Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trungquốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trungquốc. Hiển thị tất cả bài đăng

19/6/13

Biển Đông vẫn phức tạp và tiềm ẩn rủi ro

(Dân trí) - Phát biểu khai mạc Hội thảo ASEAN-Trung Quốc vào sáng nay 19/6, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Quang Vinh đánh giá Biển Đông vẫn phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro đồng thời nhấn mạnh thực hiện đầy đủ DOC, hướng tới COC là biện pháp xây dựng lòng tin trên Biển Đông.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh. (Nguồn: TTXVN)

Sáng nay 19/6/2013, tại khách sạn Melia Hà Nội đã khai mạc Hội thảo ASEAN – Trung Quốc, với chủ đề ''Tăng cường hợp tác ASEAN-Trung Quốc trong tìm kiếm và cứu hộ đối với người và tàu thuyền đi biển gặp nạn tại Biển Đông'' do Học viện Ngoại giao tổ chức.

Hội thảo là một biện pháp trong Kế hoạch hành động triển khai Quy tắc hướng dẫn thực thi Tuyên bố ứng xử các bên tại Biển Đông (DOC), do các quan chức cao cấp ASEAN và Trung Quốc thông qua tại cuộc họp tháng 1/2012 tại Bắc Kinh. Mục đích của Hội thảo nhằm tìm kiếm các giải pháp thúc đẩy hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc trong việc tìm kiếm và cứu hộ đối với người và tàu thuyền gặp nạn ở Biển Đông, góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định và trật tự ở Biển Đông, qua đó xây dựng lòng tin giữa ASEAN và Trung Quốc trong bối cảnh các tranh chủ quyền và quyền chủ quyền ở Biển Đông chưa được giải quyết triệt để.

Tham dự hội thảo có gần 40 đại biểu là các quan chức và chuyên gia từ các nước ASEAN, Trung Quốc và các cơ quan chức năng trong những lĩnh vực có liên quan đến tìm kiếm cứu hộ trên biển của Việt Nam.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Quang Vinh nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của DOC đối với việc duy trì, hòa bình ổn định chung ở Biển Đông. Ông cho rằng ASEAN và Trung Quốc đã vượt qua một chặng đường dài, với không ít khó khăn, thách thức để đạt được Tuyên bố DOC năm 2002 và gần đây là Tuyên bố kỷ niêm 10 năm DOC (2012). ASEAN cũng đã thông qua Tuyên bố nguyên tắc 6 điểm về Biển Đông (7/2012) và các nước đề đang trong đợi hai bên sớm chinh thức khởi động đàm phán để đạt được Bộ Quy tắc ứng xử COC. Tuyên bố DOC, do vậy, là văn kiện mang tính dấu mốc giữa ASEAN và Trung Quốc, thể hiện cam kết chung đối với việc tôn trọng luật pháp quốc tế, Công ước LHQ về Luật biển, các nguyên tắc về thực hiện kiềm chế, không làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết hòa bình các tranh chấp. Đây là những quy tắc rất thiết yếu được quy định trọng Tuyên bố DOC, song hành với các biện pháp về xây dựng lòng tin.

Thứ trưởng Phạm Quang Vinh nhấn mạnh, thực hiện đầy đủ DOC và cùng nhau sớm hướng tới COC, nhằm bảo đảm hòa bình, an ninh an toàn và tự do hàng hải chính là biện pháp xây dựng lòng tin theo đúng tinh thần và lời văn của Tuyên bố DOC. Đánh giá về Biển Đông, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh cho rằng khu vực vẫn phức tạp và tiềm ẩn những rủi ro. Trong khi đó, cũng không ít các nguyên nhân, cả thiên nhiên, thời tiết, cho đến tự bản thân con người, như bệnh tật hay hỏng hóc tàu thuyền, có thể dẫn đến việc người và tàu thuyền đi biển gặp nạn. Đối tượng gặp nạn là người đi biển, là những người dân thông thường hay các ngư dân.

Thứ trưởng Phạm Quang Vinh cũng nhấn mạnh, vì mục đích nhân đạo, ASEAN và Trung Quốc cần cùng nhau bàn để có chính sách hợp tác và các biện pháp phối hợp tìm kiếm, cứu hộ cần thiết và phù hợp có ý nghĩa cả về mặt nhân đạo và xây dựng lòng tin. Trong khu vực đã có không ít các kinh nghiệm quý về hợp tác song phương hay nhiều bên về lĩnh vực này.

Là quốc gia ven biển, với mong muốn và thiện chí thúc đẩy xây dựng lòng tin và hợp tác khu vực vì hòa bình, ổn định chung ở Biển Đông, Việt Nam đã rất chú trọng thúc đẩy hợp tác khu vực về tìm kiếm và cứu hộ người và tàu thuyền gặp nạn trên biển. Trong năm Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2010, Việt Nam đã đề xuất sáng kiến trong lĩnh vực này, và đã được các nước ASEAN hoan nghênh ủng hộ với việc các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đã nhất trí thông qua Tuyên bố ASEAN về Hợp tác Tìm kiếm và Cứu nạn người và tàu thuyền trên biển.

Hội Thảo lần này là việc tiếp tục triển khai ý tưởng trên của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác ASEAN-Trung Quốc, sẽ tập trung thảo luận 3 vấn đề: (1) thực trạng và sự cần thiết xây dựng các biện pháp chung trong hỗ trợ người và tàu thuyền gặp nạn tại Biển Đông; (2) các nhân tố tác động đến việc phối hợp hỗ trợ nhân đạo trong khu vực; (3) các khuyến nghị cụ thể về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tìm kiếm cứu hộ đối với người và tàu thuyền gặp nạn tại Biển Đông. Hội thảo sẽ kết thúc vào ngày mai 20/6/2013. Kết quả hội thảo sẽ được báo cáo lên các Quan chức Cấp cao ASEAN và Trung Quốc xem xét.

PV

Giấc mơ Trung Hoa và mục tiêu Việt Nam

(Trả lời báo chí Trung Quốc trước chuyến thăm cấp Nhà nước Trung Quốc từ ngày 19 đến 21/6, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trông đợi sẽ cùng lãnh đạo Trung Quốc trao đổi thẳng thắn, chân thành về vấn đề trên biển, góp phần để quan hệ 2 nước phát triển lành mạnh, ổn định.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trông đợi cùng lãnh đạo Trung Quốc trao đổi thẳng thắn, chân thành về vấn đề trên biển

Trả lời phỏng vấn của các hãng báo chí Trung Quốc thường trú tại Hà Nội về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và triển vọng của quan hệ hai nước trong tương lai, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định: Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng gần gũi, nhân dân hai nước có truyền thống hữu nghị lâu đời.

Trong những năm qua, với nỗ lực chung của cả hai bên, quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung không ngừng được củng cố và phát triển, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển và đi lên của mỗi nước. Giao lưu chính trị không ngừng được thúc đẩy, các chuyến thăm, gặp gỡ và trao đổi giữa lãnh đạo hai nước diễn ra thường xuyên. Hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch... có nhiều bước phát triển mới. Hợp tác giữa các bộ, ngành, giao lưu giữa các địa phương, đoàn thể quần chúng và trong các lĩnh vực văn hoá, thể thao, nghệ thuật, giáo dục-đào tạo… ngày càng phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

Hiện nay, công cuộc xây dựng và phát triển của Việt Nam và Trung Quốc đều đang đứng trước những thời cơ mới cũng như đang gặp phải những thách thức mới. Hơn bao giờ hết, cả hai nước đều cần môi trường quốc tế và khu vực hòa bình, ổn định để tập trung phát triển đất nước. 
 
4 việc cần nỗ lực

Để tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước đi vào chiều sâu, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho rằng hai nước cần cùng nhau nỗ lực làm tốt 4 việc.

Một là, tăng cường tin cậy chính trị, trong đó quan trọng nhất cần duy trì và đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao, cũng như giữa các bộ - ngành, địa phương hai nước. Lãnh đạo cấp cao hai nước cần thường xuyên đi thăm nhau, gặp gỡ, trao đổi với nhiều hình thức linh hoạt, phong phú để kịp thời định hướng về những phương hướng lớn thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước.

Hai là, củng cố và mở rộng cơ sở hợp tác cùng có lợi giữa hai bên trên mọi lĩnh vực, nhất là về kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo, du lịch... Hai bên cần tăng cường điều phối chiến lược về phát triển kinh tế, đẩy mạnh hợp tác cùng có lợi trên tất cả các lĩnh vực.

Ba là, không ngừng kế thừa và phát huy tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước, làm phong phú thêm nội dung giao lưu hợp tác hữu nghị giữa các tầng lớp nhân dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ, tăng cường tuyên truyền về công cuộc phát triển mỗi nước cũng như tình hữu nghị Việt-Trung.

Bốn là, xuất phát từ quan hệ láng giềng hữu nghị Việt-Trung, trên cơ sở nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước và luật pháp quốc tế, kiên trì thông qua các biện pháp hòa bình, hiệp thương hữu nghị, xử lý thỏa đáng mọi bất đồng và những vấn đề nảy sinh trong quan hệ hai nước, duy trì cục diện ổn định của quan hệ hai nước.

Có thể thấy, hai nước có nhiều tiềm năng, thế mạnh để tăng cường hơn nữa hợp tác trong tương lai - Chủ tịch nước khẳng định.

Thúc đẩy thương mại song phương

Hiện nay, hợp tác hai nước trong lĩnh vực kinh tế-thương mại không ngừng phát triển với kim ngạch song phương đạt trên 40 tỉ USD và mục tiêu tới năm 2015 đạt mức 60 tỉ USD. Trả lời câu hỏi về tiềm năng hợp tác kinh tế-thương mại giữa hai nước, những vấn đề tồn tại và những biện pháp nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế-thương mại nâng lên tầm cao mới, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói:

Hai nước đều coi hợp tác kinh tế-thương mại là bộ phận quan trọng trong tổng thể quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước. "Tiềm năng hợp tác kinh tế-thương mại giữa hai nước là rất lớn và chúng ta cần cùng nhau khai thác những lợi thế của mỗi nước".

Việt Nam và Trung Quốc là hai thị trường quan trọng của nhau, lượng hàng hóa lưu thông hai nước rất đa dạng và ngày càng tăng. Tuy nhiên, tình trạng nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc hiện nay còn lớn, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng bền vững của thương mại song phương.

Do vậy trong thời gian tới, Chủ tịch nước cho rằng bên cạnh việc thúc đẩy thương mại song phương tăng trưởng ổn định, hai bên cần cùng nhau áp dụng những biện pháp quyết liệt, có hiệu quả để sớm giảm nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc. Mặt khác, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam thời gian qua vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước.

Cho nên, các ngành chức năng hai nước cần cùng nhau đánh giá kỹ những nguyên nhân cũng như bài học kinh nghiệm về việc tại sao đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam thời gian qua còn khiêm tốn, để từ đó có những biện pháp hiệu quả đẩy mạnh hợp tác đầu tư giữa hai nước trong thời gian tới.

Việt Nam hoan nghênh các dự án đầu tư lớn, mang tính tiêu biểu, với công nghệ hiện đại và thiết bị tiên tiến của Trung Quốc vào Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, chế tạo, công nghiệp phụ trợ... Việt Nam cũng mong muốn đưa thêm nhiều hàng hóa hơn nữa sang Trung Quốc, nhất là trong lĩnh vực nông sản, thủy - hải sản...

Trong thời gian tới, hai nước cần nỗ lực hơn nữa để tìm ra những phương hướng và biện pháp hữu hiệu thúc đẩy hợp tác cùng có lợi, trong đó trước mắt cần thực hiện tốt những thỏa thuận đã ký, nhất là quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế-thương mại Việt-Trung giai đoạn 2012-2016..., nhằm đưa kim ngạch thương mại hai nước phát triển bền vững hơn, cân bằng hơn, góp phần thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung ngày càng phát triển.

Cần trao đổi thẳng thắn, chân thành về vấn đề trên biển

Bên cạnh vấn đề về triển vọng hợp tác nói chung và hợp tác thương mại hai nước, báo chí Trung Quốc hỏi Chủ tịch nước cho biết ý kiến trong việc xử lý và giải quyết những vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Trả lời câu hỏi này, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói rõ: “Chúng ta đã có nhiều nỗ lực và kinh nghiệm quý báu trong xử lý các vấn đề gay go, phức tạp trong quan hệ hai nước, đáng kể nhất là việc hai nước đã giải quyết xong vấn đề biên giới trên đất liền và phân định Vịnh Bắc Bộ. Cũng trên tinh thần đó, lãnh đạo hai nước đã nhiều lần trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn và đạt nhiều nhận thức chung quan trọng trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông".

Tuy nhiên, có thể khẳng định việc giải quyết vấn đề Biển Đông là hết sức hệ trọng vì liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, đến tâm tư tình cảm thiêng liêng của dân tộc, của người dân.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho rằng thời gian tới, lãnh đạo cấp cao hai nước cần duy trì trao đổi và đối thoại thường xuyên, từ tầm cao chiến lược và quan hệ hữu nghị hai nước, chỉ đạo và thúc đẩy giải quyết vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Có như vậy mới không ảnh hưởng đến quan hệ hữu nghị, tin cậy chính trị hai nước cũng như tình cảm của người dân hai nước.

Chủ tịch nước trông đợi trong chuyến thăm Trung Quốc sắp tới sẽ cùng lãnh đạo Trung Quốc trao đổi thẳng thắn, chân thành, tiếp tục có thêm những giải pháp để giải quyết thỏa đáng những bất đồng trên biển giữa hai nước, góp phần thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển lành mạnh, ổn định lâu dài, đóng góp cho việc duy trì hòa bình, ổn định tại Biển Đông.

Chủ tịch nước khẳng định: “Đối xử nhân đạo với ngư dân, xử lý thoả đáng vấn đề nghề cá phù hợp với quan hệ hữu nghị hai nước cũng là một trong những nhận thức chung quan trọng của lãnh đạo cấp cao hai nước. Tôi đã đi thăm nhiều vùng ven biển của Việt Nam, đã gặp gỡ nhiều ngư dân, họ đều là những người lao động chăm chỉ và còn rất nhiều khó khăn, đời sống gia đình nhiều đời nay chỉ dựa vào nghề đánh bắt cá truyền thống trên Biển Đông. Do vậy, trong thời gian tới chúng ta cần quan tâm đầy đủ đối với ngư dân, giúp họ có cuộc sống ngày càng tốt đẹp, yên ổn và bền vững hơn. Điều này cũng là phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế”.

Hai nước cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách và đổi mới


Hiện tại Trung Quốc và Việt Nam đều đang thúc đẩy sự nghiệp cải cách mở cửa và đổi mới, nhân dân Trung Quốc đang phấn đấu để thực hiện “Giấc mơ Trung Hoa”, nhân dân Việt Nam cũng đang nỗ lực thực hiện mục tiêu tới năm 2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Đánh giá về sự phát triển của mỗi nước, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định: Hai nước, hai dân tộc đều có mong muốn là xây dựng đất nước hòa bình, ổn định, thịnh vượng. Công cuộc cải cách, đổi mới vừa qua ở cả Trung Quốc và Việt Nam đã đưa hai nước phát triển mạnh mẽ, mang lại đời sống ngày càng tốt đẹp cho người dân, đóng góp vào sự phát triển và thịnh vượng chung của khu vực và thế giới, mang lại vị thế quốc tế ngày càng cao cho hai nước.

Để tiến xa hơn nữa, Việt Nam cũng như Trung Quốc cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách, đổi mới, nhận diện và vượt qua những thách thức, khó khăn trong phát triển kinh tế-xã hội, như khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, biến đổi khí hậu, môi trường, tăng trưởng bền vững…

Bên cạnh những nỗ lực của mỗi nước, việc hai nước xây dựng được quan hệ hợp tác hữu nghị ngày càng tốt đẹp có ý nghĩa quan trọng, tạo ra những cơ hội cho hai nước cùng phát triển, biến ước mơ, mục tiêu hòa bình, thịnh vượng của mỗi nước trở thành hiện thực. Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực quyết tâm thực hiện thành công mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.

Hữu nghị, hợp tác cùng phát triển

Nhân dịp sắp sang thăm lại Trung Quốc, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng gửi gắm những thông điệp tới nhân dân Trung Quốc.

Chủ tịch nước khẳng định: “Tình hữu nghị Việt-Trung là tài sản chung vô cùng quý giá của nhân dân hai nước do các thế hệ lãnh đạo tiền bối và nhân dân hai nước dày công vun đắp. Chúng ta đều có trách nhiệm giữ gìn, kế thừa và phát huy".

Chủ tịch nước cho biết trong chuyến thăm Trung Quốc lần này, ông sẽ đến thăm Quảng Châu, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều nhà cách mạng tiền bối của Việt Nam đã sinh sống và hoạt động cách mạng. "Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay" - Chủ tịch nước nói.

Việt Nam hết sức coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc, coi đây là chính sách cơ bản, nhất quán, lâu dài và ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định: "Thực tiễn chứng minh, chỉ có hữu nghị, hợp tác và cùng nhau phát triển trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi mới là sự lựa chọn duy nhất đúng của quan hệ hai nước, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích chung của nhân dân hai nước".

Theo VGP

19/2/13

Bước xâm lấn Biển Đông kiểu mới của Trung Quốc

(Báo Giáo dục Việt Nam) - Thời gian gần đây, Trung Quốc ngày càng lộ rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông. Để đạt được mục đích này, Trung Quốc đã đi bằng nhiều con đường, từ những bước đi hung hăng trên biển đến những động thái đầy khiêu khích trên mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao... Giờ đây, Trung Quốc còn tìm cách xâm lấn Biển Đông bằng một hình thức mới rất tinh vi mà ít ai ngờ tới.

Quả địa cầu in hình đường lưỡi bò phi pháp của Trung Quốc

Cả năm qua, người ta chứng kiến Trung Quốc liên tục đưa tàu thuyền cả dân sự lẫn quân sự ra các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông để quấy nhiễu tàu thuyền các nước khác, tiến hành một loạt các cuộc tập trận để phô trương sức mạnh nhằm đe dọa, thị uy các nước có tranh chấp với họ. Giới lãnh đạo ở Bắc Kinh còn liên tiếp “tung” ra các chiêu như thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa với phạm vi quản lý là nhiều vùng lãnh thổ đang còn nằm trong tranh chấp ở Biển Đông, đưa đường lưỡi bò phi pháp vào hộ chiếu phổ thông mới của nước này hay công bố bản đồ mới bao gồm một loạt vùng lãnh hải, lãnh thổ đang nằm trong tranh chấp với các nước láng giềng....

Mới đây nhất, Trung Quốc khiến nhiều nước ngỡ ngàng khi thực hiện những bước đi “xâm lấn” Biển Đông kiểu mới, vô cùng tinh vi mà ít ai có thể ngờ tới.

Quả cầu đường lưỡi bò phi pháp
Trong khi người dân ở nhiều nước Châu Á đang háo hức chào đón tết cổ truyền Quý Tỵ với hy vọng vào một năm mới tốt đẹp hơn, yên bình hơn thì “sóng gió” Biển Đông lại bị Trung Quốc thổi bùng lên bằng hành động tranh chấp chủ quyền rất mới thông qua con đường văn hóa của nước này.

Cả đất nước Philippines mấy ngày nay xôn xao trước tin người ta phát hiện Trung Quốc đã ngầm tuồn vào nước họ những mô hình quả địa cầu có in đường lưỡi bò hay còn gọi là đường 9 đoạn. Trung Quốc chính thức công bố bản đồ đường yêu sách 9 đoạn vào năm 2009. Theo đó, Trung Quốc đòi chủ quyền đến 80% diện tích Biển Đông, xâm lấn vào nhiều vùng lãnh thổ, lãnh hải của một loạt nước khác trong khu vực. Đây là điều mà cộng đồng quốc tế phản đối rất quyết liệt. Cộng đồng quốc tế không bao giờ chấp nhận một vùng biển lớn nhất nhì thế giới thuộc về quyền tài phán của một nước.

Việc các hiệu sách ở Philippines vô tình bán những quả địa cầu có in hình "đường lưỡi bò" do Trung Quốc sản xuất được phát hiện lần đầu tiên nhờ thông tin từ mạng xã hội Facebook. Trung Quốc đã “tuồn” những quả địa cầu có in hình đường lưỡi bò phi pháp vào thị trường Philippines và bán với giá cực kỳ rẻ, thấp hơn từ 10 đến 20 lần so với giá những quả địa cầu do các nước khác sản xuất.

Ngay sau khi thông tin trên được tung ra, rất nhanh chóng, giới chức Philippines đã ra lệnh thu hồi những sản phẩm đã bán đồng thời yêu cầu các hiệu sách rút toàn bộ những quả địa cầu do Trung Quốc sản xuất ra khỏi các kệ hàng của họ.

"Bộ Ngoại giao Philippines xác nhận quả địa cầu dùng trong giáo dục có in hình đường 9 đoạn trên Biển Đông theo quan điểm của Trung Quốc, đang được bán lẻ tại địa phương. Philippines khẳng định đường 9 đoạn mà Trung Quốc đòi hỏi là vi phạm luật quốc tế", người phát ngôn Bộ Ngoại giao Raul Hernandez hôm 13/2 đã cho biết như vậy.

Theo báo chí Philippines cho biết, nước này đã tìm ra một công ty sách lớn nhất Philippines vô tình tiếp tay cho Trung Quốc tuồn quả địa cầu lưỡi bò vào nước này. Quả địa cầu có in hình lưỡi bò phi pháp này được công ty National Book Store (NBS) bán trong hệ thống nhà sách của họ, nhưng ngay sau khi nhận được thông báo từ Bộ Ngoại giao Philippines, NBS đã lập tức dừng bán và thu hồi tất cả số quả địa cầu lưỡi bò

Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc tìm cách đưa đường lưỡi bò vô lý vào những “sản phẩm” được lưu hành rộng rãi ở nhiều nước. Năm ngoái, Trung Quốc đã từng in hình đường lưỡi bò vào hộ chiếu phổ thông cấp cho người dân nước họ. Tuy nhiên, động thái này đã ngay lập tức bị các nước phản đối dữ dội và bị vô hiệu hóa hoàn toàn. Các nước như Philippines, Việt Nam và thậm chí là cả Mỹ, Ấn Độ đều tuyên bố không công nhận hộ chiếu mới của Trung Quốc.

Vi phạm chủ quyền Việt Nam bằng đèn lồng in chữ Tam S

Ngoài đưa quả cầu có in đường 9 đoạn vào thị trường Philippines, Trung Quốc còn tuồn vào Việt Nam những chiếc đèn lồng có in chữ “Tam Sa” – tên một “thành phố” mà nước này lập lên một cách phi pháp ở vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam.

Nhiều người dân ở thị xã Chí Linh, Hải Dương, đã vô tình mua phải loại đèn lồng do Trung Quốc sản xuất với giá từ 75.000 đến 150.000 đồng mỗi chiếc về nhà để treo trang trí trong dịp Tết mà không hề biết rằng, trên đó có chữ “Tam Sa” bằng tiếng Trung.

Ngoài thị xã Chí Linh, ở một số địa phương khác trong tỉnh cũng xuất hiện tình trạng vô tình mua phải những chiếc đèn lồng Trung Quốc có in chữ Tam Sa phi pháp nói trên.

Ngay sau khi nhận được phản ánh của người dân về việc đèn lồng Trung Quốc có nội dung tuyên truyền chính trị sai lệch đang được lưu hành ở một số địa phương, các cơ quan chức năng đã khẩn trương thu hồi những chiếc đèn lồng này. Nhiều người dân sau khi biết được sự việc trên cũng đã nhanh chóng chủ động tự tháo dỡ, vứt bỏ những chiếc đèn lồng của Trung Quốc. Một số người còn nảy ra ý tưởng rất hay là dán hình sao vàng năm cánh đè lên chữ Trung Quốc in trên đèn lồng, tạo thành đèn lồng đỏ sao vàng.

Hồi giữa tháng 7 năm ngoái, Trung Quốc đã ngang nhiên thông báo thành lập cái gọi là thành phố “Tam Sa” với phạm vi quản lý hơn 200 đảo nhỏ, bãi cát và bãi đá ngầm ở 3 quần đảo lớn ở Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Sau khi dựng lên chính quyền ở đây, Trung Quốc tiếp tục thông báo kế hoạch đưa quân đến đồn trú ở cái gọi là “thành phố Tam Sa” này. Đây là một trong những động thái gây sóng gió lớn nhất ở Biển Đông trong năm 2012 của Trung Quốc.

Rõ ràng, việc tuồn quả cầu đường lưỡi bò vào thị trường Philippines hay đèn lồng có chữ Tam Sa vào Việt Nam là những bước đi mới hết sức tinh vi của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông với các nước láng giềng. Nếu không cảnh giác, người dân ở các nước khác rất dễ vô tình trở thành công cụ tuyên truyền của Trung Quốc khi vô tư dùng những sản phẩm có những thông tin sai lệch của nước này.

Kiệt Linh/VnMedia

17/12/12

Trung Quốc bất cần phải trái?

Tác giả: Châu Giang theo Nytimes

(TUANVIETNAM.NET) - Khu vực và Washington lo ngại các tranh chấp liên quan đến biển đang sôi sục giữa các nước Đông Nam Á sẽ tiếp tục leo thang. 
 

Theo một chuyên gia thuộc Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, từ trước tới nay, một số nước ASEAN cho rằng Trung Quốc không muốn có xung đột liên tiếp tại hai mặt trận biển: biển Hoa Đông với Nhật Bản và biển Đông với các nước khác. Nhưng với việc tỉnh đảo Hải Nam vừa thông qua các quy định cho phép chặn và kiểm tra mọi tàu bè qua lại trên biển Đông, thì giả định này giờ không còn đúng nữa.

Các quy định mới mà một tỉnh của Trung Quốc vừa thông báo, theo đó cho phép chặn và kiểm tra mọi tàu bè qua lại trên biển Đông, đang làm dấy lên lo ngại trong khu vực, và tại Washington, rằng các tranh chấp liên quan đến biển đang sôi sục giữa các nước Đông Nam Á sẽ tiếp tục leo thang.

Động thái của tỉnh đảo Hải Nam, cùng với những yêu sách của chính quyền Trung Quốc trên biển Đông, được một số chuyên gia nước ngoài xem là một bước đi mới trong nỗ lực của nước này nhằm củng cố các yêu sách của mình đối với một phần diện tích quá lớn trên biển, bao gồm cả các hải trình quốc tế quan trọng mà hơn 1/3 thương mại toàn cầu được vận chuyển qua đây.

Trong khi các chính phủ nước ngoài thi nhau làm rõ các quy định trên, vốn rất mập mờ và gây ra nhiều cách hiểu khác nhau, một nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc về các vấn đề liên quan đến biển Đông đã cố làm dịu những lo ngại do thông báo này gây ra.

Tổng giám đốc Văn phòng Đối ngoại của tỉnh Hải Nam, ông Wu Shicun, cho biết tàu bè Trung Quốc sẽ được phép tìm kiếm và cản trở các tàu nước ngoài chỉ khi các tàu này liên quan đến các hoạt động bất hợp pháp (dù ông không nói rõ đó là gì) và chỉ khi các tàu này nằm trong vùng biển rộng 12 hải lý quanh các đảo mà Trung Quốc đang đòi chủ quyền, bao gồm cả các đảo mà một số nước khác, trong đó có Việt Nam và Philippines, cũng tuyên bố chủ quyền.


Các quy định trên được cơ quan lập pháp tỉnh Hải Nam thông qua chỉ chưa đầy một tháng sau khi Trung Quốc bầu chọn lãnh đạo mới là ông Tập Cận Bình, và giữa lúc nước này đang vướng vào một tranh chấp nghiêm trọng với Nhật Bản trên biển Hoa Đông liên quan đến quần đảo mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư và Nhật Bản gọi là Senkaku.

Các quy định này dường như không liên quan trực tiếp tới ông Tập Cận Bình, nhưng chúng làm gia tăng những lo ngại rằng Trung Quốc, giờ đã có trong tay hàng không mẫu hạm của riêng mình và một lực lượng hải quân ngày một lớn mạnh, đang lao về phía trước với các kế hoạch nhằm củng cố yêu sách rằng họ có quyền chủ quyền đối với hầu hết diện tích biển Đông, bao gồm hàng chục hòn đảo lớn nhỏ mà nhiều quốc gia khác cũng đòi chủ quyền.

Và các quan chức cấp cao Trung Quốc vẫn chưa nói rõ ý định của mình, để ngỏ cánh cửa cho những lời đồn đoán.

Theo các chuyên gia về hàng hải, nếu Trung Quốc thực thi các quy định mới này thực sự trong vùng biển rộng 12 hải lý, thì quyền tự do hàng hải sẽ bị ảnh hưởng, quyền mà không chỉ Mỹ và các cường quốc phương Tây khác mà chính Trung Quốc - một nhà nhập khẩu dầu lớn từ Trung Đông - được hưởng lợi.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, ông Wu cho biết các quy định mới áp dụng đối với toàn bộ hàng trăm hòn đảo trên khắp biển Đông, và các vùng nước liền kề, nơi mà ông gọi là "nằm bên trong đường 9 đoạn và các vùng nước liền kề". Đường 9 đoạn này là một bản đồ mà Trung Quốc vẽ ra cuối những năm 1940 nhằm mô phỏng yêu sách lãnh thổ của mình - bao bọc khoảng 80% diện tích biển Đông, nơi được cho là có chứa lượng dầu và khí tự nhiên khổng lồ dưới đáy biển.

Bản đồ trên đã được Trung Quốc dùng làm nền tảng các yêu sách hiện nay của họ. Một số nước láng giềng cũng đã phản ứng tức giận khi gần đây Trung Quốc còn đưa tấm bản đồ này vào hộ chiếu điện tử mới của mình.

Ông Wu, cũng là người đứng đầu một viện nghiên cứu về biển Đông do Chính phủ Trung Quốc tài trợ, cho biết ý định của các quy định mới là đối phó với cái mà ông gọi là các tàu cá bất hợp pháp của Việt Nam đang hoạt động xung quanh đảo Phú Lâm, nơi Trung Quốc vừa dựng một doanh trại quân đội mở rộng.

Hòn đảo này có một sân bay dài và được thế giới biết đến là một phần của quần đảo Hoàng Sa (mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền). Các nước láng giềng cho rằng Trung Quốc đang sử dụng đảo Phú Lâm như một kiểu hiện diện trong nỗ lực giành quyền kiểm soát nhiều hơn đối với biển Đông.

Các quy định mới nói trên sẽ có hiệu lực từ ngày 1/1/2013. Theo một bài báo trên tờ China Daily của nhà nước Trung Quốc, viết bằng tiếng Anh, cảnh sát và lực lượng bảo vệ bờ biển sẽ được phép lên boong khám xét và kiểm soát bất cứ tàu nước ngoài nào "xâm phạm bất hợp pháp" các vùng biển của Trung Quốc và ra lệnh cho các tàu này đổi hải trình.

Ông Wu thừa nhận rằng các quy định mới đã gióng lên hồi chuông cảnh báo tại châu Á, và Mỹ, vì chúng có thể bị hiểu là một sự thâu tóm quyền lực của Trung Quốc. Ông nói: "Các nước láng giềng và các nước ngoài khu vực có một nỗi lo lắng lớn là Trung Quốc đang đi quá nhanh, và họ thấy là có thể Trung Quốc sẽ chiếm các đảo này bằng vũ lực". Ông cho rằng Trung Quốc cần thuyết phục các nước láng giềng là mọi chuyện không phải như vậy. Theo ông, quan trọng là các nước phải tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ không sử dụng vũ lực trên biển.

Philippines, một đồng minh của Mỹ và một trong những nước chỉ trích mạnh nhất các yêu sách của Trung Quốc trên biển Đông, đã phản ứng mạnh mẽ trước các quy định mới trên. Trong một tuyên bố của mình, Bộ Ngoại giao Philippines cho biết: "Hành động đã được lên kế hoạch này của Trung Quốc là bấp hợp pháp và sẽ càng khiến Philippines tiếp tục nhắc lại tuyên bố rằng yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền không thể tranh cãi đối với gần hết biển Đông không chỉ là một yêu sách thái quá mà còn là một mối đe dọa đối với tất cả các nước khác".

Một chuyên gia của Mỹ về biển Đông, ông Taylor Fravel cho rằng để xua tan sự mất tinh thần liên quan đến các quy định mới, Trung Quốc cần giải thích thêm. Ông Fravel, một giáo sư khoa chính trị tại Viện Công nghệ Massachusetts, cho biết Mỹ và các nước châu Á có thể đang phản ứng thái quá về quy định này. Ông nói: "Quy định trên không phải do Bắc Kinh thông qua".

Ông Fravel cho biết thêm: "Mỹ sẽ tìm cách làm rõ với Trung Quốc ý định của các quy định trên và liệu chúng có được sử dụng ở bên trong và xung quanh các đảo đang tranh chấp hay không, bởi nếu vậy thì đây là một động thái có thể rõ ràng làm leo thang căng thẳng".

Trong một nỗ lực nhằm tránh tình hình căng thẳng thêm, chính quyền Obama chỉ chỉ trích một cách không trực diện vào hành động của Trung Quốc. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Peter P. Velasco nói: "Tất cả các bên liên quan nên tránh các hành động khiêu khích đơn phương làm gia tăng căng thẳng và hủy hoại triển vọng tìm một giải pháp ngoại giao hoặc hòa bình".

Tại một hội nghị thượng đỉnh của các lãnh đạo châu Á ở Phnom Penh vừa qua, Tổng thống Obama đã đưa vấn đề biển Đông với Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Ông Obama đã đề nghị Trung Quốc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, và đảm bảo tự do hàng hải. Nhưng theo chuyên gia Bonnie Glaser, thuộc Trung tâm nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, cách tiếp cận nhẹ nhàng này sẽ không có hiệu quả. Bà cho rằng Mỹ chưa có một chiến lược cụ thể.

Bà nói Trung Quốc tin rằng họ có thể vượt trội 10 quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), những nước vốn chưa tìm ra được con đường chung để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc. Bà nhận định: "Tại ASEAN, người ta không sẵn sàng đương đầu với Trung Quốc, các nước này đang chia rẽ".

Bà Glaser nhấn mạnh: đến nay, một số nước ASEAN tin rằng Trung Quốc không muốn có xung đột liên tiếp tại hai mặt trận biển: biển Hoa Đông với Nhật Bản và biển Đông với các nước khác. Nhưng với việc tỉnh đảo Hải Nam thông qua các quy định trên, giả định này giờ không còn đúng nữa./.

Lấn lướt láng giềng, Đại Hán nghênh ngang chiếm biển

Tác giả: Nguyễn Huy theo Business Insider

(TUANVIETNAM.NET) - Bắt đầu từ ngày 1/1, cảnh sát tỉnh Hải Nam, Trung Quốc sẽ tiếp cận các tàu tiến vào khu vực mà Trung Quốc coi là lãnh thổ của mình ở Biển Đông. Họ được phép lên tàu, kiểm soát các tàu nước ngoài "xâm nhập trái phép" và yêu cầu các tàu thay đổi lộ trình. 
 

"Các hoạt động như xâm nhập vào vùng biển của tỉnh đảo mà không được phép... và công khai tham gia đe dọa an ninh quốc gia là phi pháp", tờ Nhật báo Trung Quốc viết. "Nếu các tàu nước ngoài hoặc thủy thủ đoàn vi phạm quy định đưa ra, cảnh sát Hải Nam có quyền tiếp quản tàu hoặc hệ thống thông tin liên lạc trên tàu".

Động thái ngày một quả quyết thậm chí là lấn lướt gây hấn của Trung Quốc đã làm phức tạp và tăng nhiệt cho một "điểm nóng" của châu Á - nơi có những tuyến đường vận chuyển nhộn nhịp nhất thế giới được cho là đảm nhận hơn nửa lượng vận chuyển dầu của toàn cầu.

"Điều này là không thể", Tướng Juancho Sabban, chỉ huy lực lượng quân sự Philippiines miền tây cho biết. "Đó là sự vi phạm luật pháp quốc tế, vi pháp quyền tự do đi lại quốc tế".

Ngoài Trung Quốc, còn một số nước châu Á tuyên bố chủ quyền với các đảo nhỏ trong khu vực được coi là vùng biển chiến lược với các vùng đặc quyền kinh tế giàu tiềm năng năng lượng, nguồn cá.

Tiến sĩ Ely Ratner, nhà nghiên cứu tại Trung tâm An ninh Mỹ mới cho rằng, động thái này biểu hiện cách thức sử dụng lối ngoại giao, kinh tế hoặc quân sự "áp chế" nhằm giành lợi thế trong yêu sách chủ quyền ở Biển Đông và Hoa Đông.

Tuy nhiên, điều mới mẻ ở đây là trong các cuộc xung đột khác - kiểu như bãi cạn Scarborough, hay cái gọi là "thành phố Tam Sa" hoặc quần đảo Senkaku - Trung Quốc biện hộ là phản ứng với sự khiêu khích từ các nước khác. Còn trong trường hợp mới nhất này, họ không tuyên bố đó là một phản ứng.

"Nó rõ ràng là sự leo thang và gây mất ổn định", Ratner nói. "Đó là hành động đơn phương của Trung Quốc, và là kiểu 'ra tay trước' mà mọi người luôn luôn lo lắng".

Theo chuyên gia Ratner: "Rõ ràng là về trung hạn, phản ứng ngoại giao từ khu vực và cả những cường quốc bên ngoài là khá mạnh mẽ" bởi nó gắn liền với thực tế rằng, nền kinh tế thế giới phụ thuộc nhiều vào tự do hàng hải, tự do qua lại ở Biển Đông.

Mỹ - quốc gia nhiều lần nhấn mạnh rằng, họ có một lợi ích quốc gia trong đảm bảo tự do hàng hải ở khu vực - đã và đang thay đổi nguồn lực quân sự hướng về châu Á.

Nhưng điều khiến Trung Quốc gây khó dễ với các nước khác là Bắc Kinh sử dụng các cơ quan phi quân sự và thực thi pháp luật (nghĩa là bớt đe dọa hơn so với việc sử dụng tàu hải quân) để lấn lướt ở Biển Đông. Nước này cũng không tỏ ra mặn mà trong việc xây dựng và phát triển một bộ quy tắc ứng xử cung cấp khuôn khổ hành xử cho các nước khác ở các khu vực tranh chấp trên biển.

Tuy vậy, điều đó cũng không có nghĩa là Trung Quốc sẽ áp dụng cách thức này trong thời gian dài. "Đó không phải là một chiến lược có lợi cho Trung Quốc trong dài hạn", Ratner nói. "Mỗi khi họ làm điều gì tương tự như vậy, điều chúng ta được chứng kiến là sự tăng cường hợp tác của các quốc gia trong khu vực; là yêu cầu gia tăng hiện diện cũng như tham gia các nỗ lực ngoại giao của Mỹ trong khu vực".

Sự tăng cường chú tâm của Mỹ với châu Á đã thúc đẩy nhiều nước đứng lên chống lại sự hăm dọa của Trung Quốc. Theo nhà nghiên cứu Ratner, các quốc gia trong khu vực và Mỹ có thể nói chung tiếng nói về vấn đề này. "Họ có thể cung cấp sự đối trọng ngoại giao ấn tượng cho các hành động của Trung Quốc".

Ratner nhấn mạnh rằng, Mỹ sẽ có khả năng tiếp tục đưa những sự cố đụng độ trên biển vào trong quan điểm rộng lớn hơn của mối quan hệ Trung - Mỹ. "Câu hỏi thực sự đặt ra là Trung Quốc sẵn sàng đi bao xa - nước này đã vượt qua luật pháp quy định hay thực sự đã sẵn sàng vươn ra biển lớn, bắt đầu bắt giữ các ngư dân hay bất cứ thứ gì đang ở vùng biển quốc tế hoặc ở vùng lãnh thổ tranh chấp nơi họ đánh bắt hay làm việc trong nhiều thế kỷ qua?", Ratner cho biết. "Trung Quốc giống như con voi trong phòng và là người cuối cùng sẽ quyết định giải quyết vấn đề một cách hòa bình hay không".

* ("Con voi trong phòng" là cụm từ được dịch từ tiếng Anh "Elephant in the Room". Đây là thành ngữ ý muốn ám chỉ một vấn đề mà ai cũng biết, nhưng không ai dám nói ra do ngượng ngùng hoặc do đó là điều kiêng kỵ).

11/12/12

Thời báo Hoàn cầu lại giở thói ngang ngược với Việt Nam

(TNO) Tờ Thời báo Hoàn cầu ngày hôm nay, 11.12, đã đăng tải bài bình luận ngang ngược vu cáo Việt Nam “ăn cắp” dầu khí của Trung Quốc đồng thời cổ vũ cho các hành động gây hấn và phi pháp của Trung Quốc ở biển Đông.

Vị trí tàu Bình Minh 02 bị phá cáp theo thông tin của Tập đoàn dầu khí VN (PVN) và phần cáp bị đứt (ảnh nhỏ) - Đồ họa: Hồng Sơn

Trong bài bình luận có tựa “Việt Nam xem nhẹ ý chí bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc”, tờ báo thường xuyên thể hiện giọng điệu hiếu chiến nhắc lại vụ tàu cá Trung Quốc phá cáp tàu Bình Minh 02 và kêu gọi Trung Quốc tiếp tục sử dụng những hành động có “cường độ nhẹ” để quấy phá hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam ở biển Đông, đồng thời tung hỏa mù về cách phản ứng của Trung Quốc.

Ấn phẩm phụ của tờ Nhân dân Nhật báo bộc lộ rõ thái độ hung hăng qua đoạn: “Chúng tôi không biết liệu tàu Trung Quốc có cố ý cắt cáp thăm dò gắn phía sau tàu Việt Nam hay không. Nhưng ngay cả khi họ cố ý, thì người dân Trung Quốc vẫn ủng hộ cách hành xử này”.

Tờ báo này còn rêu rao rằng Việt Nam là nước bạo dạn nhất trong việc khai thác dầu ở biển Đông so với các nước khác và vu cáo Việt Nam “ăn cắp” dầu khí của Trung Quốc thông qua sự hợp tác với các công ty dầu khí từ “một nước thứ ba”.

Thời báo Hoàn cầu khẳng định Trung Quốc hiện cương quyết bảo vệ chủ quyền hơn bao giờ hết và dọa dẫm Việt Nam và Philippines đừng trông đợi Trung Quốc thoái lui dưới “cái gọi là áp lực quốc tế”.

Bài bình luận cũng mạo danh toàn thể nhân dân Trung Quốc với đoạn: “Họ phải hiểu dư luận quần chúng Trung Quốc là trên hết. Bảo vệ chủ quyền Trung Quốc là ý chí chung của 1,3 tỉ công dân Trung Quốc”.

Tàu Bình Minh 02 của Việt Nam vốn bị hai tàu cá Trung Quốc mang số hiệu 16025 và 16028 cố tình cản trở và gây đứt cáp vào hôm 30.11, khi đang tiến hành thăm dò địa chấn bình thường trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam (tại tọa độ 17026,2’ vĩ tuyến Bắc, 1080 02’ kinh tuyến Đông, nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa Việt Nam, chỉ cách đảo Cồn Cỏ (Việt Nam) khoảng 43 hải lý).

Vụ gây đứt cáp tàu Bình Minh 02, cũng như các động thái đưa ra “Điều lệ quản lý trị an biên phòng ven biển tỉnh Hải Nam”, xuất bản bản đồ cái gọi là “thành phố Tam Sa” của phía Trung Quốc đã bị người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam lên tiếng phản đối vào hôm 4.12.2012.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nêu rõ: “Những hành động nói trên của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; xâm phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển của Việt Nam; vi phạm Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ký tháng 10.2011; trái với tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) và Tuyên bố cấp cao kỷ niệm 10 năm DOC, làm cho tình hình biển Đông thêm phức tạp".

Ông Lương Thanh Nghị cho biết, ngày 3.12.2012, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao công hàm kiên quyết phản đối những việc làm nói trên của Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, chấm dứt ngay những việc làm sai trái đó và không để tái diễn những hành động tương tự.

Sơn Duân

19/8/12

Một bài báo của Trung Quốc bịa đặt trắng trợn và nực cười

(Tiền phong) - Ngày 17/8, tờ báo mạng chính thống của tỉnh Hải Nam “Hinews.cn” đã đăng bài viết tiêu đề “Quân đội Việt Nam nói có thể đánh đến Bắc Kinh, lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ quân giải phóng chuẩn bị chiến đấu” và đã được hàng trăm trang mạng của Trung Quốc đăng lại. 
 
Nhìn vào tiêu đề, người ta đã thấy rõ ý đồ của người viết định kích động tâm lý thù địch với Việt Nam của người đọc. Hãy thử xem tác giả đã bịa đặt, vu cáo những gì để kích động dư luận Trung Quốc?

Bài viết không đề tên tác giả và được mở đầu bằng thông tin, Trung Quốc có 2 lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ thì cả 2 đều thuộc biên chế của Hạm đội Nam Hải phụ trách địa bàn Biển Đông.

Lý do của việc này được giải thích: “Tình tình tranh chấp chủ quyền Nam Hải phức tạp, các đảo bãi của nước ta (Trung Quốc) bị chiếm nhiều” .

Bất chấp sự thật Biển Đông là biển chung của các nước xung quanh, tác giả ngang nhiên coi Biển Đông là của riêng Trung Quốc khi viết: “Tuy Nam Hải (Biển Đông) từ xưa đến nay đã là lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei đều tuyên bố có chủ quyền với một bộ phận Nam Hải.

Trừ Indonesia, 4 quốc gia còn lại đều cưỡng chiếm một bộ phận đảo bãi thuộc Nam Hải của ta và vùng biển quanh đó.

Lãnh đạo các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia đều đã đến các đảo bãi của ta bị họ cưỡng chiếm, kéo quốc kỳ để thể hiện chủ quyền.

Philippines và Việt Nam còn thông qua luật trong nước, đưa các đảo bãi của Trung Quốc và vùng biển phụ cận vào phạm vi quản hạt chủ quyền của họ, lại còn thành lập cơ cấu chính quyền liên quan.

Việt Nam còn ra sức khai thác dầu mỏ ở Nam Hải, từ nước vốn phải nhập khẩu nay trở thành nước xuất khẩu dầu.

Việt Nam dùng những khoản lợi nhuận nhờ khai thác dầu mỏ, không ngừng mua các vũ khí trang bị công nghệ cao để đối kháng Trung Quốc”.

Bài viết này còn cáo buộc Việt Nam mua sắm vũ khí để phòng vệ là nhằm “đối kháng Trung Quốc, đe dọa Trung Quốc”.

Thật nực cười khi họ viết: “Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam Nguyễn Hà Nhất thậm chí đã tuyên bố quân đội Việt Nam có thể đánh thẳng đến Bắc Kinh”.

Đến đây, thì kẻ bịa đặt đã lộ mặt vì trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam từ trước đến nay không hề có vị tướng nào có tên là Nguyễn Hà Nhất cả, chứ chưa nói đến đó lại là người giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng.

Quen thói dọa dẫm, bài báo viết, nhiệm vụ trung tâm của Hạm đội Nam Hải và hai lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ là “thu hồi các đảo bị cưỡng chiếm, bảo vệ quyền lợi biển”, “chuẩn bị sẵn sàng sử dụng biện pháp quân sự để thu hồi lãnh thổ và các quyền lợi biển”, “chỉ cần trung ương ra lệnh là hai lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ sẽ xung trận ngay”…

Theo Lan Hương

12/8/12

Làm rõ vùng tranh chấp ở Biển Đông

(BÁO ĐẤT VIỆT) - Cách thức leo thang mà phía Trung Quốc thường xuyên sử dụng là biến vùng biển không có tranh chấp, thuộc chủ quyền của các quốc gia khác thành vùng có tranh chấp, rồi dần dần tìm cách xâm chiếm. 
 

Những sự kiện diễn ra liên tiếp trong vòng chưa đầy hai tháng qua trên Biển Đông có thể cho thấy rằng Chính phủ Trung Quốc đang muốn leo thang ảnh hưởng của mình ở khu vực Biển Đông. Động thái leo thang của phía Trung Quốc làm tình hình Biển Đông đang căng thẳng càng trở nên “dậy sóng”.

Các hành động leo thang thể hiện rõ ý đồ của Trung Quốc là từng bước “thâu tóm”, tiến tới độc chiếm Biển Đông, hiện thực hóa “đường lưỡi bò” phi lý mà nước này đưa ra. Cách thức leo thang mà phía Trung Quốc thường xuyên sử dụng là biến vùng biển không có tranh chấp, thuộc chủ quyền của các quốc gia khác thành vùng có tranh chấp, rồi dần dần tìm cách xâm chiếm.

Thông qua các hành động đơn phương gây hấn với một số nước có chủ quyền trên Biển Đông, Trung Quốc mong muốn tạo ra những xung đột để biến các vùng biển này thành vùng tranh chấp. Mở màn cho chiến thuật này là tranh chấp với Philippines quanh bãi cạn Scarborough hồi tháng 4/2012. Căng thẳng kéo dài nhiều tuần lễ sau đó và cho đến nay vẫn chưa có một giải pháp nào có thể giải quyết tranh chấp.

Cuối tháng 6/2012, Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) ngang nhiên mời thầu quốc tế 9 lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa Việt Nam. Các nhà phân tích cho rằng, hành động trên của Trung Quốc không phải để trông chờ một công ty dầu khí nào đó dám nhận thầu, mà nhằm mục đích lập lờ xóa nhòa ranh giới EEZ được quy định trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), qua đó biến vùng biển không tranh chấp, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam, thành vùng tranh chấp.

Đỉnh điểm của ý đồ trên là việc Trung Quốc ra quyết định thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” bao gồm gần như toàn bộ Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Sau đó, ngày 21/7, Trung Quốc ngang nhiên tổ chức bầu cử bộ máy hành chính cho cái gọi là “thành phố Tam Sa”, đặt trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trung Quốc còn ra quyết định cho quân đồn trú tại các đảo mà nước này chiếm giữ trái phép của cái gọi là “thành phố Tam Sa”.

Trung Quốc ngang ngược xua tàu cá đánh bắt trái phép ở Biển Đông, thực hiện ý đồ biến vùng biển không có tranh chấp thành có tranh chấp.

Tiếp sau đó, sau khi lệnh cấm đánh bắt cá phi lý và vô giá trị mà Trung Quốc đưa ra trên Biển Đông kết thúc, nước này đã cho khoảng 23.000 tàu cá tràn xuống đánh bắt cá tại nhiều vùng biển trên Biển Đông, trong đó có những vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, gần hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thời gian gần đây, tàu cá Trung Quốc tràn vào Biển Đông ngày càng nhiều, thậm chí còn tiến gần đến các đảo thuộc các tỉnh miền Trung nước ta chỉ vài chục hải lý. Trung tá Lê Trọng Phổ, chủ nhiệm chính trị Cảnh sát biển vùng 2, khẳng định: “Việc tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng biển miền Trung là có thật, nhất là từ sau khi Trung Quốc bỏ lệnh cấm biển do họ tự đặt ra vào đầu tháng 8 này. Các tàu cá Trung Quốc đã đi sâu vào vùng biển gần đảo Lý Sơn từ 30 – 45 hải lý, với lượng tàu mỗi đợt xâm nhập từ 18 – 30 chiếc”.

Nói về nguy cơ này, Thiếu tướng Lê Văn Cương cho rằng: “Đây chưa phải là con số cuối cùng về tàu cá Trung Quốc mà chỉ là những con số mở đầu. Những chiếc tàu cá với tải trọng lên đến 3.000 tấn của Trung Quốc sẽ tràn ngập trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam để chứng tỏ sự hiện diện thường xuyên, đông đảo của Trung Quốc ở biển Đông, mặc nhiên biến vùng biển Việt Nam thành vùng tranh chấp để từ đó biến thành vùng biển của mình. Trung Quốc đang dần hiện thực hóa quyền chủ quyền, quyền tài phán phi lý của họ ở “đường lưỡi bò” mà họ tự nghĩ ra với ý đồ rõ ràng”.

Các hành động leo thang ngang ngược, đơn phương nhưng dai dẳng và “ngày càng hung hăng” của Trung Quốc trên Biển Đông khiến cộng đồng quốc tế hết sức lo ngại và công khai chỉ trích, phản đối nước này. Sách trắng quốc phòng Nhật Bản 2012 đã lần đầu tiên dành tới hơn 20 trang trên tổng số 488 trang để nói về “mối lo ngại” Trung Quốc, bày tỏ quan ngại của Nhật Bản về việc Trung Quốc “tự coi Biển Đông là của mình. Trước đó, Tokyo chỉ dùng từ “quan tâm” khi đề cập đến các hoạt động của quân đội Trung Quốc.

Giới chức và học giả nhiều nước, đặc biệt là Mỹ, thường xuyên ra tuyên bố phản đối các hành động làm gia tăng căng thẳng trên Biển Đông của Trung Quốc. Thượng viện Mỹ đã chính thức thông qua Nghị quyết mang số hiệu S.Res.524 về tình hình Biển Đông nhằm thể hiện phản ứng trước những động thái mới đây của Trung Quốc. Nghị quyết này gồm cả 3 điểm với nội dung lên án các hành động đơn phương gần đây của Trung Quốc và khẳng định những bước đi này trái với những nguyên tắc đã được thỏa thuận liên quan đến việc giải quyết tranh chấp và cản trở biện pháp hòa bình giải quyền tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Trước các hành động gây leo thang căng thẳng liên tiếp của Trung Quốc trên Biển Đông nhằm thực hiện ý đồ biến các vùng biển không có tranh chấp thành vùng tranh chấp, giới học giả đã lên tiếng thúc giục làm rõ các vùng tranh chấp trên vùng biển chiến lược này.

Phân tích trên Eurasiareview ngày 8/8, nhà nghiên cứu Robert Beckman, giám đốc trung tâm Luật Quốc tế, Đại học quốc gia Singapore, nhận định: “Khi chúng ta theo dõi các hành động và phản ứng của các nước gây căng thẳng ở biển Đông, nó thường không tuân theo luật quốc tế, và tất cả chỉ là trò chơi của chính trị vũ lực”. Một trong những nguồn cơn gây nên căng thẳng ở biển Đông là có những yêu sách quá tham vọng và không tuân theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982 của Trung Quốc.

Theo đó, để ngăn chặn ý đồ biến các vùng biển không có tranh chấp thành có tranh chấp của Trung Quốc, các nước có liên quan ở Biển Đông, trong đó có Việt Nam, cần đưa ra các yêu sách phù hợp với UNCLOS năm 1982.

Ông Robert Beckman cho rằng UNCLOS năm 1982 có vai trò quan trọng cơ bản đối với việc giải quyết những tranh chấp Biển Đông: “UNCLOS năm 1982 mang lại một khuôn khổ pháp lý chi tiết về các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia, liên quan đến mục đích sử dụng các đại dương. Tất cả các quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông (Trung Quốc, Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam) đều tham gia Công ước LHQ về Luật biển và đương nhiên bị ràng buộc bởi các quy định của UNCLOS về pháp lý”.

Một khi phân biệt được vùng không có tranh chấp và vùng có tranh chấp ở biển Đông, thì Công ước 1982 có thể buộc các nước có liên quan thực hiện thỏa thuận tạm thời về hiện trạng của tình hình ở biển Đông. Theo đó, UNCLOS qui định trong thời kỳ chuyển tiếp, các nước không được hành động đơn phương ở các khu vực biển chồng chéo vì điều này sẽ gây nguy hiểm hoặc cản trở việc đạt được một thỏa thuận cuối cùng về phân định ranh giới biển.

Duy Minh

27/7/12

“Đường lưỡi bò là cái cùm lớn tròng vào cổ Trung Quốc”

(TNO) Một nhà nghiên cứu tên tuổi trên thế giới nhận định rằng đường lưỡi bò phi lý của Trung Quốc tại biển Đông là "cái cùm lớn tròng vào cổ Trung Quốc".

Đảo Trường Sa Lớn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam - Ảnh: Đào Ngọc Thạch

Theo bài báo đăng trên tờ Straits Times hôm nay (27.7), ông Mahbubani - Hiệu trưởng trường Chính sách công Lý Quang Diệu thuộc đại học Quốc gia Singapore Kishore, nói rằng Trung Quốc đang phạm phải những sai lầm nghiêm trọng về địa chính trị.

Một trong những sai lầm lớn của Trung Quốc đã được thể hiện tại hội nghị ASEAN ở Campuchia trong tháng này, khi gây áp lực lên nước chủ nhà khiến ASEAN lần đầu tiên trong lịch sử không thể thông qua được thông cáo chung, theo ông Mahbubani, người mà tạp chí Foreign Policy xếp vào danh sách 100 nhà tư tưởng hàng đầu thế giới.

Một sai lầm đáng chú ý nữa là việc đưa ra yêu sách đường lưỡi bò phi lý tại biển Đông. Theo ông Mahbubani, đường lưỡi bò (còn gọi là đường chín đoạn) mà Trung Quốc vẽ tại biển Đông chỉ là một cái “cùm địa chính trị lớn tròng vào cổ Trung Quốc”.

Việc Trung Quốc đưa ra yêu sách về đường lưỡi bò trong công hàm gửi Liên Hiệp Quốc vào năm 2009 được ông Mahbubani đánh giá là một hành động dại dột.

“Với việc đệ trình đường chín đoạn lên Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc đã lâm vào một tình thế không thể thắng, bởi rất khó có thể bảo vệ bản đồ này theo luật pháp quốc tế”, ông Mahbubani viết trên tờ Straits Times.

Sơn Duân

25/7/12

Trung Quốc chuẩn bị tập trận bắn đạn thật trên biển Đông

TT - Lại thêm một hành động gây hấn mới của TQ sau hàng loạt hành động gây căng thẳng gần đây. TQ đã lộ rõ âm mưu quân sự hóa để độc chiếm biển Đông, bất chấp dư luận phản đối của khu vực và quốc tế. 

Tàu chiến Trung Quốc chuẩn bị cho cuộc diễn tập tại biển Đông - Ảnh: CCTV

Ngày 24-7, Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) đưa tin quân đội Trung Quốc đang đợi lệnh để diễn tập bắn đạn thật với quy mô lớn nhất gần quần đảo Trường Sa của Việt Nam. CCTV tiết lộ hạm đội hải quân lớn của Trung Quốc tại khu vực biển Nhật Bản đang cấp tốc quay xuống quần đảo Trường Sa để chuẩn bị cho cuộc tập trận này. Trung Quốc, thông qua CCTV, trắng trợn tuyên bố cuộc tập trận là để “các nước láng giềng thấy được thực lực của Trung Quốc”.

Tình báo Mỹ tiết lộ hệ thống vệ tinh của Mỹ đã phát hiện 20 tàu chiến lớn của hải quân Trung Quốc đang tề tựu để bài binh bố trận tại khu vực quần đảo Trường Sa. Nguồn tin này khẳng định trong số này có tàu ngầm lớp Kilo của hạm đội Đông Hải và bảy tàu của hạm đội Bắc Hải.

Trước đó, Bộ Quốc phòng Nhật cũng đã lên tiếng báo động có 11 tàu quân sự Trung Quốc thuộc hạm đội Đông Hải đi qua khu vực biển Nhật Bản tới Thái Bình Dương trong hai ngày 8 và 9-7.

Dồn lực lượng quân sự tới biển Đông

Cùng lúc, lúc 9g30 ngày 24-7, chính quyền tỉnh Hải Nam đã cắt băng ra mắt cái gọi là “thành phố Tam Sa” và ngang nhiên mời gọi người dân nước mình đến “thăm thành phố”. Sự kiện này được truyền hình trực tiếp qua CCTV. Gần đây, Trung Quốc đã liên tục có những bước dấn tới để tìm cách gây hấn trên biển Đông vốn đã rất căng thẳng. Tháng trước, Trung Quốc đã cho thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, và mới đây đã họp “hội đồng nhân dân”, lập đơn vị đồn trú tại thành phố này để “tiến hành các chiến dịch quân sự”. Trung Quốc cũng đã xua “hạm đội” tàu cá đến đánh bắt trái phép ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam...

Theo báo mạng Quân sự 51 của Trung Quốc, “thành phố Tam Sa” nằm trong chiến lược quân sự lâu dài của Trung Quốc. Bắc Kinh mới đây còn sắp xếp lại cấp chỉ huy lực lượng hải quân nhằm biến hạm đội Nam Hải trở thành lực lượng mũi nhọn của hải quân Trung Quốc. Báo này cho biết các quan chức quân đội Trung Quốc còn tuyên bố sẽ khoanh vùng các mỏ dầu trên biển Đông để tiếp tục mời thầu...

Báo Philippines Star cho biết Trung Quốc đang dự định xây dựng một đường băng trên bãi đá Xubi thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trung Quốc đã xây hai tòa nhà bốn tầng, hai doanh trại quân đội, một hệ thống rađa và một ngọn hải đăng trên bãi đá này. Máy bay của hải quân Philippines cũng phát hiện tàu đổ bộ lớp Ngọc Đình đang luẩn quẩn tại khu vực này.

Ý đồ thâm độc

Các diễn biến liên tiếp này cho thấy Trung Quốc đang tìm cớ gây hấn để thực hiện âm mưu độc chiếm biển Đông. Trao đổi với Tuổi Trẻ, giáo sư Renato C. De Castro thuộc Đại học De La Salle (Philippines) nhận định thời gian tới Việt Nam và Philippines sẽ liên tục phải đối mặt với các tàu hải giám và ngư chính Trung Quốc. Và điều nguy hiểm là lẩn sau những con tàu bán quân sự này là các tàu quân sự của hải quân Trung Quốc. “Rất có thể sẽ có đụng độ xảy ra giữa các tàu Trung Quốc với lực lượng tuần duyên các nước ven biển Đông” - giáo sư De Castro cảnh báo.

Theo ông, việc Trung Quốc liên tục gây hấn trong những ngày qua không chỉ nhằm gây sức ép lên Việt Nam và Philippines mà gián tiếp là muốn thăm dò phản ứng của Mỹ khi Washington đang “tái cân bằng” lực lượng ở châu Á - Thái Bình Dương. Giáo sư De Castro cũng cảnh báo một nguy cơ nghiêm trọng là các tàu Trung Quốc sẽ quấy rối, gây khó dễ để tìm cách khiêu khích phía Việt Nam và Philippines phản ứng trước. Và khi đó, theo ông, “họ chỉ chờ chúng ta bắn phát súng đầu tiên là hùng hổ trấn áp và tuyên bố là họ chỉ tự vệ”.

Tiến sĩ David Koh thuộc Đại học Quốc gia Singapore cũng tin rằng Trung Quốc đang thật sự có ý đồ sử dụng vũ lực trên biển Đông. Trước nay Trung Quốc vẫn luôn nói rằng họ không hề theo đuổi chính sách bá quyền. Nhưng nếu đó là sự thật thì Bắc Kinh phải sẵn sàng thảo luận với ASEAN về COC, một cơ chế ngăn chặn các hành vi bá quyền trong khu vực chứ” - ông phân tích.

Trong khi đó, theo tiến sĩ Ian Storey thuộc Học viện Nghiên cứu Đông Nam Á (Singapore), Trung Quốc sẽ chỉ sử dụng vũ lực như một giải pháp cuối cùng, bởi xung đột sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín ngoại giao của Bắc Kinh và khiến các nước khác trên thế giới can thiệp.

Báo Le Figaro (Pháp) nhận định: “Dựa trên sức mạnh ngày càng gia tăng của các hạm đội “dân sự”, trong đó có những con tàu được trang bị những loại vũ khí hạng nặng, Bắc Kinh đang không mệt mỏi thực hiện chủ quyền của mình bằng chính sách “chuyện đã rồi”. Năm 2010, biển Đông đã được nâng cấp thành “lợi ích sống còn” ngang hàng với Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương. Điều này có nghĩa là Bắc Kinh sẽ không chấp nhận bất kỳ nhượng bộ nào”.

SƠN HÀ - ĐÔNG PHƯƠNG

Philippines – Australia “bắt tay” đối phó Trung Quốc ?

Thượng viện Philippines hôm qua (24/7) đã thông qua một hiệp ước cho phép binh lính Australia vào nước này để tham gia tập luyện trong các cuộc tập trận chiến đấu với lực lượng Philippines. Hiệp ước này đã bị các thượng nghị sĩ Philippines cản trở suốt nhiều năm qua. Tuy nhiên, cuối cùng, nó đã được thông qua bởi Manila hiện giờ đang rất lo ngại về Trung Quốc.

Philippines-Australia “bắt tay” đối phó Trung Quốc?

Thượng nghị sĩ Loren Legarda – người ủng hộ tích cực cho hiệp ước quân sự Philippines-Australia, cho biết, hiệp ước này đã được thông qua với số phiếu ủng hộ là 17/23. Bà Legarda tin rằng, đây là hiệp ước sẽ giúp củng cố quốc phòng cho Philippines. Căng thẳng giữa Manila và Bắc Kinh đang leo thang liên tục trong thời gian gần đây vì cuộc tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông giữa hai nước.

Sự hiện diện của quân đội nước ngoài vốn là một vấn đề gây tranh cãi rất lớn ở Philippines – một nước từng là thuộc địa của Mỹ. Hiến pháp Philippines cấm quân đội nước ngoài đóng thường trú tại nước này và Thượng viện đã phải phê chuẩn những thỏa thuận quy định rõ hoạt động của các binh lính nước ngoài có mặt trên lãnh thổ Philippines.

Manila cũng đã ký một hiệp ước quân sự tương tự với Mỹ năm 1999 và hiệp ước đó cho phép lực lượng Mỹ ở lại Philippines từ năm 2002 để đào tạo và huấn luyện cho binh lính Philippines chống lại lực lượng khủng bố.

Thượng nghị sĩ Legarda cho biết, bà đã từng bỏ phiếu phản đối hiệp ước như trên với Mỹ vào cuối những năm 1990. Tuy nhiên, lần này, bà Legarda quyết định ủng hộ hiệp ước đã bị trì hoãn 4 năm nay với Australia vì lo ngại những môi đe dọa an ninh mà Philippines đang phải đối mặt.

“Hiện tại, những thách thức an ninh đòi hỏi chúng tôi phải củng cố khả năng phòng vệ qua mối quan hệ hợp tác với các đồng minh”, bà Legarda phát biểu.

Thượng nghị sĩ Eduardo Angara cũng cho biết, ông ủng hộ hiệp ước quân sự với Australia bởi Philippines cần “một mạng lưới bạn bè bảo vệ” trong bối cảnh nước này đang phải “đối mặt với mối đe dọa từ một nước rất mạnh và nước đó đang đòi chủ quyền lãnh thổ sang đến tận cửa ngõ lãnh thổ của chúng ta”.

Tuy nhiên, một thượng nghị sĩ khác có tên là Teofisto Guingona III, cho biết, hiệp ước quân sự Philippines-Australia sẽ chỉ cho phép quân đội hai nước tiến hành các hoạt động huấn luyện chung và sẽ không ràng buộc hai nước phải bảo vệ nhau trong trường hợp có xung đột. Ông Guingona cho biết, ông ủng hộ hiệp ước này bởi vì nó có lợi cho cả hai bên và nó có chứa những điều khoản cho phép Philippines kiểm soát các hoạt động của binh lính Australia ở nước này.

Theo (BĐ)

21/7/12

Quan chức Thái Lan: Trung Quốc "đi cửa sau" về biển Đông sẽ phản tác dụng

(GDVN) - Bangkok dường như có xu hướng khuyến khích các bên tranh chấp chủ quyền trên biển Đông “đàm phán tay đôi” với nhau


Bắt đầu từ 25/7 này Thái Lan sẽ chính thức giữ vai trò điều phối quan hệ ASEAN – Trung Quốc trong bối cảnh căng thẳng trên biển Đông liên tục gia tăng suốt từ 10/4 vừa qua sau những tuyên bố và động thái leo thang trên thực địa của Bắc Kinh bất chấp mọi công luận, nguyên tắc luật pháp quốc tế.

Ngoại trưởng Indonesia gặp người đồng cấp Campuchia trong một nỗ lực không mệt mỏi nhằm hàn gắn rạn nứt trong ASEAN về vấn đề biển Đông

ASEAN đã cho thấy một sự lúng túng trong việc tìm ra tiếng nói chung về vấn đề biển Đông sau khi hội nghị Ngoại trưởng ASEAN vừa kết thúc mà không đưa ra được tuyên bố chung, mặc dù trước đó đã thống nhất được các nội dung cơ bản của Quy chế ứng xử của các bên trên biển Đông (COC) để chuẩn bị đàm phán với Trung Quốc.


Sự đổ vỡ đó dấy lên một làn sóng phản ứng khá mạnh của các quốc gia thành viên khối ASEAN khi Campuchia với vai trò Chủ tịch luân phiên khối đã không tôn trọng ý kiến chung của số đông về việc đưa vấn đề tranh chấp lãnh hải biển Đông vào tuyên bố chung của hội nghị.


Chuyến công du con thoi của Ngoại trưởng Indonesia ngay sau đó đến Philippines, Việt Nam, Myanmar, Campuchia và Singapore đã thu được kết quả bước đầu hàn gắn rạn nứt của ASEAN về vấn đề biển Đông với một bản thông cáo chung được soạn thảo và gửi cho Ngoại trưởng các thành viên khối ASEAN trong buổi sáng hôm nay, 20/7.

Rõ ràng liều thuốc viện trợ không hoàn lại của Bắc Kinh đã “phát tác” trong hội nghị Ngoại trưởng ASEAN vừa rồi, tuy nhiên ASEAN vẫn thể hiện được sức sống nội tại của nó với sự thay đổi sau những nỗ lực không mệt mỏi của các bên liên quan, đặc biệt là đóng góp kịp thời, hiệu quả và có ý nghĩa quan trọng từ Indonesia.

Ngoại trưởng Indonesia tranh thủ quay sang trao đổi với Ngoại trưởng Lào trong khuôn khổ Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN vừa qua tại Phnom Penh, Campuchia

Thái Lan khi tiếp quản nhiệm vụ điều phối viên quan hệ giữa ASEAN với Trung Quốc trong khoảng thời gian 3 năm sẽ không thể không tiếp thu bài học này nếu không muốn bị gạt ra bên lề quỹ đạo phát triển của toàn khối.


Ưu tiên rõ ràng đối với Bangkok chính là phải làm việc với Bắc Kinh để họ ngồi vào bàn đàm phán với ASEAN để cho ra đời được bộ Quy tắc COC. Mặc dù trước đó, nắm được vai trò của Thái Lan sẽ ngày càng quan trọng, giới chức ngoại giao Bắc Kinh đã có những động thái “lobby” chủ động nhưng vẫn không tránh khỏi sự lộ liễu.

Việc có ban hành được bộ Quy tắc COC mang tính ràng buộc pháp lý chặt chẽ hơn nhằm ngăn chặn âm mưu của Bắc Kinh muốn biến biển Đông thành ao nhà trong nhiệm kỳ điều phối viên của Bangkok trong 3 năm tới hay không còn phải đợi thời gian trả lời.

Nhưng ít nhất Thái Lan cũng phải xác định nhiệm vụ tối thiểu họ phải làm được là xây dựng lòng tin giữa các thành viên ASEAN đối với Trung Quốc, thúc đẩy sự tin cậy lẫn nhau giữa các bên tranh chấp biển Đông nhằm giảm căng thẳng trong khu vực, kiểm soát được các nguy cơ và không để xảy ra xung đột.

Ông Sihasak Phuangketkeow, quan chức Bộ Ngoại giao Thái Lan: Trung Quốc cần nhớ rằng "đi cửa sau" sẽ phản tác dụng

Năm 2002 chính ASEAN và Trung Quốc đã từng ký kết Tuyên bố chung của các bên trên biển Đông (DOC), tuy nhiên không có bất cứ điều khoản, cơ chế nào ràng buộc, một bản tuyên bố ai muốn thực hiện và thực hiện như thế nào thì tùy đã cho thấy sự nguy hiểm của nó khi một bên liên tục lợi dụng kẽ hở để lấn lướt trên thực địa.

Tờ Bưu điện Bangkok xuất bản tại Thái Lan hôm 17/7 nhận định rằng, Bắc Kinh đã thành công khi vận động Phnom Penh với vai trò chủ nhà, Chủ tịch luân phiên ASEAN không đưa vấn đề tranh chấp biển Đông vào tuyên bố chung của hội nghị Ngoại trưởng ASEAN bất chấp sự đồng thuận từ nhiều nước thành viên.

Tuy nhiên một quan chức Bộ Ngoại giao Thái Lan, ông Sihasak Phuangketkeow cũng thẳng thắn nhận xét, Bắc Kinh cần phải chấp nhận một thực tế rằng “đi cửa sau” như những gì họ đã làm sẽ phản tác dụng.

Ông Sihasak Phuangketkeow cho rằng, Bắc Kinh nên sớm nhận ra rằng ASEAN có thể giúp họ cân bằng quyền lực với Mỹ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Ngoại trưởng Thái Lan, Trung Quốc gặp nhau tại Bắc Kinh trước thời điểm diễn ra Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN và đã đạt được một số đồng thuận khi Bangkok cam kết sẽ "làm Bắc Kinh hạnh phúc"


Tuy nhiên việc yêu cầu Bắc Kinh phải ngồi vào bàn đàm phán về bộ Quy tắc COC không hề đơn giản và không chắc nó có tiếp tục được đưa ra thảo luận tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN tại Campuchia trong tháng 9 tới đây như kế hoạch ban đầu hay không khi Bắc Kinh vẫn khăng khăng sẽ “xem xét vào khoảng thời gian thích hợp” mà không hề cho biết lúc nào và như thế nào mới “thích hợp”.

Đáng chú ý, Bangkok dường như có xu hướng khuyến khích các bên tranh chấp chủ quyền trên biển Đông “đàm phán tay đôi” với nhau, một cách tiếp cận phù hợp với mong muốn và theo đuổi của Bắc Kinh, theo tờ Bưu điện Bangkok.

Dường như đây sẽ là sự lựa chọn đối với Bangkok trong vai trò điều phối quan hệ ASEAN – Trung Quốc, một mặt hối thúc các bên kiềm chế và nhất trí đàm phán về COC để không làm rạn nứt quan hệ nội khối, mặt khác đi xa hơn, Thái Lan sẽ tìm cách “lái” các bên liên quan theo hướng đàm phán song phương để khỏi mất lòng Bắc Kinh.

Có lẽ Bangkok cần nghiên cứu rất kỹ trước khi đưa ra bất cứ quyết định nào, bởi rút kinh nghiệm từ những gì đã xảy ra tại Phnom Penh vừa rồi, Bangkok thừa hiểu, nếu họ chỉ biết chạy theo Bắc Kinh thì cái giá họ phải trả về uy tín, vai trò và vị thế đối với khu vực sẽ rất lớn mà những món hời của ai đó chưa chắc bù đắp nổi.

* Trích dẫn, đăng tải lại toàn bộ hoặc một phần thông tin từ bài viết này phải chịu trách nhiệm và ghi rõ "theo báo Giáo Dục Việt Nam" hoặc "theo Giaoduc.net.vn". Box thảo luận ở phía dưới là diễn đàn để độc giả gửi comment, đánh giá, nhìn nhận và chia sẻ ý kiến. Báo Giáo Dục Việt Nam luôn đón nhận các ý kiến khách quan, có tính chất xây dựng, tôn trọng pháp luật, thuần phong mỹ tục... của tất cả bạn đọc gửi về. Vui lòng gõ tiếng Việt có dấu để quá trình biên tập và đăng tải được thuận tiện. Chân thành cảm ơn độc giả!

Đề xuất vũ trang cho ngư dân Trung Quốc: Mưu đồ thâm hiểm!

(TNO) Một quan chức hàng đầu trong ngành ngư nghiệp Trung Quốc thúc giục chính phủ nước này vũ trang và huấn luyện quân sự cho 100.000 ngư dân Trung Quốc để tràn xuống biển Đông đối đầu với các nước trong khu vực.

Tàu cá Trung Quốc tại cảng Tam Á ở tỉnh Hải Nam - Ảnh: Reuters

Đề xuất cực kỳ thâm hiểm về việc biến những ngư dân Trung Quốc thành dân quân được ông Hạ Kiến Bân, Chủ tịch Tập đoàn quốc doanh Ngư nghiệp Bảo Sa tại tỉnh Hải Nam, đưa ra trong một bài bình luận trên tờ Thời báo Hoàn cầu ngày 28.6.

Ông Hạ Kiến Bân tuyên bố: “Nếu chúng ta đưa 5.000 tàu cá ra biển Đông, sẽ có 100.000 ngư dân tại đó… Và nếu chúng ta biến họ thành những dân quân, cấp vũ khí cho họ, chúng ta sẽ có một lực lượng quân sự mạnh hơn tất cả các nước khác ở biển Đông gộp lại”.

Quan chức ngành ngư nghiệp Trung Quốc kín đáo tiết lộ rằng Trung Quốc không gặp vấn đề gì với việc triển khai nhiều tàu cá. “Chỉ riêng tại tỉnh Hải Nam, chúng ta hiện có hơn 23.000 tàu cá, với 225.000 ngư dân lão luyện”, ông Hạ phát biểu.

“Mỗi năm, từ tháng 5 đến tháng 8, khi hoạt động đánh bắt tạm ngưng, chúng ta nên huấn luyện các ngư dân/dân quân kỹ năng đánh bắt, sản xuất và hoạt động quân sự, biến họ thành lực lượng dự bị trên biển, và sử dụng họ để giải quyết các vấn đề tại biển Đông”, ông này tiếp tục.

Trong thời gian gần đây, Trung Quốc đã liên tục sử dụng tàu cá để gia tăng khiêu khích với gần như tất cả các nước trong khu vực, bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam và Philippines.

Các tàu cá Trung Quốc dưới sự hộ tống của những tàu ngư chính và hải giám đã ồ ạt đổ xuống biển Đông, làm gia tăng căng thẳng tại khu vực.

Cụ thể, trong vài tháng qua, hàng chục tàu cá Trung Quốc liên tục xuất hiện tại bãi cạn Scarborough, khu vực tranh chấp với Philippines tại biển Đông.

Mới đây nhất, một đội 30 chiếc tàu cá Trung Quốc đã xuất hiện tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam và đánh bắt trái phép tại đây. Hoạt động phi pháp này hiện vẫn tiếp diễn bất chất những phản đối của phía Việt Nam.

Các tàu cá Trung Quốc thường rất hung hăng khi đối đầu với các tàu công vụ nước ngoài, không ngần ngại đâm tàu vào lực lượng tuần duyên của các nước.

Vào hôm 17.7, lực lượng tuần duyên Nga đã bắt giữ hai tàu cá Trung Quốc sau khi buộc phải nổ súng để khống chế các tàu này, theo truyền thông Nga. Các tàu cá Trung Quốc bị tố cáo đã đâm vào tàu tuần duyên Nga.

Các ngư dân Trung Quốc cũng liên tục đụng độ với lực lượng tuần duyên các nước Nhật Bản, Hàn Quốc. Vào ngày 30.4, nhà chức trách Hàn Quốc cho biết 9 ngư dân Trung Quốc đã bị bắt sau khi dùng dao đâm khiến bốn cảnh sát biển Hàn Quốc bị thương. Vào ngày 19.4, một ngư dân Trung Quốc tên Trần Đại Vị đã bị tuyên án 30 năm tù vì đâm chết một cảnh sát biển Hàn Quốc vào tháng 12.2011.

Thậm chí, tại một đất nước bé nhỏ và xa xôi như Palau, nằm cách tỉnh Hải Nam hơn 2.900 km, các ngư dân Trung Quốc cũng đối đầu với nhà chức trách địa phương. Vào ngày 2.4, cảnh sát đảo quốc Palau đã bắn chết một ngư dân Trung Quốc và bắt giữ 25 người khác, những người bị Palau tố cáo đánh bắt trộm trong vùng biển nước này. Nhà chức trách Palau khi đó đã tố cáo các ngư dân Trung Quốc cố tình đâm vào tàu tuần duyên của họ.

Sơn Duân

9/7/12

Giải mã chiến lược của Trung Quốc tại biên giới

(Báo Mới) - Sau thất bại của đàm phán cấp chuyên viên về vấn đề biên giới Ấn Độ - Trung Quốc vừa qua, trước thềm hội nghị ASEAN với các nước đối tác tổ chức tại Campuchia, chuyên gia S. D. Prahan, nguyên phó cố vấn an ninh quốc gia Ấn Độ, đã phân tích chiến lược của Trung Quốc đối với các khu vực biên giới. Đất Việt xin giới thiệu bài viết của chuyên gia S. D. Prahan về vấn đề này.

Giới chuyên gia khuyến cáo Ấn Độ phải thay đổi chiến lược. (AP)

Một diễn biến đáng lo ngại hiện nay là Trung Quốc gia tăng tuyên truyền về tuyên bố chủ quyền tại các vùng biên giới trên bộ và trên biển. Gần đây, có thông tin cho rằng Trung Quốc đã thành lập một Tiểu ban chỉ đạo để hướng dẫn, phối hợp, giám sát, giáo dục và tuyên truyền nhận thức về bản đồ quốc gia và kiểm soát toàn bộ thị trường thị trường bản đồ quốc gia có sự phối hợp của 13 bộ trong đó có Cơ quan Quốc gia về thông tin địa lý và sản xuất bản đồ, Ủy ban Tuyên truyền và Hướng dẫn của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bộ Ngoại giao, Bộ Giáo dục, Bộ Công nghiệp, Bộ Công an...

Mục đích chính của ủy ban này là hướng dẫn và chỉ đạo nhiệm vụ tái in, tái xuất bản bản đồ quốc gia và tuyên truyền có tổ chức. Điều này cho thấy Trung Quốc sẽ gia tăng các hành động gây hấn về bản đồ và tỏ rõ lập trường cứng rắn bằng “sự điều chỉnh mới” đối với các khu vực tranh chấp.

Đáng chú ý, phụ trách giải quyết tranh chấp hai khu vực quan trọng là biên giới Trung-Ấn và Biển Đông đều do một quan chức cấp cao của Trung Quốc phụ trách. Quan chức này vừa là đặc phái viên về vấn đề đàm phán biên giới Trung-Ấn và cũng là người phối hợp công việc của các bộ ban ngành khác của Trung Quốc liên quan đến tranh chấp tại biển Đông. Điều này cho thấy Trung Quốc đều sử dụng cùng một chiến lược cho hai khu vực này. 

Mặc dù đã trải qua một số vòng đàm phán nhưng không có tiến triển đáng kể nào cho một giải pháp về vấn đề biên giới Trung-Ấn. Trung Quốc gần đây nhắc lại vài lần tuyên bố của họ về bang Arunachal Pradesh. Cùng với điều này, các vụ xâm nhập trái phép của Quân đội Trung Quốc tiếp tục gia tăng ở mức độ cao.

Trong vòng hai năm qua, các vụ xâm nhập đã tăng lên hơn 200 vụ. Hơn nữa, Người Trung Quốc đã chiếm một phần khu vực Jamu và Kashmir của Ấn Độ, vốn do Pakistan nhượng cho năm 1963. Quân đội Trung Quốc cũng hiện diện ở khu vực này.

Ở Biển Đông, Trung Quốc đang né tránh đàm phán ở diễn đàn đa phương và chỉ khăng khăng tuyên bố chủ quyền. Họ không chỉ ban hành lệnh đánh bắt cá ở những khu vực tại Biển Đông vốn thuộc lãnh thổ các nước khác mà còn phản đối các hoạt động thương mại ở khu vực nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước này. Họ đã phản đối các công ty của Ấn Độ và Nga tham gia khai thác dầu khí tại Biển Đông.

Để hiểu được chiến lược của Trung Quốc tại khu vực biên giới, thì hoạt động của họ tại Biển Đông cần được xem xét kỹ lưỡng. Tại Biển Đông, Trung Quốc trước tiên sử dụng chiến lược Chống tiếp cận và Phong tỏa khu vực (A2AD) đối với chuỗi đảo thứ nhất và mở rộng nó tới chuỗi đảo thứ hai.

Chiến lược này dựa trên việc trang bị các loại tên lửa chống hạm, các loại vũ khí khác và tàu sân bay. Nổi bật trong cho các hành động hiếu chiến của Trung Quốc sự kiện gần đây liên quan đến vụ đụng độ gữa Tàu Trung Quốc và Philippines tại bãi đá ngầm Scarborough.

Năm ngoái, Trung Quốc đã cắt cáp tàu thăm dò khoa học của Việt Nam. Đường lưỡi bò mà họ đưa ra cho thấy rằng gần 90% Biển Đông thuộc về Trung Quốc. Nỗ lực giải quyết tranh chấp không mang lại hiệu quả nào đáng kể. Tuyên bố của Trung Quốc là dựa trên lịch sử có lựa chọn. Trong vụ bãi đá ngầm Scarborough, tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc dựa trên bản đồ thế kỉ 13 khi Trung Quốc bị cai trị bởi đế chế Mông Cổ.

Tuy nhiên, một nhà buôn và là nhà địa lý A rập ở thế kỷ 10 Al-Masudi đã đề cập đến Biển Chăm và thương mại giữa đế chế Champa và Luzon (Philippines). Hơn nữa, trong khi Trung Quốc phản đối các hiệp định bất bình đẳng mà các đề quốc thực dân áp đặt, thì họ chỉ ra rằng hiệp định Paris năm 1896 không trao Scarborough cho Philippines.

Với Ấn Độ, một nỗ lực tương tự đang được tiến hành. Các phương tiện thông tin chính thống của Trung Quốc đã bắt đầu coi Arunachal Pradesh là Nam Tây Tạng. Bản đồ của Trung Quốc thường coi Sikkim là một quốc gia độc lập. Sự gây hấn về đồ bản sẽ tiếp diễn và với với phối hợp tuyên truyền của 13 bộ ngành, vấn đề này có thể sẽ gia tăng. Việc đưa ra có lựa chọn những chứng cứ lịch sử và đường biên được vạch ra trước đó sẽ tiếp tục.

Bên cạnh đó, Trung Quốc đã làm đường, xây dựng mạng lưới đường sắt dọc biên giới bên phần đất của họ và đã triển khai tên lửa ở khu vực Delinga, có thể tiêu diệt các mục tiêu tại vùng Đông Bắc Ấn Độ. Điều này giúp Trung Quốc thực thi mạnh mẽ chiến lược tương tự A2AD. Với lực lượng quân đội đồn trú tại khu vực Kashmir do Pakistan kiểm soát và mạng lưới quân đội thiết lập tại khu vực biên giới, hiện nay Trung Quốc đang giành ưu thế để thực thi các hành động gây hấn đối với Ấn Độ.

Các ngôn từ chống Ấn Độ đã được sử dụng với mức độ lớn hơn, mạnh mẽ hơn. Các bài viết đăng trên Thời Báo Hoàn Cầu-phản ánh rõ thái độ cứng rắn của Trung Quốc đối với khu vực Arunachal Pradesh.

Phải thừa nhận rằng sự phản ứng của Ấn Độ là nguyên nhân khuyến khích Trung Quốc có thái độ khiêu khích như vậy đối với Ấn Độ. Ấn Độ đang theo đuổi chính sách “kiểm soát Trung Quốc” bằng cách tránh đối đầu và che dấu các vụ xâm nhập của Trung Quốc. Trên thực tế điều này đi ngược lại với lợi ích Ấn Độ.Trung Quốc có thể coi đây là sự thừa nhận ngầm của Ấn Độ đối với tuyên bố chủ quyền của họ.

Ấn Độ đã thực thi chính sách không cử người từ hai khu vực Arunachal Pradesh, Jumu và Kashmir đi công tác tại Trung Quốc. Bất cứ khi nào Trung Quốc phản đối các thành viên trong các đoàn chính thức như vậy, Ấn Độ liền loại bỏ họ ra. Trung Quốc có thể cho rằng Ấn Độ thừa nhận rằng các khu vực trên ít nhất đang bị tranh chấp.

Điều này có thể gửi đi một thông điệp sai đối với Trung Quốc. Trung Quốc đã dự định thành lập một văn phòng ngoại giao tại Bhutan để cho thấy quan hệ đặc biệt giữa Ấn Độ với quốc gia này không được Trung Quốc thừa nhận.

Ấn Độ phải thay đổi chiến lược của mình để đối phó với Trung Quốc. Chính sách cái gọi là “kiểm soát Trung Quốc” trên thực tế càng khuyến khích Trung Quốc có thái độ thù địch với Ấn Độ. Thời cơ đã đến để nói với Trung Quốc rằng Ấn Độ không còn nhường nhịn nữa.

Ấn Độ phải cho thấy rõ rằng các vụ xâm nhập vào lãnh thổ Ấn Độ sẽ không thể chấp nhận được và Ấn Độ sẽ cử người từ bất kỳ vùng nào tham gia vào các phái đoàn chính thức Ấn Độ thăm Trung Quốc. Bên cạnh đó, sự chuẩn bị về quốc phòng phải được tiến hành đồng bộ để có thể tạo thế răn đe đối với Trung Quốc để bảo vệ vững chắc lợi ích của chúng ta.

Đồng thời, Ấn Độ nên duy trì quan hệ gần gũi với các quốc gia tại khu vực Biển Đông để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình. Chúng ta có cả lợi ích chiến lược và thương mại ở khu vực này. Ngài Brijesh Mishra, nguyên Cố vấn An ninh Quốc gia và Đặc phái viên về đàm phán biên giới Ấn-Trung đã kêu gọi thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ để ngăn chặn Trung Quốc.

Thực tế đã nhìn nhận thấy điều này, do đó theo đề xuất của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta về vấn đề này gần đây là cần phải được khai thác triệt để. Lợi ích địa kinh tế của Ấn Độ đòi hỏi rằng nước này phải chú ý về về lợi ích địa chiến lược tại khu vực Biển Đông. Lợi ích thương mại của Ấn Độ chỉ có được bảo vệ khi họ có ảnh hưởng trong thực sự trong khu vực đó.

Học giả Trung Quốc kêu gọi từ bỏ 'ngoại giao pháo hạm'

(BÁO ĐẤT VIỆT) - Trong động thái hiếm gặp ở tờ China Daily hôm 6/7, chuyên gia quan hệ quốc tế Chu Hạo lưu ý rằng tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông đã ảnh hưởng tới hình ảnh của Trung Quốc trong khu vực Đông Nam Á kể từ năm 2010.

Chu Hạo là một học giả nghiên cứu về khu vực Đông Nam Á tại Viện Quan hệ quốc tế đương đại ở Bắc Kinh Trung Quốc.

Ông Chu khẳng định sử dụng vũ lực để chống lại Việt Nam và Philippines sẽ chỉ đẩy cả ba nước này và hầu hết các nước thành viên ASEAN khác xích lại gần phương Tây.

Chiến hạm Trung Quốc trên Biển Đông. Ảnh Phantom Report

"Cuối cùng, điều này sẽ dẫn tới việc nỗ lực ngoại giao ở khu vực Đông Nam Á trong nhiều thập kỷ qua của Trung Quốc trở thành vô nghĩa", bài viết trên China Daily dẫn lời ông Chu.

Ông Chu phân tích những biện pháp ngoại giao quá khích sẽ ảnh hưởng tới hình ảnh một cường quốc có trách nhiệm trong khu vực Đông Nam Á và “Trung Quốc sẽ phải đối mặt với sự khủng hoảng lòng tin từ các nước”.

“Mỹ đang quay trở lại Châu Á và ủng hộ Việt Nam và Philippines, họ sẽ đưa việc tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông thành vấn đề tranh chấp giữa Trung Quốc và ASEAN. Trung Quốc cần phải xử lý đúng đắn các tranh chấp ở Biển Đông và mối quan hệ giữa Trung Quốc - ASEAN theo luật pháp quốc tế”, chuyên gia họ Chu nói.

Ông cũng lưu ý việc một số thành phần cực đoan kêu gọi việc sử dụng vũ lực và từ bỏ mối quan hệ hợp tác với ASEAN sẽ “chỉ làm xấu thêm hình ảnh của Trung Quốc”.

Theo ông Chu, nếu Trung Quốc chấp thuận nguyên tắc "gác tranh chấp và tìm kiếm phát triển chung" ở Biển Đông, các nước trong khối ASEAN sẽ hoan nghênh điều này.

“Nếu tiếp tục chính sách ngoại giao pháo hạm, sự phát triển của Trung Quốc sẽ bị cho là mối đe dọa với nhiều nước khác. Không tỉnh táo thì Biển Đông sẽ là cái bẫy giam hãm Trung Quốc”, ông Chu nói.

Chu cũng nói rằng không nên đánh giá quá cao tầm ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực Đông Nam Á. Trung Quốc cũng không thể mong đợi các quốc gia Đông Nam Á hành động chống lại ý muốn của Washington. Vì vậy, Trung Quốc nên từ chối những lời kích động sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp.


Theo VTC News

8/7/12

Báo chí Trung Quốc vạch mặt giới cầm quyền Bắc Kinh trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông

(Biển Đông. net) - Lâu nay giới cầm quyền Bắc Kinh thường lớn tiếng rêu rao có “chủ quyền không thể tranh cãi” ở “Nam Hải” tức Biển Đông (tên quốc tế là “Biển Nam Trung Hoa”). Trung Quốc còn trắng trợn và ngang ngược đưa ra “đường chính khúc” (thường gọi là “đường lưỡi bò”) mà họ đơn phương và phi pháp vẽ trên bản đồ về Biển Đông, coi đó là “đường ranh giới” trên biển của Trung Quốc, vùng nước trong phạm vi đường ranh giới này là “nội thủy” của Trung Quốc.v.v… Việt Nam, Philippines và các nước ASEAN khác đã mạnh mẽ và kiên quyết bác bỏ quan điểm phi pháp và ngang ngược đó của Trung Quốc. Dư luận báo chí trên thế giới bao của Việt Nam và các nước ASEAN đã nhiều lần lên tiếng bác bỏ và vạch trần các thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh.


Điều đáng nói là ngay chính các học giả Trung Quốc cũng có một số người nhận rõ sự phi lý và sai trái trong các luận điểm của Bắc Kinh. Một bài báo đăng trên mạng “Hoàn Cầu” của Trung Quốc đã đưa ra các quan điểm trái ngược với chủ trương của Bắc Kinh, gây sự chú ý của dư luận quốc tế.

Bài báo có tựa đề “Bắc Kinh không phải là quá mềm mà là quá cứng ở Nam Hải” (tức Biển Đông). Bài báo dài khoảng 2000 chữ Hán, nội dung đề cập tới các vấn đề xung quanh tranh chấp của Trung Quốc với các nước láng giềng Việt Nam, Philippines, Malaysia ở Biển Đông.

Về vấn đề lịch sử hình thành yêu sách của Trung Quốc về đường 9 khúc (đường lưỡi bò), tác giả bài viết vạch ra rằng: “vào thập niên 30 của thế kỷ 20, đó là 10 năm hoàng kim của Chính phủ Trung Hoa dân quốc đang thống trị ở Trung Quốc. Một số chuyên gia là những lưu học sinh học tập tại các nước Anh, Mỹ, Pháp, Nhật trở về nước đem theo các tấm bản đồ của nước ngoài vẽ về khu vực biển Nam Trung Hoa. Với ý thức mở rộng lợi ích cho dân tộc Trung Hoa, họ đã tùy tiện đặt tên Trung Quốc cho các các hòn đảo trên Biển Đông. Một số chuyên gia ở trong nước thì nghĩ ra cách khác là lục tung đống sách cổ rồi cố tìm trong đó những tư liệu, từ đời Minh Thanh ngược lên đến đời Đường Tống, từ chính sử tới dã sử. Họ lần theo hành trình thám hiểm Tây dương của Thái giám Tam bảo Trịnh Hòa rồi từ những ghi chép đó họ vạch ra một vùng biển cách rất xa Trung Quốc, tới tận một bãi đá ngầm mà quốc tế ghi là James Shoal, chỉ cách lãnh thổ Malaysia có 80 km, cách Tam Á Hải Nam Trung Quốc đến 800 km. Năm 1935, Chính phủ Trung Hoa dân quốc đã đặt tên cho bãi ngầm đó là “Tăng Mẫu” và tuyên bố đó là lãnh thổ cực Nam của Trung Hoa dân quốc, kèm theo đó họ cũng vạch 1 đường “9 đoạn”, nói đó là ranh giới trên biển của Trung Quốc”. Bài báo nhấn mạnh: vào thời kỳ đó, Trung Quốc chưa có đủ năng lực tiến hành đo đạc để xác định đường ranh giới trên biển và cũng chẳng hiểu biết được bao nhiêu về vấn đề hải dương, chẳng qua là họ chỉ căn cứ trên sổ sách do ông tổ Trịnh Hòa để lại. Họ còn tuyên bố là lãnh thổ do ông tổ để lại thì con cháu phải giữ bằng được. Chính phủ Bắc Kinh sau khi giành được chính quyền, thấy việc làm của Chính phủ Quốc dân đã tạo cho mình điều kiện quá dễ dàng, nên đã nghiễm nhiên kế thừa đường ranh giới 9 khúc đó, con đường này đã về tới tận cửa ngõ nhà người ta, vẽ đến bãi Tăng Mẫu (James Shoal), nếu còn vẽ tiếp nữa thì vùng biển phía Đông của Malaysia cũng sẽ trở thành lãnh thổ của Trung Quốc.

Bài báo viết một cách châm biếm: “Nam Hải quá rộng, khoảng cách giữa các hòn đảo cũng tương đối xa, mặc dù được gọi là biển Nam Trung Hoa nhưng điều này không có nghĩa Nam Hải là một cái ao nhà của họ, nếu cứ hiểu theo cách đó thì chẳng lẽ Ấn Độ Dương là vùng biển của riêng Ấn Độ hay sao?”

Bài báo nhận xét: Việc vạch ra một ranh giới trên biển bao gồm hầu như toàn bộ diện tích biển Nam Trung Hoa, xem ra có vẻ không thông về mặt địa lý. Vì thế đến những năm 90 của thế kỷ trước, Bắc Kinh đã đơn phương tiến hành đo đạc rồi dựa vào đó công bố đường cơ sở thuộc hải phận Trung Quốc ở Nam Hải. Họ đã chơi trò tiểu xảo, chỉ công bố các điểm nối đường cơ sở mà không công bố bất cứ số liệu nào làm cơ sở cho việc định ra đường cơ sở đó. Trước sự ồn ào phản đối của các nước ven biển Nam Hải, Bắc Kinh giở giọng đe dọa “Nếu các vị không coi hải quân của chúng tôi ra gì thì xin mời cử tàu thuyền đến, nhưng vấn đề an toàn thì e là …”

Từ những phân tích trên, tác giả bài báo rút ra nhận xét: từ Chính phủ Nam Kinh thời Trung Hoa dân quốc cho đến Chính phủ Bắc Kinh hiện nay đều chung quan điểm coi “đường 9 khúc” là ranh giới trên biển của Trung Quốc. Xem ra những người đưa ra chủ kiến này “không những có óc tưởng tượng phi thường, mà còn phải có thái độ gian tà tới tột đỉnh”.

Về vấn đề chính sách và thái độ cư xử của Trung Quốc đối với các nước ven Biển Đông đang có tranh chấp về chủ quyền ở Biển Đông, bài báo đưa ra nhận định: “Các nước ASEAN (Việt Nam, Philippines, Malaysia) đã tiến hành khai thác dầu khí ở một số khu vực trên Biển Đông. Đa số các nước này đều không có khả năng tự khoan dầu khí ngoài khơi nên đều tiến hành hợp tác với các công ty của các nước Âu, Mỹ để khai thác”. Trước thực tế đó, Bắc Kinh không hề tỏ thái độ mềm yếu mà là rất cứng rắn. Họ đã tiến hành một loạt các biện pháp như thành lập thành phố Tam Sa; cho tàu chiến, máy bay của hải quân hoạt động ngày đêm nhằm ngăn cản, quấy rối các hoạt động khai thác dầu khí của các nước láng giềng, làm cho các hoạt động này không thể tiến hành yên ổn. Mặt khác, các tập đoàn dầu khí Trung Quốc như CNPC và Sinopee đã liên kết với nhau tìm cách gây sức ép tối đa lên các công ty dầu khí của các nước Âu, Mỹ, ngăn cản họ hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam, Philippines…” Bài báo nhận xét “các hành động này diễn ra thường xuyên, liên tục, không phải chỉ trong 1 ngày, 2 ngày. Việc quấy nhiễu diễn ra 1 lần thì chưa có gì đáng kể nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần thì chẳng còn đạo lý trời đất gì nữa”. Về chính sách của Trung Quốc đối với các nước ASEAN trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, tác giả bài báo viết: “Từ trước đến nay, đối với các quốc gia như Malaysia, Brunei, Trung Quốc đã đưa bút vạch ranh giới lãnh thổ trên biển của mình tới sát cửa ngõ nhà người ta, rồi tìm cách phân hóa Mianma, Thái Lan, Cămpuchia, bóp nghẹt Philippines, từng bước tiến tới nuốt chửng Việt Nam”.

Bài viết nói trên của học giả Trung Quốc đã nói lên một phần sự thật, vạch rõ tính chất phi lý, phi pháp trong quan điểm, lập trường của giới cầm quyền Bắc Kinh đối với các tranh chấp ở Biển Đông. Chắc chắn sẽ ngày càng có nhiều học giả và nhà nghiên cứu Trung Quốc nhìn rõ sự thật và lên tiếng phản bác lại quan điểm và lập trường cực kỳ sai trái và hết sức phi lý, phi pháp của Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông./.

Mai Long

Trung Quốc và lá bài UNCLOS

(Pháp luật TP.HCM) - Trung Quốc lại đang cố tình diễn giải một cách sai lệch những điều khoản được ghi trong luật sao cho có lợi nhất cho mình, mà Luật Biển Liên Hiệp Quốc 1982 (UNCLOS) là một trong những ví dụ tiêu biểu. 
 
No U

Trung Quốc, với sự thèm khát tài nguyên cũng như với sức mạnh của một cường quốc đang trỗi dậy, đã và đang tiến hành những bước đi nhằm hiện thực hóa tham vọng chủ quyền và lãnh thổ của mình. Ngoài các kiểu “sức mạnh cứng” thường thấy từ quân sự, bán quân sự cho đến ngoại giao và kinh tế, Bắc Kinh còn sử dụng các định chế pháp luật như một thứ “quyền lực mềm” nhằm nâng cao tiếng nói cũng như tính “hợp pháp” của mình tại các khu vực tranh chấp.

Mơ hồ “vùng nước lịch sử”

Một trong những cơ sở chính để Trung Quốc có thể xác định chủ quyền của mình tại các vùng tranh chấp đó chính là khái niệm về “vùng nước lịch sử”. Khái niệm này không được đề cập trong UNCLOS, tuy nhiên nó được xác định thông qua thông lệ cũng như tập quán quốc tế. Theo đó, “vùng nước lịch sử” có các đặc điểm như sau: 1. Là vùng biển có cấu tạo địa lý đặc biệt, ăn sâu vào đất liền hoặc là một bộ phận gắn liền với lục địa; 2. Ở cách xa đường hàng hải quốc tế; 3. Có ý nghĩa quan trọng đặc biệt về chiến lược, quốc phòng, an ninh, kinh tế,… đối với quốc gia ven biển; 4. Về mặt lịch sử, quốc gia ven biển đã chiếm hữu, khai thác, sử dụng từ lâu đời mà không có nước nào phản đối. Chế độ pháp lý của vùng nước lịch sử là tương đương với chế độ pháp lý của nội thủy.

Các “vùng nước lịch sử” mà Việt Nam đã xác định từ trước đến nay đều tuân theo các quy tắc pháp lý này. Việt Nam hiện tại có hai “vùng nước lịch sử”. Thứ nhất chính là phần Vịnh Bắc Bộ thuộc phía Việt Nam và thứ hai là vùng nước nằm giữa bờ biển đảo Phú Quốc và quần đảo Thổ Chu của Việt Nam với bờ biển tỉnh Kampot và nhóm đảo Polovai của Campuchia. Trên thực tế, việc Trung Quốc miêu tả toàn bộ biển Đông, hay nói cách khác “đường lưỡi bò” là vùng nước lịch sử của Trung Quốc là không thể thuyết phục được cộng đồng quốc tế.

Bắc Kinh đã dựa vào Điều 4 ở trên. Theo Phó phòng Chính sách Đối ngoại thuộc Vụ Châu Á của Bộ Ngoại giao Trung Quốc Zheng Zhenhua thì “những hòn đảo trong khu vực đã có người Trung Quốc sinh sống từ thời Đông Hán (năm 23 tới năm 220 sau Công nguyên)” và rằng “người Trung Quốc đã thiết lập một kiểu chính phủ “giống với hiện tại” từ thời Tống (năm 420 tới năm 478 sau Công nguyên) “như là một bằng chứng cho chủ quyền không thể chối cãi của Trung Quốc” đối với những khu vực mà nước này yêu sách tại biển Đông. “Các quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi Tây Sa) và quần đảo Trường Sa (Trung Quốc gọi Nam Sa) đã nằm dưới quyền tài phán của khu vực hành chính mà nay thành tỉnh Quảng Đông”. Về chi tiết “không có nước nào phản đối”, Bắc Kinh cho rằng từ năm 1947 và qua suốt những năm của thập niên 1960, không có quốc gia nào, bao gồm cả Hoa Kỳ, “từng nêu câu hỏi hoặc nghi ngờ về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Với những luận điệu trên đây, về thực chất Trung Quốc vẫn không có bất cứ một dẫn chứng cụ thể nào để chứng minh cho lập luận của mình, đặc biệt là về dẫn chứng lịch sử. Họ dựa vào những câu nói trong các tác phẩm lịch sử cổ để lại. Tuy nhiên, ngôn từ trong những tác phẩm đó rất mơ hồ và nhiều khi cũng bị làm cho sai lệch về ý nghĩa hay thêm thắt câu chữ, khiến cho người không am hiểu dễ bị lầm tưởng. Về viện dẫn không có nước nào phản đối, trên thực tế, ngày từ Hội nghị San Francisco tháng 9-1951, không một quốc gia tham gia hội nghị nào đồng ý trao trả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc cả và kể từ khi “đường lưỡi bò” được Bắc Kinh đưa ra thì ngay sau đó Việt Nam và một số nước ASEAN như Philippines và Indonesia đều đã gửi công hàm phản đối lên Liên Hiệp Quốc. Điều này trái ngược hoàn toàn với viện dẫn trước đó của Trung Quốc. Ngoài ra, khái niệm “vùng nước lịch sử” cũng hoàn toàn không nằm trong các khái niệm của UNCLOS mà Trung Quốc đã tham gia.

UNCLOS diễn dịch “kiểu Trung Quốc”

Không chỉ đưa ra các tuyên bố đầy mâu thuẫn và không có cơ sở vững chắc, Trung Quốc còn tận dụng những kẽ hở và sự không rõ ràng trong UNCLOS để tuyên bố chủ quyền của mình. Theo những nội dung quy định trong UNCLOS về lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) mà Việt Nam cũng như các nước khác đã thông qua, nếu các quốc gia khác muốn thực hiện “quyền đi lại không gây hại” trên lãnh hải của quốc gia ven biển thì cần xin phép, còn đối với EEZ thì các quốc gia khác được hưởng các quyền tự do hàng hải và hàng không, cùng một số quyền hợp pháp khác theo đúng quy định của UNCLOS mà không cần phải xin phép, trừ các hành động không được cho phép theo luật định như khai thác tài nguyên hay nghiên cứu khoa học...

Tuy nhiên, trong tham vọng bành trướng của mình, Trung Quốc đã cố tình yêu sách về chủ quyền với EEZ như đối với lãnh hải. Cụ thể, Trung Quốc đã tước đi quyền tự do hàng hải của các quốc gia khác trên vùng đặc quyền kinh tế rộng 880.000 km2 của nước này khi tuyên bố các quốc gia khác cần phải xin phép Trung Quốc để được thực hiện “quyền tự do hàng hải” qua vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Đây là hành động vi phạm các điều luật của UNCLOS một cách nghiêm trọng và là nguyên nhân của vụ va chạm giữa tàu Impeccable của Mỹ và tàu Trung Quốc vào năm 2009.

Trong khi yêu sách về chủ quyền với EEZ đã xâm phạm tới quyền tự do hàng hải của các nước khác thì việc Trung Quốc cố tình diễn giải sai lệch về chế độ các đảo lại đe dọa cướp đi các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia khác tại biển Đông. Cùng với việc tuyên bố chủ quyền với các đảo và quần đảo trong “vùng nước lịch sử”, Trung Quốc còn yêu sách cho tất cả đảo, đá và quần đảo của mình có đầy đủ chế độ của lãnh thổ đất liền.

Theo đó, tất cả đảo, đá và quần đảo của Trung Quốc đều có lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế EEZ mà không phân biệt đảo, đá đó phù hợp quy định chế độ đảo của UNCLOS hay không. Theo UNCLOS, chỉ những đảo phù hợp cho con người đến ở và có đời sống kinh tế riêng mới được hưởng chế độ pháp lý của đảo như lãnh thổ đất liền. Còn về quần đảo thì UNCLOS không diễn giải. Nhưng điểm đáng lo ngại ở đây là nếu trong vùng đặc quyền kinh tế của các đảo đó có một đảo khác thì đảo này sẽ thuộc chủ quyền của Trung Quốc và lại tiếp tục được hưởng chế độ pháp lý đảo như lãnh thổ đất liền. Việc “nối chủ quyền” này đã dẫn tới kết quả là không chỉ những đảo của các nước khác nằm trong khu vực 200 hải lý xung quanh các đảo của Trung Quốc sẽ bị Trung Quốc coi là đảo của mình một cách trắng trợn, hơn thế nữa ranh giới “đường lưỡi bò” cũng sẽ được mở rộng hơn 80% biển Đông và thậm chí chỉ cách một số bờ biển của các nước Philippines, Việt Nam… vài chục kilomet.

Cùng với yêu sách chủ quyền trên EEZ như ở trên thì sau này, nếu Trung Quốc chiếm được biển Đông thì các yêu sách này sẽ gây ra rất nhiều khó khăn cho các nước khác. Lúc đó, bất cứ một quốc gia nào đi qua biển Đông sẽ phải xin phép Trung Quốc và biết đâu, với tham vọng vô bờ bến của mình, Trung Quốc sẽ còn thu phí hàng hải trên biển Đông. Không chỉ dừng lại ở đó, nếu Trung Quốc và các nước trong khu vực xung đột thì thậm chí Trung Quốc có thể cấm các nước này lưu thông qua EEZ của mình và biển Đông sẽ bị khóa chặt. Các tuyến giao thông hàng hải của Việt Nam và các nước khác qua biển Đông sẽ phải đóng cửa và thậm chí là cả đường hàng không.

Trung Quốc có thể diễn giải sai lệch về chế độ các đảo là do Điều 121 của UNCLOS chỉ quy định về đảo chứ không có quy định về quần đảo. Thứ hai là do sự thiếu thống nhất của các nước về việc xác định thế nào là bãi đá và thế nào là đảo. Có thể thấy rằng có nhiều điểm mâu thuẫn giữa chính luật nội địa của Trung Quốc và luật pháp quốc tế, cũng như giữa những tuyên bố và hành động của Bắc Kinh.

Học giảTRƯƠNG THỬ QUANG, Chủ tịch Hội đồng Học thuật - Viện Nghiên cứu Kinh tế Thiên Tắc, GS Viện KHXH Trung Quốc:

"Đường lưỡi bò" là phi lý! (*)

Đường chín đoạn không hề có chỗ dựa (căn cứ) về pháp luật! Trong nước có các nhà luật học, cả các đồng nghiệp ở Đài Loan cũng có chung nhận thức như thế. Hồi đó, các nước ven bờ có nước còn chưa độc lập, nó chỉ do Trung Quốc đơn phương tuyên bố mà thôi.

Tôi cho rằng vấn đề chủ yếu nhất trong nội hàm của “Công ước Biển LHQ” là phân định và bố cục lại vùng biển, để mỗi quốc gia ven biển đều có thể có 200 hải lý (hoặc vùng biển tương đối rộng rãi), Thềm lục địa và vùng biển kinh tế thuận tiện cho các nước khai thác, sử dụng và quản lý biển, để toàn nhân loại đều hướng tới con đường cùng nhau giàu có.

Đó cần phải là căn cứ cơ bản để chúng ta và các nước xung quanh giải quyết tranh chấp Nam Hải. Nước ta là quốc gia đã ký Công ước Biển LHQ thì chúng ta cần phải xử lý mọi việc theo tinh thần Công ước, tỏ cho thiên hạ thấy sự thành tín của mình.

TS (Trích tại Hội thảo Tranh chấp biển Đông, chủ quyền quốc gia và quy tắc quốc tế ngày 14-6, theoTiền Phong)

(*) Tựa do tòa soạn đặt

VŨ THÀNH CÔNG - NGUYỄN THẾ PHƯƠNG
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...