Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

30/8/10

Nhìn từ Nhật Bản : Phải buộc Trung Quốc đàm phán đa phương về Biển Đông

Trọng Nghĩa

Các hành động của Trung Quốc phô trương sức mạnh để khẳng định chủ quyền tại Biển Đông đã làm tình hình căng thằng và gây lo ngại nơi các láng giềng, trong đó có Nhật Bản.Trong bài xã luận ngày 18/08/2010 tựa đề “Hợp tác quốc tế quan trọng ở biển Nam Trung Hoa – Biển Đông)" (Intl cooperation vital in South China Sea), tờ báo Nhật Bản Yomiuri Shimbun, đã kêu gọi các nước có quan ngại hợp tác với nhau để buộc Trung Quốc ngồi vào bàn hội nghị đa phương nhằm giảm căng thẳng tại Biển Đông.

Khu trục hạm Nhật Bản JS Atago trên đường về cảng Pearl Harbor (Hawaii) ngày 30/07/2010 sau cuộc tập trận RIMPAC 2010 với Hoa Kỳ và nhiều nước khác. US NAVY/N. Brett Morton
 
Yomiuri Shimbun là tờ báo lớn nhất tại Nhật Bản, rất có uy tín, với lượng phát hành hơn 10 triệu bản mỗi ngày, cho nên ý kiến được nêu lên rất đáng quan tâm. Sau đây là nguyên văn bài xã luận.

Trung Quốc đang sử dụng lực lượng hải quân hùng mạnh của mình để hung hăng tiến vào Biển Đông, đầu mối quan trọng của các tuyến đường biển quốc tế. Hoa Kỳ và các nước châu Á ngày càng cảnh giác trước động thái của Trung Quốc.

Thứ Hai 16/08/2010, trong báo cáo hàng năm cho Quốc hội, Bộ Quốc phòng Mỹ cho rằng "xu hướng hiện nay trong khả năng quân sự của Trung Quốc là một nhân tố chủ yếu làm thay đổi cán cân quân sự trong vùng Đông Á", đề cập đến các động thái của Trung Quốc tại Biển Đông.


Nhật Bản cũng không thể xem nhẹ các hành động của Trung Quốc vì lẽ 90% năng lượng và 60% lương thực của Nhật phải nhập khẩu bằng đường biển. Do vậy, chính phủ Nhật phải tăng cường hợp tác với Hoa Kỳ, Việt Nam, Ấn Độ và các nước khác có liên quan để giải quyết vấn đề.

Trung Quốc kiểm soát Biển Đông để chiếm hữu tài nguyên và ngăn chặn hải quân Mỹ

Biển Đông có hơn 200 hòn đảo và đá ngầm rải rác, bao gồm cả quần đảo Trường Sa, là sân khấu cho một số tranh chấp lãnh thổ liên quan đến Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia và các nước khác.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã gây ra hiềm khích với các nước khác khi phái chiến hạm vào khu vực trên, viện cớ bảo vệ tàu thuyền đánh cá của họ. Trung Quốc hiện đang xây dựng một căn cứ tàu ngầm lớn trên đảo Hải Nam ở vùng Biển Đông.

Một loạt hành động như trên trong thời gian gần đây có thể được hiểu là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm đặt toàn bộ Biển Ðông dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc, không chỉ để bảo vệ quyền lợi về dầu hỏa và tài nguyên biển của họ, mà còn vì lý do quân sự, chẳng hạn như để ngăn chặn bất kỳ hành động can thiệp nào của lực lượng Mỹ trong trường hợp khẩn cấp liên quan đến Đài Loan.

Biển Đông là nơi quốc tế sử dụng, không thuộc độc quyền của ai

Trung Quốc đã sử dụng khái niệm “quyền lợi cốt lõi" liên quan đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của họ khi đề cập đến Đài Loan và Tây Tạng. Gần đây, họ nói rằng cũng coi Biển Đông thuộc phạm vi “lợi ích cốt lõi" của họ, một động thái càng làm tăng những mối lo ngại về ý đồ có thể có của Trung Quốc đằng sau các hành động gần đây nhất.

Biển Đông là nơi đi qua của các tuyến đường biển quốc tế quan trọng, nối liền Trung Đông với Đông Bắc Á. Không một nước nào được phép độc quyền di chuyển trong khu vực. Chúng tôi mạnh mẽ yêu cầu Trung Quốc tự kiềm chế.

Việt Nam và các nước châu Á khác đang kêu gọi Trung Quốc giải quyết tranh chấp lãnh thổ thông qua thương lượng đa quốc gia. Nhưng Trung Quốc không muốn buông lỏng lập trường theo đó các nước có tranh chấp chủ quyền phải đàm phán song phương một cách riêng lẻ.

Tuy nhiên, nếu tranh chấp lãnh thổ phát triển thành xung đột quân sự, thì chiến sự sẽ ảnh hưởng đáng kể đến tất cả các nước sử dụng tuyến đường biển của khu vực.

Các nước cùng quan ngại về tình hình Biển Đông cần hợp sức kéo Trung Quốc vào bàn hội nghị

Trên cơ sở đó, sẽ là điều hợp lý khi tổ chức các cuộc đàm phán đa quốc gia giữa các nước có quyền lợi trong khu vực để thảo luận về phương cách giảm bớt căng thẳng và các biện pháp xây dựng lòng tin.
Cũng có thể là một ý tưởng tốt khi đưa vấn đề này ra xem xét tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á EAS, mà Hoa Kỳ cũng đã có kế hoạch tham gia.

Để thuyết phục Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán đa quốc gia, điều thiết yếu là các nước cùng chung một mối quan tâm phải hợp tác với nhau.

Chính phủ Nhật Bản đã khởi động các cuộc đối thoại về một quan hệ đối tác chiến lược với Ấn Độ vào cuối năm ngoái và với Việt Nam trong tháng qua, với sự tham gia của các giới chức có thẩm quyền trong cả ngành ngoại giao lẫn quốc phòng.

Chúng tôi yêu cầu chính phủ Nhật Bản chủ động tận dụng lợi thế của các cuộc đối thoại đó để phát huy những hành động chung nhằm giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông.

Nguồn: RFI
 

Quan hệ quốc phòng Việt Mỹ: cản lực đối với Trung Quốc tại Biển Đông

Ngày 17/08/2010 có thể được xem là một bước ngoặt trong quan hệ quốc phòng Mỹ-Việt với việc khai mạc cơ chế Đối thoại Quốc phòng, cho phép giới chức lãnh đạo quân sự hai bên trực tiếp thảo luận với nhau trên những vấn đề cùng quan tâm hay quan ngại. Sự kiện này được giới quan sát hết sức chú ý vào lúc mà quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam với Trung Quốc đang có dấu hiệu căng thẳng trên vấn đề Biển Đông do các đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh.

 Chuẩn đô đốc Mark Vance, Hạm trưởng tàu sân bay John C. Stennis bắt tay Đại tá Đỗ Minh Tuấn, Phó Tham mưu trưởng Phòng không Không quân Việt Nam lên thăm tàu ngày 22/04/2009. US Navy

Cuộc họp giữa Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Scher và Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, chủ yếu bàn về các vấn đề song phương Mỹ-Việt. Thế nhưng theo lời công nhận của chính ông Robert Scher, phía Mỹ cũng đã "chia sẻ suy nghĩ của mình về sự hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc".

Ngay trước lúc hai bên họp lại, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã tung ra bản báo cáo thường niên về tiềm năng quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong đó có ghi nhận khả năng Bắc Kinh tăng cường các hoạt động tuần tra của họ tại vùng Biển Đông có tranh chấp với Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á khác như Philippines, Malaysia, Brunei…

Trong bài viết ngày 19/08 cho nhật báo Mỹ Wall Street Journal, Giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia tại Học viện Quốc phòng Úc, thuộc Trường Đại học New South Wales, đánh giá là cuộc đối thoại quốc phòng Mỹ Việt được khai mở đánh dấu một ‘’chuyển biến lớn’’ trong cảnh quan quân sự châu Á.

Sự kiện đó theo Giáo sư Thayer, nối tiếp theo một loạt động thái càng lúc càng nhiều từ phía Việt Nam, cho thấy là họ công nhận tính chính đáng của việc Hoa Kỳ hiện diện quân sự trong vùng.

Đáng chú ý và nhiều ý nghĩa là sự kiện ngay từ năm ngoái, quan chức quân đội Việt Nam đã bay ra hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis ở ngoài khơi để quan sát các phi vụ của máy bay Mỹ trong vùng Biển Đông. Kế đến, nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày hai bên thiết lập bang giao, Phó đại sứ Việt Nam tại Washington cũng lên thăm tàu sân bay USS George H.W. Bush neo tại cảng Norfolk. Chỉ ít lâu sau, đến lượt giới chức chính quyền và quân sự địa phương ở Đà Nẵng được mời ra hàng không mẫu hạm USS George Washington, cũng đậu ngoài khơi, lần này để quan sát các phi vụ thực hiện trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại Biển Đông.

Đối với Giáo sư Thayer : ‘’Rõ ràng là hành động quyết đoán của Trung Quốc về mặt quân sự trong thời gian gần đây tại khu vực Tây Thái Bình Dương và Biển Đông đã thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hợp tác quân sự Mỹ-Việt. Cả hai nước đều chia sẻ cùng một quan tâm trong việc ngăn không cho Trung Quốc hay bất kỳ một nước nào khác thống trị các tuyến hàng hải và áp đặt chủ quyền bằng các biện pháp cưỡng chế’’. Theo Giáo sư Thayer, ‘’Việt Nam xem sự hiện diện của Mỹ là một rào cản chống lại sức mạnh quân sự đang gia tăng của Trung Quốc’’.

Chính phía Hoa Kỳ cũng xác định nhiều lần trong thời gian gần đây vai trò người bảo vệ quyền tự do lưu thông và phát triển của tất cả các nước trong vùng Biển Đông. Nhân cuộc họp thường niên về quốc phòng giữa Hoa Kỳ và Philippines hôm thứ 18/08, Tư lệnh lực lượng Mỹ tại vùng Thái Bình Dương, Đô đốc Robert Willard, đã nhấn mạnh rằng "Hoa Kỳ sẽ duy trì một sự hiện diện tại Biển Đông trong nhiều năm". Theo ông, chính các hành động "ngày càng quyết đoán" của Trung Quốc trong vùng là lý do khiến Mỹ phải làm như vậy.
Mỹ Trung đối đầu nhưng sẽ không "đấu súng"

Tình hình căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã tạo nên một dư luận lo ngại là chiến tranh có thể nổ ra giữa hai bên. Trên báo chí hay các trang Web Trung Quốc không ngày nào là không có những bài viết vừa đả kích, vừa đe dọa Hoa Kỳ cũng như là Việt Nam bị cho là về hùa với Mỹ. Tuy nhiên đối với đa số giới phân tích, khả năng xung đột bùng nổ khó có thể xẩy ra trong bối cảnh cả hai bên đều nhận thức rõ là bom đạn không có lợi cho ai, và nhất là khi về phương diện quân sự, Trung Quốc vẫn còn yếu so với Hoa Kỳ.

Ngay cả đối với Việt Nam cũng thế, Bắc Kinh cũng phải cân nhắc lợi hại khi muốn dụng võ với Hà Nội. Lý do là vì với vấn đề Biển Đông ngày càng được công luận mọi nơi quan tâm, bất chấp ý đồ của Trung Quốc không muốn ‘’quốc tế hóa’’ hồ sơ này, một hành động quá đáng của Bắc Kinh sẽ gặp phải phản ứng mạnh của thế giới.

Trả lời phỏng vấn của RFI, ông Ngô Nhân Dụng, bình luận gia nhật báo Người Việt tại California đã cho rằng Việt Nam cần tranh thủ tình hình hiện nay, để tỏ lập trường bảo vệ chủ quyền của mình một cách cứng rắn hơn trước các hành vi mà ông gọi là ‘’cướp biển’’ của Trung Quốc. 

Trước hết, nhà báo Ngô Nhân Dụng cho là dù quan hệ có dấu hiệu căng thẳng, nhưng Hoa Kỳ và Trung Quốc đều thấy rõ là chiến tranh không có lợi cho ai

Quan điểm xuyên suốt của Hoa Kỳ từ 60 năm nay: không gây chiến với Trung Quốc mà dùng giao thương để củng cố quyền lợi 

- Đứng về phía Mỹ lý do rất đơn giản. Ngay từ giữa thế kỷ XX, khi Trung Quốc đem quân giúp Bắc Hàn đánh Nam Hàn, thì người Mỹ lúc đó có câu hỏi có nên đem quân vào Mãn Châu hay không ? Lúc đó giới chính trị của Mỹ đã thắng thế quyết định là không, trong khi giới quân sự tiêu biểu là tướng Mac Arthur, lại có ý định giúp quân đội Tưởng Giới Thạch tấn công vào Trung Quốc. Từ 60 năm nay quan điểm của Mỹ là không bao giờ muốn gây chiến tranh với Trung Quốc. 

- Ngay trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam thì Mỹ đã công khai nói với Trung Quốc là không bao giờ để cho quân đội miền Nam Việt Nam cũng như quân đội Mỹ tiến vào Bắc Việt. Họ đã nói rõ điều đó để Trung Quốc yên tâm là không xẩy ra tình trạng giống như chiến tranh Hàn Quốc, khi quân đội Mỹ tiến sát đến biên giới Trung Quốc. 

-Nước Mỹ hiện càng không muốn đánh nhau với Trung Quốc khi thấy Trung Quốc đã đi theo con đường tư bản hóa kinh tế, không còn là kinh tế cộng sản nữa. Nước Mỹ đóng vai một anh «nhà giàu», có thể chỉ dùng giao thương kinh tế là đủ để củng cố quyền lợi, chứ đánh nhau thì chỉ tiêu tốn tiền mà thôi.

Trung Quốc chưa thể gây chiến vì kinh tế còn lệ thuộc phương Tây và cần một vùng Biển Đông ổn định

- Liệu Trung Quốc có thể nào mà nghĩ đến khả năng gây chiến với Mỹ trong vùng Á Đông trong vòng mươi năm hay 20 năm hay không ? Có thể Trung Quốc không bao giờ tính đến chuyện tranh giành địa vị bá chủ thế giới với Mỹ, mà chỉ muốn là trên thế giới này có nhiều cường quốc, gọi là thế giới đa cực, trong đó mỗi cường quốc đóng vai trò bá chủ trong vùng của mình.

- Trung Quốc không dính dáng đến Âu Châu, hay Châu Mỹ, nhưng sẽ gia tăng ảnh hưởng ở Phi Châu, ở vùng Trung Á, và đặc biệt ở vùng Á Đông, và rõ ràng nhất là vùng Biển Đông. Thế tự nhiên của Trung Quốc, với tình trạng một nước lớn và kinh tế đang phát triển thì họ muốn đóng vai trò bá chủ trong vùng Á Đông, thành ra chuyện xung đột, đối đầu giữa Mỹ và Trung Quốc ở châu Á không thể tránh khỏi. 

- Nhưng trong cuộc đối đầu đó, sử dụng đến quân sự để đánh nhau có thể là cái điều không có lợi gì đối với Trung Quốc: 80% dầu lửa và năng lượng dầu khí Trung Quốc đang sử dụng đều đi qua eo biển Malacca, từ Trung Đông cũng như là Indonesia, đưa lên Trung Quốc ở phía Bắc. Thành ra nếu xẩy ra một cuộc chiến tranh thì cả vùng bị tắc nghẽn. Nếu Trung Quốc không có năng lượng tiếp tế trong vòng 6 tháng hay 1 năm thì cả nền kinh tế sẽ đứng khựng lại.

- Từ năm 1980 đến nay, mục tiêu lớn nhất của Trung Quốc là làm sao phát triển kinh tế theo một cái mô hình mới để cho dân của họ giàu mạnh hơn. Trong 30 năm qua họ đã tiến được rất nhiều. Trong việc phát triển kinh tế đó, họ tùy thuộc vào đường giao thông giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài, đặc biệt đi qua Biển Đông. 

- Thế nhưng mặt khác họ cũng tùy thuộc vào thị trường tiêu thụ tại các nước Âu châu và Mỹ châu. Với tình trạng nền kinh tế Trung Quốc rất lệ thuộc vào xuất cảng, xuất cảng mà bị ngưng trệ thì nền kinh tế cũng bị đình đốn. Thành ra nếu xẩy ra chiến tranh với Mỹ, thì chắc chắn Âu châu cũng không còn buôn bán được với Trung Quốc nữa và xuất cảng của Trung Quốc sẽ bị tắc nghẽn.

Nỗi lo lớn nhất của Trung Quốc là Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan trang bị vũ khí nguyên tử nếu chiến tranh bùng lên

- Có lẽ cái điều mà giới lãnh đạo Trung Quốc lo sợ nhất là thế lực của các nước ở phía Đông như là Nhật Bản, Nam Hàn và ngay cả Đài Loan. Chỉ cần tình trạng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc gia tăng thêm đến mức mà các nước này sợ rằng chiến tranh xảy ra thì Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan sẽ tìm cách củng cố sức mạnh quân sự của họ. 

- Đặc biệt là những nước này từ trước đến nay không bao giờ tính đến chuyện chế tạo bom nguyên tử, bởi vì họ yên tâm có cái lá dù của Mỹ che chở. Trên nguyên tắc, Nhật Bản vẫn theo một Hiến pháp hòa bình, không có quân đội với sức mạnh tấn công, chỉ có lực lượng an ninh phòng thủ mà thôi. Nếu tình trạng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc dẫn tới nỗi sợ hãi là hai nước đánh nhau thì chắc chắn Nhật sẽ bãi bỏ Hiến pháp hòa bình, tái lập quân đội, chế tạo bom nguyên tử và hỏa tiễn đạn đạo. Khi đó Trung Quốc sẽ sợ cái sức mạnh quân sự của Nhật Bản, Nam Hàn cũng như Đài Loan chắc chắn cũng dư sức chế tạo bom nguyên tử. Đấy là điều mà Trung Quốc không bao giờ muốn xẩy ra.

- Có thể nói hiện nay cả Trung Quốc và Mỹ như là đã thỏa hiệp, đồng lõa với nhau là làm sao để cho những nước như Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, đừng ai nghĩ đến việc chế tạo bom nguyên tử. Nếu tình trạng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc lên quá cao, lúc đó Mỹ sẽ bật đèn xanh cho những nước kia tiến tới việc tái vũ trang và chế tạo bom nguyên tử. Đó cũng là lý do rất quan trọng khiến Trung Quốc không thể tính đến chuyện gây chiến tranh với Mỹ, ít nhất là trong vòng 1/4 thế kỷ tới.

Đối với Việt Nam, Trung Quốc muốn duy trì nguyên trạng hiện thời

- Tôi nghĩ rằng phía Trung Quốc cho là giữ tình trạng hiện nay, gọi là statu quo, sẽ tốt cho họ hơn là gây ra những xung đột mạnh hơn. Với tình trạng hiện nay họ đã đủ sức lấn áp các nước chung quanh rồi. Họ lấn Việt Nam, luôn luôn có xung đột với Indonesia, với Malaysia ở vùng Sarawak, phía Bắc Bornéo. Do vậy, nguyên trạng bây giờ có lợi cho họ. Nếu họ gây ra một cuộc chiến tranh nhỏ, dù là chỉ một hòn đảo, với Việt Nam, thì cả thế giới sẽ có phản ứng.

- Gần đây, họ chỉ mới tuyên bố một câu là vùng biển Nam Hải, tức Biển Đông, thuộc phạm vi quyền lợi cốt lõi của họ, là đã đủ để cho tất cả các nước Đông Nam Á trông đợi vào Mỹ. Chính ông Lý Quang Diệu ở Singapore, cũng kêu gọi là Mỹ phải trở lại có mặt ở vùng Đông Nam Á này. 

- Tất cả các nước trong vùng đều sợ hãi, sẽ dè dặt hơn và chống đối Trung Quốc nhiều hơn. Chắc chắn Mỹ sẽ lợi dụng tình trạng đó để gia tăng sức mạnh quân sự của họ ở vùng Á Đông này và gia tăng trận chiến ngoại giao của họ để liên kết với các nước Đông Nam Á chống lại Trung Quốc. 

Thành ra bất cứ hành động chiến tranh nào của Trung Quốc đối với bất cứ nước nào ở chung quanh, cũng có thể gây ra phản ứng rất mạnh từ phía các nước Á Đông, Nhật Bản, Nam Hàn, đến Đông Nam Á, và rồi đặc biệt tạo ra sự liên kết của các nước đó với Mỹ. 

- Cho nên tôi không nghĩ là Trung Quốc muốn gây ra một cuộc đụng độ đổ máu với Việt Nam. Điều đó có nghĩa là, nếu hải quân Trung Quốc có những hành động có tính cách cướp biển như là bắt cóc ngư phủ Việt Nam rồi đòi tiền chuộc hay tịch thu tàu thuyền, thì người Việt Nam có thể phản ứng rất mạnh.
- Có lẽ đây là một cách để chứng tỏ với Trung Quốc rằng Việt Nam không sợ. Mà phản ứng mạnh như vậy cũng không lo là Trung Quốc sẽ dùng sức mạnh quân sự để tấn công mình, vì bây giờ Việt Nam, dù không phải là nước có liên minh quân sự với bất cứ nước nào khác, thì các nước đó cũng thấy rằng việc Trung Quốc tấn công vào Việt Nam là điều đe dọa chính họ nữa. Và người Mỹ sẽ sẵn sàng lợi dụng cái tình thế đó để liên kết với các nước trong vùng để chống lại Trung Quốc.

- Đó là cái lý do khiến tôi nghĩ là Việt Nam có thể có một thái độ cứng rắn hơn với Trung Quốc mà không lo sợ gì cả. Và tất nhiên là trong đường dài, Việt Nam phải liên kết với các nước Đông Nam Á và đặc biệt là với các cường quốc hải quân khác và nước có hải quân mạnh nhất trong vùng bây giờ vẫn là nước Mỹ. Cái sự liên kết đó là chiến lược mà Việt Nam không thể nào bỏ qua được.

Nguồn: RFI

“Quốc tế hóa các tranh chấp ở biển Đông Nam Á” chỉ có lợi khi… (Phần 1)

Trân Văn, Ngọc Trân thực hiện

Kể từ khi Trung Quốc gia tăng những hoạt động nhằm xác lập chủ quyền tại khu vực biển Nam Trung Hoa – tên quốc tế cho vùng biển mà Việt Nam gọi là biển Đông, người ta bắt đầu bàn đến vấn đề “Quốc tế hóa các tranh chấp ở biển Đông”.

Khu vực tranh chấp phóng to. Photo courtesy of Wikipedia

Vì sao cần “Quốc tế hóa các tranh chấp ở biển Đông”? Việt Nam phải làm gì để có thể đạt được lợi ích tốt nhất cho mình khi tham gia vào tiến trình này?

Đây sẽ là chủ đề chính của cuộc thảo luận giữa Trân Văn và Ngọc Trân với hai nhà nghiên cứu, một đang sống tại Việt Nam là ông Đinh Kim Phúc – chuyên nghiên cứu lịch sử Việt Nam, làm việc tại Khoa Đông Nam Á học, Đại học Mở TP HCM và một đang cư trú tại Hoa Kỳ là ông Lê Xuân Khoa – từng là Viện phó Viện Đại học Sài Gòn, sau đó nghiên cứu và giảng dạy về quan hệ quốc tế tại Đại học Johns Hopkins…

Cơ hội đi kèm thách thức

Trân Văn: Thưa các ông, các tranh chấp về chủ quyền ở biển Đông càng ngày càng có vẻ nghiêm trọng cả về tính chất, lẫn mức độ tác động của chúng đến cục diện chính trị không chỉ riêng ở khu vực Đông Nam Á.

Có lẽ đây là lý do chính khiến càng ngày càng nhiều người đề cập đến ý tưởng “Quốc tế hóa tranh chấp ở biển Đông”.

Với những gì đã diễn ra trên thực tế, một số người cho rằng, “Quốc tế hóa các tranh chấp ở biển Đông” sẽ vừa là thách thức, vừa là cơ hội của Việt Nam . Các ông có nghĩ như thế không?

Ông Đinh Kim Phúc. RFA photo.

Ông Đinh Kim Phúc: Theo tôi, bước đầu chúng ta nên thống nhất tên gọi biển Đông là biển Đông Nam Á.

Ở đây có hai vấn đề: Trước nhất, sự thách thức là bắt nguồn từ tham vọng truyền thống của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á. Hiện nay vì luận cứ và luận chứng của họ yếu nên họ không muốn nói chuyện đa phương để giải quyết việc tranh châp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa nói riêng và khu vực biển Đông Nam Á nói chung. Trung Quốc chỉ muốn đàm phán song phương, với mục đích sử dụng lợi thế của một nước lớn, mặc cả và gây sức ép với từng nước nhỏ đang tranh chấp.

Mặc dù việc tranh chấp liên quan đến nhiều nước trong khu vực, nhưng các nước không hợp lại với nhau thành một khối để có tiếng nói chung trong vấn đề tranh chấp.

Còn cơ hội là Việt Nam, các nước Đông Nam Á và đa số cường quốc trên thế giới đều có chung một quyền lợi chiến lược ở khu vực này là an ninh khu vực và tự do hàng hải theo thông lệ quốc tế.

Mỹ đã lên tiếng ủng hộ quan điểm quốc tế hóa biển Đông của các nước đang tranh chấp, qua bài phát biểu của bà Clinton, Ngoại trưởng Mỹ tại Diễn đàn Khu vực ASEAN cuối tháng 7 vừa qua.

Ngọc Trân: Còn ông Lê Xuân Khoa, thưa ông, ông nghĩ thế nào về vấn đề mà chúng tôi vừa nêu?

Ông Lê Xuân Khoa: Trong cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, tôi muốn nói đến cơ hội cho Việt Nam trước khi nói đến thách thức.
Ô. Lê Xuân Khoa: “Quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông không những chỉ giúp cho Việt Nam thoát ra khỏi hiểm họa Trung Quốc mà còn giúp cho các nước ASEAN vì không nước nào muốn thấy Trung Quốc dùng Việt Nam làm bàn đạp để thực hiện tham vọng bành trướng chủ quyền trong khu vực.
Đây là cơ hội vô cùng thuận lợi cho Việt Nam vì tại diễn đàn ASEAN hồi tháng Bảy vừa qua, Hoa Kỳ và các nước ASEAN đều phát biểu quan điểm chung là cuộc tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông cần phải được giải quyết một cách hòa bình trên căn bản đa phưong và tôn trọng luật lệ quốc tế về lưu thông hàng hải. Quan điểm chung này ngăn chặn chính sách “chia để trị” của Trung Quốc đối với các nước Đông Nam Á bằng những cuộc thảo luận song phương, vừa mua chuộc vừa đe dọa với từng nước, để rồi sau hết sẽ thống lĩnh toàn thể khu vực. “Quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông không những chỉ giúp cho Việt Nam thoát ra khỏi hiểm họa Trung Quốc mà còn giúp cho các nước ASEAN vì không nước nào muốn thấy Trung Quốc dùng Việt Nam làm bàn đạp để thực hiện tham vọng bành trướng chủ quyền trong khu vực. Vì vậy các nước ASEAN sẽ càng phải đoàn kết và hậu thuẫn mạnh mẽ cho Việt Nam.

Bây giờ nói đến thách thức thì đây là thách thức đối với chính quyền Việt Nam, vì cho đến rất gần đây chính quyền Việt Nam vẫn cho thấy sự thiên lệch, có thể nói là lệ thuộc, của họ đối với Trung Quốc nhằm bảo vệ quyền lực và quyền lợi của Đảng và chế độ. Trước thái độ

Ngoại trưởng Hillary Clinton tại hội nghị khu vực ASEAN 17 hôm 23-07-2010. 
AFP PHOTO / Paul J. Richards

ngang nguợc và lấn tới của Trung Quốc, những khẩu hiệu “bốn tốt” và “mười sáu chữ vàng” đã trở thành trò hề, và nguy cơ mất nước đã trở nên quá hiển nhiên, Đảng và Nhà Nước cần phải chọn giải pháp “quốc tế hóa” vấn đề Biển Đông, thay đổi chính sách lệ thuộc đối với Trung Quốc, thay đổi chính sách đối nội tức là từ bỏ chế độ độc tài toàn trị và thực hiện tiến trình dân chủ hóa. Liệu Đảng và Nhà nước có đủ quyết tâm và dũng cảm chấp nhận thách thức này và biến nó thành cơ hội để cứu nước và tự cứu mình hay không?

Tại sao nên thay đổi cách gọi biển Đông?

Trân Văn: Thưa ông Phúc, hình như ông không phải là người đầu tiên đề nghị thay đổi cách gọi biển Đông thành biển Đông Nam Á. Đề nghị thay đổi cách gọi biển Đông của học giới hình như là một phần của nỗ lực chung trong cuộc vận động “Quốc tế hóa tranh chấp ở biển Đông”. Ông có thể giải thích thêm vì sao cần thay đổi cách gọi biển Đông không?
Ông Đinh Kim Phúc:" Tôi nghĩ, mặc dù tên gọi không phản ánh chủ quyền quốc gia theo những quy định của luật pháp quốc tế, nhưng tên gọi biển Nam Trung Hoa hiện đang được Trung Quốc sử dụng như một vũ khí để đánh lừa dư luận quốc tế"
Ông Đinh Kim Phúc: Tôi nghĩ, mặc dù tên gọi không phản ánh chủ quyền quốc gia theo những quy định của luật pháp quốc tế, nhưng tên gọi biển Nam Trung Hoa hiện đang được Trung Quốc sử dụng như một vũ khí để đánh lừa dư luận quốc tế.

Việc đề nghị đổi tên biển Nam Trung Hoa thành biển Đông Nam Á một mặt để đấu tranh chống lại cái gọi là “miền Đông Hải của Trung Quốc”, mặc khác nó cũng thể hiện ý chí hòa bình và hữu nghị giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Ông Lê Xuân Khoa: Tôi đồng ý với câu trả lời của ông Đinh Kim Phúc. Tôi muốn nhận xét thêm rằng việc đổi tên biển sẽ không được đặt thành vấn đề nếu Trung Quốc không lạm dụng tên Biển Nam Trung Hoa để đòi hỏi chủ quyền của họ. Việc một quốc gia dùng tên nước của họ để đặt tên cho vùng biển kế cận chỉ là một cách thuận tiện để ấn định vị trí địa lý chứ không phải để xác nhận chủ quyền. Như vậy, Biển Nam Trung Hoa chỉ có nghĩa là vùng biển ở phía Nam của Trung Hoa, cũng như Biển Đông Việt Nam chỉ có nghĩa là vùng biển ở phía Đông của Việt Nam. Từ xưa đến nay giữa hai nước không có vấn đề tranh chấp vì những tên gọi như vậy, cho đến gần đây khi Trung Quốc thấy có cơ hội bành trướng trong khu vực đã tuyên bố chủ quyền của họ trên toàn thể vùng biển tiếp giáp tất cả các nước Đông Nam Á.

Ông Lê Xuân Khoa (áo xanh). RFA photo.

Việc Trung Quốc đòi chủ quyền trên Biển Nam Trung Hoa không thể được quốc tế chấp nhận, vì như vậy, Ấn Độ cũng có thể đòi hỏi chủ quyền của nước họ trên toàn thể Ấn Độ Dương, hay ít ra cũng trên hai vùng biền tiếp giáp với bờ biển phía Đông và phía Tây của Ấn độ, gây tranh chấp với một số các quốc gia Đông Nam Á và một số các quốc gia Trung Đông và Phi châu.

Bởi thế, để vô hiệu hóa đòi hỏi phi lý của Trung Quốc, cần chính danh hóa vùng biển phía Nam của Trung Quốc và phía Đông của Việt Nam bằng tên đúng của nó là Biển Đông Nam Á. Giới học giả Việt Nam và ngoại quốc đã đưa ra đề nghị đổi tên Biển Nam Trung Hoa thành Biển Đông Nam Á từ mấy chục năm nay rồi.

Trong tranh chấp về chủ quyền ở biển Đông Nam Á, khi Trung Quốc hơn hẳn cả về thế lẫn lực, lúc “Quốc tế hóa các tranh chấp ở biển Đông Nam Á” trở thành một cơ hội để Việt Nam có thể tận dụng, nhằm bảo vệ hữu hiệu chủ quyền của mình ở vùng biển phía Đông, Việt Nam cần làm những gì để có thể đạt được lợi ích tốt nhất cho mình nếu tranh chấp được quốc tế hóa? Đó sẽ là nội dung được chúng tôi nêu ra để thảo luận với các ông Đinh Kim Phúc, Lê Xuân Khoa trong lần phát thanh tới, mời qúy vị đón nghe…

(Phần 2)

Lần trước, trong cuộc trò chuyện giữa Trân Văn và Ngọc Trân với ông Đinh Kim Phúc – chuyên nghiên cứu lịch sử Việt Nam, làm việc tại Khoa Đông Nam Á học, Đại học Mở TP HCM và ông Lê Xuân Khoa – từng là Viện phó Viện Đại học Sài Gòn, sau đó nghiên cứu và giảng dạy về quan hệ quốc tế tại Đại học Johns Hopkins, qúy vị đã nghe ông Phúc và ông Khoa trình bày vì sao cần “Quốc tế hóa các tranh chấp ở biển Đông Nam Á”, cũng như nếu tham gia tiến trình này, Việt Nam có thể được gì và phải đối diện với những thách thức nào.

Lần này, Trân Văn và Ngọc Trân tiếp tục thảo luận với ông Đinh Kim Phúc và ông Lê Xuân Khoa về một vấn đề khác, đó là làm sao để có thể đạt được sự đồng thuận nơi người Việt, nhằm tạo ra sự hậu thuẫn, giúp Việt Nam đạt được lợi ích tốt nhất khi các tranh chấp ở biển Đông Nam Á được quốc tế hóa. Mời qúy vị cùng nghe…

Ông Lê Xuân Khoa và ông Đinh Kim Phúc. Photo: RFA

Cần đồng thuận nhưng làm gì để đạt đồng thuận?

Ngọc Trân: “Quốc tế hóa tranh chấp ở biển Đông Nam Á” sẽ là một tiến trình liên quan đến nhiều bên. Trong tiến trình đó, chắc chắn là từng bên sẽ có những mục tiêu riêng phù hợp với lợi ích của riêng mình.

Điều này tạo ra mâu thuẫn có tính tất nhiên là làm sao có thể vừa đạt được lợi ích riêng, vừa tạo ra được sự ủng hộ của nhiều bên có liên quan.

Riêng với trường hợp Việt Nam, ngoài yếu tố chính quyền phải có chính sách đối ngoại khôn khéo, linh hoạt, thực tế còn cho thấy là khi đã xác định cần phải “Quốc tế hóa tranh chấp ở biển Đông”, không thể không quan tâm đến sự ủng hộ của người Việt ở cả trong lẫn ngoài Việt Nam.
Ô. Đinh Kim Phúc:"Để tạo niềm tin đối với người dân, theo tôi nhà nước Việt Nam cần phải đẩy nhanh hơn nữa việc "quốc tế hóa, dân tộc hóa, công khai hóa và phi nhạy cảm hóa" trong vấn đề bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông Nam Á."
Tiếc là trong thời gian vừa qua, chính quyền Việt Nam chưa tạo được niềm tin, vốn là tiền đề của sự hậu thuẫn cho nỗ lực “Quốc tế hóa tranh chấp ở biển Đông Nam Á”, theo hướng có lợi nhất cho Việt Nam. Nhiều người vẫn có cảm giác rằng, chính sách đối ngoại của chính quyền Việt Nam vẫn chỉ nhắm đến lợi ích riêng của đảng cầm quyền, chứ chưa xem lợi ích lâu dài của dân tộc là ưu tiên tối thượng.

Theo các ông, chính quyền Việt Nam cần làm gì để tạo ra được niềm tin và sự hậu thuẫn của mọi người Việt?

Nhiều biểu ngữ đòi hỏi bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải, đòi hỏi dân chủ được treo lén lút nhiều nơi (Hà Nội và Hải Phòng). Courtesy blogharbor.com

Trân Văn: Có lẽ ông Đinh Kim Phúc trả lời câu hỏi này trước sẽ hợp lý hơn. Thưa ông Phúc, ông thấy thế nào?

Đinh Kim Phúc: Tôi không nghĩ rằng chính sách đối ngoại của nhà nước Việt Nam chỉ là phục vụ cho đảng cầm quyền vì Việt Nam là một nước nhỏ và đang sống đan xen trong quyền lợi của các nước lớn nên bước đi phải thận trọng.

Để tạo niềm tin đối với người dân, theo tôi Nhà nước Việt Nam cần phải đẩy nhanh hơn nữa việc "quốc tế hóa, dân tộc hóa, công khai hóa và phi nhạy cảm hóa" trong vấn đề bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông Nam Á.

Không nên ngăn cản các học giả tự do nghiên cứu. Không nên định hướng các nghiên cứu, vì như thế sẽ không cho ra kết quả chính xác, trung thực.

Nên tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các học giả, trí thức trong và ngoài nước nghiên cứu, đóng góp tiếng nói chung để bảo vệ chủ quyền đất nước. Việc Thạc sĩ Hoàng Việt của Đại học Luật TP HCM không được tạo điều kiện để tham gia hội thảo hè ở Đại học Temple vừa qua là điều không nên có.
Ô. Đinh Kim Phúc:"Nên tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các học giả, trí thức trong và ngoài nước nghiên cứu, đóng góp tiếng nói chung để bảo vệ chủ quyền đất nước. Việc Thạc sĩ Hoàng Việt của Đại học Luật TP HCM không được tạo điều kiện để tham gia hội thảo hè ở Đại học Temple vừa qua là điều nên không có."
Vì sao một đất nước hơn 80 triệu dân, mà các hội thảo quan trọng liên quan đến chủ quyền quốc gia như Hội thảo hè 2010 tại Đại họcTemple vừa qua, ngoài những người đại diện cho Nhà nước, không có nhiều học giả trong nước tham gia? Phải chăng giới học giả, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã không còn quan tâm tới chủ quyền quốc gia? Nếu đúng như vậy thì thật là nguy hiểm cho dân tộc.

Ngọc Trân: Thưa ông Khoa, ông có muốn góp thêm ý kiến nào vào vấn đề này không ạ?

Ông Lê Xuân Khoa: Quốc tế hóa tranh chấp ở Biển Đông Nam Á sẽ không tạo ra mâu thuẫn giữa lợi ích riêng của mỗi nước và lợi ích chung của các nước liên quan, nếu tất cả các nước liên quan đều chấp nhận rằng quốc tế hóa vấn đề Biển Đông là giải pháp tối ưu và duy nhất có thể ngăn chặn được hiểm họa Trung Quốc. Ở đây, cần phân biệt chủ quyền ở Hoàng Sa là vấn đề riêng giữa Việt Nam và Trung Quốc, với chủ quyền ở Trường Sa là vấn đề liên quan đến một số quốc gia Đông Nam Á.
Ô.Lê Xuân Khoa:"Chính sử Trung Quốc cho đến đời nhà Thanh cũng đều ghi cương vực của Trung Quốc chấm dứt ở Đảo Hải Nam. Ngoài ra, việc Trung Quốc dùng vũ lực để chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974 là một hành động vi phạm trắng trợn Hiến chương Liên Hiệp Quốc."
Vấn đề chủ quyền ở Trường Sa rất phức tạp, đòi hỏi những bằng chứng lịch sử vững chắc và được giải quyết trên cơ sở Luật Biển của Liên Hiệp Quốc. Tôi không chuyên nghiên cứu về mặt này nhưng đã được đọc những tài liệu cho thấy rằng chính sử Trung Quốc không có bằng cớ gì chứng minh được Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Chính sử Trung Quốc cho đến đời nhà Thanh cũng đều ghi cương vực của Trung Quốc chấm dứt ở Đảo Hải Nam. Ngoài ra, việc Trung Quốc dùng vũ lực để chiếm đóng Hoàng Sa năm 1974 là một hành động vi phạm trắng trợn Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, vấn đề Trường Sa rắc rối hơn nhiều vì ngoài Trung Quốc và Đài Loan, mấy nước ASEAN như Mã Lai, Phi-líp-pin, Brunei, Nam Dương đều có liên quan, chưa kể đến những tuyên bố chủ quyền của Pháp và Anh trên một số đảo ở Trường Sa từ trên dưới 100 năm trước.

Lãnh đạo các nước ASEAN cần tạm ngưng tranh chấp với nhau và giao cho các chuyên gia tiếp tục nghiên cứu các để án giải quyết. Ưu tiên trước mắt là thống nhất lập trường phủ nhận đường lưỡi bò của Trung Quốc và đối thoại đa phương với Trung Quốc trên căn bản chung sống hòa bình, hợp tác và phát triển.

Hơn 200 người đã biểu tình ở Hà Nội trước Tòa Đại sứ Trung Quốc (tháng 12, 2007) phản đối việc lãnh hải Việt Nam bị Trung Quốc chiếm đóng. AFP

Về việc chính quyền cần phải làm gì để tạo được niềm tin và sự hậu thuẫn của người Việt cả ở trong lẫn ngoài nước cho những cuộc thương thuyết có lợi nhất cho Việt Nam, thì tôi đã nói đến khi trả lời câu hỏi về vấn đề thách thức và cơ hội cho chính quyền Việt Nam. Tôi chỉ
Ô.Lê Xuân Khoa:"Chính quyền phải từ bỏ chế độ độc tài toàn trị, thực thi những quyền tự do căn bản cho nhân dân, dựa vào sức mạnh của nhân dân để thương thuyết với Trung Quốc, và đón nhận sự hợp tác của trí thức trong và ngoài nước"
muốn nhấn mạnh rằng đây là “thời cơ vàng” cho lãnh đạo Việt Nam xoay chuyển tình thế từ bất lợi sang thuận lợi, vừa có hậu thuẫn của quốc tế vừa tạo được niềm tin của nhân dân trong nước và cộng đồng hải ngoại. Muốn như vậy, chính quyền phải từ bỏ chế độ độc tài toàn trị, thực thi những quyền tự do căn bản cho nhân dân, dựa vào sức mạnh của nhân dân để thương thuyết với Trung Quốc, và đón nhận sự hợp tác của trí thức trong và ngoài nước trong các quyết định về chính sách đối nội và đối ngoại.

Trân Văn: Vừa rồi, ý kiến của ông Phúc gợi ra nơi tôi một thắc mắc, mong ông giải đáp, đó là ông có đề cập đến sự nguy hiểm do thờ ơ. Một số người không gọi sự thờ ơ ấy là nguy hiểm, họ bảo đấy là đại họa cho tương lai của dân tộc.

Là một người nghiên cứu về biển Đông Nam Á và theo dõi sát các diễn biến có liên quan đến khu vực này nói riêng cũng như chủ quyền quốc gia nói chung, theo ông, đâu là các dấu hiệu của đại họa?

Ông Đinh Kim Phúc: Theo tôi, khi người dân thờ ơ với chủ quyền quốc gia, dân tộc, và giới học giả, nghiên cứu, trí thức quay lưng lại với đất nước do các trở ngại nào đó… Một khi Nhà nước lo không nổi, người dân thờ ơ, trí thức thì quay lưng, ngoảnh mặt… đấy sẽ là đại họa cho dân tộc.

Học giới cũng cần ngồi lại với nhau

Trân Văn: Trên thực tế thì những diễn biến liên quan đến biển Đông nói riêng, rồi quan hệ Việt – Trung, tương quan giữa thế và lực của Việt Nam, của Trung Quốc trong khu vực nói riêng, trên thế giới nói chung, đã cũng như đang khiến người Việt ở cả trong lẫn ngoài Việt Nam thực sự lo âu.

Sự âu lo này khiến nhiều người cảm thấy cần phải làm gì đó trong việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam. Ngoài các nỗ lực cá nhân, còn có sự ra đời của nhiều nhóm. Tuy có những khác biệt nhất định về cách thức, thậm chí là về quan điểm song các cá nhân và nhóm đều cùng hướng đến mục tiêu là khơi dậy lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm, củng cố chứng cứ, luận cứ về chủ quyền.

Gần 300 người Việt ở Hoa Kỳ biểu tình trước Tòa Đại sứ Việt Nam và Trung Quốc (Tháng 9 năm 2008). RFA

Riêng trong lĩnh vực củng cố chứng cứ, luận cứ về chủ quyền, có một thực tế không thể không quan tâm là những nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam tại biển Đông của học giới người Việt ở cả trong lẫn ngoài Việt Nam có vẻ còn chủ quan, phiến diện.

Ngọc Trân: Tôi thấy sự chủ quan, phiến diện này, một phần là do tâm cảm, phần khác quan trọng hơn là vì tư liệu, tài liệu phân tán. Ở hội thảo hè do giới nghiên cứu người Việt vừa tổ chức tại Philadelphia, Hoa Kỳ, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Giao cho biết, tại Pháp, hiện có nhiều tài liệu gốc liên quan đến chủ quyền của Việt Nam chưa được khai thác. Tiến sĩ Vũ Quang Việt thì đề cập đến tình trạng Việt Nam chưa nghiên cứu kỹ các châu bản triều Nguyễn…
Ô. Đinh Kim Phúc:"Theo tôi, trong tình hình hiện nay, các học giả phải ngồi lại với nhau, để sang một bên vấn đề ý thức hệ để thống nhất hướng nghiên cứu, tập trung mọi khả năng tìm ra những tư liệu mới để củng cố quan điểm của Việt Nam ."
Ai cũng biết, trong tiến trình “Quốc tế hóa tranh chấp ở biển Đông Nam Á”, Việt Nam chỉ có thể đạt được lợi ích lớn nhất nếu có chứng cứ vững chắc về mặt lịch sử và xác lập được luận cứ phù hợp về công pháp quốc tế. Tuy nhiên do tư liệu, tài liệu phân tán, học giới Việt Nam đã và hiện có những mâu thuẫn lớn trong biện giải về chủ quyèn lãnh thổ. Có lẽ chỉ có thể giải quyết được tình trạng này khi học giới Việt Nam, ở cả trong lẫn ngoài Việt Nam chia sẻ cho nhau cả về tư liệu lẫn quan điểm.

Theo các ông, làm sao để học giới Việt Nam trên khắp thế giới có thể cùng thảo luận với nhau, thuyết phục được nhau trước khi thuyết phục thiên hạ?

Ông Đinh Kim Phúc: Đầu tiên cần nhấn mạnh về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa là quyền phát hiện, chiếm hữu và khai thác liên tục có hiệu quả phải thuộc về Nhà nước. Vấn đề đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia là việc của Nhà nước. Nhưng Nhà nước có việc của nhà nước, các nhà khoa học có việc của các nhà khoa học và người dân có việc của người dân, miễn sao phải có sự đồng thuận trên – dưới, trong – ngoài.

Theo tôi, trong tình hình hiện nay, các học giả phải ngồi lại với nhau, để sang một bên vấn đề ý thức hệ để thống nhất hướng nghiên cứu, tập trung mọi khả năng tìm ra những tư liệu mới để củng cố quan điểm của Việt Nam. Để đạt được điều này Chính phủ Việt Nam phải là người tổ chức và tập hợp.
Ô.Lê Xuân Khoa:"Muốn đạt được sự đồng thuận về giá trị của tư liệu và sự vững chắc của quan điểm, cần có những cuộc trao đổi rộng rãi hơn qua những cuộc hội thảo trên mạng lưới điện tử, hay hội thảo trực tiếp tại hội trường."
Ông Lê Xuân Khoa: Quả thật, học giới Việt Nam trong và ngoài nước, dù là cá nhân hay nhóm, đều đang nỗ lực tìm kiếm chứng cứ và củng cố luận cứ về chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng đúng là do nguồn tài liệu khác nhau, các học giả Việt Nam đã có những luận giải khác nhau, có khi mâu thuẫn với nhau về chủ quyền trên các đảo này. Ý thức được điều này, học giới Việt Nam đã có những trao đổi cả về tư liệu lẫn quan điểm, nhưng còn giới hạn giữa những cá nhân hay nhóm quen biết nhau từ trước. Muốn đạt được sự đồng thuận về giá trị của tư liệu và sự vững chắc của quan điểm, cần có những cuộc trao đổi rộng rãi hơn qua những cuộc hội thảo trên mạng lưới điện tử, hay hội thảo trực tiếp tại hội trường.

Cuộc hội thảo của học giới Việt Nam tại Đại học Temple ở Philadelphia cuối tháng Bảy vừa qua là một thí dụ minh chứng cho những trao đổi cần thiết này. Chỉ tiếc là số học giả trong nước tham gia quá ít, vì gặp khó khăn trong việc xin phép chính quyền. Cụ thể là trường hợp Thạc sĩ Hoàng Việt thuộc Đại học Luật TP HCM được ông Phúc nói đến hồi nãy là đã “không được tạo điều kiện để tham gia”. Tôi và nhiều người khác đều nhận được tin tức là luật gia Hoàng Việt đã bị chính bà Hiệu trưởng không cho phép và đe dọa mặc dù ông đâ có giấy giới thiệu của Bô Ngoại giao ở Hà Nội. Trường hợp lạm quyền này nếu xảy ra ở một nước dân chủ thì chắc chắn chính bà Hiệu trưởng sẽ bị kỷ luật và có thể mất việc.

Nhà nghiên cứu Hồ Bạch Thảo đã phản bác tửng điểm một trong tập tài liệu đồ sộ của học giả Trung Quốc Hàn Chấn Hoa, vạch rõ những sai lầm, ngụy biện và gian trá của họ Hàn nhằm chứng minh chủ quyền của Trung Quốc ở “Nam Hải chư đảo”.
Ô. Lê Xuân Khoa:" Nhà nghiên cứu Hồ Bạch Thảo đã phản bác tửng điểm một trong tập tài liệu đồ sộ của học giả Trung Quốc Hàn Chấn Hoa, vạch rõ những sai lầm, ngụy biện và gian trá của họ Hàn nhằm chứng minh chủ quyền của Trung Quốc ở “Nam Hải chư đảo”.
Những bài tham luận trong cuộc hội thảo Philadelphia đều là những công trình nghiên cứu có giá trị khoa học mà chính quyền cần tham khảo để hoạch định chính sách về Biển Đông Nam Á. Thí dụ nhà nghiên cứu Hồ Bạch Thảo đã phản bác từng điểm một trong tập tài liệu đồ sộ của học giả Trung Quốc Hàn Chấn Hoa, vạch rõ những sai lầm, ngụy biện và gian trá của họ Hàn nhằm chứng minh chủ quyền của Trung Quốc ở “Nam Hải chư đảo”. Tôi được biết sau cuộc hội thảo này, Tiến sĩ Vũ Quang Việt đã bổ sung và hoàn tất bản dự thảo của ông thành một tài liệu nghiên cứu gần 100 trang về cuộc tranh chấp Biển Đông Nam Á, vừa được ông công bố trên trang mạng Thời đại mới. Đây là một đóng góp quan trọng cho những nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình và công lý dựa trên chứng cứ lịch sử và luật pháp quốc tế.

Đến đây thì cuộc hội luận giữa chúng tôi với các ông: Đinh Kim Phúc, Lê Xuân Khoa chuyển sang phần cuối cùng, đó là nếu như chính quyền Việt Nam thật sự muốn đạt được sự đồng thuận làm hậu thuẫn cho tiến trình “Quốc tế hóa tranh chấp ở biển Đông Nam Á”, theo hướng có lợi nhất cho Việt Nam thì họ phải làm gì trước. Nội dung phần cuối của cuộc hội luận này sẽ được giới thiệu trong lần phát thanh tới, mời quý vị đón nghe…

(Phần 3)

Trong cuộc hội luận giữa Trân Văn và Ngọc Trân, các ông: Đinh Kim Phúc – chuyên nghiên cứu lịch sử Việt Nam, làm việc tại Khoa Đông Nam Á học, Đại học Mở TP HCM và ông Lê Xuân Khoa – từng là Viện phó Viện Đại học Sài Gòn, sau đó nghiên cứu và giảng dạy về quan hệ quốc tế tại Đại học Johns Hopkins, đã trình bày những suy nghĩ có liên quan đến vấn đề “Quốc tế hóa các tranh chấp ở biển Đông”, các điều kiện để đạt được sự đồng thuận làm hậu thuẫn về chứng cứ, luận cứ, dư luận.

Nếu muốn tiến trình “Quốc tế hóa tranh chấp ở biển Đông Nam Á” diễn tiến theo hướng có lợi nhất cho Việt Nam, chính quyền Việt Nam cần phải làm gì trước? Mời qúy vị nghe tiếp phần cuối của cuộc hội luận này…

Trung Quốc tuyên bố gần như toàn bộ biển đông là lãnh hải của họ. RFA

Hỗ trợ học giới: Chuyện cần mà chưa làm

Ngọc Trân: Vì các ông đề cập đến việc phối hợp nghiên cứu giữa học giới trong và ngoài Việt Nam nên xin nêu thêm một thắc mắc khác, đó là hình như đa số nghiên cứu của học giới người Việt ở cả trong lẫn ngoài Việt Nam thường mới chỉ ngừng lại ở mức nói cho nhau nghe. Hầu hết các công trình nghiên cứu mang tính học thuật, liên quan đến chủ quyền Việt Nam của học giới người Việt chỉ nhằm giới thiệu với độc giả người Việt.

Tại sao các công trình nghiên cứu về chủ quyền của Việt Nam tại biển Đông Nam Á không được công bố với học giới nước ngoài để phản biện lại các luận cứ của Trung Quốc. Chắc ông cũng biết là Trung Quốc đầu tư rất sâu và làm rất tốt điều này?
Ông Đinh Kim Phúc:"Chính phủ nên tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức trong và ngoài nước nghiên cứu, ngoài việc chủ động lập ra các tổ chức nghiên cứu mang tính quốc tế để phản biện lại các quan điểm của Trung Quốc mà phía Việt Nam cho là không đúng."
Ông Đinh Kim Phúc: Chính phủ nên tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức trong và ngoài nước nghiên cứu, ngoài việc chủ động lập ra các tổ chức nghiên cứu mang tính quốc tế để phản biện lại các quan điểm của Trung Quốc mà phía Việt Nam cho là không đúng.

Các tổ chức tư nhân cũng như Chính phủ nên đưa các nghiên cứu của mình ra áp dụng, chẳng hạn như sử dụng các kết quả nghiên cứu để phản bác lại các quan điểm phía Trung Quốc đưa ra

Một thủy thủ tàu USS John S. McCain chào khi tàu vừa cập cảng Tiên Sa – Đà Nẵng hôm 10/8/2010

Nếu không làm được điều này thì rất khó phản biện lại các quan điểm không đúng của Trung Quốc. Và hệ quả của nó là gì? Có lẽ Tân Cương, Tây Tạng sẽ là một hình ảnh không xa với dân tộc Việt Nam .

Trân Văn: Ông Lê Xuân Khoa có muốn chia sẻ gì thêm về vấn đề này không ạ?

Ông Lê Xuân Khoa: Trong cuộc hội thảo Philadelphia, chính tôi là người phát biểu nhận xét rằng hầu hết công trình nghiên cứu và đề nghị của học giới trong và ngoài nước về chủ quyền Việt Nam chỉ là viết cho nhau đọc và nói cho nhau nghe. Nhưng mục đích của tôi qua nhận xét ấy không nhằm vào sự cần thiết phải công bố với học giới nước ngoài để phản biện lại các luận điểm của Trung Quốc mà muốn nhấn mạnh vào một mục đích khác cũng rất quan trọng là những tư liệu và ý kiến của học giới Việt Nam phải được sự chú ý của những người làm chính sách ở trong nước và các nước liên quan.

Tôi không biết người ở trong nước có thể làm cách nào để ảnh hưởng tới các quyết định của nhà cầm quyền, nhưng ở nước ngoài như ở Mỹ thì tiếng nói của người dân, đặc biệt là của giới trí thức thì có thể đạt tới nhà cầm quyền, ngay cả Tổng thống bằng nhiều ngả, trực tiếp bằng thư tín hoặc gián tiếp qua báo chí và Quốc hội. Những đóng góp của học giới Việt Nam cần phải được viết bằng tiếng Anh hay dịch sang tiếng Anh thì mới có thể lôi cuốn được sự chú ý của học giới và báo giới ngoại quốc, và của những nhà làm chính sách ở Mỹ và các nước khác.

Chính quyền phải “dễ hiểu” hơn

Trân Văn: Tôi lại có một câu hỏi nữa mong ông Phúc giải đáp. Đó là ở phần trước của cuộc trò chuyện này, ông cho rằng, trong những vấn đề có liên quan đến biển Đông Nam Á, chính sách đối ngoại của Việt Nam không đơn thuần chỉ phục vụ cho lợi ích của đảng cầm quyền.

Chúng tôi cũng thấy rằng, vì thế và lực của Việt Nam như thế, đồng thời vì biển Đông Nam Á là khu vực có sự đan xen quyền lợi của các nước lớn nên mọi bước đi đúng là cần phải thận trọng. Tuy nhiên, thận trọng tới mức phải gọi Trung Quốc là “nước ngoài” một cách chung chung, gọi tàu Trung Quốc là “tàu lạ”, chỉ trích những hành vi ngang ngược của Trung Quốc, kêu gọi minh định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa lại bị xem là “bị các thế lực thù địch, phản động kích động” thì sự thận trọng đó trở thành khó hiểu.

Ông có thể giải thích vì sao sự thận trọng lẽ ra rất cần thiết lại trở thành khó hiểu như vậy hay không?

Một sĩ quan biên phòng Việt Nam nhìn về phía tàu USS John S. McCain tại cảng Đà Nẵng hôm 10/8/2010. AFP photo

Ông Đinh Kim Phúc: Tôi hiểu những vấn đề mà anh đặt ra, điều đó đúng là tâm trạng của nhiều người. Nhưng tôi cũng hiểu được những khó khăn của Nhà nước Việt Nam hiện nay trong việc ứng xử đối với những vấn đề liên quan đến biển Đông Nam Á. Dù sao cũng phải giữ mối quan hệ hữu nghị với Trung Quốc vì Việt Nam là một nước nhỏ mà lịch sử đã chỉ ra nhiều bài học kinh nghiệm trong quan hệ với Trung Quốc.

Mặt khác, việc nghiên cứu về mối quan hệ đa chiều trong vấn đề biển Đông Nam Á không phải ai cũng biết tường tận, nhưng quan điểm của tôi là phải tôn trọng sự thật lịch sử, bên cạnh đó, tôi nghĩ những người có trách nhiệm phải thấy được những gì đang diễn ra và người dân phải được quyền biết sự thật trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay.

Với tôi, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và toàn vẹn lãnh thổ là trên hết. Tôi tin Nhà nước Việt Nam cũng nghĩ như thế. Tại sao các anh không trực tiếp nêu những câu hỏi này với Nhà nước? Không có thông tin rõ ràng, không có thái độ đúng mực thì không thể có niềm tin. Thiếu tin cậy thì khó đồng thuận, mà không đồng thuận thì chắc chắn khó đoàn kết. Tôi nghĩ Nhà nước Việt Nam đã thấy được điều đó.

Ngọc Trân: Còn ông, thưa ông Lê Xuân Khoa, ông nghĩ thế nào ạ?

Ông Lê Xuân Khoa: Để bảo vệ độc lập, chủ quyền và duy trì sự tồn tại của nòi giống Lạc Hồng, tổ tiên người Việt Nam đã áp dụng nhu đạo vào cả hai lãnh vực quân sự và ngoại giao để đối phó với láng giềng khổng lồ phương Bắc. Nói cách khác, các vua chúa đời trước chống sức mạnh của giặc ngoại xâm không bằng sự đối đầu mà bằng mưu trí, khi thắng trận thì dùng lời lẽ khôn khéo để không làm cho kẻ địch bị mất mặt.
Ông Lê Xuân Khoa:"Trong 20 năm qua, chính quyền Việt Nam đã thiên về phía Trung Quốc vì lợi ích riêng tư. Tuy nhiên, trước thái độ lấn át trắng trợn của Trung Quốc đưa đến nguy cơ mất nước, lãnh đạo Việt Nam có vẻ muốn dựa vào thế quốc tế để lấy lại thế quân bình với Trung Quốc."
Trong thế giới ngày nay, nếu chính quyền Việt Nam muốn giao hảo thân thiện với các nước lớn và tránh đụng độ về quân sự thì cũng đúng với truyền thống dân tộc sinh tồn bằng nhu đạo của tổ tiên. Nhưng như vậy thì phải giữ được sự cân bằng trong cách đối xử, không được thiên vị chỉ vì muốn duy trì độc quyền cai trị nhân dân và bảo vệ đặc quyền đặc lợi. Trong 20 năm qua, chính quyền Việt Nam đã thiên về phía Trung Quốc vì lợi ích riêng tư ấy. Tuy nhiên, trước thái độ lấn át trắng trợn của Trung Quốc đưa đến nguy cơ mất nước, lãnh đạo Việt Nam có vẻ muốn dựa vào thế quốc tế để lấy lại thế quân bình với Trung Quốc.

Ông Đinh Kim Phúc tin là Nhà nước Việt Nam cũng đặt độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ lên trên hết. Ông nhắc nhở Đài Á châu Tự do nên trực tiếp đặt câu hỏi với Nhà nước để có được thông tin rõ ràng và từ đó có thể có niềm tin và đồng thuận dân tộc. Tôi đề nghị Đài Á châu Tự do nên tìm cách phỏng vấn các nhà lãnh đạo Việt Nam trong những ngày tháng sắp tới.

Nguồn: RFA

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Which-ways-that-vietnam-can-perform-to-internationalize-the-disputes-in-south-china-sea-part1-ntran-tvan-08152010103303.html
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Which-ways-that-Vietnam-can-perform-to-internationalize-the-disputes-in-South-China-sea-part-2-08162010063951.html
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Which-ways-that-Vietnam-can-perform-to-internationalize-the-disputes-in-South-China-sea-part3-TV-NT-08162010113023.html

Vì sao Hoa Kỳ làm cho Hà Nội thay đổi?

Richard Weitz

Hoa Kỳ, dưới áp lực của các nước ASEAN, tiến gần biển Đông. Nhưng cuộc xung đột với Trung Quốc không phải là không thể tránh khỏi.






Tuần trước, tạp chí Global xuất bản một bài viết được phổ biến rộng rãi của tác giả Ju Wen, tấn công Hoa Kỳ rằng “Họ sẽ chõ mũi vào biển Đông, tuyên bố rằng các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực có liên quan đến lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ”.

Bài bình luận đã nói bóng gió ý kiến của Ngoại trưởng Hilary Clinton tại cuộc họp tháng trước ở Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) tại Hà Nội, trong đó bà nói rằng Washington sẵn sàng tạo điều kiện cho các cuộc thảo luận đa phương về tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông. Bà cũng nói, phản đối bất kỳ việc cưỡng chế hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để thực thi các tuyên bố mâu thuẫn.



Tuyên bố [của bà Clinton] là một bước đi táo bạo được thiết kế để thay đổi lập trường cứng rắn hơn của Bắc Kinh mà họ đã áp dụng trong tranh chấp những tháng gần đây. Nhưng nó cũng đánh dấu một sự thay đổi của Hoa Kỳ, có truyền thống tìm cách tránh đưa ra lập trường trong các tranh chấp chủ quyền ở Đông Á.

Điều gì đã dẫn đến sự thay đổi như thế? Bà Clinton biện hộ cho tuyên bố về sự quan tâm của bà bằng cách nói rằng: “Hoa Kỳ, như mọi quốc gia khác, có một lợi ích quốc gia trong việc tự do đi lại, tự do đi vào vùng biển châu Á và tôn trọng luật pháp quốc tế ở biển Đông”.

Có lẽ không có gì ngạc nhiên khi Trung Quốc rất bực tức về ý kiến của bà Clinton, vì trước đây họ đã thành công trong việc giữ vấn đề chủ quyền ngoài chương trình nghị sự của ARF và các cuộc họp đa quốc gia khác. Là quốc gia hùng mạnh nhất trong khu vực, Trung Quốc đã tìm cách thi hành các quyền ưu tiên của họ đối với các nước láng giềng yếu hơn mình, bằng cách lý tưởng là chia các nước này ra và đối phó song phương với từng nước. Các quan chức Trung Quốc lên án những nỗ lực của bà Clinton để “quốc tế hóa” vấn đề, cả hai Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao Trung Quốc chỉ trích bà can thiệp vào vụ tranh chấp biển Đông.

Ông Cảnh Nhạn Sinh, Phát ngôn Bộ Quốc phòng cho biết, Bắc Kinh có “chủ quyền không thể tranh cãi” trên biển nhưng sẽ tìm cách giải quyết vấn đề các nước khác đòi chủ quyền và sẽ không phản đối sự đi lại của tàu thuyền nước ngoài qua khu vực, miễn là các tàu bè này tôn trọng luật pháp quốc tế; ông Dương Khiết Trì, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã chỉ trích bà Clinton qua cáo buộc bà cố gắng châm lửa vào các vấn đề căng thẳng này.

Xát muối vào vết thương, ít nhất trong mắt nhiều người Trung Quốc, là kế hoạch của Washington tiến hành tập trận hải quân vòng kế tiếp giữa Mỹ – Nam Hàn ở Hoàng Hải, nằm giữa Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên. Mặc dù giới chức Trung Quốc thừa nhận rằng hầu hết vùng biển Hoàng Hải thuộc vùng biển quốc tế, nhưng họ nhấn mạnh rằng vùng biển này gần các thành phố chính ven biển, gồm Bắc Kinh, và tầm quan trọng của nó là một tuyến đường thương mại hàng hải, làm cho Hoàng Hải là khu vực an ninh nhạy cảm.

Rủi ro hơn, ngày 12 tháng 8, Thiếu tướng Lạc Nguyên đăng một bài bình luận trên Nhật báo Quân đội Giải phóng, ấn bản hàng đầu của PLA, kêu gọi Bắc Kinh trả thù. “Nếu ai đó không làm tổn thương tôi, tôi sẽ không làm tổn thương anh ta, nhưng nếu có ai đó làm tổn thương tôi, tôi phải làm tổn thương anh ta”. Đề đốc Dương Nghị, làm việc tại Trường Đại học Quốc phòng Trung Quốc, sau đó viết một bài bình luận khác đăng trên Nhật báo Quân đội Giải phóng, cảnh báo rằng các cuộc tập trận đã lên kế hoạch Mỹ – Nam Hàn có thể làm suy yếu sự quan tâm của Bắc Kinh trong việc hỗ trợ Washington về vấn đề Bình Nhưỡng. Ông Dương viết: “Một mặt, họ muốn Trung Quốc có vai trò trong các vấn đề an ninh khu vực. Mặt khác, họ tham gia vào việc bao vây Trung Quốc ngày càng chặt chẽ và liên tục thách thức lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Nhưng không phải tất cả các nước quan tâm đến biển Đông đều không hài lòng với sự can thiệp của Hoa Kỳ.

Việt Nam chỉ là nước đòi tất cả các hòn đảo nhỏ, nhưng Brunei, Malaysia, Philippines và Đài Loan khẳng định chủ quyền trên một số đảo ở biển Đông, trong đó bao gồm khoảng 3,5 triệu km vuông biển, gần bờ biển của tất cả các nước này và một vài nước khác. Các chuỗi đảo Trường Sa và Hoàng Sa là những đảo nổi bật nhất, có kích thước nhỏ, ngược với giá trị tiềm năng của nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng được cho là nằm bên dưới vùng nước xung quanh, trên tất cả mọi thứ là dầu khí tự nhiên. Các đảo này cũng có các ngư trường có giá trị và quan trọng nằm ở các tuyến đường vận chuyển thiết yếu bao quanh. Theo Tổng thư ký ASEAN, ông Surin Pitsuwan, hơn 85% nguồn năng lượng vận chuyển qua Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc đi qua biển Đông.

Trong thập niên 90, Trung Quốc tuyên bố toàn bộ biển Ðông là lãnh hải của họ, nhưng ngày 4 tháng 11 năm 2002, để ghi nhận sự quan tâm chung của tất cả các bên trong việc giữ các tuyến đường vận chuyển được an toàn ở châu Á, Trung Quốc và mười thành viên ASEAN đã ký Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông. Các nước ký đã cam kết giải quyết tranh chấp chủ quyền một cách hòa bình, thông qua đàm phán trực tiếp.

Tuy nhiên, tháng 3 năm nay, tất cả mọi chuyện này thay đổi một lần nữa. Trung Quốc tuyên bố biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, mà trong ngôn ngữ ngoại giao bình thường có nghĩa là vấn đề mà Chính phủ Trung Quốc sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để bảo vệ (các nhà lãnh đạo trước đây ở Trung Quốc chỉ áp dụng thuật ngữ đó vào Tây Tạng và Đài Loan).

Phải chăng Trung Quốc có sức mạnh quân sự để trở lại tuyên bố như vậy với việc sử dụng vũ lực nếu cần thiết? Hải quân Trung Quốc chắc chắn đang phát triển, nhưng có khả năng không thể làm như thế nếu Hải quân Hoa Kỳ quyết định can thiệp. Điều đó nói rằng, Hải quân Trung Quốc (PLAN) đã xây dựng một căn cứ khổng lồ ở phía Nam đảo Hải Nam, nơi mà các hạm đội gần vùng biển tranh chấp trên biển Đông hơn.

Quân đội Trung Quốc cũng đã phát triển tên lửa đạn đạo chống tàu (ASBM) mới, tên lửa Đông Phong 21D, rằng PLA muốn trang bị một đầu đạn linh hoạt có thể bắn trúng tàu sân bay hoặc mục tiêu di chuyển khác ở khoảng cách 1.500 km. Quân đội Trung Quốc cho thấy họ tin rằng, chỉ có khả năng như thế sẽ làm cho Hải quân Mỹ chắc chắn ở bên ngoài biển Đông, Đài Loan, hoặc các khu vực tranh chấp khác quanh phạm vi hàng hải của Trung Quốc.

Trong khi đó, các nước ASEAN, đơn giản là không thể hy vọng sẽ cân bằng về mặt quân sự với Trung Quốc một mình, đặc biệt là khi họ thể hiện sự quan tâm rất ít trong việc tổng hợp nguồn lực hạn chế của họ và phát triển một lực lượng quân đội tập thể.

Không như Nam Hàn, Nhật Bản hay Úc, các nước Đông Nam Á thiếu các hiệp ước quốc phòng song phương với Hoa Kỳ, và lập trường của họ thì phức tạp hơn do các mối quan hệ kinh tế cùng có lợi và mở rộng với Bắc Kinh, rằng họ không muốn gây nguy hiểm bằng cách trực tiếp đối đầu với Trung Quốc về việc đòi chủ quyền hàng hải của họ.

Nhưng nỗ lực tránh đối đầu công khai với Bắc Kinh không nên bị nhầm lẫn với việc thiếu hành động – một số quan chức ASEAN đã thúc ép riêng với Washington, để can thiệp vào vấn đề biển Đông nhằm ngăn chặn chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc.

Trong khi đó, Việt Nam hăm hở như bất kỳ nước nào trong khu vực để làm việc với Hoa Kỳ, kẻ thù cũ của mình, nhằm cân bằng với nước khổng lồ Trung Quốc. Và có một lịch sử căng thẳng giữa hai nước. Hải quân Việt Nam đã chiến đấu chống lại Trung Quốc vào giữa thập niên 70 và cuối thập niên 1980 trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Gần đây hơn, các nhà chức trách Trung Quốc đã đơn phương tuyên bố cấm đánh cá trên biển Đông và đã bắt giữ tàu đánh cá Việt Nam trong khu vực, giữ thiết bị của họ, và chỉ phóng thích họ sau khi họ nộp tiền phạt cho Trung Quốc. Các nhà chức trách Trung Quốc cũng đã cảnh cáo các công ty năng lượng phương Tây không được đàm phán các thỏa thuận khoan dầu ngoài khơi với Chính phủ Việt Nam, nếu không, công việc làm ăn của họ ở Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng.

Chống lại việc này, chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà bà Clinton đã đưa ra nhận xét khi ở Hà Nội. Sau đó hải quân Mỹ – Việt Nam tiến hành tập trận chung đã được thấy trong chuyến thăm đầu tiên của một tàu sân bay Mỹ đến cảng Việt Nam kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc cách nay 35 năm, và tàu sân bay USS George Washington cũng tiếp đón phái đoàn quân đội Việt Nam trong khi đi vào vùng biển tranh chấp trên biển Đông, ngoài khơi cảng Đà Nẵng, Việt Nam.

Một lần nữa, có lẽ không có gì ngạc nhiên, quan hệ an ninh ngày càng phát triển giữa Việt Nam và Washington, đã gây ra phản ứng giận dữ với một nhà bình luận Trung Quốc, cảnh báo rằng Hoa Kỳ đang cố gắng xây dựng khối “NATO ở châu Á” để kiềm chế Trung Quốc (*).

Viết trên tờ Nhân dân nhật báo, bà Lý Hồng Mai đã cáo buộc chính quyền Obama về “thử nghiệm một [chính sách] mới quỷ quyệt hơn, nhưng rất nguy hiểm cho chiến lược ngoại giao trong khu vực, nơi [Mỹ] giữ quyền bá chủ trong một thời gian dài, để kiềm chế một cường quốc đang lên … theo chiều hướng từ đối đầu cho tới đối đầu với một nước đang lên, Trung Quốc”. Mặc dù thừa nhận rằng một khối “NATO tồn tại thực tế có thể không có … về mặt tâm lý, Mỹ đã tán tỉnh và ép buộc các nước láng giềng của Trung Quốc để tham gia nhóm của họ”.

Nhưng không phải tất cả các áp lực trong khu vực đều can thiệp – các quan chức Mỹ có lý do riêng của họ trong việc thách thức chủ quyền hàng hải với Bắc Kinh.

Theo một tính toán, một phần ba vận chuyển thương mại trên thế giới đi qua vùng biển mà hiện nay, các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc tuyên bố thuộc về họ. Ngay sau khi nhậm chức, Chính phủ Obama đã nói rõ quyết tâm của mình trong việc thách thức tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại vùng biển quốc tế sau khi tàu và máy bay Trung Quốc đã phát động một chiến dịch phối hợp để sách nhiễu các tàu giám sát hàng hải của Mỹ trên biển Đông. Tình tiết gay cấn nhất xảy ra hồi tháng 3 năm 2009, khi các thủy thủ Trung Quốc đã cố gắng giữ thiết bị phát hiện tàu ngầm (sonar buoy) rằng tàu USNS Impeccable đã được sử dụng để khảo sát căn cứ hải quân mới của Trung Quốc trên đảo Hải Nam và tàu ngầm của Trung Quốc trong khu vực.

Cho nên với sự kết hợp các căng thẳng trong khu vực và lợi ích riêng, sẽ sớm có một cuộc đụng độ quân sự Trung – Mỹ tính toán trước?

Vào thời điểm này, ít nhất có vẻ như rất khó cho các lợi ích kinh tế hai nước và khuynh hướng của Bắc Kinh rõ ràng là phải đợi cho đến lúc, trong khi Trung Quốc, gần đây trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Hoa Kỳ, tiếp tục tăng trưởng hoà bình trên khả năng toàn cầu.

Nhưng khả năng xảy ra một cuộc xung đột quân sự do tính toán sai lầm không thể được loại trừ. Biết được điều này, Washington sẽ làm tốt để cân nhắc, liệu thực sự có đáng để đưa một tàu sân bay vào Hoàng Hải hay không. Động lực thì cao quý, giúp đồng minh Nam Hàn bằng cách làm nổi bật sự hỗ trợ quân sự cho Seoul. Nhưng hành động như thế là liều lĩnh, làm hư hại các nỗ lực để có được sự giúp đỡ của Bắc Kinh đối phó với Bình Nhưỡng. Điều đó nói rằng, vấn đề diễn tập quân sự phải tách rời với tuyên bố của bà Clinton, trong đó ảnh hưởng có lợi qua việc nhấn mạnh sự quan tâm của Washington, về việc phủ nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với toàn bộ biển Đông.

Năm ngoái, Hoa Kỳ cho thấy sự quyết tâm tiếp tục giám sát hàng hải và tự do đi lại trên biển Đông mặc dù gặp phải một số sự chống đối của Trung Quốc, đưa đến kết quả là bị Trung Quốc quấy rối ở đó. Nếu cả hai bên đều có lý, không có lý do vì sao sự bất đồng mới nhất này không được kiểm soát.
——
(*) Bài viết của bà Lý Hồng Mai: “Mỹ xây dựng một phiên bản NATO ở châu Á”, đăng trên tờ Nhân dân nhật báo ngày 12 tháng 8.
Ngọc Thu dịch

Trung Quốc tập trận trên Hoàng Hải để phô trương, nhưng tránh trực diện với Mỹ

Vào đầu tháng 9 này, biển Hoàng Hải nằm giữa Bán đảo Triều Tiên và Trung Quốc sẽ dậy sóng với hai cuộc tập trận song song của Trung Quốc và của liên quân Mỹ – Hàn. Quyết định của Trung Quốc vừa được loan báo hôm nay, 29/08/2010 được xem là một động thái phô trương thanh thế mới của Bắc Kinh nhắm vào Washington. 


Tân Hoa xã hôm nay loan báo: Hạm đội Bắc Hải của Hải quân Nhân dân Trung Quốc sẽ tiến hành tập trận trong vùng biển Hoàng Hải từ ngày mồng 1 đến mồng 4 tháng 9 tới đây. Thông báo cho biết rõ là cuộc tập trận sẽ được tiến hành tại khu vực ngoài khơi bờ biển phía Đông của thành phố Thanh Đảo, nơi đặt trụ sở của Bắc Hải Hạm đội. Phía Trung Quốc còn nhấn mạnh là cuộc diễn tập bao gồm các bài tập bắn đạn thật từ các chiến hạm, nằm trong kế hoạch tập huấn thường lệ hàng năm.

Theo các nhà quan sát, dụng tâm phô trương thanh thế của Trung Quốc nhắm vào Hoa Kỳ trong quyết định tiến hành cuộc tập trận này rất rõ ràng, thể hiện qua địa điểm cũng như thời điểm thao diễn.

Về thời điểm, ngày giờ tâp trận của được Bắc Kinh chọn lựa có thể trùng với cuộc thao diễn hải quân hỗn hợp Mỹ – Hàn với nội dung chống tàu ngầm mà Washington và Seoul dự trù vào đầu tháng 9 nhưng chưa cho biết thời điểm cụ thể. Trung Quốc đã từng cực lực đả kích các cuộc tập trận Mỹ – Hàn, xem đấy là những hành động gây ra tình hình căng thẳng trong khu vực.

Tuy nhiên, theo giới phân tích, dù chỉ trích Mỹ gây ra căng thẳng qua các cuộc tập trận, nhưng bản thân Trung Quốc cũng đã liên tiếp tiến hành các chiến dịch thao diễn quân sự, kể cả tại vùng Biển Đông đang tranh chấp. Cuộc tập trận trên Hoàng Hải lần này nằm trong loạt động thái phô trương sức mạnh đó, và có thể là một hình thức đáp trả lại các cuộc tập trận Mỹ – Hàn.

Thế nhưng, dù phô trương cơ bắp, nhưng Bắc Kinh dường như cũng tránh va chạm trực tiếp với Hoa Kỳ. Dù cuộc tập trận tới đây của Trung Quốc cũng diễn ra trên Hoàng Hải, nhưng địa điểm cụ thể lại nằm ở gần Thanh Đảo, phía Tây Hoàng Hải tức là cách xa khu vực diễn tập dự trù giữa Mỹ và Hàn Quốc, sát cạnh bán đảo Triều Tiên về phía Đông.

Phải nói là dù phô trương thanh thế, nhưng Trung Quốc cũng như Hoa Kỳ đều phải thận trọng để khỏi gây ra sự cố đáng tiếc. Chinh trong khuôn khổ đó mà mới đây, cho dù vẫn duy trì các cuộc tập trận trong Hoàng Hải, Hoa Kỳ cũng đã tỏ thiện chí khi quyết định thôi không đưa hàng không mẫu hạm George Washington vào tham gia như từng tuyên bố trước đó. Khả năng Mỹ đưa tàu sân bay vào Hoàng Hải là một trong những điều bị Bắc Kinh phản đối kịch liệt nhất.

Đối với nhà báo Ngô Nhân Dụng tại California, Hoa Kỳ, thì quyết định có thể nói là lùi một bước của Mỹ trên vấn đề hàng không mẫu hạm George Washington, thực ra là một ngón đòn ngoại giao tinh tế. Trả lời RFI, ông Ngô Nhân Dụng phân tích :

" Hàng không mẫu hạm George Washington là một biểu tượng khá lớn trong trận chiến ngoại giao này. Đây là hàng không mẫu hạm lớn nhất của nước Mỹ, địa bàn hoạt động của nó là cả miền biển ở phía tây Thái Bình Dương, tức là phía Đông của Á châu. Cho nên khi tàu đó dự cuộc thao diễn ở biển Nhật Bản, rồi đi qua eo biển Đài Loan xuống đến Việt Nam, rồi có tiếp một số quan chức quốc phòng Việt Nam, đi lượn quanh cả một số hòn đảo của Hoàng Sa, thì tất cả những việc đó cũng có thể coi là một đòn ngoại giao để chứng tỏ cho tất cả các nước ở phía Đông của Á châu, và đặc biệt cho Trung Quốc biết là sức mạnh hải quân của Mỹ còn rất lớn, và họ có mặt ở khắp cái vùng đó.

Cũng như là khi bà Hillary Clinton tuyên bố rằng vùng Biển Đông của nước ta với các cuộc tranh chấp trên hải đảo đó, thì phải cấm dùng vũ lực. Đó là một cách để cảnh cáo là không thể dùng sức mạnh quân sự của Trung Quốc để bắt nạt các nước nhỏ khác. Sau khi bà nói như vậy thì Trung Quốc đã phản đối một cách mạnh mẽ, coi rằng Mỹ đã xía vô một địa bàn mà Trung Quốc coi như ao nhà của họ, tức là cái biển mà họ gọi là biển Nam Hải.

Cuộc chiến ngoại giao đó đi đến tình trạng có thể nói là càng ngày càng căng thẳng. Cho nên bây giờ nếu Mỹ tiếp tục cuộc thao diễn ở Hoàng Hải, thì để chứng tỏ rằng Mỹ vẫn cứng, nhưng mà họ không gây hấn, khiêu khích. Cho nên Mỹ tiến một bước lớn là tiếp tục thao diễn ở Hoàng Hải, nhưng lùi một bước nhỏ là sẽ không đưa hàng không mẫu hạm George Washington vào trong vùng Hoàng Hải đó nữa.

Có thể là từ trước đến nay họ nói về cuộc thao diễn này mà không nói cụ thể có hàng không mẫu hạm đó hay không. Bây giờ thì họ xác định là không có. Một lý do khiến cho chiếc tàu đó trở thành một điểm gọi là rất nhạy cảm, là vì chiếc tàu này rất mạnh. Một chiếc máy bay F18 ở trên tàu đó có thể bay tới Bắc Kinh rồi bay trở về một cách nhẹ nhàng. Thành ra sự có mặt của tàu đó có tính cách như là biểu diễn một vũ khí tấn công nhiều hơn là một vũ khí dùng trong chiến lược phòng thủ. Bởi vì Mỹ vẫn nói rằng họ chỉ muốn sử dụng lực lượng hải quân của họ để bảo vệ an ninh cho những nước đồng minh như Đài Loan, Nam Hàn, Nhật Bản, chứ không phải là để tấn công ai hết. Bây giờ nếu đưa chiếc George Washington vào Hoàng Hải, với khả năng tàu đó có trên 80 máy bay, có 5 tầng chứa máy bay, 4 thang máy đưa máy bay lên xuống để sẵn sàng cất cánh, và những máy bay F18 có khả năng bay đến tận Bắc Kinh, thì đó có lẽ là một điểm rất nhạy cảm. Nếu đưa chiếc tàu đó tới Hoàng Hải, tức là sát bên cạnh Trung Quốc thì nó có tính khiêu chiến mạnh mẽ.

Cho nên việc thao diễn vẫn diễn ra, Mỹ vẫn nhượng bộ một bước là trong cuộc thao diễn không có chiếc mẫu hạm. Nhưng một sự thật là chiếc mẫu hạm đó có vào cuộc thao diễn hay nó đứng bên ngoài, thì tình trạng không thay đổi bao nhiêu. Vì khả năng của một chiếc hàng không mẫu hạm, những máy bay của nó có thể đi rất xa, không cần phải đến gần mới có thể tấn công được".

Nguồn: RFI

Thường vụ Quốc hội nghe về Biển Đông

Thường vụ Quốc hội Việt Nam họp phiên thứ 33 kéo dài một tuần, nội dung có phần quan trọng là nghe báo cáo về tình hình Biển Đông.

 Tình hình Biển Đông được cho là nội dung quan trọng trong phiên họp

Phiên họp 33 của Ủy banThường vụ Quốc hội khai mạc sáng thứ Sáu 20/08 và kéo dài tới 26/08.

Ngày 25/08, ủy ban sẽ nghe Bộ Quốc phòng và Bộ Công an báo cáo về tình hình Biển Đông và tình hình an ninh, trật tự trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI để các ủy viên thảo luận đóng góp ý kiến.

Chủ đề Biển Đông đã thu hút quan tâm đặc biệt của dư luận trong nước thời gian gần đây và đã được đề cập tới trong các kỳ họp Quốc hội.

Dự toán ngân sách nhà nước năm 2010 đã được Quốc hội Việt Nam thông qua tăng thêm số tiền chi cho Chương trình Biển Đông và hải đảo 38 tỷ đồng.

Nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực đẩy mạnh tuyên truyền về chủ quyền biển, nhất là trong bối cảnh tăng căng thẳng tại Biển Đông.

Các chủ đề khác

Lần họp này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng sẽ cho ý kiến về việc giải thể các cơ quan điều tra hình sự, cơ quan an ninh điều tra thuộc Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; đổi tên cơ quan điều tra hình sự Khu vực 1, Cơ quan điều tra hình sự Khu vực 2 Tổng cục Hậu cần; thành lập Cơ quan điều tra hình sự Binh đoàn 11, Cơ quan an ninh điều tra khối quân đoàn, binh chủng, tổng cục thuộc Cục Bảo vệ an ninh Bộ Quốc phòng.

Các ủy viên sẽ đóng góp ý kiến về Dự án Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Một số dự án luật mới cũng sẽ được xem xét là dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm; Luật Khiếu nại; Luật Phòng, chống mua bán người; Luật Đo lường...

Đáng chú ý, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ đánh giá việc thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường.

Hiện nay, cả nước có 67 huyện, 32 quận và 483 phường của bảy tỉnh và ba thành phố đã thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND từ ngày 01/04/2009.

(Theo BBC Tiếng Việt)

Tàu ngầm TQ cắm cờ ở đáy Biển Đông

Ngay sau khi Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, ông Nguyễn Chí Vịnh, kết thúc chuyến thăm Bắc Kinh, Trung Quốc công bố tàu ngầm của họ cắm thành công quốc kỳ ở đáy Biển Đông.

 Trung Quốc có vẻ thị uy bằng quân sự để khẳng định chủ quyền ở Biển Đông

Hôm thứ Năm 26/8, chính quyền Trung Quốc tuyên bố một tàu ngầm nhỏ, có người điều khiển của họ đã "cắm lá quốc kỳ dưới đáy biển Nam Hải", tức Biển Đông theo cách gọi của Việt Nam.

Hãng Reuters cùng ngày trích nguồn Trung Quốc nói đây là vùng biển "Trung Quốc va chạm với Hoa Kỳ và các nước Đông Nam Á vì lý do tranh chấp lãnh thổ".

Mới công bố


Chiếc tàu ngầm Trung Quốc được nói đã hoạt động từ tháng 5 đến tháng 7 tại vùng biển này, và thực hiện cả thẩy 17 lần lặn xuống độ sâu có lúc tới 3759 mét.

Tin tức tại Trung Quốc trích lời của Bộ Khoa học, Công nghệ và Cơ quan Hải dương học nước này về chi tiết các chuyến thám hiểm đáy biển của con tàu nọ.

Nhưng theo các hãng tin nước ngoài, phía Trung Quốc không nói rõ vị trí cắm cờ của tàu ở đâu và nó có vào vùng biển tranh chấp hay không.

Bản tin của Reuters cũng chú ý đến việc "vì sao lời công bố lại được giữ kín cho đến nay".

Các bản tin đều nói đây là lần đầu tiên tàu ngầm của Trung Quốc thành công trong việc xuống độ sâu đó.

Báo chí bên ngoài cũng đặt câu chuyện "cắm cờ đáy biển" của Trung Quốc vào bối cảnh Ngoại trưởng Hillary Clinton gần đây phát biểu cứng rắn tại Hà Nội, cảnh báo việc Trung Quốc có chính sách riêng với vùng biển Đông Nam Á.

Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh vừa kết thúc chuyến đi bốn ngày (22/08-25/08) tới Bắc Kinh.

Báo chí Việt Nam cho hay chuyến đi này nhằm chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), dự kiến tổ chức tại Hà Nội vào ngày 12/10 tới, nhưng cũng có quan sát viên nói là nhằm thuyết phục Trung Quốc tham gia hội nghị.

Hầu hết Bộ trưởng Quốc phòng của tám quốc gia được mời cùng Asean nhóm họp đã nhận lời tới Hà Nội tham dự hội nghị ADMM+ lần thứ nhất, được cho là sáng kiến của Việt Nam.

Hãng tin Tân Hoa Xã của Trung Quốc chưa xác nhận liệu Bộ trưởng Lương Quang Liệt có tới Hà Nội hay không.

Tuy nhiên bản tin của Tân Hoa Xã ngày 25/8 nói rằng hai bên "đang chuẩn bị cho cuộc đối thoại chiến lược về quân sự lần thứ tư, dự kiến tổ chức vào cuối năm nay".

Phản ứng về phát biểu của Đô đốc Willard

Tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc vừa có bình luận về phát biểu của Đô đốc Mỹ Robert Willard hôm 18/08 tạ̣i Philippines.


Đô đốc Robert Willard họp báo ở Manila

Trên trang 3 của số báo ra ngày 20/08, Nhân dân Nhật báo đăng bài của tác giả Su Hao với tựa đề 'Liệu có thể giữ an ninh tại Biển Đông bằng cách gây rắc rối hay không?'

Bài báo nói nhận định của ông Williard, chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương, rằng thái độ của Trung Quốc đang gây quan ngại cho các nước láng giềng, là "chuyện vớ vẩn".

"Cáo buộc của Robert Williard về Trung Quốc cũng như nhận định của ông ta về tình hình Biển Đông là không có cơ sở".

Tác giả Su Hao nói trong 10 năm qua lòng tin giữa các quốc gia trong khu vực đã được tăng cường và Chính phủ Trung Quốc luôn ủng hộ đối thoại và hợp tác an ninh với các nước xung quanh trên cơ sở hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.

Nhân dân Nhật báo đưa ra nhiều dẫn chứng cho nhận định rằng sự hợp tác tại Biển Đông đang phát triển thuận lợi, tình hình tại đây hòa bình, ổn định và phát triển tốt.

"Trong bối cảnh như vậy, cái gọi là 'tình hình căng thẳng' ở Biển Đông rõ ràng là luận điệu xuyên tạc nhằm tạo điều kiện để đạt mục tiêu riêng."

Bài báo nói việc các nước lớn bên ngoài khu vực tham gia vào Biển Đông đã gây ra không khí căng thẳng mới.

"Biển Đông đang là biển của hòa bình và ổn định, biển của hơp tác và trao đổi, nhằm thúc đẩy phát triển chung."

Tác giả Su Hao kết luận rằng môi trường an ninh và ổn định tại khu vực Biển Đông sẽ không thay đổi chỉ vì mong muốn ác ý của một người nào đó.

'Chơi với lửa'

Cũng tờ Nhân dân Nhật báo hôm 17/08 có bài nhận định của biên tập viên kỳ cựu Li Hongmei khuyên "Việt Nam không nên đùa với lửa".

Tuy tờ báo này viết đây chỉ là ý kiến riêng của tác giả, chứ không phải của báo, việc bài của bà Li được đăng trên báo Đảng cho thấy tầm quan trọng của quan điểm mà gần đây nhiều nhà quan sát và học giả Trung Quốc cùng chia sẻ.

Bà Li nói trong khi quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ đang trải qua một giai đoạn khó khăn mới, các quyết định thiếu khôn ngoan của Việt Nam sẽ chỉ làm căng thằng gia tăng.

"Có lẽ Việt Nam cần nhận thức rằng bị kẹt giữa hai cường quốc là một trò chơi nguy hiểm... Nếu cứ tiếp tục khích động các nước lớn đối chọi nhau thì không ai khác ngoài Việt Nam sẽ phải hối hận trước."

Tham mưu trưởng lục quân Philippines Ricardo David (phải) tiếp Đô đốc Willard tại cuộc họp quốc phòng ở Manila

Bình luận viên Li Hongmei nói giới quan sát quốc tế đang có chung quan điểm rằng Việt Nam đang cố hết sức để quốc tế hóa và đa phương hóa tranh chấp Trung-Việt tại Biển Đông, và muốn Mỹ giúp đối trọng lại ảnh hưởng của Trung Quốc.

"Nếu Việt Nam lo ngại về hậu quả và quan tâm tới sự bất bình ngày càng lớn của Trung Quốc trước các hoạt động gần đây của Việt Nam, thì cần có hướng đi khác để giảm bớt sự hằn học vô lý đối với Trung Quốc hoặc ít nhất không làm trầm trọng thêm đối đầu Trung-Mỹ vì những điều này sẽ có ảnh hưởng lớn tới chính sách của Trung Quốc về Việt Nam trong tương lai."

Bà Li gợi lại rằng dưới sự lãnh đạo của ông Hồ Chí Minh, quan hệ Việt-Trung như là anh em và ngày nay, nếu như không thể quay lại được tình cảm cũ thì ít nhất Việt Nam cũng nên phản ứng một cách tích cực trước chính sách làm láng giềng tốt của Trung Quốc.

Theo bình luận viên này, "hành động của Việt Nam lúc này là rất ích kỷ, chỉ biết đến mình... và đồng thời quá đề cao chiếc ô dù bảo trợ của Chú Sam."

"Việt Nam nên từ bỏ ảo tưởng rằng nếu có bảo trợ của hải quân Mỹ thì muốn làm gì ở Biển Đông cũng được. Giả sử Trung Quốc và Việt Nam có xung đột vũ trang, thì không hàng không mẫu hạm của bất cứ quốc gia nào có thể bảo đảm an toàn cho Việt Nam."

Tuy nhiên bà Li cũng khuyến cáo Bắc Kinh không cần quá bận tâm về điều mà bà gọi là "nhỏ nhặt" này.

"Phản ứng tốt nhất của Trung Quốc là tăng nỗ lực giành ảnh hưởng và vị thế ở Đông Nam Á."

(Theo BBC Tiếng Việt)

26/8/10

Con “rồng” Trung Quốc có đủ mạnh để hung hăng?

Hà Nội - 26/8/2010


Trong những ngày gần đây, báo chí và giới truyền thông TQ đã đăng những lời lẽ thật cay cú nhắm tới quan điểm của Hoa Kỳ trong vấn đề giải quyết tranh chấp lãnh hải và quyền lợi ở Biển Đông. Và TQ hung hăng hăm dọa, có lúc dẫn dụ răn đe Việt Nam, có lúc trịch thượng bài xích quan hệ đối tác giữa VN-HK. Có Phải TQ đã thực sự đủ mạnh về kinh tế và quân sự để có thể trấn áp được Hoa Kỳ? TQ được gì và đánh mất gì với thái độ hung hăng và kiêu ngạo của họ? Thử nhìn sâu hơn vào những vấn đề sau đây:

Hôm nay, nền kinh tế TQ với GDP của quý II đã vuợt qua Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Điều này có thật sự nói lên rằng TQ là một nước mà người dân đã giàu có? Chắc chắn là không, vì với 1.3 tỷ người, bình quân thu nhập (per capita) $3600 đô la trên đầu người ngang tầm với những quốc gia còn chậm phát triển như Algeria, El Salvador và Albania…

TQ hiện nay chỉ là một công xưởng khổng lồ của thế giới và lĩnh vực kỷ thuật và công nghệ cao còn phụ thuộc rất nhiều vào sự đầu tư của các nuớc Nhật Bản, Nam Hàn và Tây phương. Một điều trớ trêu, lúc nào TQ cũng nêu lên rằng: Ngày nay, TQ là chủ nợ và HK là con nợ, nhưng chủ nợ TQ lại gom góp tiền thặng dư đầu tư vào thị truờng tài chính của con nợ HK, và lúc nào cũng nơm nớp sợ Hoa Kỳ và Châu Âu giảm chi tiêu. Đó chính là cái ràng buộc khắc nghiệt cho sức mạnh của nền kinh tế TQ, mà TQ cần phải nhận thức rõ về vị thế thực sự của họ trong cái thế hỗ tương để mưu cầu thịnh vượng chung của cộng đồng thế giới ngày nay.

Sự phát triển và thành công liên tục trong 30 năm của kinh tế TQ là đáng tự hào và ủng hộ. Chỉ có điều, Chính phủ TQ đã đánh bóng quá mức về thành tựu kinh tế nhằm tạo ra tâm lý “thần thánh cho chế độ”: chỉ có (ta) TQ là trên hết. Thật ra, sự trỗi dậy của kinh tế TQ không có gì độc đáo trong lịch sử nhân loại. HK có nhiều giai đoạn phát triển rực rỡ, Nhật Bản phát triển liên tục từ năm 1955 tới 1985 để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai của thế giới. Bởi vì, TQ tạo ra một nhìn nhận sai lầm dẫn đến thái độ kiêu ngạo thái quá, theo nhận xét của Diệp Hải Lâm, (chuyên gia quan hệ quốc tế tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc): Cái tâm lý "TQ là trên hết, và những gì TQ làm ngày nay thì không ai có quyền phản đối và chỉ trích" mà hậu quả là nguời TQ đã dần dần đánh mất sự tin tuởng và thiện cảm của cộng đồng thế giới.

Một quốc gia giàu có, càng có trách nhiệm tiếp tay với cộng đồng thế giới để giải quyết vấn đề an ninh, hiểm họa do thiên tai, và thịnh vuợng chung của nhân loại. Ấy thế mà, TQ đã tỏ thái độ thiếu thiện chí, tự cho mình có quyền đứng ra ngoài và không hợp tác tại Hội nghị khí hậu ở Copenhagen hồi cuối năm ngoái. TQ đã không tỏ rõ lập trường cứng rắn phê phán hành động hiếu chiến, gây hấn của Bắc Hàn đánh chìm tàu Cheonan của Nam Hàn gần đây, trong khi cả thế giới lên tiếng phản đối. Hơn nưã, TQ ngày càng lộ liễu chính sách bá quyền, bành trướng lãnh thổ ngang ngược ở Biển Đông, và TQ đang tạo ra tiền đề xung đột lãnh thổ với Ấn Độ. Trong tương lai, nếu TQ không thay đổi cách hành xử như hiện nay và nhìn nhận đúng vị trí của mình trên thế giới, TQ sẽ bị cô lập và đánh mất đi vị thế chiến lược đang lên của họ trên bình diện quốc tế.

TQ, một quốc gia còn quá nhiều bất ổn nội tại thì làm sao đủ sức để ra tay "bình thiên hạ". Vấn đề xung đột sắc tộc ở Tây Tạng, Hồi giáo Tân cuơng, và Nội Mông lúc nào cũng chực có cơ hội để bùng nổ. Sự phát triển kinh tế trong chế độ tập quyền, độc đoán của Chính phủ TQ dẫn đến sự phân hóa sâu sắc quyền lợi giữa nông thôn và thành thị. Sự chênh lệch tới tột đỉnh giữa tầng lớp giàu có và đại bộ phận nghèo khó tạo ra những mâu thuẫn ngày càng gay gắt trong xã hội. Một chính sách kinh tế gấp rút và sự phát triển ồ ạt đã tàn phá hủy hoại môi truờng tàn khốc trên diện rộng là cái giá đắt đỏ TQ phải trả trong tuơng lai. Một nền kinh tế thị trường phát triển đòi hỏi một trật tự mới của xã hội tương xứng và một nền chính trị dân chủ tiến bộ phù hợp nảy sinh chính là nỗi lo sợ của giới cầm quyền cộng sản TQ hiện nay. Chừng đó nguyên nhân cũng đủ kìm hãm TQ trong một thời gian dài trước khi trở thành một trong những siêu cường của thế giới. [Đánh giá của nguời viết dựa trên National Geographic, Special issue; May 2008 “CHINA-Inside the Dragon”]

Một điều kiện thiết yếu để có thể trở thành siêu cường thế giới là có thể phát huy sức mạnh của quyền lực mềm. TQ không có thực tâm và chính nghĩa trong chiến lược phát triển quyền lực mềm trên thế giới đi đôi với phát triển kinh tế. Để thỏa mãn cho nhu cầu nguyên liệu khổng lồ, TQ đang ra sức tận thu và vơ vét tài nguyên khắp thế giới, nhất là những quốc gia giàu tài nguyên ở châu Phi và châu Á còn lạc hậu. Mặc dầu TQ có giúp đỡ về tài chánh, góp phần phát triển cải thiện về cơ sở hạ tầng, đưa văn hóa TQ tới vài xứ sở ở châu Phi và ở châu Á, nhưng điều tai hại là TQ lại lũng đoạn và nuôi dưỡng các chính thể độc tài ở những nước mình chìa bàn tay ra “giúp đỡ” (Miến Điện, Sudan, Dafur, Congo, Zimbawe….) để hòng khai thác tài nguyên một cách dễ dàng và có lợi hơn cho họ. Kết quả, việc làm của Trung Quốc đâu có đem lại sự công bằng ấm no thật sự cho người dân bản xứ, mà chỉ càng làm cho những mâu thuẫn xung đột giữa nguời dân và chính quyền nước họ ngày càng gay gắt hơn. Có thể nói đường lối khai thác khoáng sản của TQ ở các quốc gia nghèo trên thế giới không khác mấy chủ nghĩa tư bản lạc hậu ở thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Một thực tế nữa, TQ phải nhận rõ rằng: Ngày nay tiếng Anh và văn hóa Âu Mỹ chinh phục thế giới, giá trị nhân quyền, dân chủ, tự do và nền kỹ thuật tiên tiến mà HK tiên phong là những giá trị mà các nước ở châu phi và châu Á và ngay cả bản thân TQ vẫn nhắm tới. Đó là sức mạnh mà TQ vẫn chưa có thể có đuợc trong thế kỷ XXI này.

Hãy nhìn lại, sức mạnh nào đã giúp cho HK, từng một thời bị gọi là "sen đầm" của chủ nghĩa đế quốc, thực tế đã đứng ra thống lĩnh thế giới xuyên suốt gần tám thập niên. Không phải là sự giàu có của HK mà chính là quyền lực mềm có được từ một đường lối chính trị đúng đắn. Đó là HK chủ trương phát huy nền chính trị dân chủ, và một thế giới cạnh tranh tự do vì hòa bình thịnh vượng cho tất cả dân tộc trên thế giới.

Sau Chiến tranh thế giới thứ II, với sức mạnh vô địch về quân sự và một nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới, HK đã không dùng sức mạnh đó để tranh giành chiếm đoạt lãnh thổ làm thuộc địa như đế quốc Tây Ban Nha, Pháp, Anh đã từng làm. HK chọn cho mình vị trí tiên phong để giúp đỡ, liên kết, vực dậy sức sống cộng đồng Tây Âu sau chiến tranh, tạo đồng minh chiến lược nhằm đưa một phần thế giới tới sự phồn vinh, dân chủ tiến bộ. Kết quả, có lẽ không gì ngoạn mục hơn là sự tăng trưởng năng động mọi mặt của bên này đã phơi ra sự suy thoái về kinh tế, tình trạng quan liêu, tham nhũng và rạn nứt về liên minh ý thức hệ của bên kia để dẫn đến sự sụp đổ của bức tường Bá Linh, sự tan rã của khối CS Đông Âu và Liên Bang Xô Viết, đem đến một nền an ninh và hạnh phúc lớn hơn cho nhân loại. TQ cũng cần phaỉ nhìn nhận sự thật rằng: Sự phát triển kinh tế ngày nay của TQ cũng không ngoài sự giúp đỡ hợp tác kinh tế bắt đầu vào thập niên 70 của HK với TQ cho đến nay.

Ngày nay, sức mạnh của Hoa Kỳ không phải ở cái ưu thế về quân sự của 11 hàng không mẫu hạm nguyên tử (mà TQ có lối gọi là những con "vệ khuyển" của HK), và hàng chục tàu ngầm mang đầu đạn hạt nhân nằm khắp năm châu, hoặc những căn cứ quân sự nằm rải rác khắp Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương mà chủ yếu là sức mạnh của uy tín, là sự đoàn kết và tín nhiệm của không ít quốc gia có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn đứng đằng sau HK để cùng nhau bảo vệ và giử gìn trật tự của thế giới mà HK là quốc gia tiên phong. Tờ Nhật báo Quân đội giải phóng, tờ báo quân đội hàng đầu của TQ, ngày 15/8/10 đã phải nhận định rằng: “Lịch sử và thực tế một lần nữa cho thấy một đất nước không có tầm nhìn bao quát về thế giới là một đất nước đi thụt lùi. Một quân đội thiếu một viễn kiến toàn cầu là một quân đội vô vọng. Hoa Kỳ là một mẫu mực hay để học hỏi về hai phương diện nói trên”. Bài báo nói thêm: "Lề lối suy nghĩ của quân đội Trung Quốc đang lỗi thời và nên học hỏi từ những nước khác, đặc biệt là Hoa Kỳ".

Một sự thật cay đắng mà người TQ nói riêng và người châu Á nói chung phải hiểu, là thế kỷ XXI này vẩn chưa phải là thế kỷ của nguời châu Á. Đơn cử một ví dụ hơi xa xôi một chút: Lãnh thổ nước Nga phần lớn là nằm ở châu Á, nhưng người Nga là người Âu châu "da trắng" với văn hóa của Âu châu, cái bắt tay của họ đến thế giới Âu Mỹ vẫn dễ dàng hơn là chìa tay tới phương Đông. Ấn Độ là một quốc gia có nền văn minh lâu đời như TQ, có nền kinh tế, tiềm lực quân sự và dân số không thua TQ nhiều, nhưng cách hành xử của Ấn Độ khác hẳn TQ. Chính sách ngoại giao của Ấn Độ "biết người biết ta" không ngạo mạn, hợp tác với thế giới về an ninh để cùng phát triển kinh tế trong hòa bình, và tranh thủ sự ủng hộ của thế giới cho sức mạnh tiềm năng nguyên tử [Hợp tác nguyên tử giữa HK-Ấn Độ đã được ký kết hồi tháng 7 năm 2005]

Tóm lại, qua 30 năm phát triển kinh tế dưới sự lãnh đạo của Chính phủ cộng sản TQ, vì củng cố quyền lực, nước này đã tạo ra một con “rồng” mới đủ mạnh nhưng đầy kiêu căng, ngạo mạn và hung hăng (không phải những học giả, những nhà chính khách và chính trị gia lỗi lạc của TQ không biết điều đó, nhưng khó cưỡng lại). Có lẽ trong một thời gian không lâu thế giới sẽ có vài “liều thuốc đắng dã tật” để giúp con “rồng đầy tật xấu” này trở lại con rồng Mushu thân thiện, hiền hòa, khôi hài nhưng không thiếu sự thông thái (như trong phim hoạt hình Mulan, phim dựng theo câu truyện dân gian Hoa Mộc Lan của TQ thời xưa của Đạo diễn nổi tiếng Tony Bancroft) mà thế giới yêu thích.

KS Nghĩa Nguyễn
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...