Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

27/11/11

Sự bình thản của Thủ tướng

(Dân Việt) - Một chủ đề nhạy cảm đã được nói ra một cách bình thản từ người đứng đầu Chính phủ, và ngay sau đó nhận được sự đồng thuận, tán thưởng của các vị đại biểu Quốc hội, của cử tri và nhân dân cả nước. Đó là dự luật Biểu tình.

Có người gọi đây là luật “treo”. Có người nói đó là một món nợ. “Treo” suốt từ năm 1946, khi bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi trang trọng quyền biểu tình như là một quyền cơ bản của nhân dân. Và món nợ, cũng kéo dài qua 13 khóa Quốc hội, suốt 55 năm qua.


Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời chất vấn trước Quốc hội sáng 25.11

Ngày 25.11, sau cuộc tranh luận gay gắt tại Quốc hội xung quanh Luật Biểu tình, Tạp chí Xây Dựng Đảng - Cơ quan của Ban Tổ chức T.Ư có bài "Có cần Luật Biểu tình?". Bài báo dẫn lại các quy định về quyền tự do dân chủ của người dân xuyên suốt trong cả 4 bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992) và chỉ trích thẳng thừng đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước là "thể hiện nhận thức ấu trĩ, lệch lạc về biểu tình". Bởi "Biểu tình là một quyền cơ bản của người dân mà Hiến pháp đã quy định, thể hiện tính tự do, dân chủ, nhân quyền của chế độ ta, không một ai có thể bác bỏ".

Từ sau 11 cuộc biểu tình thể hiện lòng yêu nước, chủ đề biểu tình nhạy cảm đến mức báo chí không còn nhắc đến. Ngay tại Quốc hội, nơi mà các đại biểu có quyền miễn trừ đối với tất cả các phát ngôn của mình, dường như cũng có sự ngần ngại nhất định khi nhắc đến hai chữ biểu tình. Nó nhạy cảm đến mức, đại biểu chất vấn về vấn đề này được xem như là dũng cảm. Và ngay đại biểu Lê Bộ Lĩnh cũng né hai chữ "biểu tình" khi ông chất vấn người đứng đầu Chính phủ về việc người dân "biểu thị lòng yêu nước".

Thủ tướng sau đó nói rất rõ ràng Chính phủ đệ trình Dự án Luật Biểu tình là để thực hiện Hiến pháp; để phù hợp với thực tế cuộc sống; để đảm bảo quyền tự do dân chủ của người dân và để phù hợp với thông lệ quốc tế. Có người coi đây là một phát biểu mang tính cách mạng.

Có người nhận xét phải xuất phát từ một sự tự tin lớn, Thủ tướng mới có thể bình thản đến như vậy. Sự bình thản của Thủ tướng trong một phát biểu quan trọng, được nói ra một cách giản dị trước sự chăm chú theo dõi qua truyền hình trực tiếp của quốc dân đồng bào không những nhấn mạnh quyền hiến định của công dân mà còn xua tan không ít tâm lý xã hội, loại bỏ không ít định kiến coi những quyền tự do dân chủ, hoặc nói đến quyền tự do dân chủ là tế nhị, nhạy cảm.

Sự bình thản của người đứng đầu Chính phủ ngày hôm qua đang cho thấy Chính phủ, về hình thức, coi biểu tình là một điều bình thường, và quan trọng hơn là đặt quyền tự do dân chủ của người dân vào đúng vị trí bình thường của nó.
Anh Đào

Ở Huế có vị cai đội Hoàng Sa

TT - Các nhà nghiên cứu vừa phát hiện tại làng An Nong, xã Lộc Bổn (huyện Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế) những hiện vật liên quan đến vị cai đội Hoàng Sa là ông Nguyễn Hữu Niên, người làng này.

Trong đó ở hậu điện chùa Tiên Linh còn thờ bài vị khắc chữ Hán: “Đại Việt cố hiển linh Hoàng Sa đội Cai đội Hiến Đức Hầu Nguyễn quý công chi vị” (bài vị của ngài họ Nguyễn, chức cai đội đội Hoàng Sa, tước là Hiến Đức Hầu). Ông Nguyễn Hữu Hùng, trưởng tộc Nguyễn Hữu làng này, cho hay bài vị đó của ngài Nguyễn Hữu Niên, thuộc đời thứ chín trong họ, làm cai đội đội Hoàng Sa và được triều đình ban một số sắc phong (nhưng đã bị hư hỏng).

Gia phả họ này ghi rõ ngài Nguyễn Hữu Niên vào đầu triều Nguyễn được sắc phong chức khâm sai cai đội, tước là Sách Trường Hầu (Nguyễn triều khai quốc sắc phong khâm sai cai đội dinh Sách Trường Hầu Nguyễn Hữu Niên quý công).

Theo nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan, lâu nay các tài liệu lịch sử cho thấy phần nhiều các đội Hoàng Sa đều tuyển dụng dân ở Vĩnh An và Cảnh Dương (Quảng Ngãi). Qua tư liệu mới phát hiện này mới biết thêm người dân Thừa Thiên - Huế cũng đã trực tiếp góp phần bảo vệ biển đảo của VN.

T.LỘC - N.HIỂN

Trả lời chất vấn trước Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Khẳng định chủ quyền Hoàng Sa

* Luật biểu tình đảm bảo quyền tự do, dân chủ của người dân

TT - Trả lời câu hỏi liên quan đến biển Đông của đại biểu Quốc hội sáng 25-11, người đứng đầu Chính phủ đã nắm rất chắc vấn đề, trả lời rành rẽ và một lần nữa khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử để khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong phiên trả lời chất vấn Quốc hội sáng 25-11 - Ảnh: Nam Khánh

Biển Đông - chủ đề chưa được đề cập trong báo cáo giải trình của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước khi bước vào phiên chất vấn trực tiếp - đã được đại biểu Quốc hội Lê Bộ Lĩnh (phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường) đặt thành câu hỏi đầu tiên với người đứng đầu Chính phủ, sáng qua 25-11.

Không nhìn vào văn bản và trả lời thẳng nội dung câu hỏi, Thủ tướng cho rằng chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền đối với bốn nhóm vấn đề về biển Đông.

Xác định chủ quyền Hoàng Sa từ lâu

Đại biểu Lê Bộ Lĩnh: Thủ tướng cho biết quan điểm và chủ trương của Chính phủ đối với việc người dân biểu thị lòng yêu nước, trước những hành động của các thế lực bên ngoài vi phạm chủ quyền biển đảo của chúng ta?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là luôn luôn trân trọng, biểu dương, khen thưởng xứng đáng đối với tất cả hoạt động, tất cả việc làm của mọi người dân thật sự vì mục tiêu yêu nước, thật sự vì mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia. Nhưng đồng thời không hoan nghênh, buộc phải xử lý nghiêm theo pháp luật đối với những hoạt động, những hành vi với động cơ lợi dụng danh nghĩa lòng yêu nước, lợi dụng danh nghĩa bảo vệ chủ quyền để thực hiện mục đích gây phương hại cho đất nước, cho xã hội.

Trước hết, Thủ tướng khẳng định sẽ tiếp tục đàm phán với Trung Quốc để phân định ranh giới vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc bộ. Trong vịnh Bắc bộ, sau nhiều năm đàm phán, ta và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận phân định ranh giới vào năm 2000. Còn vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc bộ, theo Công ước luật biển, thềm lục địa của nước ta có chồng lấn với đảo Hải Nam của Trung Quốc.

Từ năm 2006, hai bên đã tiến hành đàm phán, đến năm 2009 hai bên quyết định tạm dừng vì lập trường còn khác xa nhau. Đầu năm 2010, hai bên thỏa thuận nên tiến hành đàm phán những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển. Sau nhiều vòng đàm phán, nguyên tắc đó đã được ký kết nhân dịp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc mới đây.

Chúng ta đang thúc đẩy cùng với Trung Quốc để xúc tiến đàm phán giải quyết phân định này. Trong khi chưa phân định, hai bên đã tự hình thành vùng quản lý của mình trên cơ sở đường trung tuyến, và cũng trên cơ sở này ta đối thoại với Trung Quốc để bảo đảm việc an ninh, an toàn trong khai thác nghề cá của đồng bào chúng ta.

Thứ hai, Thủ tướng khẳng định chúng ta có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử để khẳng định quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thủ tướng cho rằng chúng ta đã làm chủ thật sự ít nhất từ thế kỷ 17, khi quần đảo này chưa thuộc bất kỳ quốc gia nào. Nhưng năm 1956, Trung Quốc đã đưa quân chiếm đóng các đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa.

Đến năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý lúc bấy giờ của chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm đó và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này. Lập trường nhất quán của Việt Nam là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Chủ trương này phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc, Công ước luật biển, DOC...

Thứ ba, theo Thủ tướng, chủ trương của ta đối với thực hiện chủ quyền trên quần đảo Trường Sa là nghiêm túc thực hiện Công ước luật biển, DOC và “thỏa thuận về nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển” giữa Việt Nam và Trung Quốc. Chúng ta yêu cầu các bên liên quan giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm, không làm ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực này. Chúng ta tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng kinh tế, xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật ở những nơi chúng ta đang đóng giữ, bao gồm cả đường sá, điện, trạm xá, trường học, nước ngọt... để cải thiện đời sống và tăng cường khả năng tự vệ của quân dân trên quần đảo Trường Sa.

Bên cạnh đó, Chính phủ đang yêu cầu đánh giá lại cơ chế, chính sách đối với đồng bào ta khai thác thủy hải sản, vận tải biển trong khu vực này. Cơ chế đã có và đang phát huy hiệu quả, nhưng cần phải sơ kết để bổ sung, khuyến khích hỗ trợ bà con làm ăn sinh sống, thực hiện chủ quyền trên vùng biển Trường Sa.

Liên quan đến cam kết quốc tế, chúng ta nghiêm túc thực hiện và yêu cầu các bên liên quan nghiêm túc thực hiện theo đúng Công ước luật biển, DOC, phải bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh trật tự, tự do hàng hải ở biển Đông. Đây là mong muốn, lợi ích của tất cả các bên liên quan, không chỉ của Việt Nam vì biển Đông là tuyến đường có dung lượng từ 50-60% tổng lượng hàng hóa vận tải từ Đông sang Tây. Lập trường này của chúng ta được cộng đồng quốc tế ủng hộ.

Thứ tư, giải quyết và khẳng định chủ quyền của chúng ta trên phạm vi 200 hải lý thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước luật biển. Chúng ta đã và tiếp tục khẳng định chủ quyền để quản lý và thực hiện chủ quyền ngày càng đầy đủ hơn, hiệu quả hơn đối với vùng biển này.

Vì sao cần có Luật biểu tình?

Trả lời chất vấn của đại biểu Đỗ Văn Vẻ (Thái Bình) về những căn cứ mà Chính phủ đề nghị Quốc hội xem xét đưa Luật biểu tình vào chương trình xây dựng pháp luật, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng điều 69 của Hiến pháp quy định công dân được quyền biểu tình theo pháp luật. Nhưng chúng ta chưa có Luật biểu tình, như vậy nên bắt tay nghiên cứu xây dựng Luật biểu tình.

Theo Thủ tướng, trong cuộc sống hiện nay có nhiều cuộc đồng bào ta tụ tập đông người, biểu tình để bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị với chính quyền. Nhưng chúng ta chưa có luật để quản lý, điều chỉnh vấn đề này. Do đó, cũng khó cho người dân khi thực hiện quyền được Hiến pháp quy định và cũng khó cho việc quản lý của chính quyền. Đã khó như thế thì cũng nảy sinh lúng túng trong quản lý, từ đó xuất hiện những biểu hiện mất an ninh trật tự, xuất hiện những việc lợi dụng để kích động xuyên tạc gây phương hại cho xã hội.

Vì vậy, Chính phủ thấy rằng nên kiến nghị với Quốc hội xem xét, đưa vào chương trình xây dựng luật để chúng ta có Luật biểu tình phù hợp với Hiến pháp, phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa, điều kiện cụ thể của Việt Nam và cũng phù hợp với thông lệ quốc tế. Đạo luật đó cũng để đảm bảo quyền tự do, dân chủ của người dân theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật, đồng thời đạo luật đó cũng có yêu cầu ngăn chặn những việc làm, hành vi gây xâm hại đến an ninh trật tự, lợi ích của xã hội và nhân dân.

Dừng ngay dự án khai thác trái phép

Đại biểu Lê Hồng Tịnh (Hậu Giang) và đại biểu Đặng Ngọc Quỳnh (Hưng Yên) cùng chất vấn Thủ tướng về tình trạng khai thác quặng trái phép, không phép. Làm thế nào xuất nhập khẩu khoáng sản có hiệu quả?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giải trình rằng: Chính phủ đã có một cuộc họp thảo luận chuyên về vấn đề này, từ đó Chính phủ kết luận chỉ đạo mấy giải pháp lớn.

Thứ nhất, yêu cầu chính quyền các địa phương, các cơ quan chức năng tập trung chỉ đạo, ngăn chặn bằng được việc khai thác khoáng sản trái phép. Không thể nói rằng việc khai thác khoáng sản trên địa bàn đó mà chính quyền không biết.

Thứ hai, Chính phủ chủ trương tạm dừng cấp phép khai thác khoáng sản, đồng thời rà soát các dự án đang khai thác.

Dự án nào gây ô nhiễm môi trường, khai thác trái với giấy phép, gây hư hỏng đường sá, mất an ninh trật tự thì phải dừng ngay. Việc rà soát này đi liền với bổ sung quy hoạch để quy hoạch theo hướng chế biến sâu, có hiệu quả cao nhất.

Thứ ba, Chính phủ chủ trương kiểm soát xuất khẩu khoáng sản, xuất khẩu quặng ngay tại các dự án chứ không phải để kiểm soát ở cửa khẩu. Nếu làm đúng giấy phép nhưng xuất khẩu không có lợi, để dành chế biến sâu hơn thì cũng có giải pháp thích hợp để dừng lại. Bộ Công thương đã cho dừng xuất khẩu quặng sắt ở mỏ Quý Sa (Lào Cai).

Ngoài ra, Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính tăng thêm ngân sách để tiếp tục khảo sát, điều tra, nghiên cứu về khoáng sản của nước ta. Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải báo cáo với tôi rằng chúng ta mới thăm dò hơn 50% đất liền về khoáng sản, trên biển mới có hơn 1%, phải thêm kinh phí để thăm dò, để chúng ta biết chúng ta có cái gì, bao nhiêu, chất lượng, trữ lượng thế nào để hoạch định chiến lược cho phù hợp.

VÕ VĂN THÀNH

Cần huy động lực lượng tìm giải pháp cho Hoàng Sa

TT - Giọng nói của ông Trần Công Trục - nguyên trưởng Ban biên giới Chính phủ - trở nên sôi nổi, khi trao đổi với phóng viên Tuổi Trẻ về nội dung trả lời chất vấn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trên nghị trường sáng 25-11.
Ông Trần Công Trục - Ảnh: Tuấn Phùng

* Với tư cách cử tri và là một chuyên gia về biên giới lãnh thổ, ông đón nhận nội dung trả lời chất vấn của Thủ tướng Chính phủ như thế nào?

- Khi đăng đàn trước Quốc hội, Thủ tướng đã dành nhiều thời gian để ưu tiên nói kỹ bốn nhóm vấn đề về biển Đông, trong đó tôi chú ý nhất đến nhóm vấn đề quần đảo Hoàng Sa. Sáng 26-11, đây cũng là câu chuyện được bàn luận nhiều nhất bên ly cà phê giữa tôi với một số bạn bè, dù già hay trẻ đều đồng tình với ý kiến của Thủ tướng. Riêng tôi, với tư cách là một nhà nghiên cứu, đánh giá rất cao các nội dung Thủ tướng đã trình bày trước Quốc hội. Tất cả đều đúng đắn, rõ ràng.

* Thủ tướng Chính phủ cho biết chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Theo ông biện pháp hòa bình ở đây cụ thể là gì?

- Trước hết cần thấy rằng chủ trương này phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC)... Và chủ trương này cũng phù hợp với “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển” giữa VN và Trung Quốc.
"Sự đoàn kết của dân tộc VN là hết sức quan trọng trong việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Trước hết chúng ta phải đoàn kết trong nội bộ, đồng thời phải tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế đối với chính nghĩa của mình"

Ông Trần Công Trục
Việc đàm phán hòa bình cũng chính là trên các cơ sở như vừa nêu, trong đó có việc hai bên tiến hành cuộc gặp định kỳ trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ một năm hai lần, luân phiên tổ chức, khi cần thiết có thể tiến hành các cuộc gặp bất thường.

Cũng theo thỏa thuận nêu trên, đối với tranh chấp trên biển giữa VN - Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Ở đây, quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền VN là vấn đề song phương giữa VN và Trung Quốc. Biển Đông có nhiều loại vấn đề, những vấn đề liên quan đến nhiều nước và nhiều bên khác như vấn đề quần đảo Trường Sa thì giải quyết giữa các bên có liên quan...

* Về mặt luật pháp quốc tế, vấn đề đó giải quyết như thế nào?

- Hiến chương Liên Hiệp Quốc có quy định các bên trong cuộc tranh chấp phải cố gắng tìm cách giải quyết bằng con đường đàm phán... Ngoài ra các bên cũng có thể tính đến các giải pháp khác, chẳng hạn như thông qua cơ quan tài phán quốc tế.

* Với tư cách một chuyên gia, ông có đề xuất gì?

- Đối với quốc tế, khi các bên trong cuộc tranh chấp có lập trường quá xa nhau thì cần có tiếng nói khách quan hơn bằng cách đưa ra cơ quan tài phán quốc tế. Đương nhiên, muốn đưa ra cơ quan tài phán quốc tế thì phải thực hiện nhiều thủ tục khá phức tạp, có tòa án đồng ý giải quyết vấn đề một bên đưa ra, nhưng cũng có tòa án đòi hỏi hai bên đều đồng ý đưa ra tòa thì họ mới giải quyết.

Đối với chúng ta, tôi nghĩ rằng cần phải huy động lực lượng từ các nhà lập pháp đến ngoại giao, khoa học, kỹ thuật... để cùng nhau nghiên cứu, tìm ra được những phương án, những giải pháp tốt nhất để thực hiện chủ trương. Chúng ta công khai, minh bạch về chủ trương, nhưng không phải chỉ dừng lại ở chủ trương mà phải tập hợp các nhà khoa học, các chuyên gia am hiểu luật pháp quốc tế để nghiên cứu sâu mới giải quyết được những vấn đề cụ thể. Đơn cử như vấn đề có đưa ra tòa án quốc tế hay không, chúng ta phải nghiên cứu kỹ lưỡng, từ đó mới xác định được cách hành xử phù hợp và có lợi nhất.

VÕ VĂN THẰNH thực hiện

Tiếng nói khẳng định

Trả lời chất vấn trực tiếp của đại biểu quốc hội (QH), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói lên tiếng nói khẳng định đầy trách nhiệm của người đứng đầu Chính phủ Việt Nam (VN) trong những vấn đề lớn của đất nước. Về chủ quyền của VN. 
 


Đối với quần đảo Hoàng Sa, thì đây là vấn đề đã được Nhà nước và nhân dân VN khẳng định từ lâu trong các văn bản pháp lý cũng như trên công luận. Nhưng người dân vẫn thiết tha mong được nghe trực tiếp người đứng đầu Chính phủ nói thẳng thắn về vấn đề này mà không phải dùng một từ mà người dân rất dị ứng là “nhạy cảm”. Chủ quyền của đất nước là vấn đề lớn lao, nghiêm trọng, rõ ràng, chứ không phải vấn đề nhạy cảm. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói rõ: trong lịch sử, ít nhất là từ thế kỷ 17, VN đã làm chủ thật sự quần đảo Hoàng Sa, khi quần đảo này chưa thuộc bất cứ quốc gia nào. Năm 1956 và năm 1974, Trung Quốc đã hai lần chiếm đóng và dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của VN, lúc đó thuộc quyền quản lý của chính quyền Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn và Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam VN lúc đó đã kịp thời lên tiếng phản đối, lên án sự xâm chiếm trái phép đó và yêu cầu Liên Hiệp Quốc can thiệp.

Nhưng VN là một quốc gia yêu chuộng hòa bình và tôn trọng luật pháp quốc tế. Vì vậy, chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình.

Như vậy là sự thật đã được nói lên một cách rõ ràng, chính danh, không tránh né. Với chủ quyền của VN trên quần đảo Trường Sa, cách trả lời của Thủ tướng cũng hợp tình hợp lý, hợp hoàn cảnh thực tế.

Chủ quyền quốc gia là thiêng liêng, một khi nó đã được người đứng đầu Chính phủ VN tuyên bố một cách bình tĩnh và dõng dạc như vậy, là thêm một lần nữa khẳng định ý nguyện của toàn dân VN kiên quyết bảo vệ chủ quyền trên đất, trên biển và các đảo thuộc quốc gia mình.

Cũng chính từ việc tôn trọng ý nguyện nhân dân, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề nghị QH xem xét đưa luật Biểu tình vào chương trình xây dựng pháp luật (và đã được QH thông qua). Mục đích của xây dựng luật Biểu tình là để đảm bảo quyền tự do, dân chủ của nhân dân đã được Hiến pháp VN quy định tại điều 69. Không thể lập luận như một ý kiến của đại biểu nào đó là do dân trí VN còn thấp nên chưa thể xây dựng luật Biểu tình. Nói như thế không chỉ xúc phạm nhân dân, mà còn vi hiến. Mỗi đạo luật ra đời chính là để nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật của mỗi người dân, cũng chính là để nâng cao dân trí. Tự do và dân chủ phải là mục tiêu phấn đấu của một đất nước, một dân tộc, và pháp luật chính là để đảm bảo thực thi quyền tự do dân chủ ấy của mỗi công dân.

Cử tri cả nước đã được nghe những câu trả lời rành rọt, trực tiếp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về những vấn đề mà mình quan tâm. Một khi nhân dân đã quan tâm một cách thiết tha tới những vấn đề lớn lao của đất nước, của cộng đồng như vậy, thì rõ ràng dân trí VN không hề thấp. Người đứng đầu Chính phủ, qua trả lời trước QH của mình, cũng đã khẳng định điều đó.

Vấn đề bây giờ chỉ là những biện pháp để thực hiện những điều đã được khẳng định ấy mà thôi.

Thanh Thảo 
 
Nguồn:  Thanhnien Online

Thủ tướng nói về chủ quyền ở Biển Đông

Ngày 25/11, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã có phiên trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội. 22 đại biểu đã đặt câu hỏi cho Thủ tướng, trong đó có hai người hỏi về vấn đề chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời nhiều câu hỏi của các đại biểu Quốc hội

Dưới đây là nguyên văn trả lời của ông Nguyễn Tấn Dũng, được Quốc hội Việt Nam công bố.

"Quán triệt đường lối đối ngoại hòa bình hữu nghị, độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia của Đảng và Nhà nước ta, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật biển năm 1982 của Liên hiệp quốc, tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông, gọi tắt DOC đã ký giữa ASEAN và Trung Quốc, căn cứ vào thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển mà ta và Trung Quốc mới ký trong chuyến thăm của đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc, căn cứ những chủ trương, đường lối và những nguyên tắc nêu trên, chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền đối với 4 loại vấn đề trên biển Đông như sau:

Vấn đề thứ nhất, về đàm phán phân định ranh giới vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Trong Vịnh Bắc Bộ sau nhiều năm đàm phán, ta và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận phân định ranh giới năm 2000, còn vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ nếu theo Công ước Luật biển năm 1982 thì thềm lục địa của nước ta có trồng lấn với đảo Hải Nam của Trung Quốc. Từ năm 2006 hai bên đã tiến hành đàm phán, mãi tới năm 2009 thì hai bên quyết định tạm dừng vì lập trường hai bên còn rất khác xa nhau. Đến đầu năm 2010 hai bên thỏa thuận là nên tiến hành đàm phán những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển sau nhiều lần đàm phán như tôi vừa trình bày, nguyên tắc đó đã được hai bên ký kết nhân dịp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc vừa rồi. Trên nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển này thì vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ là quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, vì vậy 2 nước Việt Nam và Trung Quốc cùng nhau đàm phán để phân định ranh giới vùng biển này trên cơ sở Công ước Luật biển, trên cơ sở DOC, trên cơ sở các nguyên tắc đã thỏa thuận.

Để có một giải pháp hợp lý mà hai bên có thể chấp nhận được chúng ta đang thúc đẩy cùng với Trung Quốc xúc tiến đàm phán giải quyết việc phân định này. Cũng xin nói thêm trong khi chưa phân định thì trên thực tế với chừng mực khác nhau, hai bên cũng đã tự hình thành vùng quản lý của mình trên cơ sở đường trung tuyến. Cũng trên cơ sở này chúng ta có đối thoại với Trung Quốc để bảo đảm cho việc an ninh, an toàn trong việc khai thác nghề cá của đồng bào chúng ta. Đó là vấn đề thứ nhất.
"Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình."
Vấn đề thứ hai, chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền đó là vấn đề quần đảo Hoàng Sa. Thưa các đồng chí, các vị đại biểu, Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ thực sự ít nhất là từ Thế kỷ XVII. Chúng ta làm chủ khi 2 quần đảo này chưa thuộc bất kỳ một quốc gia nào và chúng ta đã làm chủ trên thực tế và liên tục hòa bình. Nhưng đối với Hoàng Sa, năm 1956 Trung Quốc đưa quân chiếm đóng các đảo phía Đông của quần đảo Trường Sa. Đến năm 1974 cũng Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý hiện tại của chính quyền Sài Gòn, tức là chính quyền Việt Nam cộng hòa. Chính quyền Sài Gòn, chính quyền Việt Nam cộng hòa đã lên tiếng phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên hợp quốc can thiệp. Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam của chúng ta lúc đó cũng đã ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này. Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình.

Chủ trương này của chúng ta phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, phù hợp với Công ước về Luật biển, phù hợp với tuyên bố DOC. Đó là loại vấn đề thứ hai mà chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền.

Vấn đề thứ ba, quần đảo Trường Sa, năm 1975 giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc thì Hải Quân chúng ta đã tiếp quản 5 hòn đảo tại quần đảo Trường Sa, đó là đảo Trường Sa, đảo Song Tử Tây, đảo Sinh Tồn, đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca, năm đảo này do quân đội của chính quyền Sài Gòn chính quyền Việt Nam Cộng hòa đang quản lý chúng ta tiếp quản.

Sau đó với chủ quyền của chúng ta, chúng ta tiếp tục mở rộng thêm lên 21 đảo, với 33 điểm đóng quân. Ngoài ra chúng ta còn xây dựng thêm, 15 nhà giàn ở khu vực bãi Tư Chính để khẳng định chủ quyền của chúng ta ở vùng biển này, vùng biển trong phạm vi mà 200 hải lý thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta. Trong khi đó ở quần đảo Trường Sa, Trung Quốc cũng đã chiếm 7 bãi đá ngầm, Đài Loan chiếm 1 đảo nổi, Philipin chiếm 9 đảo, Malaixia chiếm 5 đảo, còn Bruney có đòi hỏi chủ quyền trên vùng biển nhưng không có chiếm giữ đảo nào.

Như vậy trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam là quốc gia có số đảo đang đóng giữ nhiều nhất so với các quốc gia và các bên có đòi hỏi chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Việt Nam chúng ta cũng là quốc gia duy nhất có cư dân đang làm ăn sinh sống trên một số đảo mà chúng ta đang đóng giữ với số hộ là 21 hộ, 80 khẩu, trong đó có 6 khẩu cũng đã sinh ra, lớn lên ở các đảo này.
"Như vậy trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam là quốc gia có số đảo đang đóng giữ nhiều nhất so với các quốc gia và các bên có đòi hỏi chủ quyền ở quần đảo Trường Sa. Việt Nam chúng ta cũng là quốc gia duy nhất có cư dân đang làm ăn sinh sống trên một số đảo mà chúng ta đang đóng giữ với số hộ là 21 hộ, 80 khẩu, trong đó có 6 khẩu cũng đã sinh ra, lớn lên ở các đảo này."
Chủ trương của chúng ta đối với thực hiện chủ quyền đối với Hoàng Sa là như thế nào mà các đồng chí nêu, tôi cũng muốn nói rõ vấn đề này. Chủ trương của chúng ta là nghiêm túc thực hiện Công ước Luật biển, nghiêm túc thực hiện tuyên bố ứng xử của các bên liên quan ở biển Đông gọi tắt là DOC và các nguyên tắc thỏa thuận mới đây mà chúng ta đã ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc, cụ thể là chúng ta yêu cầu các bên giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm có ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực này. Việc thứ nhất là chúng ta yêu cầu phải giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm để gây ảnh hưởng đến hòa bình ổn định ở khu vực này.

Thứ hai là chúng ta tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng kinh tế-xã hội và cơ sở vật chất, kỹ thuật ở những nơi chúng ta đang đóng giữ bao gồm cả đường sá, điện, trạm xá, trường học, nước v.v... để cải thiện đời sống và tăng cường khả năng tự vệ của quân dân đảo Trường Sa, đó là việc làm thứ hai.

Việc làm thứ ba là chúng ta có các cơ chế chính sách hiện nay đã có, Chính phủ đang yêu cầu sơ kết đánh giá lại cơ chế chính sách hỗ trợ đồng bào ta khai thác thủy, hải sản, vận tải biển trong khu vực này. Không có thời gian, tôi không nói cụ thể nhưng đã có, đang có hiệu quả, nhưng chúng tôi thấy cần phải sơ kết để làm sao khuyến khích, hỗ trợ cho bà con của chúng ta thực hiện làm ăn sinh sống, thực hiện chủ quyền trên vùng biển Trường Sa này.

Vấn đề thứ tư, liên quan tới cam kết quốc tế là chúng ta nghiêm túc thực hiện và yêu cầu các bên liên quan nghiêm túc thực hiện theo đúng Công ước Luật biển năm 1982 và tuyên bố DOC là phải bảo đảm tự do hàng hải ở biển Đông, bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, trật tự, tự do hàng hải ở Biển Đông. Bởi vì đây là mong muốn, là lợi ích của tất cả các bên liên quan, không chỉ của Việt Nam, của tất cả các bên liên quan của các nước. Vì trên Biển Đông là tuyến đường vận tải hàng hóa từ đông sang tây mà tuyến đường này là tuyến vận tải từ 50%-60% tổng lượng hàng hóa vận tải từ đông sang tây.

Đó là những việc ta làm cụ thể. Lập trường này của chúng ta thì báo cáo với các vị đại biểu là được cộng đồng quốc tế ủng hộ, gần đây nhất là tại Hội nghị cấp cao ASEAN và cấp cao ASEAN với các đối tác.

Vấn đề thứ tư, chúng ta phải giải quyết và khẳng định chủ quyền trên Biển Đông là vấn đề phải giải quyết và khẳng định chủ quyền của chúng ta trong phạm vi 200 hải lý thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Luật Biển năm 1982. Chúng ta đã và sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền để quản lý thực hiện chủ quyền ngày càng đầy đủ hơn, hiện quả hơn đối với vùng biển này.

Tôi xin nói lại là vùng biển 200 hải lý thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam theo Công ước Luật Biển năm 1982.

Do không có thời gian, nên tôi xin trình bày vắn tắt 4 vấn đề mà chúng ta đang chủ trương giải quyết và khẳng định chủ quyền trên Biển Đông." 

Việt Nam 'đòi chủ quyền' Hoàng Sa

Trong động thái mà giới chuyên gia nhận định là có 'dịch chuyển về chính sách', Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa tuyên bố rằng chủ trương của Việt Nam là đàm phán để đòi hỏi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa, mà Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đoạt hoàn toàn từ năm 1974.


Ông Dũng đã đề cập tới vấn đề chủ quyền Biển Đông khi trả lời chất vấn của đại biểu trong kỳ họp thứ hai của Quốc hội Khóa 13 vào sáng thứ Sáu 25/11 tại Hà Nội.

Tuy nhiên ông thủ tướng nói thêm Việt Nam cũng chủ trương "đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình".

Được biết phần phát biểu về Biển Đông của ông Nguyễn Tấn Dũng tại Quốc hội kéo dài khoảng 10 phút.

Ông được truyền thông trong nước dẫn lời nói: "Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có đủ căn cứ và lịch sử pháp lý để khẳng định điều này".

Theo ông, việc đàm phán đòi hỏi chủ quyền là phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Công ước LHQ về Luật biển.

Ông thủ tướng cũng khẳng định Việt Nam đã "làm chủ thực sự" đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, "ít nhất từ thế kỷ 17 khi hai quần đảo này chưa thuộc bất kỳ quốc gia nào".

Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được đưa ra chỉ vài ngày sau khi Chính phủ Trung Quốc tuyên bố tổ chức tour du lịch tới Hoàng Sa.
Áp lực bên trong nước

Hôm 22/11, chính quyền tỉnh Hải Nam đã cấp phép cho một công ty du lịch đưa khách đi tham qua từ Hải Nam tới quần đảo Hoàng Sa.

Việt Nam cũng đã nhanh chóng lên tiếng phản đối kế hoạch này. Hôm thứ Năm 24/11, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị nói tại cuộc họp báo thường kỳ ở Hà Nội rằng việc tổ chức du lịch Hoàng Sa của Trung Quốc là 'vi phạm chủ quyền của Việt Nam'.

Ông Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời chất vấn trước Quốc hội

Ông Nghị tuyên bố: "Mọi hoạt động của nước ngoài tại khu vực này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và trái với tinh thần Tuyên bố chung về Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (DOC) mà các nước Asean đã ký với Trung Quốc năm 2002".

Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Quốc hội dường như chỉ là khẳng định ở cấp cao hơn quan điểm của Việt Nam về chủ quyền tại Biển Đông, nhưng theo Giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia về Việt Nam, nó mang tầm quan trọng đặc biệt, nhất là khi được truyền thông đại chúng Việt Nam tường thuật chi tiết.

Ông Thayer nhận xét: "Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm nay, một lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam công khai tuyên bố rành rẽ về vấn đề Hoàng Sa".

"Khác với Trường Sa, vốn được cho là khu vực tranh chấp, Hoàng Sa luôn được Trung Quốc coi là lãnh thổ của nước này một cách hiển nhiên và không bao giờ đặt Hoàng Sa vào trong nội dung các cuộc đàm phán."

Theo ông Thayer, do vậy vấn đề Hoàng Sa cũng không được lãnh đạo Việt Nam nhắc đến, và việc hai chữ Hoàng Sa được nhắc tới một cách chính thống những ngày này cho thấy một sự dịch chuyển trong chính sách.

Ông giáo sư, người vừa có mặt ở Hà Nội hồi đầu tháng, nói lý do có thể là vì "áp lực vô cùng lớn ở trong nước, từ phía dư luận và người dân đòi hỏi chính phủ phải có hành động cứng rắn về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Thái độ của Hoa Kỳ

Một lý do nữa, theo ông Carlyle Thayer, là phản ứng của Việt Nam trước những động thái mới đây của các cường quốc tại Biển Đông.

"Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm nay, một lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam công khai tuyên bố rành rẽ về vấn đề Hoàng Sa."

GS Carlyle Thayer
Mới hôm thứ Tư 23/11, Trung Quốc loan báo kế hoạch tập trận hải quân ở khu vực Tây Thái Bình Dương, kể cả Biển Đông, vào cuối tháng này.

Tuy quân đội nước này giải thích đây là hoạt động 'thường kỳ và không nhắm vào bất cứ quốc gia nào', giới quan sát vẫn cho rằng nó được đưa ra để đối trọng lại chính sách của Hoa Kỳ trong khu vực.

Tuần trước, Mỹ thông báo sẽ điều thủy quân lục chiến tới Darwin, miền bắc Australia, với quân số có thể lên tới 2.500 trong tương lai.

Trái ngược với thái độ dè chừng xưa nay trước các diễn biến quốc tế, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm 24/11 đưa ra bình luận hiếm hoi về kế hoạch điều quân của Mỹ, gọi đây là 'việc hợp tác' giữa các nước.

Ông Lương Thanh Nghị nói: "Chúng tôi mong rằng việc hợp tác giữa các quốc gia sẽ có đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào các nỗ lực chung nhằm duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và trên thế giới".

Chính sách biển ngày càng hung hăng và khả năng quân sự ngày càng tăng cường của Trung Quốc, theo các nhà bình luận, đang đẩy các nước trong khu vực lại gần nhau và xích lại với Hoa Kỳ. 
 

TRUNG QUỐC: KHÓ KHĂN NGOẠI GIAO LÁNG GIỀNG DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CÁC HỌC GIẢ TRONG NƯỚC

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ Sáu, ngày 25/11/2011

TTXVN (Bắc Kinh 18/11)

Báo “Thanh niên Trung Quốc” số ra ngày 10/11/2011 có bài tổng hợp ý kiến của các học giả trong nước, cho biết ngoại giao với các nước láng giềng châu Á của Trung Quốc thời gian qua gặp nhiều khó khăn. Trong bối cảnh như vậy, Trung Quốc hiện nay cần phải tháo gỡ khó khăn đó bằng cách nào. Dưới đây là ý kiến của các học giả về vấn đề này:

Vào cuối năm 2010 sau khi đặt dấu chấm hết cho một năm ngoại giao láng giềng của Trung Quốc, tình hình dường như trở lại điểm xuất phát. Vào tháng 12 của năm đó, Giáo sư Học viện Quan hệ quốc tế – Đại học Bắc Kinh, Vương Dật Đơn đã công bố bài viết trên báo chí, nhìn lại tình hình ngoại giao trong năm, cho biết “điểm sáng không nhiều”. Trong năm đó tranh chấp với Nhật Bản trên biển Hoa Đông, nhất là ở đảo Điếu Ngư (Senkaku) tăng lên; Tiếng nói ở trong nước Ấn Độ về mối đe doạ của Trung Quốc lan truyền rộng; Quan hệ giữa Trung Quốc với Hàn Quốc trở nên nghiêm trọng bởi xảy ra sự kiện tàu Cheonan…

Tương tự như vậy, việc Mỹ tham gia, chỉ đạo và cùng với các nước châu Á tiến hành một loạt cuộc diễn tập quân sự trên biển trong năm 2010 đã thể hiện quyết tâm trở lại châu Á của Mỹ.

Một năm sau, vào cuối năm 2011 tình hình dường như vẫn thế. Tranh chấp ở Nam Hải (Biển Đông) đột ngột nóng lên khiến quan hệ giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippin căng thẳng, đồng thời Ngoại trưởng Mỹ H. Clinton trong bài viết “Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ” xác định rõ trở lại châu Á sẽ là chiến lược của Mỹ trong thế kỷ 21.

Lại có học giả cho rằng tình hình hiện nay càng không dễ lạc quan. Phó chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế, Đại học Bắc Kinh Chu Phong, mới đây trong bài viết trên báo “Liên hợp buổi sáng” của Xinhgapo cho biết do xảy ra tranh chấp lãnh thổ với Việt Nam và Philippin, lại thêm sự kiện Chính phủ Mianma ngừng dự án xây đập thuỷ điện Myitsone do Trung Quốc bỏ vốn khiến quan hệ Trung Quốc – Mianma căng thẳng, quan hệ bình thường giữa Trung Quốc với nước láng giềng đột ngột xuống dốc, “vùng biên giới phía Nam trước đây hoà bình nay dường như trở thành khu vực láng giềng thù địch với Trung Quốc sâu sắc nhất”, “chính sách láng giềng thân thiện” của Trung Quốc có thể đưa ngoại giao khu vực của Trung Quốc đến một lĩnh vực chưa biết trước triển vọng.

Chu Phong cho rằng Trung Quốc cần bắt đầu cung cấp cho các nước những giá trị chung cần thiết, không chỉ về thương mại mà phải bao gồm cả sự lãnh đạo, quản trị khu vực hoàn thiện trên cơ sở tinh thần pháp trị, tôn trọng nhân quyền và kinh tế khu vực tăng trưởng. Chỉ có như vậy nước láng giềng mới thực lòng nghĩ đến lợi ích của Trung Quốc, những sự kiện như “sự kiện Myitsone” mới không tái diễn.

Vương Dật Đơn còn kiến nghị về ngoại giao láng giềng là, sự can dự sáng tạo của ngoại giao Trung Quốc phải có trọng điểm là khả năng giải thích về mặt chính trị, tin cậy lẫn nhau về quân sự, lòng tin rộng rãi về ngoại giao và hợp tác trong kinh tế thương mại, làm một nước lớn vừa khiêm tốn vừa thận trọng.

“Thành bại của nước lớn, chủ yếu là do bản thân”


Theo cách nhìn nhận của Robert S. Kaplan, nghiên cứu viên cao cấp thuộc Trung tâm an ninh nước Mỹ mới, “vi phạm thế lực” của Trung Quốc bao gồm năm nước Trung Á, Đông Nam Á, Pakixtan, bán đảo Triều Tiên và khu vực Viễn Đông Nga. Robert S. Kaplan đã đề xuất quan điểm nói trên trong bài viết đăng trên tạp chí “Foreign Affairs”.

George Friedman, nghiên cứu viên thuộc Trung tâm nghiên cứu vấn đề quốc tế – Học viện công nghệ Masachusetts cho rằng Trung Quốc đương đại đã hình thành nên được vị thế kiểm soát ổn định đối với “xung quanh”.

Tuy nhiên, Giáo sư Đại học Khoa học công nghệ Trung Quốc ở Đài Bắc Bao Thuần Lượng đã không đồng ý với nhận định như vậy mà cho rằng Trung Quốc tuy vẫn chưa có khả năng chủ đạo trật tự thế giới hoặc Đông Á nhưng bởi nước Mỹ đã cảm nhận được áp lực dịch chuyển quyền lực, các nước xung quanh cũng có tâm lý lo sợ mất đi tính tự chủ nên Mỹ và các nước xung quanh Trung Quốc “đều rất dễ chìm vào trạng thái nghi ngờ hợp lý về việc đề phòng Trung Quốc, nếu Mỹ đi đầu cân bằng với Trung Quốc thì không ít nước xung quanh sẽ nổi lên hưởng ứng”.

Vì thế trong bài viết mới đây Bao Thuần Lượng cho rằng cho dù Trung Quốc hết sức duy trì quan hệ hữu nghị với Mỹ và các nước xung quanh nhưng một số nước xung quanh thỉng thoảng vẫn có sự thăm dò chiến lược. “Giấu mình chờ thời theo hướng vẫn có hành động” là phương châm ngoại giao tối ưu nhất đối với Trung Quốc hiện nay.

Vương Dật Đơn cho rằng Trung Quốc cần phải có một chiến lược lớn trung hạn và dài hạn mang tính sáng tạo, hay cũng có thể nói dưới tiền đề không phủ nhận chính sách “không can thiệp công việc nội bộ của nước khác”, không từ bỏ giấu mình chờ thời, sẽ tham gia nhiều hơn vào các công việc quốc tế với thái độ tích cực hơn, làm một “nước lớn khiêm tốn và thận trọng”.

Tuy nhiên, trong một lần diễn giảng, Vương Dật Đơn thừa nhận vấn đề an ninh chủ quyền và an ninh biên giới của Trung Quốc là đặc biệt khó khăn hóc búa. Vương Dật Đơn đã tính toán rằng cho đến năm 2010, Trung Quốc đã có những ngòi nổ đang tồn tại với 10 nước trong vấn đề chủ quyền. Trung Quốc vừa không thể để mất chủ quyền, cũng vừa không thể đơn giản đoạt lại mà việc này biến thành một “nhiệm vụ vừa khó khăn vừa phức tạp”.

“Sự thành bại của nước lớn là ở tại bản thân mình”. Vương Dật Đơn đã mô tả đối sách mà Trung Quốc cần áp dụng là “không cần ngộ nhận cho rằng Trung Quốc đã bị âm mưu của Mỹ bao vây, trói chân tay, lại càng không thể phô bày thế kình địch từ chiến đến cùng với nước lớn siêu cường vào lúc này”.

Vương Dật Đơn cho rằng có một việc Trung Quốc cần phải thấy rõ là, một nước láng giềng yên ổn, một môi trường xung quanh vững chắc và một tiến trình hợp tác khu vực đi vào chiều sâu sẽ cực kỳ có lợi cho sự phát triển của bản thân Trung Quốc. Trung Quốc cần phải tích cực thể hiện thiện chí của mình chứ không phải đối kháng hay đối đầu, phải tăng cường loại bỏ nghi ngờ trong các công việc liên quan đến quốc phòng, tuyên truyền quân sự đối ngoại, “bằng mọi cách tránh để cho những công tác này trở nên gay gắt và tránh phải đặt bài ngửa” trong những tranh chấp phức tạp như tranh chấp chủ quyền.

Mỹ đem lại thách thức nhưng cũng đem lại cơ hội


Từ cách đây hai năm mặc dù việc “Mỹ trở lại châu Á” đã là đề tài được thảo luận nhiều trên báo chí trong nước, nhưng cho đến nay, cùng với cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ đang đến gần, các ứng viên đua nhau làm rõ chính sách cầm quyền của mình, chiến lược châu Á của Mỹ cũng đang chính thức được đưa ra, vì thế bài viết của Ngoại trưởng H. Clinton được các nhà phân tích coi là cơ sở cho chính sách ngoại giao của Obama nhiệm kỳ tiếp theo.

Trong bài viết của bà Clinton, châu Á trong tương lai được xác định là trật tự hợp tác dưới sự chủ đạo của Mỹ, Trung Quốc được coi là một đối tác hợp tác quan trọng. Ngoại trưởng Hillary viết: Một nước Trung Quốc vươn lên đầy triển vọng có lợi cho nước Mỹ, thông qua hợp tác chứ không phải đối đầu, hai nước đều có thể được hưởng lợi rõ ràng.

Về bài viết này, báo chí trong nước phản ứng khác nhau. Có báo đặt câu hỏi “ý đồ trở lại châu Á của Mỹ là Mỹ muốn làm gì”, thắc mắc về thái độ của Hillary Clinton. Trong khi đó Phó giám đốc Học viện quan hệ quốc tế – Đại học Nhân dân Trung Quốc Kim Xán Vinh cho rằng điều này là rất bình thường, do có các nước ở hàng đầu như Trung Quốc, Ấn Độ nên địa vị của châu Á thế kỷ 21 đương nhiên sẽ vượt xa địa vị của châu Âu trên toàn cầu hiện nay.

Kim Xán Vinh cho rằng Trung Quốc không cần thiết phải có sự ứng biến với chiến lược của Mỹ, mà cần phải “dĩ bất biến ứng vạn biến”, xử lý tốt vấn đề phát triển trong nước, với bên ngoài sẽ tiếp tục “giấu mình chờ thời”, thêm nhiều bạn, giảm bớt thù.

Báo Thuần Lượng cũng cho rằng trừ phi nước Mỹ không đủ sức hoặc không có ý đối đầu với Trung Quốc ở Đông Á, nếu không thì trật tự Đông Á sẽ khó có thể chuyển biến căn bản. Việc Trung Quốc cần làm là phải duy trì cục diện như hiện nay trước khi có sự thay đổi về so sánh lực lượng. Trong khi đó, một bài bình luận trên tờ “thời báo châu Á” đã nhắc nhở Trung Quốc rằng trong khi Mỹ “trở lại châu Á”, Trung Quốc không được vì khó khăn địa chính trị mà thay đổi nguyên tắc “hoà bình phát triển” và chính sách ngoại giao lấy an ninh làm cơ sở.

Tác giả bài bình luận cho rằng Trung Quốc không nên bắt chước biện pháp lấy an ninh làm cớ để gây ảnh hưởng của Mỹ, một mực làm thay đổi tình hình ổn định ở Đông Á mà mình đã hướng lợi nhiều năm.

Đương nhiên không phải bất cứ ai cũng đều coi chiến lược châu Á của Mỹ là mối đe doạ. Phó giáo sư Tôn Học Phong thuộc Viện nghiên cứu vấn đề quốc tế – Đại học Thanh Hoa nhắc nhở mọi người không được coi thường một thực tế là chính chiến lược này của Mỹ sẽ đem lại cơ hội giúp cho chính sách khu vực của Trung Quốc có hiệu quả hơn, chẳng hạn như đem lại không gian phát triển cho mô hình hợp tác “10+3” mà Trung Quốc khởi xướng, từ đó làm yếu đi ý đồ của Nhật Bản và một số nước ASEAN muốn thành lập Hội nghị cấp cao Đông Á để hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc.

Ngoài ra, Mỹ là đòn bẩy quan trọng nhất ở Đông Á, lợi dụng tâm lý lo sợ của các nước khu vực Đông Á đối với Trung Quốc nên những năm gần đây, các biện pháp kinh tế và an ninh của Trung Quốc bị mất hiệu quả, Trung Quốc vừa xây dựng Khu thương mại tự do với ASEAN đi theo chiều sâu nhưng cũng vừa làm cho bất đồng với các nước ASEAN trong vấn đề Nam Hải sâu sắc thêm, làm cho hiệu quả trong nỗ lực thông qua sức hút kinh tế làm hoà dịu lo ngại của các nước xung quanh của Trung Quốc bị giảm mạnh. Nay Trung Quốc có thể lợi dụng thời cơ Mỹ trở lại châu Á để loại bỏ lo ngại của các nước xung quanh về an ninh, từ đó tiếp tục nâng cao hiệu quả chiến lược trong chính sách khu vực của Trung Quốc.

Cũng có quan điểm cho rằng chiến lược châu Á của Mỹ dần dần rõ thêm, tạo cơ hội để Trung Quốc xác định rõ hơn cơ cấu mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Mỹ.

Giám đốc Học viện Quan hệ quốc tế – Đại học Bắc Kinh Vương Tập Tư cho rằng mâu thuẫn về cơ cấu khu vực giữa Trung Quốc và Mỹ rõ hơn sẽ giúp Trung Quốc áp dụng chiến lược rõ ràng, xác định rõ hai nước Trung-Mỹ đứng trước cạnh tranh trong những vấn đề nào, có thể hợp tác trong lĩnh vực nào. Trung Quốc có thể nhờ đó để xác định rõ điểm tới hạn trong chính sách của mỗi bên, thực tế như vậy sẽ có thể đặt cơ sở cho việc xây dựng khuôn khổ chiến lược ổn định ở khu vực Đông Á.

*
* *

(Đài TNHK 12/11)

Trung Quốc càng mạnh càng ít bạn, càng giàu càng ít có ảnh hưởng chính trị. Đó là nhận định mà giáo sư Diêm Học Thông, một chuyên gia quan hệ đối ngoại nổi tiếng của Trung Quốc, đưa ra trong cuộc diễn thuyết mới đây tại Oasinhton. Tiến sĩ Diêm cũng hối thúc giới lãnh đạo Bắc Kinh từ bỏ chủ trương phi liên kết để xây dựng quan hệ đồng minh với các nước khác để cạnh tranh với Mỹ trong một thế giới lưỡng cực mà ông cho rằng đang dần dần xuất hiện cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Trong khi đó, Thượng Nghị sĩ John McCain của Mỹ lại một lần nữa hối thúc Oasinhton có lập trường cứng rắn hơn với Trung Quốc về nhiều vấn đề, từ hoạt động gián điệp mạng cho tới vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông. Chính khách từng là ứng cử viên Tổng thống của Đảng Cộng Cộng hò nói rằng Chính quyền Obama cần phải đưa ra cho Trung Quốc một thông điệp rõ ràng là họ không thể “muốn làm gì thì làm”.

Giáo sư Diêm Học Thông, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế Đương đại của Đại học Thanh Hoa, là một chuyên gia nổi tiếng của Trung Quốc về quan hệ quốc tế, đặc biệt là về quan hệ Mỹ-Trung. Cách đây khá lâu, từ năm 1998, ông đã viết sách dự báo sự trỗi dậy của Trung Quốc trong lúc giới hữu trách Bắc Kinh cố ý tránh né khái niệm này và cho đến nay vẫn tiếp tục dùng cụm từ “phát triển hoà bình” để thay thế – với mục đích làm giảm bớt sự nghi ngại và lo âu của các nước khác trước tình trạng sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc ngày càng gia tăng. Trong thời gian gần đây, ông Diêm Học Thông lại được giới học thuật phương Tây chú ý tới qua việc đề ra khái niệm “tình bạn bề ngoài” để mô tả mối quan hệ thiếu ổn định giữa Mỹ với Trung Quốc. Ông lập luận rằng lãnh đạo hai nước cứ tưởng lầm là đôi bên có mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp, trong khi thực tế không phải như vậy. Ông cho rằng “sự không thật” này làm cho Bắc Kinh và Oasinhton thường có phản ứng thái quá mỗi khi phía bên kia có những hành động không phù hợp với kỳ vọng của mình.

Ông Diêm Học Thông giải thích thêm như sau trong cuộc diễn thuyết hôm 7/11 tại Quỹ Hoà bình Quốc tế Carnegie ở Oasinhton. Ông nói:

“Đôi bên cứ tìm cách nói chuyện một cách thân thiện, nói tới hợp tác; trong khi trên thực tế, đôi bên cạnh tranh với nhau để tranh giành ảnh hưởng. Tôi không nghĩ rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc và các nhà hoạch định chính sách Mỹ muốn cạnh tranh với nhau. Cả ông Hồ Cẩm Đào lẫn ông Obama đều muốn giảm bớt xung đột và tăng cường hợp tác. Họ muốn tránh xung đột. Nhưng trên thực tế điều đó vượt khỏi khả năng của họ. Bởi vì một khi sự chênh lệch về sức mạnh được thu hẹp, xảy ra xung đột là một việc không thể tránh được. Quy luật khách quan là như vậy, ý chí chủ quan không thể thay đổi được”.

Tiến sĩ Diêm Học Thông cho rằng Mỹ và Trung Quốc cần nhận rõ thực tế khách quan này để tránh xảy ra những tính toán sai lầm và cố gắng làm thế nào để cho sự cạnh tranh giữa hai nước mang tính chất tích cực thay vì tiêu cực. Ông cũng cho rằng trong lúc Mỹ tiếp tục củng cố các mối quan hệ đồng minh hiện có và phát triển những mối quan hệ đồng minh mới, Trung Quốc chỉ có hai nước đồng minh là Bắc Triều Tiên và Pakixtan – Bắc Triều Tiên là đồng minh trên giấy tờ nhưng không có thực chất, trong khi Pakixtan là đồng minh trên thực tế nhưng không có hiệp ước. Ông nói thêm như sau:

“Trung Quốc ngày càng mạnh hơn nhưng bạn bè lại ít đi. Trung Quốc ngày càng giàu hơn nhưng ảnh hưởng chính trị lại giảm bớt. Tôi không nghĩ rằng đây là một sự việc bất thường. Và nếu Trung Quốc cứ khăng khăng theo đuổi nguyên tắc phi liên kết thì Trung Quốc không thể nào thay đổi được tình trạng này”.

Giáo sư Diêm Học Thông hối thúc các nhà lãnh đạo Trung Quốc từ bỏ chủ trương do cố lãnh tụ Đặng Tiểu Bình đề xướng từ mấy chục năm qua và tìm cách cung cấp sự bảo đảm an ninh cho các nước đồng minh để cạnh tranh với Mỹ trong một thế giới mà ông cho là một thế giới lưỡng cực với quyền chủ đạo nằm trong tay Mỹ và Trung Quốc.

Khi được hỏi về vụ tranh chấp Biển Đông, mà Trung Quốc gọi là Nam Hải, tiến sĩ Diêm Học Thông cho rằng vấn đề này trong ngắn hạn sẽ mỗi ngày một nghiêm trọng hơn. Lý do là vì các nứoc như Việt Nam, Philippin, Ấn Độ và Nhật Bản đang theo đuổi chính sách đối kháng với Trung Quốc mà Bắc Kinh không có cách nào để làm cho họ từ bỏ chính sách này. Ông cho biết thêm như sau:

“Các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải đặt ra câu hỏi: ‘Chúng ta có thể dùng tiền để mua tình bạn hay không. Nếu tiền bạc không có tác dụng chúng ta phải làm sao?’ Tôi cho rằng tiền bạc sẽ ngày càng không có tác dụng đối với các nước láng giềng. Cho nên, Trung Quốc phải nghĩ tới việc thiết lập quan hệ quân sự với các nước xung quanh. Tôi không cho rằng Trung Quốc có thể làm cho mọi nước láng giềng trở thành đồng minh quân sự của mình, nhưng có một số nước sẵn sàng làm đồng minh của Trung Quốc. Yêu cầu của họ thường xuyên bị Trung Quốc bác bỏ, chỉ vì Trung Quốc vẫn theo đuổi nguyên tắc phi liên kết”.

Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain cho rằng đòi hỏi chủ quyền có tính chất hung hãn của Trung Quốc ở Biển Đông là “một sự vi phạm đối với mọi nguyên tắc về tự do hàng hải trên những vùng biển mà Mỹ từng phải tham chiến để bảo vệ”. Tuy không hô hào Mỹ trực tiếp đối đầu với Trung Quốc, nhưng Thượng Nghị sĩ McCain nói rằng Oasinhton nên tận dụng các mối quan hệ đồng minh của mình ở châu Á để chiến thắng những tham vọng của Trung Quốc.

Tháng 6 vừa qua, Thượng Nghị sĩ McCain nói rằng tình trạng căng thẳng ở Biển Đông là do giới lãnh đạo ở Bắc Kinh gây ra và Oasinhton nên gia tăng sự hỗ trợ cho các nước Đông Nam Á để họ có thể ứng phó tốt hơn với cục diện trước mắt. Ông cho rằng:

“Điều làm cho tôi cảm thấy bất bình, và tôi nghĩ rằng điều đó cũng gây bất bình cho nhiều người trong quí vị ở đây, là những tuyên bố đòi chủ quyền có tính chất thái quá của Trung Quốc ở Biển Đông – luận cứ của những đòi hỏi này không hề có cơ sở nào trong luật pháp quốc tế; và những hành động ngày càng hung hãn mà Trung Quốc thực hiện hồi gần đây để khẳng định các quyền mà họ tự cho là của mình, kể cả những hành động ở khu vực trong vòng 200 hải lý ngoài khơi các nước ASEAN, như là trường hợp gần đây trong các vụ việc riêng biệt liên quan tới Việt Nam và Philippin”.

Thượng nghị sĩ McCain cũng đề cập tới bản đồ đường chín đoạn – phía Việt Nam thường gọi một cách diễu cợt là đường lưỡi bò – mà Trung Quốc đưa ra để đòi chủ quyền của 80% vùng biển rộng lớn chạy dài từ phía Đông của miền Bắc Việt Nam cho tới phía Tây của Philippin, và nói thêm rằng cách diễn giải của Trung Quốc về luật pháp quốc tế sẽ làm xói mòn các nguyên tắc lâu dài về tự do hàng hải./.

25/11/11

Tình hình châu Á: Bắc Kinh hiện tỏ ra nhịn nhục

Walter Russell Mead

Dòng thác dồn dập các tuyên bố, những cuộc triển khai quân, một loạt các thỏa thuận và thông cáo từ Mỹ và các đồng minh khu vực trong tuần qua phải là một trong những cú sốc khó chịu nhất chưa từng xảy ra đối với giới lãnh đạo Bắc Kinh. Mỹ đưa quân vào Úc, Úc bán uranium cho Ấn Độ, Nhật tăng cường các hoạt động quân sự và phối hợp chặt chẽ hơn với Philippines, Việt Nam trong vấn đề biển Đông. Myanmar đang thoát ra khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc và đang cố gắng tái hội nhập vào khu vực, Indonesia và Philippines tăng cường quan hệ quân sự sâu hơn với Mỹ: và tất cả mọi chuyện xảy ra chỉ trong một tuần. Nếu điều đó vẫn không đủ, ý kiến của đa số các nước trong khu vực đã đồng ý thiết lập một khối thương mại mới (TPP) không bao gồm Trung Quốc, trong khi Mỹ, nước được hoan nghênh, đã đề nghị rằng các tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc với các nước láng giềng nên được giải quyết tại diễn đàn như Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á— thay vì đàm phán song phương với từng nước nhỏ và yếu hơn, điều mà Trung Quốc mong muốn.

Hiếm khi nào một cường quốc lại bị khiêu khích và xúc phạm đến như vậy. Hiếm khi nào có nhiều lằn ranh đỏ lại bị vượt qua đến thế. Hiếm khi nào có nhiều trường hợp bị mất mặt như vậy, mất mặt quá nhanh. Đây là đòn tấn công ngoại giao bất ngờ nhằm đảo ngược tình hình trong một thập kỷ qua, bàn tán về hiện tượng Mỹ đang “suy tàn” và từ bỏ can dự vào Châu Á, điều này cũng nhằm dập tắt huyền thoại mới chớm về “sự trỗi dậy không gì ngăn cản được của Trung Quốc”.

Thời điểm [mọi chuyện] xảy ra hết sức phù hợp. Trung Quốc đang trong giai đoạn chuyển tiếp thế hệ lãnh đạo, lúc mà các quyết định quan trọng khó có thể đưa ra một cách nhanh chóng. Tại Trung Quốc, nền kinh tế đang có dấu hiệu thiếu vững chắc trong khi thị trường bất động sản đang rớt giá hầu như khắp cả nước. Cuộc tấn công ngoại giao chớp nhoáng diễn ra rất nhanh trên rất nhiều mặt trận, với những cú đánh cực mạnh, liên tiếp và mau lẹ, đến nỗi Trung Quốc không thể triển khai cách đáp trả một cách chặt chẽ và hữu hiệu. Và bởi sự xuất hiện của ông Ôn Gia Bảo tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, vốn được lên kế hoạch từ lâu trước khi Trung Quốc mơ hồ biết được trận bão lửa sắp ập đến, không thể hủy bỏ hoặc thay đổi được lịch trình, Thủ tướng Ông Gia Bảo ở trong thế kẹt: phải tự mình phản ứng trước công luận về tất cả những vấn đề này trong lúc Trung Quốc bị mất thăng bằng và trước các cuộc tham vấn, suy nghĩ cân nhắc và thảo luận để có thể đưa ra cách đối phó hiệu quả.

Trong vị thế này, ông Ôn Gia Bảo đã hành động một cách thận trọng, có nghĩa là hành động càng ít càng tốt, với những lời phát biểu ôn hòa ở chốn công khai. Ông ta không hề đấm bàn (hoặc như cựu lãnh đạo Xô-viết Nikita Khrushchev, từng tháo giày ra nện lên bàn). Ông ấy cũng không nổi cơn thịnh nộ hoặc trách cứ các nước láng giềng, không đả kích sự kiêu căng và gây hấn của Mỹ. Ông ấy không phát biểu mang tính đe dọa nhưng cũng không từ bỏ yêu sách chủ quyền; và thậm chí còn tham dự một cuộc họp ngắn ngoài lịch trình với Tổng thống Obama.

Ảnh hưởng của cách phản ứng hạ giọng và bị động này (thực sự ông Ôn Gia Bảo không có sự lựa chọn nào khác) là củng cố cảm nhận ở Châu Á rằng Mỹ đã tái khẳng định vị thế siêu cường hàng đầu bằng cách thức rất thuyết phục. Mỹ đã hành động và nhận được sự ủng hộ khắp nơi, một cách ấn tượng, và Trung Quốc đã lùi bước.

Thực tế, đó là những gì đã xảy ra và những điều xảy ra mang tính quyết định, một chiến thắng ngoại giao mà bất cứ ai cũng nhìn thấy được. Cũng nên chúc mừng Tổng thống Obama cùng đội ngũ an ninh quốc gia của Tổng thống. Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng và Nhà Trắng rõ ràng đã và đang làm việc với nhau một cách hiệu quả, trong một chiến lược phức tạp và sâu sắc. Họ tránh làm rò rỉ thông tin, phối hợp hiệu quả với sáu nước khác và triển khai một loạt các công cụ sức mạnh. Trong lĩnh vực chính sách đối ngoại, đây là sự trình làng của thời đại chính quyền Obama với kế hoạch được thai nghén và thực thi một cách hoàn hảo từ trước đến nay.

Cho đến giờ thì những người quan tâm đến bầu cử sẽ không thay đổi những động lực cơ bản của cuộc đua tái tranh cử [chức tổng thống Mỹ] đã được định hình, bởi lo ngại của cử tri về việc vận hành kinh tế yếu kém, nhưng hiệu ứng từ việc Tổng thống tái khẳng định vị thế siêu cường của Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương sẽ củng cố nhận thức của công chúng rằng Tổng thống đã làm tốt hơn trong vấn đề chính sách đối ngoại. Ông Obama đã chứng tỏ bản lĩnh tổng thống ở Châu Á; điều này rất có ý nghĩa.

Nhưng khởi đầu thành công không có nghĩa sẽ là cuối cùng sẽ chiến thắng. Trong ván cờ lớn mới mẻ này, sự thí quân để mở đường của Mỹ tỏ ra vượt trội, nhưng Trung Quốc cũng đi được một nước cờ. Một mặt, tính chất, phạm vi và sự thành công từ các bước đi của Mỹ làm cho Trung Quốc khó có thể đáp trả tương xứng. Mặt khác, việc [Trung Quốc] bị bẽ mặt và tâm trạng thất vọng (và ở khía cạnh nào đó, là nỗi lo ngại) từ trong chính quyền và ngoài xã hội trên diện rộng, liên quan đến sự thụt lùi này, sẽ thúc ép Trung Quốc phải có hình thức phản ứng nào đó.

Trái với quan điểm phổ biến, thiếu suy nghĩ cho rằng, Mỹ đang “suy tàn”, Trung Quốc vẫn còn yếu kém và nghèo khổ hơn nhiều so với Mỹ, tuy nhiên chính sức mạnh của Trung Quốc chứ không phải vị thế siêu cường của Mỹ, là điều các nước láng giềng của Trung Quốc lo ngại nhất. Chính sách ngoại giao của Trung Quốc gặp phải một nghịch lý khó chịu: Nếu Trung Quốc chấp nhận trật tự về sự trở lại của Mỹ ở Châu Á, Trung Quốc sẽ bị xem là yếu kém và bị buộc phải xuống “chiếu dưới” về vị thế chính trị. Còn nếu Trung Quốc công khai chống lại trật tự đó, sẽ làm các nước láng giềng lo lắng và chuyển sang gắn kết chặt chẽ hơn với chú Sam.

Thực tế này đã chế ngự phản ứng của Trung Quốc bằng nhiều cách, nhưng Trung Quốc không thể thụ động mãi. Trung Quốc phải suy nghĩ thận trọng về những lựa chọn và tìm cách sử dụng mọi yếu tố sức mạnh của họ để giáng đòn phản công chống lại Mỹ. Chờ xem Trung Quốc có bắt tay hợp tác mạnh hơn với Nga để hai cường quốc này tìm cách cho hợp lực chống lại Mỹ, làm cho Mỹ phải chịu lùi bước [ở một một số điểm nóng] như : Pakistan? Iran? Afghanistan? hay Palestine?

Trong khu vực, Trung Quốc cố gắng tách một hoặc nhiều nước khỏi hệ thống của Mỹ bằng cách kết hợp ảnh hưởng kinh tế và quan hệ chính trị. Trung Quốc tận dụng một thực tế rằng các cường quốc châu Á khác không muốn Mỹ nắm giữ vai trò thống trị, các quốc gia này có thể lo ngại Trung Quốc hơn là lo ngại Mỹ, nhưng mục tiêu của họ là giữ vững tối đa nền độc lập tự chủ, chứ không phải gia tăng sức mạnh của Mỹ.

Về lâu về dài, sự tuyên truyền, thuyết phục từ giới quân sự và những nhân vật theo đường lối cứng rắn đối với công chúng, rằng Mỹ chính là kẻ thù của Trung Quốc và theo đuổi việc ngăn chặn sự trỗi dậy tự nhiên của Trung Quốc, không chỉ mang tính chất bảo thủ hơn, nhiều quyền lực hơn; mà còn kéo theo những hệ lụy. Giới quan sát và ngoại giao nước ngoài thạo tin và đầy kinh nghiệm đã cảnh báo rằng quân đội [Trung Quốc], xét về nhiều mặt, đang có biểu hiện không phụ thuộc vào giới chính trị. Và một số người tin rằng, giống như giới quân phiệt Nhật hồi thập niên 1930, quân đội Trung Quốc hoặc những phe cánh trong quân đội có thể can dự vào những vấn đề quan trọng mà giới chính trị không thể đảo ngược. Những hòn đảo có thể bị xâm chiếm, những lá cờ được phất lên và những phát súng nổ vang.

Tất nhiên, bất kỳ lập luận của người Trung Quốc nào nhằm chống lại sự gia tăng ồ ạt tiềm lực quân sự sẽ rất khó có thể thắng. Với thế yếu rõ ràng [so với Mỹ], Trung Quốc không thể đi ngược lại lời kêu gọi chi tiêu quân sự nhiều hơn, cũng như tăng tốc phát triển khả năng hàng hải.

Nhiều người ở Trung Quốc (và kể cả những nơi khác) tin rằng, việc Trung Quốc nắm giữ phần lớn nợ của Mỹ sẽ tạo cho Trung Quốc quyền lực to lớn trong hệ thống quốc tế. Chuyên mục Via Meadia cho rằng đa phần những ý tưởng này là sai lầm, và bất cứ nỗ lực nào nhằm sử dụng các nguồn dự trữ này làm công cụ chính trị, có khả năng gây phương hại cho chính Trung Quốc hơn là cho Mỹ. Sau cùng, việc bán đổ bán tháo [lượng trái phiếu Mỹ] do Trung Quốc nắm giữ sẽ làm cho đồng Đô la Mỹ hạ giá — có nghĩa là, trước tiên Trung Quốc sẽ bị giáng một đòn nặng về giá trị chứng khoán bán ra, kế đến là các sản phẩm của Trung Quốc trên thị trường Mỹ, và có thể ở thị trường Châu Âu, sẽ sụp đổ trong cơn bão lửa [khủng hoảng] kinh tế toàn cầu kế tiếp. Mỹ có khả năng sẽ vượt qua cuộc khủng hoảng này nhanh hơn và phát triển tốt hơn Trung Quốc.

Tuy nhiên, ở Trung Quốc, niềm tin mạnh mẽ rằng dự trữ ngoại hối của Trung Quốc là một công cụ hữu ích, bằng cách này hay cách khác, có thể dùng để chiến thắng các quan điểm chính trị, và sẽ có áp lực rất lớn lên Bắc Kinh nhằm sử dụng lá bài này ngay khi có cơ hội đầu tiên. Điều này có ý nghĩa gì, trên thực tế, rất khó có thể nói, nhưng các chiến lược gia, giới điều hành ngân hàng và các nhà ngoại giao Mỹ cần lưu ý rằng Trung Quốc đang quan tâm đến việc dùng kho dự trữ ngoại tệ của mình làm vũ khí.

Một cuộc tranh luận gay gắt tại Trung Quốc thường cho ra nhiều quan điểm. Có người khuyên nên kiên nhẫn chịu đựng, nói rằng Trung Quốc không thể thắng trong cuộc giao tranh công khai với Mỹ, và rằng hy vọng duy nhất là gắn chặt với khái niệm “trỗi dậy hòa bình”: tránh mọi xung đột với Mỹ và các nước láng giềng, hành xử như một “đối tác có trách nhiệm” trong hệ thống quốc tế do Mỹ thiết lập, tập trung phát triển ngày càng giàu mạnh hơn cho đến khi nào các chiến lược thay thế có thể được xem xét. Theo ý kiến của tôi, đó là con đường khôn ngoan nhất của Trung Quốc.

Tất nhiên, những người khác sẽ lập luận rằng hệ thống quốc tế như đang tồn tại hiện nay, bị chi phối bởi sức mạnh Mỹ, là vũ khí trong tay quốc gia thù địch sâu nặng với Trung Quốc và chính phủ nước này. Và Mỹ sẽ không yên ổn cho đến khi nào Trung Quốc, giống như Nga, bị làm cho sa sút và suy kiệt. Họ (thật sự) nghĩ rằng, mục tiêu của Mỹ là lật đổ chính quyền cộng sản [Trung Quốc], rồi thay thế bằng những nhân vật lãnh đạo khác yếu kém— như Yeltsin của Nga—và sau đó “chia năm xẻ bảy” lãnh thổ Trung Quốc như cách thức Liên Xô đã tan rã. Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương, và có lẽ nhiều hơn nữa sẽ bị chia tách cho đến khi Trung Quốc chỉ còn là một thành viên suy yếu và bất lực trong một trật tự ngày càng lạnh lùng của Mỹ. Hành động như một “đối tác có trách nhiệm” trong hệ thống quốc tế, chẳng khác nào tự thắt nút vào chiếc thòng lọng đang chờ treo cổ mình; Trung Quốc phải kháng cự lại ngay, và liên minh với bất cứ nước nào muốn chống lại sức mạnh của Mỹ như: Iran, Nga, Syria, Venezuela, Pakistan, thậm chí có thể với cả Al-Qaeda. Và thay vì cố gắng hỗ trợ cho hệ thống chủ nghĩa tư bản quốc tế, Trung Quốc nên làm những gì có thể, để làm cho các cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn và làm trầm trọng thêm những căng thẳng.

Tôi cho rằng con đường này sẽ dẫn đến tình trạng bế tắt về mặt chiến lược của Trung Quốc, các nhà ngoại giao Trung Quốc có quá nhiều kinh nghiệm và am hiểu để khỏi bị dẫn vào con đường này. Giới quân đội và luồng dư luận của những người theo chủ nghĩa dân tộc có thể rất dễ bị dẫn vào con đường nói trên. Lực lượng này quá mạnh, không thể bị loại trừ hoàn toàn ra khỏi quá trình hoạch định chính sách của Trung Quốc; [cho nên Mỹ hãy] đợi một số trả đũa quá khích [từ Trung Quốc].

Mỹ đã thắng hiệp đầu tiên, nhưng cuộc chơi chỉ mới bắt đầu. [Từ nay trở đi,] chính quyền Obama và những người kế nhiệm sẽ phải giải quyết một cuộc đấu lâu dài, đương đầu với một đất nước đông dân nhất thế giới và một nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. Chính quyền Obama có thể đã không tính hết mọi phí tổn cho đường lối cứng rắn mới thực hiện ở Châu Á. Một điều là thật khó thấy được những khoản cắt giảm đáng kể sắp tới trong chi tiêu quốc phòng sau khi chúng ta đã thách thức Trung Quốc bước vào trận đấu liên quan đến tương lai Châu Á. Có thể hiện giờ không có nhiều sự kiện để củng cố luận điểm của Mỹ một cách hiệu quả trong khi giảm bớt khả năng lôi kéo của Trung Quốc, nhưng không có nhiều vấn đề để tranh luận vào lúc này.

Căn cứ vào thế trận hiện tại, việc [Mỹ] thực hiện triệt để chiến lược đề ra sẽ có tầm quan trọng không kém những bước đầu tiên; giờ là lúc Mỹ phải cố gắng tác động tình hình sao cho thuận lợi để Trung Quốc chấp nhận một thực trạng rằng, ít nhất trong ngắn hạn đến trung hạn, Trung Quốc không thể thay đổi được gì.

Nguồn: The American Interest

Trung Quốc và chính sách đối ngoại dọa dẫm

Jens Kastner

Hoàn Cầu, tờ báo được xuất bản bằng tiếng Anh và tiếng Trung ở Bắc Kinh, đang tạo ra tại thủ đô của Trung Hoa những làn sóng xã luận lời lẽ thô bạo chưa từng có, kêu gọi hành động quân sự chống các nước láng giềng.

Hoàn Cầu thời báo sắm vai phản diện, Đảng vào vai chính diện.

Mặc dù tờ báo được xuất bản dưới sự bảo trợ của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP), nhưng các bài báo của họ đi quá xa, vượt xa cả những luận điệu khó nghe của đảng. Ví dụ, chỉ trong hai tháng vừa qua, họ đã đòi tấn công vào hệ thống vũ khí của Mỹ nếu Đài Loan dám mua vũ khí Mỹ, cũng như đòi đánh Việt Nam và Philippines vì hai nước này đã bảo vệ lợi ích ven biển của mình trên Biển Đông (nguyên văn: biển Hoa Nam), và thậm chí nện luôn cả Hàn Quốc vì tội bắt giữ tàu cá Trung Quốc.

Sau mỗi lời kêu gọi chiến tranh đó, phát ngôn viên bộ ngoại giao Trung Quốc Khương Du lại đưa ra những tuyên bố làm dịu tình hình, tuy nhiên theo các nhà quan sát, những bài báo sặc giọng diều hâu này là một phần trong một chiến dịch được tổ chức bài bản nhằm giúp Bắc Kinh được nhượng bộ nhiều hơn trong các cuộc đàm phán quốc tế.

Bà Khương Du cho biết, Hoàn Cầu được phép theo đuổi đường lối độc lập mà Hồ Tây Tân (Hu Xijin), tổng biên tập của cả Hoàn Cầu tiếng Trung lẫn tiếng Anh, đưa ra. Tuy vậy, một người Mỹ làm việc cho tờ báo từ năm 2009 đến đầu năm nay nói rằng, điều đó thật vớ vẩn.

Cựu nhân viên này nói: “Tất nhiên là Bộ Ngoại giao nói láo. Ban biên tập của Hoàn Cầu không hề được độc lập hơn bất kỳ cơ quan báo chí quốc doanh nào khác ở Trung Quốc. Họ đã và đang chịu sức ép liên tục phải ‘thay đổi vào phút cuối’, xuất phát từ những ý muốn cản trở bất chợt của Bộ Ngoại giao và Bộ Tuyên truyền, cũng như từ những tiếng nói bảo thủ của tờ Nhân Dân Nhật Báo”.

Ông phản đối quan niệm phổ biến rằng chính tổng biên tập họ Hồ là bậc thầy trong việc tung ra các bài báo đe dọa. “Đa số các xã luận chẳng phải do ông Hồ viết như các báo khác thường đưa tin mỗi khi viết về tờ Hoàn Cầu. Ông ấy có viết một số, nhưng nhiều bài chỉ là diễn giải lại từ những diễn văn lòng thòng của Nhân Dân Nhật Báo, của Bộ Ngoại giao hoặc Bộ Truyên truyền mà thôi”.

Mặc dù các nhà kiểm duyệt nội bộ – mà giới phóng viên gọi là “cố vấn biên tập cao cấp” – không tồn tại trong phần công việc của vị cựu nhân viên Hoàn Cầu kia, nhưng nhiệm vụ kiểm duyệt của họ lại được thế chỗ bằng cơ chế tự kiểm duyệt, bắt đầu ngay từ cấp phóng viên. Cựu nhân viên nọ cho biết như vậy.

“Chẳng ai biết đâu là ranh giới, bởi vì không có ranh giới nào được xác định cả. Mọi biên tập viên cao cấp ở Trung Quốc, kể cả ông Hồ và nhiều phóng viên đáng kính khác, đều phải tự kiểm điểm mỗi khi họ vì không biết mà vượt qua lằn ranh”.

Bản tiếng Trung của Hoàn Cầu Thời Báo ra đời năm 1993. Bây giờ tia-ra mỗi ngày của nó là 1.500 triệu bản, tất cả đều mạnh mẽ ủng hộ CCP, cũng như bản tiếng Anh , tia-ra 100.000, bắt đầu lưu hành từ năm 2009.

Giọng điệu diều hâu của Hồ Tây Tân nghe nói được hình thành sau vụ Đại sứ quán Trung Quốc ở Yogoslavia (Nam Tư) bị không quân Mỹ và NATO ném bom. Ông Hồ – từng công tác ở Bosnia và Herzegovina từ năm 1993 tới năm 1996 trên cương vị phóng viên của tờ Nhân Dân Nhật Báo – được cho là có quan điểm coi Trung Quốc như là quốc gia bị thiệt thòi, bị bao vây nhất trong vụ ném bom đại sứ quán đó, và chính quan điểm này của ông đã hình thành nên giọng điệu của Hoàn Cầu ngày nay. Đó quả thật là một thứ giọng điệu thô bạo.

Ngày 17-9, tờ bán chạy một xã luận nhan đề “Đài Loan đang liều mạng khi tìm kiếm sự bảo vệ của Mỹ”, làm cho không chỉ đảo Đài Loan lo ngại. Vài ngày trước khi chính quyền Obama phải ra thông báo về việc bán vũ khí cho Đài Loan, trong đó có thể có cả những chiếc F-16 mới, bài báo kêu gọi lãnh đạo Trung Quốc trừng phạt Đài Loan nếu thỏa thuận mua bán vũ khí được xúc tiến.

Đó rõ ràng là hành động từ bỏ lập trường của đảng đối với Quốc dân đảng Đài Loan (Kuomintang), là lực lượng vốn thân thiết với Bắc Kinh, nắm quyền ở Đài Loan từ năm 2008. Trước đó, Bắc Kinh đã kiềm chế để không công khai chửi mắng Đài Bắc, ngay cả sau khi Đài Bắc đề nghị mua vũ khí của Mỹ.

“Bắc Kinh từng tìm cách trừng phạt Washington sau vụ bán vũ khí cho Đài Loan. Lần này, Bắc Kinh cũng nên đưa cả Đài Loan vào danh sách trừng phạt, bởi vì có nhiều lý do để làm việc đó ở đây” – bài xã luận viết. Xaxluaanj cũng không quên nhắc các nhà lãnh đạo Trung Quốc cần làm gì.

“Vào năm 1994, Thổ Nhĩ Kỳ đã đe dọa cộng đồng Síp Hy Lạp (phần dân số gốc Hy Lạp trên đảo Síp – ND) rằng họ sẽ phá tan bất kỳ tên lửa nào được nhập từ Hy Lạp sang và được lắp đặt tại các khu vực thuộc kiểm soát của cộng đồng này. Lời đe dọa rất có hiệu quả” – bài xã luận viết.

Ngày 29-9, một bài bình luận khác được đăng tải kèm hình ảnh minh họa là ba con mèo đang chuẩn bị chén một con cá trơ trọi trong bát. Với tựa đề “Đã đến lúc dạy cho các nước quanh biển Hoa Nam một bài học”, bài viết mở đầu bằng lời nhắc Việt Nam nhớ rằng, họ đã bị từng bị Trung Quốc nện trên quần đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa) năm 1974 và sau đó trong chiến tranh Trung-Việt năm 1979.

Sau đó tác giả kêu gọi Bắc Kinh tiến hành “những trận đánh quy mô nhỏ” nhằm vào các nước ăn cắp dầu của Trung Quốc trên Biển Đông, đặc biệt là Philippines và Việt Nam. Tác giả kết thúc bài viết bằng một chi tiết máu lạnh – ca ngợi cuộc chiến Nam Ossetia của Nga năm 2008:

“Bước đi mang tính quyết định của Nga đối với các vấn đề trên biển Caspian năm 2008 đã chứng minh rằng, hành động từ các nước lớn hơn có thể gây ra một làn sóng va chạm trong một thời gian ngắn nhưng sẽ mang lại cho khu vực nền hòa bình lâu dài”.

Sau đó đến lượt Seoul nhận được hồi chuông cảnh báo. Ngày 25-10, Hàn Quốc, và lại một lần nữa, Philippines, bị lên báo vì đã bắt tàu cá Trung Quốc. Tốt hơn hết là họ nên “chuẩn bị mà nghe tiếng đại bác” – bài xã luận viết.

Không cần phải nói thêm, những lời lẽ bình phẩm ấy không phải là không gây chú ý. Gần như ngay sau khi bài xã luận mới đây nhất được đăng tải, bà Khương Du đã xuất hiện trước ống kính và tái khẳng định rằng nhà nước của bà cam kết thực thi chính sách hòa bình trên biển.

“Báo chí Trung Quốc có quyền tự do nói điều gì họ muốn, nhưng chúng tôi hy vọng họ đóng vai trò xây dựng và đưa ra những thông điệp đáng tin cậy” – bà nói.

Steve Tsang, giám đốc Viện Chính sách Trung Quốc thuộc Đại học Nottingham, nhất trí rằng rất ít có khả năng tờ Hoàn Cầu đưa ra những quan điểm trái ngược với lập trường của CCP.

“Hoàn Cầu nằm dưới sự định hướng của Nhân Dân Nhật Báo, và do đó dưới sự kiểm soát của CCP” – ông Tsang nói trong một cuộc phỏng vấn. “Nó không phải là tiếng nói độc lập của công dân hay doanh nghiệp, hay một phần của xã hội dân sự, và thường thì nó sẽ không xuất bản bất cứ cái gì đi ngược lại lợi ích hay sự định hướng của Đảng”.

Sau đó, ông giải thích rằng Hoàn Cầu không phải tiếng nói chính thức và có thẩm quyền của Trung ương Đảng; khác với Nhân Dân Nhật Báo, Hoàn Cầu bị Trung ương Đảng từ chối ở một mức độ hợp lý.

“Do vậy, Hoàn Cầu có thể, và thường xuyên, đi xa hơn Nhân Dân Nhật Báo khi đưa ra những tuyên bố đầy tư tưởng dân tộc chủ nghĩa. Những tuyên bố như thế nhằm nêu những gì “nhân dân Trung Hoa” nghĩ và đòi hỏi, mà không cần phải biến chúng thành phát ngôn chính thức của nhà nước”.

Ông nói tiếp: Chính quyền Trung Quốc sử dụng Hoàn Cầu như là công cụ để ngồi vào bàn đàm phán quốc tế, cùng với chiến lược “vai chính diện/ vai phản diện” (nguyên văn: good cop/bad cop, có thể dịch sang tiếng Việt thành “đứa xoa đứa đập” – ND).

“Để cho tờ Hoàn Cầu tung ra những quan điểm dân tộc cứng rắn thì sẽ giúp cho chính quyền nhắc các nước đối thoại với mình trong ngoại giao về áp lực mà họ phải chịu từ trong nước – họ là đại diện cho tiếng nói ôn hòa của Trung Hoa – và từ đó giúp chính quyền đòi các nước phải nhượng bộ thêm cho mình, mà lại không tạo cảm giác hung hăng hiếu chiến gì”.

Tuy nhiên, ông Tsang bảo tờ Hoàn Cầu còn có một vai trò quan trọng khác nữa. Nó đóng vai trò là cái van an toàn để cho các phần tử dân tộc chủ nghĩa cứng rắn sủa, thay vì thúc giục chính quyền cắn.

“Đối với một chế độ toàn trị chỉ trông mong vào chủ nghĩa dân tộc để có được tính hợp danh, và đã chính thức có chính sách ủng hộ một “thế giới hòa hợp”, thì Hoàn Cầu đóng vai trò như một công cụ chính trị có giá trị trong nước”.

Bà Theresa Fallon, nghiên cứu viên cao cấp ở Viện Nghiên cứu Á châu của châu Âu, chỉ ra một ví dụ cụ thể và thực sự rất thú vị cho thấy những lời lẽ đe dọa của Hoàn Cầu gắn liền một cách chặt chẽ như thế nào với chính sách ngoại giao của Trung Quốc.

“Bài xã luận có thể có [...] mục tiêu tức thì là đe dọa các công ty dầu khí phương Tây để họ tránh xa Việt Nam và Philippines, và ngăn chặn họ ký hợp đồng với hai nước này” – tờ Thời báo Đài Bắc trích lời bà Theresa Fallon.

Bà Fallon cũng trích dẫn các điện tín ngoại giao của Hoa Kỳ bị Wikileaks làm rò rỉ, để nói rằng ít nhất từ năm 2006, Trung Quốc đã có âm mưu gây sức ép với các công ty dầu khí như Exxon Mobil, BP, Chevron và Petronas sau khi các công ty đó ký hợp đồng với Hà Nội.

Fallon cho Asia Sentinel biết, vài tuần sau khi Hoàn Cầu có bài xã luận kêu gọi chiến tranh trên Biển Đông, chính quyền Trung Quốc xuất hiện và cảnh báo các công ty dầu khí nước ngoài nên tránh xa.

Tuy nhiên, cho dù đảng có hưởng lợi gì từ “chiến lược Hoàn Cầu” của CCP đi chăng nữa, rõ ràng vẫn có rất nhiều tổn hại bên cạnh lợi ích đó. Mặc dù người ta có thể cho rằng quan hệ xuyên đại dương (tức quan hệ Mỹ-Trung – ND) đang ở giai đoạn tốt nhất trong nhiều thập kỷ qua, nhưng để cho thế giới thấy ý muốn tiến hành những hành động đẫm máu của Trung Quốc chắc chắn vẫn sẽ đưa đến việc các láng giềng của Trung Quốc ngả gần hơn về phía Mỹ, và cũng hình thành nên những liên minh chống Trung Quốc.

“Sự bùng nổ chủ nghĩa dân tộc làm cho chính sách đưa Trung Quốc trỗi dậy hòa bình bị mất tín nhiệm” – Tsang nói. “Nó khiến thế giới suy nghĩ nhiều hơn về những ý đồ thực sự của chính phủ Trung Quốc và về những gì Bắc Kinh sẽ làm một khi họ tưởng họ đã trỗi dậy thành công và đang ở một vị thế có thể ngửa bài trên bàn đàm phán”.

Thủy Trúc dịch từ Asia Sentinel

Trung Quốc sẽ tập trận hải quân ở Thái Bình Dương

* Trung - Nhật đối thoại cấp cao về tranh chấp trên biển

TTO - Trung Quốc ngày 23-11 tuyên bố sẽ tiến hành các cuộc tập trận hải quân ở tây Thái Bình Dương trong tháng này. Tuyên bố được đưa ra một tuần sau khi Mỹ tăng cường sự hiện diện ở châu Á - Thái Bình Dương với những kế hoạch triển khai 2.500 lính thủy đánh bộ tại bắc Úc. 
 

Theo Hãng tin Reuters, một tuyên bố ngắn gọn trên trang chủ của Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết: “Đây là một cuộc tập trận thường niên đã được lên kế hoạch. Cuộc tập trận không nhắm vào một quốc gia hay mục tiêu cụ thể nào và tuân thủ luật pháp, thông lệ quốc tế liên quan”.

Trong khi đó, Hãng tin Nhật Bản Kyodo News dẫn nguồn Bộ Quốc phòng nước này nói sáu tàu chiến Trung Quốc đã đi qua Thái Bình Dương ở vùng biển giữa các đảo lớn thuộc quần đảo Okinawa ở phía nam Nhật Bản vào ngày 22-11.

Bộ Quốc phòng Nhật Bản đang theo dõi chặt chẽ hoạt động của sáu tàu chiến Trung Quốc. Tối 22-11, đoàn tàu này đã đi qua vùng lãnh hải quốc tế giữa đảo chính Okinawa và đảo Miyako của Nhật Bản. Đài truyền hình quốc gia Nhật Bản NHK nói máy bay tuần tra của Nhật phát hiện các tàu này đã di chuyển ở khu vực chỉ cách đảo Miyako khoảng 100 km về phía đông bắc. Trong số sáu tàu, có cả một tàu khu trục được trang bị tên lửa hành trình.

Tại Mỹ, đại úy John Kirby, một người phát ngôn của Lầu Năm Góc, nói với Reuters rằng Trung Quốc, “giống như tất cả các quốc gia có chủ quyền, có quyền thực hiện các hoạt động quân sự theo cách mà họ thấy phù hợp”. “Chúng tôi từ lâu đã làm rõ chúng tôi ủng hộ và sẽ tiếp tục ủng hộ tự do hàng hải trên các vùng biển quốc tế”, ông Kirby nói.

Gần đây Trung Quốc đã đóng mới nhiều tàu ngầm, tàu chiến mặt nước và các tên lửa đạn đạo đối hạm trong chương trình hiện đại hóa hải quân. Hồi tháng 8, Bắc Kinh cũng đã cho hạ thủy thử nghiệm tàu sân bay đầu tiên.

* Tại Bắc Kinh ngày 24-11, Bộ trưởng ngoại giao Nhật Bản Koichiro Genba đã có cuộc hội đàm với Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo nhằm xây dựng thỏa thuận về “một cơ chế quản lý khủng hoảng” để tránh xảy ra những tranh chấp tiềm tàng tại vùng biển Đông Trung Hoa.

Hãng tin Nhật Bản Kyodo News cho biết trong cuộc đối thoại, ông Genba đã kêu gọi nối lại đối thoại song phương về việc ký hiệp ước về một dự án cùng khai thác khí đốt ở biển Đông Trung Hoa.

Kể từ vụ đụng độ giữa tàu cá Trung Quốc và lực lượng tuần tra bờ biển Nhật Bản năm ngoái, quan hệ giữa hai nước đã xấu đi và cả Bắc Kinh lẫn Tokyo đang muốn nối lại đối thoại thường xuyên và xây dựng lại lòng tin, theo Kyodo News. Các cuộc đối thoại sẽ có mặt các bộ trưởng ngoại giao, lực lượng bảo vệ bờ biển hai phía và các cơ quan liên quan.

HẢI MINH

'Việt Nam đòi chủ quyền Hoàng Sa bằng hòa bình'

Tại Quốc hội sáng nay, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định, Việt Nam phải giải quyết và khẳng định chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa - đã bị Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm năm 1974.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trả lời chất vấn sáng nay. Ảnh: Hoàng Hà

Trả lời chất vấn của một số đại biểu Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dành hơn 10 phút đề đề cập đến vấn đề biển Đông.

"Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta làm chủ thực sự, ít nhất từ thế kỷ 17 khi hai quần đảo này chưa thuộc bất kỳ quốc gia nào. Chúng ta đã làm chủ trên thực tế và liên tục hòa bình", Thủ tướng khẳng định.

Theo Thủ tướng, năm 1974 Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa (lúc đó trong sự quản lý của chính quyền Sài Gòn). Chính quyền Việt Nam Cộng hòa lúc đó phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hợp Quốc can thiệp. Chính phủ lâm thời cách mạng miền Nam Việt Nam lúc đó cũng ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này.

"Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có đủ căn cứ và lịch sử pháp lý để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết, đòi hỏi chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Chủ trương này phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc, phù hợp với Công ước Luật biển", Thủ tướng nói.

Đối với quần đảo Trường Sa, theo Thủ tướng, năm 1975 hải quân Việt Nam đã tiếp quản 5 đảo do quân đội của chính quyền Sài Gòn đang quản lý. Sau đó, với chủ quyền của Việt Nam, chúng ta tiếp tục mở rộng thêm lên 21 đảo với 33 điểm đóng quân. Ngoài ra, Việt Nam còn xây dựng 15 nhà giàn để khẳng định chủ quyền của chúng ta ở vùng biển này - vùng biển trong phạm vi 200 hải lý thuộc thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta.

"Như vậy, trên quần đảo Trường Sa, Việt Nam là quốc gia có số đảo đang đóng giữ nhiều nhất... Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất có cư dân đang làm ăn sinh sống trên một số đảo, trong đó có 6 khẩu đã sinh ra và lớn lên trên các đảo này", Thủ tướng nói.

Theo Thủ tướng, Việt Nam chủ trương nghiêm túc thực hiện công ước Luật biển, công ước ứng xử của các bên liên quan ở biển Đông (DOC) và các nguyên tắc thỏa thuận mới đây đã ký với Trung Quốc. Việt Nam yêu cầu các bên giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm để gây ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định khu vực này. Việt Nam cũng tiếp tục đầu tư nâng cấp hạ tầng kinh tế xã hội và cơ sở vật chất kỹ thuật ở những nơi đang đóng giữ, để cải thiện đời sống và tăng cường khả năng tự vệ đối của quân dân trên đảo Trường Sa.

Đối với hàng hải ở biển Đông, Việt Nam đã nghiêm túc thực hiện và yêu cầu các bên liên quan nghiêm túc thực hiện theo đúng Công ước Luật biển năm 1982 và tuyên bố DOC là phải bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, trật tự, tự do hàng hải ở biển Đông. Lập trường này của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ủng hộ, gần đây nhất là tại hội nghị cấp cao ASEAN và cấp cao ASEAN với các đối tác.
Ngày 24/11, Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng tuyên bố việc Trung Quốc cho phép khai thác du lịch ở quần đảo Hoàng Sa là vi phạm chủ quyền của Việt Nam. Tuyên bố này được đưa ra sau khi có tin ngày 22/11, tỉnh Hải Nam của Trung Quốc đã cấp phép cho một công ty du lịch đưa khách đi tham qua từ đảo Hải Nam tới quần đảo Hoàng Sa.
Tiến Dũng - Nguyễn Hưng

Nguồn: VnExpress.net

Trung Quốc vi phạm chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa

Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm nay tuyên bố việc Trung Quốc cho phép khai thác du lịch ở quần đảo Hoàng Sa là vi phạm chủ quyền của Việt Nam.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị.

Tuyên bố này được đưa ra sau khi có tin ngày 22/11, tỉnh Hải Nam của Trung Quốc đã cấp phép cho một công ty du lịch đưa khách đi tham qua từ đảo Hải Nam tới quần đảo Hoàng Sa. Người phát ngôn ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị khẳng định việc làm trên của Trung Quốc vi phạm chủ quyền của Việt Nam.

"Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa", ông Lương Thanh Nghị nói trong cuộc họp báo thường kỳ hôm nay.

"Mọi hoạt động của nước ngoài tại khu vực này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và trái với tinh thần DOC", ông Nghị đề cập Tuyên bố chung về quy tắc ứng xử trên Biển Đông mà Trung Quốc ký với ASEAN.

Người phát ngôn ngoại giao Việt Nam cũng nhắc lại rằng hòa bình, ổn định, an ninh và tự do hàng hải ở Biển Đông là lợi ích chung trong khu vực và tất cả các nước trên thế giới.

"Các bên liên quan cần giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982)", ông Nghị nói. "Việt Nam hoan nghênh việc ASEAN và Trung Quốc nhất trí thực hiện đầy đủ Tuyên bố về Cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, và hướng tới xây dựng một bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC)".

Cũng trong buổi họp báo hôm nay, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Mỹ triển khai quân đội ở Australia. "Chúng tôi mong rằng việc hợp tác giữa các quốc gia sẽ có đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào các nỗ lực chung nhằm duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực và trên thế giới", ông Nghị cho hay.

Trong chuyến công du châu Á vừa rồi, Tổng thống Mỹ Barack Obama tuyên bố sẽ triển khai tổng cộng 2.500 thủy quân lục chiến tới miền bắc Australia.

Phan Lê
Nguồn: VnExpress.net

22/11/11

Tọa đàm: Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (1847 – 1885)

Trường Đại Học Hoa Sen và Công ty Văn hóa - Truyền thông Nhã Nam phối hợp tổ chức tổ chức buổi tọa đàm về tác phẩm NƯỚC ĐẠI NAM ĐỐI DIỆN VỚI PHÁP VÀ TRUNG HOA, 1847 – 1885 của YOSHIHARU TSUBOI (Nhà xuất bản Tri Thức – Nhã Nam, 2011).


Vài nét về tác giả:

YOSHIHARU TSUBOI sinh năm 1948, nguyên là giảng viên Luật khoa tại Đại học Tokyo. Ông bắt đầu nghiên cứu về Việt Nam từ năm 1973, cuốn Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa được trích từ luận án tiến sĩ đệ tam cấp bảo vệ năm 1982 tại Đại học Paris. Hiện ông là Giáo sư Lịch sử chính trị và xã hội Đông Nam Á, Đại học Waseda, Tokyo.

Trích lời Bạt của Nhà văn Nguyên Ngọc:

“Cuốn sách này, xuất phát từ một luận án tiến sĩ của Yoshiharu Tsuboi bảo vệ tại Đại học Paris năm 1982, được dịch ra tiếng Việt lần đầu năm 1990, tái bản ở Việt Nam đến nay là lần thứ tư. Ở nước ta trường hợp tái bản khá dày của một cuốn sách nghiên cứu lịch sử như vậy không phải là nhiều. Cho nên tự nhiên có một câu hỏi: Tại sao? Chắc có nhiều cách trả lời.

Cách chọn thời điểm để nghiên cứu về lịch sử cận đại Việt Nam của tác giả hẳn là một trong những lý do. Đấy là thời điểm có thể nói nghiêm trọng nhất trong số phận tồn vong của các dân tộc phương Đông khi phải đối mặt với một thế giới trước đó hoàn toàn xa lạ: phương Tây của chủ nghĩa tư bản đang lên. Đúng ra, không chỉ “chủ nghĩa tư bản”; còn là một nền văn minh, một nền văn hóa, thậm chí một thời đại hoàn toàn khác lạ. Trong cuộc giáp mặt quyết liệt ấy, chỉ duy nhất có Nhật Bản thành công, trong khi tất cả các dân tộc khác, theo nhiều kiểu khác nhau, đều thất bại, tất cả đều ê chề, và hậu quả của thất bại ấy cũng theo kiểu này kiểu khác vẫn còn dấu vết trong các xã hội đó cho đến tận bây giờ. Vì vậy việc người ta muốn chăm chú lắng nghe tiếng nói của một người Nhật là đương nhiên. Đấy là người có đủ tư cách, có chỗ đứng cao và xứng đáng hơn cả để có thể, qua so sánh toàn thể và cụ thể, tức tại thời điểm lúc bấy giờ và cả từ quá khứ sâu thẳm lâu dài, nhìn thấy nguồn gốc của tai họa mà các dân tộc khác đã không thể tránh được. Riêng đối với Việt Nam, tôi nghĩ, câu hỏi này vẫn còn đau đáu, thậm chí có thể còn rất thời sự.

Bởi hình như có một, hay một số điều gì đó trong những nguyên nhân nguồn gốc kia mà cho đến nay ta vẫn còn lướng vướng chưa vượt qua được hẳn. Ta muốn lắng nghe Tshuboï, để mà nghĩ lại, nghĩ lại nữa, và tiếp tục suy ngẫm tới, cả cho hôm nay, và ngày mai.

Và Tshuboi đã không phụ lòng người đọc. Khác với tất cả các tác giả trước đó, và cả sau này nữa, như chính ông nói, ông không nhìn Việt Nam “với tính chất một thực thể chính trị mà là một bản thể xã hội”. Nói một cách hình ảnh, ông cố tìm hiểu cái đất nước và xã hội này đến trong nội tạng sâu xa và cơ bản nhất của nó, ông tìm đến cái “tạng” của nó, từ bên trong, cái bên trong ấy với tất cả cấu tạo cơ bản và lịch sử lâu dài của nó, tất yếu phải phản ứng lại với các thách thức đến từ bên ngoài nhất thiết theo cách như thế, chứ nhất thiết không thể khác; và kết quả, hậu quả như đã diễn ra cũng nhất thiết đương nhiên là thế, như “định mệnh”.

Và Tshuboi đã thành công tuyệt vời trong công việc giải phẫu và mô tả cơ bản này. Đọc cuốn sách này thậm chí nhiều lúc có thể nghĩ không biết mình đang đọc một thiên lịch sử, một công trình nghiên cứu khoa học, hay một cuốn tiểu thuyết? Sự chính xác lịch sử là mẫu mực. Phân tích khoa học chặt chẽ, tinh vi, tinh tế, đầy thuyết phục. Mà cũng lại sinh động, chân thực biết bao, cụ thể, chân thực biết bao những chân dung con người, như những nhân vật tiểu thuyết, vừa là những sản phẩm tất yếu của thời đại mình, xã hội mình, vừa là những tính cách cá biệt, rõ rệt, sừng sững, mạnh mẽ, với số phận riêng, khát khao, ước vọng, và tham vọng riêng. Cả đến nhân vật đứng đầu trong những nhân vật anh hùng và bi đát ấy, Tự Đức, người tù vùng vẫy tuyệt vọng với số phận riêng đã bi đát lắm của mình, lại phải vùng vẫy càng tuyệt vọng với số phận bi đát nghìn lần hơn của xã hội mình. Có lần, tôi đã có dịp tìm hiểu về thái độ của triều đình Huế trước cuộc tấn công của quân Pháp vào Đà Nẵng hồi 1858. Tôi ngạc nhiên nhận ra rằng thái độ ấy, đặc biệt của Tự Đức, không hề là một thái độ bạc nhược, hèn yếu như trước đó – và cả cho đến nay – ta vẫn thường nghĩ. Trái lại, rất cương quyết. Mỗi trận thua, mỗi vị trí bị mất, mỗi tổn thất không đáng có, mỗi hành động trù trừ, giao động, cho đến đại tướng anh hùng như Lê Đình Dương, cả đến vị tướng tài năng nhất và sáng suốt nhất thời bấy giờ là Nguyễn Tri Phương, và tất cả các cấp tướng sĩ đều nhất loạt bị trừng trị nặng nề, thay thế, bổ sung kịp thời. Tiếp tế, hậu cần, cùng tất cả các chính sách và các biện pháp hộ trỡ cho tiền tuyến đều hết sức năng nổ. Cuộc chiến đấu thật sự anh hùng và sự chỉ đạo, chỉ huy của triểu đình hết sức tích cực …Vậy mà vẫn thất bại và thất bại tất yếu là ở trong cái mà Tshuboi gọi rất chính xác là “bản thể” của cái xã hội ấy. Hẳn không phải ngẫu nhiên mà tác giả viết công trình nghiên cứu này của mình gần như dưới dạng một tiểu thuyết. Chỉ một cách viết như vậy mới bộc lộ được hết cái căn bệnh thâm căn và chí tử của xã hội và đất nước đã triệt tiêu hết mọi sức đề kháng của nó, dẫn nó đến cái chết bi tráng không thể khác. Có lẽ phải chờ cho đến một đầu óc sáng chói như Phan Châu Trinh mới là người đầu tiên thấy ra và gọi đúng tên căn bệnh ấy. Hoàng Xuân Hãn nói rằng Phan Châu Trinh là người đầu tiên đi tìm và đã tìm ra nguyên nhân mất nước thê thảm không phải ở đâu khác mà là “trong văn hóa”. Nghĩa là, nói cách khác, trong cái ý thức hệ cầm tù xã hội, trói chặt hết mọi năng lượng của nó, đánh gục nó không phương cứu chữa. Cái ý thức hệ đã khiến xã hội Việt Nam lạc hậu hơn đối thủ của mình cả một thời đại. Những người đã đổ gục xuống lúc bấy giờ là những người anh hùng đã lạc thời đại. Phan Châu Trinh thống thiết kêu gọi Khai dân trí, Chấn dân khí, để rồi Hậu dân sinh. Ông kêu gọi một cuộc vượt thoát ý thức hệ, một cuộc chấn hưng dân tộc, một cuộc cách mạng văn hóa theo nghĩa sâu nhất và đúng nhất của nó.

Tôi có may mắn được là bạn thân của giáo sư Yoshiharu Tshuboi từ hơn vài chục năm nay. Những cuộc đàm đạo của chúng tôi mỗi dịp gặp gỡ hầu như bao giờ cũng là những trầm tư về lịch sử. Lịch sử các dân tộc chúng ta trong các cuộc “toàn cầu hóa”. Bởi vì, sống bao giờ cũng có nghĩa là “sống cùng”. Sống, theo một cách nào đó, là liên tục “toàn cầu hóa” ngày càng rộng, càng sâu cùng với nhân quần ngày càng đông, rộng.

Lịch sử không lặp lại. Nhưng những tương tự lịch sử thì có. Cuộc giáp mặt ba thế kỷ trước của đất nước với thách thức ghê gớm đến từ phương Tây, nói theo cách ngày nay, là một cuộc toàn cầu hóa.

Ba trăm năm sau một cuộc toàn cầu hóa khác, mới, đang đến với chúng ta. Rộng lớn hơn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn. Đương nhiên cơ hội rất nhiều hơn, mà thách thức cũng rất lớn hơn.

Phải chăng chính vì thế mà bài học lớn của cha ông ba trăm năm trước, mà Tshuboi, vị giáo sư uyên bác, nhà khoa học tài năng, người bạn thân thiết đã đi cùng chúng ta suốt gần nửa thế kỷ qua, nhắc lại cho chúng ta một cách thật đặc sắc, sinh động hôm nay, lần nữa càng có ý nghĩa thời sự nóng bỏng và sâu sắc.”
 

Miến Điện sẽ giữ ghế chủ tịch Asean

Lãnh đạo Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Asean) đã nhất trí để Miến Điện có thể nắm chức chủ tịch khối vào năm 2014, trong bối cảnh có một số dấu hiệu cải cách trong nước này.

Quyết định được sự đồng thuận của tất cả các thành viên

Thông báo được đưa ra tại hội nghị thượng đỉnh của Asean ở Bali, Indonesia.

Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia Marty Natalegawa nói với BBC quyết định được sự nhất trí của toàn bộ các thành viên.

Ông cho biết các nước thành viên tin rằng Miến Điện đã đạt được tiến bộ đáng kể trên con đường dân chủ.

Quyền giữ ghế chủ tịch Asean được luân phiên hàng năm, nhưng Miến Điện không được phép nắm ghế này lần trước do thực trạng nhân quyền.

Một số nhà chỉ trích nói rằng vẫn còn quá sớm để trao vai trò quan trọng này cho Miến Điện, nơi từ có từ 600 đến 1.000 tù nhân chính trị được cho là vẫn còn bị gian cầm.
"Một số tù nhân chính trị đã được trả tự do. Chính phủ đã bắt đầu đối thoại. Tuy nhiên, những vi phạm nhân quyền vẫn còn tồn tại."

Barack Obama, Tổng thống Hoa Kỳ
Tuy nhiên, ông Natalegawa cho biết nhận ra được rằng tình hình đã thay đổi là điều quan trọng.

"Không phải lúc nào cúc nói về quá khứ, mà phải nói về tương lai, đo là những gì các nhà lãnh đạo đang làm vào lúc này", ông nói.

"Chúng tôi đang cố gắng để đảm bảo quá trình thay đổi sẽ tiếp tục."

Ko Ko Hlaing, trưởng cố vấn chính trị cho Tổng thống Miến Điện, cho biết Asean đã chào đón Miến Điện như một quốc gia lãnh đạo có trách nhiệm.

"Quý vị yên tâm rằng chúng tôi đang tiến tới một xã hội dân chủ và chúng tôi sẽ làm tất cả trách nhiệm và nghĩa vụ trên phương diện một chính phủ có trách nhiệm, phản ánh mong muốn của người Miến Điện" ông nói.

Tuy nhiên, Tổng thống Mỹ Barack Obama, nói trước khi quyết định được công bố, cho biết Miến Điện cần làm nhiều hơn nữa.

"Một số tù nhân chính trị đã được trả tự do. Chính phủ đã bắt đầu đối thoại. Tuy nhiên, những vi phạm nhân quyền vẫn còn tồn tại," ông nói trong một bài phát biểu trước quốc hội Úc.

"Vì vậy, chúng ta sẽ tiếp tục nói một cách rõ ràng về các bước chính phủ Miến Điện phải được thực hiện để có mối quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ." 
 

Trung Quốc phản đối Mỹ gây áp lực về vấn đề Biển Đông

Dư âm từ Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á ở Bali (Indonesia) tuần qua cho thấy Tổng thống Mỹ Barrack Obama đã thành công trong việc đưa vấn đề tranh chấp ở Biển Đông lên bàn nghị sự dù vấp phải sự phản đối kịch liệt từ phía Trung Quốc.

Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo hội đàm với Tổng thống Mỹ Barrack Obama tại Bali. (AFP).


Mỹ áp lực, Trung Quốc phản ứng


Chuyến đi ngoại giao kéo dài chín ngày vừa qua của ông Obama tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngoài việc chứng tỏ Mỹ tăng cường vai trò tại khu vực này còn là để yêu cầu Trung Quốc ‘phải có trách nhiệm’ hơn, ‘phải hành xử theo luật’ trên trường quốc tế.

Trong cuộc hội đàm riêng với Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tại Bali, Tổng thống Mỹ Barrack Obama đã nói với nhà lãnh đạo Trung Quốc rằng Mỹ mong muốn những tranh chấp ở khu vực Biển Đông cần được giải quyết trong hòa bình, mở rộng giao thương hàng hải.

Mỹ cũng chỉ trích công khai việc Trung Quốc giữ giá đồng nhân dân tệ nhằm tạo thuận lợi cho việc xuất khẩu nước này song gây thiệt hại cho nền sản xuất của Mỹ.

Tuy nhiên, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã bảo vệ lập trường về chính sách tiền tệ của Bắc Kinh. Ông cho rằng chính phủ Trung Quốc đã tăng cường ‘sự linh hoạt’ của đồng nhân dân tệ.

Về những áp lực của Mỹ trong vấn để Biển Đông, phía Trung Quốc đã phản ứng rất mạnh mẽ. Thủ tướng họ Ôn lập lại rằng những tranh chấp ở vùng biển giàu tài nguyên này phải được ‘giải quyết trực tiếp’ giữa các nước có liên quan thông qua đàm phán hữu nghị. Điều này ám chỉ Mỹ nên đứng ngoài cuộc tranh chấp.

Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á “không phải là dịp thích hợp” để ông Obama thảo luận vấn đề Biển Đông với 17 nhà lãnh đạo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và sẽ “phản tác dụng”.

“Biển Hoa Nam (Biển Đông) là ngả giao thương hàng hải quan trọng với Trung Quốc, các nước lân cận và cả thế giới. Trung Quốc đã có những đóng góp tích cực để bảo vệ an ninh hàng hải khu vực này”, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nói.

Tân Hoa Xã cũng nêu chính kiến rằng “bất kỳ tác động bên ngoài nào nhằm quốc tế hóa vấn đề tranh chấp Biển Hoa Nam cũng chỉ làm phức tạp thêm tình hình, phá hoại hoà bình và ổn định ở khu vực”.

Tuy nhiên, phía Mỹ cho rằng việc thảo luận an ninh hàng hải ở khu vực Biển Đông là điều cần thiết. Một quan chức chính quyền Mỹ đề nghị không nêu tên cho Hãng tin Reuters biết vấn đề trên đã được thảo luận ‘mạnh mẽ’ tại Hội nghị Đông Á.

Lâu nay Trung Quốc luôn luôn giữ lập trường là đối thoại song phương với từng quốc gia tranh chấp để giải quyết vấn đề Biển Đông trong khi một số nước Đông Nam Á, Nhật Bản và Mỹ muốn vấn đề này được thảo luận đa phương.

Mỹ ‘bao vây’ Trung Quốc?

Có vẻ như Mỹ và các đồng minh đang ‘bao vây’ tứ bề Trung Quốc qua sự thúc đẩy ngoại giao mạnh mẽ của Mỹ tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, việc xác nhận cho thủy quân lục chiến đồn trú tại Australia mới đây hay tăng cường hợp tác với Ấn Độ trước đó.

Ngay cả việc ông Obama sẽ gửi Ngoại trưởng Hillary sang thăm chính thức Miến Điện trong tháng 12 tới cũng bổ sung thêm những lo ngại từ phía Bắc Kinh rằng Trung Quốc đang ‘bị bao vây’.

Tom Donilon, cố vấn an ninh quốc gia hàng đầu của Tổng thống Obama, cho hay Mỹ "đã cho Trung Quốc biết trực tiếp và rõ ràng chính sách của mình tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương". Đó là việc Washington muốn đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ hòa bình, an ninh khu vực theo mong muốn của các đồng minh và đối tác.

Việc Mỹ quan tâm đến Biển Đông “mang tính nguyên tắc vì Mỹ quan tâm đến tự do hàng hải, tự do thương mại”, cố vấn an ninh Donilon nói.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng trấn an rằng “Đây không phải là việc chống lại quyền lực của ai đó mà chỉ là xác định vị thế (của Mỹ) tại khu vực Thái Bình Dương”.

Tổng thống Obama thừa nhận sự ‘khó chịu’ của Trung Quốc khi chứng kiến những động thái của Mỹ và ông cam kết sẽ tìm kiếm sự hợp tác nhiều hơn với Bắc Kinh.

Đối lại, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Liu Zhenmin trả lời phỏng vấn báo chí tại Bali rằng: “Mỹ vốn có vai trò quan trọng tại Châu Á kể từ sau Chiến tranh Thế giới lần hai. Chúng tôi trông đợi sự hợp tác với họ tại khu vực”.

Nhật Bản đóng góp vai trò

Trong một diễn biến khác, Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á 2011 cũng chứng kiến sự tham gia của Nhật Bản trong quá trình thảo luận về an ninh hàng hải tại Biển Đông.

Nhật Bản đã được Mỹ và các nước ASEAN hoan nghênh trong việc góp phần giải quyết các tranh chấp tại khu vực này dựa trên luật pháp quốc tế, cụ thể là lấy Công ước Luật Biển Liên Hiệp Quốc 1982 làm cơ sở.

Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiku Noda khẳng định lập trường: “Các vấn đề trên biển sẽ được giải quyết thông qua hợp tác và đối thoại”.

Tin cho hay tại Bali, các nhà lãnh đạo Việt Nam và Philippines đã hoan nghênh lập trường trên của Nhật Bản.

Nhật Bản đề xuất các nước tham dự Hội nghị Đông Á lập một diễn đàn để các nhà lãnh đạo và các chuyên gia bàn luận về hàng hải trong tương lai.

Lâu nay Nhật Bản và Trung Quốc vẫn tranh chấp chủ quyền ở quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là đảo Điếu Ngư).

Thỉnh thoảng tàu đánh cá Trung Quốc vẫn va chạm với tàu tuần duyên của Nhật Bản tại vùng biển gần Senkaku gây ra những căng thẳng ngoại giao giữa hai nước. 
 
Nguon: Reuters/Kyodo
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...