Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền thống dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyền thống dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng

7/7/12

Lời hứa thiêng liêng trước Tượng đài đội Hoàng Sa

(TTO) - Sáng 7-7, trong không khí thiêng liêng, Đảng ủy - Bộ tư lệnh Quân khu 5 đã tổ chức trao tặng và đặt lư hương tại tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc hải trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi).

Lễ đặt lư hương tại tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản bắc hải trên đảo Lý Sơn - Ảnh: Văn Mịnh


Tham dự buổi lễ có đại diện lãnh đạo Bộ tư lệnh Quân khu, lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi, đại diện các hội, đoàn thể, sở ban ngành của tỉnh, lực lượng vũ trang và đông đảo cán bộ nhân dân địa phương.

Thay mặt Đảng ủy Bộ tư lệnh quân khu 5, Thiếu tướng, Phó chính ủy Lê Văn Hoàng ghi nhận công lao và những đóng góp to lớn của thế hệ cha ông trong đội Dân binh Hoàng Sa năm xưa đã không quản khó khăn gian khổ cùng phong ba bão táp, vâng lệnh triều đình nhà Nguyễn dong thuyền căng buồm ra cắm mốc, đo đạc hải trình, khẳng định chủ quyền của ta trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thiếu tướng Lê Văn Hoàng đồng thời thay mặt cho lực lượng vũ trang hứa quyết tâm ra sức phấn đấu, rèn luyện, nâng cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng trời vùng biển thiêng liêng của tổ quốc.

Sau buổi Lễ, đại diện lãnh đạo Bộ tư lệnh QK5, lãnh đạo tỉnh cùng lãnh đạo các sở ngành, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương thắp hương tưởng niệm tại tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải.

VĂN MỊNH

4/7/12

“Biển sóng, biển sóng đừng âm u đừng nuôi trong ấy trái tim thù”

(Báo Đại Đoàn Kết) - Phẫn nộ vì thói ngang ngược của một số thế lực hiếu chiến ở Trung Quốc với những toan tính đen tối của họ, mà tự nhiên nhận ra cái cảm xúc riêng tư của người nhạc sĩ tài hoa nọ bỗng trở thành những lời cảnh báo có dáng dấp của lời tiên tri! Thì báo chí Trung Quốc đang lu loa "Việt Nam tạo sóng ở Biển Đông” để đe dọa "mũi giáo và đối tượng chính cần nhằm vào là Việt Nam” để trả đũa Quốc hội ta vừa thông qua Luật Biển, khẳng định mạnh mẽ chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của nước ta từ lâu đã được Luật pháp quốc tế công nhận! Ai đang "tạo sóng” Biển Đông đây? Bao đời đứng trước biển, mỗi người Việt Nam dù sống ở đâu, vẫn nghe được tiếng rì rào của sóng biển, việc gì phải tạo sóng? 
 
 
Bằng sự trải nghiệm lịch sử, dân tộc ta hiểu rõ rằng nuôi thù hận không bằng giải tỏa với sự khoan dung. Đánh tan tác mấy chục vạn quân xâm lược, Lê Thái Tổ đã dụ rằng: "Trả thù báo oán là thường tình của mọi người, nhưng không thích giết người là từ tâm của bậc nhân đức. Vả lại, người ta đã hàng mà mình lại giết thì đó là điều xấu không hay. Nếu vì hả nỗi căm hận trong chốc lát, mà mang tiếng giết kẻ đầu hàng, thì chi bằng tha mạng sống cho vạn ức người để dập tắt mầm mống chiến tranh cho đời sau, sử xanh sẽ ghi chép, tiếng thơm để lại muôn đời, như vậy há chẳng tốt đẹp hay sao?” Nhờ có "từ tâm của bậc nhân đức " đó mà "Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể chưa thôi trống ngực, Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ hôi"!

Thế nhưng, cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Những hậu duệ của Toa Đô, Ô Mã Nhi, Liễu Thăng, Vương Thông, Tôn Sĩ Nghị, Sầm Nghi Đống ... vẫn không sao nguôi được giấc mộng bành trướng. Đặc biệt khi mà cơn khát nhiên liệu của một nền kinh tế đang cố vươn lên địa vị siêu cường đang cồn cào mà Biển Đông với một trữ lượng dầu mỏ không thua gì Vịnh Ba Tư thì làm sao dừng được "cái lưỡi bò thè ra toan tính” liếm trọn.

Vì cuộc sống bình yên nơi huyện đảo Trường Sa – Việt Nam. Ảnh: Hoàng Long

"Cái lưỡi bò” ham hố ấy, thật ra, vẫn thập thò từ lâu, lâu lắm rồi trong tâm địa của cha ông họ. Đông Nam Á vẫn là mục tiêu nhìn ngắm mà Việt Nam lại như một cái xương mắc ngang cổ họng không cho họ nuốt trọn miếng mồi vẫn thèm thuồng đó. Chẳng thế mà, khi thì mềm mỏng "mượn đường” theo món võ cổ truyền "muợn Ngu diệt Quắc” của cha ông họ, khi thì trắng trợn dùng đường biển thọc sâu vào vùng lãnh thổ phía nam nước ta rồi đánh ngược lên phối hợp với cánh quân đến từ Vân Nam, từ Lạng Sơn. Nhưng rốt cuộc thì tất cả các đạo quân xâm lược đều bị đánh tan tành, Toa Đô chết trên biển, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp bị bắt sống trên cửa sông Bạch Đằng, Liễu Thăng chết ở Chi Lăng, Tôn Sĩ Nghị chạy thục mạng, Sầm Nghi Đống treo cổ tự tử.

Thế nhưng "chết cái nết không chừa", hậu duệ của những kẻ xấu số kia hiện đang hung hăng với những toan tính mới rất có bài bản. Sau một thời kỳ "giấu mình chờ thời" bằng cách tung ra những lời lừa mị rất "hoành tráng” nhằm ru ngủ đối phương, thật ra thì chỉ lừa được những đầu óc yếu bóng vía, chứ nhân dân ta thì đã biết tỏng cái tim đen của họ. Giờ đây hình như họ nghĩ là "thời” ấy đã đến. Thế là, họ tung ra cái kế hoạch đã được mưu tính rất kỹ càng : thành lập cái gọi là "thành phố Tam Sa”, rồi mời thầu quốc tế tại 9 lô hoàn toàn nằm trong thềm lục địa thuộc chủ quyền Việt Nam, đồng thời triển khai 4 tàu hải giám thực hiện cái gọi là "tuần tra” trên Biển Đông.

Nếu nghĩ cho kỹ thì sẽ thấy rằng, sự ngang ngược trong những tuyên bố mời thầu của họ thật ra mang màu sắc chính trị song song với tranh giành lợi ích kinh tế, mà lần này thì mục tiêu chính trị nổi trội hơn. Đây là một sự "nắn gân” xem thử phản ứng của chúng ta và của thế giới ra sao, chứ mưu toan bành trướng của họ thì vẫn thế, có chăng là họ đang trắng trợn hơn để không cần phải che chắn bằng những lời hoa mỹ lừa mị. Thật ra thì động thái này không phải là lần đầu tiên, nó đã từng xảy ra từ năm 2003 đối với vùng biển Hoa Đông đang có tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc khi Bắc Kinh đơn phương mời thầu quốc tế thăm dò, khai thác tại đây.

Và lập tức, thế giới đã lên tiếng: "Đây là hành động khiêu khích, nhằm trả đũa việc Việt Nam khẳng định các quyền pháp lý của mình trong luật quốc nội vào tuần trước. Những lời lẽ khiêu khích như vậy phải chấm dứt", đấy là phát biểu của Thượng nghị sỹ Lieberman tại Hội thảo An ninh Biển Đông ở Washington. Ông nói rõ: "Đây cũng chính là điều khiến cho Trung Quốc có thể sẽ ngày càng bị cô lập hơn trong khu vực cũng như trên thế giới”. Ông Labanyu, Giám đốc Nghiên cứu dầu khí tại Jefferies Hong kong Ltd, khẳng định sẽ không có công ty nước ngoài nào nhận thầu theo lời mời của Trung Quốc. Ông chỉ ra: "Quá trình mời thầu của CNOOC do Bộ Ngoại giao Trung Quốc chỉ đạo. Chính quyền trung ương Trung Quốc muốn sử dụng CNOOC để đưa ra một tuyên bố chính trị”. Theo ông Tetsuo Kotani, Viện Nghiên cứu Quốc tế Nhật Bản thì hành vi ứng xử của Trung Quốc tại Biển Đông, trong tương lai, cũng có thể là cách Trung Quốc sẽ giải quyết mâu thuẫn lâu dài với Nhật trên biển Hoa Đông và vì thế, quan chức quân sự Mỹ-Nhật đã đàm phán về khả năng tiến hành giám sát hàng hải chung giữa hai nước để giúp ổn định tình hình!

Đứng từ một góc độ nào đó mà xem xét sự kiện này sẽ thấy, đây là một dịp để nhân dân ta mài sắc thêm tinh thần cảnh giác không một chút mơ hồ về những lời đường mật đến từ nhiều phía. Xem ra thì quả là "họa trung hữu phúc", bộ mặt xâm lược càng phơi bày, thì ý chí quật cường sẽ trỗi dậy, đặc biệt là trong thanh niên, nguồn sinh lực của dân tộc. Họ sẽ hiểu rõ hơn cần phải làm gì, để rồi những ai đang còn mơ hồ sẽ thấy rõ hơn "trái tim thù" đang làm cho sóng Biển Đông âm u! Chính hành động ngang ngược đang diễn ra kia sẽ làm sống lại truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc mà đôi khi trong bộn bề lo toan với cuộc mưu sinh người ta có lúc sao nhãng đi.

Quả là, chưa bao giờ lịch sử đang là nhân tố tác động mạnh mẽ đến đời sống dân tộc như lúc này. Người ta nhớ lại, triệu tập Hội nghị Diên Hồng để lắng nghe tiếng nói của dân, để tiếp nhận thêm quyết tâm chống ngoại xâm bằng ý chí và sức mạnh của dân không ai khác Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông cùng với Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương, người đã chỉ ra thượng sách giữ nước là "khoan thư sức dân lấy kế sâu rễ bền gốc", là "vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức” . Người ta nhớ ra, trong tình thế hiểm nghèo, hai vua Trần vẫn cho cho khắc trên mũi thuyền rồng dòng chữ "Hoan Diễn do tồn thập vạn binh". Chính niềm tin mãnh liệt vào dân là yếu tố quyết định sự bình tĩnh, sáng suốt, không nhu nhược, dao động do khiếp sợ trước sức mạnh của quân Nguyên. Và rồi, nếu không nung nấu một tình yêu đất nước và lòng căm thù giặc mãnh liệt khiến "ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa được xả thịt lột da quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa thì cũng cam lòng” thì Hưng Đạo Vương sao có thể viết nên bài "Hịch tướng sĩ”, một áng "thiên cổ hùng văn” đi vào con tim khối óc của các tướng lĩnh, khởi động tinh thần và khí phách của họ cùng mình diệt giặc?

Không có bản lĩnh ấy, khí phách ấy, không thể có chiến thắng đánh tan quân xâm lược. Đấy là bài học ghi xương, khắc cốt của mọi thế hệ Việt Nam. Đương nhiên, mỗi thời điểm lịch sử đòi hỏi những giải pháp lịch sử mang tính sáng tạo. Vòng xoáy trôn ốc của sự phát triển lịch sử, nếu có vẻ như lặp lại, thì cũng diễn ra trên một tầng nấc mới. Hơn nữa, sự phát triển ấy không theo trình tự tuyến tính mà là phi tuyến tính với những hợp trội tạo ra những đột phá không lường trước được.

Và đây chính là điều mà những đầu óc mê muội với giấc mộng bành trướng kia sẽ phải nhận được bài học đích đáng như xưa kia cha ông của họ đã trải nghiệm! Thông điệp chúng ta gửi cho họ vào những ngày nóng bỏng này là hãy để cho sóng Biển Đông rì rào như nó vốn có, "đừng âm u, đừng nuôi trong ấy trái tim thù".


GS Tương Lai

3/7/12

Đại tướng Lê Đức Anh nói về chủ quyền biển đảo

(BÁO ĐẤT VIỆT ) - Trả lời phỏng vấn của Đất Việt, Đại tướng Lê Đức Anh, người từng giữ nhiều trọng trách trong Đảng, Nhà nước và quân đội, đã đưa ra nhiều ý kiến, quan điểm sâu sắc về việc bảo vệ chủ quyền đất nước.

Tác giả phỏng vấn Đại tướng Lê Đức Anh.

Trước sự việc Trung Quốc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa" và Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) ngang ngược thông báo mở thầu quốc tế 9 lô dầu khí nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam; xâm phạm thô bạo chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc... Đất Việt đăng tải nội dung trả lời phỏng vấn của Đại tướng Lê Đức Anh về bảo vệ chủ quyền đất nước. Cuộc phỏng vấn được thực hiện vào dịp đầu năm mới Nhâm Thìn 2012.

- Gần đây, vấn đề chủ quyền quốc gia, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến Biển Đông được đề cập đến rất nhiều. Theo Đại tướng, điều gì là quan trọng nhất để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình trong thời kỳ hiện nay?


- Vấn đề biển đảo, chủ quyền quốc gia là chuyện của lịch sử, phải hiểu được điều này thì mới có thể xử lý được vấn đề này. Việt Nam chúng ta thì ba chìm bảy nổi trong suốt chiều dài lịch sử. Việt Nam đã từng bị coi là một quận của Trung Quốc. Trong suốt thời gian đó, dân ta chịu sự cai trị hết sức tàn độc của người phương Bắc. Nhưng trong hoàn cảnh như vậy, dân ta vẫn chịu đựng được mọi cực khổ, cơ bản giữ được nước, giữ được những nét văn hóa truyền thống, không để bị đồng hóa. Như vậy, chúng ta phải học ông cha ta: phải hiểu rõ lịch sử để giữ nước.

- Đại tướng đã từng đảm nhận vị trí bộ trưởng Quốc phòng trong giai đoạn việc bảo vệ chủ quyền Tổ quốc và giữ hòa khí với một số nước khác không hề dễ dàng. Xin ông chia sẻ những kinh nghiệm quý báu đó.


- Bảo vệ chủ quyền Tổ quốc phải đặc biệt chú ý đến vấn đề con người. Hiện nay, có rất nhiều người nước ngoài sinh sống, làm việc tại Việt Nam, nhiều người không có phép. Những người này đã biến một số nơi của Việt Nam thành các khu vực gần như riêng biệt. Đây rõ ràng là một nguy cơ lớn về nhiều mặt, đặc biệt là về an ninh, quốc phòng. Tôi thấy chúng ta xử lý chưa tốt vấn đề người nướ ngoài, đặc biệt là người Trung Quốc đang lao động và sinh sống trên đất nước ta.

Đại tướng Lê Đức Anh: "Dù Trung Quốc có làm gì để chi phối Việt Nam thì chúng ta cũng sẽ vượt qua được mọi khó khăn như đã từng làm". Ảnh: Bá Mạnh.

Năm 1988, Trung Quốc định chiếm toàn bộ Trường Sa. Lúc đó, tôi đang là Bộ trưởng Quốc phòng, đã trực tiếp ra Trường Sa. Trung Quốc luôn muốn chiếm luôn cả Biển Đông. Chúng ta phải hiểu rõ để phá âm mưu này..

- Ý kiến của Đại tướng về việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tranh chấp trên Biển Đông như thế nào?


- Về vấn đề trên Biển Đông, tôi có thế nói rằng, cả thế giới biết Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa của Việt Nam. Ngay chính quyền Thiệu và chính quyền Cách mạng miền Nam Việt Nam trước cũng đã lên tiếng bảo vệ và khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc đã sai trong các tranh chấp trên Biển Đông, không chỉ sai so với pháp luật Việt Nam mà sai cả luật pháp quốc tế.

Nói về vấn đề Biển Đông, tôi không nói về những điều xa xôi nữa. Tôi muốn lấy một ví dụ nhỏ như sau để nói về thực hiện chủ quyền. Tại sao hàng hóa Việt Nam cũng tốt mà hàng hóa của Trung Quốc vẫn tràn ngập nước ta. Người Việt Nam có ưu tiên dùng hàng Việt được không? Muốn làm được điều nay, từng cơ sở sản xuất kinh doanh, từng người dân phải làm tốt để cạnh tranh được với hàng ngoại, trong đó có hàng Trung Quốc. Qua câu chuyện trên, tôi muốn nói là để bảo vệ chủ quyền biển đảo thì không chỉ bảo vệ từ ngoài khơi, mà còn phải bảo vệ từ trong nội địa.

- Nếu chúng ta tôn trọng luật lệ, quy định và giữ hòa khí mà các nước khác không làm như vậy thì chúng ta phải làm thế nào, thưa Đại tướng?


- Tôi khẳng định lại một lần nữa, giữ độc lập, chủ quyền đất nước là mục tiêu, là nhiệm vụ tối thượng, số một, quan trọng nhất. Chúng ta luôn muốn hòa bình, hợp tác, hữu nghị nhưng quyết không đổi chủ quyền để lấy những điều đó. Hòa bình, hợp tác ngang bằng với chủ quyền là cách nói, là mưu đồ của Trung Quốc. Chúng ta nhất quyết không đổi chủ quyền, không đổi đất đai, biển đảo Tổ quốc để lấy hòa bình.

Bá Mạnh (thực hiện)

17/5/12

Tháng 5/1981: Đánh giập đầu bọn phản động Trung Quốc xâm lược và gửi công hàm phản đối hành động xâm chiếm

Đôi lời: Đúng vào dịp kỷ niệm 31 năm ngày diễn ra một trận đánh đáng nhớ chống lại bọn bành trướng Trung Quốc trên Biên giới phía Bắc, cộng tác viên BDM đã gửi tới một tài liệu quý nhắc mọi người ghi nhớ chiến công của quân dân ta. Lại đúng lúc Biển Đông đang dậy sóng vì những hành động gây hấn, đe dọa của Trung Quốc với cả Philippines và Việt Nam, giúp ta có dịp so sánh thái độ trước đây và hiện nay với kẻ xâm lấn này, dường như trái ngược.

BÁO NHÂN DÂN
Sấm sét trên điểm cao 400

SỐ 9831 THỨ HAI NGÀY 18-5-1981

Nguyễn Thành Văn

Ghi nhanh của phóng viên báo Nhân Dân tại Lạng Sơn

ĐIỂM cao 400 gồm có ba mỏm chính ở bên này cột mốc 26 thuộc xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Đêm 5-5 bọn Trung Quốc xâm lược vô cớ tiến công xâm chiếm quả đồi và suốt mười ngày sau đó, chúng liên tiếp bắn đủ các loại đạn pháo vào hầu hết các xã thuộc vùng biên giới Cao Lộc. Cứ mỗi một ki-lô-mét vuông trên vùng này phải chịu hơn bảy trăm quả pháo. Hàng trăm căn nhà bị đổ, hàng trăm con trâu, bò và các loại gia súc khác bị chết, đồng ruộng sắp đến kỳ thu hoạch bị đạn cày xới. Có những người dân vô tội, phần lớn là đàn bà trẻ em, bị chết và bị thương… Nghiêm trọng nhất, suốt đêm 14 và ngày 15-5, bọn địch tập trung pháo lớn 130 và cối 160 bắn sâu vào trong lãnh thổ ta suốt từ Thanh Lòa đến sát thị xã Lạng Sơn. Cùng thời gian, chúng ráo riết điều lực lượng bộ binh, xe tăng, pháo binh áp sát biên giới, từ Lộc Bình đến Bình Lập… 
 

 
 
Căm thù bọn phản động Trung Quốc, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn Y và các đơn vị phối thuộc phối hợp với nhân dân địa phương quyết trừng trị đích đáng bọn địch. Nhiều chiến sĩ đã có quyết định xuất ngũ, có đồng chí đã cầm giấy nghỉ phép, giấy đi viện trong tay cũng tha thiết xin đơn vị cho được ở lại chiến đấu. 100% cán bộ, chiến sĩ ở các phân đội xung phong được chiến đấu ở mũi chủ yếu. Các đơn vị dân quân và đồng bào địa phương làm việc quên mình, chiến đấu cùng bộ đội lập thành tích kỷ niệm Ngày sinh của Bác Hồ.

Bầu trời đêm 16-5, trong vắt, điềm cao 400 hiện rõ trong tầm nhìn của các chiến sĩ. Đúng 2 giờ 10 phút, sau phát pháo hiệu xanh, các trận địa pháo ta đồng loạt nhả đạn giội bão lửa xuống đầu quân giặc ở mỏm 1, mỏm 2, mỏm 3 và các vị trí địch chung quanh. Đồng bào ta ở các làng bản reo to : «bắn nữa đi, đánh dập đầu quân bành trướng dã man». Bọn địch trên ba mỏm cao hốt hoảng, nhiều toán chạy rạt xuống sườn đồi. Trong lúc pháo bắn, các mũi bộ binh ta nhanh chóng áp sát các vị trí địch. Mũi chủ yếu do tiểu đoàn trưởng Chênh chỉ huy, từ phía nam như một cơn lốc thọc thẳng lên mỏm 1, dùng AK, pháo tay diệt gọn từng tên địch.

 
Tiếng địch la hét, kêu khóc hòa lẫn tiếng súng âm vang và khói lửa ngút trời. Đúng 4 giờ 20 phút quân ta hoàn toàn làm chủ mỏm 1 và mỏm 2. Bọn địch còn lại tập trung về mỏm 3, kết hợp với số quân mới được tăng viện chống trả, đồng thời, pháo binh của chung tư nhiều trận địa bắn để chi viện cho bọn bộ binh, nhưng các chiến sĩ pháo bính ta lập tức giáng trả, một số trận địa pháo địch phải câm họng ngay sau loạt đạn đầu. Được pháo binh yểm hộ, các chiến sĩ bộ binh ta lần lượt tiêu diệt từng ổ súng địch và đến 6 giờ 30 phút quân ta hoàn toàn làm chủ mỏm chính trên điềm cao 400, tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu gần 4 tiểu đoàn của trung đoàn 23, sư đoàn 3, bộ đội biên phòng Quảng Tây của địch. Cay cú trước thất bại, suốt ngày 16-5 bọn địch tổ chức nhiều đợt phản kích hòng chiếm lại những vị trí đã mất,nhưng mọi đợt tiến công của địch đều bị quân ta đầy lùi. Xác giặc ngổn ngang khắp sườn đồi và trận địa của ta vẫn được giữ vững.

  
 
Trong suốt mấy ngày chiến đấu giành giật với quân xâm lược từng tấc đất thiêng liêng của Tồ quốc đã xuất hiện biết bao gương dũng cảm, anh hùng làm xúc động lòng người. Đó là cán bộ, chiến sĩ phân đội cối 160, liên tục chiến đấu suốt ngày đêm,chịu đựng gần một nghìn quả pháo của địch vẫn trụ bám trận địa, chi viện đắc lực cho bộ binh, kiềm chế có hiệu quả pháo địch, chiến sĩ bị thương không chịu rời trận địa. Phân đội phó Nguyễn Thanh Bình, chiến sĩ lái tăng Lưu Đình Phúc, pháo thủ Lê Bá Tiên diệt hơn bảy hỏa điềm địch khi lộ mục tiêu, pháo địch bắn dữ dội vẫn bình tĩnh chi viện cho bộ binh tiến công tiêu diệt địch. Tiểu đội trưởng Phương có vợ lên thăm, đơn vị cho nghỉ, nhưng cả hai vợ chồng lên gặp chỉ huy xin được đi chiến đấu, lúc bị thương nặng, anh vẫn kiên cường cùng tiểu đội chiến đấu. Các mẹ, các chị, trong lúc chiến đấu ác liệt, vẫn mang cho bộ đội từng vắt cơm nóng, từng bi-đông nước sôi, khắc thêm hình ảnh đẹp đẽ và cảm động của mối tình quân dân gắn bó.

Sau khi cho bọn phản động Trung Quổc một bài học đích đáng trên điềm cao 400, quân và dân huyện Cao Lộc và các vùng biên giới khác lại tích cực chuẩn bị những đòn giáng trả mới mạnh hơn lên đầu chúng đồng thời đẩy mạnh sản xuất chiêm xuân và làm mùa.

———

BÁO NHÂN DÂN

BỘ NGOẠI GIAO TA GỬI CÔNG HÀM CHO BỘ NGOẠI GIAO TRUNG QUỐC:
Quân và dân Việt Nam ở vùng biên giới kiên quyết thực hiện quyền tự vệ chính đáng

SỐ 9831 THỨ HAI NGÀY 18-5-1981

 
 
Ngày 17-5, Bộ Ngoại giao nước ta đã gửi công hàm tới Bộ Ngoại giao Trung Quốc, toàn văn như sau:

Từ sau các sự kiện nghiêm trọng khiêu khích vũ trang, lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở Lạng Sơn và Hà Tuyên trong những ngày đầu tháng 5 năm 1981, nhà cầm quyền Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động vũ trang, phạm thêm nhiều tội ác dã man đối với nhân dân Việt Nam, gây tình hình hết sức căng thẳng ở vùng biên giới Việt Nam – Trung Quốc.

Ở Lạng Sơn, sau khi lấn chiếm trái phép vùng bình độ 400, từ ngày 6 đến ngày 13 tháng 5, quân Trung Quốc đã bắn hàng nghìn quả đạn cối 82, 120, pháo 122 và hỏa tiền vào nhiều làng bản và cơ sở sản xuất thuộc huyện Cao Lộc. Nghiêm trọng hơn là trong các ngày 14 và 15 tháng 5, lính Trung Quốc đã điên cuồng bắn hàng trăm phát pháo lớn 130 vào một số làng bản và khu vực thị xã Lạng Sơn, sâu trong lãnh thổ Việt Nam 11 ki-lô-mét.

Ở Hà Tuyên, sau khi dùng lực lượng lớn bộ binh và pháo binh lấn chiếm khu vực Lao Chải thuộc huyện Vị Xuyên, từ ngày 8 đến ngày 14 tháng 5, phía Trung Quốc còn đưa nhiều đơn vị pháo binh và bộ binh áp sát biên giới đối diện khu vực này và xã Thèn Chu Phìn (huyện Hoàng Su Phì), bắn hàng trăm quả đạn pháo 122 và hỏa tiện vào nhiều khu vực đông dân cư.

Ở Cao Bằng, ngày 12 tháng 5, nhiều toán lính Trung Quốc đánh sang khu vực phía nam mốc 112 huyện Hà Quảng, đồng thời nhiều lực lượng bộ binh và pháo lớn áp sát biên giới huyện Quảng Hòa.

Ở Quảng Ninh, từ đầu tháng 5 đến nay, phía Trung Quốc không ngừng tung nhiều tốp thám báo sang hoạt động ở các huyện biên giới.


Đi đôi với những hoạt động khiêu khích vũ trang, lấn chiếm lãnh thổ trên biên giới đất liền, nhà cầm quyền Trung Quốc còn cho hàng nghìn lần chiếc tàu thuyền có vũ trang xâm phạm vùng sông, biển Việt Nam từ sông Bắc Luân (Quảng Ninh) đến vùng biển đèo Ngang (Bình Trị Thiên) và cho hàng trăm tốp máy bay chiến đấu uy hiếp biên giới đất liền, nhiều tốp đã xâm phạm vùng trời Việt Nam, nhất là ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng.

Những hoạt động khiêu khích vũ trang và lấn chiếm lãnh thổ kể trên của nhà cầm quyền Trung Quốc đã gây nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân vùng biên giới Việt Nam, xâm phạm thô bạo chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, uy hiếp nghiêm trọng an ninh của Việt Nam ở vùng biên giới.

Cùng với những hoạt động thù địch chống Việt Nam trên đây, nhà cầm quyền Trung Quốc còn liên tiếp tiến hành các hoạt động vũ trang khiêu khích và xâm nhập lãnh thố vùng biên giới Lào ; ra sức xúc tiến việc tập hợp bọn Khơ-me phản động va tiếp tế vũ khí cho chúng chống nhân dân Cam-pu-chia.

Rõ ràng đây là hành động có tính toán của nhà cầm quyền Trung Quốc chống nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Cam-pu-chia, nằm trong âm mưu bành trướng, phá hoại hòa bình và ổn định ở Đông Dương và Đông-Nam Á.

Công hàm ngày 16 tháng 5 năm 1981 của Bộ Ngoại giao Trung Quốc gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc chỉ là thủ đoạn quen thuộc vừa ăn cướp vừa la làng nhằm che đậy âm mưu đen tối và hành động tội ác của họ, tránh né sự lên án của dư luận, chuẩn bị cho bước phiêu lưu khiêu khích quân sự mới chống nhân dân Việt Nam.

 
 
Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam kịch liệt tố cáo và nghiêm khắc lên án những âm mưu và hành động vũ trang khiêu khích và lấn chiếm lãnh thổ nói trên của nhà cầm quyền Trung Quốc, kiên quyết đòi họ phải chấm dứt ngay những hành động đó, rút ngay, rút hết quân của họ khỏi các vùng đất đã lấn chiếm của Việt Nam.

Quân và dân Việt Nam ở vùng biên giới quyết thực hiện quyền tự vệ chính đáng bảo vệ chủ qụyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Nhà cầm quyền Trung Quốc phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hậu quả do hành động thù địch chống Việt Nam của họ gây ra.

31/3/12

Thành kính dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng

Từ ngày tháng này trở đi sau không biết là bao năm… mạch sống từ cội nguồn lại tuôn về; cứ ngày 10 tháng 3 âm lịch là tiếng trống đồng lại vang vọng khắp non sông, nơi nơi chốn chốn đàn con Việt hợp lòng cùng nhau hướng về đền HÙNG cầu xin tiên tổ phù trợ khiến quốc thái dân an, người người hạnh phúc, nguồn mạch tâm linh ấy một khi đã tuôn chảy rồi sẽ không bao giờ dứt.

1.Dâng hương tưởng niệm các vua Hùng

( Ngày 31.3 (tức ngày chính giỗ 10.3 năm Nhâm Thìn), tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng (Phú Thọ), Lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng được tổ chức với sự tham dự của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đại diện các Bộ, ngành TƯ, các tỉnh, thành phố và đông đảo người dân trong và ngoài nước.



Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và Lễ hội Đền Hùng 2012 bắt đầu từ ngày 5.3 (năm Nhâm Thìn) với các lễ giỗ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân, lễ dâng hương tưởng niệm Tổ Mẫu Âu Cơ, lễ dâng hương tưởng niệm các vua Hùng. Phần Hội được gắn với chương trình vinh danh di sản hát xoan Phú Thọ mới được Unesco đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp - chương trình Liên hoan Hát Xoan và dân ca Phú thọ; tổ chức các điểm hát Xoan tại khu di tích lịch sử Đền Hùng và ở các phường hát Xoan gốc tại TP.Việt Trì. Trong phần hội còn có triển lãm ảnh Các di tích thờ Hùng Vương và liên quan đến thời đại Hùng Vương ở VN… 

Chiều 30.3, đoàn kiều bào tiêu biểu, gồm hơn 30 đại biểu từ nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, theo lời mời của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, đã hành hương về đất Tổ Hùng Vương dâng hương tri ân công đức tổ tiên. Đến tham dự và thắp hương ở Đền Hùng trong dịp Quốc giỗ, các kiều bào đã rất xúc động.

Cũng trong chiều 30.3, lãnh đạo tỉnh Phú Thọ đã gặp mặt đoàn kiều bào về dự Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng năm 2012. Trước đó, đoàn đã đi thăm tỉnh Lào Cai và Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế Lào Cai. Đoàn kiều bào cũng trao tặng Đồn biên phòng Y Tý 1.000 USD thể hiện tấm lòng của bà con.

H.Hà - C.Nhân

2. Thành kính dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng

(Cổng thông tin điện tử Chính phủ ) - Ngày 31/3, (tức mồng 10 tháng 3 Âm lịch), lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng đã diễn ra trang trọng, trong không khí thành kính, linh thiêng tại đền Thượng, Khu di tích lịch sử Đền Hùng.

Dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng - Ảnh: chinhphu.vn

Dự lễ có Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm và đại diện lãnh đạo một số bộ, ngành Trung ương, tỉnh, thành phố cùng đông đảo nhân dân trong và ngoài nước.

Trước anh linh các Vua Hùng, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đại diện lãnh đạo các tỉnh, thành, đông đảo nhân dân trong nước, kiều bào ở nước ngoài về dự lễ đã thắp nén hương thơm tỏ lòng tri ân công đức tổ tiên, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc; cầu cho quốc thái dân an, bách gia trăm họ, vạn đại trường tồn, nguyện cùng nhân dân cả nước xây dựng nước Việt Nam ngày càng thịnh vượng.

Tiếp đó, các đại biểu đã dâng hương, đặt vòng hoa và thắp hương tại Lăng Hùng Vương; đặt lẵng hoa tại bức phù điêu ở Ngã năm Đền Giếng, nơi Bác Hồ nói chuyện với cán bộ chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên Phong với câu nói bất hủ của Người: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước/Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.



Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ Hoàng Dân Mạc - Chủ lễ giỗ Tổ Hùng Vương năm Nhâm Thìn 2012 đã đọc Chúc văn tưởng niệm các Vua Hùng

Trong giờ phút thiêng liêng trên đỉnh Nghĩa Lĩnh ngút ngàn linh khí, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Thọ Hoàng Dân Mạc - Chủ lễ giỗ Tổ Hùng Vương năm Nhâm Thìn 2012 đã đọc Chúc văn tưởng niệm các Vua Hùng, bày tỏ lòng tự hào về truyền thống vẻ vang 4.000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; thành kính tưởng nhớ và biết ơn công đức, đồng thời kính cáo trước anh linh các bậc tiền nhân về những thành tựu to lớn mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân Việt Nam đã đạt được trong công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước; khẳng định lớp lớp các thế hệ con cháu Lạc Hồng sẽ luôn phát huy khí thế Hùng Vương, đoàn kết một lòng, mãi mãi đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ kính yêu đã chọn, quyết tâm xây dựng giang sơn đất nước Việt Nam ngày càng hùng mạnh phồn vinh, góp phần vì hòa bình hữu nghị trên toàn thế giới.

Nghi lễ dâng hương được tiến hành long trọng trong không khí trang nghiêm. 9 giờ sáng, đại lễ dâng hương kết thúc, hàng trăm ngàn người, thành kính dâng hương tưởng niệm các vua Hùng ở nhiều điểm di tích.

Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ

25/2/12

Khám phá chữ cổ Lạc Việt tại Quảng Tây: Phản Ứng, Phản Biện, Phản Hồi

Thưa anh Tu Dinh,

Tôi xin cảm ơn anh, đồng thời xin phép nghĩ khác anh. Tôi không cho chuyện này có ý nghĩa “ru ngủ”. Và lòng tự hào dân tộc không bao giờ có ý nghĩa tiêu cực là ru ngủ hay tự ru ngủ. Dường như trong truyện ngắn Thằng Mõ (tôi không chắc), nhà văn Nam Cao đã nói, mà tôi cho là rất đúng, rằng (không phải nguyên văn) khi một người thường xuyên bị chà đạp, bị lăng nhục, thì anh ta không còn tin tưởng vào giá trị con người của anh ta nữa. Hơn thế, anh ta sẽ sống phù hợp với cái thân phận mang tính chất đểu cáng hạ cấp mà người khác gán cho anh ta.

Không phải là chuyện ru ngủ chút nào cả khi Napoleon đặt ra các danh hiệu rất kêu kiểu như Maréchal / Maréchaux de France (Pháp quốc thống chế) hay Amiral de France (Pháp quốc Đô đốc) v.v… cho các tướng lãnh cao cấp của ông ta. Và lời ông ta động viên quân sĩ dưới chân Kim Tự Tháp tại Ai Cập rằng “Hỡi các người! Các người nên biết rằng hơn bốn mươi thế kỷ đang nhìn xuống chúng ta!” không hề là một lời huyênh hoang vô lối hay ru ngủ ai cả. Rồi những thứ huy hiệu, cầu vai, dây tua lòe loẹt này nọ mà các quân đội trên thế giới bày vẽ ra để ban tặng cho quân lính của mình. Những thứ đó cũng không làm cho họ ngủ; trái lại chúng làm cho họ mạnh mẽ lên, hào hùng thêm, hành động dũng cảm hơn nữa, phù hợp với những mong đợi lớn lao mà đất nước đặt vào họ.

Cũng chính trong ý nghĩa này mà chúng ta không bao giờ bỏ qua cơ hội nào để củng cố sự tự tin và lòng tự trọng nơi con cái mình, củng cố lòng tự hào của chúng vào nền tảng tinh thần của gia đình mình (gia phong); chúng ta không bao giờ bỏ qua dịp để khen thưởng và khích lệ con cái mình hay thay cho sự khen thưởng bằng thái độ hờ hững của chúng ta, hoặc coi thường mọi nỗ lực phát triển sự tự tin của chúng như là chuyện lố bịch.

Truyền thuyết Rồng Tiên vì vậy không hề là một huyền thoại bịa đặt vô nghĩa, như có người cười cợt biếm nhẽ.

Giả dụ tất cả người Việt Nam tin theo một ai đó, cho rằng nòi giống mình chỉ là một chi nhánh hạ đẳng của người Tàu (quả thực đã có chuyện này, khi một “sử gia” nào đó mà tôi đã đọc từ khi còn nhỏ nên không nhớ tên, cho rằng đa số người VN có họ Nguyễn, mà họ Nguyễn là một họ thuộc hạng dân hạ tiện chiếm phần rất ít ỏi trong xã hội Tàu!). Giả dụ mọi người VN luôn chứa sẵn trong đầu mình cái mặc cảm mình là loại người hạ tiện, hạng bét đối với Tàu, thì liệu chúng ta có còn dám ngẩng cao đầu một cách oai hùng bất khuất trước những cuộc xâm lăng của chúng, như ông cha ta đã luôn luôn chúng tỏ trong lịch sử hay không? Với tham vọng thôn tính nước ta của chúng đã phô bày lộ liểu, và với thái độ đê hèn của nhà nước Cộng sản VN hiện nay khiếp nhược trước giặc mà hèn hạ với dân, cái mặc cảm nhục nhã tai hại đó sẽ giúp cho việc “nội thuộc” diễn ta thuận lợi biết bao!

Về mặt con người, các nghiên cứu tâm lý học đã khẳng định nguyên lý tinh thần hướng dẫn thể xác. Cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống lại áp lực xâm lăng và đồng hóa của Tàu phải được hướng dẫn bằng “tinh thần”. Đó là văn hóa. Chúng ta không chỉ chống lại mọi sự xâm lăng của Tàu bằng sức mạnh thể chất mà còn bằng sức mạnh văn hóa. Để củng cố sức mạnh văn hóa, thử nghĩ xem, có cách gì tốt hơn, hữu hiệu hơn là khôi phục, phát triển và củng cố niềm tin vào lịch sử và bản chất của dân tộc mình không thua kém bất cứ ai?

Trong lịch sử thế giới, đã có quốc gia nào từng ngủ quên trên sự tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc họ không? Không hề. Trái lại, những giai đoạn suy vọng của mỗi quốc gia đều xảy ra trong thời kỳ mà lòng người phân tán, khi niềm tự hào dân tộc ấy đã bị lung lạc, suy yếu hay không còn nữa. Trong hoàn cảnh như thế, Lê Lợi phải mất đến hai mươi năm mới “đẩy” được đám quân Minh xâm lăng về nước, (sau cuộc kháng chiến dai dẳng làm cho chúng mỏi mòn mà ta không có một trận đại thắng nào lừng lẫy tầm cỡ “Bạch Đằng”), trong khi trước đó, nhà Trần với hào khí Đông A chỉ cần một thời gian rất ngắn để ba lần đánh bại ba cuộc xâm lăng của lực lượng xâm lược mạnh nhất, dữ dằn nhất, đáng sợ nhất của cả nhân loại trong mọi thời đại, với các chiến thắng lừng lẫy.


Với sự phát hiện chữ Việt cổ, tôi cho đó là một chiến thắng tinh thần rất lớn lao của người Việt trước người Tàu và văn hóa Tàu. Thông tin này cần phải được chào đón một cách trân trọng, chớ không phải là với sự biếm nhẽ. Từ lâu, cả thế giới đều công nhận nước Tàu “văn minh trước thiên hạ.” Một số nhà trí thức của ta cũng nhắm mắt lập lại như thế. Mở “Việt Nam Văn Hóa Sử Cương” của Đảo Duy Anh ra mà xem. Ông ấy nói rằng khi ta tiếp xúc với văn hóa Tàu thì văn hóa của người Hoa Hạ đã phát triển rực rỡ, còn văn hóa của ta thì rất chất phác thấp hèn. (Nguyên văn gần như thế). Nhận định này của vị học giả “bách khoa” của ta từng khiến tôi thất vọng, vừa buồn vừa giận, là một trong những lý do mà hơn ba mươi năm trước đã khiến tôi không tự lượng sức mình, làm một công việc đội đá vá trời rất đáng mắc cỡ là… nghiên cứu lịch sử văn hóa VN!

Nếu có một người Việt Nam nào nói khác các luận cứ “kinh điển” có cầu chứng của các học giả nước ngoài về lịch sử văn hóa VN thì lập tức bị những người khác, cũng là người VN, dè bỉu cho là tự hào dân tộc vô lối. Linh mục Kim Định là một nạn nhân như thế. “Triết lý an vi của ông”, dù chỉ là một triết lý chứ không phải sử học, với những “giả thuyết làm việc” (lời của chính vị linh mục ấy) căn cứ trên nhiều kết quả nghiên cứu của những tác giả có thẩm quyền quốc tế, vẫn không thuyết phục được những nhà khoa bản được định vị “dưới chân Kim Tự Tháp Trung hoa”.

Với phát hiện chữ viết của người Việt cổ này, tôi nhìn thấy một cuộc địa chấn – dĩ nhiên với điều kiện sự phát hiện đó phải được khoa học xác nhận một cách vô tư. Một cuộc địa chấn không để ai ngủ được cả, chớ đùng nói chuyện làm cho người ta ngủ. Người ta bị lay xốc cực mạnh để thức dậy. Ai không thức dậy tức là đã chết rồi.

Cuộc địa chấn như thế nào? Và chúng ta đã ngủ từ bao giờ và ngủ như thế nào để bị cơn địa chấn này đánh thức?

Cả ba câu hỏi này có một câu trả lời chung. Không phải chúng ta chỉ mới ngủ từ khi những tên thực dân Pháp dạy ta rằng tổ tiên ta là người Gô-loa, mà đã ngủ từ khi chúng ta được chính mình nhồi sọ cho nhau để tin một cách nức nở rằng chúng ta được tên thái thú Tàu là Sĩ Nhiếp dạy cho biết văn minh lễ nghĩa, những tên thái thú Nhâm Diên và Tích Quang dạy cho ta biết cày cấy vân vân. Rồi chúng ta mang ơn chúng, và thờ phụng chúng như thánh thần. (Đã có một triều vua của ta phong tước vương cho Sĩ Nhiếp và các nho sĩ ta thời trước gọi y là Sĩ vương!)

Trong thời thượng cổ, dân tàu là giống dân du mục săn bắn, trong khi dân Lạc Việt là một trong những chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp của nhân loại. Chính người Tàu đã xác nhận điều đó khi trên bầu trời họ đã định vị vì sao Thần Nông ở về hướng Nam. Thần Nông (ông thần phát minh nghề nông) là người phương Nam, tức người Việt. Thần Nông chẳng phải ông thần nào cả. Đó là tượng trưng cho nền văn minh nông nghiệp phương Nam. Và cũng chính người Tàu đã “vẽ” ra một chữ Việt bộ Mể (粵) gồm hai phần để mô tả người Việt là chủng người biết làm ruộng lúa nước (phần trên) và biết sử dụng liềm hái cắt lúa (phần dưới).

Vậy mà, ai đời một trong những chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp của nhân loại lại đi học nghề nông với bọn người du mục đến từ phương Bắc!

Đó mới chỉ là chuyện liên quan đến hai tên thái thú Nhâm Diên và Tích Quang. Còn chuyện liên quan đến “Sĩ vương” tức Sĩ Nhiếp?

Hơn ba mươi năm trước, sống đời nông dân trên rừng núi, nhưng bực mình vì thấy có người cho những từ tiếng Việt Vua, Bố, cha mẹ, chú bác, cô dì, anh chị em vân vân… đều là tiếng Tàu cổ hay có gốc Hán cổ từ những đời đường đời mật nào đó, tức một cách nói rằng người Việt chính là hậu duệ của người Tàu, tôi đã không tự lượng sức mình và không biết trời cao đất dày, đã “nghiên cứu” lịch sử văn hóa VN xem thử Ta Là Ai. Dĩ nhiên công trình “nghiên cứu” đầy cảm tính và chủ quan nông nổi của tôi đã không tới đâu. Có nhiều lý do khiến tôi phải bỏ cuộc. Một trong những lý do đó là tôi va phải một thực tế “ác nghiệt”. Tôi nhận thấy rằng, nếu tộc người Việt đã có một nền văn minh riêng “như thế, như thế” từ nhiều ngàn năm trước, ắt họ đã thoát khỏi giai đoạn thắt gút và có một hệ thống chữ viết để truyền thông với nhau. Nhưng những thông tin tôi cần về chuyện này là chưa có vào lúc đó, hoặc rất mơ hồ.

Trong bài viết, vốn là một cái email như email này đây mà sau đó khi được phổ biến trên mạng, tôi đã đặt tựa là “Văn hóa Việt Nam là của Dân tộc Việt Nam” (http://art2all.net/tho/tho_tk/vanhoavietnam.html), vì chưa biết thông tin về chữ viết của người Việt cổ tôi đã không thể đưa giả thuyết rất… hoang đường của mình ra để giải thích một hiện tượng là: Tất cả các vua chúa lớn nhỏ của Tàu trong lịch sử, trừ giai đoạn đời nhà Chu, đều xưng đế chớ không ai chịu xưng vương, và tước Vương vốn có ý nghĩa rất cao quý (nối thông tam tài) lại chỉ để phong cho các con trai thứ của nhà vua! Tôi đã thấy rằng từ Vương là một từ của ngôn ngữ Việt, nói cách khác, từ Vương là một từ thuần Việt mang vỏ chữ Hán. Tuy mang hình thức chữ Hán, nhưng nội dung hàm ngụ của nó là tinh thần văn hóa Việt Nam.

Giả thuyết lố bịch của tôi để giải thích hiện tượng đó là như vầy: Trong quá trình phát triển dân tộc và bành trướng đất đai, tộc người (về sau tự xưng là) Hoa Hạ đã tiếp thu luôn cả nền văn minh của người Lạc Việt là cư dân sinh sống từ phía dưới sông Hoàng Hà, hoặc ít nhất là từ bờ Nam sông Dương tử trở xuống. Người Lạc Việt với văn minh nông nghiệp vốn hiền hòa, sau một thời gian sống chung với bọn người du mục mới đến, đã không thể chống chọi lại bản tính tàn bạo và hiếu chiến của chúng nên sau mỗi cuộc xung đột, người Lạc Việt cứ rút lui dần về phía bên này vùng Ngũ Lĩnh. Có lẽ đó là lý do mà một trong bốn chữ Việt để chỉ người Việt, người Tàu đã vẽ hình một người [thất trận] bỏ chạy (tẩu 走 ) có cầm vũ khí (qua 戈 ), thường được gọi là chữ Việt bộ tẩu [ 越 ] .

Giai đoạn chủng người Hoa Hạ tiếp xúc và hấp thu nền văn minh của chủng người Việt có lẽ xảy ra rất sớm, từ thời Hiên Viên, Hoàng đế trong lịch sử Tàu. Văn hóa đời Chu cho thấy họ đã hoàn toàn thấm nhuần tinh thần văn minh văn hóa Việt. Người thủ lãnh của họ cũng bắt chước xưng Vương như người Việt – thay vì truyền thống của họ trước đó là xưng Đế.

Trong văn hóa Việt, Vương là một hiền giả, một người minh triết, một đấng thánh nhân, có thể cũng nắm giữ vị trí lãnh đạo xã hội[1], chủ yếu bằng đức độ và sự minh triết, chớ không phải bằng quyền lực và vũ lực. Trái lại, trong nền văn minh du mục, người lãnh đạo nắm toàn quyền cai trị và thống nhất xã hội bằng vũ lực. Chính sự bắt chước theo văn hóa Việt đã làm phân hóa xã hội của chủng dân du mục. Tước vị Vương của nhà Chu chỉ cho họ một điều thích hợp duy nhất là tôn người lãnh đạo lên bậc chí tôn, thiên tử, con trời. Nhưng vì không có quyền lực và vũ lực trong tay nên ông con trời đành bất lực nhìn đất nước phân tán nát bấy. Nhà Chu có tới tám trăm nước chư hầu. Tức là tám trăm bề tôi của cùng một ông vua đều mỗi người làm vua một cõi mà thiên tử nhà Chu yếu thế không có vũ lực trong tay, không làm gì được, kể cả khi đám bề tôi đó liên tục nhân danh thiên tử để triệt hạ và thâu tóm lẫn nhau.

Vì thấy rõ cái Vương đạo của người Lạc Việt chỉ phù hợp cho chủng dân với nền văn minh nông nghiệp hiền hòa và minh triết, không thể áp dụng được cho chủng dân vốn xuất phát từ nền văn minh du mục, nên mặc cho Khổng Tử mang Vương đạo đi rao giảng khắp nơi mòn giầy lỏng gối mà chẳng ai thèm nghe theo.

Khi Tần vương Doanh Chính thống nhất thiên hạ, ông ta quyết định xưng Đế theo truyền thống của người dân du mục trước đó. Thủy Hoàng Đế: Hoàng Đế đầu tiên.

Thật ra, ông ta không phải là vị hoàng đế đầu tiên. Thời thượng cổ trước đó họ đã có những vua Hoàng đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, vân vân. Nhưng các danh xưng Đế Nghiêu, Đế Thuấn này đã bị linh mục Kim Định phát hiện là được gọi theo cấu trúc tiếng Việt. Tức là họ tự tố cáo mình chịu ảnh hưởng của văn hóa Việt vào thời kỳ người Hoa Hạ mới từ trên vùng Hoàng Hà đổ xuống, sống chung với người bản địa Lạc Việt.

Nhưng khi tự xưng Thủy Hoàng Đế, rõ ràng ông ta đã tuyên bố đoạn tuyệt hẳn với văn hóa văn minh Lạc Việt, trở về với thời rất xa mà tổ tiên của chủng dân Hoa Hạ này còn sống trong nền văn hóa du mục “rặt ri”, trước cả thời Hiên Viên Hoàng đế.

Đốt sách chôn Nho đâu phải chỉ là để thống nhất chữ viết, như lâu nay người ta cứ nhai đi nhai lại mãi. Chữ viết là chuyện nhỏ, chỉ cần một sắc lệnh là xong, nhất là dưới thời toàn trị phong kiến ai dám cưỡng, viết khác kiểu chữ vua ra? Đốt sách chôn nho chính là nhằm tiêu diệt ảnh hưởng của văn minh Lạc Việt trong xã hội người Hoa Hạ, để nhà vua nắm toàn quyền cai trị bằng vũ lực, nhưng vẫn không bỏ vị trí tinh thần cao cả của bậc minh triết trong văn hóa Lạc Việt, mà lợi dụng nó và bóp méo nó để tự tôn mình là đấng con trời. Những chuyện vương đạo, bá đạo, pháp gia, danh gia, bách gia chư tử này nọ, trong thời chiến quôc chỉ là sự vật vã dằn xé trong ý thức của dân tộc họ giữa hai con đường phải chọn một: hoặc nền văn hóa vương đạo của Lạc Việt, hoặc nền văn minh bá đạo theo bản tính du mục của dân tộc họ. Và họ chọn bá đạo và tiêu diệt vương đạo.[2]

Tiêu diệt là chuyện Tần Thủy Hoàng muốn. Nhưng có lẽ ông ta đã sớm nhận ra rằng nền văn hóa nông nghiệp của người Việt có sức cảm hóa rất lớn. Một phần nền văn hóa Hoa Hạ là được tiếp thu từ văn hóa nông nghiệp Lạc Việt, đã trở thành giá trị chuẩn mực trong xã hội người Hoa, không gì có thể thay thế được. Tiêu diệt nó là điều hoàn toàn không thể. Thế là họ làm một cuộc đánh tráo văn hóa. Việc đốt sách chôn nho chính là âm mưu cho sự đánh tráo văn hóa, nhằm đổi trắng thay đen đó. Theo đó, người Tàu đóng vai đi khai hóa, dạy văn hóa lễ nghĩa cho “tứ di” những dân tộc “man rợ” trong đó có “Nam man”. Thành ra, chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp đi học lại văn hóa nông nghiệp từ giống dân du mục là Tàu.

Không phải là các sử gia Tàu đời Hán về sau không biết những chuyện đánh tráo kệch cỡm đó, nhưng họ thấy như thế làm vinh dự cho lòng tự cao của họ nên họ đồng lõa theo. Và chúng ta ngủ vùi dưới âm thanh của dàn đồng ca tráo trở đó. Có cả giọng ca của một vài sử gia Việt hùa theo.

Phong vương cho Sĩ Nhiếp, gọi y là Sĩ vương… chính là cùng ca bài ca của chúng để tự ru ngủ mình.

Trở lên là giả thuyết động trời của tôi. Giả thuyết đó phải có căn cứ là nền văn minh Lạc Việt có trước Tàu để làm cơ sở. Nhưng, như tôi có viết cho một người bạn mới đây, một nền văn minh như thế mà không có chữ viết thì chỉ là chuyện giả tưởng, hoặc một chuyện hài hước cười không nỗi. Vì không thấy có bằng chứng nào chứng tỏ người Việt cổ đã có chữ viết riêng nên tôi đã hậm hực bỏ dỡ “công trình nghiên cứu” rất cà chớn của mình.

Bây giờ đã có thông tin về chữ viết cổ của người Lạc Việt. Khi đón nhận tin này, một thông tin rất ngắn tôi đọc thấy trên mạng hồi trước Tết, trước bài viết khá chi tiết của ông Hà Văn Thùy, tôi rất xúc động. Người tôi run rẩy. Nhưng tôi không ngạc nhiên. Tuy tôi quên “công trình nghiên cứu” của mình rồi, nhưng một nơi nào đó sâu thẳm trong tôi vẫn hằng mong đợi một thông tin như thế. Vì thông tin này đối với tôi có giá trị quá lớn, nên tôi không dám mừng rỡ hết lòng. Một sự xác định trái ngược hay phủ định giá trị của phát hiện đó sẽ khiến tôi rất tổn thương. Tôi nén cảm xúc cho đến khi phát hiện đó được khoa học xác minh là chính xác.

Nhưng, dù vậy, tôi cảm thấy phát hiện này có ý nghĩa một cuộc địa chấn: Nếu phát hiện đó được xác nhận là đúng thật, không những cổ sử của ta và cả cổ sử Tàu phải được viết lại, mà lịch sử văn hóa của một số quốc gia châu Á, gồm Việt Nam, Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc cũng phải viết lại. Thậm chí lịch sử văn hóa thế giới sẽ phải có những điều chỉnh quan trọng. Vì chứng tích chữ viết cổ này xác nhận nền văn minh Lạc Việt tồn tại từ lâu trước khi người Hoa Hạ đến xâm lấn địa bàn cư trú của họ là điều có thật. Chữ viết cổ của người Lạc Việt là nguồn gốc của chữ Trung Quốc là điều có thật. Nền văn hóa và văn minh tinh thần của Trung Quốc là có nguồn gốc từ văn minh Lạc Việt là có thật. Trung Quốc sẽ không còn được nhìn nhận là cội nguồn của nền văn hóa văn minh mà họ mạo nhận là của họ từ nhiều nghìn năm nay. Những sự đảo lộn lớn lao như thế không sánh với một cuộc địa chấn được sao?

Giành được thắng lợi trong một trận bóng đá thôi mà người ta la hét cuống cuồng nhảy nhót như điên loạn; lẽ nào giành lại được quyền làm chủ của một trong những nền văn minh văn hóa sớm nhất của nhân loại mà lại… buồn ngủ sao?

Có nhiều quốc gia đã cố phấn đấu mọi cách để giành được quyền đăng cai một trận bóng. Một nền văn minh văn hóa lâu đời của cha ông trở lại vào tay mình mà lại không giá trị bằng một trận bóng sao?

Thưa anh Tu Dinh,

Anh từ chối phát hiện này với lý lẽ rằng:
(1) Cái mà Hà Văn Thùy gọi là chữ, hay tiếng (language), thật ra, đó chỉ là những ký hiệu (symbol, signifier) rời rạc, khắc trên đá.
(2) Tiếng Việt có cấu trúc ngược với Tiếng Tàu. Làm sao có thể nói, Tiếng Việt đã “tạo nên” Tiếng Tàu.
(3) Nói rằng Tiếng Việt “tạo nên” Tiếng Tàu, làm sao có thể cắc nghĩa 2 hiện tượng sau đây: (a) Suốt dòng lịch sử, Người Việt chỉ có tiếng nói, không có chữ viết, phải mượn Tiếng Hán để học hành, và dùng trong quản trị hành chánh (viết sắc, chiếu của triều đình), và (b) Tiếng Tàu đã phát triển đầy đủ, còn Tiếng Việt thì nghèo nàn, không đủ dùng.

Tôi cho là anh Tu Dinh hiểu lầm.

1. Chữ viết và tiếng nói là hai thành tố của một ngôn ngữ. Ở chữ viết tượng thanh, một ký hiệu thường đại diện cho một âm, và có thể không có ý nghĩa nào cả. Các âm /a/, /b/, /k/ không có nghĩa gì hết. Ghép chúng lại theo một thứ tự nhất định thì chúng mới thành một chữ, mang một ý nghĩa qui định nào đó. Trong trường hợp này là chữ Bac, (có thể là tiếng Việt hoặc tiếng Pháp), hoặcCab (tiếng Anh), hoặc cũng có thể là QAB, chữ tắt của queue anchor block trong lãnh vực toán tin học, hay Baq., viết tắt tên phi trường Barranquilla ở Colombia.

Với chữ tượng hình, mỗi ký hiệu có thể là một chữ, vừa có âm, vừa mang nghĩa. Những chữ viết cổ phát hiện được là chữ tượng hình. Do đó, người ta đã đối chiếu với chữ khoa đẩu có niên đại mới hơn chúng và đã đọc được nội dung ý nghĩa của chúng. Các ký hiệu của chữ tượng thanh phải viết liền vào nhau mới thành chữ. Chữ tượng hình thì mỗi chữ là một đơn vị rời rạc.

2. Dường như anh Tu Dinh có sự nhầm lẫn giữa tiếng và chữ. Thứ mới được phát hiện ở đây là chữ viết (writing). Tiếng Việt không thể tạo nên tiếng Tàu. Nhưng người Tàu có thể dùng chữ viết cổ sơ này của người Lạc Việt để xây dựng và phát triển thành hệ thống chữ viết của họ. Đó là chuyện bình thưởng. Ta vẫn dùng chữ cái Latinh để viết tiếng Việt, có sao đâu!
Tiếng Việt có cấu trúc ngược với tiếng Tàu. Tiếng Việt không nói theo cấu trúc tiếng Tàu. Nhưng người Tàu thời thượng cổ có nói theo cấu trúc tiếng Viết. Những cách gọi Đế Nghiêu, Đế Thuấn, thay vì Nghiêu đế, Thuấn đế… là một bằng chứng lịch sử. (Còn thêm một số thí dụ nữa về chuyện người Tàu (thời cổ) nói theo cấu trúc tiếng Việt mà nhất thời tôi không nhớ).

3. a. Chuyện “suốt dòng lịch sử người Việt chỉ có tiếng nói, không có chữ viết, phải mượn tiếng Hán để học hành…” thì lịch sử đã có câu trả lời đầy đủ, và cụ thể. Đó là hậu quả của một chính sách đồng hóa tàn bạo của người |Tàu đối với các dân tộc bị chúng đô hộ. Sử Tàu ghi rõ, những ngày tháng nào, những tên vua nào của Tàu đã ra lệnh cho những bọn tay chân nào của chúng phải tìm và tịch thu hoặc hủy diệt tất cả những gì có chữ viết của các dân tộc bị trị để họ không còn nhớ đến lịch sử và văn minh của nòi giống họ nữa. Một mẫu giấy nhỏ có chữ viết cũng không để sót. Đọc sử Tàu sẽ thấy đủ và rõ hết. Trong sử của ta thỉnh thoảng cũng có trích dẫn những lệnh hủy diệt này của chúng.

Sau 1050 năm nằm dưới ách đô hộ của chúng mà tiếng nói của ta vẫn không mất là một điều thần kỳ vĩ đại. Chỉ sau ba trăm năm bị Mỹ đô hộ, người Phi-lip-pin đã mất cả tiếng nói lẫn chữ viết của dân tộc họ rồi kìa!

b. “Tiếng Tàu đã phát triển đầy đủ trong khi tiếng Việt vẫn còn nghèo nàn” chẳng phải là do sự yếu kém hay khiếm khuyết gì của tiếng Việt. Đó là do lịch sử. Tiếng Tàu liên tục phát triển từ khi dân tộc họ có tiếng nói đến nay, không đầy đủ mới là chuyện lạ. Tiếng Việt chúng ta chỉ mới thực sự phát triển vào khoảng 3 phần tư thế kỷ đây thôi. Chẳng phải mãi đến thập niên 40 thế kỷ trước ta vẫn còn các hội truyền bá quốc ngữ đó sao? Cuốn từ điển Danh Từ Khoa Học của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được soạn vào khoảng thập niên 40 của thế kỷ 20 đó chớ gì? Cuốn Từ Điển Tiếng Việt đầu tiên cho người Việt dùng chỉ mới ra đời vào khoảng thập niên 50 thế kỷ trước chớ mấy. Chỉ mới phát triển trong ngần ấy năm thì làm sao tiếng Việt giàu có ngay được bằng các ngôn ngữ khác đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử? Được như thế này chỉ trong ngần ấy năm, tiếng Việt đã bước đi bằng đôi hia ngàn dậm, chớ không chỉ đôi hia bẩy dặm. Ta phải tự hào với điều đó mới phải chứ? Sao lại than phiền biếm nhẽ? Chê tiếng Việt nghèo nàn là cố chấp một cách không đúng. Ngày xưa, thạc sĩ văn phạm Pháp Phạm Duy Khiêm đã mắc phải sự thiển cận đó. Nhiều người đã giận dữ cho là ông xúc phạm niềm tự hào dân tộc. Tôi cho là ông thiển cận.

Thế trong suốt lịch sử dân tộc cho đến trước các thập niên 40, 50 của thế kỷ trước tiếng Việt đã “ngủ đông” à? Gần như vậy. Trong suốt lịch sử, giai cấp trí thức thượng tầng của xã hội liên tục và nhất quán từ chối tiếng nói của tổ tiên mình. Bị Tàu đô hộ thì họ nói tiếng Tàu, viết chữ Tàu. Thoát khỏi sự đô hộ của Tàu rồi họ vẫn tiếp tục dùng chữ Tàu trong mọi văn kiện chính thức của triều đình, và cả trong văn học, coi chữ Tàu là “chữ ta”, “chữ thánh hiền”, và coi ngôn ngữ nước nhà là nôm na mách qué. Tiếng Việt chỉ được bảo tồn trong giai cấp bình dân, dân quê ít học, ở nơi “thôn cùng xóm vắng”. Trong điều kiện đó, tiếng Việt phải trong tình trang “tiềm sinh” chờ thời sống lại, chớ làm sao phát triển bằng người được? Ngay mới vừa rồi đây, tham dự Ngày Thơ Việt Nam trong chương trình Liên hoan Thơ Châu Á – Thái Bình Dương, (1/2 – 7/2/2012) tôi đã thấy ngay trong khuôn viên Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội người ta còn phô trương những dãy chữ Hán thật to kết bằng hoa cỏ cho người dân thưởng thức.

Ngày nay còn bao nhiêu người Việt đọc được thứ chữ này? Trí thức của ta như thế đó.

Dưới thời Pháp thuộc, giới trí thức toàn nói tiếng Tây; tiếng Việt là dành cho cu li. (Nhưng ngay cả cu li cũng phải nói tiếng Tây mới có được công ăn việc làm.)

Bây giờ là tiếng Mỹ. Nhìn vào đâu cũng thấy tiếng Mỹ. Trong một bịch kẹo “nội hóa” bán cho trẻ con ở thôn quê cũng in mọi điều quảng cáo bằng tiếng Mỹ. Một cửa hàng bán dụng cụ làm bếp dù không nằm trong trung tâm thành phố cũng xài toàn tiếng Mỹ từ trong ra ngoài. Lẽ nào du khách ngoại quốc tìm đến VN và “đi xe ôm” ra rìa thành phố, tới của hàng đó để mua xoong nồi mang về nước? Ngay cả các UBND xã huyện tỉnh là để phục vụ người Việt Nam đều được ghi kèm tiếng Mỹ. Lối thoát hiểm của một số cơ quan, bệnh viện đều có gắn biển đề chữ EXIT. Khi có hỏa hoạn, người Mỹ thì biết đường chạy, còn người Việt không biết tiếng Mỹ thì sao? Nhưng có người Mỹ nào đến những nơi ấy không? Họ đến đó để làm gì?

Đó, giới có ăn có học của ta đối xử với tiếng mẹ đẻ như vậy đó, Quên điều này, quên tình trạng “thứ yếu”, “thổ dân thổ ngữ” của tiếng Việt, mà đặt ra câu hỏi “vô ý” như câu hỏi của anh Tu Dinh e là làm cho ngôn ngữ của tổ tiên phải mũi lòng.

“Hôm nay, là Thế Kỷ 21, dân tộc Việt Nam không phải là trẻ con”. (Tu Dinh). Phải, càng không là trẻ con, khi dân tộc đó hàng chục ngàn năm trước đã sáng tạo chữ viết trước cả người Tàu, và nhờ thứ chữ viết đó mà người Tàu phát triển thành hệ thống văn tự của họ. Nếu phát hiện này được khoa học xác nhận, thì không ai có thể ngủ được cả. Nhất là người Tàu. Họ sẽ mất ăn mất ngủ trước hết.

Khi thông tin này được chính người Tàu đưa ra, thì tính chất quan trọng của nó là rất lớn. Chắc chắn là họ đã cân nhắc và ý thức rõ sức công phá dữ dội của sự kiện này đối với lâu đài văn hóa nhiều ngàn năm của họ. Họ phải biết hậu quả của sự kiện này là thế nào. Cả một lâu đài văn hóa của họ rực rỡ mấy ngàn năm mà họ rất tự hào, bỗng chốc hóa ra đồ vay mượn. Tại sao họ lại có thể “bịa” một chuyện động trời như thế này để ru ngủ chúng ta?

Thiếu Khanh

[1] Xem Văn hóa Việt Nam là của Dân tộc Việt Nam: http://art2all.net/tho/tho_tk/vanhoavietnam.html
[2] Định nghĩa “vương đạo” trong bài Văn Hóa Việt Nam là của Dân tộc Việt Nam, đã dẫn trên.


Đây là phiến đá có khắc tự phù biểu ý của người Lạc Việt cổ được chụp tại huyện Bình Quả – Quảng Tây vào ngày 23 tháng 12

Đây là phiến đá có khắc tự phù biểu ý của người Lạc Việt cổ được chụp tại huyện Bình Quả – Quảng Tây vào ngày 23 tháng 12

Nhóm khảo cổ khảo sát di chỉ cúng tế xẻng đá lớn Cảm Tang – thị trấn Mã Đầu – huyện Bình Quả – Quảng Tây vào ngày 22 tháng 12

Ông Tưởng Đình Du giám định chữ khắc trên đá phát hiện ở di chỉ Cảm Tang – huyện Bình Quả

Một phiến đá có khắc chữ phát hiện ở di chỉ Cảm Tang – huyện Bình Quả

Một phiến đá có khắc chữ phát hiện ở di chỉ Cảm Tang – huyện Bình Quả

Một phiến đá có khắc chữ phát hiện ở di chỉ Cảm Tang – huyện Bình Quả

Một phiến đá có khắc chữ phát hiện ở di chỉ Cảm Tang – huyện Bình Quả

Ông Tưởng Đình Du giải thích tình huống cho dân thôn

Phát hiện đàn tế của người Lạc Việt có hình khắc của người Lạc Việt

Hình vẽ chim và rắn trên đàn tế của người Lạc Việt cổ ở núi Đại Minh

Chữ khắc trên xương thú phát hiện ở di chỉ mộ táng vách động của người Lạc Việt ở huyện Vũ Minh


Chữ khắc trên xương thú của người Lạc Việt phát hiện ở sông Ung

Chiếc qua đá cổ của người Lạc Việt phát hiển ở sông Tả

Phát hiện di chỉ Cảm Tang có chữ khắc trên đá của người Lạc Việt

Chữ khắc trên đá của người Lạc Việt trên phiến đá lớn nhất

Một phiến đá khắc chữ Lạc Việt

Các phiến đá có khắc chữ phát hiện ở di chỉ Cảm Tang

Một phiến đá khắc chữ Lạc Việt

Xẻng đá lớn phát hiện tại đầm Đại Long – huyện Long An – Quảng Tây

Các loại xẻng đá được phát hiện

Nguồn: www.vietthuc.org


3 Comments »
 Tang Nguyen says:
February 23, 2012 at 3:20 pm

Chân thành cảm tạ ông Thiếu Khanh TN

 Dung Tran says:
February 23, 2012 at 6:25 pm

Thưa ông Thiếu Khanh,
Tôi rất lấy làm tâm đắc về những lời ông viết. Hàng ngàn năm nay do sự tiếp tay của hàng ngàn “học giả” theo gót Tàu nên bỏ quên cái đáng tự hào của dân mình. Họ quên rằng khi muốn hiểu rõ tiếng Việt thì phải học thêm tiếng Thái (lan), tiếng Lào, tiếng Miên, tiếng Mã Lai và cả tiếng Tàu ngày xưa nữa. Ngoài ra còn phải học thêm các thứ tiếng của những bộ tộc hiện đang số dọc theo dãy Trường Sơn thì mới thấy tinh thần quật cường của dân Việt, một giống dân không hề khuất phục. Hơn một ngàn năm không bị đồng hoá mà ngược lại còn đồng hoá người muốn đồng hoá mình qua đợt di dân khổng lồ của Mã Viện (dân Mã lưu) sau khi hai Bà Trưng thất trận. Hoan hô tinh thần bất khuất của các bà thể hiện qua câu nói của dân gian: Chín tháng cưu mang ba năm bú mớm của những bà mẹ Việt Nam xưa và nay.
Lần khám phá này đóng góp thêm vào kho tàng văn hoá Việt một điểm son nữa để chúng ta nhìn nhau và nói: Chúng ta có quyền tự hào mình là DÂN VIỆT!!!


 thanhbinh says:
February 25, 2012 at 4:09 am

The Viet has been cheated for too long with respect to their history and culture. And the people who helped cheating were the so called “Vietnamese scholars”. Those “Scholars” wrote about history and culture were nothing but citing from Chinese and French authors. Chinese authors wrote Chinese taught the Viet how to behave, ethics, and how to do farming, the so called “Viet scholar” wrote books promoting them; French authors wrote ancestors of the Viet were Chinese, and the so called “Viet Scholar” wrote book promoting that. It is very sad.

Observing what the Chinese is writing about history of China today, it is nothing but imaginative and cheating. For example, the rational for the U-shaped line on the map of “South China Sea” that they had created to claim these sea area historically belonged to them. Also, relating to the U-shaped line in the “South China Sea” map, scientific papers writen by Chinese Scholars included this map with no relation to the subject they wrote. When the matter was questioned, the answer from the Chinese Scholars were my goverment told me so. Whatever is “made in China”, whether it is material or intellectual, needs to be examined carefully. I hope Vietnamese in 21st Century had no slaveric “Scholars” as the had in the 19th and 20th Century. I also thank you for people who have spent time to research and have the courage to say and to write factual history of Vietnam.

1/9/11

Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Không thể nhân danh lòng yêu nước

Yêu nước là quý báu, là vô giá, lúc nào cũng cần thiết; khi đất nước bị đe dọa chủ quyền, Tổ quốc bị lâm nguy thì càng cần thiết yêu nước hơn bao giờ hết. Chính vì thế, yêu nước không phải thứ xa xỉ, để “trưng diện”, để chơi, để “đánh bóng” danh tiếng, để vơ vào, để làm sang cho bất cứ một ai có động cơ cá nhân vụ lợi.

Nhà văn, đại tá Sương Nguyệt Minh – tác giả của Dị hương đã cùng chúng tôi bàn về những khía cạnh của lòng yêu nước. Buổi trò chuyện diễn ra trong tiết trời Hà Nội đậm hương thu, và nhà văn mặc áo lính cân nhắc từng câu trả lời với một vẻ mặt nghiêm trang hiếm gặp ở ông.

Nhà văn, đại tá Sương Nguyệt Minh

PV: Thưa nhà văn Sương Nguyệt Minh, “nhân dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta”, câu nói ấy của Bác Hồ đã khát quát đầy đủ về tính cách và truyền thống dân tộc, không còn phải bàn cãi nữa. Nhưng đôi khi tôi băn khoăn tự hỏi, lòng yêu nước có phải là thứ gì rất trừu tượng không hay nó phải được biểu hiện thật cụ thể, bằng những hành động rất cụ thể?

Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Không! Làm gì có thứ yêu nước chung chung, trừu tượng đến mức không hiểu, không nhận biết được. Theo tôi, dù thời chiến hay thời bình thì lòng yêu nước của mỗi công dân cũng không hề trừu tượng, mà luôn luôn được biểu hiện bằng những hành động cụ thể.

Biểu hiện lòng yêu nước mỗi người một kiểu, mỗi thời một cách. “Đại Việt Sử ký Toàn thư chép: Vua thấy Hoài Văn Hầu Quốc Toản, Hoài Nhân Vương Kiện đều còn trẻ tuổi, không cho dự bàn. Quốc Toản trong lòng hổ thẹn, phẫn kích, tay cầm quả cam, bóp nát lúc nào không biết. Sau đó Quốc Toản lui về, huy động hơn nghìn gia nô và thân thuộc, sắm vũ khí, đóng chiến thuyền, viết lên cờ sáu chữ :”Phá cường địch, báo hoàng ân” (phá giặc mạnh, báo ơn vua)”

Thời chống Mỹ, nhà văn Nguyễn Tuân tuổi đã nhiều, ông không thể cầm súng như người lính, ông và nhiều văn nghệ sĩ làm nghĩa vụ công dân với cuộc chiến tranh vệ quốc bằng ngòi bút cổ vũ tinh thần dân tộc dám đánh Mỹ và thắng Mỹ, mà bài tùy bút “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” là một ví dụ. Lứa thanh niên chúng tôi dạo ấy đọc “Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi” của nhà văn Nam Hà, nghe Đài đọc tùy bút “Đường chúng ta đi” của nhà văn Nguyên Ngọc, và đọc thơ Phạm Tiến Duật…, mà chúng tôi náo nức nhập ngũ. Bố mẹ tôi, và những người nông dân làng Côi Trì cũng không ra trận, nhưng đóng góp cho chiến trường “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Đội quân tóc dài miền Nam mặc áo bà ba đứng dang tay chặn xe tăng địch thì những người nông dân miền Bắc bóp bụng đóng góp gạo, thịt cho bộ đội nuôi quân giỏi để ra chiến trường đánh giặc. Còn các bà mẹ thì ra sức… đẻ thật nhiều con trai, để bù cho những đứa con đi trước đã hi sinh.
Hiểu lòng yêu nước ở ý nghĩa rộng lớn hơn thì nhà khoa học, thầy giáo, kĩ sư, bác sĩ, công nhân… làm tốt nghĩa vụ của mình cũng là yêu nước. Ở nghề nào, ngành nào, ở mỗi con người nào cũng có cách thể hiện lòng yêu nước rất cụ thể… Không phải cứ đồn trú ở biên giới, cứ ra trận đánh giặc như người lính chúng tôi mới là yêu nước.

PV: Mới đây, tôi rất thích khi trong một bài báo ông có nói rằng, lòng yêu nước không phải là thứ để xa xỉ?

Xa xỉ là những thứ đắt tiền quý báu, nhưng lại không thiết thực, không cần thiết, hoặc chưa cần thiết trong đời sống bình thường. Yêu nước là quý báu, là vô giá, lúc nào cũng cần thiết; khi đất nước bị đe dọa chủ quyền, Tổ quốc bị lâm nguy thì càng cần thiết yêu nước hơn bao giờ hết. Chính vì thế, yêu nước không phải thứ xa xỉ, để “trưng diện”, để chơi, để “đánh bóng” danh tiếng, để vơ vào, để làm sang cho bất cứ một ai có động cơ cá nhân vụ lợi.

Nhà văn Sương Nguyệt Minh trong một chuyến ra Trường Sa

PV: Ở trên ta đã nói mọi người dân đều yêu nước và mỗi người có một cách để biểu thị lòng yêu nước của mình. Bây giờ thật khó để cân đong xem giữa một người nông dân cần mẫn làm ra hạt lúa, củ khoai hay một nhà văn như ông luôn luôn trăn trở, lo lắng về việc những giá trị truyền thống của người Việt, của dân tộc Việt ngày càng mất dần đi, và viết về những người đang làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền đất nước… thì ai yêu nước hơn ai. Phải không ạ?

Đúng! Mỗi người có tinh thần yêu nước, hành động cụ thể yêu nước khác nhau nên hiệu quả yêu nước cũng khác nhau; nhưng cái hiệu quả yêu nước ấy với người này thì bộc lộ hiện hữu ngay kết quả, người khác thì âm thầm bộc lộ theo cách mưa dầm thấm lâu.

Là nhà văn, dù là tôi viết bài về người lính ở quần đảo Trường Sa hôm nay, về thủy binh nhà Nguyễn bảo vệ và khai thác sản vật biển ở Hoàng Sa, Trường Sa ngày xưa thì cũng không thể nói là tôi yêu nước hơn mấy người bạn tôi ở Hà Nội đã xuống đường tuần hành ngày chủ nhật phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển đảo nước ta. Và mấy người bạn tôi cũng không thể nói rằng các bạn ấy đã yêu nước hơn bố mẹ mình đang đi cày đi cấy đóng thuế cho đất nước ta phát triển hùng mạnh để kẻ thù không dám nhòm ngó đến, hoặc các bạn tôi ấy cũng không thể nói rằng mình yêu nước hơn các chiến sĩ biên phòng đang đồn trú ở biên giới, ở đảo xa.

Tôi tin rằng những người yêu nước thật sự không ai lại suy bì, lại đi so sánh lòng yêu nước của mình với những người khác. Tôi cũng chỉ là một người yêu nước bình thường như hàng chục triệu người yêu nước Việt Nam khác, nhiều lắm! Nhưng là Nhà yêu nước thì hiếm. Ví dụ, Cụ Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Thái Học, Phan Châu Trinh… được người cùng thời những năm 20 của thế kỉ trước gọi là Nhà yêu nước.

PV: Chúng ta rất trân trọng những người Việt Nam đã bày tỏ lòng yêu nước chân chính khi họ xuống đường đi bộ để phản đối việc chủ quyền quốc gia bị xâm hại. Nhưng ông có đồng ý rằng, đó không phải là cách duy nhất để thể hiện lòng yêu nước không? Gần đây, tôi thấy có một số người viết trên những trang blog cá nhân với quan điểm hình như chỉ có ai xuống đường thì mới yêu nước còn những người khác thì không.

Tất nhiên! Xuống đường mang cờ Tổ quốc Việt Nam, khẩu hiệu phản đối thế lực nước ngoài xâm phạm chủ quyền nước ta… cũng chỉ là một trong rất nhiều cách thể hiện lòng yêu nước mà tôi rất trân trọng. Nhưng, “…chỉ có ai xuống đường thì mới yêu nước” thì đó là một nhận định cực đoan. Tôi nghĩ ai đó nói như thế có thể ở tâm trạng: Nhà mình đang yên ổn, bỗng dưng người hàng xóm phá rào lấn đất, bảo họ trả lại thì không trả còn cứ ăn hiếp; mà mình không chửi, không đánh thì họ cứ lấn mãi.
Mặc dù vậy, về mặt chiến lược, chúng ta cũng phải đặt cái nhỏ bé riêng biệt trong cái lớn chung, cái bộ phận phải đặt trong cái toàn bộ. Vừa khôn khéo vừa cứng rắn, kiên quyết nhưng phải mềm dẻo linh hoạt trên nguyên tắc bất di bất dịch là giữ toàn vẹn chủ quyền. Đó là kinh nghiệm ứng xử của cha ông cả ngàn năm nay khi số phận mặc định đất nước ta ở bên cạnh một đất nước quá lớn, quá đông dân.

PV: Là một nhà văn mặc áo lính, tôi nghĩ rằng hơn ai hết những người như ông hiểu cái giá của hòa bình, của độc lập dân tộc. Bởi vậy, ông có nhất trí rằng, chủ quyền quốc gia là thiêng liêng bất khả xâm phạm nhưng xương máu của nhân dân cũng không phải là thứ để tùy tiện đem ra phung phí. Cho nên, sẽ là tốt nhất nếu chúng ta bảo vệ được chủ quyền bằng hòa bình, trong hòa bình. Không thể vì để thể hiện lòng yêu nước mà chúng ta có những hành động thái quá, quá khích dẫn đến những bất ổn xã hội? Lại càng không chấp nhận được động cơ của ai đó như ông vừa nói là nhân danh việc bày tỏ lòng yêu nước để hô hào đánh bóng tên tuổi hoặc vì những động cơ khác?

Trong Binh pháp Ngô Tôn Tử có nhiều quan điểm về chiến tranh như không cần đánh mà khuất phục kẻ thù, quan điểm Thận chiến là thận trọng đánh hay không đánh trong chiến tranh, hạn chế chiến tranh, né chiến tranh; rồi quan điểm Phạt giao tức là đánh bằng thủ đoạn ngoại giao.

Nguyễn Trãi viết hàng chục lá thư dụ Vương Thông kết hợp với sức mạnh quân sự của Lê Lợi mà cuối cùng tên tướng giặc phương Bắc này phải mở thành Đông Quan xin hàng. Thời chống Pháp, chống Mỹ, chúng ta rất coi trọng mặt trận ngoại giao vừa đánh vừa đàm. “Máu người không phải nước lã”, mạng người không phải con giun, con dế; cũng là một thắng lợi, nhưng không mất một mũi tên, viên đạn bao giờ cũng quý giá hơn chiến thắng trên “máu chảy thành sông, xương chất thành núi”. Đối với một đất nước, ngoài sự bất khả kháng của chiến tranh thì khôn ngoan nhất là né, là tránh được chiến tranh. Đối với mỗi người thể hiện lòng yêu nước đúng nơi đúng lúc, sử dụng có hiệu quả cũng là người khôn ngoan.

Tuần tra trên đảo Sinh Tồn, Ảnh: Hoàng Long

PV: Tôi cũng rất thích quan điểm của ông là để không ai có thể nhòm ngó đến lãnh thổ của chúng ta thì bắt buộc đất nước chúng ta, dân tộc chúng ta phải mạnh lên. Mà chắc chắn một đất nước không thể mạnh lên khi nội bộ dân tộc bị chia rẽ. Một đất nước không thể mạnh lên nếu chúng ta không thuận theo xu hướng thời đại. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan sẽ càng làm cho dân tộc yếu đi. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc càng phải được phát huy vào những thời khắc, những thời điểm đầy thử thách và mỗi người dân phải thể hiện lòng yêu nước bằng cách làm cho đất nước mạnh hơn, giàu hơn, cường tráng hơn?

Tôi nhận ra rằng: Chiến tranh là đỉnh cao của mâu thuẫn chính trị . Nhưng, mâu thuẫn chính trị lại dựa trên cơ sở lợi ích kinh tế. Xưa nay, các nước lớn toàn ăn cướp, toàn bòn rút kinh tế từ các nước nhỏ, nước yếu, chứ nước nhỏ yếu bao giờ cũng “khiêm tốn, nhã nhặn”. Nước Việt Nam ta không quá nhỏ, nhưng vẫn chưa là nước mạnh. Chúng ta chỉ có thể làm chủ vận mệnh của mình khi chúng ta đủ mạnh. Thời đại ngày nay là thời đại hòa bình và phát triển, nhưng đừng ảo tưởng đã hết chiến tranh; nếu chiến tranh xảy ra sẽ là chiến tranh hủy diệt bởi khoa học quân sự với vũ khí kỹ thuật công nghệ cao.

Thể hiện lòng yêu nước khi dân tộc ở vào thời khắc thử thách, Tổ quốc lâm nguy, như chị nói, là vô cùng quý trọng. Nhưng, tôi nghĩ: nhìn xa trông rộng, với tình yêu nước sâu xa hơn nữa là phải bắt đầu từ sức mạnh đại đoàn kết dân tộc xây dựng, phát triển một nền kinh tế quốc dân hùng mạnh, giữ gìn và phát triển nền văn hóa dân tộc giàu bản sắc nhân văn. Có nghĩa là chúng ta phải đi từ gốc, từ nền tảng, tinh thần yêu nước phải được nuôi dưỡng trên cái nền tảng văn hóa dân tộc và nền kinh tế vững chắc thì thể hiện lòng yêu nước, vệ quốc mới có hiệu quả cao.

Chúng ta cứ học kỹ cha ông về cách ứng xử văn hóa trong chiến tranh và hậu chiến. Đồng thời phát triển kinh tế mạnh, vững chắc thì chúng ta có nhiều tiền để mua máy bay, tên lửa hiện đại… để phòng thủ đất nước, có nhiều tiền để xây dựng các hạm đội của Hải quân nhân dân Việt Nam trên Biển Đông với tầm hoạt động không giới hạn để bảo vệ chủ quyền lãnh hải. Kinh tế phát triển thì khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự cũng phát triển; binh lính và sĩ quan văn hóa cao cũng sẽ làm chủ được vũ khí kỹ thuật. Khi ấy, việc bảo vệ chủ quyền lãnh hải, thềm lục địa của Việt Nam ở Biển Đông sẽ yên ổn và dễ dàng như coi cái ao cá nhà mình.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

21/11/10

HUYẾT LỆ TÂM THƯ

MINH MẪN
11/12/07

Kính gửi: Ông Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Trung Quốc
                 Ông Chủ Tịch Nước Trung Quốc
                 Ông Chủ Tịch Quốc Hội Trung Quốc
                 Đồng Kính gửi ông Giang Trạch Dân

Kính Thưa quý ông,

Tôi, một người công dân Việt Nam, không quyền chức, không giai cấp, không vị thế trong xã hội, thay mặt những người dân bình thường nhất, xin trang trọng kính đến quý ông lời chào TÌNH NGƯỜI.

Thưa ông, gần đây trên các phương tiện truyền thông Quốc Tế đã phổ biến một quyết định của Đảng và nhà nước Trung Quốc về việc thành lập huyện Tam Đảo nhằm quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam chúng tôi. Đó là lý do chúng tôi kính đến quý ông lá thư nầy!

Kính thưa các quan chức cầm quyền Trung Quốc, đã nhiều người nói đến các chứng cứ xác định quyền sở hữu của nước Việt Nam chúng tôi trên hai quần đảo nói trên, không những từ thời chúa Nguyễn mà trước đó khá lâu, người Việt Nam đã có mặt, miếu mạo, vật dụng của người Việt chúng tôi,, ngư dân chúng tôi và Hải quân của Việt Nam cũng từng đồn trú luân chuyển, không những bằng những Hải đoàn tân thời mà khi đất nước chúng tôi chưa có phương tiện hiện đại, những chiếc xuồng mỏng manh, theo gió mùa và thời tiết, để phiên canh ra vào bảo vệ đảo.

Từ khi đất nước chúng tôi lâm vào cuộc chiến do các cường quốc tác động và chi phối. Phía Nam Việt Nam do Mỹ và những đồng minh yểm trợ, phía Bắc chúng tôi do các ông và Liên Xô hậu thuẩn, nhân dân chúng tôi đã hy sinh thân mạng và tài sản cho lý tưởng chủ nghĩa hai bên, để rồi, khi thống nhất đất nước, đồng bào chúng tôi phải gánh chịu hậu quả nặng nề mà sau hơn 30 năm vẫn còn những di chứng tật nguyền, nghĩa là vết thương còn âm ỉ!

Thế nhưng, thưa quý ông, một thời mà các ông gọi phân nửa đất nước chúng tôi là Đồng chí, sông liền sông, núi liền núi…như môi với răng, môi hở răng lạnh…vừa là đồng chí, vừa là anh em…bao mỹ từ tốt đẹp nhất đều đánh bóng để những nhà lãnh đạo phía Bắc lúc bấy giờ yên tâm và vững tin, giao phó sinh mạng cho quý ông, tin vào sự cưu mang của Cọng Sản Quốc Tế các ông, để rồi, khi đất nước chúng tôi, nhờ hồn thiêng sông núi của cha ông chúng tôi, giang san thống nhất, Bắc Nam một nhà, niềm vui chưa trọn thì các ông đã trở mặt đánh phá, xâm chiếm, giết hại đất nước và đồng bào chúng tôi. Biết bao sinh mạng đồng bào vô tội và cán bộ chiến sỹ đã gục ngã trước họng súng tình Đồng chí đó dọc các tỉnh ven biên cực Bắc!

Hẳn nhiên những gì tình đồng chí và tinh thần Vô Sản Quốc Tế yểm trợ trong cuộc chiến, người dân chúng tôi đã phải thu vén tài sản mồ hôi nước mắt để hoàn trả, cho dù cái gọi là viện trợ không hoàn lại. Không những nhân dân chúng tôi hoàn lại đủ và thừa, mà suốt hơn 30 năm, nền kinh tế của chúng tôi luôn hoàn lại dưới mọi hình thức phá hoại của Đồng chí mạ Vàng của quý ông!

Thế vẫn chưa đủ, vì lòng tham và mộng xâm lược, các ông ngang nhiên cướp hai quần đảo của chúng tôi bằng sức mạnh quân sự. Để làm việc đó,các ông cấm ngư dân Việt Nam vào hải phận của mình, đã bắt bớ, bắn giết họ! Các ông bảo đó là lãnh địa của các ông, các ông trưng dẫn những chứng từ thời chiến trước 1975. Vâng, 1973 khi Kissinger sang Bắc Kinh mở màn cho kế hoạch phân ly tình đồng chí giữa đất nước quý ông và tổ quốc mẹ Liên Xô, các ông đã đưa văn bản do Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà thời bấy giờ ký xác nhận hai quần đảo trên thuộc quyền Trung Quốc, vì lúc bấy giờ, miền Bắc dồn tổng lực cho cuộc chiến phía Nam, phải nhờ các ông giữ hộ phần lãnh hải. Vì ý đồ phân hoá khối CS, Mỹ đã làm ngơ để các ông ấu đả với hải quân Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1974 trên hải phận Hoàng Sa. Tuy chiến đoàn của miền Nam thô sơ và lực lượng không tương xứng, nhưng cũng đã giáng trả một cách anh dũng; các ông trả một giá khá đắc, tổn thất gấpba lần lực lượng Hải quân VNCH, cũng như các ông đã bỏ mạng gấp ba lần tại biên giới cực Bắc dưới họng súng của tình đồng chí Việt Nam khi xâm lăng đất nước chúng tôi vào năm 1979 và những năm sau đó.

Thưa các ông, cho dù cố Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ký xác lãnh hải trên là của Trung Quốc, nhưng ông phải hiểu rằng cố Thủ Tướng là Thủ Tướng của phân nủa nước VN bấy giờ, chứ không phải một nước VN toàn vẹn, chưa có sự đồng thuận của nhân dân miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào. Những gì trên văn bản vào thời chiến chỉ mang tính chiến lược, không một nhà lãnh đạo đất nước nào lại đem đất nước máu thịt dâng cho kẻ khác. Và nếu là lãnh thổ của quý vị thì những chứng tích văn hoá Việt Nam trên các đảo đó, quý vị giải thích thế nào khi mà quý vị không có một lưu tích???

Thưa các ông, cho dù Việt Nam Cọng Hoà là kẻ thù hay Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam anh em, đều mang tinh thần ái quốc như nhau, không vì chủ nghĩa , ý thức hệ mà bán rẽ đất nước, phản bội lại nhân dân. Có thể các ông lấy thịt đè người nhưng các ông không thể khúât phục tinh thần dân tộc của nhân dân VN chúng tôi. Suốt một ngàn năm tổ tiên các ông cũng đã từng xâm lăng ông cha chúng tôi, chiếm đoạt khống chế tinh thần dân tộc chúng tôi hòng xoá tan nền văn hoá đặc thù của Việt tộc như các ông đang hành xử với  Tây Tạng, nhưng ý chí quật cường của cha ông chúng tôi được nuôi dưỡng bởi những huyền thoại ái quốc do các Thiền sư VN sáng tác, cuối cùng bao nhiêu kiện tướng của các ông phải đền mạng hoặc trốn chui vào ống đồng như Thoát Hoan, tàn binh của các ông tan tác như bầy vịt lẻ đàn.

Bài học lịch sử vẫn chưa phai nhưng mộng xâm lăng các ông vẫn chưa chịu từ bỏ. Mộng bá quyền các ông dòm ngó đến 5 nước Đông Dương: Việt Nam-Lào-Campuchea-Miến-Thái thể hiện qua lá cờ 5 sao chầu quanh ngôi sao lớn đã nói lên ý đồ xâm thực về lâu về dài đối với lân bang.

Các ông vẫn còn nhớ bản tuyên ngôn xác định chủ quyền của kiện tướng Lý Thường Kiệt, Việt Nam chúng tôi:
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Hoặc cố Thủ Tướng Phạm Văn Đồng cũng đã nói: Một quốc gia xâm lăng một quốc gia khác, trước sau gì cũng phải thất bại.

Tinh thần Việt Nam chúng tôi là như vậy, thà mất tất cả chứ không chịu lệ thuộc bất cứ thế lực nào!Cho dù các ông dùng sức mạnh cướp đoạt đất nước chúng tôi, chúng tôi không có khả năng chống cự, nhưng con, cháu, chắt chúng tôi sẽ phục hận.

Các ông còn nhớ những năm đầu khi phong trào Cách Mạng của quý ông đẩy Tưởng Giới Thạch chạy sang Đài Loan, các ông đã tàn sát nhân dân các ông dưới chiêu bài Cách Mạng Văn Hoá, trong đó, Phật Giáo bị các ông triệt tiêu toàn bộ, chính Giang Trạch Dân, bấy giờ là đội trưởng đồn Công An, đã dùng giày đinh gậy sắt đánh đập hành hạ Thiền sư Hư Vân, lúc ấy Ngài ngoài trăm tuổi, thế mà họ Giang vẫn không một chút ăn năng hay có lời xin lỗi PG Trung Quốc, thế thì lạ gì trước thái độ của quý ông đối với VN chúng tôi khi không cùng giòng máu.

Ngạn ngữ Việt Nam có câu: Bán bà con xa để mua láng giềng gần, thế nhưng đối với quý ngài, láng giềng là miếng mồi ngon để quý vị thoả mãn ý đồ xâm lược. Việt Nam trải qua nhiều cuộc chiến chống quân Nguyên Mông hung tàn, từng đánh đuổi các quốc gia đô hộ và những thế lực siêu cường, thế thì lạ gì với một ông bạn như các ông đã từng cơm không lành canh không ngọt với Việt Nam chúng tôi!

Có thể Mỹ sợ các ông về tiến độ kỹ thuật điện tử hiện nay, vì những quốc gia tin cậy về khoa học kỷ thuật luôn sợ những đất nước cạnh tranh về kỷ thuật khoa học, nhưng người dân chúng tôi chỉ có tấm lòng và tinh thần yêu dân mến nước. Chúng tôi yêu chuộng hoà bình vì dân tộc chúng tôi có quá nhiều đau khổ vì sự xâm lược của các ông, chúng tôi sống hòa hợp với các nước anh em lân bang, nhưng không vì thế mà thiếu cảnh giác và khiếp nhược trước ý đồ bất hảo của quý ông.Cho dù dân tộc tôi lượng số bắng một phần ngàn các ông,không vì thế mà chúng tôi cúi đầu phủ phục.

Chúng tôi thiết nghĩ, khi trình độ dân trí cao như hiện nay, thế giới muốn sống chung hoà bình và tôn trọng lẫn nhau, quý ông cũng học được mức sống văn minh đó, có cạnh tranh chăng là kinh tế, thương trường khoa học kỷ thuật và nếp sống văn minh chứ không ai cạnh tranh bằng những uy lực của mãnh thú. Việt Nam chúng tôi nghiêng mình kính phục những bậc Thánh của quý ông đã từng góp phần minh triết cho nhân loại, đáng ra một đất nước có nền văn minh rất sớm như thế thì phải sản sanh ra những nhà lãnh đạo anh minh, thể hiện được tính cao thượng của Khổng Mạnh, ngược lại đất nước quý ông đã có một Tần Thủy Hoàng, Một Giang Thanh, và vô số vua chúa mang tính lạc loài như các ông hiện nay.

Chúng tôi cũng quá quen thuộc lời nói khác thường với việc làm của các ông, nhưng chúng tôi chưa quen thói ngang ngược giữa nếp sống văn minh mang tính toàn cầu hiện nay.Một lần nữa, chúng tôi mong các ông hãy suy nghĩ lại trước khi quyết địng thu hòi hai quần đảo nói trên, chúng tôi nghĩ rằng khi quý vị đưa ra quyết định như là một thử nghiệm thăm dò phản ứng của VN và Quốc tế, dù thử nghiệm hay thực hiện cũng đều là việc thử lửa trước tinh thần kiên cường đối với nhân dân VN. Dân tộc tôi, cho dù trong nước hay những thành phần bất mãn chế độ, đều có chung tấm lòng đó là yêu nước thương nòi. Cám ơn quý vị đã tạo cơ hội cho chúng tôi đoàn kết một lòng, quên đi mọi bất đồng, để bảo vệ một tổ quốc trọn vẹn.

Quý ông có khi nào vui lòng để một quốc gia khác, cho dù là đồng chí Nga hiện nay, đánh cướp lãnh thổ quý vị.???

Bằng cả tấm lòng của những người dân yêu nướic, tôi hy vọng các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng phải cảm thông tinh thần bảo vệ quê hương của chúng tôi, xin chúc quý vị thực hiện theo tinh thần Quốc Tế vô sản!

Trân trọng kinh chào.
Một công dân Việt Nam

MINH MẪN

24/5/10

Trống đồng Đông Sơn - Linh vật của người Việt

Hậu Hán Thư của Trung Quốc quyển 14 ghi: "Dân Giao Chỉ có linh vật là trống đồng, nghe đánh lên họ rất hăng lúc lâm trận...."  Trích dẫn sách của Trung Quốc vì sách cổ của người Việt về lịch sử, văn hóa, địa lý… hầu như không còn hoặc còn rất ít ,chủ yếu là qua dân gian truyền  lại) vì trong những cuộc tấn công của quân phương bắc thì chính sách đầu tiên của họ là đốt sách và tận thu trống đồng, mục đích làm cho chúng ta quên đi nguồn gốc, đồng hóa dân tộc của chúng ta.  

Trong tất cả các tộc Bách Việt như: Âu Việt, Mân Việt, Dương Việt, Nam Việt, Sơn Việt, Đông Việt, Ư Việt, Lạc Việt (dân tộc Kinh, Việt Nam hiện nay)… Trong khi hầu hết các dân tộc Việt cuối cùng đã bị đồng hóa vào nền văn hóa Hán. Người Việt Nam - Hậu duệ của nhóm Lạc Việt đã có ý thức và ý chí giữ được bản sắc dân tộc của mình, cuối cùng đã thoát khỏi sự thống trị của Trung Hoa vào thế kỷ thứ 10.
Lifepro nói: "Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói rằng "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được"
Lifepro nói: "Các bạn nên biết rằng: Lịch sử Việt tộc ngày xưa là một vùng đất rộng lớn nằm từ phía nam núi Ngũ Lĩnh, sông Dương Tử xuống tới tận bình nguyên sông Hồng Hà và sông Thái Bình, tức là hơn nửa nước Trung Quốc hiện nay.
Ngày nay, người Việt sống trên đất Việt Nam, trong khi các giống Việt khác trong dòng Bách Việt, như Ðiền Việt ở Vân Nam, Mân Việt ở Phúc Kiến, Việt Ðông ở Thượng Hải, Ðông Việt ở Quảng Ðông, Quảng Tây. Do đó, chúng ta không lạ gì với luận điệu nham hiểm của Trung Quốc và sự bành trướng của Trung Quốc. Ngày nay, nếu chúng ta không bảo vệ từng tất đất của nước Việt Nam, thì sao này dân tộc Việt Nam sẽ ra sao?"
Trang luận
Tại phương Tây đã có dấu vết rằng người ta đã biết về trống đồng từ năm 1682. Nhưng mãi tới cuối thế kỷ 19 mới có học giả bàn về trống đồng như Hirth (1890), tác giả này cho rằng trống đồng là của Trung Quốc. Rồi De Grooth (1901) cho là của Việt Nam.
Trong cuốn Alte Metalltrommeln aus Südost Asien (Trống kim loại cổ Đông Nam Á) năm 1902, Franz Heger, nhà khảo cổ học người Áo khẳng định rằng trống đồng xuất phát từ miền Bắc Việt Nam và trung tâm các cuộc tìm kiếm sau này về trống đồng phải là ở vùng này. Ông Heger phân chia 165 chiếc trống được biết đến lúc ấy thành 4 loại - phân loại Heger. Trước thập niên 1950, một số phân loại khác đã được đề xuất,nhưng không có cách nào được chấp nhận rộng rãi như phân loại của Heger.

Trống đồng Đông Sơn
Các nghiên cứu về trống đồng mãi đến cuối thế kỷ 19 mới được bắt đầu và được bắt đầu bởi người phương Tây. Trước thập niên 1950, hầu hết các nghiên cứu quan trọng đều được viết bởi các học giả phương Tây, đặc biệt nhất là Heger. Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập vào năm 1949 và Việt Nam bị chia cắt vào năm 1954, các học giả Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu chiếm lĩnh lĩnh vực nghiên cứu về trống đồng. Đến cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, đã có những cuộc tranh luận xung quanh việc phân loại trống, ý nghĩa các họa tiết trang trí, niên đại trống..., nhưng chủ đề tranh luận chính yếu là trống đồng xuất phát từ đâu: miền Bắc Việt Nam hay miền Nam Trung Quốc. 


Lifepro nói: "Các bạn nên biết rằng: Lịch sử Việt tộc ngày xưa là một vùng đất rộng lớn nằm từ phía nam núi Ngũ Lĩnh, sông Dương Tử xuống tới tận bình nguyên sông Hồng Hà và sông Thái Bình, tức là hơn nửa nước Trung Quốc hiện nay.
Ngày nay, người Việt sống trên đất Việt Nam, trong khi các giống Việt khác trong dòng Bách Việt, như Ðiền Việt ở Vân Nam, Mân Việt ở Phúc Kiến, Việt Ðông ở Thượng Hải, Ðông Việt ở Quảng Ðông, Quảng Tây. Do đó, chúng ta không lạ gì với luận điệu nham hiểm của Trung Quốc và sự bành trướng của Trung Quốc. Ngày nay, nếu chúng ta không bảo vệ từng tất đất của nước Việt Nam, thì sao này dân tộc Việt Nam sẽ ra sao?"
Các học giả Việt Nam ủng hộ phân loại của Heger và cho rằng trống đồng Đông Sơn (Heger loại I) là loại cổ nhất. Còn các học giả Trung Quốc ban đầu đa số phủ nhận phân loại của Heger, cho rằng kiểu trống tương ứng với Heger loại II mới là cổ nhất. Từ khi trống loại Vạn Gia Bá, loại trống gần giống loại Đông Sơn nhưng hoa văn đơn giản hơn, được tìm thấy ở Vân Nam, các học giả Trung Quốc lại quay về thống nhất với một cách phân loại theo thứ tự phân loại của Hegel nhưng bổ sung một loại xếp thứ tự cổ hơn Heger loại I, đó là loại trống Vạn Gia Bá. Theo cách phân loại của Việt Nam, trống Vạn Gia Bá (trống Thuong Nong tìm thấy ở Việt Nam thập niên 1980 thuộc loại này) được xếp vào loại con của thời kỳ cuối của loại trống Đông Sơn. 

Trống đồng Hoàng Hạ
Các nhà nghiên cứu Việt Nam và Trung Quốc vẫn chưa đi được đến một kết thống nhất về một xuất xứ Việt Nam hay Trung Quốc của trống đồng - một truyền thống mà có thể đã được chia sẻ giữa tổ tiên của cả hai.
 

Thực tế là tại thời điểm trống đồng được phát minh, không có một đường biên giới giữa Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc. Nhiều nhóm người sống trong vùng đất rộng lớn đó đã có quan hệ với nhau về sinh học hoặc văn hóa hoặc cả hai. Học giả phương Tây Charles Higham, người đứng ngoài cuộc tranh cãi, cho rằng các xu thế dân tộc chủ nghĩa của các nhà khảo cổ học Việt Nam và Trung Quốc đã che lấp tình huống mà khảo cổ học đã khai lộ. Ông đưa ra giả thuyết rằng trống đồng đã được tạo bởi các nghệ sĩ tài hoa của một nhóm các xã hội có tổ chức ngày càng phức tạp với địa bàn trải rộng qua biên giới Việt-Trung hiện đại, để trang bị cho các chiến binh và làm biểu tượng cho vị thế cao của những người lãnh đạo. Ông viết: "Việc tìm kiếm nguồn gốc tại một vùng này hay vùng khác đã bỏ qua điểm quan trọng."

Địa bàn cư trú của các tổ tiên các dân tộc Việt Nam
Các thay đổi đã được thực hiện suốt từ vùng mà ngày nay là miền Nam Trung Hoa tới đồng bằng sông Hồng bởi các nhóm người mà thời đó đã trao đổi hàng hóa, tư tưởng, và cùng chống lại sự bành trướng từ phía Bắc của một quốc gia hùng mạnh và hiếu chiến". Quan điểm này tương đồng với sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Việt Nam, Trung Quốc, hay phương Tây rằng trống đồng là sản phẩm của người Lạc Việt - tộc người Việt cổ có địa bàn sinh sống trải từ miền Nam Trung Quốc tới miền Bắc Việt Nam.Điều này chứng tỏ trống đồng Đông Sơn, Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, Tân Độ, Long Đọi Sơn, Lạng Sơn, Thọ Vực,… nguồn gốc là của người Việt. Đó là linh vật, là hiện thân của người Việt khi xông trận và khi tiến hành các tập tục…
 



Vì sao tranh chấp ? Đâu là sự thật?Hiện nay có sự tranh chấp về nguồn gốc chế tạo ra trống đồng giữa Trung Hoa và Việt Nam.Các nhà khảo cổ Trung Hoa cho rằng trống đồng có nguồn gốc ở Trung Hoa do người Bộc (Pu) ở Vân Nam (Yunnan) làm ra đầu tiên, trong khi các nhà khảo cổ Việt Nam cho rằng nguồn gốc trống đồng là ở châu thổ sông Hồng (Red River delta) do người Lạc Việt làm ra.

Người Trung Hoa ngang nhiên quảng bá khắp thế giới cho rằng người Trung Hoa là chủ nhân  của trống đồng. Họ xây những bảo tàng viện hình trống đồng rất lớn để trưng bầy trống đồng ở Nam Trung Hoa. Ở những công viên trưng bầy những kiến trúc về trống đồng. Họ tổ chức những tours du lịch xem trống đồng. Tộc Choang (Zhuang) tổ chức những đêm trình diễn văn nghệ cho du khách xem với những màn nhẩy múa trống đồng… Trong khi đó trống đồng ở Việt Nam như đang rơi vào quên lãng…

 
Đâu là sự thật?
Bảo Tàng Viện Tỉnh Quảng Tây, nơi có vùng tự trị Zhuang (The Provincial Museum of the Guangxi Zhuang Autonomous Region) khoe là họ có một lượng trống đồng nòng nọc, âm dương lớn nhất thế giới. Vào năm 1980, Trung Hoa có 1460 chiếc. Trong khi đó vào năm 1980, Việt Nam chỉ có 360 chiếc (2).

Người Trung Hoa có thể dựa vào số lượng trống mà cho rằng nguồn gốc trống đồng là của mình được không?
Dĩ nhiên là không. Ví dụ điển hình là số tượng Phật ở Trung Hoa có thể có nhiều hơn ở Ấn Độ nhưng không có nghĩa là Phật giáo có nguồn gốc ở Trung Hoa. Vấn đề là trong số lượng khổng lồ đó, Trung Hoa có bao nhiêu trống chính thống, trống chân chính, trống tinh ròng (genuine). Họ có trống nào tinh tế và tuyệt vời như trống đồng âm dương Ngọc Lũ I không? Nhiều mà toàn là trống giả, trống bắt chước, trống rỏm, trống thương mại thì không thể nào dùng số lượng lớn nhất thế giới cho rằng Trung Hoa là nguồn gốc của trống đồng.
Lifepro nói: "Trung Quốc chơi toàn là trống giả, trống bắt chước, trống rỏm, trống thương mại thì không thể nào dùng số lượng lớn nhất thế giới cho rằng Trung Hoa là nguồn gốc của trống đồng. Làm "hàng giả - hàng nhái" là Trung Quốc nổi tiếng thế giới"
Số lượng đồng hồ Rolex giả ở Trung Hoa có thể nhiều hơn ở nơi chế ra Rolex thật là Thụy Sĩ nhưng Rolex không phải có nguồn gốc ở Trung Hoa. Nghệ thuật làm đồ giả của Trung Hoa lên tới mức tuyệt đỉnh. Nói tới Trung Hoa là nói tới thật và giả. Đồ giả lâu ngày cũng thành “đồ cổ”, đồ giả có thể đã có từ hàng trăm hàng ngàn năm. Nếu tôi có dịp tiếp cận hay có đủ hình ảnh của 1460 chiếc trống của Trung Hoa tôi có thể tìm ra ngay được một số phần trăm chắc chắn khá lớn những trống rỏm, trống muộn.


Việt Nam có số lượng trống ít hơn Trung Hoa chỉ có 360 chiếc nhưng trong đó có 140 chiếc thuộc loại Heger I. Theo Heger thì loại Heger I là loại cổ nhất và tìm thấy nhiều nhất ở Bắc Việt Nam lúc đó, vì thế các tác giả Việt Nam gọi loại này là trống đồng Đông Sơn (Heger believed that Type I, found mainly in northern Vietnam and referred to as the Dong Son drum by Vietnamese scholars, was the earliest). Đây là những trống hình Cây Nấm Vũ Trụ Nguyễn Xuân Quang VI (Heger I) mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh biểu tượng cho toàn họ, toàn liên bang Đông Sơn
. 
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...