Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

31/7/12

Thêm 7 bản đồ của Nhật chỉ rõ cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam

(Báo Giáo dục Việt Nam) - Bên cạnh 8 bản đồ của Trung Quốc khẳng định đảo Hải Nam là cực nam của đất nước này, Ths. Chử Đình Phúc (Viện Trung Quốc, thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam) đã cung cấp thêm 7 bản đồ khác của Nhật Bản có cùng nội dung trên. 
 
 
Bản đồ “Nhị kinh thập bát tỉnh tổng đồ” trong sách "Thanh nhị kinh thập bát tỉnh cương vực toàn đồ" của tác giả Đông Điều Văn Tả Vệ Môn do Nhật Bản Gia Vĩnh tam niên khắc bản năm 1850

 “Quảng Đông toàn đồ” trong sách "Thanh nhị kinh thập bát tỉnh cương vực toàn đồ" của tác giả Đông Điều Văn Tả Vệ Môn do Nhật Bản Gia Vĩnh tam niên khắc bản năm 1850.
 
 
“Đại Thanh quốc toàn đồ” trong sách “Đại Thanh đế quốc phân tỉnh tinh đồ” của tác giả Y Điền Hùng Phủ,  do Nhà xuất bản Đông Kinh (Tokyo), Phú Sơn Phòng thư cục tháng 5/ 1907 (tức năm Nhật Bản Minh Trị tứ thập niên ngũ nguyệt).
 

 Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam là đảo Hải Nam trong sách “Đại Thanh đế quốc phân tỉnh tinh đồ”.


Bản đồ "Thanh quốc đại địa đồ Cánh mạng (Tân Hợi) động loạn địa điểm chú". Bản đồ này do Đại Bản (Osaka) Nhật Bản Tinh Bản ấn loát hợp tư hội xã phát hành năm 1912 (tức Minh Trị tứ thập tứ niên). Hiện nay bản đồ đang được lưu trữ tại Thư viện Đại học California tại Berkeley (Hoa Kỳ).
 
 
Phóng to hình vị trí đảo Hải Nam ở cuối bản đồ "Thanh quốc đại địa đồ Cánh mạng (Tân Hợi) động loạn địa điểm chú". 
 
 
Bản đồ “Đại lục hình thế đồ” trong sách “Trung Quốc địa đồ sách” xuất bản năm 1939 của tác giả Tùng Điền Thọ Nam cũng xác định cực Nam Trung Quốc đến hết đảo Hải Nam. 
 
 
Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam là đảo Hải Nam trong sách “Trung Quốc địa đồ sách” của tác giả Tùng Điền Thọ Nam được xuất bản năm 1939. 
 
Thảo Lăng

Nhiều bản đồ khẳng định TQ không có Hoàng Sa, Trường Sa

(Báo Giáo dục Việt Nam) - Cực nam lãnh thổ Trung Quốc dừng lại tại Nhai Châu (tận cùng của đảo Hải Nam) ở 18 độ 21 phút 36 giây vĩ bắc. Hoàng dư toàn lãm đồ, công trình do chính hoàng đế Khang Hi thứ 58 chủ trì, hoàn thành năm 1719, ghi rõ.

Tiến sĩ Mai Hồng giải thích cho người xem nội dung chữ Hán cổ trên bản đồ của Trung Quốc năm 1904 mà ông đã hiến tặng Bảo tàng Lịch sử quốc gia sáng 25-7 - Ảnh: Việt Dũng

Là người thống kê, thu thập (bao gồm bản gốc, ảnh minh họa, phó bản...) hơn 180 địa đồ (bản đồ), trong đó có khoảng 50 tấm địa đồ chứng minh chủ quyền biển đảo Việt Nam, nhà nghiên cứu Hán - Nôm Phạm Hoàng Quân chia sẻ: Địa đồ hành chính toàn Trung Quốc được soạn vẽ hoàn chỉnh bắt đầu từ thời Tống. Chúng được khắc trên các phiến đá lớn, loại được soạn vẽ trên lụa, giấy hoặc in trên giấy còn lại đến nay được biết bắt đầu từ triều Minh, nhiều nhất là thời nhà Thanh.
"Chúng ta phải đặc biệt phân biệt địa đồ hành chính Trung Hoa và địa đồ hành chính thế giới, tuy hai loại này cùng do người Trung Quốc thực hiện nhưng ý nghĩa khác nhau rất xa. Mức độ ưu tiên trong nghiên cứu dĩ nhiên nằm ở loại nội dung thứ nhất - địa đồ hành chính Trung Hoa, vì chúng thể hiện rõ quan điểm của các triều đại đối với đất đai cương giới mà nhà nước phong kiến Trung Hoa quản lý"
Nhà nghiên cứu Hán - Nôm Phạm Hoàng Quân
* Cụ thể một số tấm địa đồ hành chính Trung Hoa trong đó người Trung Quốc không hề nhận Trường Sa, Hoàng Sa là của họ như thế nào, thưa ông?
- Trong thời nhà Thanh, đa số các bức địa đồ hành chính Trung Hoa thể hiện đúng phạm vi cương vực Trung Hoa. Ngoài bức Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ, còn rất nhiều bức khác như Hoàng dư toàn lãm đồ 1719, Khang Hi thứ 58. Công trình này do chính hoàng đế Khang Hi chủ trì, các giáo sĩ Joachim Bouvet (Bạch Tấn), Petrus Pierre Jartoux (Đỗ Đức Mỹ), Jean Baptiste Regis (Lôi Hiếu Tư), Xavier Ehrenbert Fridelli (Phí Ẩn)... thực địa trắc hội và tư vấn. Địa đồ này được in khắc bản đồng, một màu, song ngữ Hán - Mãn. Họ quan trắc thực địa, ứng dụng kỹ thuật xác định điểm thiên văn ba góc, trắc lượng kinh vĩ độ toàn quốc 641 điểm, tại Quảng Đông 37 điểm, cực nam lãnh thổ Trung Quốc dừng lại tại Nhai Châu (tận cùng của đảo Hải Nam) ở 18 độ 21 phút 36 giây vĩ bắc.

Bắt đầu từ năm 1708, đến năm 1718 họ hoàn thành các bản vẽ. Từ bản vẽ này hình thành ba bản khắc: bản đồng 41 mảnh tiếp hợp, mỗi mảnh 52,5 x 77cm (năm 1719 chế xong); bản gỗ 32 mảnh phân theo tỉnh và khu vực (1719); bản gỗ 227 phiến thu nhỏ, phân tỉnh, phủ. Năm Ung Chính thứ 6 (1728) đưa vào tùng thư Cổ kim đồ thư tập thành (cuốn 101), đây là bản thu nhỏ của Hoàng dư toàn lãm đồ.

Hoàng dư toàn lãm đồ là bức địa đồ đặc biệt quan trọng, là cơ sở nền tảng về tọa độ kinh vĩ cho hầu hết các địa đồ hành chính về sau, kể cả bức Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ 1904.

* Sở hữu những tấm bản đồ có giá trị lịch sử và pháp lý, theo ông, điều chúng ta cần chú ý là gì?

- Khi phân biệt một cách rõ ràng, chúng ta sẽ thấy rõ các kiểu lý giải gượng ép về một số địa đồ cổ của học giới Trung Quốc hiện nay, họ chỉ dựa vào hoặc đưa ra các bản đồ hành chính thế giới. Dĩ nhiên họ sẽ có vẽ và tiêu danh các đảo, cụm đảo trên biển Đông, nhưng việc này không có ý nghĩa xác lập chủ quyền của nhà nước Trung Hoa.

Mặt khác, khi phân biệt một cách rõ ràng, học giới Việt Nam sẽ thuận tiện khi cho các thông tin và trưng dẫn một cách chính xác trong việc sử dụng địa đồ cổ Trung Quốc vào các lập luận.

Cuối cùng, chúng ta sẽ thấy rằng suốt quá trình lịch sử, việc soạn vẽ địa đồ của các cơ quan công quyền, các học giả và các nhà du hành người Trung Hoa không có biểu hiện chiếm hữu các đảo, quần đảo trên biển Đông Việt Nam và biển Đông Nam Á.

Tiến sĩ Mai Hồng (trái) bàn giao tấm bản đồ cho đại diện Bảo tàng Lịch sử quốc gia sáng 25-7 - 
Ảnh: Việt Dũng

Cần công bố các bản đồ thể hiện chủ quyền quốc gia

Sáng 25-7, lễ tiếp nhận tấm bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ (NXB Thượng Hải 1904), chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc Trung Quốc, đã diễn ra tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia, số 1 Tràng Tiền, Hà Nội.

Tấm bản đồ này được TS Mai Hồng trao lại cho bảo tàng nhằm lưu giữ, bảo quản cẩn trọng, phục vụ nghiên cứu khoa học, đồng thời giới thiệu tới đông đảo công chúng trong nước và quốc tế.

Xúc động trước sự quan tâm của đông đảo người dân, TS Mai Hồng chia sẻ mong mỏi nhiều đơn vị như Bộ Ngoại giao, các đơn vị chủ chốt thuộc ngành hàng hải sẽ quan tâm hơn tới việc tuyên truyền, công bố các tấm bản đồ quan trọng, thể hiện chủ quyền quốc gia trên các website thuộc bộ hoặc dịch giới thiệu ra quốc tế. Tấm bản đồ hiện được trưng bày tại phòng trưng bày chuyên đề của bảo tàng.

Cứ liệu lịch sử quan trọng
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu:
Người dân cần biết những tri thức về chủ quyền
Tấm bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ có giá trị địa lý lịch sử. Bản đồ này được vẽ dưới thời nhà Thanh bằng kỹ thuật sử dụng hệ tọa độ kinh tuyến, vĩ tuyến của châu Âu.
Điểm đặc biệt của Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ là những địa danh Trung Quốc được ghi bằng chữ Hán, nhưng có xen vào những chỗ quan trọng được ghi bằng chữ Pháp. Chẳng hạn, giới hạn cực nam của biển Trung Quốc trên bản đồ này có ghi dòng chữ “Mer de Chine” (biển Trung Quốc) từ đảo Hải Nam trở lên phía trên. Đây cũng chính là giới hạn cuối cùng của biển Trung Quốc về phía nam.
Cùng loại với tấm bản đồ này, tôi có hơn một chục tấm bản đồ Trung Quốc được thực hiện trong nhiều thời kỳ, có bức từ thế kỷ 16, đều thể hiện cương vực của Trung Quốc về phía nam chỉ đến đảo Hải Nam.
Ý nguyện của tôi là trong tranh chấp chủ quyền biển đảo hiện nay nên giữ nguyên tắc “công lý và hòa bình”. Còn những tư liệu thể hiện rõ ràng chủ quyền của Việt Nam trong lịch sử thì nên dần dần đưa vào sách giáo khoa. Hiện nay học sinh đã kém về môn lịch sử, môn địa lý lịch sử lại càng kém.
Trong tranh chấp quốc tế, những bản đồ chính thống như Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ có giá trị quan trọng, khi mình đưa ra thì nó góp phần chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.

Ông Dương Trung Quốc - Ảnh: V.Dũng

Có mặt trong buổi lễ bàn giao bản đồ cổ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ, nhà sử học Dương Trung Quốc khẳng định: “Bản đồ được xem là một trong những tư liệu lịch sử, cho nên việc sưu tập bản đồ hết sức cần thiết trong công tác nghiên cứu nói chung, trong đó có những vấn đề liên quan đến chủ quyền.

Chúng ta biết rằng việc xây dựng được một tấm bản đồ chẳng hạn như bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ mang tính khoa học cao, do vậy cũng có tính thuyết phục cao”.

* Bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ đã góp thêm cứ liệu lịch sử hữu ích và chắc chắn còn nhiều cứ liệu có liên quan khác mà chúng ta chưa biết?


- Ngành bản đồ học đã phát triển từ rất lâu tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ngay Việt Nam chúng ta đều biết Đại Nam nhất thống toàn đồ vẽ năm 1834 đã có Hoàng Sa, Vạn lý Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, có thể với phương pháp vẽ tưởng như rất đơn giản nhưng lại rất rõ về chủ quyền.

Vị trí địa lý Việt Nam là khớp nối giữa hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, nằm trên một con đường hàng hải rất huyết mạch của thế giới, cho nên chúng ta phải quan tâm không những đến bản đồ của Việt Nam hay của Trung Quốc, mà còn là bản đồ của nhiều cường quốc về hàng hải khác khi thể hiện nội dung có liên quan. Có thể họ vẽ bản đồ không đề cập trực tiếp đến vấn đề chủ quyền, nhưng dẫu sao có những yếu tố mà qua đó chúng ta có thể nhận dạng được về vị trí địa lý của không gian biển đảo, của lãnh thổ quốc gia.

Còn về phía Trung Quốc, tôi tin đây là quốc gia mạnh về thư tịch học, những bản đồ của họ nằm rải rác rất nhiều hay được lưu trữ tại thư viện bản địa và nhiều nước trên thế giới. Tôi nghĩ ngay thư viện của ta cũng có, đặc biệt là kho lưu trữ của Thư viện Học viện Viễn Đông Bác Cổ, với những nguồn tư liệu được xây dựng từ cuối thế kỷ 19-20. Vấn đề là chúng ta đã khai thác được hết hoặc tập trung khai thác nhiều những tư liệu đang có chưa.

* Là một nhà sử học, ông cho rằng những chứng cứ học thuật như tấm bản đồ vừa được tìm thấy có ý nghĩa thế nào về mặt pháp lý?

- Cần thấy rằng việc đầu tư một cách bài bản cho việc sưu tập bản đồ không chỉ liên quan đến đấu tranh chủ quyền mà cả việc nhìn ra biển cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Về mặt pháp lý, theo nhận thức của tôi, biển là không gian rất đặc thù, khác với việc hoạch định đường biên giới ở đất liền. Hơn nữa, đường biên giới biển bên cạnh việc liên quan đến chủ quyền quốc gia còn liên quan đến quyền tự do hàng hải.

Việt Nam đã hiện diện ở biển Đông rất lâu rồi thì cuộc đấu tranh phân định chủ quyền phải dựa trên nhiều cơ sở: những cam kết quốc tế như công ước luật biển năm 1982 và những chứng cứ lịch sử, những tài liệu thư tịch trong đó có cả bản đồ.

Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã:
Nên đưa ra thế giới toàn bộ hồ sơ chủ quyền của VN
Việc đưa ra tấm bản đồ cổ có xuất xứ Trung Quốc trong lúc này có giá trị thông tin rất cao, khiến mọi người quan tâm, đặc biệt kể cả phía Trung Quốc.
Phải nói với bất cứ tài liệu cổ nào của Trung Quốc từ chính sử, dã sử, địa dư, bản đồ đều dễ dàng chứng minh được rằng Paracel tức Hoàng Sa hay Cát Vàng của Việt Nam mà Trung Quốc gọi là Tây Sa hay Xisha không hề thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc.
Riêng về bản đồ cổ của Trung Quốc thì đã rất nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam như TS Nguyễn Quang Ngọc từng phát hiện tại kho bản đồ ở Úc rất nhiều bản đồ cổ.
Luận án tiến sĩ của tôi (Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa) đã kể trong phụ lục hơn 10 bản đồ cổ của Trung Quốc vẽ cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam như: Dư địa đồ đời Nguyên vẽ lại thu nhỏ trong sách Quảng dư đồ năm 1561, Thiên hạ nhất thống chí đồ trong Đại Minh nhất thống chí năm 1461, Hoàng Minh đại nhất thống tổng đồ trong Hoàng Minh chức phương địa đồ năm 1635, Hoàng triều nhất thống dư địa tổng đồ năm 1894, Quảng Đông tỉnh đồ trong Quảng Đông dư địa toàn đồ năm 1897...
Tôi rất vui mừng khi biết thêm thông tin về một trong hàng trăm bằng chứng về Trung Quốc không hề có chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa. Tôi đề nghị phải thật quan tâm việc đưa ra thế giới toàn bộ hồ sơ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa theo đúng pháp lý quốc tế về chiếm hữu thật sự mang tính nhà nước các hải đảo.

Lam Điền/V.V.Thành/Nga Linh/Tuổi trẻ

Công bố thêm 8 bản đồ Trung Quốc không có Trường Sa, Hoàng Sa

( Báo Giáo dục Việt Nam) - 8 bản đồ được xuất bản trong nhiều năm (từ 1905 đến 1926) của Trung Quốc chỉ rõ đảo Hải Nam là cực nam của Trung Quốc. Các bản đồ này được sưu tầm từ nhiều cuốn sách cổ, kho dữ liệu điện tử... của Trung Quốc và Đài Loan, bởi Ths. Chử Đình Phúc (Viện Trung Quốc, Viện Khoa học xã hội Việt Nam). 
 
 
“Đại Thanh đế quốc” trong sách “Thanh đại địa đồ tập”, Thanh Quang Tự tam thập nhất niên (1905), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán biên ấn xuất bản,vẽ cực Nam Trung Quốc đến hết Hải Nam.
 
 
Bản đồ “Đại Thanh đế quốc”  trong sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, năm 1908 (tức Tuyên Thống nguyên niên, Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành .
 
 
 Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam là đảo Hải Nam, trong sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, năm 1908 (tức Tuyên Thống nguyên niên ), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành.
 
“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ”, trong sách “Trung Hoa tân hình thế nhất lãm đồ”của hai tác giả Thượng Ngu và Đồ Tư Thông do Thượng Hải Thế giới dư địa học xã phát hành năm 1926. Bản đồ vẽ cực Nam Trung Quốc đến tỉnh Hải Nam.
 
 
 Bìa cuốn sách “Trung Hoa tân hình thế nhất lãm đồ” của hai tác giả Thượng Ngu và Đồ Tư Thông, Thượng Hải do Thế giới dư địa học xã phát hành năm 1926.
 
 
“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” trong sách “Trung Hoa Dân quốc phân tỉnh địa đồ sách” xuất bản năm 1933.
 
 
“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” trong sách “Trung Hoa Dân quốc nhị thập tứ niên (1935) toàn quốc tỉnh khu”. Bản đồ chỉ rõ cực Nam Trung Quốc đến hết đảo Hải Nam.
 
 
“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ”, trong sách “Tối tân Trung Hoa hình thế nhất lãm đồ ” in năm 1935.
 
 
Bìa cuốn sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ” là cuốn sách chứa rất nhiều bản đồ của Nhà Thanh. Trong đó xác định đảo Hải Nam là cực nam của Trung Hoa. Sách in năm 1908 (tức Tuyên Thống nguyên niên), do Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành.
 
 
Bìa cuốn sách “Tối tân Trung Hoa hình thế nhất lãm đồ” in năm 1935.
 
Thảo Lăng

Trung Quốc bối rối trước bản đồ cổ của Việt Nam

(Báo Giáo dục Việt Nam) - Thông tin về bản đồ đời nhà Thanh không có Hoàng Sa, Trường Sa thu hút sự chú ý của dư luận Trung Quốc. Chính quyền im lặng nhưng cư dân mạng bàn luận rất sôi nổi.

Bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ do nhà Thanh xuất bản năm 1905.
 
Mấy ngày qua, trên các diễn đàn mạng Trung Quốc liên tục nổ ra tranh luận về Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ do nhà Thanh xuất bản năm 1905. Như nhiều báo Việt Nam đưa tin, tấm bản đồ thể hiện rõ biên giới phía Nam Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam là hết.

Đây là bằng chứng không thể chối cãi, có giá trị lịch sử, pháp lý để phản bác các tuyên bố sai trái lâu nay của Trung Quốc về 2 quần đảo của Việt Nam. Mới đây, tấm bản đồ vừa được TS Mai Hồng, nguyên Trưởng phòng Tư liệu Viện Hán Nôm, trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Sau đó, hàng loạt cơ quan truyền thông Trung Quốc, lớn có Đài Phượng Hoàng, mạng tin Sina, nhỏ có báo mạng Stockstar, mạng Tân Lãng, đều đăng lại thông tin về Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ. Theo thống kê, bản tin kèm video của Đài Phượng Hoàng và Sina tường thuật quang cảnh buổi lễ trao tặng nói trên đã thu hút gần nửa triệu lượt xem chỉ sau 2 ngày. Các báo đài này còn giới thiệu tỉ mỉ về tấm bản đồ cũng như dẫn lời TS Mai Hồng và các chuyên gia, học giả Việt Nam về giá trị, ý nghĩa của nó. Trong bản tin, Stockstar dùng cả tên Hoàng Sa và Trường Sa thay vì những cách gọi ngụy xưng Tây Sa, Nam Sa.

Đến nay, chính quyền và giới học giả Trung Quốc vẫn im lặng về vấn đề trên nhưng các cư dân mạng nước này bàn luận rất sôi nổi. Một số người Trung Quốc thừa nhận rằng với nội dung bản đồ như vậy thì đúng là Trường Sa, Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Một số khác vẫn còn ngờ vực và đề nghị tìm kiếm thêm các bản đồ cũ hơn nữa của Trung Quốc để đối chiếu. Tuy nhiên cũng có một bộ phận ngạo mạn thách thức: “Trên thế giới này có ai dám cùng Trung Quốc chơi lịch sử nào?”. Một số khác cho rằng việc Việt Nam đòi chứng minh chủ quyền bằng bản đồ là “ngụy tạo bắt chước những gì Hàn Quốc từng làm đối với tranh chấp đảo đá Ieodo/Tô Nham Tiêu”… 
 
Bản tin về bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ trên Đài Phượng Hoàng.

Đủ cách “đầu độc”


Sở dĩ vẫn còn những ý kiến mù quáng phản bác một bằng chứng rõ ràng như Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ là do chính quyền Trung Quốc trong một thời gian dài đã tiêm nhiễm dư luận về “chủ quyền không thể chối cãi” ở biển Đông. Điều này được học giả Lý Lệnh Hoa, chuyên viên Trung tâm thông tin hải dương Trung Quốc, nhiều lần chỉ rõ khi khẳng định giáo trình và truyền thông khiến người dân hiểu sai về chủ quyền ở biển Đông.

Ngoài tài liệu ngụy tạo, tuyên bố của nhà nước, phát biểu của các học giả, nước này còn tuyên truyền thông qua những phương tiện thu hút rất đông thanh niên, cư dân mạng thiếu hiểu biết như tiểu thuyết trên mạng, trò chơi trực tuyến… Trong đó có tiểu thuyết Chiến tranh biển Đông Trung - Việt của tác giả giấu mặt có nickname Văn Võ 428 đăng trên Readnovel.com và được nhiều diễn đàn khác lấy lại. Hồi tháng 6, Trung Quốc lợi dụng trò chơi trực tuyến World of Tanks để kêu gọi “liên hiệp hành động Nam Hải, bảo vệ chủ quyền” tại biển Đông, quyên tiền của người chơi để tặng cho binh lính đang chiếm đóng phi pháp ở Hoàng Sa và một số đảo thuộc Trường Sa.

Bên cạnh đó, Trung Quốc còn tung ra trò chơi Bảo vệ đảo Điếu Ngư để kích động về tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư với Nhật Bản. Lời lẽ trong đó vô cùng hung hăng, hiếu chiến khi quảng cáo là người chơi sẽ “tận hưởng cảm giác tiêu diệt lũ quỷ Nhật xâm lược”.
Lập trang web Tam Sa sai trái
Bất chấp những phản đối gay gắt của quốc tế về việc thành lập phi pháp cái gọi là TP.Tam Sa, Trung Quốc còn leo thang trắng trợn trong việc lập ra vô số trang web thông tin riêng về Tam Sa như Sansha.hinews.cn (thuộc Tập đoàn nhật báo Hải Nam), Hq.xinhuanet.com/sansha (thuộc Tân Hoa xã).
Với hình ảnh đảo Phú Lâm, nằm trong quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, làm hình nền trang chủ, trang Tam Sa của Tân Hoa xã có nhiều mục như: tin nóng, văn hóa, du lịch, cuộc sống, quan sát, quan điểm, phỏng vấn chuyên đề… Đây là nơi những thông tin tuyên truyền sai trái, những hành động phi pháp của Trung Quốc được phát tán, càng khiến người dân nước này bị “đầu độc” về vấn đề biển Đông.
Tokyo đăng quảng cáo về đảo tranh chấp
Chính quyền thủ đô Tokyo của Nhật Bản vừa tìm ra một kênh mới để quảng bá, tuyên truyền cho chủ quyền đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp với Trung Quốc: quảng cáo. Ngày 27/7, giới chức cho đăng quảng cáo chiếm 2/3 trang trên tờ báo nổi tiếng Wall Street Journal của Mỹ với tựa To the American people from Tokyo, Japan (tạm dịch: Gửi đến người Mỹ từ Tokyo, Nhật Bản).
Trong đó, nội dung cho rằng Trung Quốc đang gia tăng áp lực ở Senkaku/Điếu Ngư và cảnh báo “Mỹ mất cả Thái Bình Dương nếu không ủng hộ các quốc gia châu Á ứng phó Trung Quốc”. Bài quảng cáo cũng kêu gọi Mỹ ủng hộ kế hoạch của chính quyền Tokyo mua lại 4 đảo thuộc Senkaku/Điếu Ngư. Hồi tháng 4, Thị trưởng Tokyo Shintaro Ishihara lập quỹ góp tiền mua đảo và tính đến đầu tháng 7, quỹ này đã thu được 16,3 triệu USD, theo AFP. Bắc Kinh chưa có phản ứng về bài quảng cáo trên Wall Street Journal.
Theo Thanh Niên

Washington cần tăng cường lực lượng ở Thái Bình Dương để đối phó với Trung Quốc

Các học giả Mỹ tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (Center for Strategic and International Studies – CSIS) vừa lên tiếng kêu gọi Bộ Quốc phòng Mỹ đưa thêm tàu chiến đến vùng Thái Bình Dương để đối phó với thái độ ngày càng quyết đoán của Trung Quốc tại Biển Đông. Qua một bản báo cáo vừa công bố, các chuyên gia thuộc Trung tâm tham vấn này cho rằng, Washington cần phải xác định tốt hơn Chiến lược của mình để đối phó với thế lực đang lên của Trung Quốc.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton phát biểu tại một hội thảo của CSIS

Sau khi Tổng thống Mỹ Barack Obama loan báo Chiến lược “tái cân bằng” lực lượng Quân sự Mỹ tại vùng châu Á – Thái Bình Dương, hồi tháng Giêng vừa qua, Quốc hội Mỹ đã yêu cầu Lầu Năm Góc phải có một đánh giá độc lập về chính sách châu Á mới của Mỹ. Bản báo cáo do Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế là để đáp ứng yêu cầu này. 

Trong bản báo cáo, CSIS cho rằng, Hoa Kỳ nên triển khai một Nhóm tàu đổ bộ (Amphibious Ready Group) thứ hai từ vùng Đại Tây Dương qua Thái Bình Dương, theo như yêu cầu của Lực lượng Thủy quân lục chiến Mỹ. Bản báo cáo cũng kêu gọi cho đồn trú thêm ít nhất là một tàu ngầm nguyên tử tấn công khác tại đảo Guam, căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Bình Dương gần Philippines.

Các tác giả Bản báo cáo nhận định rằng, quân đội Mỹ còn đặt quá nhiều trọng tâm vào vùng Đông Bắc Á, Hàn Quốc và Nhật Bản, để tập trung đối phó với các mối đe dọa trên bán đảo Triều Tiên và tại eo biển Đài Loan. Thế nhưng theo họ, cái nhìn đó có phần chưa chính xác. Báo cáo viết : “Như đã được chứng minh qua những hành động mới đây của Trung Quốc tại vùng Biển Đông, và trên khắp các hòn đảo ở Thái Bình Dương, các vấn đề an nguy phát triển nhanh nhất ở khu vực Nam và Đông Nam Á. Để thành công, Chiến lược tái cân bằng lực lượng của Mỹ cần được thúc đẩy nhiều hơn tại những vùng này”.

Bản báo cáo cũng phê phán Bộ Quốc phòng là chưa làm rõ được Chiến lược mà họ đã dựa theo đó để thực hiện kế hoạch chuyển quân, cũng như chưa cho thấy mối quan tâm đến việc ngân sách quốc phòng bị cắt giảm. Các tác giả đặt ra câu hỏi là, liệu Lầu Năm Góc đã có chuẩn bị đầy đủ hay chưa để giải trình về sự cần thiết của việc tăng cường lực lượng ở Thái Bình Dương, vào lúc phải đối mặt với việc 1 nghìn tỷ USD sẽ bị cắt giảm trong thập kỷ tới.

Ông John Hamre, Chủ tịch và Giám đốc điều hành của Trung tâm CSIS cho rằng một chiến lược châu Á rõ ràng cũng cần thiết như “chính sách quốc phòng rất nhất quán” đã từng định hướng cho Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh lạnh trước đây. Trong một bức thư gửi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta, đính kèm theo Bản báo cáo, ông Hamre xác định : “Lúc này chúng ta cần một khung hành động tương tự cho châu Á trong 30 năm tới đây”.

Bộ trưởng Quốc phòng Panetta đã hoan nghênh Bản báo cáo của CSIS, cho rằng Bộ của ông và Nhóm nghiên cứu đều có chung một lập trường ” trên việc thấu hiểu những thách thức và cơ hội đối với nhu cầu phát huy lợi ích của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương”.

Từ năm 2010, trong chiều hướng tăng cường trở lại sự hiện diện tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ đã từng tuyên bố việc bảo đảm tự do lưu thông hàng hải và duy trì Hoà Bình, ổn định ở vùng Biển Đông là vấn đề “quyền lợi quốc gia đối với Mỹ”. Không chỉ củng cố quan hệ quân sự với các nước trong khu vực, Washington còn mạnh mẽ ủng hộ nỗ lực của ASEAN thương lượng đa phương với Trung Quốc và soạn thảo Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông nhằm giải quyết tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Gần đây, trong bối cảnh căng thẳng trên Biển Đông ngày càng gia tăng, với việc Trung Quốc liên tục có những hành động nhằm xác quyết chủ quyền trên Biển Đông, mà gần đây nhất là quyết định triển khai một đơn vị đồn trú ở “thành phố Tam Sa” do họ thành lập vào tháng trước, với phạm vi quản lý bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, các học giả và các chính trị gia Mỹ quan tâm đến chính sách châu Á đã nhanh chóng phản ứng. Thượng nghị sĩ Cộng hòa John McCain xem đó là một hành động mang tính khiêu khích và càng cho thấy là Trung Quốc muốn thông qua hù dọa và ép buộc để áp đặt đòi hỏi chủ quyền của họ trên Biển Đông. Thượng nghị sĩ Jim Webb tuyên bố, mưu toan của Bắc Kinh nhằm xác quyết chủ quyền trên các đảo đang tranh chấp có thể được xem là một sự vi phạm luật pháp quốc tế và rất đáng lo ngại.

Thanh Minh
(DDK)

Sử dụng đòn gì để chống lại Trung Quốc?

Trước hàng loạt hành động khiêu khích đầy mưu mô, xảo quyệt của Trung Quốc trong những ngày qua trên Hoàng Sa và Trường Sa, người dân Việt Nam ai cũng sốt ruột sôi sục ý chí đuổi kẻ xâm lược về nước. Có người bày tỏ ý kiến phải đánh Trung Quốc, có người trông chờ sự can thiệp của quốc tế, có người tạo áp lực để nhà nước ta có hành động thiết thực, có người ủng hộ quan điểm giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình…Thế nhưng, Việt Nam sẽ sử dụng chiến lược nào để Trung Quốc mãi mãi từ bỏ hành vi xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của đất nước Việt Nam?

Đòn đánh của Việt Nam là sử dụng sức mạnh của cộng đồng quốc tế thông qua hội nghị như ASEAN

Giáo sư De Castro thuộc Đại học De La Salle Philippines: “Các tàu Trung Quốc sẽ tìm cách quấy rối, gây khó dễ để tìm cách khiêu khích phía Việt Nam và Philippines phản ứng trước. Và khi đó, họ chỉ chờ chúng ta bắn phát súng đầu tiên là hùng hổ trấn áp và tuyên bố là họ chỉ tự vệ” cho thấy Trung Quốc thực hiện chiến lược của mình không chỉ thâm độc mà còn khôn ngoan. Một mặt ra vẻ hùng hậu, ngang tàn mặt khác tạo ra cái lý “trót lọt”, “vừa ăn cướp vừa la làng”. Từ đó ngôn thuận phao tin trên toàn thế giới. Đối phó với phù thủy áo trắng, giỏi biện minh thích bịa chuyện như Trung Quốc đòi hỏi Việt Nam phải khéo léo nếu không sập bẫy vào âm mưu do Trung Quốc bày ra.

Trên thực tế, luật pháp quốc tế công nhận 2 đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của đất nước Việt Nam và chính bản đồ của Trung Quốc cũng công nhận đều đó. Vậy tại sao Trung Quốc vẫn ngoan cố khiêu khích, lâm le ồ ạt thực hiện vũ lực trên đảo Hoàng Sa và Trường Sa?

Bản đồ khẳng định Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa

Hiện Trung Quốc đang yếu lý lẽ trên chính trường quốc tế nên không dại gì gây chiến tranh với Việt Nam và Philippines ngay thời điểm này. Bởi vì nếu xả súng lúc này chỉ làm Trung Quốc thâm hụt ngân sách, tổn thất về kinh tế và mất đi vị trí đứng thứ 2 thứ giới. Hiện Trung Quốc đang chơi chiêu bài giương đông kích tây, bề mặt vung tay với Việt Nam nhưng đòn đánh mà Trung Quốc đang hướng đến là Mỹ. Nếu không có cái nhìn sáng suốt thì Việt Nam vô tình tạo cái cớ cho Trung Quốc bắt chẹt, lấn lướt.

Những ngày qua, dễ nhìn thấy Việt Nam chiến đấu với Trung Quốc trên bàn đàm phán, sử dụng luật quốc tế để bày tỏ sự xâm phạm phi pháp, ngang ngược của láng giềng hiếu chiến. Tại sao Việt Nam không chiến đấu trực diện với Trung Quốc bằng vũ lực? Vì nếu sử dụng vũ lực thì Việt Nam không khác nào lấy trứng chọi đá. Việt Nam có nhiều thứ để mất hơn Trung Quốc, thế yếu hơn Trung Quốc, và tiềm lực quân sự, nhất là không quân và hải quân có thể tác chiến trên biển kém xa.

Việt Nam đang tránh chiến tranh chứ không phải sợ chết, sợ đánh. Việt Nam luôn trong tư thế cầm thủ và sẵn sàng ra đòn bất cứ lúc nào nhưng phải đúng lúc, đúng huyệt. Việc Trung Quốc tạo áp lực với Việt Nam, tung tin thất thiệt cũng là tự tạo áp lực cho mình, lộ rõ bộ mặt xấu với bạn bè thế giới đặc biệt là học giả Trung Quốc đang bày tỏ sự không ủng hộ chính quyền Trung Quốc đi xâm lược phi nghĩa Việt Nam.

Có thể nói, Việt Nam kiên quyết giải quyết các vấn đề bất đồng thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Không hung hăng, nhưng Việt Nam dùng lý lẽ, thời thế từng bước buộc Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán song phương và đa phương.

Chiêu Việt Nam sử dụng “đánh nhưng không đánh, không đánh mà lại đánh”. Hiện tại Việt Nam không sử dụng đòn đánh trực diện với Trung Quốc nhưng dần làm cho Trung Quốc “còi cọc” các kế hoạch xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Và việc Trung Quốc phải chịu ngồi vào bàn đàm phán để giải quyết tranh chấp theo luật quốc tế là chuyện sớm muộn, nếu như Trung Quốc không muốn cả thế giới cô lập và từ chối mọi sự hợp tác, phát triển. Đòn đánh của Việt Nam là sử dụng sức mạnh của cộng đồng quốc tế, luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp.

Chiến thắng Ngọc Hồi là sự thể hiện sức mạnh tổng hợp của Việt nam

Về mặt quân sự thì chiêu của Việt Nam là đưa địch đến chỗ yếu, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu chống mạnh, nhằm tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, từng bước làm thay đổi cục diện, trong điều kiện Việt Nam yếu hơn đối thủ.

Sức mạnh của Việt nam là sức mạnh tổng hợp, không đơn thuần là sự so sánh tương quan lực lượng. Bài học của cha ông ta với các chiến công hiển hách: Triều Lý: 10 vạn quân thắng 30 vạn quân Tống, Triều Lý đã thực hiện “Tiên phát chế nhân”; Triều Trần: 15 vạn thắng 60 vạn Nguyên Mông với chiêu “Lấy đoản binh, chế trường trận”; Triều Lê: 10 vạn thắng 80 vạn quân Minh với chiêu “Vây thành, diệt viện”; Quang Trung: 10 vạn thắng 29 vạn quân Thanh với chiêu “đánh bất ngờ”.

Việt Nam đã và đang hiện đại hóa lực lượng Hải quân, Không quân để có thể tung “cú đánh” đúng lúc, đúng huyệt

Việt Nam không cần diễu võ dương oai sức mạnh quân sự, mà âm thầm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc trên Biển, kiên cố hóa các đảo, hiện đại hóa lực lượng Hải quân, Không quân, chăm lo cho đời sống nhân dân trên các đảo, củng cố chứng cứ lịch sử vững chắc… để có thể tung “cú đánh” đúng lúc, đúng huyệt khi cần thiết như các thế hệ cha ông người Việt từng làm.

Thanh Thủy

Quân đội Nhân dân Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á

“Thực lực quân sự Việt Nam đã được nâng lên một cách vững chắc, quân số đông, tác chiến mạnh, sức chiến đấu và sức mạnh tổng hợp đều đứng đầu các nước Đông Nam Á”.

Quân đội Nhân dân Việt Nam

1. Thực lực quân sự đứng đầu Đông Nam Á

Tạp chí Ngoại giao của Trung Quốc nhận định như trên và phân tích thêm: lực lượng vũ trang của Việt Nam chủ yếu bao gồm quân đội nhân dân và dân quân tự vệ, còn có cả cảnh sát biển và công an nhân dân. Quân đội nhân dân Việt Nam thành lập năm 1944, lúc đầu chỉ có 34 người, gọi là “Đội tuyên truyền giải phóng quân” Việt Nam, trải qua các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và giải phóng miền Nam, đến nay quy mô và sức mạnh chiến đấu không ngừng lớn mạnh.

Theo “Sách Trắng Quốc phòng” công bố năm 2009 của Việt Nam, hiện nay lực lượng thường trực của quân đội Việt Nam (bao gồm cả bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương) có tổng cộng 450 nghìn người, lực lượng dự bị khoảng 5 triệu người.

Bộ đội chủ lực là thành phần cốt cán của quân đội nhân dân Việt Nam , bao gồm lục quân, hải quân, phòng không không quân, bộ đội biên phòng.

Lục quân Việt Nam hiện chia thành 8 Quân khu, một số Quân đoàn, Sư đoàn bộ binh, Lữ đoàn tăng thiết giáp, Lữ đoàn tác chiến đặc chủng, Lữ đoàn pháo binh dã chiến, Sư đoàn công binh, Sư đoàn xây dựng kinh tế.

Trang bị vũ khí chủ yếu gồm có 850 xe tăng chiến đấu chủ lực T-54/55, 300 xe tăng hạng nhẹ PT-76, 100 xe trinh sát thiết giáp BRDM-1/2, 300 xe chiến đấu bộ binh BMP-1/2, 1.100 xe thiết giáp chở quân BTR-40/50/60/152, khoảng 2.300 cỗ pháo kéo xe và một số dàn phóng tên lửa, pháo cao xạ, pháo tự hành, tên lửa chống tăng và tên lửa đất đối không.

Hải quân Việt Nam thành lập năm 1955, hiện biên chế thành 4 vùng hải quân ven biển, trang bị chủ yếu gồm hai tàu ngầm mini mua của Bắc Triều Tiên năm 1977, 6 tàu hộ vệ, 2 tàu hộ vệ hạng nhẹ “Cheetah”, 37 tàu tuần tra và một số tàu rà quét thủy lôi, tàu đổ bộ và tàu tiếp tế hậu cần.

Phòng không không quân Việt Nam thành lập năm 1963, được sáp nhập từ Bộ Tư lệnh phòng không và Cục không quân, hiện được biên chế thành một số Sư đoàn phòng không và Sư đoàn không quân, bên dưới có Trung đoàn máy bay tấn công, Trung đoàn máy bay tiêm kích, Trung đoàn máy bay vận tải, Trung đoàn pháo cao xạ, Trung đoàn rađa.

Tên lửa S-300PMU1 của quân đội Nhân dân Việt Nam

Trang bị chủ yếu gồm có 140 máy bay MiG-21, 7 máy bay SU-27SK, 4 máy bay SU-30MKK, 53 máy bay SU-22, 4 máy bay chống tàu ngầm Be –12, 26 trực thăng chống tăng MiG-24, 10 trực thăng chống tàu ngầm Ka-28 và một số máy bay huấn luyện, tên lửa không đối không, không đối đất, đất đối không.

Bộ đội biên phòng Việt Nam thành lập năm 1959, có chức năng cơ bản là thực hiện quản lý biên giới quốc gia, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ biên giới trên bộ, hải đảo, vùng biển và trật tự an ninh ở khu vực cửa khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Hải quân Việt Nam vùng IV luyện tập

Ngoài quân đội nhân dân, dân quân tự vệ Việt Nam cũng là bộ phận cấu thành chủ yếu của lực lượng vũ trang Việt Nam. Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng vẫn ở vị trí sản xuất và công tác, thời bình là lực lượng lao động sản xuất chính, thời chiến là lực lượng chiến lược của chiến tranh nhân dân.
Dân quân tự vệ chủ yếu thuộc các loại hình bộ binh, phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, giao thông, phòng chống hóa học, điều trị y tế và dân quân tự vệ trên biển, trong đó dân quân tự vệ trên biển mới được thành lập từ năm 2009 nhằm đối phó với những đe dọa an ninh trên biển.

Việt Nam còn có lực lượng cảnh sát biển, thành lập năm 1998. Vì thế, Việt Nam hiện nay có ba bộ phận lực lượng vũ trang trên biển là hải quân, cảnh sát biển và dân quân tự vệ biển, cho thấy Việt Nam hết sức coi trọng an ninh trên biển.

2. Chú trọng Biển Đông, đẩy nhanh hiện đại hóa hải quân không quân

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Việt Nam đã bắt đầu tiến trình hiện đại hóa quân đội. Sau sự kiện khủng bố ngày 11/9, nhất là từ khi Mỹ phát động cuộc chiến tranh cục bộ kỹ thuật cao đối với Irắc, Việt Nam đã ý thức được rằng hình thái chiến tranh trong tương lai sẽ có thay đổi to lớn, vũ khí trang bị truyền thống và dạng thức tác chiến truyền thống đã không thể thích hợp với yêu cầu chiến tranh trong tương lai.

Mục tiêu tổng thể trong xây dựng quân đội của Việt Nam là “Cách mạng hóa, chính quy hóa, tinh nhuệ hóa và từng bước hiện đại hóa”.

Chiến hạm hiện đại nhất của Hải quân Việt Nam

Vì thế, Việt Nam đã mở rộng chi phí quốc phòng, từ chỗ chú trọng xây dựng quy mô chuyển sang xây dựng chất lượng quân đội, chú trọng nguyên tắc phát triển phối hợp giữa các quân binh chủng và ưu tiên phát triển hải quân – không quân, đồng thời tiếp tục tăng cường xây dựng lực lượng dự bị như dân quân tự vệ.

Việt Nam bắt đầu thực hiện phương châm chiến lược “thu hẹp lục quân mở rộng hải quân”, coi việc bảo vệ lãnh thổ trên biển và tài nguyên biển là trọng tâm của chiến lược quân sự mới, tăng cường một cách có trọng điểm khu vực ven biển miền Trung Nam Bộ và bố trí binh lực ở các đảo mà Việt Nam đã chốt giữ , làm nổi bật nhiệm vụ xây dựng hải quân và không quân.
Tàu chiến Moliya

Năm 2001, Việt Nam đã cho ra đời “Kế hoạch hiện đại hóa lực lượng vũ trang thế kỷ mới”, đề xuất thay đổi toàn diện vũ khí trang thiết bị của ba quân chủng lục quân, hải quân và không quân, trọng tâm là ưu tiên đảm bảo hiện đại hóa phòng không không quân và hải quân, đồng thời lắp đặt các loại trang thiết bị cảnh báo, trinh sát, chỉ huy, cơ động và đảm bảo cung cấp hậu cần.

“Sách Trắng Quốc phòng” năm 2009 của Việt Nam cũng nhiều lần nhấn mạnh phải xây dựng quân đội hiện đại hóa có trang bị vũ khí tiên tiến, trong khi tự nghiên cứu chế tạo, liên hợp sản xuất trang thiết bị, đồng thời mua sắm khối lượng lớn vũ khí trang thiết bị tiên tiến của nước ngoài, nâng cao tính năng vũ khí trang thiết bị của bản thân, trong đó mua sắm vũ khí trang thiết bị cho hải quân và phòng không không quân đã chiếm tỉ lệ rất lớn.
Hình ảnh Su-30MK2 mới của Việt Nam trên báo Trung Quốc

Cuối năm 2003, Việt Nam đã đặt mua của Nga 4 máy bay chiến đấu SU-30MK đa tính năng. Đồng thời, không quân Việt Nam đã hợp tác với Ixraen và Nga cải tiến hệ thống rađa của máy bay MiG-21, lắp đặt trên máy bay thiết bị trinh sát chụp ảnh ban đêm. Năm 2005, Việt Nam lại đặt mua hệ thống tên lửa phòng không S-300PMU1 trang bị cho một số đại đội pháo binh.

Không quân Việt Nam còn mua máy phản lực huấn luyện L-39C/máy bay tấn công hạng nhẹ của Séc, nhập khẩu một bộ phận máy bay luấn luyện KT-1, T-50 của Hàn Quốc và Ba Lan.

Tháng 3/2005, Việt Nam và Ba Lan đã ký Hiệp định mua vũ khí trị giá 150 triệu USD, mua 12 chiếc máy bay tuần tra trên biển M-28, 4 máy bay trực thăng cứu hộ trên biển W-3RM và 8 hệ thống trinh sát trên biển MSC-400 của Ba Lan. Năm 2009, Việt Nam lại ký hiệp định với Nga, mua của Nga 12 máy bay chiến đấu đa chức năng SU-30MK2.

Su-27 của Không quân Việt Nam

Để thích ứng với yêu cầu đặt ra trong tương lai, Hải quân Việt Nam đã có kế hoạch phát triển ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, hy vọng đến trước năm 2015 sẽ hoàn thành đổi mới trang thiết bị, để Hải quân Việt Nam trở thành một lực lượng hải quân trên biển hiện đại có đầy đủ các binh chủng, có khả năng tác chiến cơ động và khả năng tấn công hỏa lực tầm xa tương đối mạnh, đến trước năm 2050 sẽ hình thành một lực lượng tác chiến đa chiều độc lập ở biển xa.

Từ năm 1995 đến nay, Hải quân Việt Nam đã lần lượt đặt mua hơn 10 chiếc tàu chiến mang tên lửa có tên “Poisonous spider” của Nga, 12 chiếc tàu tuần tra của Thụy Điển, 2 tàu ngầm mini của Bắc Triều Tiên.

Tàu ngầm Kilo 636

Sau năm 2000, Việt Nam bắt đầu mua tàu mặt nước cỡ lớn của nước ngoài. Năm 2003, Việt Nam đã ký hiệp định trị giá 120 triệu USD với Nga, có kế hoạch mua của Nga 12 chiếc tàu chiến tốc độ cao mang tên lửa có tên “Lightning”.

Việt Nam còn mua các loại tàu tấn công/tuần tra tốc độ cao của Hàn Quốc có các tên “Dolphin”/ “Wildcat”; mua của Ba Lan 4 tàu hộ vệ hạng nhẹ “Miners”, 1 tàu huấn luyện “Nick Ward”, 8 tàu tuần tra bờ biển “Pilica”, và một tàu tuần tra cỡ lớn “Aubrey Lutz” đã cải tiến.

Năm 2007, Việt Nam lại mua của Nga 2 tàu hộ vệ “Cheetah” và một hệ thống tên lửa chống hạm trên bờ mới nhất để lắp ráp tên lửa hành trình chống hạm có tốc độ siêu âm “Ruby”.

Để khắc phục những bất cập về năng lực tác chiến dưới nước, năm 2009, Việt Nam đã ký một hợp đồng lớn với Nga, mua 6 chiếc tàu tàu ngầm lớp “KILO” chạy bằng động cơ diezen trị giá 1,8 tỉ USD, đồng thời chuẩn bị thành lập lực lượng tàu ngầm.

Việt Nam đang đẩy mạnh giao lưu hợp tác với nhiều quốc gia trên thế giới trên lĩnh vực quân sự

Bên cạnh việc mua sắm vũ khí của Nga, Việt Nam cũng tăng cường hợp tác quân sự với nhiều quốc gia trên thế giới nhằm mở rộng quan hệ hợp tác hữu nghị nâng tầm của Việt Nam trên trường quốc tế và trong khu vực ít nhất là trong lĩnh cực quân sự.

Theo Phunutoday

28/7/12

NGHỊCH LÝ CHIẾN LƯỢC BIỂN CỦA TRUNG QUỐC

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 26/7/2012
TTXVN (Niu Yoóc 24/7)

Ngày 17/7, hãng Stratfor của Mỹ công bố tài liệu với đầu đề trên, trong đó cho biết, trong thập kỷ qua, Biển Đông trở thành một trong những điểm bất ốn nhất ở Đông Á. Trung Quốc, Việt Nam, Philíppin, Malaixia, Brunây và Đài Loan đều khẳng định chủ quyền một phần hoặc tất cả vùng biển, và các tuyên bố chồng lấn dẫn đến đối đầu ngoại giao và thậm chí quân sự trong những năm gần đây. Do Biển Đông có nhiều quần đảo, giàu tài nguyên khoáng sản, năng lượọng và gần 1/3 tuyến đường hàng hải của thế giới đi qua, nên tất nhiên vùng biển này có giá trị chiến lược đối với các quốc gia liên quan. Nhưng với Trung Quốc, kiểm soát trên Biển Đông không chỉ là vấn đề thực hiện mà còn là tâm điểm chính sách ngoại giao tiến thoái lưỡng nan của Bắc Kinh: Làm sao để khẳng định chủ quyền hàng hải lịch sử trong khi vẫn duy trì các chính sach không đối đầu với các nước do ông Đặng Tiểu Bình xây dựng năm 1980. Trung Quốc đã khẳng định quyền kiểm soát Biển Đông từ khi kết thúc cuộc nội chiến Trung Quốc. Lúc đó, hầu hết ở các nước khác đều đang nổi lên các phong trào giành độc lập, Trung Quốc chỉ cần làm rất ít việc để đảm bảo lời khẳng định của mình. Nhưng do các quốc gia khác xây dựng lực lượng hàng hải, theo đuổi mối quan hệ mới và có một quan điểm tích cực hơn trong việc thăm dò và tuần tra vùng biển và với thái độ không thân thiện của Trung Quốc trước bất cứ nhượng bộ nào về lãnh thổ, cách tiếp cận lặng lẽ của Đặng Tiểu Bình là lựa chọn đúng đắn.

Sự phát triển hàng hải của Trung Quốc

Trung Quốc là nước kiểm soát một bờ biển dài, trước kia từ biển Nhật Bản ở phía Đông Bắc tới Vịnh Bắc Bộ ở phía Nam. Mặc dù bờ biển dài, nhưng Trung Quốc gần như chỉ luôn chú trọng bên trong, ít khi quan tâm đến các vùng biển và thậm chí cả trong những thời điểm khá ổn định trên đất liền. Theo truyền thống, các mối đe dọa lớn nhất đối với Trung Quốc không xuất phát từ biển, trừ trường hợp cướp biển không thường xuyên, mà thường từ cạnh tranh nội bộ và các lực lượng du mục ở phía Bắc và phía Tây. Thách thức địa lý của Trung Quốc đã thúc đẩy một nền kinh tế nông nghiệp trên cơ sở quy mô dòng họ và nhỏ lẻ với một cơ cấu quyền lực mạnh mẽ phân cấp, được thiết kế một phần để giảm thiểu những thách thức liên tục từ các lãnh chúa và khu vực. Phần lớn thương mại của Trung Quốc với thế giới được thực hiện thông qua các tuyến đường bộ hoặc bởi người Arập và các thương nhân nước ngoài khác tại một số khu vực ven biển. Nói chung, Trung Quốc chỉ tập trung ổn định dân cư và biên giới đất liền hơn là các cơ hội tiềm tàng từ thương mại hàng hải hoặc thăm dò, bởi vì khi đó tiếp xúc với bên ngoài có thể mang lại nhiều rắc rối không kém gì những lợi ích. Hai yếu tố góp phần vào việc Trung Quốc thử nghiệm phát triển hải quân gồm: sự thay đổi chiến tranh từ phía Bắc xuống phía Nam Trung Quốc và có những thời điểm an ninh trong nước khá ổn định. Trong suốt triều đại nhà Tống (960-1279), các đội kỵ binh của vùng đồng bàng phía Bắc, vốn là một lực lượng quân sự lớn trên đất liền, kéo xuống phía Nam ven sông và đầm lầy. Lực lượng hải quân sông nước cũng phát triển ra bờ biển, và nhà Tống khuyến khích chuyển hướng về phía biển và thương thuyền của Trung Quốc thay thế các thương nhân nước ngoài dọc bờ biển. Mặc dù chủ yếu vẫn hướng vào nội địa trong suốt triều đại nhà Nguyên (1271-1368), nhưng Trung Quốc đã thực hiện ít nhất hai cuộc chiến hải quân lớn vào cuối thế kỷ 13 – chống Nhật Bản và Java – cả hai cuối cùng đã không thành công. Thất bại của các cuộc chiến góp phần vào quyết định của Trung Quốc một lần nữa quay lưng lại với biển. Cuộc phiêu lưu hàng hải lớn cuối cùng diễn ra vào đầu triều đại nhà Minh (1368-1644), khi nhà thám hiểm Hồi giáo Trịnh Hòa thực hiện 7 chuyến hành trình nổi tiếng tới nhiều khu vực trên thế giới như châu Phi, nhưng không sử dụng cơ hội này để thiết lập sức mạnh lâu dài của Trung Quốc ở nước ngoài. Hạm đội của Trịnh Hòa đã bị lãng quên vì Nhà Minh nhìn thấy khó khăn đang nổi lên trong đất liền, kể cả nạn cướp biển hoành hành ngoài khơi và Trung Quốc một lần nữa lại hướng nội. Tại cùng thời điểm mà Magellan bắt đầu chuyến thám hiểm toàn cầu vào đầu những năm 1500, Trung Quốc tiếp tục chính sách cô lập của họ, hạn chế thương mại và giao tiếp với bên ngoài và chấm dứt nghiên cứu các rủi ro hàng hải. Lực lượng hải quân Trung Quốc chuyển sang phòng vệ bờ biển hơn là tấn công. Sự xuất hiện các tàu chiến châu Âu trong thế kỷ 19 đã thu hút sự quan tâm của chính quyền Trung Quốc, và Trung Quốc sau đó đã thực hiện một chương trình hải quân dựa trên công nghệ phương Tây. Điều này cho thấy sự thống nhất trong suy nghĩ chiến lược lớn hơn của Trung Quốc vẫn hạn chế. Nhận thức không đầy đủ về hàng hải góp phần đưa đến quyết định của nhà Thanh nhượng quyền ra vào quan trọng cửa sông Đồ Môn cho Nga năm 1858, vĩnh viên đóng cửa ra vào vùng biển Nhật Bản từ phía Đông Bắc. Sau đó gần 40 năm, mặc dù xây dựng một đội tàu lớn nhất khu vực, hải quân Trung Quốc đã bị hải quân Nhật Bản mới nổi lên đánh bại. Sau đó gần một thế kỷ, người Trung Quốc một lần nữa tập trung gần như hoàn toàn trên đất liền, các lực lượng hải quân chỉ đóng vai trò phòng thủ thuần túy ven biển. Từ những năm 1990, chính sách này dần dần thay đổi khi mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với thế giới mở rộng. Đối với Trung Quốc, để bảo đảm sức mạnh kinh tế và nâng cao ảnh hưởng toàn cầu mạnh mẽ hơn, phát triển một chiến lược hải quân tiên phong đã trở thành điều bắt buộc.

Giải thích “đường 9 đoạn”

Để hiểu lôgích hàng hải của Trung Quốc ngày nay và các tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng của Trung Quốc, đầu tiên cần hiểu cái gọi là đường chín đoạn – đường biên giới lỏng lẻo phân định ranh giới các khiếu nại hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông. Đường 9 đoạn của Trung Quốc được dựa trên cơ sở một tuyên bố lãnh thổ năm 1947 của Chính quyền Quốc Dân Đảng lúc đó đang cầm quyền, thiếu sự cân nhắc chiến lược do lúc đó đang phải tập trung đối phó với hậu quả từ sự chiếm đóng của Nhật Bản trên đất Trung Quốc và cuộc nội chiến với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sau khi kết thúc sự chiếm đóng của Nhật Bản, Chính quyền Quốc Dân Đảng đã cử các sĩ quan hải quân và các đội khảo sát đến Biển Đông để lập bản đồ các hòn đảo khác nhau. Bộ Nội vụ Đài Loan công bô một tấm bản đồ đường 11 đoạn ở Biển Đông kéo ra xa từ bờ biển của Trung Quốc. Bản đồ này, mặc dù thiếu các tọa độ cụ thể, đã trở thành cơ sở cho tuyên bố hiện nay của Chính quyền Bắc Kinh sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949. Năm 1953, có lẽ như một biện pháp nhàm giảm thiểu xung đột với nước láng giềng Việt Nam, Bắc Kinh loại bỏ 2 trong số 11 đoạn, từ đó hình thành đường 9 đoạn như hiện nay. Trước đây các nước láng giềng ít phản đối hoặc khiếu nại bản đồ đường 9 đoạn của Bắc Kinh do họ đang tập trung cho các phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc. Bắc Kinh coi sự im lặng của những người hàng xóm và cộng đồng quốc tế là sự phục tùng và sau đó Bắc Kinh chủ yếu im lặng để tránh những thách thức đối với bản vẽ. Bắc Kinh lảng tránh việc tuyên bố chính thức đường 9 đoạn vì cho rằng nó là một biên giới bất khả xâm phạm bất chấp các nước khu vực và quốc tế công nhận hay không công nhận và coi đường 9 đoạn là cơ sở lịch sử để chống lại các tuyên bố chủ quyền biển khác.

Cũng như các nước tuyên bố chủ quyền khác như Việt Nam và Philíppin, mục tiêu lâu dài của Trung Quốc là sử dụng khả năng mạnh mẽ của hải quân để kiểm soát các đảo cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên và vị thế chiến lược của Biển Đông. Khi quân đội còn yếu kém, Bắc Kinh ủng hộ quan điểm gạt sang một bên các bất đồng chủ quyền và chú trọng phát triển chung nhằm hạn chế các bất đồng lớn do sự chống lấn chủ quyền, đồng thời kéo dài thời gian để phát triển lực lượng hải quân của mình. Bên cạnh đó, để đối phó với sự đoàn kết của các nước tuyên bố chủ quyền Biển Đông, Bắc Kinh âm mưu sử dụng cách tiếp cận đàm phán với từng quốc gia tuyên bố lãnh thổ mà không cần đề cập đến tuyên bố về đường 9 đoạn đó. Cách tiếp cận này sẽ cho phép Bắc Kinh chiếm ưu thế trong các cuộc đàm phán song phương – vấn đề mà họ lo sợ sẽ bị mất trong các diễn đàn đa phương. Mặc dù đường 9 đoạn không được Công ước củua Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 công nhận và liên tục gây nhiều tranh cãi, nhưng hiện nay Bắc Kinh ít có khả năng từ bỏ tuyên bố của họ. Trước sự quan tâm rất lớn của quốc tế và cạnh tranh khu vực trên Biển Đông, người dân Trung Quốc, vốn coi vùng nước trong đường 9 đoạn là khu vực lãnh hải Trung Quốc, đang ép Bắc Kinh có những hành động quyết đoán hơn. Điều này khiến Trung Quốc ở một vị thế khó khăn khi Bắc Kinh cố gắng mô tả phát triển chung như một bằng chứng cho thấy các nước khác đã công nhận tuyên bố lãnh thổ của Trung Quốc. Trái lại, các nước đối tác đã lảng tránh khi Bắc Kinh tìm cách giảm nhẹ tuyên bố để duy trì quan hệ quốc tế, trong khi người dân Trung Quốc ở trong nước thường tổ chức các cuộc biểu tình yêu cầu Chính phủ hành động. Nhưng bất cứ nỗ lực nào nhằm thu hút cử tri trong nước của Chính quyền Bắc Kinh đều có nguy cơ gây tức giận cho các đối tác nước ngoài hoặc ngược lại.

Phát triển chính sách hàng hải


Các diễn biến từ đường 9 đoạn, tình hình phát triển trong nước, và hệ thống quốc tế có nhiều thay đổi đã góp phần hình thành chiến lược phát triển biển của Trung Quốc. Dưới thời Mao Trạch Đông, Trung Quốc tập trung vào nội bộ và bị hạn chế do lực lượng hải quân yếu kém. Mặc dù các tuyên bố lãnh hải của Trung Quốc rất mơ hồ, nhưng khi các nước láng giềng chỉ tập chung vào cuộc đấu tranh giành độc lập, Trung Quốc đưa ra quan điểm biên giới lãnh hải mạnh mẽ hơn. Phát triển hải quân của Trung Quốc chủ yếu vẫn phục vụ mục tiêu phòns thủ và bảo vệ bờ biển khỏi các cuộc xâm lược từ bên naoài. Trong các nỗ lực cải cách kinh tế trong nước cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, Đặng Tiểu Bình đã tìm cách phát triển kinh tế thực dụng hơn từ các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông, đặt tuyên bố chủ quyền lãnh hải sang một thời điểm khác. Chi phí quân sự của Trung Quốc tiếp tục ưu tiên cho các lực lượng trên bộ và lực lượng tên lửa, còn lực lượng hải quân chỉ đóng vai trò bảo vệ các vùng ven biến Trung Quốc. Hai thập kỷ tiếp theo, Đặng Tiểu Bình vẫn tiếp tục các chính sách như vậy. Mặc dù lúc đó ở Biển Đông xảy ra một số đụng độ, nhưng nói chung, Bắc Kinh tiếp tục theo đuổi chiến lược tránh đối đầu và coi đây là một nguyên tắc cốt lõi trên biển. Hải quân Trung Quốc không ở vị trí thách thức sự thống trị của hải quân Mỹ hoặc không có bất cứ hành động quyêt đoán nào đối với các nước láng giềng, đặc biệt kể từ khi Bắc Kinh tìm cách tăng cường ảnh hướng trong khu vực thông qua các phương tiện kinh tế và chính trị. Nhưng đề nghị hợp tác phát triển Biển Đông của Bắc Kinh phần lớn bị thất bại. Do sức mạnh kinh tế và chi tiêu quân sự của Trung Quốc ngày càng tăng, đặc biệt gần đây Trung Quốc tập trung hiện đại hóa lực lượng hải quân, từ đó khiến các nước láng giềng nghi ngờ và họ kêu gọi đóng vai trò tích cực hơn để đối trọng với sự gia tăng của Trung Quốc. Vấn đề đường 9 đoạn và tuyên bố chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc cùng nổi lên đáng kể vì nhiều nước nộp đơn khiếu nại chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Trung Quốc, đã ký Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển chủ yếu do lợi ích hàng hải và tài nguyên ở Biển Đông, nhận thấy chính họ cũng phải đưa ra một số tuyên bố ngược lại ở Biển Đông, từ đó báo động ở các nước láng giềng trước những gì được coi là hành động thúc đẩy ý đồ bá chủ khu vực của Bắc Kinh. Nhưng không chỉ các quốc gia có tranh chấp Biển Đông tỏ ra lo ngại trước các biện pháp của Trung Quốc, các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc Mỹ, Ôxtrâylia và Ấn Độ…, những nước phụ thuộc vào biển về thương mại và vận tải quân sự, cũng tỏ thái độ không thể chấp nhận quan điểm bành trướng của Trung Quốc. Tất cả các quốc gia này coi những hành động của Trung Quốc như một khúc dạo đầu thách thức các vùng nước thuộc quốc gia khác. Trung Quốc phản ứng băng những lời lẽ ngày càng quyết đoán và quân đội Trung Quốc cũng đóng vai trò lớn hơn trong các quyết định chính sách đối ngoại. Rõ ràng chính sách về không đối đầu của Trung Quốc trước đây nay đã được thay thế bằng một cách tiếp cận mới.

Tranh luận về chính sách đối ngoại

Năm 1980, Đặng Tiểu Bình đưa ra chính sách đối ngoại, trong đó yêu cầu Trung Quốc lặng lẽ quan sát, giữ vững trận địa, bình tĩnh ứng phó, giấu mình chờ thời…. Những nguyên lý cơ bản này vẫn là cốt lõi trong chính sách đối ngoại Trung Quốc và được coi là nguyên tắc chỉ đạo hành động hoặc sử dụng để bào chữa cho hành động yên lặng. Nhưng môi trường trong nước và khu vực đã thay đổi đáng kể từ những ngày đầu của cuộc cải cách do Đặng Tiểu Bình phát động và phát triển kinh tế và quân sự của Trung Quốc. Do đó Bắc Kinh hiểu rằng chỉ thông qua một chính sách chủ động hơn, Trung Quốc mới có thể phát triển từ một sức mạnh duy nhất trên đất liền đến sức mạnh trên biển và định hình lại khu vực một cách có lợi cho lợi ích an ninh của họ. Nếu không hành động như vậy, các quốc gia khác trong khu vực và đồng minh của họ, cụ thể Mỹ, sẽ âm mưu hoặc thậm chí đe dọa các tham vọng của Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc đang tranh cãi hoặc thay đổi ít nhất bốn yếu tố chính sách của Đặng Tiểu Bình: 1. Thay đổi từ không can thiệp chuyển sang việc can thiệp sáng tạo; 2. Thay đổi từ nền ngoại giao song phương sang ngoại giao đa phương; 3. Thay đổi từ ngoại giao phản ứng sang ngoại giao phòng ngừa; 4. Phát triển từ chính sách không liên kết chặt chẽ sang bán liên minh. Can thiệp sáng tạo được Bắc Kinh mô tả như một biện pháp để Trung Quốc chủ động hơn trong việc bảo vệ lợi ích của họ ở nước ngoài bằng cách tham gia nhiều hơn vào tình hình chính trị của các nước khác – một sự thay đổi từ không can thiệp sang một thứ gì đó linh hoạt hơn. Trung Quốc đã sử dụng tiền và các công cụ khác để hình thành sự phát triển bên trong ở các nước khác trong quá khứ, nhưng sự thay đối chính sách chính thức sẽ đòi hỏi Trung Quốc phải can dự sâu hơn các vấn đề khu vực. Nhung điều này sẽ làm suy yếu các nỗ lực của Trung Quốc trong việc thúc đẩy ý đồ: Trung Quốc chỉ là một quốc gia đang phát triển giúp các nước đang phát triển khác trong bối cảnh của chủ nghĩa đế quốc phương Tây và bá quyền. Sự thay đổi trong nhận thức có thể ảnh hưởng đến một số lợi thế của Trung Quốc trong việc lôi kéo các nước đang phát triển vì Bắc Kinh dựa trên những cam kết không can thiệp chính trị như một biện pháp chống lại những lời chào mời của phương Tây về các công nghệ tốt hơn hoặc những nguồn phát triển tốt hơn thường kèm theo nhũng yêu cầu thay đổi chính trị của phương Tây. Từ lâu Trung Quốc đã dựa vào quan hệ song phương như một biện pháp ưa thích để quản lý các lợi ích quốc tế. Khi hoạt động trong các diễn đàn đa phương, Trung Quốc thường im lặng chứ không thể hiện sức mạnh của một siêu cường. Ví dụ, Trung Quốc có thể ngăn chặn các biện pháp trừng phạt trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhưng hiếm khi đề nghị các giải pháp khác cho cộng đồng quốc tế theo đuổi.

Nhưng hiện nay Trung Quốc đang theo đuổi các mối quan hệ đa phương như một cách để bảo đảm quyền lợi của họ thông qua các nhóm lớn hơn. Mối quan hệ của Trung Quốc với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, tham gia Tổ chức Hợp tác Thượng Hải và theo đuổi hội nghị thượng đỉnh ba bên giúp Bắc Kinh định hướng chính sách của các tổ chức này. Bằng việc chuyển sang cách tiếp cận đa phương, Trung Quốc có thể làm cho một số quốc gia yếu hơn cảm thấy an toàn, từ đó có thể ngăn chặn các nước này chuyển sang tìm kiếm sự ủng hộ của Mỹ. Theo truyền thống, Trung Quốc áp dụng một chính sách ngoại giao tương đối tích cực, đối phó với cuộc khủng hoảng khi chúng xuất hiện nhưng thường không phát hiện hoặc hành động để ngăn chặn các cuộc khủng hoảng trước khi chúng trở thành hiện thực. Ở những nơi đã tìm cách tiếp cận được các nguồn tài nguyên thiên nhiên, Bắc Kinh thường bị chỉ trích không quan tâm tới những thay đổi trong khu vực và không chuẩn bị các chiến lược phản ứng, chẳng hạn sự phân chia Xuđăng thành hai nước Xuđăng và Nam Xuđăng. Giờ đây Trung Quốc đang tranh luận về việc chuyển hướng chính sách này sang một chính sách khác để có thể hiểu biết các lực lượng cơ bản và các nguy cơ dẫn đến xung đột, từ đó hành động một mình hoặc hợp tác với cộng đồng quốc tế nhằm xoa dịu các căng thẳng. Đối với Biển Đông, điều này có nghĩa, Trung Quốc phải làm rõ chủ quyền biển của họ ở mức nào thay vì tiếp tục sử dụng đường 9 đoạn mơ hồ, đồng thời nỗ lực theo đuổi các ý tưởng cho một cơ chế an ninh châu Á, trong đó Trung Quốc sẽ đóng một vai trò lãnh đạo tích cực. Lập trường của Trung Quốc về các liên minh vẫn giữ nguyên như Đặng Tiểu Bình đưa ra trong những năm 1980: Trung Quốc không tham gia thiết lập liên minh nhằm chống lại nước thứ ba. Đây là quan điểm cho phép Trung Quốc duy trì chính sách đối ngoại độc lập và tránh các vấn đề quốc tế do liên minh gây nên. Ví dụ, kế hoạch Trung Quốc chiếm lại Đài Loan bị nhấn chìm bởi sự tham gia của Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên và nhờ đó quan hệ của Trung Quốc với Mỹ được thiết lập lại sau một thập kỷ. Sự sụp đổ của hệ thống Chiến tranh Lạnh và sự gia tăng ảnh hưởng kinh tế và quân sự của Trung Quốc đã tạo nên chính sách mới. Bắc Kinh theo dõi thận trọng khi NATO mở rộng về phía Đông và khi Mỹ tăng cường liên minh quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Rõ ràng, chính sách không liên minh của Bắc Kinh khiến Trung Quốc thiếu khả năng một mình đối mặt với các tổ chức này. Do đó, Trung Quốc chủ trương theo đuối cơ cấu bán liên minh nhăm khăc phục nhược điểm này. Hiện nay Trung Quốc đang tìm kiếm và thúc đẩy các mối quan hệ đối tác chiến lược cũng như các cuộc diễn tập quân sự và nhân đạo với nhiều quốc gia khác là một phần của chiến lược này. Chiến lược mới của Trung Quốc nhằm xây dụng một cơ cấu liên minh chống lại Mỹ. Trong chiến lược biển, Bắc Kinh đang nỗ lực hợp tác với Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc trong các hoạt động clìống cướp biển, và trao đổi các hoạt động của hải quân và diễn tập chung.

Hướng về phía trước

Thế giới đang thay đổi. Sự phát triển của Trung Quốc như một cường quốc kinh tế lớn buộc Bắc Kinh phải suy nghĩ lại chính sách đối ngoại truyền thống. Trước mắt, vấn đề Biển Đông là một mô hình thu nhỏ của cuộc tranh luận rộng lớn về chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Các tuyên bố chủ quyền mập mờ của Trung Quốc chỉ có tác dụng khi tình hình khu vực yên tĩnh, nhưng không phục vụ mục đích phát triển lợi ích biển và hoạt động của hải quân Trung Quốc, ngược lại đã làm tăng căng thẳng giữa Bắc Kinh và khu vực. Công cụ chính sách trước đây không còn phục vụ các nhu cầu của Trung Quốc. Chính sách phát triển kế thừa từ Đặng Tiểu Bình không còn mang lại bất cứ sự hợp tác đáng kể nào với các nước láng giềng ven biển và việc khẳng định đường 9 đoạn hoàn toàn trái với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển đồng thời làm gia tăng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi ở trong nước cũng như các phản ứng mạnh mẽ của các nước láng giềng. Mặc dù chính sách biển thiếu rõ ràng, nhưng Trung Quốc thể hiện ý đồ tiếp tục củng cố tuyên bố của họ trên cơ sơ đường 9 đoạn. Bắc Kinh thừa nhận những thay đổi chính sách là cần thiết, nhưng sự thay đổi đó không được gây nên bất cứ hậu quả nào./.

VỊ TRÍ NÀO CHO INĐÔNÊXIA Ở ĐÔNG NAM Á?

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 26/7/2012
TTXVN (Giacácta 22/7)

Bàn về các yếu tố cấu thành địa chính trị – kinh tế của khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh hiện nay; vai trò và cách hành xử của Inđônêxia với tư cách là một nước lãnh đạo khu vực có sức ảnh hưởng ngày càng tăng trong chính sách của các nước lớn, học giả Beginda Pakpahan – giảng viên Đại học Inđônêxia và là một nhà nghiên cứu tại trường Đại học Edinburgh (Anh) có bài biết đăng trên tờ “Bưu điện Giacácta”, nhan đề: “Địa chính trị và địa kinh tế ở Đông Nam Á: Vị trí nào của Inđônêxia?”. Dựa trên những phân tích tình hình, trong đó có vấn đề Biển Đông và cấu trúc hiệp định tự do thương mại (FTA), tác giả cũng đã đưa ra những luận giải chính sách vì một Đông Á, ASEAN ổn định, phát triển đáng lưu tâm. Sau đây là nội dung bài viết:


Địa chính trị và địa kinh tế trên toàn bộ khu vực Đông Nam Á đang thay đổi nhanh chóng hơn bao giờ hết, trong khi tầm quan trọng toàn cầu của các vấn đề nội bộ khu vực tiếp tục mở rộng. Trong đó, Biển Đông và sự gia tăng của quan hệ đối tác thương mại là hai vấn đề trung tâm của các nước khu vực và trên toàn thế giới.

Vậy vị trí của Inđônêxia,trong hai vấn đề này là gì? Làm thế nào chúng ta có thể dự báo phản ứng của Inđônêxia đối với những phát triển đó? Mức độ mà Inđônêxia có thể, hoặc nên phát triển hoặc tăng cường vị trí của mình?

Tôi cho rằng Inđônêxia nên ở vào vị trí trung tâm địa chính trị – kinh tế đương đại khu vực Đông Nam Á; tăng cường năng lực và khả năng của mình để hành xử như một nhân tố ổn định không liên kết, và như là một nhạc trưởng, nếu không thì cũng như một bên tham gia.

Thiết lập và duy trì ổn định kinh tế, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế trong khu vực là vai trò chính của ASEAN. Inđônêxia, với tư cách là một quốc gia, một quyền lực ngoại giao hoặc kinh tế, có thể phải đóng vai trò trung tâm trong định hướng tới nhũng mục tiêu này. Đó chính là sức mạnh của nên kinh tế Inđônêxia, đến mức mà sự ổn định khu vực không thể đạt được nếu thiếu chúng ta.

Biển Đông trở thành một vấn đề quan trọng đối với Inđônêxia, bởi hiện tồn tại rất nhiều tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và các nước ASEAN (Philíppin, Malaixia, Việt Nam và Brunây). Đôi khi Trung Quốc và Philíppin chơi trò chơi nguy hiểm ăn miếng trả miếng thông qua các tàu của họ ở bãi Scarborough – nơi cả hai đều tuyên bố chủ quyền. Hai bên cố tình gia tăng căng thẳng trong khu vực tới mức mà Trung Quốc gần đây đã phải cảnh báo các công dân của mình ở Philíppin. Còn Philíppin được Mỹ cam kết bảo vệ những gì mà Manila coi là lãnh thổ, nếu bị tấn công.

Sự căng thẳng ở Biển Đông có thể sẽ trở thành một cuộc chiến tranh toàn diện, nếu không được giải quyết hiệu quả.

Ôxtrâylia mời Mỹ triển khai 2.500 lính thủy đánh bộ ở căn cứ Danviri, với tuyên bố công khai là để đối phó với thiên tai trong khu vực. Oasinhtơn cũng hứa hẹn với Canbơrơ triển khai các thiết bị do thám ở quần đảo Cocos để theo dõi các hoạt động ở Biển Đông.

Những động thái này đã khiến Trung Quốc và các nước ASEAN chú ý. Biển Đông có khả năng trở thành một nơi cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Xét về mặt địa lý, đây là một khu vực căng thẳng địa chính trị hoàn toàn mới, và là sân sau của chúng ta.

Nếu Biển Đông đại diện cho một địa chính trị mới, thì sự phổ biến của các quan hệ đối tác kinh tế chắc chắn phải là hình mẫu của một địa kinh tế mới ở khu vực Đông Nam Á. ASEAN đã mở rộng họp tác kinh tế với các đối tác bên ngoài thông qua các hiệp định tự do thương mại (FTA) và hiệp định đối tác kinh tế khác. Nhiều thòa thuận kinh tế đã được ký kết, hoàn tất và đang trong quá trình triển khai, với các nước láng giềng và lân cận như Trung Quốc, Ấn Độ, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Nhật Bản và Hàn Quốc. Các nước thành viên ASEAN cũng đã đạt thoả thuận song phương về kinh tế, ví dụ: Xinhgapo – Trung Quốc và Brunây – Nhật Bản.

Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang nổi lên như một thỏa thuận thương mại quan trọng trong khu vực chúng ta.

Các nước thành viên TPP hiện bao gồm Niu Dilân, Xinhgapo, Brunây, Chilê, Mỹ, Malaixia, Ôxtrâylia, Việt Nam và Nhật Bản đã bày tỏ sự quan tâm đến tư cách thành viên và nhanh chóng thúc đẩy đàm phán gia nhập.

Trong khi chưa phải là thành viên của quan hệ đối tác này, Mỹ đã tuyên bố ý định thuyết phục các đồng minh trong khu vực Đông Nam Á tham gia TPP. Do đó, việc mở rộng nhanh chóng của các hiệp định thương mại kết họp với việc Mỹ xúc tiến thành lập TPP tạo nên đặc điểm một địa kinh tế mới của khu vực.

Dù muốn hay không, vị trí của Inđônêxia là ở trung tâm của những phát triển này. Một mặt, chúng ta là quốc gia lớn nhất Đông Nam Á với một vị trí chiến lược trong mối quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, Ôxtrâylia. Nhật Bản và Hàn Quốc. Mặt khác, Inđônêxia nằm giữa sự cạnh tranh đang phát triển giữa Trung Quốc và Mỹ về các vấn đề nêu trên: cọ xát kinh tế và lãnh thổ trong khu vực.

Không liên kết và nằm giữa các siêu cường, Inđônêxia hoàn toàn có thể là một nhân tố ổn định ảnh hưởng và trung gian trung thực giữa Mỹ và Trung Quốc. Chúng ta có cả cơ hội và năng lực để thúc đẩy hòa bình, an ninh và phát triển kinh tế.

Trên bình diện địa chính trị của khu vực Đông Nam Á, nếu ảnh hướng của Inđônêxia không phát huy tác dụng, liệu Trung Quốc có thể được thuyết phục để tôn trọng Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC) và Bộ qui tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông? Inđônêxia, và có lẽ chỉ Inđônêxia, mới có động lực và cơ hội để tác động đến Trung Quốc và Philíppin và giảm căng thẳng trong khu vực Biển Đông.

Inđônêxia có thể đề nghị phương cách chủ quyền chung đối với các vùng biển tranh chấp giữa Trung Quốc, Philíppin, Việt Nam, Malaixia và Brunây với sự ủng hộ của Mỹ và các nước ASEAN khác. Nếu cần phải như vậy, Inđônêxia sẽ dàn xếp ổn thỏa việc này.

Dưới vai trò chèo lái của Inđônêxia, ASEAN và Trung Quốc có thề thiết lập một ủy ban an ninh chung để giám sát các thỏa thuận tập thể (ví dụ như an ninh hàng hải và hợp tác năng lượng) trên Biển Đông.

Với vai trò lãnh đạo mạnh mẽ, vô tư đó, thì Trung Quốc, Philíppin, và các quốc gia liên quan khác có thể làm việc cùng nhau để bảo vệ và phát triển khu vực Biển Đông mà không còn có bầu không khí ngờ vực, sợ hãi và các mối đe dọa như hiện nay.

Đối với các yếu tố địa kinh tế của khu vực Đông Nam Á, Inđônêxia có thể tạo năng lực để ASEAN đạt đuực một lập trường chung khi ứng phó với sự phát triển của quan hệ đối tác kinh tế trong khu vực. Inđônêxia cần nhắc nhở và tác động các nước ASEAN khác hành động một cách tập thể, nhằm tăng cường hiệu lực của các FTA giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài, và làm cho Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) trở thành một cơ sở cho hợp tác kinh tế ở Đông Á.

Mỹ, Ôxtrâylia và các nước khác trong khu vực là thành viên của EAS. Nói cách khác, nếu có ý chí, Inđônêxia có thể mang lại một nỗ lực tập thể của ASEAN, Mỹ và các đối tác khác để thúc đẩy EAS trở thành một trục họp tác kinh tế./.

27/7/12

Thượng nghị sĩ Jim Webb: việc mở rộng quân sự và mở rộng chính quyền của Trung Quốc xuống biển Đông có thể “vi phạm luật pháp quốc tế”


Thượng nghị sĩ Jim Webb: việc mở rộng quân sự và mở rộng chính quyền của Trung Quốc xuống biển Đông có thể “vi phạm luật pháp quốc tế”

Kêu gọi Bộ Ngoại giao làm rõ tình hình

Người dịch: Dương Lệ Chi
25-07-2012

Washington, DC –Thượng nghị sĩ JimWebb, Chủ tịch Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương, thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ, hôm nay nói rằng các hành động gần đây của Trung Quốc đơn phương khẳng định quyền kiểm soát các vùng lãnh thổ tranh chấp ở Biển Đông (nguyên văn: biển Hoa Nam) có thể vi phạm luật pháp quốc tế. Ông đã kêu gọi Bộ Ngoại giao Mỹ làm rõ tình trạng này với Trung Quốc và báo cáo lại cho Quốc hội. 

 

Thượng nghị sĩ Webb nói trong một bài phát biểu hôm nay ở Thượng viện: “Với các sự trỗi dậy của một phe nào đó ở Trung Quốc có liên quan tới quân đội, Trung Quốc ngày càng trở nên hiếu chiến hơn. Hôm 21 tháng 6, Quốc Vụ viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập cái mà họ gọi là Thành phố Tam Sa, một khu vực cấp quận. Điều này có nghĩa là [họ] đơn phương tạo ra một bộ phận chính phủ từ hư không (ND: không người ở, không đất đai, chỉ toàn là biển) ở một khu vực mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền. Thành phố mà họ tạo ra này sẽ quản lý hơn 200 đảo nhỏ, các bãi cát và các rạn san hô bao quanh 2 triệu km vuông nước trên biển. Họ đưa dân đến cư trú và đóng quân ở một hòn đảo để tranh giành chủ quyền, và họ thông báo rằng cơ quan quản lý này sẽ quản lý toàn bộ khu vực đó ở Biển Đông” .

Thượng nghị sĩ Webb là người tài trợ ban đầu cho một nghị quyết mà Thượng viện đã nhất trí thông qua hồi tháng 6 năm 2011, lên án việc Trung Quốc sử dụng vũ lực ở Biển Đông và kêu gọi giải quyết các tranh chấp lãnh hải ở Đông Nam Á một cách hòa bình và đa phương. Ông nói: “Trung Quốc đã từ chối giải quyết những vấn đề này ở một diễn đàn đa phương. Họ tuyên bố rằng những vấn đề này sẽ chỉ được giải quyết song phương, với từng nước một. Tại sao? Bởi vì họ có thể thống trị bất cứ nước nào trong khu vực này. Đây là một sự vi phạm, tôi nghĩ hoàn toàn có thể cho là vi phạm luật pháp quốc tế. Trái ngược với các tuyên bố của chính Trung Quốc về việc họ sẵn sàng làm việc với các nước ASEAN để cố gắng phát triển Bộ Quy tắc Ứng xử. Điều này thật là rắc rối. Tôi thúc giục Bộ Ngoại giao làm rõ tình trạng này với Trung Quốc, và cũng [nói rõ] với cơ quan [chính phủ] của chúng ta ngay lập tức“.

Thượng nghị sĩ Webb đã bày tỏ mối quan ngại về các vấn đề chủ quyền trong khu vực này hơn 16 năm qua. Phiên điều trần đầu tiên của ông khi làm chủ tịch giả định của Tiểu ban Đông Á và Thái Bình Dương, thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ là về các vấn đề tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải ở châu Á hồi tháng 7 năm 2009. Thượng nghị sĩ Webb đã làm việc và đi thăm khắp các khu vực Đông Á và Đông Nam Á trong hơn bốn thập kỷ qua – với tư cách là một sĩ quan Thủy quân Lục chiến, một nhà kế hoạch về phòng thủ, một nhà báo, một tiểu thuyết gia, một viên chức cao cấp trong Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Hải quân, và một nhà tư vấn kinh doanh.

Một bản sao bài phát biểu của Thượng nghị sĩ Webb ở Thượng viện như sau:

Trong nhiều năm, khá lâu trước khi tôi vào Thượng viện, tôi rất thích làm việc và đi đến khu vực Đông Á với nhiều vai trò khác nhau: là một người lính thủy quân lục chiến ở Okinawa và Việt Nam, là một nhà báo, là một viên chức chính phủ, là một người khách của các chính phủ khác nhau, là một nhà làm phim, và là một nhà tư vấn kinh doanh.

Những gì chúng ta có thể làm trong 5-6 năm qua là để tái tập trung các mối quan tâm của nước ta đến khu vực quan trọng này của thế giới, tôi nghĩ đó là một trong những câu chuyện thành công tuyệt vời về chính sách đối ngoại của chúng ta. Đồng thời, chúng ta phải luôn luôn lưu tâm rằng sự hiện diện của Hoa Kỳ ở Đông Á và Đông Nam Á là để bảo đảm sự ổn định trong khu vực này. Nếu quý vị nhìn vào bán đảo Triều Tiên, quý vị sẽ thấy rằng trong nhiều thế kỷ đã có một chu kỳ, nơi trung tâm quyền lực chuyển đổi giữa Nhật Bản, Nga, và Trung Quốc. Đây là nơi duy nhất trên thế giới mà lợi ích địa lý và quyền lực của ba quốc gia này chồng chéo nhau, và nó chồng chéo với bán đảo Triều Tiên ngay ở giữa. Chúng tôi thấy hồi giữa thế kỷ trước, những gì đã xảy ra khi Nhật Bản trở nên quá hiếu chiến ở khu vực này của thế giới. Nhật đã đánh với Nga hồi đầu thập niên 1900. Nhật đã đánh bại họ (Nga). Điều này xảy ra khi họ di chuyển tới Triều Tiên, chiếm đóng Triều Tiên, và chuyển tới Trung Quốc. Điều này cuối cùng dẫn đến sự tham gia của chúng ta trong Đệ Nhị Thế chiến, và kể từ Đệ Nhị Thế chiến, sự hiện diện của chúng ta là để bảo đảm sự ổn định. Chúng ta đã nhìn thấy sự đối đầu – cuộc chiến Triều Tiên, nơi mà chúng ta đã chiến đấu với Trung Quốc, thêm vào là Bắc Triều Tiên, và cuộc chiến Việt Nam, mà tôi đã chiến đấu ở đó.

Nhưng nói chung, các nhà quan sát khu vực này lâu dài – những người như Bộ trưởng Cố vấn Lý Quang Diệu của Singapore – sẽ nói rằng, sự hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực này cho phép các hệ thống kinh tế phát triển và hệ thống chính phủ hiện đại hóa. Chúng ta là nước bảo đảm sự ổn định tuyệt vời. Khó khăn mà chúng ta đã và đang đối mặt trong 10-12 năm qua là làm thế nào đối phó với sự tăng trưởng kinh tế và quốc tế của Trung Quốc trong khu vực này. Trước khi Trung Quốc mở rộng, chúng ta đã nhìn thấy sự xuất hiện trở lại của Liên Xô. Khi tôi còn ở Lầu Năm Góc hồi thập niên 1980, đã nhận ra rằng Nga mơ ước có cảng nước ấm ở Thái Bình Dương. Hàng ngày, họ có khoảng 20-25 tàu ở Vịnh Cam Ranh, Việt Nam, là kết quả cuối cùng của chiến tranh Việt Nam. Nhưng trong 10-12 năm qua, thách thức đối với chúng ta là phát triển loại quan hệ thích hợp với Trung Quốc để chúng ta có thể thừa nhận sự phát triển của họ như là một quốc gia, nhưng duy trì sự ổn định thì rất quan trọng trong khu vực này của trên thế giới.

Có nhiều điều phiền toái trong những năm gần đây. Đã có một số vấn đề ở biển Đông mà trong một thời gian dài, các nhà lãnh đạo quân sự của chúng ta đơn giản cho là những tham gia về chiến thuật – nơi các tàu hải quân Trung Quốc và các tàu đánh cá tham gia vào các cuộc tranh cãi vặt với Philippines ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam và ở quần đảo Senkaku, gần Nhật Bản – nhưng càng ngày càng trở nên rõ ràng hơn về những gì mà chúng ta đang thấy là các vấn đề chủ quyền. Người dân đã nói nhiều năm về việc giải quyết vấn đề chủ quyền ở Đài Loan, nhưng rõ ràng rằng – Tôi đã nói về điều này nhiều năm rồi – có những vấn đề về chủ quyền khác. Một khi vấn đề Đài Loan được giải quyết, có quần đảo Senkaku, mà cả hai nước Nhật và Trung Quốc đều đòi chủ quyền, quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc và Việt Nam đòi chủ quyền, quần đảo Trường Sa có năm nước khác nhau tuyên bố chủ quyền, gồm có Trung Quốc và Philippines. Cho nên chúng ta bắt đầu nhìn thấy một sự trỗi dậy của các sự cố đã trở thành đối đầu quân sự trong vài năm qua. Ngoại trưởng của chúng ta đã thấy rất rõ hai năm trước, hầu như đến ngày mà những tình huống không chỉ đơn giản là những chuyện của châu Á, mà là lợi ích quan trọng của Hoa Kỳ để giải quyết một cách hòa bình và đa phương.

Chúng ta đã tranh đấu ở Ủy ban Đối ngoại để cố gắng thông qua Hiệp ước Luật Biển (ND: Công ước LHQ về Luật Biển) để giải quyết các loại sự cố này, điều mà không chỉ là các sự cố an ninh, mà chúng còn liên quan đến khả năng về một số lượng lớn tài sản ở khu vực này của thế giới. Chúng ta đã gặp nhiều khó khăn để thông qua Hiệp ước Luật Biển, nơi mà hầu hết các nước trên thế giới công nhận các nguyên tắc cơ bản về việc làm thế nào để giải quyết những vấn đề quốc tế này thông qua sự tham gia đa phương. Thiếu vắng Hiệp ước Luật Biển – và tôi nghĩ rằng với sự trỗi dậy của một phe nhóm nhất định nào đó của Trung Quốc liên kết với quân đội của họ – Trung Quốc ngày càng trở nên hiếu chiến hơn. Tháng vừa qua rất là phiền toái. Hôm 21 tháng 6, Quốc Vụ viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập cái mà họ gọi là Thành phố Tam Sa, một khu vực cấp quận. Điều này có nghĩa là [họ] đơn phương tạo ra một cơ quan Chính phủ từ hư không [ND: không người ở, không đất đai…] ở một khu vực mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền.

Hôm thứ sáu ngày 13 tháng 7, do bất đồng trong việc nhận diện tình hình Biển Đông như thế nào, Hiệp hội Các nước Đông Nam Á (ASEAN), một tổ chức gồm 10 quốc gia đã rất sẵn sàng trong việc cố gắng giải quyết các vấn đề này, đã thất bại trong việc ra thông cáo về một giải pháp đa phương cho các vấn đề ở Biển Đông.

Ngày 22 tháng 7, Quân ủy Trung ương Trung Quốc đã công bố việc triển khai một đơn vị đồn trú của các binh sĩ tới các đảo trong khu vực này. Lệnh đồn trú có khả năng sẽ được đặt ở quần đảo Hoàng Sa, nơi Việt Nam tuyên bố chủ quyền và nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Ngày 23 tháng 7, Trung Quốc chính thức bắt đầu thực hiện quyết định này. Họ thông báo rằng 45 nhà lập pháp hiện cai quản khoảng một ngàn người đang chiếm đóng các đảo này. Họ đã bầu một thị trưởng và một phó thị trưởng. Họ đã công bố 15 ủy viên Ban Thường vụ sẽ điều hành quận này. Họ thông báo rằng, thành phố mà họ đang tạo ra sẽ quản lý hơn 200 đảo nhỏ, các bãi cát, và các rạn san hô bao quanh 2 triệu km vuông nước trên biển. Họ đưa dân đến cư trú và đóng quân ở một hòn đảo để tranh giành chủ quyền, và họ thông báo rằng cơ quan quản lý này sẽ quản lý toàn bộ khu vực đó ở Biển Đông.

Trung Quốc đã từ chối giải quyết những vấn đề này ở một diễn đàn đa phương. Họ tuyên bố rằng những vấn đề này sẽ chỉ được giải quyết song phương, với từng nước một. Tại sao? Bởi vì họ có thể thống trị bất cứ nước nào trong khu vực này. Đây là một sự vi phạm, tôi nghĩ hoàn toàn có thể cho là vi phạm luật pháp quốc tế. Trái ngược với các tuyên bố của chính Trung Quốc về việc họ sẵn sàng làm việc với các nước ASEAN để cố gắng phát triển Bộ Quy tắc Ứng xử. Điều này rất là rắc rối. Tôi đề nghị Bộ Ngoại giao làm rõ tình trạng này với Trung Quốc, và cũng [nói rõ] với cơ quan [chính phủ] của chúng ta ngay lập tức” .

Nguồn: Jim Webb

“Hàng chục tàu cá cùng 2 khu trục hạm Trung Quốc áp sát đảo Thị Tứ”

(Dân trí) - Nhật báo Philippines Daily Inquirer ngày 26/7 đưa tin khoảng 20 tàu cá Trung Quốc, với sự hộ tống của ít nhất 2 khu trục hạm, đã được triển khai xung quanh đảo Thị Tứ trong động thái tiếp theo làm gia tăng căng thẳng ở khu vực quần đảo Trường Sa trên Biển Đông.

Đảo Thị Tứ nằm trong quần đảo Trường Sa.

Các nguồn tin quân sự của Philippines cho biết là đội tàu cá Trung Quốc gồm ít nhất 20 chiếc tàu đã tiến đến khu vực cách đảo Thị Tứ 9 km từ hôm thứ ba, 24/7 và dường như có sự hộ tống của hai khu trục hạm của hải quân Trung Quốc.

Phát ngôn viên của Bộ tư lệnh miền Tây Philippines xác nhận sự hiện diện của tàu Trung Quốc gần đảo Thị Tứ, nhưng không cung cấp chi tiết, mà chỉ nói bộ Ngoại giao sẽ xử lý vụ việc. Một nguồn tin từ lực lượng hải quân miền Tây Philippines cho biết là bốn tàu hải quân và tàu của lực lượng tuần duyên đang tuần tra ở khu vực này, nhưng cũng không nói rõ là hải quân Philippines sẽ phản ứng như thế nào.

Đảo Thị Tứ, rộng khoảng 37 hecta, là đảo lớn thứ hai trong quần đảo Trường Sa. Ngày 21/12/1933, theo một nghị định sáp nhập các đảo ở Trường Sa dưới thời Pháp thuộc, đảo Thị Tứ được sáp nhập vào địa phận tỉnh Bà Rịa. Ngoài Việt Nam, Philippines, Trung Quốc và Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền đối với đảo này. Kể từ những năm 1970 Philippines đã chiến đóng đảo này, nằm cách Palawan của Philippines 480 km về phía Tây Nam và gọi đây là đảo Pag-asa.

Theo một nguồn tin quân sự, quân đội Philippines tin rằng bãi đá Mischief ( tức bãi Vành Khăn ở quần đảo Trường Sa, bị Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1995) hiện đang được Bắc Kinh sử dụng làm bàn đạp để lấn sâu thêm vào lãnh thổ Philippines.

Theo ông Eugenio Bito-onon, người Philippines bầu là thị trưởng Thị Tứ, các ngư dân Philippines gần đây đến bãi Vành Khăn để trao đổi hàng hóa cho biết Trung Quốc đã nạo vét bãi đá có vẻ như để cho phép các tàu lớn tiến sâu hơn vào đây. Ông cũng nói thêm là Trung Quốc cũng đang biến bãi Su Bi gần Thị Tứ thành một “pháo đài” khác, với việc trong tháng 5 vừa qua, đã hoàn tất công trình xây dựng tòa nhà bốn tầng với hệ thống radar.

Vũ Quý Theo AFP, Daily Inquirer

Bản đồ cổ phương Tây khẳng định Hoàng Sa của Việt Nam

(VnExpress.net) - Những tấm bản đồ cổ của phương Tây góp phần minh chứng từ hơn 5 thế kỷ trước, Việt Nam đã xác lập chủ quyền quốc gia trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

An Nam đại quốc họa đồ do Giám mục Taberd vẽ năm 1838.  

Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng vừa hoàn thành đề tài Font tư liệu về chủ quyền Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng). Tiến sĩ Sơn cho hay, không chỉ các bản đồ cổ Việt Nam, Trung Quốc mà rất nhiều bản đồ cổ của phương Tây đều khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.

Một trong những thành công lớn của nhóm nghiên cứu là sưu tầm được 56 tấm bản đồ phương Tây của font tư liệu này. Các bản đồ này được vẽ rất sớm, như: Bản đồ do Livro da Marinharia FM Pinnto vẽ năm 1560, bản đồ do Gerard Mercator (1512 - 1594) vẽ có niên đại vào nửa sau thế kỷ 16... cho đến những bản đồ được vẽ vào cuối thế kỷ 19 như bản đồ do Stielers Handatla vẽ năm 1891...

Tất cả đều thể hiện bằng hình vẽ hoặc bằng chữ viết vị trí của quần đảo Hoàng Sa (bao gồm cả quần đảo Trường Sa) trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới các tên gọi như Cauchi, Cochi, Cochinchina, Cochinchine... (tùy theo ngôn ngữ của từng nước phương Tây).

Trên một số bản đồ, địa danh Hoàng Sa còn được thể hiện hoặc ghi chú rất đặc biệt. Chẳng hạn, bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613 thể hiện quần đảo Frael (Hoàng Sa), bao gồm tất cả các đảo của Việt Nam từ nam vịnh Bắc Bộ cho đến hết vùng biển phía nam của Việt Nam, trừ Pulo Condor (Côn Đảo) và Pulo Cici (đảo Phú Quốc) được vẽ riêng.

Trong bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1645, quần đảo Frael (Hoàng Sa) được vẽ nối liền với các đảo Pulo Secca de Mare (Cù Lao Thu, tức đảo Phú Quý), Pulo Cambir (Cù Lao Xanh), Pullo Canton (Cù Lao Ré, tức đảo Lý Sơn), thành một chuỗi đảo liên hoàn thuộc lãnh thổ Cochinchina (Đàng Trong)....

Đặc biệt, tấm bản đồ mang tên An Nam đại quốc họa đồ, viết bằng 3 thứ ngôn ngữ Hán, Quốc ngữ và Latin, do Giám mục Jean Louis Taberd vẽ năm 1838, có ghi hàng chữ Paracel seu Cát Vàng (nghĩa là Paracel hoặc là Cát Vàng) khẳng định chủ quyền Việt Nam.

Cũng chính Giám mục Taberd trong bài viết in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal vào năm 1837 cũng khẳng định Paracels, hay Pracel, tức là Hoàng Sa - Cồn Vàng, thuộc về Cochinchina (Giao Chỉ gần China, chỉ tên nước ta), tiến sĩ Sơn phân tích.

Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, chuyên gia hàng đầu về bản đồ cổ Việt Nam, hiện sưu tập được 30 bản đồ cổ của phương Tây, có niên đại từ năm 1489 đến năm 1697, có thể hiện hình vẽ và địa danh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. 

Đặc biệt từ tấm bản đồ thứ 4 từ năm 1507 đều có ghi vẽ đất nước ta với biển Đông và quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Tùy theo cách phát âm của mỗi tác giả vẽ bản đồ mà ghi tên nước ta. Có bản đồ ghi Cauchi tức Giao Chỉ, hoặc các dạng tự khác như Cochi, Cachi, Cachu, Cochin đều biểu hiện nguyên âm Giao Chỉ.

Theo tiến sĩ Sơn, 56 bản đồ cổ phương Tây này được sưu tầm có niên đại trải dài hơn 3 thế kỷ. Điều này chứng tỏ từ thế kỷ 16, nhiều người phương Tây đã biết đến vùng biển đảo Hoàng Sa và ghi nhận quần đảo này là một phần lãnh thổ của Việt Nam (mà bấy giờ họ gọi là Cochinchine, Cochinchina, Annam…). 

"Chủ quyền này đã được các nhà bản đồ học, các nhà hàng hải, nhà phát kiến địa lý... phương Tây thừa nhận và ghi dấu lên những tấm bản đồ địa lý và bản đồ hàng hải của họ. Vì thế, những tấm bản đồ này là những tư liệu quý, góp phần khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa), mà hiện nay đang có một số quốc gia trong khu vực tranh chấp chủ quyền", ông Sơn nói. 

Theo tiến sĩ Sơn, nhiều tấm bản đồ cổ phương Tây đang được lưu giữ tại các thư viện công và bộ sưu tập tư nhân ở châu Âu và châu Mỹ. Trong đó phần lớn bản đồ mà nhóm nghiên cứu đề tài sưu tầm đều là bản đồ scan trực tiếp từ bản đồ gốc được đồng nghiệp là ông Trần Thắng, Chủ tịch Viện Văn hóa giáo dục Việt Nam (IVCE) tại Mỹ, đến các thư viện tại Mỹ để tìm kiếm, xin phép scan.

Qua ông Thắng, tiến sĩ Sơn vừa có thêm nhiều tấm bản đồ cổ của phương Tây xuất bản trước và sau khi chính quyền Trung Quốc có những tuyên bố bất hợp pháp về chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào năm 1909.

Trong số này có bản đồ China do Adam và Charles Black vẽ cho bộ sách The Encyclopaedia Britannica, do Nhà xuất bản Edinburgh ấn hành năm 1876, bản đồ China, ấn hành năm 1883, bản đồ China and Japan, ấn hành năm 1896; bản đồ Siam and the Malay Archipelago do The Times Atlas (London, Anh) xuất bản năm 1896, bản đồ Route map showing from St. Petersburg to Guft of Tongking, ấn hành năm 1900...

"Điểm giống nhau giữa các bản đồ này là phần lãnh thổ Trung Quốc được tô khác màu hoặc được giới hạn bằng những đường kẻ đậm nét để phân biệt với lãnh thổ các nước láng giềng của Trung Quốc, luôn chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam. Khẳng định Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa", tiến sĩ Sơn nhấn mạnh.

Tiền phong

“Đường lưỡi bò là cái cùm lớn tròng vào cổ Trung Quốc”

(TNO) Một nhà nghiên cứu tên tuổi trên thế giới nhận định rằng đường lưỡi bò phi lý của Trung Quốc tại biển Đông là "cái cùm lớn tròng vào cổ Trung Quốc".

Đảo Trường Sa Lớn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam - Ảnh: Đào Ngọc Thạch

Theo bài báo đăng trên tờ Straits Times hôm nay (27.7), ông Mahbubani - Hiệu trưởng trường Chính sách công Lý Quang Diệu thuộc đại học Quốc gia Singapore Kishore, nói rằng Trung Quốc đang phạm phải những sai lầm nghiêm trọng về địa chính trị.

Một trong những sai lầm lớn của Trung Quốc đã được thể hiện tại hội nghị ASEAN ở Campuchia trong tháng này, khi gây áp lực lên nước chủ nhà khiến ASEAN lần đầu tiên trong lịch sử không thể thông qua được thông cáo chung, theo ông Mahbubani, người mà tạp chí Foreign Policy xếp vào danh sách 100 nhà tư tưởng hàng đầu thế giới.

Một sai lầm đáng chú ý nữa là việc đưa ra yêu sách đường lưỡi bò phi lý tại biển Đông. Theo ông Mahbubani, đường lưỡi bò (còn gọi là đường chín đoạn) mà Trung Quốc vẽ tại biển Đông chỉ là một cái “cùm địa chính trị lớn tròng vào cổ Trung Quốc”.

Việc Trung Quốc đưa ra yêu sách về đường lưỡi bò trong công hàm gửi Liên Hiệp Quốc vào năm 2009 được ông Mahbubani đánh giá là một hành động dại dột.

“Với việc đệ trình đường chín đoạn lên Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc đã lâm vào một tình thế không thể thắng, bởi rất khó có thể bảo vệ bản đồ này theo luật pháp quốc tế”, ông Mahbubani viết trên tờ Straits Times.

Sơn Duân

25/7/12

Mỹ quan ngại về “thành phố Tam Sa”

(Báo Pháp luật Việt Nam) - Ngày 24/7 Bộ Ngoại giao Mỹ đã bày tỏ sự quan ngại trước “những hành động đơn phương” của Trung Quốc trên biển Đông và nói rằng, các tranh chấp về chủ quyền giữa các bên liên quan cần phải giải quyết bằng biện pháp ngoại giao phối hợp.

Trung Quốc đơn phương thành lập “thành phố Tam Sa”. Ảnh: THX

Phát biểu tại một cuộc họp báo ngày 24/7, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland đã cảnh báo Trung Quốc không nên hành động đơn phương trên biển Đông.

“Chúng tôi quan ngại liệu có nên thêm bất kỳ động thái đơn phương nào nhằm đặt sự đã rồi vào một vấn đề mà chúng tôi đã nhiều lần nói là chỉ có thể giải quyết thông qua đàm phán, qua đối thoại và bằng tiến trình ngoại giao phối hợp giữa tất cả các bên tranh chấp” - bà Nuland nói.

Tuyên bố trên của bà Nuland được đưa ra sau khi Bắc Kinh ngang nhiên tổ chức lễ thành lập “thành phố Tam Sa” trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, bất chấp dư luận và pháp luật.

Washington nói rằng Mỹ không có tranh chấp chủ quyền trên biển Đông nhưng có lợi ích chiến lược đối với tự do hàng hải trên tuyến đường biển quan trọng này cũng như việc duy trì hòa bình và ổn định tại đây.

Tại Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF 19) diễn ra tại Campuchia hồi đầu tháng, Ngoại trưởng Clinton cũng đã kêu gọi tất cả các bên liên quan cùng giải quyết những tranh chấp ở biển Đông một cách “không ép buộc, không có sự hăm dọa, không có những đe dọa và không sử dụng vũ lực”, dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Thượng viện Philippines ngày 24/7 đã phê chuẩn một hiệp định, cho phép quân đội Australia triển khai trên lãnh thổ của họ để tiến hành tập trận. Ông Edwin Lacierda – người phát ngôn của Tổng thống Philippines Benigno Aquino – nói rằng quyết định trên của Thượng viện là bước đi quan trọng nhằm tăng cường an ninh quốc gia và khu vực.
Thượng nghị sỹ Eduardo Angara cho biết ông ủng hộ hiệp định này vì Philippines cần “một mạng lưới bạn bè có khả năng bảo vệ” trong bối cảnh có một “mối đe dọa từ một nước rất mạnh và đã mở rộng phạm vi tuyên bố chủ quyền tới gần cửa lãnh thổ của chúng ta”.

Khiêu khích không cần thiết

Cũng liên quan đến hàng loạt động thái của Trung Quốc nhằm cố tình chính thức hóa thành phố Tam Sa, Thượng nghị sỹ John McCain của đảng Cộng hòa Mỹ ngày 24/7 đã cảnh báo về việc Trung Quốc “khiêu khích một cách không cần thiết” khi thành lập một đơn vị quân sự đồn trú trên quần đảo Hoàng Sa.

“Quyết định của Ủy ban quân sự trung ương Trung Quốc cho triển khai quân đội trên các quần đảo ở biển Đông mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền là hành vi khiêu khích không cần thiết” – ông McCain nói.

Thượng nghị sỹ Mỹ cho rằng các động thái khác của Bắc Kinh - bao gồm chỉ định một hội đồng các nhà lập pháp để quản lý khu vực quần đảo đang xảy ra tranh chấp - “chỉ tạo thêm lý do khiến nhiều nước châu Á ngày càng quan ngại về những đòi hỏi chủ quyền mang tính bành trướng của Trung Quốc, vốn không có cơ sở luật pháp quốc tế, và khả năng Trung Quốc sẽ tìm cách áp đặt đòi hỏi chủ quyền bằng con đường áp đặt và cưỡng bức”. “Những hành động của Bắc Kinh thật đáng thất vọng và không xứng với một cường quốc có trách nhiệm” – ông McCain kết luận.

Thượng nghị sỹ đảng Cộng hòa Mỹ cũng kêu gọi thúc giục các bên có tuyên bố chủ quyền trên biển Đông tìm kiếm một giải pháp hòa bình, đa phương dựa trên luật pháp quốc tế.

Cảnh báo nguy cơ xung đột vũ trang trên biển Đông

Trong khi đó, nhóm Nghiên cứu Khủng hoảng Quốc tế (ICG) có trụ sở tại Brussel, Bỉ ngày 24/7 cảnh báo rằng những căng thẳng liên quan đến tranh chấp chủ quyền trên biển Đông có thể leo thang thành xung đột do các bên liên quan đang tăng cường trang bị vũ khí.

Theo ICG, triển vọng giải quyết các tranh chấp “dường như bị thu hẹp” lại sau khi 10 nước ASEAN trong một hội nghị thượng đỉnh mới đây không ra được một bộ quy tắc ứng xử của các bên trên biển Đông.

“Nếu không có được sự đồng thuận về một cơ chế giải quyết, căng thẳng trên biển Đông có thể dễ dàng diễn biến thành xung đột vũ trang. Khi các nước ASEAN chưa thống nhất được chính sách gắn kết trên biển Đông thì sẽ không thể đề ra những quy tắc có tính cưỡng chế thi hành nhằm giải quyết các tranh chấp” – ông Paul Quinn-Judge - Giám đốc ICG về châu Á, cho biết.

ICG cho rằng Trung Quốc đã tích cực khai thác những chia rẽ trong nội bộ ASEAN, bằng cách ưu đãi những thành viên trong khối ủng hộ lập trường của Bắc Kinh trong tranh chấp chủ quyền trên biển Đông.

Báo cáo của ICG cũng cho rằng, Trung Quốc và các nước có tuyên bố chủ quyền trên biển Đông đang không ngừng tăng cường sức mạnh Hải quân và lực lượng bảo vệ bờ biển trong bối cảnh tranh chấp. Vì thế, theo ICG, sự việc có thể diễn tiến căng thẳng hơn và không loại trừ nguy cơ đối đầu trên biển. Theo ICG, cách tốt nhất để giảm những căng thẳng là các bên tranh chấp cần thống nhất trong việc chia sẻ nguồn tài nguyên trên vùng biển này.

Thanh Tâm (Theo AP, AFP)
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...