẽ có các cuộc “bầu cử” quan trọng. Nhưng có thể nói cuộc “bầu cử” chọn lãnh đạo mới ở Trung Quốc được giới quan sát và truyền thông quan tâm nhiều nhất.

Đại hội đảng Cộng sản Trung Quốc, dự tính sẽ diễn ra vào mùa Thu năm tới, sẽ chính thức quyết định ai là người thay thế ông Hồ Cẩm Đào và ông Ôn Gia Bảo trong vai trò Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng Trung Quốc trong 5 hay 10 năm tới đây. Ngoài ra, với việc từ nhiệm của ông Hồ, ông Ôn và năm người khác vào dịp Đại hội 18 của đảng Cộng sản Trung Quốc, bảy trong chín ủy viên thường vụ của Bộ chính trị, cơ quan quyền lực cao nhất của đảng Cộng sản và nhà nước Trung Quốc cũng được bầu chọn trong đại hội này.

Với vị thế và tầm ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc, lập trường và đường lối của giới lãnh đạo Trung Quốc không chỉ quyết định hướng đi của quốc gia 1,3 tỷ người này mà còn tác động đến kinh tế và an ninh chung của thế giới.

Tập Cận Bình

Người được nhắc đến nhiều nhất trong thời gian qua là ông tập Cận Bình vì dù “bầu cử” chưa chính thức diễn ra nhưng giới Quan sát đều chắc chắn rằng ông sẽ lên thay thế ông Hồ cẩm Đào giữ chức Tổng bí thư và Chủ tịch nước sau kỳ đại hội.

Sinh năm 1953, Tập Cận Bình là con trai của Tập Trọng Huân, người đã từng tham gia Vạn lý Trường Chinh cùng Mao Trạch Đông, sau đó được giữ chức Phó Thủ tướng và được coi là một trong những công thần của chế độ. Dù bị thanh trừng trong giai đoạn Cách mạng Văn hóa, ông được Đặng Tiểu Bình khôi phục, trọng dụng và đóng một vai trò quan trọng trong việc cải cách kinh tế Trung Quốc vào những năm 1980, giúp nước này đạt những thành quả kinh tế vượt bậc.

Cũng vì mang “dòng máu cách mạng”, ông Tập Cận Bình thường được nhắc đến như là một nhân vật thuộc phe “thái tử” và sự nghiệp chính trị của ông cũng tương đối dễ dàng. Ông đã từng được giao những chức vụ quan trọng khác nhau ở cấp địa phương, trong đó có Bí thư thành ủy

Thượng Hải. Nhưng tên tuổi của ông chỉ được nhắc đến nhiều kể từ khi ông được bầu vào Thường vụ Bộ chính trị năm 2007. Tháng 3/2008, ông được bầu làm Phó Chủ tịch nước Và một năm sau, Tạp chí Time đã chọn ông là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất thế giới và tin rằng ông sẽ giữ chức chủ tịch nước vào năm 2012.

Mọi đồn đoán về vai trò lãnh đạo của ông dường như đã trở thành hiện thực khi ông Tập được trao chức Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương thang 10/2010 vì theo truyền thống bầu chọn lãnh đạo của Trung Quốc, nếu ai được giao giữ chiếc ghế đầy quyền lực đó, chắc chắn người ấy sẽ trở thành lãnh đạo tương lai của nước này. Tuy vậy, mặc dù được nhắc đến nhiều trong những năm gần đây, ít ai biết rõ lập trường chính trị của ông. Như một bài viết của Geoff Dyer trên The Financial Times ngày 4/3/2011 nhận định, vì tránh đề cập đến những chủ đề gây tranh cãi, ông Tập ít khi bày tỏ chính kiến. Đó cũng là lý do người ta khó nắm bắt được quan điểm của ông.

Nhưng dựa trên thân thế và sự nghiệp của ông Tập, bài viết này đưa ra hai giả thiết về đường lối lãnh đạo trong tương lai của ông. Thứ nhất, nếu thừa kế được lập trường của cha mình, ông Tập sẽ có đường lối cởi mở vì cha ông là một người có tư tưởng cải cách và là người đã từng công khai phản đối cuộc đàn áp ở Thiên An Môn năm 1989. Thứ hai, ông sẽ là một người bảo thủ vì ngay từ bước đầu trong sự nghiệp chính trị của mình, ông đã quyết định theo sát đường lối, lập trường chính thống của đảng va chính con đường này đã giúp ông thăng tiến trên bậc thang quyền lực. Hơn nữa khi thời điểm lên ngôi của mình đang đến, ông tìm cách gia tăng sự ủng hộ từ những thành phần thuộc các gia đình cách mạng và quân đội, hai lực lượng luôn muốn duy trì hiện trạng, không chấp nhận thay đổi.

Cũng theo Geoff Dyer, vì có quan hệ thân thiết với quân đội ông Tập có thể dễ dàng tác động đến lực lượng này và cũng vì có mối liên hệ gần gũi như vậy, có thể ông có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa.

Trong bài viết của mình được đăng trên tạp chí The National Interest của Mỹ ngày 28/9/2011, Bruce Gilley cũng cho rằng ông Tập có lập trường cứng rắn cả về đối nội và đối ngoại, và có những dấu hiệu cho thấy ông theo đuổi chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi trong chính sách ngoại giao. Một ví dụ được Bruce Gilley đưa ra để chứng minh thái độ cứng rắn của ông là việc ông công khai chỉ trích lại những ai chỉ trích Trung Quốc trong chuyến thăm Mêhicô của ông năm 2009.

Lý Khắc Cường

Nhân vật thứ hai được nhắc đến nhiều là Lý Khắc Cường, sinh năm 1955, hiện là Phó Thủ tướng và là người dường như chắc chắn sẽ thay thế ông Ôn Gia Bảo giữ chức Thủ tướng. Cũng giống như ông Tập, ông Lý được bầu vào thường vụ Bộ Chính trị năm 2007.

Nhưng trái ngược với ông Tập Cận Bình, ông Lý Khắc Cường không thuộc diện “con ông cháu cha”. Giống như Hồ cẩm Đào, Ôn Gia Bảo, ông đi lên từ phong trào thanh niên cộng sản. Đó cũng là lý do tại sao giới quan sát cho rằng ông được hai người này bảo vệ, nâng đỡ.

Là một sinh viên luật tại Đại học Bắc Kinh, ông thi vào đại học năm 1977, sau thời kỳ Cách mạng Văn hóa và có bằng tiến sỹ kinh tế, ông được coi là một trí thức, có đầu óc cải cách.

Một bài viết của Chris Buckley thuộc Reuters từ Bắc Kinh ngày 28/10/2011 cho biết, trong số những bạn bè học đại học với ông nhiều người cổ vũ cho dân chủ và sau này trở thành những nhà bất đồng chính kiến chống lại chính phủ. Những bạn bè ông được trích lời nói rằng khi nói chuyện ông cũng không đề cập đến những khẩu hiệu của Mao Trạch Đông. Ông rất mê học tiếng Anh. Và theo bài viết này, so với lớp lãnh đạo trước như Hồ cẩm Đào, Ôn Gia Bảo, thông thạo tiếng Anh cũng là một lợi thế của thế hệ lãnh đạo sắp tới của Trung Quốc.

Trước đại hội 17 của đảng Cộng sản Trung Quốc năm 2007, ông thường được coi là ứng viên cho vị trí lãnh đạo cao nhất. Nhưng theo một bài viết của Malcolm Moore trên The Guardian ngày 11/1/2011, vì cho rằng ông có lập trường tự do, cởi mở nên nhiều thành phần bảo thủ trong đảng đã quay sang ủng hộ đối thủ của ông là Tập Cận Bình.

Nhân vật khác

Hai nhân vật khác cũng được nhắc nhiều là Bạc Hy Lai, Bí thư thành ủy Trùng Khánh và Uông Dương, Bí thư tỉnh ủy Quảng Đông. Họ được coi là hai ứng viên nặng ký trong khoảng 14 ứng viên khác cho bảy chiếc ghế còn trống tại Thường vụ Bộ chính trị.

Thân thế của ông Bạc Hy Lai, sinh năm 1949, cũng giống như Tập Cận Bình, ông là con trai của Bạc Nhất Ba, một công thần chế độ, bị trù dập trong thời Cách mạng Văn hóa, nhưng sau đó được Đặng Tiểu Bình trọng dụng và đóng vai trò quan trọng việc cải cách, mở cửa của Trung Quốc. Vì vậy, ông Bạc Hy Lai cũng gần gũi với Tập Cận Bình, một nhân vật thuộc phe thái tử khác. Còn con đường sự nghiệp của ông Uông Dương, sinh năm 1955, lại giống con đường của ông Hồ cẩm Đào, Ôn Gia Bảo, Lý Khắc Cường, lớn lên từ phong trào đoàn.

Theo một bài viết trên Asia Times ngày 22/7/2011, hai nhân vật này không chỉ có thân thế trái ngược nhau mà quan điểm chính trị cũng rất khác nhau. Ông Bạc chủ trương quay lưng lại với các chính sách kinh tê thị trường và theo đuổi chủ nghĩa quân bình của thời Mao Trạch Đông, giới hạn khoảng cách giàu nghèo. Ngoài ra, ông cũng khuyến khích hát những ca khúc nhạc đỏ yêu nước, học thuộc lòng những tác phẩm của Mácxít và Maoít nhằm khôi phục lại những giá trị, tư tưởng thời Mao Trạch Đông. Trái lại, ông Uông Dương chủ trương tiếp tục chính sách kinh tế thị trường

và tiến hành thêm cải cách.

Một bài viết trên The Economist, số ra ngày 26/11/2011 và một bài viết của De La Grange đăng trên nhật báo Pháp, Le Figaro, ngày 14/10/2011, cũng đề cập đến hai nhân vật này và bình luận rằng họ đang theo đuổi hai mô hình phát triển khác nhau tại Trung Quốc. Hai bài báo này cũng cho rằng đây là hai khuynh hướng đối lập đang tranh giành ảnh hưởng hiện tại ở Trung Quốc.

“Mô hình Quảng Đông” cổ vũ tự do, ủng hộ kinh tế thị trường, giới hạn sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế cũng như cuộc sống của người dân. Trong khi đó “mô hình Trùng Khánh” lại thiên về chủ nghĩa xã hội, nhấn mạnh tầm quan trọng của các doanh nghiệp nhà nước và những giá trị xã hội chủ nghĩa truyền thống.

Bài viết của Asia Times cho rằng vì sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn tại Trung Quốc, xem ra quan điểm của ông Bạc Hy Lai đang được công chúng ủng hộ hơn. Bài viết này cũng cho rằng ngay trong đảng Cộng sản Trung Quốc, những cuộc đấu đá chính trị đang âm thầm diễn ra và không ai ngoài cuộc có thể đoán được quan điểm nào sẽ thắng thế trước đại hội 18 năm tới.

Chưa thay đổi


Đúng vậy, chưa ai có thể đoán được lập trường, đường lối của thế hệ lãnh đạo mới như thế nào hay khuynh hướng nào sẽ thắng thế vì như một bài viết cúa The Economist, trong số đặc biệt The World in 2012 (Thế giới năm 2012), nhận định cho tới khi ông Tập Cận Bình lên ngôi và yên vị trong chức vụ mới không nên đoán trước ông sẽ làm gì trong tư cách lãnh đạo mới của Trung Quốc.

Theo bài viết này, trong năm tới cũng sẽ không có gì mới trong chính sách đối nội và đối ngoại của Trung Quốc. Thậm chí có ít đổi mới về chính trị dù giới trí thức, nhà báo và một số đảng viên đòi hỏi có thêm cải cách trong lĩnh vực này. Trái lại, có thể Chính phủ Trung Quốc sẽ có thái độ cứng rắn hơn với những giới bất đồng chính kiến để bảo đảm rằng không ai có thể làm rung chuyển hệ thống trong giai đoạn chuyển giao quyền lực.

Vì vậy, dù nóng lòng muốn biết lập trường, đường lối cụ thể về đối nội đối ngoại của thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc như thế nào, các nhà chiến lược, giới quan sát, phân tích vẫn phải chờ đợi. Chẳng hạn, dù quan hệ của Trung Quốc với các nước Đông Nam Á trong thời gian vừa qua có nhiều sóng gió, đặc biệt liên quan đến tranh chấp Biển Đông, dư luận chung đều cho rằng chuyến đi của ông Tập Cận Bình tới Việt ,Nam và Thái Lan lần này cũng không mang đến những thay đổi lớn trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc./.

29/12/11

Siêu âm song sát Bastion - BrahMos

Bastion-P là một trong những hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển cơ động hiện đại nhất trên thế giới hiện nay. Đến nay, chỉ có Hải quân Nga và Việt Nam sở hữu hệ thống tên lửa khủng khiếp này.

Pháo đài thép Bastion-P bảo vệ bờ biển Việt Nam (armstrade.org)

Pháo đài thép

K300P Bastion-P (NATO gọi là SSC-5) là một trong các hệ thống tên lửa đất-đối-hạm thế hệ mới của Nga, dùng để tiêu diệt tàu mặt nước các loại trong đội hình các binh đoàn đổ bộ, các cụm tàu vận tải, các cụm tàu mặt nước và tàu sân bay xung kích, cũng như các tàu đơn lẻ và các mục tiêu mặt đất có tương phản radar trong điều kiện có đối kháng hỏa lực và vô tuyến điện tử mạnh. Hệ thống có tầm bắn đến 300 km và có thể bảo vệ một khu vực bờ biển dài 600 km. 

Hệ thống tên lửa bờ biển chiến dịch-chiến thuật Bastion với 2 biến thể cơ động (K300P Bastion-P) và cố định (Bastion-S) do Liên hiệp NPO Mashinostroenia phát triển, sử dụng tên lửa chống hạm P-800 Oniks (tên xuất khẩu là Yakhont).
Biên chế tiêu chuẩn của Bastion gồm: 4 xe bệ phóng K-340P (mỗi xe mang 2 tên lửa Yakhont để trong thùng phóng); 1-2 xe điều khiển chiến đấu K380P; các xe bảo đảm trực chiến và 4 xe tiếp đạn K342P.

Bastion có thể hoạt động kết hợp với radar trên tàu hoặc trực thăng trinh sát.

Mỗi hệ thống được trang bị 1-2 radar phát hiện-điều khiển tên lửa ngoài đường chân trời Monolit-B. Radar này cũng có thể nhận các tín hiệu từ radar Mineral-ME và các trực thăng chỉ huy/báo động sớm Ка-31.
Thời gian kể từ khi nhận lệnh trên đường hành quân cho đến khi triển khai tại các trận địa chiến đấu là không quá 5 phút, sau đó đại đội tên lửa bờ biển Bastion sẵn sàng cho việc phóng 8 tên lửa chống hạm Yakhont. Tên lửa sẽ được phóng thẳng đứng với nhịp phóng 2,5 s/quả. Trận địa có thể bố trí cách đường bờ biển đến 200 km. Sau khi triển khai, đại đội Bastion có thể duy trì ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu từ 3-5 ngày đêm tùy theo dự trữ nhiên liệu.

Tên lửa Yakhont/Oniks

Cốt lõi của Bastion - tên lửa Yakhont/Oniks phóng thẳng đứng, là tên lửa hành trình chống hạm siêu âm có tốc độ cao nhất thế giới hiện nay, có tầm bắn đến 300 km. Với tốc độ cao và tầm bắn xa, đây là vũ khí chống hạm cực kỳ lợi hại mà hầu như không hệ thống phòng thủ hạm tàu nào có thể đối phó được.

Tên lửa Yakhont (NATO gọi là SS-N-26), do Liên hiệp NPO Mashinostroyeniya phát triển năm 1997, có chiều dài 8,9 m, đường kính 0,72 m, trọng lượng phóng 3.000 kg, sử dụng hệ dẫn kết hợp quán tính và radar chủ động.

Yakhont đáp ứng tất cả những yêu cầu do quân đội Nga đặt ra đối với một loại tên lửa chống hạm mới: tấn công chính xác, có tốc độ siêu âm ở tất cả các giai đoạn bay, có thể phóng từ nhiều loại phương tiện mang: máy bay, tàu nổi, tàu ngầm, bệ phóng cơ động và cố định trên mặt đất.

Yakhont có các đặc điểm nổi bật là: tầm bắn ngoài đường chân trời; tác chiến hoàn toàn tự hoạt (nguyên lý “bắn-quên”); quỹ đạo bay linh hoạt (“thấp”, “cao-thấp”); tốc độ siêu âm cao ở mọi giai đoạn bay; chuẩn hóa hoàn toàn cho nhiều phương tiện mang (các lớp tàu nổi chủ lực, tàu ngầm và bệ phóng trên bờ); tàng hình đối với radar hiện đại (công nghệ Stealth).

Với tốc độ cao tới 750 m/s (2,6M, hơn 2.700 km/h), khả năng bay sát mặt biển (cách mặt biển 5-15 m), hầu như không một hệ thống phòng thủ hạm tàu hiện nay nào có thể ngăn chặn được Yakhont. Với phần chiến đấu 200 kg, Yakhont có thể tiêu diệt hầu hết tàu chiến trên thế giới hiện nay chỉ với một quả đạn.

Tên lửa có thể bay ở 2 chế độ: độ cao nhỏ với tầm bắn hiệu quả 120 km hoặc kết hợp “cao-thấp” với tầm bắn đến 300 km. Ở chế độ bay kết hợp, tên lửa bay hành trình ở độ cao đến 14.000 m và 10-15 m ở giai đoạn bay cuối. Ở chế độ bay ở độ cao nhỏ, tên lửa bay hoàn toàn ở độ cao đến 15 m. Tốc độ tối đa của tên lửa ở độ cao lớn là 750 m/s, ở độ cao nhỏ là 680 m/s.

Hiện Hải quân Nga có trong trang bị 3 hệ thống Bastion-P biên chế cho Lữ tên lửa-pháo bờ biển độc lập số 11 của Hạm đội Biển Đen, đóng ở Anapa.

Quân đội Nga cũng dự định triển khai Bastion trên quần đảo Kurils tranh chấp với Nhật Bản, nhưng chưa rõ số lượng sẽ được triển khai tại đây.

Trong cơn bĩ cực, để tự cứu sống mình, năm 1998, Liên hiệp NPO Mashinostroenia đã hợp tác với Tổ chức Nghiên cứu-Phát triển Quốc phòng DRDO của Bộ Quốc phòng Ấn Độ thành lập liên doanh BrahMos Aerospace Ltd và cho ra đời tên lửa PJ-10 BrahMos, đứa em song sinh giống hệt Yakhont. BrahMos cũng được trang bị cho nhiều loại phương tiện mang (tàu nổi, tàu ngầm, máy bay, bệ phóng cơ động trên mặt đất) của Hải, Lục, Không quân Ấn Độ.

BrahMos là vũ khí tấn công chủ yếu của cả 3 quân chủng Ấn Độ với 4 biến thể: phóng từ tàu nổi; bệ phóng mặt đất; tàu ngầm và máy bay. Các biến thể BrahMos phóng từ tàu nổi và từ mặt đất đã được trang bị cho Hải quân và Lục quân Ấn Độ. Các biến thể phóng từ máy bay và tàu ngầm đã hoàn tất phát triển và sắp được thử nghiệm.

Điểm đặc biệt là với PJ-10 BrahMos, bên cạnh chức năng chống hạm thì nhiệm vụ tấn công mục tiêu mặt đất rất được chú trọng. Với BrahMos, Lục quân Ấn Độ có được khả năng tấn công sâu kiểu phẫu thuật, làm đối trọng hiệu quả với tên lửa hành trình Babur của Pakistan. Còn các máy bay Su-30MKI và biến thể nâng cấp Super 30 sẽ trở thành vũ khí tấn công chiến lược khi được lắp BrahMos tấn công mặt đất.

Đứa em song sinh BrahMos (brahmos.com)

BrahMos là tên lửa hành trình có tốc độ cao nhất hiện nay (2,5-2,8M), cao gấp 3,5 lần tên lửa hành trình dưới âm Harpoon của Mỹ; nặng gấp 2 lần, có tốc độ cao hơn gần 4 lần và có động năng ban đầu hủy diệt của đầu đạn BrahMos cao gấp 16 lần so với tên lửa Tomahawk của Mỹ. Một loạt 9 quả BrahMos bắn đi có thể tiêu diệt 3 khinh hạm.

Hệ thống tên lửa BrahMos triển khai trên mặt đất (Land based Weapon Complex) bao gồm 4-6 xe bệ phóng cơ động độc lập (mỗi xe mang 3 tên lửa trong ống phóng kín), 1 đài chỉ huy cơ động và 1 xe tiếp đạn cơ động. Xe bệ phóng có thể có thể bắn từng quả hay bắn loạt với nhịp phóng 2-3 s trong vòng 4 phút sau khi nhận được lệnh, có thể phóng 3 tên lửa vào 3 mục tiêu khác nhau hoặc với chế độ kết hợp khác nhau gần như đồng thời.

Năm 2007, Lục quân Ấn Độ thành lập trung đoàn 861 trang bị BrahMos Block I (A1). Tiếp đó là 2 trung đoàn 862 và 863 trang bị BrahMos Block II. cuối tháng 9.2011, có tin Ấn Độ triển khai trung đoàn BrahMos thứ tư, trang bị BrahMos Block III tấn công mặt đất bổ nhào tại khu vực Đông Bắc để đối phó với Trung Quốc. Ấn Độ dự định triển khai các tên lửa BrahMos ở Ladakh, bang Jammu và Kashmir nhằm uy hiếp các mục tiêu chiến thuật và chiến lược ở Tây Tạng.

Hệ thống tên lửa BrahMos triển khai trên mặt đất (drdo.org)

Theo các dự báo khác nhau, Ấn Độ và Nga sẽ sản xuất 1.000-1.500 quả BrahMos, trong đó 300-500 quả bán cho các nước thân hữu do Ấn Độ và Nga lựa chọn. Có tin một số nước như Chile, Brazil, Nam Phi và Indonesia, Ai Cập, Malaysia, Oman, Brunei đang đàm phán, xem xét hoặc tỏ ra quan tâm đến việc mua sắm tên lửa này. Thậm chí, báo chí nước ngoài còn khẳng định, Ấn Độ đang đàm phán không chính thức để bán cho Việt Nam BrahMos.

Ngoài ra, Nga và Ấn Độ cũng đã ký hiệp định phát triển tên lửa siêu vượt âm BrahMos-II với 4 biến thể phóng từ mặt đất, máy bay, tàu nổi và tàu ngầm, nhưng có tốc độ kinh hoàng là trên 6M (hơn 6.000 km/h). BrahMos-II dự kiến sẽ trang bị vào năm 2015.

Hệ thống phóng và điều khiển BrahMos vẫn sử dụng được BrahMos-II. Ngoài các ưu điểm như BrahMos siêu âm, BrahMos-II có uy lực rất cao nhờ tốc độ khủng khiếp của nó vì một tên lửa tấn công mục tiêu với tốc độ 6M sẽ có uy lực công phá gấp 36 lần tên lửa cùng trọng lượng tấn công mục tiêu ở tốc độ 1M. Với động năng cao nhờ tốc độ khủng khiếp >6M, BrahMos-II là vũ khí lý tưởng đế tấn công các mục tiêu ngầm sâu dưới đất như boongke, các cơ sở hạt nhân, hóa-sinh và các mục tiêu kiên cố khác. Với tốc độ này, đối phương sẽ không có thời gian phản ứng đối phó với BrahMos-II.

Tiềm năng thay đổi cân bằng sức mạnh và răn đe chiến lược

Nhiều năm nay, cùng với các hệ thống vũ khí tối tân của Nga như tên lửa chiến thuật Iskander-E, tên lửa phòng không S-300, hệ thống tên lửa đất-đối-hạm Bastion-P và tên lửa Yakhont luôn nằm trong tâm điểm chú ý của thế giới ở các điểm nóng Iran, Syria.

Trên thực tế, Nga còn sử dụng các hệ thống vũ khí này như là công cụ gây ảnh hưởng chiến lược tại các khu vực điểm nóng và mặc cả với các Mỹ, phương Tây và Israel. Đến nay, ba khách hàng đã ký hợp đồng mua Yakhont là Việt Nam, Syria (mua cùng với Bastion-P) và Indonesia (mua biến thể lắp trên tàu chiến). Sắp tới, Venezuela có thể cũng sẽ mua Bastion-P. Yakhont nằm trong tầm ngấm của Iran, song khả năng mua bán là rất khó vì nước này đang bị trừng phạt, cấm vận vũ khí.

Gây tranh cãi nhất là hợp đồng bán Bastion-P/Yakhont cho Syria. Năm 2007, Syria ký hợp đồng mua của Nga 2 hệ thống Bastion-P trị giá 300 triệu USD, và cơ số đạn của một hệ thống có thể gồm tới 36 tên lửa Yakhont. Song có lẽ Syria chưa nhận được Bastion-P.

Israel rất kinh hoàng trước viễn cảnh siêu tên lửa này lọt vào tay Syria hoặc Hezbollah. Họ cho rằng tên lửa siêu hiện đại này sẽ là vũ khí tấn công chiến lược, đe dọa nghiêm trọng an ninh Israel và phá vỡ thế cân bằng lực lượng trong khu vực, đe dọa sự sống còn Hải quân Israel. Bastion-P không chỉ chấm dứt sự hoành hành của tàu chiến Israel ở Địa Trung Hải mà còn là phương tiện răn đe các cụm tàu sân bay Mỹ một khi xảy ra cuộc xâm lược chống Syria. Vì thế, trong mấy năm nay, Israel và Mỹ đang gây áp lực mạnh để Nga không bán Bastion-P và Yakhont cho Syria. Tuy nhiên, phía Nga cam kết vẫn thực hiện hợp đồng.

Theo báo chí nước ngoài, Việt Nam đã được Nga chuyển giao hệ thống (tiểu đoàn) Bastion-P đầu tiên vào tháng 5.2010, hệ thống thứ hai vào đầu tháng 10.2011 theo hợp đồng mua 2 hệ thống Bastion-P trị giá 300 triệu USD ký năm 2006. Đây là hợp đồng xuất khẩu đầu tiên Bastion-P/Yakhont và Việt Nam và Nga hiện là hai nước duy nhất sở hữu hệ thống tên lửa bờ biển siêu hiện đại này. Có tin, Việt Nam còn sắp triển khai sản xuất tên lửa Yakhont với sự hỗ trợ của Nga theo hợp đồng trị giá 300 triệu USD .

Tháng 8.2011, lại có tin Việt Nam đang đàm phán với Liên hiệp NPO Mashinostroenia mua thêm Bastion-P với số lượng chưa được tiết lộ, chuyển giao vào năm 2014. Nếu những thông tin được xác nhận là đúng thì Bastion-P cùng với Yakhont sẽ tăng cường mạnh mẽ khả năng tác chiến đối hải của quân đội ta, trở thành nòng cốt, pháo đài thép bảo vệ bờ biển.

BrahMos phóng từ bệ phóng mặt đất (brahmos.com)

BrahMos, đứa em song sinh của Yakhont, cũng được Ấn Độ và Nga xem như một phương tiện để củng cố các quan hệ chiến lược. Họ đang lên danh sách 15 quốc gia thân nữu có thể nhập khẩu BrahMos.

Theo tạp chí Kanwa, tên lửa BrahMos sẽ được trang bị cho 8 tiêm kích Su-30МК2 mà Việt Nam đặt mua tháng 1.2009, mặc dù hợp đồng chính thức chưa được ký.

Báo chí Ấn Độ cho hay, Việt Nam đã được Hội đồng hỗn hợp Nga-Ấn đưa vào danh sách 15 quốc gia có thể mua tên lửa BrahMos và Ấn Độ đang đàm phán không chính thức với Việt Nam về vấn đề mua bán BrahMos.

Indonesia là khách hàng thứ ba nhập khẩu tên lửa Yakhont, nhưng là để trang bị cho tàu chiến. Năm 2010, báo chí cho hay, Indonesia sẽ mua không dưới 120 quả Yakhont với đơn giá 1,2 triệu USD để lắp cho 6 khinh hạm và 10-14 tàu hộ vệ. Indonesia đã bắt đầu nhận Yakhont và trang bị cho khinh hạm Oswald Siahaan.

Ngày 20.4.2011, Hải quân Indonesia đã bắn thử thành công tên lửa chống hạm Yakhont dự kiến ở vịnh Sonda từ khinh hạm frigate KRI Oswald Siahaan số 354, tiêu diệt khinh hạm frigate bị loại bỏ Teluk Bayur số 502 ở xa 250 km.

Quân đội Hàn Quốc cũng đang phát triển tên lửa hành trình chống hạm siêu âm mới tầm bắn 300 km dựa trên tên lửa Yakhont của Nga.

Theo báo chí, trong năm 2011, Nga bắt đầu cung cấp các hệ thống tên lửa bờ biển tầm bắn 300 km cho Venezuela. Trung tâm Phân tích buôn bán vũ khí thế giới TsAMTO (Nga) dự đoán, đó có thể là hệ thống tên lửa bờ biển đa năng cơ động Club-M hoặc K300P Bastion-P.
 
Nguồn: VietnamDefence

Chiến tranh Iran có thể bắt đầu sau nửa giờ (updated)

VietnamDefence - Chiến tranh Iran có thể bắt đầu sau nửa giờ, Mỹ và Israel phải huy động 370 máy bay tham gia chiến dịch, trong các cuộc tập trận, quân đội Nga đang tập dượt tham gia cuộc chiến - đó là ý kiến của các chuyên gia quân sự Nga.

 



Mới đây được biết, quân đội Isrrael thành lập một bộ chỉ huy “các chiến dịch tầm xa” riêng (Deep Corps). Đứng đầu bộ chỉ huy này là thiếu tướng Shai Avital, cựu chỉ huy đơn vị đặc biệt tinh nhuệ Sayeret Matkal, đơn vị trong 50 năm tồn tại đã thực hiện không dưới 200 chiến dịch ở ngoài biên giới Israel, thể hiện hiệu quả chiến đấu cực kỳ cao. Đặc nhiệm Israel sẽ tham gia “các chiến dịch tầm xa” nào? Các chuyên gia tin chắc, mục tiêu gần nhất sẽ là Iran. Trong những tháng gần đây, ở Tel Aviv, ở cấp cao nhất, người ta đã đưa ra một số phát biểu rằng, xác suất giải pháp quân sự để giải quyết chương trình hạt nhân Iran mỗi ngày một cao hơn.

Đồng thời, Mỹ cũng khua trống trận ngày một to. Ngày 21.12, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, Tướng Martin Dempsey tuyên bố rằng, “trong trường hợp cần thiết< quân đội Mỹ có khả năng tấn công vào các mục tiêu hạt nhân và quân sự của Iran, nhưng hành động đó có thể kéo nước Mỹ vào một cuộc xung đột lâu dài” “sẽ trở thành thảm kịch cho khu vực và toàn thế giới”.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta thì phân giải, Mỹ không thể loại trừ việc tấn công Iran bởi lẽ họ không thể cho phép Tehran sở hữu vũ khí hạt nhân. “Nếu như chúng tôi sẽ có được thông tin nói rằng, họ đang phát triển vũ khí hạt nhân, chúng tôi sẽ áp dụng mọi hành động cần thiết để ngăn chặn điều đó”, ông Panetta nói và cho hay, thời gian còn lại không nhiều: Iran “đến cuối năm 2012, nếu như không phải là sớm hơn” sẽ có khả năng chế tạo một vũ khí hạt nhân.

Triển vọng một cuộc chiến tranh mới ở Cận Đông sẽ hiện thực đến đâu? Hãy lắng nghe ý kiến của các chuyên gia quân sự.

Phó Giám đốc Viện Phân tích Chính trị và Quân sự Nga Aleksandr Khramchikhin cho rằng, việc Iran bị tấn công lúc này là không thể tránh khỏi nữa. Iran không còn lấy một đồng minh nào trên thế giới, ngoại trừ Syria. Ngay cả trong thế giới Arab, Tehran cũng không còn được ai ủng hộ. Không loại trừ Syria cũng sẽ bị tấn công. Có thể chiến tranh sẽ mở màn chống lại cùng lúc hai nước này để “thanh lọc” toàn bộ khu vực Cận Đông phục vụ lợi ích của Mỹ và Israel.

Nga và Trung Quốc sẽ không dính vào. Bởi vậy, tất cả đang đi đến chỗ cuộc tấn công sẽ xảy ra. Chính vì vậy mà Mỹ đã vội vã rút quân khỏi Iraq để tránh đòn tấn công trả đũa của Iran.

Về thời gian tấn công Iran, thì có thể chờ đợi thậm chí sau nửa giờ. Israel đâu có bị ràng buộc bởi cam kết nào và từ lâu đã sẵn sàng tấn công.

Các hậu quả năng lượng và kinh tế đối với thế giới dưới dạng giá nhiên liệu sẽ tăng vọt cũng không thể ngăn cuộc chiến nổ ra, chính xác là không ngăn được Mỹ và Israel. Mỹ chở rất ít dầu từ Cận Đông, hơn nữa vài ngày trước họ đã bắt đầu mở niêm các kho dầu ở Alaska. Điều này chắc chắn cũng là một dấu hiệu của cuộc chiến đang đến gần. Chắc chắn sẽ có nạn nhân của giá dầu tăng vọt, trước hết là châu Âu, Ấn ĐỘ và Trung Quốc vì họ đang sống dựa vào dầu của Cận Đông.

Ông Khramchikhin hy vọng, Nga sẽ không đứng về bên nào trong cuộc chiến này mà chỉ là người quan sát. Hơn nữa, việc giá dầu tăng mạnh sẽ tạo cơ hội cho Nga sống dư dả trong vài năm nữa. Tuy nhiên, các kịch bản có sự tham chiến của Nga cũng đang được nghiên cứu.

Điều đó thể hiện rất rõ qua cuộc tập trận chiến dịch-chiến lược “Trung tâm 2011” diễn ra tháng 9.2011 với sự tham gia của Nga, Kazakhstan, Tadjikistan và Kyrzyzstan. Ở một nội dung thể hiện rất rõ việc diễn tập ngăn chặn cuộc tấn công của Iran từ trên bộ và trên biển vào hạ tầng dầu mỏ Kazakhstan ở khu vực ven biển Caspie. Không có quân đội Nga thì không thể ngăn chặn cuộc tấn công vào đồng minh của Nga.

Một số người cho rằng, nếu Iran bị dồn vào đường cùng, họ sẽ tiêu diệt toàn bộ hạ tầng không chỉ trên lãnh thổ của mình mà cả ở gần biên giới Iran, trong đó có Kazakhstan. Lúc đó, Moskva sẽ buộc phải nhảy vào bảo vệ đồng minh

Việc Nga liên tục tăng cường Hải đoàn Caspie chính là vì mục đích này. Trong số tất cả các binh đoàn của Hải quân Nga, Hải đoàn Caspie là đơn vị duy nhất trong 20 năm nay không hề suy yếu đi mà trái lại còn mạnh lên. Đó là vì khu vực này từ góc độ bảo đảm an ninh năng lượng là rất quan trọng đối với toàn thế giới. Iran cũng hiểu điều đó và chuẩn bị các biện pháp của họ.

Chủ tịch Học viện Các vấn đề địa-chính trị, TS KHQS, Đại tá hải quân Konstantin Sivkov, khi đánh giá về tính nghiêm túc trong các phát biểu của giới quân sự Mỹ về việc bằng mọi giá không để Iran có vũ khí hạt nhân, nhận định, tất cả chỉ là những cái cớ. Chiến tranh chống Iraq cũng bắt đầu dưới ngọn cờ đấu tranh chống vũ khí hủy diệt lớn mà ở đó hoàn toàn chẳng có. Nhưng nhân dân Iraq đã bị đẩy vào một thảm họa quốc gia, còn thương vong của thường dân theo một số nguồn tin đã vượt quá 1 triệu người. Vì thế lần này, những câu chuyện về vũ khí hạt nhân Iran chỉ là cái cớ để hủy diệt một trung tâm thế lực địa-chính trị có đường lối chính trị độc lập, không theo đuôi Mỹ.

Ngoài ra, Mỹ cũng gặp vấn đề khiến họ lâm vào tình thế nghiêm trọng và có thể buộc họ hành động cứng rắn chống Iran. Đó là tình thế cực kỳ nguy cấp của đạo quân Mỹ tại Afghanistan. Khi mà Pakistan cắt đứt khả năng tiếp cận hậu cần cho đạo quân này thông qua lãnh thổ của họ thì việc tiếp vận qua lãnh thổ Nga không thể bù đắp hoàn toàn tổn thất này. Trong khi đó, lượng hàng hóa cần thiết cho mỗi ngày đêm của đạo quân này là đến 8.000 tấn, tức là 8 đoàn tàu hỏa. Tình thế đó buộc người Mỹ phải tính cách mở cho mình một hành lang đến Afghanistan thông qua Iran.

Kế hoạch của Mỹ: Chiến địch chống Iran sẽ bắt đầu bằng việc không kích ồ ạt các mục tiêu hạ tầng quân sự quan trọng của Iran. Trong 48 giờ đầu chiến dịch, 2.500 mục tiêu trên lãnh thổ Iran gồm các cơ sở hạt nhân, các trận địa phòng không, bệ phóng tên lửa Shahab 3 và các sở chỉ huy sẽ bị tấn công. Mỹ sẽ mở màn chiến dịch với 65-70 máy bay tàng hình và 400 máy bay thông thường.

(1) Lò phản ứng nghiên cứu. Lò phản ứng và nhiên liệu để chạy do Mỹ cung cấp trong thập niên 1960 theo chiến lược thời chiến tranh lạnh.
(2) Nhà máy làm giàu Uranium. Theo các chuyên gia, khi hoạt động đủ công suất, nhà máy có thể sản xuất Uranium làm giàu đủ để sản xuất 20 đơn vị vũ khí hạt nhân/năm.
(3) Mỏ Uranium rộng 100-150 km2 với trữ lượng 3.000-5.000 tấn Uranium oxit.
(4) Nhà máy điện nguyên tử đang xây dựng. Nhà máy có 2 tổ máy, việc xây dựng một tổ máy, theo một số nguồn tin, đã gần hoàn thành.
(5) Nhà máy xử lý Uranium. Tại đây có thể sản xuất khí dùng để làm giàu Uranium, Uranium oxit, cũng như kim loại Uranium nghèo có thể dùng làm vỏ đầu đạn hạt nhân.
(6) Nhà máy sản xuất nước nặng. Nước nặng dùng để kiểm soát phản ứng hạt nhân dây chuyền ở một số loại lò phản ứng, cũng như để sản xuất Plutonium cho bom hạt nhân. 

Bởi vậy, người Mỹ chỉ còn cách tiến hành một chiến dịch tiến công đường không nhỏ gọn với lực lượng đến 300 máy bay: gần 250 máy bay trên hạm, gần 50 máy bay ném bom chiến lược từ các căn cứ xa hơn. Israel cũng có thể đóng góp gần 70 máy bay. Một chiến dịch như vậy sẽ chỉ cho phép giải quyết một khối lượng nhiệm vụ hạn chế. Họ sẽ không thể phá hủy toàn bộ tổ hợp của chương trình hạt nhân Iran, nhưng gây thiệt hại đáng kể cho nó thì họ sẽ làm được.

Về khả năng của Iran đánh trả một cuộc tấn công như vậy, ông Sivkov cho biết, Iran có 48 tiêm kích F-14 Tomcat - đây là loại máy bay uy lực rất mạnh với các tên lửa có tầm bắn 160 km và radar trên khoang mạnh. Lực lượng máy bay còn lại là các loại lạc hậu như F-4. Ngoài ra, Iranconf có khoảng 20-25 chiếc MiG-29. Hệ thống phòng không Iran được xây dựng theo các nguyên tắc cũ, tức là trên cơ sở các đài radar mặt đất. Nhưng thậm chí một hệ thống phòng không như vậy nếu được sử dụng khéo léo cũng có thể gây tổn thất nặng nề cho đối phương. Iran sẽ không thực sự ngăn chặn được cuộc tấn công đường không, song họ có thể ngăn ngừa tổn thất có thể ở mức đáng kể.

Về chiến dịch quân sự thì nó thực sự khả thi, song không phải là chiến dịch trên bộ mà là chiến dịch đường không-vũ trụ có sử dụng không quân, không quân hải quân và không quân chiến lược. Hiện nay, không thể mở chiến dịch mặt đất đánh Iran. Nếu căn cứ vào quân số lực lượng vũ trang Iran thì để giành thắng lợi trên mặt đất, sẽ cần thành lập một đạo quân có quân số không dưới 1 triệu người và lập các kho dự trữ các loại cỡ gần 10 triệu tấn. Ngoài ra, còn phải thành lập một lực lượng không quân với không dưới 300-400 máy bay triển khai trên mặt đất, 200-300 máy bay trên tàu sân bay. Với lực lượng như thế, Mỹ sẽ có thể giải quyết được nhiệm vụ và chế áp lực lượng phòng không và bảo đảm phá hủy chắc chắn tổ hợp các nhà máy cấu thành chương trình hạt nhân Iran. Nhưng để tiến hành một chiến dịch quy mô nhường ấy, các khả năng của Mỹ lại bị hạn chế đến mức có thể nó là họ hoàn toàn không có những khả năng ấy. Trước hết, vấn đề là ở chỗ không có bàn đạp địa-chiến lược mà ở đó sẽ có thể triển khai một đạo quân như vậy. Nếu nhìn lên xung quanh Iran, có thể thấy đơn giản là không có một vị trí như vậy.
Các cơ sở hạt nhân Iran nằm ở Arak, Ardakan (đang xây dựng tổ hợp khai khoáng), Bandar-Abbas (tổ hợp khai khoáng), Bushehr, Darkovin, Isfahan, Qom, Natanz, Saghand (mỏ Uranium), Tehran. Các chuyên gia cho rằng, một số cơ sở hạt nhân các nhà quan sát vẫn chưa biết vì được giấu ngầm dưới đất, kể cả trong các hang núi và đường hầm.

Ở gần Arak có nhà máy HWPP sản xuất nước nặng. Gần đó đang xây dựng lò phản ứng nước nặng nghiên cứu. Theo các thỏa thuận đã ký, các thanh sát viên IAEA chỉ có quyền tiếp cận lò phản ứng.

Nhà máy điện nguyên tử đầu tiên của Iran ở Bushehr, mà trong thập kỷ 1970, các chuyên gia Đức đã bắt tay xây dựng, đã được xây dựng xong với sự tham gia của các chuyên gia Nga. Sau khi đưa nhà máy vào hoạt động, Nga có trách nhiệm cung cấp nhiên liệu hạt nhân để làm việc trong 11 năm cho Iran. Nhà máy bắt đầu hoạt động vào ngày 21.8.2010, khiến Bộ Ngoại giao Israel rất tức giận.

Tháng 6.2007, Iran thông báo bắt đầu tự xây dựng nhà máy điện nguyên tử thứ hai tại công trường “Ahvaz” ở Darkovin. Trong hơn 1 năm, Iran không cung cấp tài liệu thiết kế nhà máy này cho IAEA.

Tại Isfahan đã xây dựng xong nhà máy chuyển hóa UCF, dừng hoạt động từ tháng 8.2009 để sửa chữa và bảo dưỡng. Các thanh sát viên IAEA vào tháng 10.2009 đã phát hiện tại nhà máy các thùng chứa nước nặng, mặc dù các nghị quyết của Hội đồng Bảo an LHQ buộc Iran phải dừng các dự án nước nặng. Cũng ở khu vực Isfahan còn có nhà máy nhiên liệu FMP và nhà máy ziricon ZPP.

Từ năm 2007, Iran tiến hành xây dựng nhà máy phân tách FFEP (cơ sở Fordow) gần thành phố Qom. Ở Natanz, nhà máy phân tách FEP liên tục làm giàu Uranium cho lò phản ứng (dưới 5 %), còn ở nhà máy PFEP với trang bị hiện đại vào tháng 2.2010, lần đầu tiên Iran có khả năng làm giàu Uranium 20%.

Tại Tehranе có một lò phản ứng nghiên cứu đã cũ do Mỹ xây dựng trong thập niên 1960 để nghiên cứu và sản xuất thuốc.

Năm 2009, được biết, trong tương lai gần, Iran dự định xây dựng 20 nhà máy điện nguyên tử mới và 10 nhà máy làm giàu Uranium mới.

Nguồn: SVP, 23.12.11.

Trung Quốc bác tin đã gửi quân tới Triều Tiên

(GDVN) - Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã lên tiếng bác bỏ các cáo buộc của phương tiện truyền thông quốc tế cho rằng Bắc Kinh đã đưa quân tới TT.

 
Ngày 28/12, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã lên tiếng bác bỏ các cáo buộc của phương tiện truyền thông quốc tế trước đó đưa tin cho rằng Bắc Kinh đã đưa quân tới Triều Tiên.
 
Tân Hoa Xã dẫn lời phát ngôn viên Yang Yujun cho biết, các thông tin cho rằng quân đội Trung Quốc đã đưa quân vào lãnh thổ Triều Tiên theo yêu cầu của chính phủ nước này nhằm giúp duy trì sự ổn định là "hoàn toàn vô căn cứ".

Được biết, trong ngày 28/12, hàng trăm ngàn người Bình Nhưỡng đã đổ xuống đường phố và quảng trường Kim Il Sung để tham dự lễ tang Chủ tịch Kim Jong Il, người qua đời ngày 17/12 trên một chuyến tàu vì bệnh tim.

Tuy nhiên, tình báo Mỹ và Hàn Quốc tin rằng, thực sự Chủ tịch Kim không qua đời vào ngày 17/12 như các phương tiện truyền thông chính thức của Triều Tiên tuyên bố mà đã qua đời tại dinh thực riêng trước đó 2 ngày.

Nguyễn Hường (theo Rian)

SÁCH MỚI: "Biển Đông: Hướng tới một Khu vực Hòa bình, An ninh và Hợp tác"

Sách mới (do Nhà Xuất bản Thế giới ấn hành, chủ biên: Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao) tập hợp các bài viết cập nhật sau Hội thảo khoa học quốc tế lần thứ 2 về Biển Đông với chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong Khu vực” tại Thành phố Hồ Chí Minh.


Chủ biên: Đặng Đình Quý, Nhà xuất bản Thế giới 2011.

Số trang: 510 trang

Sách có bán tại:

- Phòng Tạp Chí Nghiên cứu Quốc tế, Trung tâm Thông tin Tư liệu, Học viện Ngoại giao, 69 Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội

- Hiệu sách Nhà Xuất Bản Thế Giới, 46 Trần Hưng Đạo, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội

- Hiệu sách Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, 24 Quang Trung, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội

Nội dung cuốn sách tập trung vào các chủ đề chính sau: (i) Tầm quan trọng của Biển Đông trong bối cảnh môi trường chiến lược đang thay đổi, (ii) Những diễn biến ở Biển Đông gần đây và hệ lụy đối với an ninh và thịnh vượng ở khu vực, (iii) Các vấn đề pháp lý quốc tế trong các tranh chấp ở Biển Đông, (iv) Quá trình giải quyết tranh chấp, xây dựng lòng tin và phương thức thúc đẩy hợp tác khu vực.

Tải bản mềm (tóm tắt một số nội dung chính) tại đây

Một số bài viết trong cuốn sách

Nguyễn Hồng Thao, Biển Đông, Ba giai đoạn, bốn thách thức, hai cách tiếp cận khu vực và một niềm tin

Bronson Percival, Biển Đông Quan điểm từ Hoa Kỳ

Daniel Scheaffer, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Biển Đông : Một quan điểm từ bên ngoài

Alberto A. Encomienda, Quan điểm và cách tiếp cận về hợp tác khu vực
 

Việt Nam: một người Pháp trong dòng xoáy Biển Đông

Hà nội (AFP) – Trong chiến tranh Việt Nam, André Menras đă từng bị cầm tù tại Sài Gòn vì ủng hộ những người cộng sản miền Bắc. Giờ đây, người Pháp này lại một lần nữa trở thành tâm điểm của hồ sơ nóng bỏng tại Việt Nam (tổ quốc thứ hai của ông): tham vọng bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc.

 
Năm 2003, ông đã ngồi trên nóc nhà thờ chính tòa Beziers ở miền Nam nước Pháp, để phản đối việc thời gian ông bị giam cầm đã không được tính vào lương hưu. Và chỉ rời khỏi đó sau 44 ngày, khi yêu cầu được chấp thuận. (© AFP Dominique Faget)

Không nghi ngờ gì, người chiến binh 66 tuổi khác thường này là người nước ngoài duy nhất âm thầm khuấy động một hồ sơ cấm kỵ và nguy hiểm: những tranh cãi giữa Hà Nội và Bắc Kinh về quần đảo tại Biển Đông.

Là giáo viên nghỉ hưu, sống với gia đình ở miền Nam nước Pháp nhưng ông đi về Việt Nam rất thường xuyên từ 10 năm nay, những câu chuyện của những người dân chài ở Quảng Ngãi, những người thường xuyên ra khơi trong vùng quần Hoàng Sa theo cách gọi của người Việt làm ông vô cùng xúc động.

Ông giải thích với phóng viên AFP: « Họ là những người hiện hữu duy nhất, hàng ngày xác nhận chủ quyền lãnh hải của Việt Nam »

Ông đã quyết định vinh danh họ bắng cuốn phim tài liệu « Hoàng Sa, nỗi đau này » với sự chấp thuận của bộ ngoại giao.

Vậy mà lần trình chiếu đầu tiên bộ phim tại thành phố Hồ Chí Minh đã bị hủy bỏ một cách thô bạo, ông nói tiếp.

Thực tế André Menras không hề chống lại chính quyền cộng sản.

Năm 1968, lần đầu tiên đến Việt Nam như một công tác viên với ý nghĩ “quân đội Mỹ đang bảo vệ các giá trị tự do, chống lại những người Việt Cộng hung dữ”, ông đã nhanh chóng thay đổi ý nghĩ khi được tận mắt chứng kiến cuộc chiến.

Tự nhận mình là kẻ phản kháng, năm 1970, ông đã trương một băng khẩu hiệu ủng hộ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam tại Sài Gòn. Vì hành động này ông đã bị tù 2 năm.

Năm 2009, ông là một trong những người nước ngoài hiếm hoi nhận được quốc tịch Việt Nam, do chính chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trao tận tay với lời phát biểu « ông đã đứng về phía chúng ta trong những thời điểm khó khăn nhất».

Từ đó ông mang tên Hồ Cương Quyết. Hồ chính là họ của Hồ Chí Minh, người sáng lập đảng cộng sản Việt nam, còn Cương Quyết có nghĩa là kiên định và quyết tâm.

Thậm chí bộ văn hóa Việt Nam đang làm một bộ phim về tôi, ông nói tiếp.

Bộ phim « Hoàng sa – nỗi đau này » cực kỳ « dân tộc chủ nghĩa », bình luận bởi Benoit Tréglodé – giám đốc Viện đương đại Đông Nam Á (Irasec) đóng tại Băng Kốc. Đặc điểm của những người bạn của Việt Nam muốn Việt Nam hơn cả người Việt.

Bộ phim này đến vào thời điểm mà đảng cộng sản Việt Nam không cho phép người dân của mình tham gia vào các vấn đề liên quan đến quan hệ với Trung Quốc, một nhà nghiên cứu cho biết.

Quan hệ giữa hai chính phủ cộng sản đã trở nên căng thẳng kể từ mùa xuân sau khi xảy ra các sự cố quanh các đảo tranh chấp ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Những căng thẳng đã chỉ giảm bớt kể từ khi chính phủ Việt Nam nới lỏng các biện pháp an ninh. Họ đã cho phép một loạt các cuộc biểu tình chống Trung Quốc vào đầu mùa hè, một việc chưa từng có, trước khi đột ngột chấm dứt.

Phim « Hoàng Sa – nỗi đau này » trích dẫn lời kể của ngư dân, các góa phụ về các cuộc tấn công tàu đánh cá Việt Nam của hải quân Trung Quốc, bắt giam ngư dân, đòi tiền chuộc …

“Đó thực sự là sự khủng bố”, con người đã ngoài lục tuần này mạnh mẽ khẳng định, ông quyết định chia sẻ cuộc sống với những người mà ông mô tả là “anh hùng hàng ngày”.

Một quyết định mà ông cũng đã thể hiện trong quá khứ.

Năm 2003, ông đã ngồi trên nóc nhà thờ chính tòa Beziers ở miền Nam nước Pháp, để phản đối việc thời gian ông bị giam cầm đã không được tính vào lương hưu. Và chỉ rời khỏi đó sau 44 ngày, khi yêu cầu được chấp thuận.

Trong khi chờ đợi cho giấy phép phát sóng ở Hà Nội hoặc TP Hồ Chí Minh, mà ông đang đề nghị, bộ phim sẽ được trình chiếu tại Paris vào tháng Giêng. Ông cũng dựa vào Internet để giới thiệu nó, trên Youtube bộ phim này đã được xem hơn 35.000 lần.

Ngay cả những vụ bắt giữ các blogger gần đây bởi chế độ cũng không làm ông sợ hãi. “Năm 20 tuổi tôi đã không sợ, lẽ nào đến nay 66 tuổi tôi lại sợ”.
 
Người dịch: N.T.N.
 
Nguồn: Libération

XUNG QUANH CHUYẾN THĂM VIỆT NAM VÀ THÁI LAN CỦA PHÓ CHỦ TỊCH NƯỚC TRUNG QUỐC TẬP CẬN BÌNH

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt 
 
Thứ năm, ngày 29/12/2011 
 
TTXVN (Hồng Công 25/12)

Theo trang tin của hãng thông tấn Bình luận Trung Quốc (Hồng Công) ngày 25/12, nhận lời mời của Việt Nam và Thái Lan, Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã có chuyến thăm chính thức tới hai nước này từ 20/12 tới 24/12. Kết thúc chuyến thăm, Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân, một trong số những quan chức tháp tùng chuyến thăm, đã có cuộc trao đổi với báo giới về tình hình liên quan cũng như thành quả của chuyến thăm. Dưới đây là nội dung cuộc trao đổi giữa Thứ trưởng Trương Chí Quân với báo giới được đăng trên trang tin của hãng thông tấn Bình luận Trung Quốc:



Ông Trương Chí Quân cho biết chuyến thăm lần này của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình diễn ra trong bối cảnh tình hình quốc tế phát sinh biển đối sâu sắc phức tạp, cục diện châu Á bước vào vòng điều chỉnh mới, ban lãnh đạo mới, chính phủ mới của Việt Nam và Thái Lan thành lập chưa được lâu, là hành động ngoại giao quan trọng trong thời điểm cuối năm của Trung Quốc đối với khu vực xung quanh. Chuyến thăm này có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy và thắt chặt quan hệ đối tác chiến lược giữa Trung Quốc và ASEAN, củng cố và phát triển ngoại giao láng giềng thân thiện với các nước xung quanh.

Chuyến thăm của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình thực hiện theo phương châm “củng cố tình hữu nghị láng giềng thân thiện, tăng cường sự tin tưởng chiến lược với nhau, thúc đẩy hợp tác thiết thực”. Trong chuyến thăm, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình lần lượt tổ chức hội kiến hội đàm với lãnh đạo chính phủ, Quốc hội và chính đảng hai nước, đi sâu trao đối ý kiến thẳng thắn, hữu hảo về các vấn đề trong quan hệ song phương cũng như những vấn đề quốc tế và khu vực mà hai bên cùng quan tâm, đạt được hàng loạt nhận thức chung quan trọng; lần lượt cùng lãnh đạo hai nước chứng kiến hơn 10 lễ ký văn kiện hợp tác song phương trên các lĩnh vực như kinh tế thương mại, tài chính, thông tin, văn hóa, y tế… giữa hai chính phủ và cơ quan tài chính hai bên, nhằm làm sâu sắc hơn nữa sự hợp tác thiết thực trên các lĩnh vực; tiếp xúc rộng rãi với các học giả thuộc các giới ở địa phương, hoạt động trên các lĩnh vực như kinh tế thương mại, thanh niên, văn hóa, giáo dục… Phó Chủ tịch Tập Cận Bình cũng tham dự nhiều hoạt động giao lưu nhân văn, củng cố nền tảng xã hội của tình hữu nghị láng giềng thân thiện giữa Trung Quốc và hai nước trên Trong thời gian chuyến thăm, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình còn lần lượt tiếp kiến thân mật với nhân viên công tác thuộc Đại sứ quán, cơ quan đầu tư, lưu học sinh Trung Quốc và đại diện Hoa kiều tại hai nước, tham dự và phát biểu tại buổi tiệc chào mừng do các giới Hoa kiều Trung Quốc ở Thái Lan tổ chức, giới thiệu tình hình cải cách phát triển của Trung Quốc, khuyến khích họ đóng góp nhiều hơn cho tình hữu nghị và sự hợp tác giữa hai nước.

Ồng Trương Chí Quân cho biết hai nước đều đánh giá cao chuyến thăm của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, tiếp đãi nhiệt tình hữu hảo với quy cách lễ tân cấp cao. Các thành viên chủ yếu của ban lãnh đạo khóa mới của Việt Nam đều xuất hiện và nhiệt tình hội kiến hội đàm; lãnh đạo hai nước mở tiệc chào mừng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Công chúa Thái Lan Maha Chakri Sirindhorn và Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra đã lần lượt mở tiệc chiêu đãi phạm vi nhỏ; Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra đã đích thân cùng Phó Chủ tịch Tập Cận Bình tham quan triển lãm sản phẩm đặc sắc các nơi mang tên “Mỗi nơi một sản phẩm” và thăm trường học trong khu vực thiên tai ở Thái Lan Những hoạt động được sắp xếp kĩ càng, những cảnh tượng cảm động lòng người đã thể hiện đầy đủ sự đón tiếp nhiệt tình của hai nước đối với lãnh đạo Trung Quốc tới thăm và tình hữu nghị truyền thống của nhân dân hai bên.

1. Củng cố tình hữu nghị láng giềng thân thiện, thúc đẩy sự tin tưởng chính trị lẫn nhau

Việt Nam và Thái Lan đều là những nước láng giềng quan trọng của Trung Quốc. Sáu mươi mốt năm qua, kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam về tổng thể là phát triển tốt đẹp. Trung Quốc và Thái Lan là hai nước lân bang hữu hảo thân mật, có nền tảng quan hệ sâu sắc. Trong chuyến thăm này, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình cùng lãnh đạo hai nước đã đi sâu trao đổi ý kiến về việc tăng cường sự hiểu biết chiến lược, thúc đẩy hơn nữa quan hệ song phương và đạt được nhận thức chung quan trọng.

Trong thời gian thăm Việt Nam, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình và Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Hồng Anh và Phó Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Thị Doan đã tiến hành hội đàm và tham dự tiệc chiêu đãi tối do Việt Nam tổ chức, hội kiến với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và dự tiệc chiêu đãi phạm vi nhỏ do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tổ chức, lần lượt hội kiến với Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng và Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.

Phó Chủ tịch Tập Cận Bình cho biết việc phát triển tình hữu hảo Trung-Việt là phương châm chiến lược mà Đảng và Chính phủ Trung Quốc kiên định, Trung Quốc nguyện cùng phía Việt Nam thực hiện những nhận thức chung quan trọng mà Tổng Bí thư hai đảng đạt được vào tháng 10/2011, củng cố tình hữu hảo truyền thống, thúc đẩy sự tin tưởng chính trị lẫn nhau, giải quyết thỏa đáng bất đồng trên biển, truyền cây gậy tiếp sức tình hữu nghị láng giềng thân thiện Trung-Việt từ đời này sang đời khác, bảo đảm quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước phát triển ổn định lành mạnh lâu dài. Phía Việt Nam cũng cho biết việc phát triển hợp tác hữu hảo với Trung Quốc luôn nằm ở vị trí quan trọng hàng đầu trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam, phía Việt Nam nguyện cùng phía Trung Quốc nghiêm túc thực hiện nhận thức chung quan trọng của Tổng Bí thư hai đảng, tăng cường tiếp xúc cấp cao, thúc đẩy sự tin tưởng chính trị lẫn nhau, đẩy mạnh hợp tác thiết thực, mở rộng giao lưu hữu hảo, xử lý ổn thỏa bất đồng, thúc đẩy quan hệ hữu hảo giữa hai nước phát triển lành mạnh ổn định bền vững và hướng về phía trước. Hai bên đánh giá tích cực nhận thức chung quan trọng và hiệp nghị nguyên tắc cơ bản về xử lý thỏa đáng tranh chấp Biển Đông, đạt-được trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, nhất trí sẽ cùng nỗ lực, quán triệt thực hiện nghiêm túc, thiết thực giữ gìn ổn định Biển Đông.

Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình được tiến hành với hai tư cách: lãnh đạo đảng và lãnh đạo nhà nước. Chuyến thăm đã tăng cường hơn nữa sự qua lại giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam. Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã giới thiệu với các nhà lãnh đạo Việt Nam tình hình trong nước và kinh nghiệm xây dựng đảng của Trung Quốc, chỉ rõ phía Trung Quốc nhất quán coi trọng phát triển quan hệ giữa hai đảng, hai bên cần chú trọng thực hiện chương trình hợp tác 5 năm giữa hai đảng, thúc đẩy giao lưu kinh tế trị đảng trị quốc, tăng cường hợp tác giữa các cơ quan cùng chuyên ngành của hai đảng. Phía Việt Nam đánh giá cao những thành tựu phát triển của Trung Quốc, chân thành chúc Đại hội 18 sẽ tổ chức thành công, bày tỏ mong muốn tăng cường hơn nữa giao lưu trao đổi kinh nghiệm trị đảng trị quốc và hợp tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và xây dựng đảng ở hai nước.

Trong thời gian thăm Thái Lan, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã hội kiến với đại diện Quốc vương, Công chúa Maha Chakri Sirindhorn và tiến hành hội đàm với Thủ tướng Yingluck Shinawatra, tham dự tiệc chiêu đãi chào mừng và ăn sáng bàn tròn phạm vi nhỏ do phía Thái Lan tổ chức. Phó Chủ tịch Tập Cận Bình còn hội kiến với Chủ tịch Quốc hội kiêm Chủ tịch Hạ viện Somsak Kiatsuranont, Chủ tịch Hội đồng Cơ mật Prem Tinsulamonda và Chủ tịch Đảng Dân chủ, cựu Thủ tướng Abhisit Vejjajiva.

Phó Chủ tịch Tập Cận Bình cho biết phía Trung Quốc coi trọng phát triển quan hệ hữu hảo với Thái Lan, nguyện cùng Thái Lan mở rộng giao lưu cấp cao, thúc đẩy sự tin tưởng chiến lược lẫn nhau, cùng nỗ lực nâng quan hệ hợp tác mang tính chiến lược giữa hai nước lên tâm cao mới. Phó Chủ tịch Tập Cận Bình còn nhiều lần thăm hỏi về thảm họa lũ lụt ở Thái Lan. Các nhà lãnh đạo Thái Lan đánh giá cao quan hệ giữa Thái Lan và Trung Quốc, cảm ơn phía Trung Quốc đã viện trợ và thăm hỏi tình hình thiên tai đối với Thái Lan ngay trong thời gian đầu, bày tỏ mong muôn tăng cường hơn nữa sự hiểu biết lẫn nhau và phổi hợp với phía Trung Quốc, thúc đẩy quan hệ và hợp tác trên các lĩnh vực giữa hai nước tiến triển mạnh hơn.

2. Duy trì truyền thống hữu nghị, thúc đẩy giao lưu nhân văn “Mối tình thắm thiết Việt-Trung, vừa là đồng chí vừa là anh em”, tình hữu nghị Trung-Việt mà các nhà lãnh đạo lão thành hai nước đích thân xây dựng và dầy công vun đắp có được không dễ dàng, vô cùng quý báu, Quan hệ hữu hảo giữa Trung Quốc và Thái Lan có lịch sử lâu đời, “Trung Quốc, Thái Lan tình thân một nhà” là miêu tả sinh động về quan hệ hữu hảo giữa hai nước và tình hữu nghị sâu đậm giữa nhân dân hai nước. Chuyến thăm lần này của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình coi trọng việc duy trì tình hữu nghị truyền thống giữa Trung Quốc và hai nước, thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau và giao lưu giữa các tầng lớp nhân dân, đặc biệt trong chuyên thăm đã diễn ra một loạt hoạt động quan trọng, nhận được những phản ứng tích cực từ các giới chính trị và xã hội hai nước cũng như đạt được hiệu quả Trong thời gian thăm Việt Nam, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã kính cẩn viếng thăm Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và thăm quan nơi ở của Người, nghe kể về những câu chuyện qua lại hữu hảo thân thiết giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời với các bậc lão thành cách mạng Trung Quốc và đã viết lời tựa tại nơi ở cũ của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng: “Tinh thần vĩ nhân nghìn thu ca tụng, mối tình hữu nghị Trung-Việt đời đời lưu truyền” (Vĩ nhân tinh thần thiên thu tụng, Trung-Việt hữu nghị thế đại truyền). Khi cùng lãnh đạo Việt Nam gặp gỡ hơn 500 thanh niên hai nước, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã khích lệ các bạn trẻ hai nước cố gắng là những người truyền dẫn tình hữu nghị truyền thống Trung-Việt, đảm đương vai trò của đội quân đầy sức sống của sự nghiệp hợp tác hữu hảo Trung-Việt, trở thành sứ giả của tình hữu hảo truyền đời Trung-Việt. Trong hội kiến, hội đàm, các nhà lãnh đạo Việt Nam nhấn mạnh tình hữu nghị truyền thống Việt- Trung là tài sản quý báu, là tài sản vô giá của nhân dân hai nước, thanh niên hai nước nên nghiêm túc thực hiện sứ mệnh lịch sử, đóng góp cho tương lai tốt đẹp xán lạn của quan hệ hai nước, để quan hệ hữu nghị Việt- Trung lưu truyền đời đời.

Trong thời gian thăm Thái Lan, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã sắp xếp tọa đàm với các nhân vật chính yếu trước đây của Thái Lan như Chuan Leekphai (cựu Thủ tướng), Banharn Silpa-archa (cựu Thủ tướng), Chavalit Yongchaiyudh (cựu Thủ tướng)… cùng các nhân sĩ hữu hảo và đại diện các giới, cùng Thủ tương Yingluck Shinawatra tới thăm và tặng máy tính bảng cho học sinh trường trung học Rattanakosin Sompoj ở vùng lũ, thăm quan Đại học Chualalongkorn nổi tiếng nhất Thái Lan, thăm Học viện Khổng Tử… Phó Chủ tịch Tập Cận Bình chỉ rõ hai bên cần phải tiếp tục đi sâu hợp tác về văn hóa, giáo dục ngôn ngữ, du lịch và giao lưu thanh thiếu niên, mở rộng tiếp xúc giữa nhân viên, tăng cường hiểu biết lẫn nhau, mở rộng giao lưu nhân văn, để tình hữu nghị giữa Trung Quốc và Thái Lan lưu truyền mãi mãi. Các giới ở Thái Lan đều nhiệt liệt hoan nghênh chuyến thăm của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, bày tỏ mong muốn không ngừng làm sâu sắc hơn sự hiểu biết đối với văn hóa Trung Hoa, làm sâu sắc hơn tình hữu nghị đời đời “Trung Quốc, Thái Lan tình thân một nhà”.

3. Thúc đẩy hợp tác thiết thực, đẩy mạnh cùng phát triển Thúc đẩy hợp tác thiết thực giữa Trung Quốc và Việt Nam, Thái Lan là một trọng điểm trong chuyến thăm của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình tới hai nước này. Trung Quốc và Việt Nam, Thái Lan là đối tác thương mại quan trọng của nhau, mấy năm lại đây, quy mô hợp tác kinh tế thương mại cùng có lợi giữa hai bên không ngừng tăng lên, lĩnh vực hợp tác không ngừng được mở rộng, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai bên. Trong bối cảnh những ảnh hưởng ở tầng sâu cửa cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế được thể hiện rõ hơn, sự phục hồi kinh tế của thế giới thiếu động lực, việc Trung Quốc nâng cao hơn nữa hợp tác thiết thực với Việt Nam, Thái Lan và ASEAN có ý nghĩa hiện thực và lâu dài quan trọng.

Trong thời gian thăm viếng, Phó Chủ tịch Tập Cận Bỉnh nhiều lần tỏ rõ thái độ tích cực của phía Trung Quốc trong việc thúc đẩy hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực với Việt Nam và Thái Lan và đã nhận được phản ứng tích cực từ hai nước này. Dưới sự chứng kiến của lãnh đạo hai nước, Trung Quốc và Việt Nam, Thái Lan đã ký hơn 10 hiệp định hợp tác giữa chính phủ và cơ quan tài chính hai bên về các lĩnh vực như kinh tê thương mại, tài chính, tư pháp, y tế, thông tin, phòng chống thiên tai.., đóng vai trò thúc đẩy tích cực đối với việc mở rộng lĩnh vực hợp tác, nâng tầm hợp tác, bổ sung nội hàm hợp tác và đẩy mạnh cùng phát triển giữa Trung Quốc và hai nước trên.

Trong thời gian thăm Việt Nam, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình chỉ rõ hai bên cần tiếp tục sử dụng tốt các cơ chế như ủy ban Chỉ đạo Hợp tác Song phương Trung-Việt, thúc đẩy hợp tác thiết thực một cách toàn diện, thực hiện cùng có lợi cùng thắng và đưa ra một loạt kiến nghị cụ thể. Phía Việt Nam hoàn toàn tán đồng, biểu thị nguyện cùng phía Trung Quốc thúc đẩy hợp tác thiết thực, cùng có lợi trên các lĩnh vực, thực hiện phát triển mạnh mẽ hơn trong quan hệ hai nước. Trung Quốc và Việt Nam nhất trí rằng cần thực hiện tốt “Quy hoạch Phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Trung-Việt”, nỗ lực thực hiện mục tiêu mới là đạt kim ngạch thương mại hai chiều 60 tỉ USD vào năm 2015, tiếp tục ra sức đẩy mạnh hợp tác “hai hành lang, một vành đai kinh tế” và xây dựng Khu Hợp tác kinh tế xuyên biên giới.

Trong thời gian thăm Thái Lan, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình nhấn mạnh hai nước cần phát huy đầy đủ vai trò của các cơ chế như ủy ban Liên hợp kinh tế thương mại cấp phó Thủ tướng, tìm kiếm con đường và phương thức mới để thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực như kinh tế thương mại giữa hai nước, rót động lực mới vào sự phát triển của quan hệ hai nước. Phía

Thái Lan biểu thị nguyện nỗ lực cùng phía Trung Quốc thúc đẩy tăng trưởng hàng năm với tôc độ cao về thương mại, đầu tư và du lịch giữa hai nước. Trung Quôc và Thái Lan đồng ý nhanh chóng thương thảo ký kết “Quy hoạch Phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Trung-Thái” nỗ lực thực hiện mục tiêu mới là đạt kim ngạch thương mại hai chiều 100 tỉ USD vào năm 2015 và đạt được một loạt nhận thức chung quan trọng trên phương diện hợp tác thiết thực trong các lĩnh vực như thủy lợi, năng lượng nông nghiệp, hải dương hay tăng cường xây dựng hạ tầng cơ sở, trong đó có đường sắt cao tốc.

4. Tăng cường tính công khai của chính sách, thúc đẩy phát triển quan hệ chỉnh thể giữa Trung Quốc và ASEAN

Thế giới hiện nay trong thời kỳ phát triển nhanh, thay đổi lớn, điều chỉnh mạnh, vai trò ..của Đông Á và ASEAN ngày càng quan trọng, vị trí tiêp tục được nâng lên. Việt Nam và Thái Lan đều là hai hành viên quan trọng của ASEAN, lần lượt là nước điều phối hiện thời và tương lai quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc, là một mắt xích quan trọng trong việc phát triển hơn nữa quan hệ giữa Trung Quốc với ASEAN và thúc đẩy chính sách hữu nghị láng giềng thân thiện của Trung Quốc với các nước xung quanh.

Trong thời gian của chuyến thăm, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã trao đổi ý kiến rộng rãi với lãnh đạo hai nước về sự phát triển quan hệ chỉnh thể giữa Trung Quốc và ASEAN, hợp tác Đông Á và các vấn đề quốc tế, khu vực cùng quan tâm. Phó Chủ tịch Tập Cận Bình bày tỏ phía Trung Quôc ủng hộ Việt Nam và Thái Lan đóng vai trò tích cực lớn hơn nữa trong các sự vụ quốc tế và khu vực, nguyện cùng hai nước tăng cường sự hiểu biết và phối hợp trong khung Hợp tác Đông Á, Hợp tác tiểu vùng sông Mê Công, cùng bảo vệ lợi ích của các nước đang phát triển, thực hiện ổn định khu vực và phát triển bền vững.

Trong thời gian thăm Thái Lan, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã có bài phát biểu quan trọng, thể hiện một cách toàn diện mong muốn tích cực của Trung Quốc trong việc phát triển hơn nữa quan hệ với ASEAN. Phó Chủ tịch Tập Cận Bình chỉ rõ cần kiên trì vai trò quan trọng của ASEAN trong hợp tác khu vực, thúc đẩy hợp tác thiết thực trong các lĩnh vực như kinh tế thương mại, xây dựng cơ sở hạ tầng, cùng bảo vệ an ninh ổn định của khu vực, tích cực học hỏi kinh nghiệm có ích về hợp tác của các khu vực khác, nắm chắc cơ hội, phát huy ưư thế, tiếp tục thúc đẩy quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN, thúc đẩy hợp tác Đông Á, thực hiện cùng có lợi cùng thắng. Bài phát biểu của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã nhận được sự hoan nghênh nhiệt liệt và đánh giá cao của Thái Lan cũng như chính phủ, nhân sĩ các giới và dư luận ASEAN.

Ông Trương Chí Quân cho biết truyền thông hai nước Việt Nam và Thái Lan cũng như truyền thông khu vực và quốc tế rất quan tâm tới chuyến thăm Việt Nam và Thái Lan của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đưa tin bình luận tích cực. Truyền thông Việt Nam bình luận rằng quan hệ hữu nghị truyền thống Việt-Trung quý báu bao đời là lời nói từ tâm can mà lãnh đạo cấp cao hai nước cùng thổ lộ trong chuyến thăm này. Truyền thông Hồng Công cho rằng chuyến thăm Việt Nam của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình là nhằm tăng cường quan hệ song phương, hai bên Trung Quốc và Việt Nam đều khẳng định sẽ xử lý thỏa đáng tranh chấp Biển Đông thông qua đàm phán. Truyền thông Thái Lan bình luận rằng Phó Chủ tịch Tập Cận Bình là lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đầu tiên tới thăm Thái Lan kể từ khi chính phủ mới được thành lập, chuyến thăm thể hiện đầy đủ sự coi trọng của phía Trung Quốc đối với việc hợp tác và phát triển quan hệ giữa Trung Quốc và Thái Lan. Truyền thông Nhật Bản nói rằng chuyến thăm là nhằm tăng cường quan hệ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng Đông Nam Á, củng cố môi trường hữu hảo xung quanh. Khu vực và cộng đồng quốc tế có phản ứng tích cực đối với chuyến thăm, cho rằng chuyến thăm có vai trò tích cực và có ý nghĩa quan trọng đối với việc tăng cường tình hữu nghị láng giềng thân thiện, phát triển hợp tác thiết thực, thúc đẩy hợp tác và phát triển ổn định của khu vực.

Cuối cùng, Trương Chí Quân cho biết trong chuyến thăm 5 ngày tới Việt Nam và Thái Lan, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã tham dự gần 30 hoạt động chính thức, tiến hành hội kiến và hội đàm với hơn 10 vị lãnh đạo, lịch trình bố trí dầy đặc, nội dung hoạt động phong phú, không khí hữu nghị nồng hậu, thành quả đạt được to lớn, là một chuyến thăm thành công của việc củng cố tình hữu nghị láng giềng thân thiện, duy trì tình hữu nghị truyền thống, tăng cường sự tin tưởng chính trị lẫn nhau, thúc đấy hợp tác cùng có lợi, đẩy mạnh phát triển khu vực, mở ra chương mới trong tình hữu nghị truyền thống Trung-Việt và Trung-Thái, thúc đẩy mạnh mẽ hợp tác hữu nghị cùng có lợi cùng thắng, hướng tới tương lai giữa Trung Quốc và Việt Nam, Thái Lan, giữa Trung Quốc và khu vực. Chúng tôi sẽ nghiêm túc thực hiện tốt những thành quả quan trọng đạt được trong chuyến thăm của Phó Chủ tịch Tập Cận Bình, thúc đẩy quan hệ song phương giữa Trung Quốc và Việt Nam, quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN cũng như sự hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực không ngừng phát triển trong tương lai.

***

TTXVN (Băng Cốc 26/12)

Theo báo “Bưu điện Băng Cốc” ngày 25/12, Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình – người được dự báo nhiều khả năng sẽ thay thế Chủ tịch Hồ Cẩm Đào vào năm tới, đã đi thăm chính thức Thái Lan từ 22-24/12 nhằm tăng cường quan hệ chiến lược và hợp tác giữa hai nước.

Trong các cuộc tiếp xúc với các nhà lãnh đạo Thái Lan, ông Tập Cận Bình đã khẳng định Trung Quốc coi Thái Lan là thành viên quan trọng trong ASEAN và quan hệ ngoại giao hai nước trong 36 năm qua không ngừng phát triển mạnh mẽ. Lãnh đạo hai nước thường xuyên gặp nhau và hợp tác song phương luôn thuận lợi trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt về chính trị kinh tế, thương mại, khoa học, công nghệ, giáo dục và văn hóa. Hai nước cũng duy trì hợp tác tốt trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Sự phát triển quan hệ và hợp tác giữa hai nước đã và đang mang lại lợi ích lớn lao cho nhân dân hai nước và góp phần quan trọng vào hòa bình và hợp tác trong khu vực. Trung Quốc hy vọng chuyến thăm sẽ tăng cường hơn nữa sự tin cậy lẫn nhau về chính trị, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ truyền thông và hợp tác song phương trên các lĩnh vực thương mại, tài chính và văn hóa; thúc đẩy giao lưu nhân dân và nâng cao sự hợp tác song phương trong các vấn đề khu vực và quốc tế. Ông Tập Cận Bình tin tưởng quan hệ truyền thống tốt đẹp không ngừng phát triển giữa hai nước sẽ tiếp tục được củng cố vì lợi ích hai nước, hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Thủ tướng Yingluck khẳng định Thái Lan luôn coi Trung Quốc là láng giềng gần có vai trò quan trọng trong sự phát triển của Thái Lan cũng như hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Bà Yingluck đánh giá cao và cảm ơn sự hỗ trợ thiết thực mà Trung Quốc dành cho Thái Lan trong cuộc chiến chống lũ lụt vừa qua. Công chúa Sirindhorn và Chủ tịch Hội đồng cơ mật Prem khẳng định Trung Quốc là người bạn tốt, luôn sẵn sàng chia sẻ khi Thái Lan gặp khó khăn. Lãnh đạo phe đối lập Abhisit cho rằng việc hai nước ký kết thỏa thuận phát triển đường sắt đã chứng tỏ mối quan hệ được ông quan tâm thúc đẩy trong thời gian nắm quyền tiếp tục phát triển dù chính phủ ở Thái Lan đã thay đổi. Giới kinh tế đánh giá cao kết quả chuyến thăm coi các thỏa thuận đã ký kết là bước tiến thiết thực thúc đẩy thương mại và đầu tư song phương. Trong hội đàm, hai nước đã nhất trí đặt mục tiêu thúc đẩy thương mại mỗi năm thêm 20%, đầu tư của Trung Quốc vào phát triển năng lượng tái tạo mỗi năm thêm 10% và lượng du khách Trung Quốc tới Thái Lan mỗi năm tăng thêm 15% trong 5 năm tới.

Các văn kiện đã ký kết

Ngày 22/12, Thủ tướng Yingluck và Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã chứng kiến lễ ký kết 6 thỏa thuận và 7 bản ghi nhớ hợp tác, đáng chú ý là thỏa thuận hoán đổi tiền tệ trị giá 70 tỷ nhân dân tệ (khoảng 11 tỷ USD) với thời hạn 3 năm; Thỏa thuận phát triển tuyến tàu cao tốc nối Băng Cốc với Chiang Mai; Thỏa thuận phát triển hệ thống đường sắt nối Đông Bấc Thái Lan qua Lào với Trung Quốc; Thỏa thuận trao đổi tội phạm đang thi hành án; Bản ghi nhớ hợp tác cải thiện hệ thống quản lý nguồn nước, phòng ngừa, giải quyết lũ lụt và hạn hán; Bản ghi nhớ về hợp tác nghiên cứu phát triển năng lượng tái tạo và năng lượng sạch; Bản ghi nhớ về tăng cường trao đổi văn hóa và giao lưu nhân dân. Thỏa thuận Trung Quốc cấp tín dụng lãi suất đặc biệt 400 triệu USD cho Thái Lan; Thỏa thuận Trung Quốc hô trợ thiết bị giáo dục gồm 600 bộ máy tính cho Thái Lan; Bản ghi nhớ về hợp tác nghiên cứu và phát triển nông nghiệp; Hai bên cũng nhất trí nguyên tắc cơ bản hợp tác đảm bảo an ninh tuyến vận tải trên sông Mê Công thuộc khu vực tam giác vàng; cam kết tạo thuận lợi cho xuất khẩu nông sản, gạo cao su và hoa quả Thái Lan. ông Tập Cận Bình cũng đề nghị Thái Lan ủng hộ các nỗ lực của Trung Quốc hợp tác với ASEAN trong khuôn khổ Tự do thương mại Trung Quốc – ASEAN, các diễn đàn và cơ chế khu vực vì sự phát triển, an ninh và hòa bình ở khu vực.

Trong các thỏa thuận đã ký, thỏa thuận hoán đổi tiền tệ được đánh giá là quan trọng nhât. Theo thỏa thuận này, Ngân hàng trung ương Trung Quốc sẽ cho ngân hàng Trung ương Thái Lan vay 70 tỷ nhân dân tệ (tương đương 11 tỷ USD). Ngân hàng trung ương Thái Lan sẽ dùng nguồn vốn này cung cấp cho các ngân hàng thương mại để phục vụ các tổ chức và cá nhân của hai nước tiến hành các giao dịch tài chinh bằng đồng nhân dân tệ hoặc bằng đồng bạt. Thái Lan cũng sẽ mở tài khoản bằng đồng nhân dân tệ tai Trung Quốc, nhưng bổn phận góp vốn của Thái Lan và các điều khoản sửa đổi sẽ được hai nước thảo luận khi thỏa thuận này hết hiệu lực sau 3 năm. Trước khi ký kết thỏa thuận này, trong hơn một năm qua, Ngân hàng Băng Cốc đã thí điểm và trở thành ngân hàng thương mại đầu tiên của Thái Lan cung cấp đồng nhân dân tệ để thanh toán cho các giao dịch với Trung Quốc cho 350 công ty. Giới kinh tế nhìn nhận thỏa thuận này rất thiết thực vào thời điểm kinh tế Mỹ bất ổn, Liên minh châu Âu (EU) có nguy cơ sụp đổ do khủng hoảng nợ công, Thái Lan đứng trước áp lực tìm kiếm nguồn tài chính tái thiết sau lũ lụt và triển khai các chính sách dân túy. Hiện 90% xuất khẩu của Thái Lan giao dịch bằng USD nên với thỏa thuận này, các thanh toán trực tiếp song phương sẽ không phải chuyển đổi qua USD, tránh được rủi ro tỷ giá, đơn giản hơn về thủ tục, nhờ đó giảm chi phí xuất khẩu, tạo cho Thái Lan lợi thế cạnh tranh tại thị trường Trung Quốc trước các đối thủ khác trong ASEAN. Đối với Trung Quốc, đây là bước tiến giúp tăng cường gắn kết và ảnh hưởng kinh tế với Thái Lan, đồng thời đẩy thêm một bước nỗ lực đưa đồng nhân dân tệ trở thành đồng tiền quốc tế và làm suy yếu dần địa vị của đồng đôla Mỹ. Trung Quốc trước đó cũng đã ký các thỏa thuận tương tự trị giá 90 tỷ và 150 tỷ nhân dân tệ với Malaixia và Xinhgapo. Đối với khách hàng cá nhân, thỏa thuận sẽ tạo thuận lợi chuyển thu nhập về nước, chuyển tiền cho người thân học tập, làm việc đu lịch tại nước kia, nhờ đó thúc đẩy du lịch, giao lưu nhân dân và các lĩnh vực hợp tác khác. Đối với doanh nghiệp, thỏa thuận sẽ giúp giảm chi phí chuyển vốn đầu tư khi không phải quy từ đồng bản tệ của nước này vào tài khoản đồng USD rồi lại rút ra bằng đồng nội tệ của nước kia, vì thế các doanh nghiệp Trung Quốc tại Thái Lan cũng có thể sử dụng tiện ích của thỏa thuận này để đầu tư vào các dự án lớn tại Thái Lan.

Một thỏa thuận quan trọng khác là xây dựng hệ thống đường sắt cao tốc nối Băng Cốc với Chiang Mai, xuyên qua Đông Bắc Thái Lan, Lào và liên kết với hệ thống đường sắt miền Nam Trung Quốc. Theo thỏa thuận, Trung Quốc sẽ dành cho Thái Lan 10 tỷ USD tín dụng lãi suất thấp để triển khai dự án trong năm 2012 và dự kiến sẽ hoàn thành trong vòng 3-5 năm. Trước đó, tháng 9/2010, Chính phủ của cựu Thủ tướng Abhisit đã nhất trí về nguyên tắc phát triển tuyến đường sắt này như một phần của hệ thống đường sắt xuyên Á nhằm phát triển vùng Đông Bắc nghèo nàn thông qua liên kết thương mại, du lịch và giao lưu với phía Nam Trung Quốc, Lào và Việt Nam. Tuy nhiên, sau đó Thái Lan đã hoãn ký thỏa thuận này với lý do nghiên cứu thêm tính đồng bộ kỹ thuật giữa khổ đường sắt của dự án với khổ đường sắt của hệ thống đường sắt quốc gia hiện hành. Thực chất, các nghị sỹ Thái Lan lo ngại sự phát triển hệ thống đường sắt cộng với triển khai thỏa thuận tự do thương mại Trung Quốc – ASEAN sẽ khiến hàng hóa Trung Quốc tràn ngập thị trường Thái Lan. Các nghị sỹ cũng lo ngại các điều kiện Trung Quốc đặt ra để đổi lấy tín dụng, trong đó có điều kiện , người lao động Trung Quốc sang tham gia dự ,án, có thể khiến Thái Lan chịu tình trạng tương tự như ở Lào khi có tới 64.000 lao động Trung Quốc sang xây dựng đường sắt. Các nghị sỹ đối lập lúc bấy giờ cũng hoài nghi tính minh bạch và tính an toàn của công nghệ sau hàng loạt vụ tai nạn tàu cao tốc xảy ra tại Trung Quốc.

Dư luận về chuyến thăm

Xã luận báo “Dân tộc” ngày 25/12 nhận xét chuyến thăm của ông Tập Cận Bình đã mang đến một loạt thỏa thuận hợp tác trong các lĩnh vực mà Chính phủ Thái Lan rất quan tâm và vào thời điểm kinh tế Mỹ bất ổn và Liên minh châu Âu đang hết sức khó khăn. Báo trên cũng cho rằng việc ông Tập Cận Bình thăm Việt Nam và Thái Lan trong khi ông Đới Bỉnh Quốc thăm Mianma đã phản ánh Trung Quốc đang điều chỉnh sách lược đối ngoại, với trọng tâm tái lôi kéo các nước láng giềng hòng ngăn chặn Mỹ can dự sâu vào khu vực. Quan hệ giữa Trung Quốc với nhiều nước láng giềng đã xấu đi từ năm 2009 sau khi Bắc Kinh tỏ ra quyết đoán hơn trong các vấn đề khu vực và gây hấn hơn trong các tranh cãi chủ quyền ở Biến Đông. Kết quả Việt Nam và Philíppin liên minh với nhau và cùng tìm cách gần gũi hơn với Mỹ. Mianma cũng có những thay đổi theo hướng giảm quan hệ với Trung Quốc để gần Mỹ. Sau hội nghị Đông Á vừa qua, có lẽ Trung Quốc đã nhận ra “thất thố đối ngoại” của họ đang tạo điều kiện để Mỹ can dự vào khu vực, và nếu tiếp tục duy trì đường lối đối ngoại cũ, ám ảnh về nguy cơ hình thành một liên minh bao vây Trung Quốc trải dài từ Nhật Bản, Philíppin, Ôxtrâylia tới Ấn Độ dưới sự điều phối của Mỹ có thể trở thành hiện thực. Để ngăn chặn các thách thức từ việc Mỹ điều chỉnh chiến lược quay trở lại châu Á, Trung Quốc cũng phải điều chỉnh sách lược đối ngoại theo hướng tái lôi kéo các nước láng giềng.

Báo trên nhận định thông qua chuyến thăm khu vực phạm vi hẹp tới Việt Nam và Thái Lan, ông Tập Cận Bình muốn kéo hai nước trở lại cùng chiến tuyến với Trung Quốc để ngăn chặn Mỹ can dự sâu rộng hơn vào khu vực. Với chuyến thăm đầu tiên của lãnh đạo cấp cao Trung Quốc tới Thái Lan trong vòng 11 năm qua, ông Tập Cận Bình cũng biểu lộ mong muốn sử dụng Thái Lan làm mắt xích để gắn kết Trung Quốc với các nước ASEAN khác. Tuy nhiên, Bắc Kinh có đạt được mục tiêu chiến lược này hay không sẽ phụ thuộc vào lập trường của Thái Lan, Việt Nam và các nước ASEAN khác trước cuộc đấu giành quyền thống trị châu Á – Thái Bình Dương giữa Trung Quốc và Mỹ. Thái Lan và các nước ASEAN có thể hưởng lợi ích nhiều từ việc duy trì lập trường cân bằng và không thiên vị, nhưng việc dung hòa được hai cường quốc với các lợi ích mâu thuẫn nhau, chưa kể đến vai trò của Nga và Ấn Độ, sẽ là một thách thức lớn đối với Thái Lan và ASEAN./.

Mưu đồ can thiệp Đại Việt của nhà Thanh cuối thế kỷ XVIII

TẠP CHÍ XƯA & NAY
SỐ 393 THÁNG 12 – 2011
Nguyễn Duy Chính

Đường lối bành trướng của Trung Quốc

Trước tình hình rối ren của Đại Việt cuốỉ thế kỷ XVIII, việc đem binh xuống phương nam không phải chỉ vì cái cơ hội nhất thời, mà đã nằm trong kế hoạch mở rộng biên cương của nhà Thanh từ lâu. Vua Càn Long muốn tỏ ra mình là một vị vua dũng liệt nên tìm đủ mọi cách để bành trướng thế lực và lãnh thổ ra mọi phía.
Nhà Thanh trong nửa cuối thế kỷ XVIII đã có ảnh hưởng quan trọng đối với Xiêm La khi một người Tàu gốc Quảng  Đông tên là Trịnh Chiêu vì có công đánh đuổi quân Miến Điện nên lên làm vua (tức vua Taksin). Ồng ta sai sứ sang Bắc Kinh cầu phong nhưng sứ giả chưa kịp về đến nhà thì Trịnh Chiêu đã bị một tướng lãnh của ông ta là Maha Kasatsuk lật đổ lên làm vua tức Chakri(1) hay Rama I. Chakri cũng sợ nhà Thanh truy cứu việc giết vua Taksin nên đổi tên Hán là Trịnh Hoa, mạo xưng là con của Trịnh Chiêu để nối ngôi và được phong làm Xiêm La quốc vương. Nhà Thanh cũng nhân cơ hội tìm cách vươn dài ảnh hưởng tới thành phần Hoa kiều ngày càng trở nên có thế lực cả kinh tế lẫn chính trị ở vùng Đông Nam Á(2).

Ngoài Xiêm La, nhà Thanh cũng tìm cách mở rộng ảnh hưởng xuống Miến Điện Cũng như Việt Nam, Miến Điện luôn luôn bị áp lực trực tiếp vì có một khoảng biên giới tiếp giáp với nước Tàu. Người Miến cũng là một dân tộc quật cường, luôn luôn chống lại và có những thắng lợi rất tương cận với thắng lợi của Đại Việt(3).

Tới nửa cuối thế kỷ XVIII, nhà Thanh lấn chiếm một số khu vực phía tây và tây nam tỉnh Vân Nam nhưng người Miến cương quyết đòi lại. Năm Ất Dậu, Càn Long 30 (1765), vua Miến Hsin- byushin bắt một số tiểu quốc người Shan triều cống nên gây chiến với một số bộ lạc mà người Trung Hoa bảo trợ. Quân Thanh thua, tổng đốc Vân Nam Lưu Tảo tự sát. Năm Đinh Hợi, Càn Long 32 (1767), tổng đốc kế nhiệm là Dương Ứng Cư cũng bị đánh bại khiến vua Càn Long nổi giận đem họ Dương ra xử tử rồi sai Minh Thụy đem quân sang đánh Miến Điện. Năm Mậu Tý, Càn Long 33 (1768), Minh Thụy bị vây và tử trận. A Quế, vị tướng lừng danh của Thanh triều trong các trận đánh Tân Cương, Mông cổ đem quân sang lần thứ ba năm Kỷ Sửu, Càn Long 34 (1769) nhưng cũng bị đại bại.

Sau ba lần thua Miến Điện, nội bộ Thanh triều đã có những rạn nứt và bất đồng, nhiều tướng tài bị hi sinh, nhất là vua Miến Hsinbyushin lại cứng đầu không chịu thần phục. Một số tướng lãnh và quân sĩ bị bắt làm tù binh không được thả và vua Càn Long đành phải chấp nhận rằng Miến Điện là xứ nóng không thích hợp cho kỵ binh nhà Thanh như khi chinh phục vùng Tân Cương(4). May sao, quân Miến lúc này phải đối phó với quân Xiêm La và Lào tấn công ở phía nam nên nhà Thanh có cơ hội đàm phán cầu hòa cho đỡ mất mặt. Để trừng phạt, vua Càn Long hạ lệnh cấm thông thương với Miến Điện và hai bên chỉ trở lại bình thường năm Mậu Thân, Càn Long 53 (1788), mấy tháng trước khi họ đem quân sang nước ta.

Riêng với Đại Việt, Thanh đình vẫn e ngại bị thất bại như những triều trước nên không muốn chủ động gây chuyện can qua. Việc nước ta chia thành hai miền Đàng Trong và Đàng Ngoài vô hình trung phù hợp với chủ trương không muốn có một quốc gia cường thịnh ở phương nam. Đã nhiều lần xứ Đàng Trong toan tách ra đi thẳng với Thanh triều thay vì phải thần phục vua Lê ở miền Bắc nhưng vì không muốn tạo ra những khó khăn mới nên nhà Thanh chưa bằng lòng. Đến khi nhà Tây Sơn nổi lên, thế phân liệt Nam Bắc cũ đã mất, Thanh triều nhìn thấy đây là một cơ hội để can thiệp vào phương nam, rồi sẽ tùy theo tình hình mà khai thác. Việc thân quyến và bầy tôi nhà Lê chạy trốn sang Long Châu phù hợp với tham vọng đó.

Thoạt tiên, nhà Thanh vẫn chủ trương làm sao cho những phiên thuộc không quá mạnh, nên muốn Việt Nam chia ra thành ít nhất là hai tiểu quốc. Tôn Sĩ Nghị vì thế đã đưa ra kế hoạch chia cắt Đại Việt thành hai phần(5), miền Nam sẽ giao lại cho Xiêm La (khi đó đang khống chế cả Chân Lạp), và miền Bắc dành cho nhà Lê (dưới quyền bảo hộ của nhà Thanh). Tuy nhiên vua Càn Long đã bỏ kế hoạch đó vì không muốn cho Xiêm La nhúng tay vào, ngại rằng sẽ làm mất thể diện thiên triều phải liên minh với một thuộc quốc(6).

Dựa theo tin tức thu lượm được, vua Càn Long đưa ra một kế hoạch kẻ cả hơn. Đó là giao miền Trung lại cho Chiêm Thành lấy cớ nước này đã từng triều cống xưng thần với Trung Hoa trong mấy thế kỷ mà không biết rằng vương quốc Chiêm nay không còn và những vùng đất cũ của họ nay chỉ toàn người Việt(7). Vua Càn Long cũng chủ trương dùng người Việt đánh người Việt, quân Thanh càng ít tổn thất càng tốt. Trong một lá thư gửi Tôn Sĩ Nghị, vua Càn Long đã viết:

… Bọn chúng (tức bầy tôi nhà Lê ở Bắc Hà) khi nghe quân Thiên triều đến chinh phạt, ắt sẽ nổi lên hưởng ứng rất đông, tính chuyện diệt Nguyễn phù Lê, nếu như ta án binh bất động, bọn họ không khỏi có dạ trông chờ. Đây là một cơ hội rất tốt, xem ra khi đó quan quân nội địa (tức quân Thanh) ở vào cái thế không thể không hành động…(8).

Chiến lược đó không phải mới mẻ gì vì cũng là đại kế hoạch mà người Mãn Châu trước đây đưa ra để làm chủ Trung Nguyên. Khi thôn tính nhà Minh, người Mãn Châu cũng nêu cao danh nghĩa giúp người Hán tái lập một vương triều trong sạch hơn triều đình thối nát hiện đang trị vì. Công lao lấy được trung nguyên cũng phần lớn nhờ vào nội phản, điển hình là các tướng lãnh nhà Minh có nhiệm vụ ngăn chặn những giống dân du mục nay trở giáo chạy theo quân Thanh.

Sau khi làm chủ Giang Bắc, họ cũng sử dụng những tướng lãnh nhà Minh đã đầu hàng để chiếm nốt miền Nam Trung Hoa, kể cả việc truy sát những ông vua cuốỉ cùng của Minh triều đang trốn lánh trong rừng sâu núi thẳm. Họ đã được phong vương, cai trị một cách khá độc lập nhiều khu vực lớn mà sử gọi là Tam Phiên, mấy chục năm sau mới bị tước đoạt quyền bính(9). Với kinh nghiệm đó, người Mãn Châu muốn trước hết nhờ tay đám thần tử nhà Lê tiễu trừ Tây Sơn, sau đó sẽ phong vương cho họ theo nghĩa phiên trấn nội thuộc như bọn Ngô Tam Quế, Cảnh Trọng Minh, Thượng Khả Hỉ, rồi dần dần biến thành quận huyện của Tàu như chính sách thời đầu nhà Thanh. Kế hoạch đồng hoá từng bước đó đã thành công tại những quốc gia Tây Vực và họ cũng toan áp dụng ở phương nam.

Kế hoạch của nhà Thanh

Để đem quân sang nước ta, ngoài việc tính toán cho chu đáo, sao cho lợi nhiều hơn hại, giảm thiểu về nhân mạng cũng như về tài chánh, nhà Thanh cần một danh nghĩa để che đậy những dã tâm của họ(10). Do đó Tôn Sĩ Nghị cần những bằng chứng cụ thể để thuyết phục vua Càn Long cho phép động binh.

Cho đến nay, các sử gia Trung Hoa vẫn khăng khăng cho rằng việc nhà Thanh đem quân sang giúp Lê Chiêu Thống là một hành vi “nhân chí nghĩa tận” (hết sức nhân nghĩa) hoàn toàn chỉ vì mục tiêu muốn dựng lại dòng chính thống cho nhà Lê chứ không có âm mưu chiếm đóng hay tham vọng đất đai nào.

Theo lời tâu của Tôn Sĩ Nghị (tổng đốc Lưỡng Quảng) và Tôn Vĩnh Thanh (tuần phủ Quảng Tây) thì khi vua Hiển Tông thăng hà, “hoàng tôn Lê Duy Kỳ không có quốc ấn vì khi họ Trịnh còn nắm quyền đã ăn trộm mất ấn tín để mưu việc soán đoạt. Lê Duy Kỳ có viết biểu tâu lên để xin một quả ấn khác (tức ấn An Nam quốc vương của nhà Thanh phong cho) nhưng Tôn Sĩ Nghị chưa tiếp được bản cáo ai, lại chưa được chiếu chỉ cho phép nên đã từ chốỉ”(11). Căn cứ vào đó, hoàng tôn Lê Duy Kỳ được coi như dòng chính thống và việc Nguyễn Huệ chiếm Thăng Long là một hành vi tiếm nghịch nên nhà Thanh phải can thiệp để lấy lại nước cho vua Lê.

Để thực hiện âm mưu lũng đoạn, chiến dịch đem quân can thiệp của nhà Thanh bao gồm hai giai đoạn chính:

Tái chiếm Bắc Hà để giao lại cho nhà Lê

Để đem quân sang nước ta nhà Thanh nêu cao chủ trương “Hưng diệt kế tuyệt, phất lợi kỳ thổ địa thần dân” [Hưng lên kẻ bị diệt, nối lại dòng bị đứt, không mưu lợi đất đai hay dân chúng]:

- Lê triều đã thần phục và triều cống Trung Hoa trong hơn một trăm năm qua [chỉ tính riêng nhà Thanh vì mỗi khi mệnh trời đổi coi như một nước mới]. Việc nối lại triều Lê là một hành vi thích đáng vì thiên triều có bổn phận với thuộc quốc, không thể để cho loạn thẩn ngang nhiên cướp ngôi một dòng họ đã được họ công nhận chính thức.

- Vua Càn Long cũng khẳng định là việc đem quân sang nước ta không phải vì có tham vọng Muốn chiếm đất đai hay dân chúng. Trong nhiều văn thư, ông cũng ra lệnh đem gạo thóc từ “nội địa” sang để nuôi quân, không tơ hào tài sản của nước Nam và ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị ước thúc quân lính không cho quấy nhiễu.

Tiến quân đánh Thuận Hóa

Dự tính nguyên thủy của Thanh triều không chỉ lấy kinh đô Thăng Long rồi giao lại cho nhà Lê mà coi việc tái chiếm Bắc Hà mới là bước đầu. Một khi thành công, quân Thanh sẽ tiếp tục đánh xuống Thuận Hóa để “đảo huyệt cầm cừ” [đánh vào sào huyệt bắt kẻ cầm đầu] rồi tùy theo tình hình mà chia nước ta thành nhiều khu vực tự trị. Từ vị trí một ngoại phiên (tương tự như Triều Tiên, Lưu Cầu, Xiêm La…), An Nam sẽ trở thành một nội phiên như Tây Tạng, Mông cổ, Tân Cương… tuy vẫn do những lãnh tụ bản xứ cai trị nhưng thực chất chỉ là những quan lại do triều đình bổ nhiệm.

Âm mưu đó trước khi xuất chinh còn mơ hồ – chỉ mới nằm trong những mật tấu của Tôn Sĩ Nghị – thì sau khi chiếm được Thăng Long lại trở nên khá rõ rệt. Có lẽ việc tiến quân quá dễ dàng khiến vua Càn Long và Tôn Sĩ Nghị đều tin rằng quân Thanh có thể làm hơn thế nữa. Ngay sau khi chiếm được Thăng Long, Tôn Sĩ Nghị liền tính toán kế hoạch đóng thuyền và lập đài trạm từ Thăng Long vào Thuận Hóa để đến ra giêng tiến quân xuống phương Nam. Tuy nhiên kế hoạch đó không thực hiện được vì những khó khăn về quân đội, lương thực, nhân sự, tài chánh… nhất là e ngại một cuộc sa lầy tại phương nam giống như tại Miến Điện trước đây nên vua Cao Tông đã ra lệnh rút quân về.

Ngày 19 tháng 6 năm Càn Long 53 [22-7-1788], vua Cao Tông gửi một đạo dụ cho Tôn Sĩ Nghị dịch ra như sau(12):

Lưỡng Quảng, tổng đốc Tôn Sĩ Nghị tâu lên, tiếp theo căn cứ vào lời bẩm của Tả Giang Trấn thì thân quyến tự tôn nước An Nam chạy qua nội địa nên ta đã ra lệnh cho tùy nghi lo liệu, lại sai người đến ngay Long Châu, xem xét tình hình để tâu lên cho rõ ràng. Việc này trước đây khi Tôn Vĩnh Thanh tâu lên, trâm sợ rằng viên tri  phủ đó không có chủ kiến nên lập tức giáng chỉ ra lệnh cho Tôn Sĩ Nghị lập tức tra xét lo liệu.

 Hiện nay viên tổng đốc kia chưa đợi dụ chỉ đã khởi trình đến trước rồi, như thế thực là biết việc nặng nhẹ, không thẹn là kẻ đại thần ở biên cương, thật đáng khen ngợi. Trong tấu triệp của Tôn Vĩnh Thanh trước đây, chưa biết tung tích của tự tôn Lê Duy Kỳ đang ở đâu, mà chạy sang đến hơn sáu chục người thì có liên hệ thế nào? Trẫm đã từng ra lệnh tra xét cho thấu đáo, rồi tâu ngay lên cho ta.

Nay cứ theo như lời tâu của Tôn Sĩ Nghị, lúc đầu cứ tưởng có cả Lê Duy Kỳ đi theo. Thế nhưng nếu ví thử Lê Duy Kỳ đích thân dẫn quyến thuộc sang nội địa thì cớ gì lại phải ra lệnh cho di quan Nguyễn Huy Túc đứng tên, còn bọn thổ tù Nguyễn Nhạc kia sau khi công phá Lê thành, thấy Lê Duy Kỳ bôn đào nên dẫn binh truy sát. Nếu cả nước đã bị họ Nguyễn chiếm mất rồi, ắt Lê Duy Kỳ mang quyến thuộc theo, tuy không quá 60 người, nhưng lẽ  nào đi đường không lo liệu tính toán gì mà đến được nội địa?

Lê Duy Kỳ nếu đã đến Long Châu nên truyền dụ cho Tôn Sĩ Nghị đến đó tận mặt hỏi Lê Duy Kỳ xem việc họ Nguyễn nổi loạn ra sao, hai bên vì cớ gì gây hấn, gặp nạn chạy sang nội địa cốt  lo bảo toàn tính mạng mẹ  con mà phải bỏ đất cho họ Nguyễn. Y bỏ nước chạy sang đây rồi, trong nước thần tử có ai lo chuyện diệt giặc khôi phục để nghinh đón mẹ con y vê hay không, xem chủ kiến y thế nào?

 Nếu như Lê Duy Kỳ  cũngng không biết rõ ràng thì nên hỏi bọn Nguyễn Huy Túc để cho rõ tình hình nước đó ngõ hầu theo tình hình mà trù biện. Theo ý trẫm thì vì quẫn bách mà tự tôn nước đó chạy sang nội địa, tuy trình lên không có giọng muốn xin quân cứu viện, nhưng nếu trấn mục nước đó có thể tụ tập dân binh, tảo trừ hung nghịch đón tự tôn về thì thế là tốt nhất. Còn như nhà Nguyễn đã chiếm được cả địa phương ở Lê thành nhưng các nơi khác vẫn thuộc họ Lê, các trấn mục không diệt được họ Nguyễn nhưng việc đã định vẫn có thể sắp xếp cho ổn thỏa để nghinh đoán tự tôn thì đất nước của nhà Lê cũng chưa đoạn tuyệt, cũng không cần phải hưng sư cho lớn chuyện làm gì. 

Còn như họ Nguyễn công phá Lê thành xong chiếm hết nước An Nam, con cháu nhà Lê bị giết hại thì tự tôn nước đó không còn nước mà trở về. An Nam thần phục bản triều, rất là cung thuận, nay bị cường thần soán đoạt phải chạy sang đây nếu như ta bỏ qua không lý đến thật không phải là cái đạo tồn vong nên phải tập trung binh lực kể tội sang chinh thảo.

Trẫm nay đã định đoạt rồi, lại truyền dụ cho Tôn Sĩ Nghị, tuân theo dụ chỉ trước đây, xem két kỹ lưỡng thêm nữa, trù biện cho chín chắn, cứ theo tình thực mà nhanh chóng tâu lên ta sẽ đợi tới khi đó sẽ hạ chỉ để cho biện lý. Còn về phần thân thuộc của Lê Duy Kỳ thì nên sắp xếp cho ổn thỏa, cung cấp thêm chớ nên hẹp hòi, còn như các nơi cửa quan thì điều động một nghìn binh sĩ phân bố ra trấn đóng.

Ngặt vì binh lính không có nhiều,  e rằng bọn phỉ thấy quan ít ỏi đâm ra coi thường thì hãy điều động thêm các nơi chung quanh hai ba nghìn lính nữa, phân  bố‘ quan ải để làm thanh viện, đề đốc Tam Đức là người từng chinh chiến lâu năm, nên sai y đến đây thông lãnh, họp với việc đàn áp tra xét, không cần phải lo gì nữa. Còn Tôn Sĩ Nghị sau khi nghe bẩm báo, lập tức lên đường đến ngay thật đúng như ý trẫm, hịch văn cũng thật là đắc thể, ngoài những điều trẫm đã nói cũng không có gì khác, nay thưởng thêm cho một đôi hà bao lớn, một đôi hà bao nhỏ để tưởng lệ.  

Cùng ngày hôm đó, Tôn Sĩ Nghị tâu lên rằng một khi hư trương thanh thế, truyền hịch đem quân sang đánh nước Nam, ắt nhứng người đã theo Tây Sơn sẽ nổi lên chống lại, và nhà Thanh không phải hao quân tổn tướng mà vẫn đạt được thắng lợi’13‘. Vả lại, An Nam vốn chẳng phải là đất của Tây Sơn nên khi nghe tin quân Thanh sang đánh, họ sẽ rút về Quảng Nam không luyến tiếc. Mục tiêu gần của anh em Nguyễn Nhạc là thu vét tài vật thì họ đã làm xong, chiếm lĩnh đất đai chỉ là thứ yếu nên chắc chắn ra quân sẽ thành công.

Nói tóm lại, chủ trương của Thanh triều là làm sao tìm được vua Lê để tiền hô hậu ủng đưa ông về Lê thành [kinh đô Thăng Long], phong vương rồi can thiệp càng lúc càng sâu vào nội tình nước ta như một vùng nội phiên. Điều lợi trước mắt là vua Lê sẽ đích thân tham dự lễ Bát Tuần Khánh Thọ, vừa chúc mừng, vừa tạ ơn đúng như ước nguyện của vua Càn Long để ông có dịp phô trương với mọi người về chính sách “nhân chí nghĩa tận” đối với thuộc quốc. Cơ hội nghìn năm một thuở này sẽ bắc cầu cho tiền trình thăng quan tiến chức của Tôn Sĩ Nghị.

Chiêu bài “Hưng diệt kế tuyệt”

Sau khi nhận được chỉ dụ của vua Càn Long, Tôn Sĩ Nghị xem xét tình hình mọi việc, ngày mồng 8 tháng 7 năm Mậu Thân, Càn Long 53 [9-8-1788] tâu lên chính yếu dịch ra như sau:

Tra xét việc hai họ Lê Nguyễn thù hằn giết chóc lẫn nhau nguyên do đã từ lâu. Theo lời bọn Nguyễn Huy Túc thì Nguyễn Nhạc là một họ nhỏ đất Tây Sơn, không phải họ lớn phụ chính (tức chúa Nguyễn ở Đàng Trong) nhưng hai bên đánh lẫn nhau cũng đã nhiều năm. Nay đất An Nam (nói về Bắc Hà) một nửa thuộc về Nguyễn Nhạc còn tự tôn vẩn làm chủ một giải Sơn Nam, đất đó có thể giữ được, quân binh có thể chiến đấu, xem ra dòng nhà Lê chưa đến nỗi tuyệt, tước mà bản triều phong cho vẫn còn.

Còn như đất đai khi rộng khi hẹp, quốc thế lúc thịnh lúc suy, ngoại phiên của thiên triều thật nhiều, thế không thể lấy thước tấc mà đo, không phải lúc nào cũng lấy binh mã lương tiền của nội địa mà bao biện cho được. Nếu Nguyễn Nhạc có bụng chiếm cả nước An Nam, không để cho tự tôn một tấc đất, một nước triều cống trong một trăm mấy chục năm qua, nay bỗng dưng bị diệt, thực có liên quan đến thể thống thiên triều, không thể không điều động quan binh phạt bạo thảo tội.
(Ớ đây có lời châu phê của vua Càn Long: Trẫm phân vân chính là ở chỗ đó)

Dụ chỉ của hoàng thượng thật công bằng ngay chính, thần chỉ biết tùy thời tùy việc mà tuân theo biện lý.
Xin để cho thần tìm hiểu dư luận cho kỹ lưỡng, hỏi cặn kẽ tình hình nước man di kia, nếu như Nguyễn Nhạc có bụng gây họa, muốn chiếm cả nước An Nam thì nội địa không thể chỉ vì họ Lê trợ thế dương uy, e rằng tự tôn khó có thể giữ được nước, càng lúc càng tan rã, lúc đó Nguyễn Nhạc có cả nước An Nam, khí cục đã thành, không thể không hao phí binh lực nội địa, đến lúc đó cũng đã muộn rồi, thành thử thần xin được điều bát binh lực các nơi chung quanh, huấn luyện thao phòng, nói rõ định ngày ra quân, chia đường tiến đánh(14).

Nguyễn Huệ cũng hay biết tin này nên sai quân trấn thủ Văn Uyên là Hoàng Đình cầu và Nguyễn Đình Liễn đem lễ vật lên tiến cống, trên từ biểu ký tên là Nguyễn Quang Bình(15). Tuy chưa biết rõ tình hình ra sao nhưng Tôn Sĩ Nghị cũng hư trương thanh thế để dò xem phản ứng của quân Tây Sơn thế nào. Ngày mồng 1 tháng 7 năm Càn Long 53 [2-8-1788], Tôn Sĩ Nghị đích thân đến Nam Quan ra lệnh cho phó tướng Vương Đàn hiện đang chỉ huy hiệp Tân Thái đứng trên cửa quan, lớn tiếng đọc bản hịch kết tội rồi ném hịch văn qua bên ngoài tường để cho quân Tây Sơn nhặt được(16).

Trong tình hình đó, vua Càn Long ra lệnh cho Quân Cơ Xứ nghiên cứu tình hình, đến ngày mồng 5 tháng 7 năm Càn Long 53 [6-8-1788], A Quế trình lên dịch ra như sau(17):

… Nước An Nam kia ở nơi phương nam xa xôi nóng nực, từ khi kiến quốc tự đời Tống đến nay, họ Nguyễn, họ Lý, họ Trần, họ Lê qua mây đời soán đoạt tranh chấp lẫn nhau. Đời Vĩnh Lạc nhà tiền Minh, nhân vì Lê Quí Ly cướp ngôi nhà Trần nên đã ba lần sang dẹp loạn, mất đến hơn chục năm, ngặt vì dân nước đó tính tình phản phúc, nên cũng phải bỏ về nhân vì họ Trần vô hậu, khi Lê Lợi cầu phong liền sách lập trở lại.

Về sau hai họ Lê Mạc tranh giành nhiều năm, triều ta uy đức tràn đầy nên nước đó khuynh tâm thần phục, triều cống không dứt. Nhưng họ Lê không tự phấn chấn lên được, bị cường thần chế ngự, hiệu lệnh lại không ban bố xuống được toàn cõi, nguy cơ từ đó mà ra. Nay Lê Duy Kỳ bị Nguyễn Nhạc bức bách phải bôn đào, theo lời bọn di mục Nguyễn Huy Túc thì tự tôn nay chạy về một giải Sơn Nam mưu tính chuyện khôi phục.

Nếu như lòng người còn nhớ đến triều đại cũ, Lê Duy Kỳ có thể tụ tập binh dân tiễu trừ được Nguyễn Nhạc, thu phục Lê thành, nghinh đón quyến thuộc trở về. Hoặc giả tuy Lê Duy Kỳ hiện đang trốn tránh, các di mục cũng có thể đón tự tôn mưu tính việc khôi phục, theo như thánh dụ đợi cho đến lúc mọi sự đã định, lúc đó sẽ đón quyến thuộc về nước, không cần phải hưng sư làm cho lớn chuyện. Còn như tất cả nước An Nam đã bị Nguyễn Nhạc chiếm đóng rồi, đợi cho Tôn Sĩ Nghị tra xét rõ rằng tin tức cùa Lê Duy Kỳ, tâu lên, nặng hay nhẹ, gấp rút hay thư thả, khi đó phải làm gì ắt thánh minh sẽ có biện pháp.

Quân Cơ Xứ là cơ quan quyền lực tối cao của nhà Thanh, chỉ sau hoàng đế, mọi việc đều do tập thể nhỏ bé này quyết định, A Quế là người đứng đầu nhưng chỉ trình lên rất chung chung, đủ biết họ không muốn can thiệp vào việc này. Trước đây, sử thường cho rằng những việc liên quan đến nước ta có thể lo lót một cá nhân mà xong việc. Thiển kiến đó xét ra không phù hợp với thực trạng đưa đến những nhận định sai lạc.
Chúng ta có thể khẳng định rằng các đại thần nhà Thanh đã không hưởng ứng việc đưa quân sang nước ta, việc động binh là do ý riêng của vua Càn Long và Tôn Sĩ Nghị, không thông qua quyết định của Quân Cơ Xứ.

CHÚ THÍCH:
1. Chakri nguyên nghĩa là nguyên soái hay tướng quân vì trước đây ông ta chỉ huy quân đội của Phraya Tak- sin và dùng tên này làm tên triều đại.
2. Đông Nam Á người Trung Hoa gọi là Nam Dương (biển phía nam) bao gồm khu vực mà ngày nay chúng ta đặt tên là Southeast Asia, Mã Lai A, Indonesia, Philippines.
3. Năm 1273, khi Nguyên Thế Tổ (Kubilai) nhà Nguyên đòi vua Miến triều cống và thân hành sang chầu, vua Miến Điện đã xử tử sứ giả. Năm 1277, nhà Nguyên đem quân từ Vân Nam xuống đánh, thắng được tại vùng lòng chảo Nam Ti nhưng người Miến vẫn không chịu khuất phục. Năm sau, 1278, nhà Nguyên lại đem quân sang đánh lần nữa, nhưng vẫn không tiến được đến kinh đô Bhamo. Khí hậu viêm nhiệt nhất là bệnh dịch đã khiến cho quân Mông cổ tổn thất nặng nề.
Năm năm sau, 1283, một đạo quân do tướng Mông cổ Singtur (thay vì do người Hồi chỉ huy như trước đây) tiến đánh thung lũng Ir­-rawaddy và ép vào kinh thành khiến, vua Miến phải lui về vùng đầm lầy để chống trả. Đến năm 1287, quân Nguyên chiếm được Miến Điện (khi đó có tên là Pagan) và sáp nhập vào đế quốc Mông cổ. Miến Điện chỉ thu hồi được lãnh thổ khi nhà Nguyên bị diệt vong. c.p. Fitzgerald, The Southern Expansion of the Chinese People, New York-Washington, Prae- ger Publishers, 1972, tr.81.
4. Alexander Woodside, “The Ch’ien-LungReign”, trong Willard J. Peterson (ed.), The Cambridge His­tory of China, Vol. 9, Part One: The Ch’ing Dynasty to 1800. Cambridge University Press, 2002, tr.264-68.
5. Để phá vỡ quyền lực của Nguyễn Huệ, Tôn Sĩ Nghị đề nghị với Càn Long rằng Việt Nam cần phải được chia cắt ra. Miền trung Việt Nam sẽ được thưởng cho Xiêm, để trả công cho sự giúp đỡ của Thái chống anh em Tây Sơn. Rõ ràng là đối với Tôn Sĩ Nghị và Càn Long, vua Lê mà họ đang ủng hộ hoàn toàn không có khả năng, ngay cả trong việc làm một lãnh tụ tượng trưng. Ban đầu, Càn Long nghĩ rằng một liên minh quân sự với triều đình Thái “dường như là một thứ có thể thực hiện được”. Sau đó ông bác bỏ ý tưởng này, không phải vì nó vô đạo đức về mặt chính trị, mà bởi nó sẽ cho thấy sự nhỏ mọn trước vua Thái, thậm chí tệ hơn là phá hoại danh tiếng ông có được trong chiến thắng Sinkiang với việc chỉ sử dụng quân đội của mình và không chấp nhận sự giúp đỡ của “thế lực quân sự bên ngoài”. Alexander Woodside, Sđd, tr.277.
6. Tuy nhiên theo một lá thư của giáo sĩ Le Labousse gửi từ Sài Gòn ngày 15 tháng 6 năm 1789 thì Nguyễn Ánh đã bắt được một bức thư của vua Càn Long gửi vua Xiêm yêu cầu đánh vào mặt nam Đại Việt (Le Roy d’ici (tức Nguyễn Ánh) a intercepté une lettre écrire au nom de L’empereur de Chinois au Roy de Siam pour lui dire de venir attaquer les T.s. de coté-ci par la Cochinchine). Nguyễn Nhã, “Một Thiên Tài Quân Sự”, trong Một vài sử liệu về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Cali, Đại Nam, 1992, tr. 107-8, cước chú 38.
7. Alexander Woodside, Sđd, tr.277.
8. Trang Cát Phát, Thanh Cao Tông Thập Toàn Võ Công Nghiên Cứu, Đài Loan, Cố Cung Tùng San, Giáp Chủng số 26, 6-1982, tr.362.
9. Đời Thuận Trị, nhà Thanh phong cho Ngô Tam Quế làm Bình Tây Vương trấn đóng ở Vân Nam, Cảnh Trọng Minh làm Tĩnh Nam Vương, trấn đóng Phúc Kiến, Thượng Khả Hỉ làm Bình Nam Vương, trấn đóng Quảng Đông. Tam Phiên khi đó được giữ trọng binh, thế lực càng lúc càng lớn. Tháng 3 năm Khang Hy thứ 12 (1673), Thượng Khả Hỉ dâng sớ xin cáo lão về Liêu Đông để cho con là Thượng Chi Tín kế vị, nhân cơ hội đó triều đình xuống chiếu triệt phiên. Tới tháng 7, Ngô Tam Quế và Cảnh Tinh Trung (con của Cảnh Trọng Minh) cũng dâng sớ xin triệt binh, vua Khang Hy liền ra lệnh cho cả 3 phiên di chuyển ra ngoài Sơn Hải Quan. Ngày 21 tháng 1, Ngô Tam Quế khởi binh chống lại nhà Thanh, tuyên bố ủng lập Chu Tam Thái Tử (tức Chu Từ Quýnh, con của Sùng Trinh hoàng đế, khi đó thất tung nhưng người Hán dùng danh vị để phát động phong trào phản Thanh phục Minh), viết thư cho Cảnh Tinh Trung, Thượng Khả Hỉ cùng khởi sự, gây ra cái loạn Tam Phiên. Năm Khang Hy thứ 17, Ngô Tam Quế xưng đế ở Hành Châu, quốc hiệu Đại Chu nhưng chẳng bao lâu thì từ trần, cháu là Ngô Thế Phan kế vị. Ngày 19 tháng 10 năm Khang Hy thứ 20, quân Thanh đánh tới Côn Minh, Ngô Thế Phan tự tử, loạn Tam Phiên chấm dứt, tổng cộng 8 năm.
10. Mỗi lần nhà Thanh động binh đều phải tìm một cớ “chính đáng”, không bình định nội loạn thì cũng chinh phạt ngoại hoạn… Tuỳ trường hợp mà họ dùng một động từ thật kêu chẳng hạn như bình định Kim Xuyên, đãng bình Chuẩn Cát Nhĩ, chinh phục Hồi bộ, thảo phạt Miến Điện, tĩnh tuy Đài Loan, thảo hàng An Nam…
11. Lai Phúc Thuận, Càn Long trọng yếu chiến tranh chi quân nhu nghiên cứu, Đài Bắc, Quốc Lập Cố Cung Bác Vật Viện, 1984, tr. 30, trích từ Cung Trung Đáng, Cố Cung Bác Vật Viện, tấu chương của hai họ Tôn ngày mồng 8 tháng 5 năm Càn Long thứ 52 [22-6-1787]: “Nhiên dĩ vong thất quốc chi ấn tín, nhân Trịnh thị thiện quyền thời, tằng thiết đoạt quốc ấn, mưu thủ soán vị. Lê Duy Kỳ nãi tư thỉnh bằng tín, Lưỡng Quảng tổng đốc Tôn Sĩ Nghị dĩ kỳ vị kinh cụ bản cáo ai, thượng vị phụng chỉ thừa tập, bất tiện tiên cấp ấn tín, cự chi”.
12. Thanh Cao Tông thuần hoàng đế thực lục [Thanh Thực Lục], q 1307, tr 9, ỷ tín thượng dụ ngày Canh Tuất, tháng Sáu, Càn Long năm thứ 53. Trang Cát Phát, Sđd, tr.348-9.
 13. Nguyên văn theo tấu thư là “điếu phạt chi sư vị động, hưng kế chi nghiệp khả thành” quân điếu phạt chưa cần ra tay thì công việc làm cho kẻ mất nghiệp kia được trở lại đã thành rồi.
14. Trang Cát Phát, Sđd, tr.349. Cung Trung Đáng, CCBVV, tấu triệp của Tôn Sĩ Nghị đề ngày mồng 8 tháng 7, Càn Long thứ 53 (1788); Quân Cơ Xứ, CCBW, bản sao tấu triệp của Tôn Sĩ Nghị ngày mồng 8 tháng 7 năm Càn Long 53.
15. Trang Cát Phát, Sđd, tr.353
16. Ngươi Nguyễn Nhạc đuổi chủ làm loạn cương thường, vọng tưởng việc soán nghịch. Tổng đốc nghe tin đã đích thân đến đây, đã tâu lên đại hoàng đế điều động quan binh các tỉnh Vân Quí, Xuyên Quảng, Phúc Kiến vài mươi vạn, chia đường ra tiến đánh. Nguyễn Nhạc ngươi nếu không hối tội tự mình đổi mới, nghinh đón chủ củ trở về, bảo toàn gia quyến, lại dám quấy nhiễu thiên triều, đem nạp công vật.
Di mục các ngươi đã từng nhận quan chức của họ Lê, bỗng dưng trở mặt thờ kẻ thù, thay chúng gõ cửa quan cầu xin, thực đúng là kẻ vô liêm sỉ. Đúng ra ta phải bắt các ngươi ngay để xin hoàng thượng hạ chỉ đem ra chính pháp. Nhưng nghĩ rằng các ngươi chỉ là những di quan thấp kém, không đáng để trừng trị, vậy hãy mau mau trở về nói cho Nguyễn Nhạc biết rằng, hoạ phúc chỉ trong nháy mắt, các ngươi tự thu lấy.
Trang Cát Phát, Sđd, tr.353-4. Cung Trung Đáng, CCBW, bản sao tấu thư của Tôn Sĩ Nghị đề ngày mồng 8 tháng 7 năm Càn Long 53 [9- 8-1788]. Bản văn này cũng xuất hiện trong Khâm định An Nam kỷ lược [quyển II], Cố Cung Bác Vật viện, Hải Nam, Hải Nam xuất bản xã, 2000 (bản dịch Nguyễn Duy Chính, chưa xuất bản).
17. Quân Cơ Xứ, CCBVV. Trang Cát Phát, Sđd, tr.350.
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...