Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

29/2/12

Nga sắp giao tàu tuần tra cho Việt Nam

Hồng Nga
Vladivostok, Liên bang Nga

(BBC Tiếng Việt) Một số nguồn khả tín cho BBC hay hai tàu tuần tra cao tốc lớp Projekt 10412 Svetlyak sẽ được chuyển tới Việt Nam cuối mùa xuân năm nay.
Các tàu Svetlyak được trang bị pháo sẽ tăng cường khả năng tuần tra và phòng thủ biển

Hiện hai tàu này đã qua chạy thử tại nhà máy đóng tàu Vostochnaya Verf ở thành phố Vladivostok và sẽ được bàn giao trong nay mai.

BBC cũng có trong tay các bức hình độc quyền chụp hai chiếc tàu đóng cho Việt Nam vào hồi tháng 11/2011 khi chúng gần hoàn tất. Được biết các tàu này mang số hiệu của nhà máy là 420 và 421.

Thời điểm chuyển tới Việt Nam được nói là cuối mùa xuân, có thể vào tháng Năm.

Hai tàu này giống hệt hai chiếc trước đã được nhà máy đóng tàu Almaz ở thành phố Saint Petersburg ký kết bàn giao cho Việt Nam vào tháng 10/2011.

Năm 2002, Nga đã chuyển cho Việt Nam hai chiếc tàu tuần tra lớp Svetlyak khác, phiên bản Projekt 10410, mà Việt Nam đặt số hiệu là HQ-261 và HQ-263.

Như vậy sau khi nhận hai chiếc Projekt 10412 trong thời gian tới, Việt Nam sẽ có trong tay tổng cộng sáu chiếc tàu tuần tra biên phòng cao tốc lớp Svetlyak.

Các tàu tuần tra, bên cạnh các hệ thống hỏa tiễn phòng thủ giao hàng từ năm ngoái, được cho sẽ tăng cường đáng kể khả năng tuần tra và phòng thủ biển của Việt Nam.

Các tàu sản xuất tại hai nhà máy Almaz và Vostochnaya Verf được thực hiện theo hợp đồng ký từ nhiều năm trước thông qua tập đoàn xuất nhập khẩu vũ khí nhà nước Nga Rosoboronexport.
Tăng cường pháo lực

Chiến hạm Svetlyak Projekt 10412 được đóng dựa trên cơ sở tàu tuần tra biên phòng Projekt 10410 do Viện TsMKB Almaz thiết kế cho các đơn vị hải quân biên phòng của Ủy ban An ninh Nhà nước Liên Xô (KGB) vào cuối thập niên 1980.

Các tàu này không có thiết bị chống tàu ngầm, nhưng được trang bị các ụ pháo АК-176M, 8 tên lửa chống hạm và 16 tên lửa phòng không.

Tàu có trọng tải 364 tấn, hoạt động với hệ thống thủy lực gồm ba động cơ diesel tự động, tốc độ tối đa 35 hải lý/giờ.

Hiện Việt Nam đã có bốn tàu tuần tra Svetlyak

Giới chuyên gia cho rằng mỗi chiếc thuộc lớp Projekt 10412 có trị giá khoảng 50 triệu đôla.

Hải quân Việt Nam tới nay sở hữu 2 tàu hộ tống Gepard 3.9, 2 tàu tuần tiễu loại nhẹ BPS – 500, 5 chiếc lớp Petya-III, 4 tàu hỏa tiễn lớp Tarantul I và tàu chiến siêu tốc Molnya có trang bị tên lửa siêu âm chống hạm và tên lửa phòng không tầm ngắn.

Quân đội Việt Nam cũng đã đặt sáu tàu ngầm hạng Kilo từ Nga, đồng thời có kế hoạch mua thêm hai hộ tống hạm Gepard khác.

Ngân sách Quốc phòng Việt Nam năm 2011 được nói vào khoảng 2,6 tỷ đôla.

Có thể nói Nga đóng vai trò chủ lực trong quá trình hiện đại hóa hải quân Việt Nam, tuy gần đây Việt Nam cũng muốn mở rộng hợp tác mua bán vũ khí ra các quốc gia vốn "không truyền thống" khác.

Việt Nam cũng đang hy vọng sẽ tự sản xuất tàu chiến ở trong nước theo bản quyền của nước ngoài. Năm ngoái, một nhà máy ở trong nước loan báo đã lần đầu tiên đóng mới thành công tàu pháo có vũ khí điều khiển tự động.

REUTER:Philippines quyết liệt, biển Đông sẽ nóng trở lại trong tháng 3

(GDVN) - Một số quốc gia vừa đẩy mạnh tìm kiếm nguồn cung cấp năng lượng vừa xây dựng lực lượng hải quân và liên minh với các quốc gia khác.

Trung tướng Philippine Juancho Sabban nhận được một cú điện thoại khẩn cấp từ một công ty dầu cho hay, hai tàu của Trung Quốc đã dọa đâm tàu khảo sát của họ. Đáp lại, viên chỉ huy quân sự chỉ đưa ra một thông điệp ngắn gọn nhưng rõ ràng: “Đừng di chuyển, chúng tôi sẽ đến giải cứu”.


Trong vòng vài giờ sau, một chiếc máy bay giám sát, một tàu tuần tra và một máy bay chiến đấu của Philippines đã đến khu vực tranh chấp Reed Bank trên Biển Đông. Khi đó, các tàu Trung Quốc buộc phải rời đi và từ bỏ ý định đuổi theo con tàu khảo sát Veritas Voyager.

Tranh chấp trên biển Đông sẽ tiếp tục nóng trong thời gian tới.?

Sự kiện hồi tháng 3 năm 2011 được coi là một bước ngoặt đối với chính quyền của ông Benigno Aquino. Vị Tổng thống Philippines này đã đưa ra lập trường cứng rắn của mình về chủ quyền, tìm kiếm mối quan hệ gần gũi hơn với Washington và đẩy nhanh những nỗ lực hiện đại hóa quân sự.

Một thập kỷ căng thẳng về vấn đề Biển Đông đang bước vào một chương mới đầy tranh cãi, khi một số quốc gia đẩy mạnh tìm kiếm nguồn cung cấp năng lượng trên vùng biển tranh chấp, mặt khác xây dựng lực lượng hải quân của họ và liên minh quân sự với quốc gia khác, đặc biệt là Mỹ.

Trong vài ngày tới, Tổng thống Philippines Benigno Aquino sẽ tổ chức một cuộc họp nội các khẩn cấp, nộp đơn phản đối chính thức với Trung Quốc và gửi thư ký quốc phòng của ông và Tổng tư lệnh lực lượng vũ trang tới Bộ tư lệnh phương Tây tham gia một buổi trình diễn sức mạnh.

Bên cạnh đó, Diễn đàn Năng lượng dự kiến sẽ khai mạc trong những tháng tới. Các giám đốc điều hành những công ty hàng đầu cho biết, họ dự định đến Reed Bank trong vòng vài tháng tới đây nhằm tiến hành khoan dầu và khí tự nhiên lần đầu tiên ở khu vực này trong nhiều thập kỷ qua.

Đây là một sự kiện có thể châm ngòi cho một khó khăn quân sự mới đối với chính quyền ông Aquino nếu Trung Quốc phản ứng mạnh hơn.

Các công ty hàng đầu dự định đến Reed Bank trong vòng vài tháng tới nhằm tiến hành khoan dầu và khí tự nhiên.

Quân đội Mỹ cũng đã báo hiệu sự trở lại khu vực với các cuộc tập trận quân sự gần Reed Bank với hải quân Philippines dự kiến diễn ra vào tháng 3, bất chấp việc Trung Quốc xem các hoạt động này là sự khiêu khích.

Ông Ian Storey, một nghiên cứu sinh tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á Singapore cho rằng, “đây sẽ là một phép thử vị trí của Trung Quốc trong vấn đề biển Đông”.

Theo ông, nước này có thể áp dụng chiến thuật tương tự như năm ngoái và quấy rối các tàu hoặc thậm chí, có thể phản ứng mạnh mẽ hơn và điều tàu chiến đến”.

Các nhà phân tích cho rằng, Reed Bank là một trong những điểm nóng trong tranh chấp lãnh hải ở biển Đông và nó có thể buộc Washington phải can thiệp để bảo vệ các đồng minh của mình.

Tổng thống Barack Obama đã tìm cách trấn an các đồng minh khu vực mà Washington sẽ coi như là một đối trọng với Trung Quốc mới quyết đoán. Đây cũng là một phần trong chiến dịch của ông nhằm "chuyển" hướng chính sách đối ngoại của Mỹ tập trung vào châu Á sau một thập kỷ chiến tranh ở Iraq và Afghanistan.

USS Independence LCS2

Ông Obama đã đưa ra vấn đề Biển Đông trong một hội nghị thượng đỉnh châu Á-Thái Bình Dương tại Bali cuối tháng 11 năm ngoái mặc dù Bắc Kinh đã yêu cầu không quốc tế hóa vấn đề tranh chấp trên Biển Đông.

Stephanie Kleine-Ahlbrandt, Giám đốc dự án Đông Bắc Á thuộc nhóm nghiên cứu Khủng hoảng quốc tế bình luận: "Khi một số các quốc gia ở châu Á ủng hộ Mỹ để nhận được hỗ trợ, Bắc Kinh ngày càng lo ngại rằng nước Mỹ muốn cô lập Trung Quốc cả về quân sự và ngoại giao".

Mỹ và Philippines dự kiến sẽ tiến hành tập trận ở vùng biển ngoài khơi đảo Palawan vào cuối tháng 3 với mục tiêu tập trung vào việc làm thế nào để đối phó với các rắc rối phát sinh trong quá trình tiếp quản giàn khoan dầu trong vùng biển này.

Hải quân Mỹ đã công bố sẽ điều tàu tác chiến ven bờ USS Independence LCS2 - loại tàu tối tân nhất của hải quân nước này tới "ngã ba đường hàng hải" khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đóng tại Singapore và có thể ở Philippines.

Ngọc Huyền (Theo Reuters)

VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG VÀ QUAN HỆ VIỆT-TRUNG

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ hai, ngày 27/2/2012
TTXVN (Bắc Kinh 23/2)


Mạng Tân Hoa dưới sự chủ quản của Tân Hoa xã lưu hành bài viết của tác giả Lăng Đức Quyền, nguyên Trưởng phân xã Tân Hoa xã tại Hà Nội, hiện là nghiên cứu viên thuộc Trung tâm nghiên cứu vấn đề quốc tế của Tân Hoa xã, về những vấn đề liên quan đến tình hình tranh chấp ở Biển Đông hiện đang được các giới quan tâm rộng rãi như: tranh chấp đã phát sinh thế nào, chính sách, chủ trương của Trung Quốc và triển vọng quan hệ Trung Quốc-ASEAN cũng như quan hệ Trung Quốc-Việt Nam liên quan tình hình Biển Đông tới đây ra sao. Dưới đây là nội dung bài viết:


I -Tranh chấp Nam Hải và “vấn đề Nam Hải”

Theo định nghĩa của Cục thủy văn quốc tế, Nam Hải (Biển Đông) là vùng biển chạy dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, biên giới phía Nam ở vị trí 3 độ vĩ tuyến Nam, giữa Nam Xumatra và Kalimantan, phía Bắc và Đông Bắc đến Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Đài Loan và Eo biển Đài Loan, biên giới phía Đông đến quần đảo Philíppin, phía Tây Nam đến” Việt Nam và bán đảo Mã Lai, thông qua Eo biển Bashi, biển Sulu và Eo biển Malắcca nối liền với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Hầu như cả Nam Hải bị vây quanh bởi đại lục, bán đảo và các đảo, diện tích hơn 3,5 triệu km2, bằng khoảng ba lần tổng diện tích của Bột Hải, Hoàng Hai và Đông Hải (Biên Hoa Đông). Xung quanh Nam Hải có 9 quốc gia, gồm Trung Quốc (cả Đài Loan), Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Xinhgapo, Inđônêxia, Brunây và Philíppin.

Trong vùng biển nói trên có hai vịnh là Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan. Vịnh Bắc Bộ là vịnh chung giữa Trung Quốc và Việt Nam, không liên quan đến nước khác. Năm 2000 Chính phủ-hai nước Trung-Việt đã ký Hiệp định phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ. Các nước xung quanh Vịnh Thái Lan có Thái Lan, Campuchia, Việt Nam và Malaixia. Việc giải quyết vấn đề quyền lợi về thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế ở Vịnh Thái Lan đã có rất nhiều tiến triển, giữa Việt Nam và Campuchia, giữa Malaixia và Thái Lan, giữa Malaixia và Việt Nam đã ký các hiệp định song phương nhưng giữa Campuchia và Thái Lan còn chưa ký được hiệp định, vấn đề Nam Hải như mọi người thường nói không bao gồm Vịnh Bắc Bộ và Vịnh Thái Lan.

Tranh chấp Nam Hải tập trung ở vùng biển quần đảo Nam Sa (quốc tế thường gọi là Spratly, Việt Nam gọi là Trường Sa), liên quan đến Trung Quốc (bao gồm Đài Loan) và 5 nước (Việt Nam, Philíppin, Malaixia, Inđônêxia và Brunây), dân gian thường gọi là “6 nước 7 bên”. Sáu nước Đông Nam Á khác gồm Xinhgapo, Thái Lan, Campuchia, Lào, Mianma và Timo Leste không trực tiếp liên quan đến tranh chấp Nam Hải.

Nói một cách khái quát, tranh chấp Nam Hải chủ yếu liên quan đến hai phương diện: Một là tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở các đảo, hai là phân định vùng đặc quyền kinh tế. Đây là tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển phức tạp nhất trên thế giới, không chỉ liên quan đến nhiều nước ven bờ Nam Hải, mà còn ở vào khu vực đường biển quốc tế quan trọng, liên quan đến lợi ích chiến lược của rất nhiều nước Đông Á và thế giới Tranh chấp lợi ích lớn phức tạp đan xen lẫn nhau đã làm cho khó khăn trong giải quyết Vấn đề tranh chấp Nam Hải tăng lên.

Ngoài vùng biển quần đảo Nam Sa, giữa Trung Quốc và Việt Nam vấn còn bất đồng và tranh chấp trong vấn đe phân định biên giới ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Giữa Trung Quốc và Philíppin cũng tồn tại tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển ở khu vực Trung Bộ Nam Sa.

Một số năm gần đây, “vấn đề Nam Hải” đã trở thành một từ nóng không những được đề cập đến trong báo chí các nước trên thế giới mà còn được đề cập trên các diễn đàn ngoại giao đa phương của khu vực và quốc tế hiện nay. Vậy cuối cùng, “vấn đề Nam Hải” là gì? Dường như cách gọi này đa trở thành một từ đồng nghĩa với tranh chấp chủ quyền các đảo và tranh chấp lợi ích biển giữa Trung Quốc với các nước Việt Nam Philíppin Malaixia… Đó thực sự là một cách hiểu nhầm. Trên thực tế, vùng biển rộng hơn 3,5 triệu km nói trên liên quan đến nhiều nước ven biển, vị trí địa lý của vùng biển này nằm trên đường giao thông vận tải biển quan trọng của quốc tế, hơn nữa liên quan đến lợi ích chiến lược và lợi ích kinh tế quan trọng của các nước lớn trên thế giới. Những vấn đề thuộc khu vực Nam Hải thì rất nhiều, đa dạng và gồm nhiều phương diện.

Sẽ là phiến diện và thiếu chuẩn xác nếu gọi chung chung tranh chấp giữa các nước xung quanh về chủ quyền và lợi ích biển là “vấn đề Nam Hải”. Trung Quốc phản đối “quốc tế hóa vấn đề Nam Hải” là phản đối việc quốc tế hóa tranh chấp chủ quyền các bãi, đảo và lợi ích biển ở Nam Hải vì quốc tế hóa không những không giúp ích gì cho việc giải quyết vấn đề mà sẽ càng làm cho tranh cãi gay gắt hơn, khiến thế lực bên ngoài xen vào tranh chấp sẽ mở rộng hơn và phức tạp hơn, gây tổn hại đến lợi ích to lớn của mỗi nước liên quan và lợi ích chung của cả khu vực. Nói cho chuẩn xác thì khu vực Nam Hải đứng trước hai vấn đề lớn về an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống.

Trong lĩnh vực an ninh truyền thống, Chiến tranh thế giới thứ Hai và nhiều cuộc chiến tranh cục bộ, trong đó bao gồm cuộc Chiến tranh Việt Nam xảy ra từ mấy chục năm nay, đều trực tiếp hay gián tiếp liên quan nhiều đến Nam Hải, và cũng đều liên quan nhiều đến cục diện chiến lược quân sự, kinh tế của các nước lớn hiện nay và trong tương lai. Trong khu vực Nam Hải hiện nay không hề có sự đe dọa trực tiếp hay hiện thực trong lĩnh vực an ninh truyền thống đối với Trung Quốc, nhiều nhất chỉ có thể nói là có thể có mối đe dọa tiềm tàng.

Trên trường quốc tế có người lợi dụng một số va chạm, tranh chấp ở Nam Hải, rắp tâm hướng mâu thuẫn vào Trung Quốc, tô vẽ, thổi phồng “mối đe dọa từ Trung Quốc”. Cách nói vu vơ thiếu căn cứ như trên đã không đánh lừa được ai. Quốc sách và chiến lược của Trung Quốc là không xưng bá, trước sau cùng với các nước láng giềng thi hành chính sách láng giềng thân thiện, cùng có lợi, cùng thắng và cùng phát triển. Bản thân Trung Quốc không mưu cầu bá quyền, cũng không tranh bá với nước khác, hay tìm kiếm một hình thức “bá quyền chung” nào đó với nước khác. Lịch sử và hiện thực chứng minh rằng Trung Quốc không phải là “mối đe dọa” an ninh truyền thống với các nước xung quanh, mà là cơ hội hợp tác cùng có lợi.

Trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống, Nam Hải và khu vực xung quanh vừa tồn tại lợi ích chung, cũng vừa đứng trước thách thức chung của các nước. “Các nước” ở đây không những bao gồm các nước ven biển, mà bao gồm cả các nước khác ngoài khu vực. Có thể nói, hầu như tất cả mọi vấn đề trong lĩnh vực an ninh phi truyền thống của thế giới, ở mức độ nào đó cũng đều liên quan tới Nam Hải.

Vấn đề thuộc lĩnh vực an ninh phi truyền thống của khu vực quả thực là vấn đề mang tính chất quốc tế. Vấn đề phức tạp như vậy đương nhiên đòi hỏi các nước trong khu vực và tất cả các nước có lợi ích liên quan trên thế giới cùng bàn bạc đối phó giải quyết căn cứ theo các vấn đề và tình huống cụ thể, trên cơ sở của phương châm tăng cường lòng tin, mở rộng điểm đồng và lợi ích chung, thu hẹp và giải quyết ổn thỏa mâu thuẫn, bất đồng. Những lợi ích chung mà các nước trong khu vực Nam Hải và cộng đồng quốc tế quan tâm đòi hỏi các nước khu vực và cộng đồng quốc tế hợp tác cùng bảo vệ, giữ gìn.

II- Nguồn gốc và bối cảnh quốc tế của tranh chấp Nam Hải

Nguồn gốc tranh chấp chủ quyền các đảo ở Nam Hải có thể truy ngược lại thời gian giữa các thể chế của triều đình Mãn Thanh và Trung Hoa dân quốc. Trong thời gian đó Chính phủ Trung Quốc đã bắt đầu có xích mích ngoại giao về quyền quản lý một số đảo ở Nam Hải với nhà cầm quyền Pháp. Trước khi Chiến tranh thế giới thứ Hai kết thúc, ba nước Mỹ, Anh, Trung Quốc đã ra các văn kiện mang tính pháp lý quốc tế như “Tuyên ngôn Cairô” và “Thông cáo chung Pốtxđam”, tuyên bố tước đoạt những phần lãnh thổ do Chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản xâm chiếm. Trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ Hai kết thúc, cuộc kháng chiến chống Nhật thắng lợi, địa vị quốc tế của Trung Quốc được nâng cao chưa từng có. Năm 1946 Chính phủ Quốc Dân đảng lúc đó đã đưa tàu chiến tuần tra các đảo ở Nam Hải, đồng thời tiếp quản đảo Thái Bình là đảo lớn nhất trong quần đáo Nam Sa. Năm 1947, Vụ Phương vực thuộc Bộ Nội chính của Chính phủ Quốc Dân đảng đã vẽ một “đường đứt đoạn” hình chữ u trên “Bản đồ các đảo Nam Sa”, đồng thời đã công khai phát hành tấm bản đồ này.

Tranh chấp chủ quyền các đảo ở Nam Hải lần đầu tiên xuất hiện tại Hội nghị hòa bình kết thúc chiến tranh với Nhật Bản tại San Francisco năm 1951 gồm 51 nước tham gia. Mỹ và Anh tẩy chay các phái đoàn của Chính phủ Nước CHND Trung Hoa vừa mới thành lập không lâu và Chính phủ Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tới tham gia hội nghị, quay lưng lại với bản dự thảo “Hòa ước với Nhật Bản” do Liên Xô và Trung Quốc khởi thảo.

Hòa ước với Nhật Bản được Hội nghị hòa bình kết thúc chiến tranh ở San Francisco thông qua đã bóp méo, xuyên tạc tinh thần của các văn kiện pháp lý quốc tế như “Tuyên ngôn Cairô” tháng 11 năm 1943 và “Thông cáo chung Pốtxđam” tháng 7 năm 1945, đề xuất “Nhật Bản từ bỏ tất cả mọi quyền lợi và đòi hỏi đối với dãy đảo Đài Loan, Bành Hồ, các quần đảo Nam Sa và Tây Sa” nhưng không có chữ nào nói đến vấn đề quy thuộc chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ nói trên.

Trong “Tuyên bố về dự thảo Hòa ước của Mỹ-Anh với Nhật Bản và về Hội nghị San Francisco” do Ngoại trưởng Chu Ân Lai thay mặt Chính phủ nước Trung Quốc mới trình bày ngày 15 tháng 8 năm 1951 chỉ rõ, các quần đảo Tây Sa, Nam Sa, Trung Sa và Đông Sa “từ xưa đến nay là lãnh thổ của Trung Quốc, trong thời gian Đế quốc Nhật phát động chiến tranh xâm lược tuy một thời bị thất thủ nhưng sau khi Nhật Bán đầu hàng đã được Chính phủ Trung Quốc lúc đó tiếp nhận”. Chủ quyền của nước CHND Trung Hoa đối với quần đảo Nam Sa và quần đảo Tây Sa, “dù dự thảo hòa ước đối với Nhật Bản do Mỹ-Anh soạn thảo có quy định hay không quy định, hoặc quy định như thế nào, cũng đều không bị ảnh hưởng”.

Cần phải chỉ rõ ràng quyền và lợi ích mà Chính phủ Trung Quốc chủ trương và bảo vệ ở Nam Hải là quyền-lợi ích trong phạm vi “đường đứt đoạn”. Những cách nói như “Nam Hải là nội hải của Trung Quốc”, “Nam Hải thuộc về Trung Quốc” v.v. trên thực tế là cách nói rất sai trái, hết sức tai hại. Rơi vào vòng nhầm lẫn này sẽ dẫn đến hiểu lầm và phán đoán nhầm rất nhiều vấn đề, dẫn đến rất nhiều rắc rối và phiền phức.

Cần phải nhìn lại lịch sử về đoạn đánh dấu này, đọc kỹ bản tuyên bố đầu tiên của Chính phủ nước Trung Quốc mới về chủ quyền hai quần đáo ớ Nam Hải mới có thể hiếu rõ được lý do thực sự và bối cảnh chiến lược quốc tế liên quan đến tranh chấp Nam Hải. Hội nghị hòa bình San Francisco đã gieo mầm họa về “hai nước Trung Quốc” và tranh chấp Nam Hải, đồng thời cũng khơi mào cho việc “quốc tế hóa” tranh chấp các đảo ở Nam Hải sau này. Lịch sử chứng minh rằng kẻ gây ra mầm họa thực sự cho tranh chấp Nam Hải là các nước lớn phương Tây như Mỹ, Anh, Pháp. Xét từ góc độ lịch sử thì thời gian, bối cảnh và tính chất nảy sinh vấn đề Đài Loan và tranh chấp chủ quyền các bãi, đảo ở Nam Hải là dường như giống nhau. Có thể nói, vấn đề này chính là di sản từ giai đoạn khởi đầu của Chiến tranh Lạnh.

“Chiến tranh Lạnh” đã kết thúc hơn 20 năm. Thời đại ngày nay đòi hỏi các nước và cộng đồng quốc tế từ bỏ tư duy Chiến tranh Lạnh và đối đầu liên minh, thông qua hợp tác đa phương để giữ gìn an ninh chung, hiệp lực ngăn chặn xung đột và chiến tranh. Chiến tranh và đối đầu sẽ chỉ dẫn đến vòng tuần hoàn ác tính lấy bạo lực thay thế bạo lực, đối thoại và đàm phán là con đường hữu hiệu và đáng tin cậy duy nhất để giải quyết tranh chấp. Phải lấy hợp tác để mưu cầu hòa bình, đảm bảo an ninh, thúc đấy hài hòa, phản đối tùy tiện sử dụng vũ lực hoặc đe dọa nhau bằng vũ lực. Đó là quan điểm an ninh mà Chính phủ Trung Quốc chủ trương và thực hiện, cũng là nguyên tắc cơ bản để xử lý tranh chấp Nam Hải.

III – Hàng hải và vị trí chiến lược của đường giao thông trên biển ở Nam Hải

Vị trí chiến lược của Eo biển Malắcca thế nào mọi người đều đã biết. Tuyến đường giao thông trên biển ở Nam Hải là phần kéo dài trọng yếu của đường vận tải Eo biển Malắcca, trong đó vị trí chiến lược của tuyến đường vận tải này cũng quan trọng như vậy. Nam Hải và Eo biên Malắcca là một thể gắn liền, không thể tách rời nhau. Tất cả các loại tàu thuyền đi qua Eo biên Malắcca, bao gồm tàu thương mại và tàu quân sự hầu như đều phải đi qua Nam Hải. Vì thế, từ góc nhìn địa chiến lược có tên gọi là “đường giao thông Nam Hải – Eo biến Malắcca” dường như sẽ đúng hơn. Eo biến Malắcca và đường vận tải quốc tế ở Nam Hải có thể ví như “yết hầu – thực quản”.

Tuyến đường giao thông Nam Hải – Eo biển Malắcca là tuyến xung yểu chiến lược tiện lợi nhất từ Tây Thái Bình Dương đi vào Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, là một trong các tuyến vận tải biển quan trọng nhộn nhịp nhất thế giới, nối liền giữa Đông Nam Á với Nam Á, giữa châu Đại Dương, Trung Đông, châu Phi và châu Âu.

về địa lý, đường giao thông quốc tế trên biển ở Nam Hải có vị trí chiến lược quan trọng. Chiến lược toàn cầu cửa Mỹ là phải kiểm soát 16 vị trí yết hầu trên biển. Mục tiêu chiến lược và lợi ích to lớn của nước Mỹ là gây ảnh hưởng và kiểm soát các tuyến vận tải trên biển nói trên, đảm bảo ưu thế của Mỹ trong các cuộc cạnh tranh quốc tế và xung đột quốc tế tiềm tàng. Với tư cách là mắt xích trung tâm nối liền hai khu vực chiến lược quan trọng là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Eo biến Malắcca được Mỹ xác định là một trong 16 yết hầu trên biển như vậy.

Nam Hải – Eo biển Malắcca là hướng đi tất yếu để các nước Đông Á đi đến Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương. Trong bối cảnh thời đại kinh tế toàn cầu hóa và kinh tế các nước Đông Á phát triển mạnh như Trung Quốc, vị trí của tuyến đường vận tải biển Nam Hải – Eo biển Malắcca trong vận tải đường biển toàn cầu lại càng nổi bật hơn. Dù là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hay các nước ASEAN, hoặc là Ôxtrâylia, Ấn Độ, Trung Đông, châu Phi, thậm chí là châu Âu, nước Mỹ đi nữa thì tuyến đường vận tải biển quốc tế này có thể được gọi là “tuyến đường sinh mệnh huyết mạch”.

Nói tóm lại, tuyển đường vận tải biển Nam Hải – Eo biển Malắcca có giá trị chiến lược lớn về kinh tế và quân sự đối với cả Trung Quốc, các nước trong khu vực và nước lớn trên thế giới. Cùng với địa vị kinh tế của Trung Quốc và châu Á trong nền kinh tế toàn cầu không ngừng được nâng lên, mức độ liên quan lẫn nhau giữa Tây Thái Bình Dương – Nam Hải – Eo biển Malắcca, Ấn Độ Dương và Nam Thái Bình Dương sẽ ngày càng chặt chẽ hơn. Xét từ tình hình hiện thực thì tầm quan trọng của Eo biển Malắcca đã vượt qua Kênh đào Xuyê, vai trò quan trọng của tuyến vận tải biến Nam Hải đã vượt qua Vùng Vịnh Pécxích. Trước khi khai thông tuyến vận tải biển ơ Bắc Cực, địa vị chiến lược về kinh tế và quân sự của tuyến đường vận tải biển Nam Hải – Eo biển Malacca trong tương lai sẽ chỉ tăng lên chứ không giảm đi.

Chính vì thế, tình hình Nam Hải hòa bình ổn định, giao thông quốc tế tự do và vận tải biển an toàn khiến cho các nước trong khu vực và các nước lớn trên thế giới hết sức quan tâm. Chính sách Nam Hải và hành động của nước lớn ngoài khu vực đương nhiên cũng khiến các nước khu vực vô cùng quan tâm.

Tự do hàng hải ở Nam Hải vốn đã là một trong những chính sách liên quan tới Nam Hải mà Chính phủ Trung Quốc đã tuyên bố từ lâu. Chính phủ Trung Quốc căn cứ theo luật quốc tế trước sau nỗ lực nhằm đảm bao tự do và an ninh hàng hải ở Nam Hải. Trên diễn đàn quốc tế, có một số người ngang nhiên nhào nặn đề tài về “tự do hàng hải, an ninh hàng hải”, như vậy là có dụng ý xấu. Tại Hội nghị cấp cao Đông Á mới đây, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nói: “Kinh tế Đông Á và Đông Nam Á phát triển đã cho thấy tự do và an ninh hàng hải ở Nam Hải không vì tranh chấp Nam Hải mà có bất cứ ảnh hưởng nào. Tự do hàng hải mà các nước được hưởng ở Nam Hải theo luật quốc tế đã được đảm bảo triệt để. Nam Hải là đường vận tải biển quan trọng của Trung Quốc, của các nước khác trong khu vực và các nước trên thế giới. Chính phủ Trung Quốc đã có những đóng góp tích cực để bảo vệ an ninh hàng hải ở Nam Hải”.

Đảm bảo tự do hàng hải vừa là lợi ích to lớn của Trung Quốc, cũng vừa là lợi ích to lớn của các nước trong khu vực, nước lớn thế giới và của cộng đồng quốc tế. Nhận thức rõ điểm này không những có thể điều chỉnh lại những hiểu lầm, phán đoán nhầm của các nước hữu quan, loại bỏ cái gọi là “mối lo lắng” trên thế giới, mà còn có thể trở thành sân chơi quan trọng để Trung Quốc và các nước xung quanh Nam Hải, thậm chí là cộng đồng quốc tế bắt tay hợp tác, bảo vệ lợi ích chung, có thể loại bỏ lý do để một số nước ngoài khu vực gây nên chuyện, phá tan mưu đồ của một số thế lực chính trị muốn lấy đó để gieo rắc, ly gián quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng ASEAN.

IV – Biến biển tranh chấp thành biển hợp tác hòa bình, hữu nghị

Hòa bình và phát triển là hai chủ đề lớn của thời đại ngày nay. Hòa bình, phát triển, hợp tác là xu thế không thể ngăn cản trên thế giới. Hiện nay thế giới đa cực hóa, kinh tế toàn cầu hóa đang phát triển theo chiều sâu, cộng đồng quốc tế đang đứng trước ngày càng nhiều vấn đề lịch sử mới. Cùng vận dụng tốt cơ hội phát triển, cùng đối phó với các loại rủi ro đã trơ thành nguyện vọng của nhân dân các nước.

Dân tộc Trung Hoa yêu chuộng hòa bình. Nhân dân Trung Quốc trải qua giai đoạn đau buồn do chiến loạn và bần cùng từ sau thời kỳ cận đại đã cam nhận được sâu sắc giá trị quý báu của hòa bình và mong muốn cháy bòng phát triển. Nhân dân Trung Quốc tin tưởng sâu sắc rằng chỉ có hòa bình mới thực hiện được ước nguyện an cư lạc nghiệp của nhân dân, chỉ có phát triên mới thực hiện được mục tiêu người dân được ăn no mặc ấm. Tạo môi trường quốc tế hòa bình ổn định để phát triển đất nước, đó là nhiệm vụ trung tâm trong công tác đối ngoại của Trung Quốc. Đồng thời Trung Quốc tích cực đóng góp xứng đáng cho hòa bình và phát triển của thế giới, tuyệt đối không bành trướng chiên lược, không bao giờ tranh bá, không xưng bá, Trung Quốc trước sau vẫn là lực lượng kiên định bảo vệ hòa bình, ổn định thế giới và khu vực.

Bảo vệ hòa bình thế giới, thúc đẩy cùng nhau phát triển, đó là tôn chỉ trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc. Trung Quốc đề xướng và ra sức cùng với các nước trên thế giới đẩy mạnh xây dựng thế giới hài hòa trong môi trường hòa bình lâu dài, cùng phồn vinh. Đó vừa là mục tiêu lâu dài, cũng vừa là nhiệm vụ thực tế.

Trung Quốc đề xướng quan điểm an ninh mới tin cậy lẫn nhau, hợp tác, bình đắng, cùng có lợi, tìm kiếm biện pháp thực hiện an ninh tổng hợp, an ninh chung, an ninh hợp tác Trung Quốc kiên trì sử dụng phương thức hòa bình chứ không phải chiến tranh để giải quyết tranh chấp quốc tế, cùng bảo vệ thế giới hòa bình ổn định; Chủ trương thông qua hiệp thương đối thoại để tăng cường lòng tin, giảm thiểu bất đồng, loại bỏ tranh chấp, tránh sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực lẫn nhau.

Trung Quốc tích cực mở rộng hợp tác láng giềng hữu nghị với các nước xung quanh, cùng đẩy mạnh xây dựng châu Á hài hòa. Trung Quốc chủ trương các nước trong khu vực tôn trọng lẫn nhau, tăng cường sự tin cậy lẫn nhau, tìm kiếm điểm đồng gác lại bất đồng, thông qua đàm phán đối thoại và hiệp thương hữu nghị để giải quyết .các mâu thuẫn và các vấn đề, bao gồm tranh chấp lãnh thổ và lợi ích biển, cùng bảo vệ khu vực hòa bình ổn định. Trung Quốc phát triển phồn vinh và thịnh trị lâu bền là cơ hội chứ không phải là mối đe dọa đối với các nước láng giềng xung quanh. Trung Quốc luôn tuân thủ “tinh thần châu Á” về tự lực tự cường, mở hướng tiến thủ, cởi mở, bao dung, đồng tâm hiệp lực, mãi là láng giềng tốt, người bạn tốt và đối tác tốt của các nước châu Á khác.

Có thể nói một cách mạnh dạn thẳng thắn rằng giữa Trung Quốc và nước láng giềng, xung quanh vẫn có tồn tại vấn đề do lịch sử để lại về phân định biên giới, chủ quyền các đảo và lợi ích biển, vấn đề biên giới của Trung Quốc với tuyệt đại đa số các nước láng giềng trên bộ đã được giải quyết. Tranh chấp trên biển vẫn còn đợi thông qua đàm phán đối thoại và hiệp thương hữu nghị để tìm ra biện pháp giải quyết mà hai bên đều có thể chấp nhận được.

Tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển không chỉ tồn tại giữa Trung Quốc và các nước xung quanh Nam Hải, mà cả giữa các quốc gia liên quan khác, vấn đề phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ liên quan đến hai nước Trung Quốc – Việt Nam đã được giải quyết ổn thỏa, vấn đề phân định biên giới ở Vịnh Thái Lan liên quan đến bốn nước là Malaixia, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam, đã được giải quyết về cơ bản nhưng chưa hoàn toàn. Ở phần phía Nam Nam Hải thậm chí là Eo biển Malắcca, giữa các nước hữu quan đều tồn tại nhiều tranh chấp nhưng chưa được giải quyết hoàn toàn mỹ mãn.

Trên thế giới ngày nay tồn tại rất nhiều tranh chấp chủ quyền các đảo và tranh chấp quyền lợi biển, theo con số thống kê tổng cộng có đến hàng trăm vụ. Ngoài Nam Hải, loại tranh chấp này cũng tương đối rõ ở khu vực Đông Bắc Á. Giữa Nhật Bản và Nga, giữa Hàn Quốc và Trung Quốc đều có tranh chấp như vậy. Giữa Hàn Quốc và Nhật Bản, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên cũng có.

Lập trường và chủ trương cơ bản của Trung Quốc trong vấn đề Nam Hải là nhất quán, rõ ràng, luôn cố gắng giữ gìn hòa bình ổn định, thông qua đàm phán đối thoại và hiệp thương hữu nghị, giải quyết thỏa đáng tranh chấp và vướng mắc.

Mọi người hy vọng các bên đều xuất phát từ đại cục bảo vệ hòa bình ổn định khu vực, làm nhiều việc hơn để tăng thêm sự tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy hợp tác, cố gắng làm cho Nam Hải trở thành biển của hòa bình, hữu nghị, hợp tác.

V – Làm sâu sắc hơn lòng tin chính trị, phát triển hợp tác toàn diện


Trung Quốc kiên trì thực hiện chính sách láng giềng hữu nghị, lam sâu sắc hơn lòng tin chính trị, giải quyết ổn thỏa bất đồng và mâu thuẫn từ tầm cao chiến lược và toàn cục, ra sức phát triển hợp tác toàn diện với các nước xung quanh, mưu cầu cùng thắng lợi, cùng có lợi và cùng phồn vinh.

Giữa Trung Quốc với các nước ASEAN núi liền núi, sông liền sông, Trung Quốc trước sau luôn coi các nước ASEAN là anh em tốt, láng giềng tốt, bạn bè tốt và đối tác tốt có thể tin cậy được, thành tâm thành ý phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị. Trung Quốc và các nước ASEAN nối vòng tay đồng hành, trải qua khó khăn, cùng chung hoạn nạn, hiểu biết lẫn nhau, ủng hộ giúp đỡ lẫn nhau, đã lần lượt vượt qua từng thách thức, thu được nhiều thành quả huy hoàng. Trong 20 năm qua, quan hệ Trung Quốc – ASEAN đã có được bước phát triển toàn diện chưa từng có. Năm 1991 Trung Quốc đã cùng với ASEAN thiết lập quan hệ đối thoại, thể hiện hai bên đi theo xu hướng thời đại, tìm kiếm tầm nhìn xa chiến lược và dũng khí hợp tác khu vực, đã mở đầu tiến trình lịch sử về quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN, có ý nghĩa như một dấu mốc.

Trung Quốc là nước lớn ngoài khu vực đầu tiên tham gia “Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN”, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược hướng tới hòa bình và phồn vinh với ASEAN. Trung Quốc kiên trì ủng hộ ASEAN phát huy vai trò chủ đạo trong hợp tác Đông Á, ủng hộ “Hiệp ước về khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân”.

Trung Quốc và ASEAN đã cùng thành lập Khu thương mại tự do lớn nhất giữa các nước đang phát triển.

Trung Quốc và ASEAN nghiêm túc tuân thủ nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, không ngừng tăng cường lòng tin chính trị lẫn nhau. Các nước ASEAN thi hành chính sách một nước Trung Quốc, ủng hộ Trung Quốc thống nhất hòa bình, quan tâm đến những mối lo ngại của Trung Quốc trong những vấn đề lớn có tính nguyên tắc liên quan đến chủ quyền của Trung Quốc. Trung Quốc tôn trọng con đường phát triển và quan niệm giá trị mà các nước ASEAN lựa chọn một cách tự chủ, ủng hộ ASEAN xử lý tranh chấp theo phương thức của mình, phản đối thế lực bên ngoài can thiệp công việc nội bộ của ASEAN.

Trong hợp tác, Trung Quốc và ASEAN đề xướng cùng hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, học hỏi lẫn nhau cùng có lợi, thúc đẩy cùng phát triển. Năm 2011 kim ngạch thương mại hai chiều Trung Quốc – ASEAN đã vượt 350 tỉ USD, gấp hơn 40 lần so với năm 1991. Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN, ASEAN trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của Trung Quốc. Trung Quốc đã thành tâm viện trợ và giúp đỡ các nước thành viên ASEAN phát triển kinh tế và cải thiện dân sinh. Các nước thành viên ASEAN cũng tích cực ủng hộ Trung Quốc. Hai bên đã trao đổi kinh nghiệm, lấy mạnh bổ trợ yếu trong phương diện lãnh đạo và quản lý đất nước.

Đứng trước khó khăn Trung Quốc và ASEAN cùng chung vai sát cánh, nỗ lực biến thách thức thành cơ hội. Hai bên đã cùng kiểm soát cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 ở châu Á, thúc đẩy thành lập cơ chế hợp tác ASEAN-Trung Quốc-Nhật Bản-Hàn Quốc; Cùng đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế hiếm gặp, thành lập Khu thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN đúng kỳ hạn một cách toàn diện; Trong đối phó với các vụ thiên tai, dịch bệnh lớn, hai bên giúp đỡ lẫn nhau, tìm kiếm thành lập cơ chế cảnh báo, phòng ngừa, kiểm soát và cứu trợ một cách hữu hiệu.

Trung Quốc và ASEAN cố gắng chung sống hòa bình, láng giềng hữu nghị, tích cực xây dựng môi trường khu vực an ninh, hài hòa; Thông qua đối thoại và hiệp thương giải quyết tranh chấp và xử lý vấn đề do lịch sử để lại; Ra sức xây dựng khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân; Coi trọng tình hữu nghị truyền thống, truyền bá ý tưởng hữu nghị từ đời này sang đời khác.

Quan hệ Trung Quốc – ASEAN là thực tế nhất, rộng rãi nhất và có nhiều thành quả nhất. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đều là nước đang phát triển, luôn xác định phát triển kinh tế, cải thiện dân sinh là nhiệm vụ bức thiết nhất và quan trọng nhất, đặt khả năng có đem lại lợi ích thực chất cho nhân dân bản quốc và khu vực bản địa được hay không lên vị trí hàng đầu. Trung Quốc và các nước Đông Nam Á gần gũi nhau về địa lý văn hóa, lịch sử, liên hệ và giao lưu mật thiết trên các phương diện, có điều kiện thuận lợi trời phú để mở rộng hợp trong rất nhiều lĩnh vực.

Ngày nay Trung Quốc và ASEAN là đối tác chiến lược ra sức cố gắng cho hòa bình và phồn vinh, mở rộng giao lưu hợp tác rộng rãi trong các lĩnh vực và ở mức độ cao chưa từng có từ trước đến nay, trở thành cộng đồng có vận mệnh chung, vui buồn vinh nhục có nhau, cùng có được thành tựu huy hoàng, có những đóng góp nổi bật trong sự nghiệp cao cả là đem lại hạnh phúc nhiều hơn cho nhân dân khu vực, thúc đẩy hòa bình và phát triển, tạo ra ảnh hưởng tích cực sâu xa cho sự tiến bộ ở châu Á và cả thế giới.

VI – Giải quyết ổn thỏa bất đồng, thúc đẩy cùng nhau phát triển

Tìm kiếm điểm đồng lớn, gác lại bất đồng nhỏ, xử lý ổn thỏa bất đồng lớn, hợp tác loại bỏ tranh chấp, là một chủ trương quan trọng của Trung Quốc. Lợi ích chung giữa Trung Quốc và ASEAN lớn hơn bất đồng rất nhiều. Phương hướng và mục tiêu đúng đắn cần phải là: Không ngừng làm to thêm chiếc bánh gạtô về lợi ích chung, để cho bất đồng ngày càng thu hẹp.

Ngay từ những năm 80 của thế kỷ 20, Tổng công trình sư cải cách mở cửa của Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã nói: “ ‘Một quốc gia, hai chế độ’ và biện pháp cùng khai thác giải quyết tranh chấp, đều là phương thức vì hòa bình chứ không dùng chiến tranh, đều gọi là chung sống hòa bình”. “Hiện nay rất nhiều bản đồ trên thế giới đều có thể chứng minh quân đảo Nam Sa là thuộc về Trung Quốc. Chúng ta thiên về vấn đề này, gác lại tranh chấp trước, không giải quyết vội. Làm như vậy là không để cho vấn đề này gây trở ngại cho quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc với nước hữu quan phát triển tốt đẹp. Sau một số năm chúng ta ngồi lại, bình tĩnh thảo luận, thương lượng một phương thức mà các bên đều chấp nhận được. Liệu có thể xem xét áp dụng biện pháp cùng phát triển đối với những tranh chấp hữu quan? Mục tiêu của chúng ta là cùng phát triển, chúng ta có đầy đủ điều kiện để trở thành bạn thật tốt”. “Trong vấn đề về quần đảo Nam Sa, hoàn toàn không phải không tìm được một biện pháp giải quyết thiết thực khả thi, nhưng vấn đề này cuối cùng là một vấn đề phiền phức, cần thông qua hiệp thương để tìm ra được biện pháp có lợi cho hòa bình và hợp tác hữu nghị”.

Dưới sự chỉ dẫn của phương châm nói trên, quan hệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN đã trải qua đủ mọi khảo nghiệm khó khăn trắc trở. Hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN đã đem lại hạnh-phúc cho nhân dân ở cả hai phía.

Tháng 11 năm 2011, tại Hội nghị các nhà lãnh đạo ASEAN-Trung Quốc lần thứ 14, Thủ tướng Ôn Gia Bảo tuyên bố: “Trung Quốc không bao giờ mưu cầu bá quyền, phản đối bất cứ hành vi bá quyền nào, sẽ luôn thi hành chính sách ngoại giao ‘thân thiện với láng; giềng, làm bạn với láng giềng’, tuân thủ nghiêm khắc ‘Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á’. Tranh chấp tồn tại ở Nam Hải giữa các nước hữu quan trong khu vực là vấn đề tích tụ từ nhiều năm nay, cần phải do nước có chủ quyền liên quan trực tiếp giải quyết thông qua hiệp thương hữu nghị và đàm phán. Thế lực bên ngoài không nên mượn bất cứ lý do nào để can thiệp. Năm 2002 Trung Quốc và các nước ASEAN đã ký bản ‘Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’, xác định sẽ đẩy mạnh hợp tác thiết thực, cố gắng để cuối cùng đạt được ‘Bộ quy tắc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’. Đó là ý nguyện chung của các nước Đông Nam Á và Trung Quốc. Phía Trung Quốc nguyện sẵn sàng cùng với các nước ASEAN tích cực thúc đẩy toàn diện việc thực hiện ‘Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’, tăng cường hợp tác thực chất, đi vào thảo luận việc hoạch định “Bộ quy tắc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông’”.

Ôn Gia Bảo còn tuyên bố, để mở rộng hợp tác thực tế trên biển, Trung Quốc sẽ thành lập Quỹ hợp tác trên biển Trung Quốc – ASEAN với số tiền 3 tỉ nhân dân tệ, bắt đầu từ các lĩnh vực nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển, thông tin liên lạc, an ninh và cứu hộ hàng hải, chống tội phạm xuyên quốc gia, từng bước mở rộng hớp tác sang các lĩnh vực khác, tạo nên cục diện hợp tác trên biển đa tầng nấc, toàn diện giữa Trung Quốc và ASEAN. Trung Quốc đề nghị hai bên thành lập cơ chế tương ứng đề nghiên cứu về vấn đề này và soạn thảo quy hoạch hợp tác cụ thể.

Trung Quốc – Việt Nam là hai nước láng giềng hữu nghị núi sông liền một dải, nhưng lại là hai bên tranh chấp chủ yếu ở Nam Hải. Tháng 10 năm 2011 Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao sang thăm chính thức Trung Quốc, hội đàm và hội kiến với Tổng Bí thư Đáng Cộng sản, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Hai bên đã ký một loạt văn kiện hợp tác quan trọng và ra “Thông cáo chung”.

Nhà lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh: Quan hệ hai đảng, hai nước Trung – Việt phát triển lành mạnh ổn định, phù hợp với lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy xây dựng, hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa thuận lợi ở hai nước, cũng quan trọng đối với hòa bình và phát triển ở châu Á và cả thế giới. Đảng và Chính phủ Trung Quốc luôn xuất phát từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn lâu dài đế nhìn nhận quan hệ Trung – Việt, nguyện cùng với Việt Nam bảo vệ tốt và phát triển tổt quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung – Việt theo Phương châm 16 chữ và Tinh thần 4 tốt.

Nhà lãnh đạo Việt Nam nhấn mạnh: Đảng và Chính phủ Việt Nam hết sức coi trọng việc phát triển quan hệ với Trung Quốc, đặt quan hệ Việt- Trung ở vị trí ưu tiên trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam. Việt Nam kiên trì theo Phương châm 16 chữ và Tinh thần 4 tốt làm cho các chuyển thăm cấp cao lẫn nhau mật thiết hơn, tăng cường lòng tin chính trị, đưa hợp tác cùng có lợi trong các lĩnh vực đi vào chiều sâu, làm phong phú thêm hình thức giao lưu nhân văn, tăng cường phối hợp trong các vấn đề quốc tế và khu vực, nâng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung lên một tầm cao mới.

Từ khi bình thường hóa quan hệ 20 năm qua, hai nước đã lần lượt giải quyết thành công hai vấn đề khó khăn do lịch sử đê lại là phân định biên giới trên bộ và phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ theo tinh thần dễ trước khó sau, thông cảm nhân nhượng lẫn nhau. Đặc biệt là việc phân định biên giới Vịnh Bắc Bộ đã mở ra hướng đi mới cho Trung Quốc giải quyết những vấn đề tương tự trên biển với các nước xung quanh.

Những năm gần đây, bởi những nguyên nhân phức tạp, cũng do thế lực bên ngoài xen vào và do thế lực thù địch gây chia rẽ, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và lợi ích biển ở Nam Hải bị khuấy nóng lên. Một trong những thủ đoạn triển khai “ngoại giao thông minh’” của một số thế lực bên ngoài là trắng trợn tô vẽ cái gọi là “tình hình căng thẳng ở Nam Hai”

Hợp tác hữu nghị là mạch chính trong quan hệ-Trung – Việt, không nên để bất đồng và tranh chấp ảnh hưởng đến đại cục phát triển quan hệ. Làm thế nào để xứ lý và giải quyết ổn thỏa vấn đề trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam, đó quả thực là vấn đề được nhân dân hai nước hết sức quan tâm. Điều đáng phấn khởi là trong hội đàm cấp cao Trung – Việt, nhà lành đạo hai bên đã trao đổi ý kiến thẳng thắn và chân thành, và đã đạt được nhận thức chung. Một trong 6 văn kiện mà hai bên ký kết là “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Trung Quốc và Việt Nam”. Nhà lãnh đạo hai nước đánh giá tích cực bản thỏa thuận này, cho rằng thỏa thuận có ý nghĩa chỉ đạo quan trọng để xử lý và giải quyết ổn thỏa vấn đề trên biển.

Căn cứ những điểm nhận thức chung đạt được thì trên cơ sở thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ Trung – Việt năm 1993, hai bên đã đạt được 6 nguyên tăc cơ bản phải tuân thủ để giải quyết vấn đề trên biển, đặt cơ sở cho việc giải quyết thỏa đáng vấn đề này.

Điều 4 trong Thỏa thuận nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển Trung — Việt quy đinh: “Trong tiến trình tìm kiếm biện pháp cơ bản và lâu dài giải quyết vấn đề trên biển, trên cơ sở tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử với nhau bình đẳng, cùng thắng lợi và cùng có lợi, theo nguyên tắc được đề cập trong điều 2 của Thỏa thuận này sẽ tích cực thảo luận, tìm kiếm biện pháp giải quyết mang tính chất quá độ, tạm thời, không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, trong đó bao gồm tích cực nghiên cứu và thương lượng, đàm phán vấn đề khai thác chung”. Điều 5 quy định: “Giải quyết vấn đề trên biển dựa theo tinh thần tiệm tiến tuần tự, dễ trước khó sau. Thúc đẩy đàm phán phân định biên giới vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc bộ một cách chắc chắn, đồng thời tích cực thương lượng đàm phán vấn đề khai thác chung ở vùng biển nói trên. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên biển trong các lĩnh vực ít nhạy cảm, bao gồm bảo vệ môi trường biển nghiên cứu khoa học biển, cứu hộ trên biển, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. Nỗ lực tăng cường lòng tin lẫn nhau, tạo điều kiện giải quyết những vấn đề khó khăn hơn”.

Một loạt nhận thức chung đạt được giữa nhà lãnh đạo hai đảng hai nước phù hợp với lòng dân ở hai nước, thuận theo xu hướng của thời đại, đã chỉ rõ phương hướng đúng đắn để mở rộng tương lai quan hệ Trung – Việt tốt đẹp hơn.

Giữa Trung Quốc và Việt Nam cùng các nước ASEAN khác tồn tại vấn đề trong đó có tranh chấp chủ quyền các đảo và lợi ích biển, khi giải quyết đòi hỏi phải có sự nhẫn nại, thời gian và trí tuệ Trước khi giải quyết vấn đề bằng mọi cách không làm cho vấn đề phức tạp thêm, không để mâu thuẫn leo thang, ảnh hưởng đến cục diện lớn của hợp tác song phương. Cho dù thế hệ chúng ta hiện nay chưa giải quyết được về căn bán thì thê hệ con cháu sau này cũng nhất định có trí tuệ và khả năng để tìm ra biện pháp giải quyết thỏa đáng. Ý nguyện Nam Hải trở thành biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác sẽ có ngày trở thành hiện thực. Quan hệ hợp tac hữu nghị giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á sẽ tiến cùng thời đại, không ngừng được nâng lên trình độ mới cao hơn./.

25/2/12

Khám phá chữ cổ Lạc Việt tại Quảng Tây: Phản Ứng, Phản Biện, Phản Hồi

Thưa anh Tu Dinh,

Tôi xin cảm ơn anh, đồng thời xin phép nghĩ khác anh. Tôi không cho chuyện này có ý nghĩa “ru ngủ”. Và lòng tự hào dân tộc không bao giờ có ý nghĩa tiêu cực là ru ngủ hay tự ru ngủ. Dường như trong truyện ngắn Thằng Mõ (tôi không chắc), nhà văn Nam Cao đã nói, mà tôi cho là rất đúng, rằng (không phải nguyên văn) khi một người thường xuyên bị chà đạp, bị lăng nhục, thì anh ta không còn tin tưởng vào giá trị con người của anh ta nữa. Hơn thế, anh ta sẽ sống phù hợp với cái thân phận mang tính chất đểu cáng hạ cấp mà người khác gán cho anh ta.

Không phải là chuyện ru ngủ chút nào cả khi Napoleon đặt ra các danh hiệu rất kêu kiểu như Maréchal / Maréchaux de France (Pháp quốc thống chế) hay Amiral de France (Pháp quốc Đô đốc) v.v… cho các tướng lãnh cao cấp của ông ta. Và lời ông ta động viên quân sĩ dưới chân Kim Tự Tháp tại Ai Cập rằng “Hỡi các người! Các người nên biết rằng hơn bốn mươi thế kỷ đang nhìn xuống chúng ta!” không hề là một lời huyênh hoang vô lối hay ru ngủ ai cả. Rồi những thứ huy hiệu, cầu vai, dây tua lòe loẹt này nọ mà các quân đội trên thế giới bày vẽ ra để ban tặng cho quân lính của mình. Những thứ đó cũng không làm cho họ ngủ; trái lại chúng làm cho họ mạnh mẽ lên, hào hùng thêm, hành động dũng cảm hơn nữa, phù hợp với những mong đợi lớn lao mà đất nước đặt vào họ.

Cũng chính trong ý nghĩa này mà chúng ta không bao giờ bỏ qua cơ hội nào để củng cố sự tự tin và lòng tự trọng nơi con cái mình, củng cố lòng tự hào của chúng vào nền tảng tinh thần của gia đình mình (gia phong); chúng ta không bao giờ bỏ qua dịp để khen thưởng và khích lệ con cái mình hay thay cho sự khen thưởng bằng thái độ hờ hững của chúng ta, hoặc coi thường mọi nỗ lực phát triển sự tự tin của chúng như là chuyện lố bịch.

Truyền thuyết Rồng Tiên vì vậy không hề là một huyền thoại bịa đặt vô nghĩa, như có người cười cợt biếm nhẽ.

Giả dụ tất cả người Việt Nam tin theo một ai đó, cho rằng nòi giống mình chỉ là một chi nhánh hạ đẳng của người Tàu (quả thực đã có chuyện này, khi một “sử gia” nào đó mà tôi đã đọc từ khi còn nhỏ nên không nhớ tên, cho rằng đa số người VN có họ Nguyễn, mà họ Nguyễn là một họ thuộc hạng dân hạ tiện chiếm phần rất ít ỏi trong xã hội Tàu!). Giả dụ mọi người VN luôn chứa sẵn trong đầu mình cái mặc cảm mình là loại người hạ tiện, hạng bét đối với Tàu, thì liệu chúng ta có còn dám ngẩng cao đầu một cách oai hùng bất khuất trước những cuộc xâm lăng của chúng, như ông cha ta đã luôn luôn chúng tỏ trong lịch sử hay không? Với tham vọng thôn tính nước ta của chúng đã phô bày lộ liểu, và với thái độ đê hèn của nhà nước Cộng sản VN hiện nay khiếp nhược trước giặc mà hèn hạ với dân, cái mặc cảm nhục nhã tai hại đó sẽ giúp cho việc “nội thuộc” diễn ta thuận lợi biết bao!

Về mặt con người, các nghiên cứu tâm lý học đã khẳng định nguyên lý tinh thần hướng dẫn thể xác. Cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống lại áp lực xâm lăng và đồng hóa của Tàu phải được hướng dẫn bằng “tinh thần”. Đó là văn hóa. Chúng ta không chỉ chống lại mọi sự xâm lăng của Tàu bằng sức mạnh thể chất mà còn bằng sức mạnh văn hóa. Để củng cố sức mạnh văn hóa, thử nghĩ xem, có cách gì tốt hơn, hữu hiệu hơn là khôi phục, phát triển và củng cố niềm tin vào lịch sử và bản chất của dân tộc mình không thua kém bất cứ ai?

Trong lịch sử thế giới, đã có quốc gia nào từng ngủ quên trên sự tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc họ không? Không hề. Trái lại, những giai đoạn suy vọng của mỗi quốc gia đều xảy ra trong thời kỳ mà lòng người phân tán, khi niềm tự hào dân tộc ấy đã bị lung lạc, suy yếu hay không còn nữa. Trong hoàn cảnh như thế, Lê Lợi phải mất đến hai mươi năm mới “đẩy” được đám quân Minh xâm lăng về nước, (sau cuộc kháng chiến dai dẳng làm cho chúng mỏi mòn mà ta không có một trận đại thắng nào lừng lẫy tầm cỡ “Bạch Đằng”), trong khi trước đó, nhà Trần với hào khí Đông A chỉ cần một thời gian rất ngắn để ba lần đánh bại ba cuộc xâm lăng của lực lượng xâm lược mạnh nhất, dữ dằn nhất, đáng sợ nhất của cả nhân loại trong mọi thời đại, với các chiến thắng lừng lẫy.


Với sự phát hiện chữ Việt cổ, tôi cho đó là một chiến thắng tinh thần rất lớn lao của người Việt trước người Tàu và văn hóa Tàu. Thông tin này cần phải được chào đón một cách trân trọng, chớ không phải là với sự biếm nhẽ. Từ lâu, cả thế giới đều công nhận nước Tàu “văn minh trước thiên hạ.” Một số nhà trí thức của ta cũng nhắm mắt lập lại như thế. Mở “Việt Nam Văn Hóa Sử Cương” của Đảo Duy Anh ra mà xem. Ông ấy nói rằng khi ta tiếp xúc với văn hóa Tàu thì văn hóa của người Hoa Hạ đã phát triển rực rỡ, còn văn hóa của ta thì rất chất phác thấp hèn. (Nguyên văn gần như thế). Nhận định này của vị học giả “bách khoa” của ta từng khiến tôi thất vọng, vừa buồn vừa giận, là một trong những lý do mà hơn ba mươi năm trước đã khiến tôi không tự lượng sức mình, làm một công việc đội đá vá trời rất đáng mắc cỡ là… nghiên cứu lịch sử văn hóa VN!

Nếu có một người Việt Nam nào nói khác các luận cứ “kinh điển” có cầu chứng của các học giả nước ngoài về lịch sử văn hóa VN thì lập tức bị những người khác, cũng là người VN, dè bỉu cho là tự hào dân tộc vô lối. Linh mục Kim Định là một nạn nhân như thế. “Triết lý an vi của ông”, dù chỉ là một triết lý chứ không phải sử học, với những “giả thuyết làm việc” (lời của chính vị linh mục ấy) căn cứ trên nhiều kết quả nghiên cứu của những tác giả có thẩm quyền quốc tế, vẫn không thuyết phục được những nhà khoa bản được định vị “dưới chân Kim Tự Tháp Trung hoa”.

Với phát hiện chữ viết của người Việt cổ này, tôi nhìn thấy một cuộc địa chấn – dĩ nhiên với điều kiện sự phát hiện đó phải được khoa học xác nhận một cách vô tư. Một cuộc địa chấn không để ai ngủ được cả, chớ đùng nói chuyện làm cho người ta ngủ. Người ta bị lay xốc cực mạnh để thức dậy. Ai không thức dậy tức là đã chết rồi.

Cuộc địa chấn như thế nào? Và chúng ta đã ngủ từ bao giờ và ngủ như thế nào để bị cơn địa chấn này đánh thức?

Cả ba câu hỏi này có một câu trả lời chung. Không phải chúng ta chỉ mới ngủ từ khi những tên thực dân Pháp dạy ta rằng tổ tiên ta là người Gô-loa, mà đã ngủ từ khi chúng ta được chính mình nhồi sọ cho nhau để tin một cách nức nở rằng chúng ta được tên thái thú Tàu là Sĩ Nhiếp dạy cho biết văn minh lễ nghĩa, những tên thái thú Nhâm Diên và Tích Quang dạy cho ta biết cày cấy vân vân. Rồi chúng ta mang ơn chúng, và thờ phụng chúng như thánh thần. (Đã có một triều vua của ta phong tước vương cho Sĩ Nhiếp và các nho sĩ ta thời trước gọi y là Sĩ vương!)

Trong thời thượng cổ, dân tàu là giống dân du mục săn bắn, trong khi dân Lạc Việt là một trong những chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp của nhân loại. Chính người Tàu đã xác nhận điều đó khi trên bầu trời họ đã định vị vì sao Thần Nông ở về hướng Nam. Thần Nông (ông thần phát minh nghề nông) là người phương Nam, tức người Việt. Thần Nông chẳng phải ông thần nào cả. Đó là tượng trưng cho nền văn minh nông nghiệp phương Nam. Và cũng chính người Tàu đã “vẽ” ra một chữ Việt bộ Mể (粵) gồm hai phần để mô tả người Việt là chủng người biết làm ruộng lúa nước (phần trên) và biết sử dụng liềm hái cắt lúa (phần dưới).

Vậy mà, ai đời một trong những chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp của nhân loại lại đi học nghề nông với bọn người du mục đến từ phương Bắc!

Đó mới chỉ là chuyện liên quan đến hai tên thái thú Nhâm Diên và Tích Quang. Còn chuyện liên quan đến “Sĩ vương” tức Sĩ Nhiếp?

Hơn ba mươi năm trước, sống đời nông dân trên rừng núi, nhưng bực mình vì thấy có người cho những từ tiếng Việt Vua, Bố, cha mẹ, chú bác, cô dì, anh chị em vân vân… đều là tiếng Tàu cổ hay có gốc Hán cổ từ những đời đường đời mật nào đó, tức một cách nói rằng người Việt chính là hậu duệ của người Tàu, tôi đã không tự lượng sức mình và không biết trời cao đất dày, đã “nghiên cứu” lịch sử văn hóa VN xem thử Ta Là Ai. Dĩ nhiên công trình “nghiên cứu” đầy cảm tính và chủ quan nông nổi của tôi đã không tới đâu. Có nhiều lý do khiến tôi phải bỏ cuộc. Một trong những lý do đó là tôi va phải một thực tế “ác nghiệt”. Tôi nhận thấy rằng, nếu tộc người Việt đã có một nền văn minh riêng “như thế, như thế” từ nhiều ngàn năm trước, ắt họ đã thoát khỏi giai đoạn thắt gút và có một hệ thống chữ viết để truyền thông với nhau. Nhưng những thông tin tôi cần về chuyện này là chưa có vào lúc đó, hoặc rất mơ hồ.

Trong bài viết, vốn là một cái email như email này đây mà sau đó khi được phổ biến trên mạng, tôi đã đặt tựa là “Văn hóa Việt Nam là của Dân tộc Việt Nam” (http://art2all.net/tho/tho_tk/vanhoavietnam.html), vì chưa biết thông tin về chữ viết của người Việt cổ tôi đã không thể đưa giả thuyết rất… hoang đường của mình ra để giải thích một hiện tượng là: Tất cả các vua chúa lớn nhỏ của Tàu trong lịch sử, trừ giai đoạn đời nhà Chu, đều xưng đế chớ không ai chịu xưng vương, và tước Vương vốn có ý nghĩa rất cao quý (nối thông tam tài) lại chỉ để phong cho các con trai thứ của nhà vua! Tôi đã thấy rằng từ Vương là một từ của ngôn ngữ Việt, nói cách khác, từ Vương là một từ thuần Việt mang vỏ chữ Hán. Tuy mang hình thức chữ Hán, nhưng nội dung hàm ngụ của nó là tinh thần văn hóa Việt Nam.

Giả thuyết lố bịch của tôi để giải thích hiện tượng đó là như vầy: Trong quá trình phát triển dân tộc và bành trướng đất đai, tộc người (về sau tự xưng là) Hoa Hạ đã tiếp thu luôn cả nền văn minh của người Lạc Việt là cư dân sinh sống từ phía dưới sông Hoàng Hà, hoặc ít nhất là từ bờ Nam sông Dương tử trở xuống. Người Lạc Việt với văn minh nông nghiệp vốn hiền hòa, sau một thời gian sống chung với bọn người du mục mới đến, đã không thể chống chọi lại bản tính tàn bạo và hiếu chiến của chúng nên sau mỗi cuộc xung đột, người Lạc Việt cứ rút lui dần về phía bên này vùng Ngũ Lĩnh. Có lẽ đó là lý do mà một trong bốn chữ Việt để chỉ người Việt, người Tàu đã vẽ hình một người [thất trận] bỏ chạy (tẩu 走 ) có cầm vũ khí (qua 戈 ), thường được gọi là chữ Việt bộ tẩu [ 越 ] .

Giai đoạn chủng người Hoa Hạ tiếp xúc và hấp thu nền văn minh của chủng người Việt có lẽ xảy ra rất sớm, từ thời Hiên Viên, Hoàng đế trong lịch sử Tàu. Văn hóa đời Chu cho thấy họ đã hoàn toàn thấm nhuần tinh thần văn minh văn hóa Việt. Người thủ lãnh của họ cũng bắt chước xưng Vương như người Việt – thay vì truyền thống của họ trước đó là xưng Đế.

Trong văn hóa Việt, Vương là một hiền giả, một người minh triết, một đấng thánh nhân, có thể cũng nắm giữ vị trí lãnh đạo xã hội[1], chủ yếu bằng đức độ và sự minh triết, chớ không phải bằng quyền lực và vũ lực. Trái lại, trong nền văn minh du mục, người lãnh đạo nắm toàn quyền cai trị và thống nhất xã hội bằng vũ lực. Chính sự bắt chước theo văn hóa Việt đã làm phân hóa xã hội của chủng dân du mục. Tước vị Vương của nhà Chu chỉ cho họ một điều thích hợp duy nhất là tôn người lãnh đạo lên bậc chí tôn, thiên tử, con trời. Nhưng vì không có quyền lực và vũ lực trong tay nên ông con trời đành bất lực nhìn đất nước phân tán nát bấy. Nhà Chu có tới tám trăm nước chư hầu. Tức là tám trăm bề tôi của cùng một ông vua đều mỗi người làm vua một cõi mà thiên tử nhà Chu yếu thế không có vũ lực trong tay, không làm gì được, kể cả khi đám bề tôi đó liên tục nhân danh thiên tử để triệt hạ và thâu tóm lẫn nhau.

Vì thấy rõ cái Vương đạo của người Lạc Việt chỉ phù hợp cho chủng dân với nền văn minh nông nghiệp hiền hòa và minh triết, không thể áp dụng được cho chủng dân vốn xuất phát từ nền văn minh du mục, nên mặc cho Khổng Tử mang Vương đạo đi rao giảng khắp nơi mòn giầy lỏng gối mà chẳng ai thèm nghe theo.

Khi Tần vương Doanh Chính thống nhất thiên hạ, ông ta quyết định xưng Đế theo truyền thống của người dân du mục trước đó. Thủy Hoàng Đế: Hoàng Đế đầu tiên.

Thật ra, ông ta không phải là vị hoàng đế đầu tiên. Thời thượng cổ trước đó họ đã có những vua Hoàng đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, vân vân. Nhưng các danh xưng Đế Nghiêu, Đế Thuấn này đã bị linh mục Kim Định phát hiện là được gọi theo cấu trúc tiếng Việt. Tức là họ tự tố cáo mình chịu ảnh hưởng của văn hóa Việt vào thời kỳ người Hoa Hạ mới từ trên vùng Hoàng Hà đổ xuống, sống chung với người bản địa Lạc Việt.

Nhưng khi tự xưng Thủy Hoàng Đế, rõ ràng ông ta đã tuyên bố đoạn tuyệt hẳn với văn hóa văn minh Lạc Việt, trở về với thời rất xa mà tổ tiên của chủng dân Hoa Hạ này còn sống trong nền văn hóa du mục “rặt ri”, trước cả thời Hiên Viên Hoàng đế.

Đốt sách chôn Nho đâu phải chỉ là để thống nhất chữ viết, như lâu nay người ta cứ nhai đi nhai lại mãi. Chữ viết là chuyện nhỏ, chỉ cần một sắc lệnh là xong, nhất là dưới thời toàn trị phong kiến ai dám cưỡng, viết khác kiểu chữ vua ra? Đốt sách chôn nho chính là nhằm tiêu diệt ảnh hưởng của văn minh Lạc Việt trong xã hội người Hoa Hạ, để nhà vua nắm toàn quyền cai trị bằng vũ lực, nhưng vẫn không bỏ vị trí tinh thần cao cả của bậc minh triết trong văn hóa Lạc Việt, mà lợi dụng nó và bóp méo nó để tự tôn mình là đấng con trời. Những chuyện vương đạo, bá đạo, pháp gia, danh gia, bách gia chư tử này nọ, trong thời chiến quôc chỉ là sự vật vã dằn xé trong ý thức của dân tộc họ giữa hai con đường phải chọn một: hoặc nền văn hóa vương đạo của Lạc Việt, hoặc nền văn minh bá đạo theo bản tính du mục của dân tộc họ. Và họ chọn bá đạo và tiêu diệt vương đạo.[2]

Tiêu diệt là chuyện Tần Thủy Hoàng muốn. Nhưng có lẽ ông ta đã sớm nhận ra rằng nền văn hóa nông nghiệp của người Việt có sức cảm hóa rất lớn. Một phần nền văn hóa Hoa Hạ là được tiếp thu từ văn hóa nông nghiệp Lạc Việt, đã trở thành giá trị chuẩn mực trong xã hội người Hoa, không gì có thể thay thế được. Tiêu diệt nó là điều hoàn toàn không thể. Thế là họ làm một cuộc đánh tráo văn hóa. Việc đốt sách chôn nho chính là âm mưu cho sự đánh tráo văn hóa, nhằm đổi trắng thay đen đó. Theo đó, người Tàu đóng vai đi khai hóa, dạy văn hóa lễ nghĩa cho “tứ di” những dân tộc “man rợ” trong đó có “Nam man”. Thành ra, chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp đi học lại văn hóa nông nghiệp từ giống dân du mục là Tàu.

Không phải là các sử gia Tàu đời Hán về sau không biết những chuyện đánh tráo kệch cỡm đó, nhưng họ thấy như thế làm vinh dự cho lòng tự cao của họ nên họ đồng lõa theo. Và chúng ta ngủ vùi dưới âm thanh của dàn đồng ca tráo trở đó. Có cả giọng ca của một vài sử gia Việt hùa theo.

Phong vương cho Sĩ Nhiếp, gọi y là Sĩ vương… chính là cùng ca bài ca của chúng để tự ru ngủ mình.

Trở lên là giả thuyết động trời của tôi. Giả thuyết đó phải có căn cứ là nền văn minh Lạc Việt có trước Tàu để làm cơ sở. Nhưng, như tôi có viết cho một người bạn mới đây, một nền văn minh như thế mà không có chữ viết thì chỉ là chuyện giả tưởng, hoặc một chuyện hài hước cười không nỗi. Vì không thấy có bằng chứng nào chứng tỏ người Việt cổ đã có chữ viết riêng nên tôi đã hậm hực bỏ dỡ “công trình nghiên cứu” rất cà chớn của mình.

Bây giờ đã có thông tin về chữ viết cổ của người Lạc Việt. Khi đón nhận tin này, một thông tin rất ngắn tôi đọc thấy trên mạng hồi trước Tết, trước bài viết khá chi tiết của ông Hà Văn Thùy, tôi rất xúc động. Người tôi run rẩy. Nhưng tôi không ngạc nhiên. Tuy tôi quên “công trình nghiên cứu” của mình rồi, nhưng một nơi nào đó sâu thẳm trong tôi vẫn hằng mong đợi một thông tin như thế. Vì thông tin này đối với tôi có giá trị quá lớn, nên tôi không dám mừng rỡ hết lòng. Một sự xác định trái ngược hay phủ định giá trị của phát hiện đó sẽ khiến tôi rất tổn thương. Tôi nén cảm xúc cho đến khi phát hiện đó được khoa học xác minh là chính xác.

Nhưng, dù vậy, tôi cảm thấy phát hiện này có ý nghĩa một cuộc địa chấn: Nếu phát hiện đó được xác nhận là đúng thật, không những cổ sử của ta và cả cổ sử Tàu phải được viết lại, mà lịch sử văn hóa của một số quốc gia châu Á, gồm Việt Nam, Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc cũng phải viết lại. Thậm chí lịch sử văn hóa thế giới sẽ phải có những điều chỉnh quan trọng. Vì chứng tích chữ viết cổ này xác nhận nền văn minh Lạc Việt tồn tại từ lâu trước khi người Hoa Hạ đến xâm lấn địa bàn cư trú của họ là điều có thật. Chữ viết cổ của người Lạc Việt là nguồn gốc của chữ Trung Quốc là điều có thật. Nền văn hóa và văn minh tinh thần của Trung Quốc là có nguồn gốc từ văn minh Lạc Việt là có thật. Trung Quốc sẽ không còn được nhìn nhận là cội nguồn của nền văn hóa văn minh mà họ mạo nhận là của họ từ nhiều nghìn năm nay. Những sự đảo lộn lớn lao như thế không sánh với một cuộc địa chấn được sao?

Giành được thắng lợi trong một trận bóng đá thôi mà người ta la hét cuống cuồng nhảy nhót như điên loạn; lẽ nào giành lại được quyền làm chủ của một trong những nền văn minh văn hóa sớm nhất của nhân loại mà lại… buồn ngủ sao?

Có nhiều quốc gia đã cố phấn đấu mọi cách để giành được quyền đăng cai một trận bóng. Một nền văn minh văn hóa lâu đời của cha ông trở lại vào tay mình mà lại không giá trị bằng một trận bóng sao?

Thưa anh Tu Dinh,

Anh từ chối phát hiện này với lý lẽ rằng:
(1) Cái mà Hà Văn Thùy gọi là chữ, hay tiếng (language), thật ra, đó chỉ là những ký hiệu (symbol, signifier) rời rạc, khắc trên đá.
(2) Tiếng Việt có cấu trúc ngược với Tiếng Tàu. Làm sao có thể nói, Tiếng Việt đã “tạo nên” Tiếng Tàu.
(3) Nói rằng Tiếng Việt “tạo nên” Tiếng Tàu, làm sao có thể cắc nghĩa 2 hiện tượng sau đây: (a) Suốt dòng lịch sử, Người Việt chỉ có tiếng nói, không có chữ viết, phải mượn Tiếng Hán để học hành, và dùng trong quản trị hành chánh (viết sắc, chiếu của triều đình), và (b) Tiếng Tàu đã phát triển đầy đủ, còn Tiếng Việt thì nghèo nàn, không đủ dùng.

Tôi cho là anh Tu Dinh hiểu lầm.

1. Chữ viết và tiếng nói là hai thành tố của một ngôn ngữ. Ở chữ viết tượng thanh, một ký hiệu thường đại diện cho một âm, và có thể không có ý nghĩa nào cả. Các âm /a/, /b/, /k/ không có nghĩa gì hết. Ghép chúng lại theo một thứ tự nhất định thì chúng mới thành một chữ, mang một ý nghĩa qui định nào đó. Trong trường hợp này là chữ Bac, (có thể là tiếng Việt hoặc tiếng Pháp), hoặcCab (tiếng Anh), hoặc cũng có thể là QAB, chữ tắt của queue anchor block trong lãnh vực toán tin học, hay Baq., viết tắt tên phi trường Barranquilla ở Colombia.

Với chữ tượng hình, mỗi ký hiệu có thể là một chữ, vừa có âm, vừa mang nghĩa. Những chữ viết cổ phát hiện được là chữ tượng hình. Do đó, người ta đã đối chiếu với chữ khoa đẩu có niên đại mới hơn chúng và đã đọc được nội dung ý nghĩa của chúng. Các ký hiệu của chữ tượng thanh phải viết liền vào nhau mới thành chữ. Chữ tượng hình thì mỗi chữ là một đơn vị rời rạc.

2. Dường như anh Tu Dinh có sự nhầm lẫn giữa tiếng và chữ. Thứ mới được phát hiện ở đây là chữ viết (writing). Tiếng Việt không thể tạo nên tiếng Tàu. Nhưng người Tàu có thể dùng chữ viết cổ sơ này của người Lạc Việt để xây dựng và phát triển thành hệ thống chữ viết của họ. Đó là chuyện bình thưởng. Ta vẫn dùng chữ cái Latinh để viết tiếng Việt, có sao đâu!
Tiếng Việt có cấu trúc ngược với tiếng Tàu. Tiếng Việt không nói theo cấu trúc tiếng Tàu. Nhưng người Tàu thời thượng cổ có nói theo cấu trúc tiếng Viết. Những cách gọi Đế Nghiêu, Đế Thuấn, thay vì Nghiêu đế, Thuấn đế… là một bằng chứng lịch sử. (Còn thêm một số thí dụ nữa về chuyện người Tàu (thời cổ) nói theo cấu trúc tiếng Việt mà nhất thời tôi không nhớ).

3. a. Chuyện “suốt dòng lịch sử người Việt chỉ có tiếng nói, không có chữ viết, phải mượn tiếng Hán để học hành…” thì lịch sử đã có câu trả lời đầy đủ, và cụ thể. Đó là hậu quả của một chính sách đồng hóa tàn bạo của người |Tàu đối với các dân tộc bị chúng đô hộ. Sử Tàu ghi rõ, những ngày tháng nào, những tên vua nào của Tàu đã ra lệnh cho những bọn tay chân nào của chúng phải tìm và tịch thu hoặc hủy diệt tất cả những gì có chữ viết của các dân tộc bị trị để họ không còn nhớ đến lịch sử và văn minh của nòi giống họ nữa. Một mẫu giấy nhỏ có chữ viết cũng không để sót. Đọc sử Tàu sẽ thấy đủ và rõ hết. Trong sử của ta thỉnh thoảng cũng có trích dẫn những lệnh hủy diệt này của chúng.

Sau 1050 năm nằm dưới ách đô hộ của chúng mà tiếng nói của ta vẫn không mất là một điều thần kỳ vĩ đại. Chỉ sau ba trăm năm bị Mỹ đô hộ, người Phi-lip-pin đã mất cả tiếng nói lẫn chữ viết của dân tộc họ rồi kìa!

b. “Tiếng Tàu đã phát triển đầy đủ trong khi tiếng Việt vẫn còn nghèo nàn” chẳng phải là do sự yếu kém hay khiếm khuyết gì của tiếng Việt. Đó là do lịch sử. Tiếng Tàu liên tục phát triển từ khi dân tộc họ có tiếng nói đến nay, không đầy đủ mới là chuyện lạ. Tiếng Việt chúng ta chỉ mới thực sự phát triển vào khoảng 3 phần tư thế kỷ đây thôi. Chẳng phải mãi đến thập niên 40 thế kỷ trước ta vẫn còn các hội truyền bá quốc ngữ đó sao? Cuốn từ điển Danh Từ Khoa Học của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được soạn vào khoảng thập niên 40 của thế kỷ 20 đó chớ gì? Cuốn Từ Điển Tiếng Việt đầu tiên cho người Việt dùng chỉ mới ra đời vào khoảng thập niên 50 thế kỷ trước chớ mấy. Chỉ mới phát triển trong ngần ấy năm thì làm sao tiếng Việt giàu có ngay được bằng các ngôn ngữ khác đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử? Được như thế này chỉ trong ngần ấy năm, tiếng Việt đã bước đi bằng đôi hia ngàn dậm, chớ không chỉ đôi hia bẩy dặm. Ta phải tự hào với điều đó mới phải chứ? Sao lại than phiền biếm nhẽ? Chê tiếng Việt nghèo nàn là cố chấp một cách không đúng. Ngày xưa, thạc sĩ văn phạm Pháp Phạm Duy Khiêm đã mắc phải sự thiển cận đó. Nhiều người đã giận dữ cho là ông xúc phạm niềm tự hào dân tộc. Tôi cho là ông thiển cận.

Thế trong suốt lịch sử dân tộc cho đến trước các thập niên 40, 50 của thế kỷ trước tiếng Việt đã “ngủ đông” à? Gần như vậy. Trong suốt lịch sử, giai cấp trí thức thượng tầng của xã hội liên tục và nhất quán từ chối tiếng nói của tổ tiên mình. Bị Tàu đô hộ thì họ nói tiếng Tàu, viết chữ Tàu. Thoát khỏi sự đô hộ của Tàu rồi họ vẫn tiếp tục dùng chữ Tàu trong mọi văn kiện chính thức của triều đình, và cả trong văn học, coi chữ Tàu là “chữ ta”, “chữ thánh hiền”, và coi ngôn ngữ nước nhà là nôm na mách qué. Tiếng Việt chỉ được bảo tồn trong giai cấp bình dân, dân quê ít học, ở nơi “thôn cùng xóm vắng”. Trong điều kiện đó, tiếng Việt phải trong tình trang “tiềm sinh” chờ thời sống lại, chớ làm sao phát triển bằng người được? Ngay mới vừa rồi đây, tham dự Ngày Thơ Việt Nam trong chương trình Liên hoan Thơ Châu Á – Thái Bình Dương, (1/2 – 7/2/2012) tôi đã thấy ngay trong khuôn viên Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội người ta còn phô trương những dãy chữ Hán thật to kết bằng hoa cỏ cho người dân thưởng thức.

Ngày nay còn bao nhiêu người Việt đọc được thứ chữ này? Trí thức của ta như thế đó.

Dưới thời Pháp thuộc, giới trí thức toàn nói tiếng Tây; tiếng Việt là dành cho cu li. (Nhưng ngay cả cu li cũng phải nói tiếng Tây mới có được công ăn việc làm.)

Bây giờ là tiếng Mỹ. Nhìn vào đâu cũng thấy tiếng Mỹ. Trong một bịch kẹo “nội hóa” bán cho trẻ con ở thôn quê cũng in mọi điều quảng cáo bằng tiếng Mỹ. Một cửa hàng bán dụng cụ làm bếp dù không nằm trong trung tâm thành phố cũng xài toàn tiếng Mỹ từ trong ra ngoài. Lẽ nào du khách ngoại quốc tìm đến VN và “đi xe ôm” ra rìa thành phố, tới của hàng đó để mua xoong nồi mang về nước? Ngay cả các UBND xã huyện tỉnh là để phục vụ người Việt Nam đều được ghi kèm tiếng Mỹ. Lối thoát hiểm của một số cơ quan, bệnh viện đều có gắn biển đề chữ EXIT. Khi có hỏa hoạn, người Mỹ thì biết đường chạy, còn người Việt không biết tiếng Mỹ thì sao? Nhưng có người Mỹ nào đến những nơi ấy không? Họ đến đó để làm gì?

Đó, giới có ăn có học của ta đối xử với tiếng mẹ đẻ như vậy đó, Quên điều này, quên tình trạng “thứ yếu”, “thổ dân thổ ngữ” của tiếng Việt, mà đặt ra câu hỏi “vô ý” như câu hỏi của anh Tu Dinh e là làm cho ngôn ngữ của tổ tiên phải mũi lòng.

“Hôm nay, là Thế Kỷ 21, dân tộc Việt Nam không phải là trẻ con”. (Tu Dinh). Phải, càng không là trẻ con, khi dân tộc đó hàng chục ngàn năm trước đã sáng tạo chữ viết trước cả người Tàu, và nhờ thứ chữ viết đó mà người Tàu phát triển thành hệ thống văn tự của họ. Nếu phát hiện này được khoa học xác nhận, thì không ai có thể ngủ được cả. Nhất là người Tàu. Họ sẽ mất ăn mất ngủ trước hết.

Khi thông tin này được chính người Tàu đưa ra, thì tính chất quan trọng của nó là rất lớn. Chắc chắn là họ đã cân nhắc và ý thức rõ sức công phá dữ dội của sự kiện này đối với lâu đài văn hóa nhiều ngàn năm của họ. Họ phải biết hậu quả của sự kiện này là thế nào. Cả một lâu đài văn hóa của họ rực rỡ mấy ngàn năm mà họ rất tự hào, bỗng chốc hóa ra đồ vay mượn. Tại sao họ lại có thể “bịa” một chuyện động trời như thế này để ru ngủ chúng ta?

Thiếu Khanh

[1] Xem Văn hóa Việt Nam là của Dân tộc Việt Nam: http://art2all.net/tho/tho_tk/vanhoavietnam.html
[2] Định nghĩa “vương đạo” trong bài Văn Hóa Việt Nam là của Dân tộc Việt Nam, đã dẫn trên.


Đây là phiến đá có khắc tự phù biểu ý của người Lạc Việt cổ được chụp tại huyện Bình Quả – Quảng Tây vào ngày 23 tháng 12

Đây là phiến đá có khắc tự phù biểu ý của người Lạc Việt cổ được chụp tại huyện Bình Quả – Quảng Tây vào ngày 23 tháng 12

Nhóm khảo cổ khảo sát di chỉ cúng tế xẻng đá lớn Cảm Tang – thị trấn Mã Đầu – huyện Bình Quả – Quảng Tây vào ngày 22 tháng 12

Ông Tưởng Đình Du giám định chữ khắc trên đá phát hiện ở di chỉ Cảm Tang – huyện Bình Quả

Một phiến đá có khắc chữ phát hiện ở di chỉ Cảm Tang – huyện Bình Quả

Một phiến đá có khắc chữ phát hiện ở di chỉ Cảm Tang – huyện Bình Quả

Một phiến đá có khắc chữ phát hiện ở di chỉ Cảm Tang – huyện Bình Quả

Một phiến đá có khắc chữ phát hiện ở di chỉ Cảm Tang – huyện Bình Quả

Ông Tưởng Đình Du giải thích tình huống cho dân thôn

Phát hiện đàn tế của người Lạc Việt có hình khắc của người Lạc Việt

Hình vẽ chim và rắn trên đàn tế của người Lạc Việt cổ ở núi Đại Minh

Chữ khắc trên xương thú phát hiện ở di chỉ mộ táng vách động của người Lạc Việt ở huyện Vũ Minh


Chữ khắc trên xương thú của người Lạc Việt phát hiện ở sông Ung

Chiếc qua đá cổ của người Lạc Việt phát hiển ở sông Tả

Phát hiện di chỉ Cảm Tang có chữ khắc trên đá của người Lạc Việt

Chữ khắc trên đá của người Lạc Việt trên phiến đá lớn nhất

Một phiến đá khắc chữ Lạc Việt

Các phiến đá có khắc chữ phát hiện ở di chỉ Cảm Tang

Một phiến đá khắc chữ Lạc Việt

Xẻng đá lớn phát hiện tại đầm Đại Long – huyện Long An – Quảng Tây

Các loại xẻng đá được phát hiện

Nguồn: www.vietthuc.org


3 Comments »
 Tang Nguyen says:
February 23, 2012 at 3:20 pm

Chân thành cảm tạ ông Thiếu Khanh TN

 Dung Tran says:
February 23, 2012 at 6:25 pm

Thưa ông Thiếu Khanh,
Tôi rất lấy làm tâm đắc về những lời ông viết. Hàng ngàn năm nay do sự tiếp tay của hàng ngàn “học giả” theo gót Tàu nên bỏ quên cái đáng tự hào của dân mình. Họ quên rằng khi muốn hiểu rõ tiếng Việt thì phải học thêm tiếng Thái (lan), tiếng Lào, tiếng Miên, tiếng Mã Lai và cả tiếng Tàu ngày xưa nữa. Ngoài ra còn phải học thêm các thứ tiếng của những bộ tộc hiện đang số dọc theo dãy Trường Sơn thì mới thấy tinh thần quật cường của dân Việt, một giống dân không hề khuất phục. Hơn một ngàn năm không bị đồng hoá mà ngược lại còn đồng hoá người muốn đồng hoá mình qua đợt di dân khổng lồ của Mã Viện (dân Mã lưu) sau khi hai Bà Trưng thất trận. Hoan hô tinh thần bất khuất của các bà thể hiện qua câu nói của dân gian: Chín tháng cưu mang ba năm bú mớm của những bà mẹ Việt Nam xưa và nay.
Lần khám phá này đóng góp thêm vào kho tàng văn hoá Việt một điểm son nữa để chúng ta nhìn nhau và nói: Chúng ta có quyền tự hào mình là DÂN VIỆT!!!


 thanhbinh says:
February 25, 2012 at 4:09 am

The Viet has been cheated for too long with respect to their history and culture. And the people who helped cheating were the so called “Vietnamese scholars”. Those “Scholars” wrote about history and culture were nothing but citing from Chinese and French authors. Chinese authors wrote Chinese taught the Viet how to behave, ethics, and how to do farming, the so called “Viet scholar” wrote books promoting them; French authors wrote ancestors of the Viet were Chinese, and the so called “Viet Scholar” wrote book promoting that. It is very sad.

Observing what the Chinese is writing about history of China today, it is nothing but imaginative and cheating. For example, the rational for the U-shaped line on the map of “South China Sea” that they had created to claim these sea area historically belonged to them. Also, relating to the U-shaped line in the “South China Sea” map, scientific papers writen by Chinese Scholars included this map with no relation to the subject they wrote. When the matter was questioned, the answer from the Chinese Scholars were my goverment told me so. Whatever is “made in China”, whether it is material or intellectual, needs to be examined carefully. I hope Vietnamese in 21st Century had no slaveric “Scholars” as the had in the 19th and 20th Century. I also thank you for people who have spent time to research and have the courage to say and to write factual history of Vietnam.

Hành trình chế tạo UAV của Việt Nam

Năm 1996, Việt Nam đã chế tạo thành công mục tiêu bay, đánh dấu một bước tiến vượt bậc của nghành kỹ thuật hàng không nước ta.

Mục tiêu bay M-100CT dành cho huấn luyện bắn đạn thật các đơn vị pháo cao xạ, tên lửa.
Mục tiêu bay không chỉ dùng cho nhiệm vụ huấn luyện đơn vị phòng không, mà còn là nền tảng để Việt Nam thiết kế UAV trinh sát.

Sau một thời gian nghiên cứu, chế tạo và thử nghiệm, năm 1996, những chiếc mục tiêu bay ra đời đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc của ngành kỹ thuật hàng không Quân chủng Phòng không-Không quân.

Đến nay, không chỉ dừng lại ở các loại mục tiêu bay, máy bay không người lái (UAV) phục vụ huấn luyện, Quân chủng Phòng không - Không quân còn là nơi nghiên cứu, chế tạo ra các UAV tham gia mục đích quân sự. Thành công đó đã đưa Việt Nam trở thành 1 trong 5 nước Đông Nam á thiết kế, chế tạo thành công UAV.

Từ mục tiêu bay

Trước đây, sau những mùa bắn đạn thật của các lực lượng phòng không, không quân, các đơn vị rất phấn khởi là hiệu suất tiêu diệt mục tiêu tương đối cao và ổn định.

Tuy nhiên, những người đứng đầu Quân chủng Phòng không - Không quân lúc bấy giờ lại hết sức trăn trở. Khoa học kỹ thuật quân sự ngày càng phát triển, hoạt động tác chiến của đối phương ngày càng tinh vi, nhất là các phương tiện tiến công hoả lực đường không. Nếu không kịp thời đổi mới nâng cao huấn luyện thì rất khó đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Do đó, việc nghiên cứu, sản xuất mục tiêu bay là một nhiệm vụ cấp bách và cần thiết. Để chuẩn bị cho nhiệm vụ này, năm 1996, Quân chủng Phòng không - Không quân đã mua tổ hợp thiết bị bay DF-16 của Isarel và giao cho Ban Giáo dục Quốc phòng (Bộ Tham mưu Phòng không - Không quân) nghiên cứu, học tập. Tiếp đó, Bộ Tư lệnh Quân chủng giao cho cơ quan này phối hợp với Nhà máy A40 nghiên cứu, chế tạo mục tiêu bay.

Sau 3 năm nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và thử nghiệm, cuối năm 1999, hai chiếc mục tiêu bay ký hiệu M-96 (bay ngày) và M-96D (bay đêm) đã được Nhà máy A40 xuất xưởng và bay thử thành công trên bầu trời Miếu Môn (Hà Nội). 

Loại mục tiêu này có sự hỗ trợ của kính TZK, điều khiển bằng tay và thực hiện bay bằng trong tầm quan sát bằng mắt thường. Và kể từ đó, mục tiêu M-96 và M-96D được Quân chủng Phòng không - Không quân sản xuất hàng loạt phục vụ cho các lực lượng tên lửa, pháo cao xạ huấn luyện.

Tuy nhiên, so với các loại mục tiêu bay trên thế giới dùng cho lực lượng phòng không, không quân huấn luyện, M-96 có nhiều hạn chế như: tầm bay ngắn, trần bay thấp và tốc độ nhỏ. Do đó, M-96 tiếp tục được nghiên cứu cải tiến và nâng cấp với tầm hoạt động rộng, trần bay cao, tốc độ lớn hơn, đặc biệt là thiết bị này bay theo chương trình tự động định sẵn.

Quân chủng tiếp tục giao cho các kỹ sư từng tham gia sản xuất M-96. Sau khi Ban nghiên cứu Mục tiêu bay của Viện Kỹ thuật Phòng không - Không quân (VKTPK-KQ) được thành lập, Đại tá Trịnh Xuân Đạt được bổ nhiệm làm trưởng ban, Trung tá Nguyễn Thanh Tịnh làm phó ban, Ban được cấp kinh phí cùng với cơ sở hạ tầng, trang thiết bị vật chất phục vụ công tác nghiên cứu, sản xuất.

Sau gần nửa năm nghiên cứu Viện đã hoàn thành nhiệm vụ nâng M-96 thành M-100CT, đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật. Trong chương trình bay báo cáo được tiến hành vào tháng 7 năm 2004, Viện đã biểu diễn thành công các chuyến bay của mục tiêu M-100CT.

Chương trình cải tiến mục tiêu M-96 lên M-100CT thành công là cả một bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực chế tạo mục tiêu bay, đây là tiền đề vững chắc để các nhà khoa học Quân chủng tiến tới hiện thực hoá giấc mơ chế tạo thành công UAV.

UAV "made in Vietnam"

Thực ra, trước thành công của M-100CT, đầu năm 2001, VKTPK - KQ đã khởi động dự án “Nghiên cứu thiết kế, chế tạo UAV điều khiển chương trình”, ký hiệu M-400CT. Thiết bị này có nhiều điểm tương đồng với Tổ hợp thiết bị bay DF-16 do Isarel sản xuất. Cho đến khi thử nghiệm thành công M-100CT, Viện giao cho Ban nghiên cứu mục tiêu bay tiếp tục hoàn thiện sản phẩm.

Đại tá Trịnh Xuân Đạt cho biết, đây là một nhiệm vụ khó, đòi hỏi phải đầu tư công sức và trí tuệ nhiều, khó nhất là thiết kế, chế tạo chương trình điều khiển tự động. Trong khi đó, các linh kiện này không có ngoại nhập, trong nước thì càng khan hiếm, bởi vậy các kỹ sư đã nghiên cứu thử nghiệm trên nhiều linh kiện khác nhau.

Còn phần chế tạo vỏ, thân máy bay, khác với mục tiêu bay, lần này Viện phối hợp với Trường Đại học Bách khoa Hà Nội sử dụng chất liệu composite (thay cho chất liệu gỗ như trước), chất liệu này vừa rẻ vừa giảm được trọng lượng của máy bay xuống, nâng khả năng mang nhiên liệu của máy bay lên.

Sau 4 năm nghiên cứu, thử nghiệm, ngày 15/9/2005, 2 chiếc UAV M400-CT mang phiên hiệu 405, 406 đã bay báo cáo thành công các bài bay tại sân bay Kép (Bắc Giang), với độ cao 2.000m, bán kính hoạt động 15km.

Đại tá Trịnh Xuân Đạt-Trưởng ban Nghiên cứu mục tiêu bay là một trong những người có công trong việc chế tạo máy bay không người lái Việt Nam.

Sau đó, VKTPK-KQ tiếp tục cải tiến và nâng cấp M-400CT lên độ cao 3.000m, tốc độ 250 - 280km/h, bán kính hoạt động 30km, có thể cất hạ cánh trên đường băng (đất hoặc bê tông).

Cùng với việc chế tạo UAV, Viện cũng đã thiết kế và chế tạo thành công các hệ thống bệ phóng (dùng cho các trường hợp không có đường băng cất cánh) bằng những nguyên vật liệu có trong nước, nhẹ và dễ cơ động.

Với thành công này, ngày 15/9/2006 được lấy làm ngày khai sinh của UAV và những thành công này đã đưa Việt Nam trở thành 1 trong số ít nước Đông Nam Á chế tạo được UAV.

Hiện nay, VKTPK - KQ là đơn vị sản xuất mục tiêu bay, UAV phục vụ cho công tác huấn luyện của các lực lượng phòng không, không quân và lực lượng phòng không lục quân.

So với thế hệ mục tiêu và UAV trước đây, hiện nay chúng đã được cải tiến và nâng cấp nhiều hơn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các loại khí tài mới và hiện đại. Cùng với việc sản xuất mục tiêu bay, UAV phục vụ mục đích quân sự, VKTPK - KQ cũng đã thiết kế, chế tạo ra các loại UAV phục vụ các mục đích dân sự như: bay phun thuốc trừ sâu, bay quay phim, chụp ảnh địa hình...

Theo báo Thể thao văn hóa

Đô đốc Hải quân Pháp thăm Đà Nẵng

Ngày 22/2, Đô đốc Eduard Guillaud - Tham mưu trưởng Liên quân Cộng hòa Pháp đã tiến hành chuyến thăm hữu nghị chính thức Việt Nam.

(ĐVO) Đô đốc Eduard Guillard cùng đoàn đã tới thăm thành phố Đà Nẵng và một số đơn vị quân đội đóng trên địa bàn. Tại Quân khu 5, Thiếu tướng Lê Chiêm, Uỷ viên Trung ương Đảng, Tư lệnh quân khu đã chủ trì lễ đón Đô đốc Eduard Guillaud.

Đô đốc Eduard Guillard bắt tay các chỉ huy vùng 3 Hải quân.

Thay mặt Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân khu, Thiếu tướng Lê Chiêm đã thông báo sơ bộ tình hình lực lượng vũ trang quân khu và bày tỏ mong muốn mối quan hệ giữa quân đội hai nước nói chung, lực lượng vũ trang quân khu nói riêng tiếp tục phát triển dựa trên cơ sở hòa bình, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau.

Ngài đô đốc đã cảm ơn sự đón tiếp chu đáo, thân tình, trọng thị của Quân khu 5 và ca ngợi truyền thống vẻ vang của lực lượng vũ trang Quân khu 5 qua các thời kỳ. 

Tại Bộ Tư lệnh Vùng 3 Hải quân, Đại tá Ngô Sĩ Quyết, Tư lệnh Vùng 3 đã chủ trì lễ đón ngài Đô đốc và đoàn. Đại tá Ngô Sĩ Quyết đã giới thiệu về Vùng 3 hải quân và một số đặc điểm, tình hình trên khu vực biển đảo mà đơn vị đảm nhiệm quản lý.

Đô đốc Eduard Guillaud đánh giá cao sự phát triển của hải quân Việt Nam và bày tỏ tin tưởng sức mạnh của hải quân Việt Nam nằm ở tinh thần chiến sĩ và sự huấn luyện chính quy, tinh nhuệ. Ngài Đô đốc cho biết, khoảng một tháng tới, một tàu chiến hiện đại của hải quân Pháp sẽ ghé thăm, giao lưu với Hải quân Nhân dân Việt Nam.

Chiều cùng ngày, Đô đốc Eduard Guillaud và đoàn đã tới thăm Sư đoàn Không quân 372 (Quân chủng Phòng không-Không quân) và Bảo tàng Chăm tại thành phố Đà Nẵng.

Theo báo Quân đội Nhân dân

Một tàu cá bị Trung Quốc tịch thu ngư lưới cụ

1. Một tàu cá bị Trung Quốc tịch thu ngư lưới cụ
 
(Đất Việt) Sau khi tịch thu toàn bộ ngư lưới cụ, tàu cá của ông Đặng Tằm cùng 11 ngư dân đã được phía Trung Quốc thả về.

Chiều 23/2, ông Nguyễn Thanh Nam – người trực đài canh Icom cộng đồng ở xã Bình Châu, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) thông tin một tàu cá của ngư dân địa phương đã bị phía Trung Quốc bắt giữ, tịch thu ngư lưới cụ.

Sự việc xảy ra vào lúc 15h ngày 22/2, khi tàu cá QNg-90281TS của ngư dân Đặng Tằm, thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn (trên tàu có 11 ngư dân) khi hành nghề tại vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam thì bị tàu hải quân Trung Quốc rượt đuổi, sau đó bắt giữ.

Sau khi tịch thu toàn bộ ngư lưới cụ, tàu cá của ông Đặng Tằm cùng 11 ngư dân đã được phía Trung Quốc thả về. Dự kiến, tàu cá của ông Tằm sẽ về đến quê nhà vào ngày hôm nay (24/2). Đây là trường hợp tàu cá đầu tiên trong năm 2012 bị phía Trung Quốc bắt giữ khi đang hoạt động khai thác hợp pháp trên vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam.

Minh Như
 
2. Tàu cá bị bắt giữ trái phép về bến an toàn
 
(Báo điện tử Kiến thức) Sáng 24/2, chiếc tàu cá mang số hiệu QNg 90281 Ts của ông Đặng Tằm, ở thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi và 11 ngư dân đã về đến cảng Sa Kỳ, xã Bình Châu, cùng huyện  an toàn.

Theo lời của ngư dân đi trên tàu này kể lại, khoảng 15h10 ngày 22/2, khi đang hoạt động khai thác hải sản tại khu vực vùng biển Hoàng Sa, thì bị một tàu hải quân nước ngoài rượt đuổi, bắt giữ và tịch thu toàn bộ ngư lưới cụ.
 
Tàu cá  của ông Tằm đang cập bến Sa Kỳ
Tàu cá của ông Tằm đang cập bến Sa Kỳ

Sau đó thì tàu cá của ông Tằm và 11 ngư dân được thả về. Đây là trường hợp tàu cá ở Quảng Ngãi đầu tiên trong năm 2012 bị nước ngoài bắt giữ và tịch thu ngư lưới cụ trái phép.

H.V.T

3. Tàu cá Quảng Ngãi bị tàu nước ngoài tấn công

(Dân Việt) - 5 giờ sáng 24.2, tàu cá QNg - 90281 cùng 11 ngư dân của thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, đã về đến đất liền sau khi bị một tàu hải quân của nước ngoài tấn công.

Theo thuyền trưởng Đặng Tằm, sự việc xảy ra vào lúc 15 giờ ngày 22.2. Lúc đó, 11 ngư dân trên tàu đang đánh cá tại vùng biển Hoàng Sa của VN thì bất ngờ bị tàu hải quân nước ngoài rượt đuổi, áp sát, uy hiếp.

“Lính trên tàu dùng súng ép chúng tôi vào buồng lái trên tàu. Họ dùng vòi nước cỡ lớn xịt vào các ngư dân, dồn chúng tôi về đầu tàu, rồi bịt mắt và đánh đập. Thiệt hại của tàu tôi ước gần 500 triệu đồng”.

Công Yến

 

Trung Quốc muốn đắc lợi ở Trung Đông

(Báo Thanh Niên) Giới quan sát nhận định với những động thái liên quan đến Trung Đông gần đây, Trung Quốc muốn gia tăng ảnh hưởng ở khu vực này.
Tổng thống al-Assad (phải) tiếp Thứ trưởng Địch Tuyển tại Damascus - Ảnh: AFP


Trung Quốc được cho là đang tận dụng căng thẳng giữa phương Tây với Syria và Iran để trở thành một đối tác có ảnh hưởng trong khu vực với những hoạt động liên tục. Cụ thể, Thứ trưởng Ngoại giao Địch Tuyển đến Syria trong 2 ngày 17 và 18.2 để bàn về cuộc khủng hoảng ở đây. Trước đó, Thủ tướng Ôn Gia Bảo công du Ả Rập Xê Út, Qatar và UAE trong tháng 1. Theo báo The New York Times, đây là chuyến thăm đầu tiên của một thủ tướng Trung Quốc đến Qatar và UAE từ trước đến nay. Cũng phải sau 2 thập niên mới lại có một người đứng đầu chính phủ Trung Quốc thăm Ả Rập Xê Út.

Mới đây, trang tin China.org.cn dẫn lời chuyên gia Trung Quốc Lâm Lương Tường nhận định: “Trung Đông là nơi chúng ta có thể chứng tỏ vai trò một siêu cường có trách nhiệm”.

Tạo dựng ảnh hưởng

Kể từ thập niên 1990, Trung Quốc không ngừng cải thiện quan hệ với các nước Trung Đông, đặc biệt là Iran và Ả Rập Xê Út. Hiện Iran là nước cung cấp dầu lớn thứ 3 cho Trung Quốc, sau Ả Rập Xê Út và Angola. Đổi lại, Trung Quốc xuất khẩu vũ khí cho 2 đối tác trên, theo tạp chí Middle East Quarterly.

Ngoài ra, ngay từ thời Trung cổ, Trung Quốc đã có quan hệ với Syria thông qua Con đường tơ lụa, theo Giáo sư Stephen Zunes tại Đại học San Francisco (Mỹ). “Ngày nay, Trung Quốc muốn dựng lại con đường thương mại này và đang tăng cường hướng tới Trung Đông để đáp ứng nhu cầu năng lượng ngày càng tăng”, ông Zunes nhận định trên chuyên trang về Trung Đông Middleeastvoices.com.

Trong bài bình luận đăng trên báo Los Angeles Times, 2 chuyên gia David Schenker và Christina Lin tại Viện Nghiên cứu chính sách Cận Đông có trụ sở tại Washington cho hay từ thập niên 1990, Trung Quốc bắt đầu lấp khoảng trống mà Liên Xô để lại ở Syria bằng cách cung cấp tên lửa cho nước này. Nhiều nhà quan sát phương Tây cho rằng Trung Quốc hiện không chỉ là nguồn cung vũ khí ổn định mà còn đầu tư mạnh vào việc hiện đại hóa ngành năng lượng của Syria.

Tuy nhiên, theo tạp chí The Diplomat, các chuyên gia Trung Quốc tin rằng chính phủ của họ vẫn thiếu các đòn bẩy mạnh để tạo ảnh hưởng trực tiếp cho các vấn đề Trung Đông và lâu nay vẫn đóng vai trò quan sát nhiều hơn. 

Thời cơ đã đến?

Theo 2 nhà quan sát Schenker và Lin, bối cảnh tình hình mới ở Trung Đông và Bắc Phi do chính biến được Bắc Kinh xem là cơ hội “vàng” để giành chỗ đứng trong khu vực. Trung Quốc và Nga đã phủ quyết các dự thảo nghị quyết của LHQ kêu gọi Tổng thống Syria Bashar al-Assad từ chức. Đây là một trong những lần hiếm hoi nước này sử dụng quyền phủ quyết tại HĐBA LHQ. Tân Hoa xã dẫn lời Thứ trưởng Địch Tuyển phát biểu tại Damascus kêu gọi tất cả các bên chấm dứt tình trạng bạo lực và ủng hộ lộ trình cải cách của chính phủ Syria.

Ngoài ra, hồi tháng 10.2011, Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ, một thế lực đang lên trong khu vực, đã nâng quan hệ song phương lên tầm chiến lược. Theo AFP, Phó chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đến Ankara vào cuối ngày hôm qua để thảo luận với giới chức Thổ Nhĩ Kỳ về vấn đề Syria và thương mại song phương. Giới quan sát cho rằng Trung Quốc chọn Iran, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ làm tâm điểm cho chiến lược Trung Đông của mình vì những nước này có quan hệ phức tạp hoặc có vấn đề với Mỹ. Để bổ sung cho nhóm 3 nước này, Trung Quốc dường như đang nhắm tới Iraq và hiện là nhà đầu tư về năng lượng hàng đầu ở đây.

Bên cạnh đó, tuy Nga và Trung Quốc có cùng quan điểm về các vấn đề nóng bỏng hiện nay ở Trung Đông nhưng Moscow có thể sẽ khó chịu khi thấy Bắc Kinh muốn tăng ảnh hưởng ở đây. Hồi năm ngoái, trang tin WhatDoesItMean.com dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov nhắc đến một thỏa thuận quân sự giữa Trung Quốc và Pakistan với giọng điệu lo ngại. Theo ông, với thỏa thuận này, Pakistan sẽ cho phép bộ binh Trung Quốc dùng đường cao tốc Karakoram để tiến thẳng vào Trung Đông khi cần thiết.
Trung Quốc chỉ trích phương Tây

Trong bài bình luận trên Nhân Dân nhật báo ngày 20.2, Giám đốc Khúc Hưng của Viện Nghiên cứu Trung Quốc nhận định quan điểm của một số nước về Syria “chủ yếu dựa trên các toan tính địa chính trị” và “nếu phương Tây tiếp tục hỗ trợ lực lượng đối lập Syria, cuộc nội chiến sẽ bùng nổ”. Trong khi đó, báo The New York Times dẫn lời 2 thượng nghị sĩ John McCain và Lindsey Graham tuyên bố Mỹ nên cấp vũ khí cho lực lượng đối lập ở Syira khi chính phủ nước này vẫn mạnh tay trấn áp người biểu tình.
Văn Khoa

Đẩy mạnh quan hệ Việt Nam - Armenia

Ngày 24.2, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Armenia Edvard Nalbandyan đang thăm và làm việc tại Việt Nam.

Chủ tịch nước cảm ơn Armenia đã dành cho nhân dân Việt Nam sự giúp đỡ quý báu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, trong đó có hoạt động hỗ trợ đào tạo cán bộ sinh viên Việt Nam. Chủ tịch nước cho rằng những thành tựu hợp tác giữa hai nước thời gian qua đã có bước phát triển nhưng quan hệ kinh tế thương mại còn chưa tương xứng với tiềm năng; đề nghị hai bên rà soát những vấn đề còn vướng mắc để hoàn thiện cơ chế chính sách phối hợp, đẩy mạnh hơn nữa quan hệ ngoại giao qua trao đổi các đoàn cấp cao.

Chủ tịch nước nhấn mạnh Việt Nam sẵn sàng là cầu nối giúp Armenia tăng cường quan hệ với ASEAN, tin tưởng kết quả hội đàm giữa Bộ trưởng Edvard Nalbandyan và Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đạt nhiều kết quả, đưa ra được những biện pháp tăng cường quan hệ hai nước Việt Nam và Armenia. 
 
TTXVN

Lợi ích dân tộc của Trung Quốc là gì? Trong lịch sử và hiện tại, Trung Quốc đã giải quyết vấn đề đó với các nước xung quanh và nước lớn như thế nào?

Dương Danh Dy

Một bạn trẻ đã gửi thư nhờ tôi giải đáp câu hỏi trên. Tôi không phải là nhà lịch sử nên đã chần chừ chưa dám.

Tuy vậy vì thấy đây là một vấn đề mà bất cứ ai quan tâm đến tình hình Trung Quốc đều không thể bỏ qua nên tôi mạnh dạn nói ra mấy suy ngẫm của mình .Nếu có điều gì sơ suất rất mong được thông cảm và lưọng thứ.
                                                                          * **
Để trả lời câu hỏi này trước hết cần làm rõ vấn đề: Trung Quốc đã quan niệm về lợi ích dân tộc lớn nhất(ngưòi viếtmạn phép thêm hai chữ “lớn nhất” vào để làm nổi bật trọng tâm vấn đề) và những biến thiên chủ yếu của quan niệm này qua các thời đại lịch sử là như thế nào?
Căn cứ vào sự hiểu biết còn rất nông cạn về đất nước đã có mấy ngàn năm lịch sử đó, người viết thấy:
       
1. Từ lúc mới dựng nước cho đến khi kết thúc chế độ phong kiến, quan niệm về lợi ích dân tộc lớn nhất của Trung Quốc đã thể hiện rất rõ trong vấn đề không ngừng bành trướng, xâm chiếm lãnh thổ các nước xung quanh và duy trì uy thế của “thiên triều” đối với họ.
        
Mọi ngưòi đều biết khi bắt đầu dựng nước, Trung Quốc lúc đó chỉ gồm vùng đất gồm một phần tỉnh Thiểm Tây, Hà Bắc, Sơn Tây.. tại vùng trung du sông Hoàng Hà, có diện tích bước đầu theo người viết phỏng đoán, trải qua mấy đời Hạ, Thương kéo dài năm bẩy trăm năm cũng chỉ được khoảng mấy trăm ngàn km2, nhưng sau đó, qua các thời Xuân Thu, Chiến Quốc qua các cuộc lợi dụng danh nghĩa phò “thiên tử nhà Chu” và nhiều lý do khác,  “ngũ bá” và mấy nước lớn khác đã không ngừng mở rộng lãnh thổ được “phân phong” từ trước bằng cách chinh phục, sáp nhập hàng trăm nước nhỏ khác vào lãnh thổ của mình thành 7 nuớc lớn. Sau khi Tần Thuỷ Hoàng diệt 6 nước, lãnh thổ Trung Quốc đã mở rộng lên nhiều lần . Tuy vậy đến thời đó 3 tỉnh đông bắc (Liêu Ninh, Cát Lâm, Hắc Long Giang) Trung Quốc, vùng Nội, Ngoại Mông, vùng Lan Châu, Tân Cưong, Tây Tạng, Quí Châu, Vân Nam hiện nay vẫn chưa thuộc về Trung Quốc. Nhà Mãn Thanh chiến thắng nhà Minh vào thống trị Trung Nguyên đã mang theo 3 tỉnh đông bắc về cho Trung Quốc rồi trải qua sự bành trướng xâm chiếm lãnh thổ của nhiều đời vua mới lấy được Quí châu, Vân Nam…, để đến đời Càn Long, sau khi chiếm Tân Cương, buộc Tây Tạng thần phục thiên triều.. diện tích Trung Quốc mới rộng lớn và ổn định ở mức 9,6 triệu km2, đứng thứ ba trên thế giới như ngày nay. Thế nhưng trong thời gian lịch sử tưong đối dài này,  theo tư liệu của Trung Quốc thì:
 
-Vùng đông bắc Hắc Long Giang, vùng ngoại Hưng An Lĩnh, đảo Sakhalin và vùng ven bờ biển Nga tại đó, với tổng diện tích là 1,5 triệu km2vốn là lãnh thổ của Trung Quốc đã là lãnh thổ thuộc Nga. Ngoài ra còn 800.000km2 lãnh hải của Trung Quốc trên vùng biển Nhật Bản cũng rơi vào tay ngưòi Nga từ thời Sa hoàng. 
 
-Nước Cộng hoà Mông Cổ vốn là Ngoại Mông với diện tích 2 triệu km2 vốn thuộc Trung Quốc do Sa hoàng xúi giục đã tách ra thành một nước độc lập.
 
-Vùng nam Tây Tạng diện tích 90.000 km2, vùng cao nguyên bắc Tây Tạng diện tích 30.000 km2 đang bị Ấn Độ chiếm giữ.
 
-Hơn 60 đảo tại quần đảo Trường Sa và 800.000 km2 lãnh hải tại vùng này đang bị một số nước trong khu vực chiếm giữ, khai thác
 
-Tranh chấp với Hàn quốc và Nhật Bản khoảng 300.000km2 lãnh hải
 
- Quần đảo Senkaku(Điếu Ngư) tổng diện tích khoảng 6,3km2 đang bị Nhật Bản chiếm đóng toàn bộ.
Và một số tranh chấp về lãnh thổ nữa với Myanmar, Bắc Triều Tiên, Butan, Ceylan…
(Nguồn Mạng Trung Hoa võng và một số mạng chính thức của Trung Quốc khác, ngày 21/6/2007. 7/4/2009 và 11/10/2010 )
 
Từ những sự kiện trên có thể thấy: bành trưóng lãnh thổ, xâm chiếm lãnh thổ và duy trì uy thế thiên triều với các nước xung quanh là lợi ích dân tộc lớn nhất xuyên suốt của Trung Quốc kể từ khi dựng nước đến hếtthời phong kiến Chính vì vậy chỉ trong vòng trên dưói 2000 năm, họ đã mở rộng diện tích đất nước lên chí ít là hơn 30 lần(đó là chưa kể số hàng triệu km2 lãnh thổ, lãnh hải diện tích mà hiện nay họ nói là đã bị mất)
 
Tuy nhiên cần thấy rõ một điều, khi chính quyền Trung Quốc mạnh hơn hay tạm thời yếu hơn các nước xung quanh, lợi ích dân tộc bành trướng lãnh thổ này đã được thể hiện, được giải quyết bằng những biện pháp rất khác nhau:
 
Khi chính quyền Trung Quốc mạnh hơn nước xung quanh, họ không ngần ngại dùng mọi lý do(nhiều khi rất ngang ngược như vì “vô lễ với thiên triều”) để gây hấn. Họ đã đánh vào tận sào huyệt quân Mông Cổ để chiếm lấy cả vùng Nội, Ngoại Mông tiêu diệt một đế quốc vốn hùng mạnh, hay “nuốt gọn” cả vùng Tân Cương với diện tích trên 1 triệu km2 trong một thời gian không dài.
 
Nhưng khi chính quyền Trung Quốc tạm thời yếu hơn thì họ lại có nhiều “kế sách” để giữ cho bằng được phần lãnh thổ đã có, và chuẩn bị cho sự bành trướng sau này. Xin đưa vài ví dụ:
 
- Phong kiến Trung Quốc(bắt đầu từ Tần, Hán..) đã nối tiếp nhau xây dựng và củng cố Vạn lý Trường thành để ngăn chặn quân Hung Nô thời đó rất hùng mạnh vào đánh phá và xâm phạm lãnh thổ. Sau mấy trăm năm giằng co, hoà hiếu, cống tiến…, cuối cùng họ đã diệt được Hung Nô và chiếm được vùng thảo nguyên rộng lớn của họ.
 
-Cuối thời Hán, thời lưỡng Tống… khi chính quyền trung ương suy yếu, để bảo vệ lợi ích dân tộc-giữ toàn vẹn lãnh thổ, Trung Quốc đã không ngần ngại “cúi đầu” trước các phiên thuộc mạnh hơn như Hung Nô, Tây Hạ, Liêu, Kim bằng cách tiến cống vàng, bạc, châu báu và gái đẹp.(Thời Hán người đẹp Chiêu quân phải cống Hồ. ..Năm 1004 trước sự tấn công của triều Liêu nhà Tống buộc phải ký hoà ước, mỗi năm Tống phải nộp cho Liêu 10 vạn lạng bạc, 20 vạn tấm lụa v.v.)
 
-Khi chưa đủ sức bành trướng lãnh thổ họ thường dùng kế “tạm thời chung sống hoà bình” mở rộng giao thương buôn bán, cho phép dân cư vùng biên giới kết hôn với dân nước xung quanh…, kiên trì chờ đợi đến khi có thời cơ sẽ xâm chiếm . Khi cần họ sẵn sàng mang cả công chúa lá ngọc cành vàng ra đánh đổi, thực hiện mưu kế (công chúa Văn Thành đời Đường lấy vua Tây Tạng là một ví dụ)
 
-Khi đụng đối tượng lớn mạnh hơn, như từ sau cuộc chiến tranh Nha Phiến, Trung Quốc đã cam chịu “từ bỏ một phần lợi ích lớn nhất” như cắt nhượng một phần lãnh thổ cho các cường quốc lớn mạnh hơn ., nhưng bên trong họ không cam chịu mà vẫn “ghi tâm khắc cốt” những vùng lãnh thổ đã mất từ thế hệ này đến đến thế hệ khác, đợi thời cơ giành lại. Như vùng đất và lãnh hải Trung Quốc nói là bị Nga hoàng chiếm nêu trên, hoặc vùng đất rộng lớn ở Tây Tạng bị đế quốc Anh khi xâm lược Ấn Độ vạch đường phân giới Macmahon qui về Ấn Độ, như đảo Đài Loan một thời bị Nhật Bản chiếm đóng v.v..( Theo thống kê của phía Trung Quốc, kể từ ngày 27/5/1841 đến ngày 22/12/1905 chính phủ Mãn Thanh đã buộc phải ký 38 điều ước bất bình đẳng với các cưòng quốc phương tây và Nga Nhật, cắt nhượng nhiều vùng lãnh thổ và bồi thường nhiều triệu lạng bạc. Một ví dụ, theo hiệp uớc Nam Kinh Trung Anh năm 1841, Trung Quốc phải nhưòng Hồng Công cho Anh(dưói hình thức cho thuê 99 năm), bồi thường 21 triệu lạng bạc(gồm tiền đền thuốc phiện bị tiêu huỷ 6 triệu lạng bạc, nợ thưong mại 3 triệu lạng, chi phí quân sự 12 triệu lạng, thời hạn trả xong là 4 năm), và mở cửa 5 cảng Quảng Châu, Phúc Châu, Hạ Môn, Ninh Ba, Thượng Hải, quan chức và thương nhân Anh được tự do thông thương, qua lại tại 5 cửa khẩu này v.v…
      
2 .Thời Trung Hoa Dân Quốc(1911-1949) 
 
Thời này vẫn duy trì quan niệm truyền thống lợi ích dân tộc lớn nhất với các nước xung quanh như trước, nhưng có mấy điểm đáng lưu ý sau:
        
-Dù giữa Quốc Dân đảng đang nắm chính quyền và Đảng Cộng sản đang đấu tranh một mất một còn với nhau, nhưng để chống hoạ xâm lăng của phát xít Nhật có thể làm mất nước, hai bên Quốc, Cộng đã “bắt tay đoàn kết chống kẻ thù chung trong cuộc chiến tranh chống Nhật cho tới lúc toàn thắng năm 1945”
 
-Tuy chính quyền Quốc Dân đảng chưa đủ mạnh để bành trướng trên biển về thực tế nhưng năm 1947 họ đã “ngang ngược vẽ đường 9 khúc vào bản đồ Biển Đông của họ”, đây là một kiểu bành trướng lãnh thổ trên giấy . 
 
-Trung Hoa Dân Quốc cam chịu áp lực của Liên Xô, không thể chống việc thành lập nước Cộng hoà Nhân Dân Mông Cổ, nơi vốn được Trung Quốc coi là lãnh thổ cũ, là vùng ảnh hưỏng của mình từ lâu đời. Nhưng vẫn ghi ván đề này vào sử sách đế các thế hệ nối tiếp không quên.
 
Nhìn chung chính quyền Quốc Dân đảng không giữ được thế “thiên triều” với các nước xung quanh như thời trước vì sức mạnh Trung Quốc lúc này yếu kém.
         
3. Thời Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa(1949-2011)
        
 Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa dưới thời lãnh đạo của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình vẫn coi bành trướng lãnh thổ là lợi ích dân tộc tối cao không thua kém các triều đại trước, nhưng đã có bước bành trướng mới trên biển. và qua từng giai đoạn phát triển cụ thể của đất nước, họ đã dùng những biện pháp khôn ngoan, tàn bạo để từng bước đưa “uy thế thiên triều” với các nước xung quanh trước đây lên thành “vai trò cưòng quốc khu vực, rồi một cực, rồi siêu cưòng của thế giới.
 
- Một ví dụ: thời mới thành lập nước dù phải “nhất biên đảo” về Liên Xô, nhưng năm 1950 sau khi sang Liên Xô ký “hiệp định đồng minh tương trợ hữu hảo” trên đường đi xe lửa trở về nước mỗi khi qua một ga lớn, Mao Trạch Đông đều được mời xuống tham quan, nghỉ ngơi. Nhưng khi tới Ulan Udểutái với thưòng lệ, ông nhất định không chịu xuống và yêu cầu xe lửa chạy ngay dù phía Liên Xô đã bố trí đón tiếp. Hỏi Trần Bá Đạt, tuỳ tùng có biết đây là nơi nào không, khi Trần Bá Đạt ngơ ngác tỏ ra không biết,  ông đã tức giận nói: hãy nhớ lấy: “nơi đây trong lịch sử có tên gọi là Ô Kim Khắc, đó là nơi Tô Vũ của chúng ta đã từng chăn cừu, là lãnh thổ của chúng ta.” 
 
Để trở thành nước lớn có ảnh hưỏng trong khu vực, Trung Quốc đã không ngần ngại giúp Bắc Triều Tiên láng giềng “chống Mỹ viện Triều”. Với cái giá “ thương vong gần 1 triệu người” trong đó có cả con trai Mao Trạch Đông, Trung Quốc đã thu được điều mong muốn, chỉ sau 4 năm thành lập nước đã có được vai trò nước lớn khu vực(tham gia hội nghị Geneve về Triều Tiên và Đông Dương năm 1954) và bảo vệ được nước chịu ảnh hưỏng của mình.
 
- Để vươn lên thành một cực, thành một nước lớn trong thế giới hai cực sau Yalta, Trung Quốc dù còn là nước đang phát triển, chưa giầu có nhưng đã giương ngọn cờ chống hai nước lớn, viện trợ rất nhiều cho Việt Nam chống Mỹ cũng như viện trợ cho một số nước chậm phát triển khác. Để thực hiện lợi ích dân tộc này, hầu như Trung Quốc không tính tới hiệu quả kinh tế. Từ cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, nhà cầm quyền Bắc Kinh rất biết “lúc tiến lúc lùi”, biết “giấu mình chờ thời”..;, chứ không phải lúc nào cũng “đối đầu” trong xử lý quan hệ với Mỹ. Nhưng gần đây đã có một số tín hiệu cho thấy Trung Quốc sau khi trở thành cưòng quốc thứ hai trên thế giói về kinh tế đang có tham vọng vượt Mỹ vào những năm 20 của thế kỷ này!
 
-Để xác định vị thế nước lớn, Trung Quốc sẵn sàng gây chiến tranh với 3 nước láng giềng, trong đó có Liên Xô đồng minh cũ, Ấn Độ vốn một thời là láng giềng hữu hảo và nhất là cuộc chiến tranh biên giói tháng 2 năm 1979 với Việt Nam nước đồng minh thân cận là một ví dụ điển hình(tất nhiên việc Trung Quốc gây chiến với 2 nuớc trên và xâm lược Việt Nam còn có một số nguyên nhân khác). Trung Quốc hiện đại đặt uy thế nước lớn-lợi ích dân tộc vào vị thế rất cao trong xử lý quan hệ quốc tế.
 
-Trung Quốc cũng là nước 3 lần chủ động gây ra xung đột vũ trang trên biển để chiếm toàn bộ Hoàng Sa của và 7 đảo bãi trên quần đảo Trưòng Sa của Việt Nam. CHND Trung Hoa đã “thừa kế” đưòng chín khúc trên giấy trên Biển Đông của chính quyền Quốc Dân đảng trước đây và ý đồ biến nó thành sự thực, chí ít cũng để thêm con bài mặc cả với các nước xung quanh. Trung Quốc muốn bá chiếm Biển Đông và là nguồn gốc duy nhất có thể gây ra xung đột vũ trang lớn ở Biển Đông. 
 
-Trong xử lý vấn đề biên giới( có tranh chấp lãnh thổ) với các nước mạnh hơn(Nga) Trung Quốc một tấc đất cũng không nhường, với các nước yếu hơn(Việt Nam), Trung Quốc một ly đất cũng muốn chiếm. 
 
-Tuy vậy khi thấy chưa thu hồi vùng đất đã mất có lợi cho minh lớn hơn là thu hồi ngay, Ban lãnh đạo Bắc Kinh đã “sáng suốt” không đụng tới(như đã không thu hồi Hồng Công, Ma cao ngay năm 1949, và cả đến tận bây giờ), hoặc khi thấy chưa chắc đã thu hồi được hoặc có thể thu hồi được nhưng “lợi bất cập hại”, thì Ban lãnh đạo Bắc Kinh sẽ cố “nặn” ra cách làm, vẫn bảo lưu được “chủ quyền, uy thế nước lớn” mà không “mất mặt”. Chỉ cần nghe họ cao giọng tự ca ngợi “sáng kiến vĩ đại” về việc đưa ra cái chủ trương được gọi là “một nước, hai chế độ” trong xử lý quan hệ  với  Đài Loan mấy chục năm qua và chưa biết bao giờ mới giải quyết xong “cục xưong khó nuốt” này, là đủ thấy hết “ sĩ diện nước lớn” của họ “cao” tới mức độ nào.
 
  Hà nội một ngày cuối tháng 11 năm 2011
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...