Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

31/12/10

Trung Quốc chuẩn bị cho xung đột vũ trang “theo mọi hướng”

Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc hôm 29/12 cho biết Bắc Kinh đang chuẩn bị sẵn sàng cho xung đột vũ trang “theo mọi hướng”. 
 
 
Tuyên bố này có thể xem là một “đòn phủ đầu” trước chuyến thăm Bắc Kinh của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ vào tháng tới.

Trả lời phỏng vấn báo chí hôm qua (29/12), Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt nói: “Trong 5 năm tới, quân đội của chúng tôi sẽ tích cực chuẩn bị cho xung đột vũ trang theo mọi hướng chiến lược… Kinh tế - xã hội của chúng tôi sẽ phát triển với tốc độ nhanh hơn, tăng cường sức mạnh quốc gia trên mọi lĩnh vực”.

Ông này cũng khẳng định thêm, Trung Quốc sẽ hiện đại hóa lực lượng bằng công nghệ của chính nước này, thay vì phải phụ thuộc vào một nước nào khác.

Trung Quốc nhiều lần tuyên bố sự trỗi dậy của họ nhằm mục đích hòa bình. Tuy nhiên, tốc độ và quy mô hiện đại hóa, mở rộng lực lượng quân đội của Trung Quốc thời gian gần đây thực sự là hồi chuông báo động đối với các nước láng giềng khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Nhật Bản.

Tuyên bố trên được đưa ra giữa lúc quan hệ giữa lực lượng vũ trang của Mỹ và Trung Quốc đang căng thẳng.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates dự kiến sẽ có chuyến thăm 3 ngày tới Bắc Kinh vào tháng tới nhằm giảm căng thẳng giữa hai bên.

Từ đầu năm, Bắc Kinh đã tuyên bố cắt đứt các mối liên hệ quân sự với Mỹ để phản đối việc nước này đồng ý bán vũ khí cho Đài Loan.

Quan hệ này càng trở nên xấu đi khi Mỹ triển khai tàu sân bay USS George Washington đến bán đảo Triều Tiên vào tháng trước.

Cũng trong tháng này, Trung Quốc tuyên bố sẽ triển khai tàu sân bay vào năm tới, một dấu hiệu cho thấy Trung Quốc quyết tâm trở thành một cường quốc có tầm ảnh hưởng lớn với thế giới.

Ngoài ra, Trung Quốc cũng đang trong giai đoạn hoàn thành tên lửa đạn đạo có thể tiêu diệt tàu sân bay của Mỹ ở khoảng cách 1.500 km.

Giới phân tích vẫn tranh cãi về khả năng Trung Quốc sẽ khởi xướng một cuộc chạy đua vũ trang ở khu vực châu Á.

Chi tiêu ngân sách quốc phòng hàng năm của Trung Quốc tuy lớn, nhưng vẫn chỉ bằng gần 1/6 của Mỹ (663 tỷ USD).

(Theo Telegraph)

Nhật lập căn cứ trinh sát gần đảo tranh chấp với Trung Quốc

Báo Nhật ngày 28/12 đưa tin, nước này đã thành lập một căn cứ do thám gần đảo Điếu Ngư/Senkaku, nhằm tăng cường “cánh báo và giám sát” đối với Trung Quốc. 
 
Vùng biển quanh đảo Miyako là con đường duy nhất mà Hải quân Trung Quốc có thể tiến vào Thái Bình Dương.

Căn cứ này được đặt ở đảo Miyako, gần đảo Senkaku (hay Điếu Ngư theo cách gọi của Trung Quốc).

Đảo Miyako cách đảo Okinawa 303 km, cách đảo Điếu Ngư khoảng 160 km, cách Thượng Hải khoảng 800 km. Vùng biển giữa Miyako và Okinawa là con đường duy nhất mà Hải quân Trung Quốc có thể tiến vào Thái Bình Dương.

Tên gọi chính thức của căn cứ này là căn cứ Naha trên đảo Okianawa của Lực lượng Phòng vệ trên không Nhật.

Đây là căn cứ trinh sát vô tuyến lớn nhất của Nhật ở vùng biển Tây Nam, được trang bị hệ thống radar và do thám vô tuyến FURAFO hiện đại nhất, có thể phủ sóng đến khu vực duyên hải Trung Quốc và Đài Loan.
(Theo China Military)

“Tướng lĩnh Triều Tiên đang huấn luyện chiếm các đảo của Hàn Quốc”

(DVT.vn) - Hãng thông tấn Yonhap hôm qua đưa tin, các tướng lĩnh của Bình Nhưỡng đang khẩn trương huấn luyện quân đội chiếm 5 đảo của Hàn Quốc ở Hoàng Hải. 
 
Triều Tiên vừa bổ sung 20.000 quân cho lực lượng chiến đấu đặc biệt ở biên giới với Hàn Quốc.

Dẫn nguồn Trung Quốc thạo tin Triều Tiên, Đài phát thanh tự do châu Á cho hay, những tay súng thiện xạ của Bộ Chỉ huy lực lượng hải quân và Tổng cục trinh thám Triều Tiên đang triển khai tập trận ở ngoài khơi vùng biển Nampo từ giữa tháng 12.

Nguồn tin này cho rằng, cuộc tập trận được tiến hành theo lệnh của Chủ tịch Kim Jong-il và con trai út Jong-un.

Những tướng lĩnh này đều là những người cấp bậc cao thuộc đơn vị xếp hàng nhất, nhì trong Quân đội Triều Tiên. Các binh lính được huấn luyện bơi, lặn trong thời gian lên đến 40 phút thậm chí vào thời điểm lạnh nhất của mùa đông.
Theo đánh giá của nguồn tin trên, nếu quân Triều Tiên bắt giữ con tin ở 5 đảo của Hàn Quốc, liên quân Mỹ-Hàn khó có thể trở tay.

Theo kế hoạch, có thể quân đội Triều Tiên sẽ nã pháo vào 5 đảo vào một đêm trăng, lực lượng chiến đấu đặc biệt sẽ từ các ca-nô lướt êm đổ bộ và chiếm đảo.

Tuy nhiên, một quan chức chính phủ Hàn Quốc đã bác bỏ thông tin này, ông nói: “Nếu đúng là binh lính Triều Tiên đang tập trận ở ngoài khơi Nampo, thì chúng tôi cũng chỉ cho rằng họ đang tập trận thường niên vào mùa đông, chứ không phải nhằm đổ bộ vào các đảo ở Hoàng Hải.”

Trước đó, hôm 29/12, tờ Asahi của Nhật bản cho hay, Cơ quan tình báo quốc gia Hàn Quốc đã cảnh báo Triều Tiên có thể sẽ chiếm các đảo của Seoul vào năm 2012.

Bình Nhưỡng cho biết năm 2012 - dịp kỷ niệm tròn 100 năm ngày sinh của cố Chủ tịch Kim Il Sung sẽ đánh dấu thời điểm Triều Tiên bắt đầu nỗ lực trở thành một quốc gia hùng mạnh, thịnh vượng.

(Theo Yonhap)

Lực lượng quân sự đặc biệt Triều Tiên tăng lên 200.000 quân

(DVT.vn) - Hãng tin AP hôm nay cho hay, Triều Tiên đã triển khai một loạt xe tăng và bổ sung thêm 20.000 quân vào lực lượng đặc biệt tới biên giới Hàn Quốc. 
 

Lực lượng quân sự đặc biệt của Triều Tiên đã tăng từ 180.000 quân năm 2008 lên 200.000 quân. Những lực lượng này được thành lập với mục đích thực hiện ám sát, xâm nhập và phá vỡ các cơ sở chính tại Hàn Quốc.

Quân đội Triều Tiên đã triển khai nhiều pháo binh tầm xa dọc theo khu phi quân sự, sẵn sàng khởi động bất ngờ vào Seoul và các khu vực lân cận. Ngoài ra, Triều Tiên cũng triển khai một loại xe tăng chiến đấu với hỏa lực mạnh hơn, tính cơ động cao hơn trước tại khu vực gần biên giới, nguồn tin của AP cho hay.

Cũng theo AP, các tài liệu mới cho thấy Triều Tiên dự định dựa vào các chương trình hạt nhân, các lực lượng đặc biệt, pháo binh tầm xa, tàu ngầm và các hình thức chiến tranh trên internet để đối phó với lực lượng quân sự công nghệ cao của Hàn Quốc.

Báo cáo của Bộ Quốc phòng tại Seoul nhấn mạnh mối đe dọa quân sự từ phía Triều Tiên ngày càng lớn.
Vụ nã pháo liên Triều hôm 23/11cùng với sự kiện chìm tàu chiến Cheonan đã buộc Hàn Quốc xác định Triều Tiên là “kẻ thù” trong các tài liệu quân sự của mình.

Trước đó vào năm 2008, nghiêm trọng hơn Hàn Quốc đã coi Triều Tiên như một “mối đe dọa trực diện và nghiêm trọng”.

Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng ít khả năng Triều Tiên phát động chiến tranh toàn diện chống Hàn Quốc bởi e ngại sự hiện diện của 28.500 quân Mỹ ở nước này.

Dẫn một số nguồn tin, AP cho hay Mỹ dự kiến triển khai thêm 690.000 quân, 160 tàu hải quân và 2.000 máy bay quân sự nếu chiến tranh nổ ra trên bán đảo Triều Tiên.

(Theo AP)

Đôi nét về tân đại sứ Mỹ tại Việt Nam

Thông thạo tiếng Trung và tiếng Nhật, tân đại sứ Shear nhiều năm làm việc tại châu Á và từng phụ trách các hồ sơ Đông Bắc Á của Ngoại giao Mỹ. 
 
 Đại sứ David Shear.

Đại sứ Mỹ mới được bổ nhiệm David Shear dự kiến sẽ đến Việt Nam vào tháng 1/2011, thay đại sứ Michael Michalak vừa hoàn thành nhiệm kỳ kéo dài hơn 3 năm qua.

Theo thông báo của Bộ Ngoại giao Mỹ, ông David Shear sẽ “tiếp tục các bước đi của người tiền nhiệm và nhấn mạnh đến giáo dục như một ưu tiên chính sách của Mỹ ở Việt Nam”.

Là người thông thạo tiếng Trung và tiếng Nhật, tân đại sứ Shear có kinh nghiệm làm việc lâu năm tại châu Á và từng phụ trách các hồ sơ Đông Bắc Á của Bộ Ngoại giao Mỹ (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mông Cổ). Ông cũng không xa lạ với tình hình Đông Nam Á, trên cương vị phó đại sứ Mỹ tại Malaysia trước đó.

Cho tới khi được Tổng thống Obama bổ nhiệm làm đại sứ tại Việt Nam hôm 9/12, chức vụ gần nhất mà ông Shear nắm giữ là chức Trợ lý Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương từ 2009. Trên cương vị này, ông David Shear đã đóng vai trò quan trọng trong việc điều phối quan hệ của Mỹ với Trung Quốc và Đài Loan liên quan đến vụ Mỹ chấp thuận bán 6,4 tỷ USD vũ khí cho hòn đảo này.

Trong một phát biểu hồi tháng 3/2010 trước một ủy ban về quan hệ Mỹ - Trung (U.S.-China Economic and Security Review Commission), ông Shear giải thích những gì mà Mỹ đang làm là để Trung Quốc hiểu rằng nước Mỹ cũng có các quyền lợi mạnh mẽ ở châu Á. Theo ông, nước Mỹ có “quyền lợi mạnh mẽ về an ninh để tạo môi trường đảm bảo cho một giải pháp hòa bình, không mang tính cưỡng bức nhau trong quan hệ song phương”.

Trong phát biểu hồi tháng 7 tại tổ chức Carnegie Endowment, ông Shear khẳng định tuy Mỹ không ủng hộ Đài Loan độc lập nhưng khuyến khích quan hệ xuyên eo biển về thương mại, giảm căng thẳng và ủng hộ cho Đài Loan có một môi trường phát triển thịnh vượng và dân chủ.

Theo Bộ Ngoại giao Mỹ, ưu tiên hàng đầu của ông Shear (đại sứ Mỹ thứ 5 kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao) khi đến Việt Nam sẽ là giáo dục. Đây cũng là mặt mạnh của nhà ngoại giao vốn tốt nghiệp Earltham College và có bằng M.A. của Trường Johns Hopkins về quan hệ quốc tế, và cũng từng nghiên cứu tại viện chuyên về ngoại giao tại Đại học Georgetown. Các lĩnh vực hoạt động của ông, gồm cả nghiên cứu và sở thích, thường thiên về quân sự.

Ngoài ra, ông Shear cũng từng theo học tại Đại học Waseda (Nhật Bản), Đại học Quốc gia Đài Loan ở Đài Bắc và cả Đại học Nam Kinh (Trung Quốc).

Nhận định về việc bổ nhiệm ông Shear làm tân đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Hoàng Duy Hùng - Việt kiều ở Houston, Texas - nói: “Việc chọn một đại sứ chuyên nghiệp về châu Á, sành sỏi tiếng Trung Quốc và Nhật Bản sang Hà Nội cho thấy Wasshington muốn nâng quan hệ Mỹ - Việt Nam lên thêm một bước cao hơn và có tính chiến lược hơn”.

Trả lời phỏng vấn của đài “Tiếng nói Hoa Kỳ” (VOA), Phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Joseph Yun khẳng định Việt Nam có vị trí chiến lược tại châu Á và Mỹ đánh giá cao mối quan hệ song phương với Việt Nam.

Trong năm 2010, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã hai lần tới Việt Nam, tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á. Trong cả hai chuyến công du, bà đã gặp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm và trao đổi về mối quan hệ song phương.

Theo ông Joseph Yun, đây là những chuyến công tác quan trọng và bất thường, vì việc một Ngoại trưởng Mỹ công du tới một địa điểm tới hai lần cho thấy chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama đánh giá cao quan hệ với Việt Nam và mong muốn cải thiện quan hệ song phương.

Đánh giá vị trí của Việt Nam, Phó trợ lý Ngoại trưởng Yun khẳng định Việt Nam có “vị trí chiến lược” giữa Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Ngoài ra, Việt Nam cũng ở vị trí trung tâm các hoạt động kinh tế diễn ra khắp châu Á. Vì thế, ông Yun cho rằng Việt Nam đang… đóng vai trò cầu nối hữu ích giữa các nước Đông Nam Á và Đông Bắc Á.

Sách trắng của Hàn Quốc gọi Triều Tiên là “kẻ thù”

Sách trắng Hàn Quốc năm nay sử dụng cách gọi gay gắt hơn so với thuật ngữ “mối đe dọa quân sự trực tiếp” dưới thời Tổng thống Roh Moo-hyun. 
 


Theo Tân Hoa xã, trong sách trắng quốc phòng do Bộ Quốc phòng Hàn Quốc công bố ngày 30/12, Seoul gọi chính quyền và quân đội Triều Tiên là “kẻ thù."

Tuy nhiên, trong sách trắng năm nay, Seoul không coi Triều Tiên là “kẻ thù chính” như nhiều người dự đoán sau khi tình hình trên Bán đảo Triều Tiên trở nên đặc biệt căng thẳng.

Thuật ngữ “kẻ thù chính” được Hàn Quốc sử dụng từ năm 1995, song Tổng thống Roh Moo-hyun đã xóa bỏ cách gọi này năm 2004 trong bối cảnh hai miền có nhiều động thái hòa giải.

Trang web Uriminzokkiri của Chính phủ Triều Tiên ngày 29/12 đã phản đối việc Seoul gọi Triều Tiên bằng những cái tên như vậy và coi đây là hành động “tuyên chiến."

Trong một diễn biến khác, Chính phủ Trung Quốc bày tỏ "thật sự hy vọng và ủng hộ" đối thoại giữa hai miền Triều Tiên.

Phát biểu tại cuộc họp báo ngày 30/12, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Khương Du khẳng định lại quan điểm của Bắc Kinh mong muốn hai miền Triều Tiên giải quyết các vấn đề thông qua đối thoại và tham vấn, từng bước cải thiện quan hệ, thực hiện hòa giải và hợp tác.
Bà Khương Du cũng cho rằng đàm phán sáu bên là kênh quan trọng để thực hiện phi hạt nhân hóa Bán đảo Triều Tiên và đảm bảo hòa bình, ổn định tại khu vực.

Trước đó, Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak ngày 29/12 đã kêu gọi đối thoại với miền Bắc, đồng thời cho rằng "chỉ có thể giải quyết vấn đề chấm dứt chương trình hạt nhân của Triều Tiên thông qua đàm phán sáu bên".
 
Nguồn Vietnam+

30/12/10

Trung Quốc chấp nhận Bộ trưởng QP Mỹ tới thăm

Sau lần từ chối chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ vào tháng 6, Trung Quốc đã chính thức có lời mời ông Robert Gates tới đất nước này.


Cụ thể, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates sẽ đến thăm Trung Quốc từ ngày 9-12/1/2011.

Diễn ra trong bối cảnh căng thẳng khu vực leo thang từng giờ, sau chuyến thăm Trung Quốc, ông Gates sẽ đến Nhật Bản và Hàn Quốc nhằm tìm giải pháp cho vấn đề bán đảo Triều Tiên.

“Ông Gates tới thăm Trung Quốc theo lời mời của Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc và Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt”, dẫn tuyên bố của Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng Trung Quốc.

Mặc dù chuyến thăm của ông Gates đã được thảo luận từ lâu, song đây là lần đầu tiên Trung Quốc lên tiếng xác nhận thời gian của chuyến thăm.

Trong thời gian ở thăm Trung Quốc, ông Gates sẽ gặp gỡ các lãnh đạo Trung Quốc, trao đổi kỹ lưỡng với các quan chức quốc phòng Trung Quốc về tình hình an ninh quốc tế và khu vực, về quan hệ song phương Trung - Mỹ và mối quan hệ quốc phòng giữa 2 nước, cũng như các vấn đề cùng quan tâm, theo thông báo cho biết.

Trung Quốc hy vọng chuyến thăm có thể giúp quân đội hai nước tăng cường hiểu biết, xử lý xung đột và giải quyết những bất đồng một cách hợp lý, mở rộng lợi ích chung, theo tuyên bố của Bộ Quốc phòng Trung Quốc.

Chuyến công du của ông Gates tới Trung Quốc diễn ra một năm sau khi Bắc Kinh tuyên bố chấm dứt quan hệ quân sự với Washington sau sự kiện Mỹ công bố bán gói vũ khí trị giá 6,4 tỷ USD cho Đài Loan.

Tuy nhiên, sau đó hai cường quốc đã nối lại các cuộc tiếp xúc ở cấp thấp, và lần này ông Gates tới thăm theo lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt.

Trước đó, hồi tháng 6, ông Gates từng có ý định tới thăm Trung Quốc trong khuôn khổ chuyến công du tới châu Á, nhưng đã bị Trung Quốc phản đối.

Tại Nhật Bản, đồng minh thân cận và là nơi đồn trú của gần 50.000 binh sĩ Mỹ, ông Gates sẽ gặp người đồng cấp Toshimi Kitazawa để thảo luận về các diễn biến an ninh trong khu vực, lập kế hoạch củng cố mối quan hệ đồng minh.

Hồi đầu tháng 12, Nhật Bản đã công bố chính sách mới về quốc phòng cho 5 năm tới, trong đó chuyển trọng tâm mối quan tâm về quốc phòng - an ninh từ phía bắc xuống phía nam, do quan ngại sự phát triển sức mạnh quân sự nhanh chóng của Trung Quốc, cũng như mối đe dọa từ Triều Tiên.

Sau khi tới thăm Trung Quốc và Nhật Bản, ông Gates sẽ ghé thăm Hàn Quốc vào ngày 14/1/2011, để tiến hành hội đàm tập trung vào những căng thẳng giữa Hàn Quốc - đồng minh của Mỹ với Triều Tiên, cũng như các biện pháp tháo gỡ.

“Họ sẽ thảo luận về các hành động gần đây của Triều Tiên và trao đổi quan điểm để giải quyết các mối đe dọa khiêu khích của Triều Tiên, cũng như các chương trình hạt nhân và tên lửa của quốc gia này”, phát ngôn viên Lầu Năm góc Geoff Morrell nói.

An Huy (tổng hợp)

Không quân Nga bắt đầu nhận Su-34

Không quân Nga đã nhận 4 máy bay tiêm kích-bom Su-34 Fullback mới, trong khuôn khổ chương trình hiện đại hoá.

Tiêm kích-bom Su-34. 

Trước đó, Nga bắt đầu sản xuất máy bay Su-34 trong năm 2008 tại một nhà máy đặt ở Novosibirsk, thuộc một chi nhánh của Công ty cổ phần chế tạo máy bay Sukhoi.

Theo kế hoạch, 70 chiếc Su-34 sẽ được chuyển giao cho tới năm 2015 để thay thế cho các tiêm kích-bom Su-24 Fencer đã lỗi thời. Số máy bay này đang được tiến hành hiện đại hóa để kéo dài thời gian biên chế phục vụ.

Được công ty Sukhoi thiết kế, tiêm kích - bom Su-34 có giá 36 triệu USD là loại máy bay chiến đấu hai chỗ ngồi trang bị hai động cơ phản lực AL-31MF luồng kép.

Su-34 được thiết kế nhằm thực hiện các vụ tấn công với độ chính xác cao vào nhiều mục tiêu có độ phòng thủ vững chắc trong mọi điều kiện thời tiết, bất kể ngày hay đêm. Vũ khí gồm một khẩu pháo 30-mm GSh-301, 12 giá treo tên lửa và bom.

Su-34 có khả năng đạt tốc độ bay tới 1.900 km/giờ, tầm hoạt động 4.000 km. “Kho vũ khí” của dòng tiêm kích - bom thế hệ mới này có tổng khối lượng lên đến 8 tấn.

Thông số kỹ thuật của Su-34:

Đặc điểm riêng:
Phi đoàn: 2; Chiều dài: 22 m; Sải cánh: 14,7 m; Chiều cao: 5,93 m; Diện tích : 62,04 mét vuông.
Trọng lượng cất cánh: 39.000 kg; Trọng lượng cất cánh tối đa: 45.100 kg.
Động cơ: 2 × động cơ phản lực Lyulka AL-35F , công suất sau khi đốt nhiên liệu lần 2 là 137.2 kN (30.845 lbf) mỗi chiếc.

Hoạt động:
Vận tốc cực đại: Mach 1,8 trên trần bay thông dụng, Mach 1,14 trên biển.
Tầm bay: 4.500 km (tuần tiễu); Bán kính hoạt động: hơn 1.000 km; Trần bay: 14.000 m.
Lực nâng của cánh: 629 kg/m²; Lực đẩy/trọng lượng: 0.68

Vũ khí:
1 pháo 30 mm GSh-30-1, 150 viên đạn.
2 giá treo ở đầu cánh cho tên lửa không đối không R-37 (AA-11 'Archer').
10 giá treo dưới cánh và thân mang được 8.000 kg vũ khí, bao gồm vũ khí không đối không, không đối đất, không đối biển, tên lửa chống tàu, bom điều khiển laser, và các loại khác.

An Huy (tổng hợp)

Công nhân trên thế giới chống lại Liên hiệp Công ty Trung Hoa

Hannah Beech - Tạp chí TIME số ra thứ Hai, ngày 7-12-2009

Bữa trưa tại hiện trường của khu mỏ nikel và cobalt Ramu trên những ngọn đồi xa xa của Papua New Guinea là một công việc vội vã, đồ ăn thức uống được nhai ngấu nhai nghiến. 
 
 
 
Thế nhưng thực đơn thì được chia ra thành hai nhóm phân biệt rõ ràng trong số các công nhân đang ngồi xổm giữa không khí nóng bức, vừa xua đuổi lũ ruồi nhặng vừa nhồi nhét cho đầy cái dạ dày của mình trước khi những ca kíp chín tiếng đồng hồ mỗi ngày, bảy ngày một tuần lại được bắt đầu trở lại. Trong một đám đông hỗn độn là những nhân công bản xứ đang nhai những lát khoai lang và cá hộp được biết đến trong thứ phương ngữ đơn giản là tinpis. Trong một lùm cây khác là những công nhân được đưa sang từ Trung Quốc, họ đào bới trong bát cơm đầy có ngọn những tảng thịt lợn và nước sốt ớt-đậu đen. Người Trung Quốc, được đưa qua bằng đường tàu biển bởi China Metallurgical Group Corp., doanh nghiệp nhà nước từng đầu tư 1,4 tỉ đô la vào vị trí tiền đồn xa nôi đó, có thể chẳng hiểu được cả tiếng Anh lẫn thứ tiếng bồi, hai trong số những ngôn ngữ được sử dụng ở nước này. Người Papua New Guinea [P.N.G.] không nói được tiếng quan thoại [Mandarin]. Thậm chí trong bữa ăn, một sự kiện mà trong lúc đó cả hai nền văn hóa có thể cổ vũ cho cộng đồng và lòng mến khách như thường lệ, thì không khí cũng vẫn bị nặng nề do tình trạng khó thông hiểu lẫn nhau. “Làm sao mà chúng tôi có thể ăn cùng nhau được nếu như mọi thứ đối với chúng tôi đều khác biệt?” Đó là câu hỏi của Shen Jilei, người lần đầu tiên có được trải nghiệm nơi hải ngoại khi anh ta được đưa thẳng từ tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc tới một quốc gia Nam Thái Bình Dương mà anh ta thậm chí còn không biết là nó tồn tại trên cõi đời này.

Những dấu hiệu về sự va chạm văn hóa có vẻ như có ở khắp những nơi mà tôi lang thang tới trong những khu công trường xây dựng rộng lớn mà vào dịp cuối năm này nó sẽ làm biến đổi một dải rừng nguyên sinh còn hoang sơ và những cánh đồng cỏ trở thành một trong những công trường khai thác nickel lớn nhất trên thế giới. Trên bờ biển Basamuk Bay liền một dải, nơi nhà máy lọc dầu Ramu sẽ được định vị, một kỹ sư xây dựng sinh quán ở Bắc Kinh nói với tôi rằng trước khi người Trung Quốc tới đây, “dân bản xứ sống hoàn toàn mọi rợ và chạy lui chạy tới hầu như trần như nhộng.” Tôi nói với anh ta những nghi ngờ của mình, rằng tôi vừa mới nói chuyện với một dân làng gần đó, người đã mô tả về một cuộc thuyết trình bằng phần mềm PowerPoint mà cô thực hiện mới đây khi trình bày chi tiết những mối quan ngại về môi trường quanh khu mỏ. Vị kỹ sư, giống như nhiều người Trung Quốc khác mà tôi gặp, vẫn tỏ ra không chút xúc động. “Tất cả những gì mà họ làm là nhai quả cau và lười nhác,” anh ta nhận xét. “Họ không biết làm sao để lao động hăng say như người Trung Quốc chúng tôi.”

Ấn tượng mà người Trung Quốc đã để lại nơi nhiều người dân P.N.G. cũng chẳng tốt đẹp gì hơn. Một địa chủ người địa phương có đất đai do cha ông để lại nằm giữa khu mỏ đã tuyên bố, một cách không chắc chắn, rằng nickel sẽ được sử dụng để cung cấp cho một chương trình sản xuất vũ khí bí mật của Trung Quốc. Tại thủ đô Port Moresby, người tài xế của tôi thông báo rằng nếu như một băng nhóm được hình thành để đuổi người Trung Quốc khỏi P.N.G.m thì anh ta sẽ là người đầu tiên tham gia. “Tôi sẽ mài sắc con dao đốn cây của tôi và chặt 10 đến 20 cái đầu,” anh ta tuyên bố. Nỗi bực dọc về thế lực của người Trung Quốc lan rộng sang cả những cơ quan nhà nước, ngay cả khi khu mỏ Ramu hứa hẹn sẽ bổ sung vào 8% cho GDP của nước này. “Tôi biết là người Trung Quốc đang can dự vào khắp nơi trên thế giới và đang đầu tư thành công,” theo lời Rona Nadile, một thư ký trợ lý cho các mối quan hệ chủ thợ. “Thế nhưng điều mà tôi không hiểu nổi là tại sao họ lại quá ngoan cố khi không thèm tôn trọng văn hóa địa phương của chúng tôi. Chúng tôi là một chế độ dân chủ. Họ phải xử sự theo những luật lệ của chúng tôi hoặc là chúng tôi sẽ nổi dậy.”

May, rủi lẫn lộn

Khi Trung Quốc bắt đầu chiến dịch đầu tư trên toàn cầu vào đầu thế kỷ này, dòng tiền chảy cuồn cuộn đã được đón nhận nồng nhiệt, đặc biệt tại những phần của châu Á, Phi và Mỹ Latin từng cảm thấy bị phương Tây bỏ rơi này. Lời hứa của Trung Quốc sẽ không chính trị hóa viện trợ và đầu tư bằng việc trói buộc các điều kiện khó chịu, như nhân quyền phải được cải thiện, đã làm hài lòng nhiều chính phủ. Giữa những năm 2003 và 2008, mức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc đã tăng vọt – từ 75 triệu lên 5,5 tỉ đô la tại Phi châu, 1 tỉ lên 3,7 tỉ đô la tại Mỹ Latin và nhảy từ 1,5 tỉ lên 43,5 tỉ đô la tại Á châu. Nước Cộng hòa Nhân dân giờ đây xếp hạn như là nhà đầu tư số một tại các quốc gia khác nhau, từ Sudan cho tới Cambodia. Để đổi lấy tài nguyên thiên nhiên cần thiết cung cấp cho cỗ máy kinh tế của Trung Quốc, Bắc Kinh đã bắt đầu một chiến dịch chuyên cần nhằm thu phụ trái tim và khối óc ngoại quốc bằng việc chu cấp tài chính cho các sân vận động, bệnh viện và những văn phòng chính phủ hoang phí. Bộ Ngoại giao Đông Timor đã được xây dựng trang nhã theo kiểu Trung Quốc, trong khi tòa nhà quốc hội lát đá cẩm thạch Guinea-Bissau là một món quà đến từ Bắc Kinh.

Tuy nhiên, một số nước không còn sẵn sàng trải thảm đỏ cho người Trung Quốc đang ngao du trong thiên hạ nữa. Mặc dù những điều kiện ràng buộc về chính trị có thể không đến cùng với túi tiền của Bắc Kinh, nhưng còn có những cái bẫy về kinh tế. Những con đường, những khu mỏ và cơ sở hạ tầng khác được chào bán giảm giá hầu như thường được xây dựng bởi lực lượng quân đội nằm trong số lao động Trung Quốc nhập khẩu vào, làm giảm bớt nguồn lợi tài chính thực cho các quốc gia nhận trợ giúp. Các công ty Trung Quốc đầu tư ở nước ngoài cũng có xu hướng vận chuyển bằng tàu biển hầu như mọi thứ được sử dụng cho việc xây dựng các công trường, từ những gói mì sợi ăn liền cho tới giấy vệ sinh màu hồng phổ biến của Trung Quốc. Điều này không phải chỉ với những công nhân Trung Quốc đã được ký hợp đồng, những người cũng đã lộ diện. Trong vòng một vài năm qua, bà con họ hàng của họ lúc nào cũng tỏ ra muốn hiện thực hóa việc lập các cửa hàng bán đồ ăn giá rẻ của Trung Quốc, đe dọa kế sinh nhai của các doanh nhân bản xứ. Những người dân địa phương có được việc làm ở những dự án được người Trung Quốc cấp vốn than phiền là các ông chủ của họ không lưu ý tới các luật lệ lao động của nước họ trong việc đảm bảo mức lương tối thiểu hoặc việc bảo vệ của tổ chức công đoàn. Trong ba năm qua, những cuộc nổi loạn chống lại người Trung Quốc đã nổ ra ở mọi nơi từ Quần đảo Solomon và Zambia cho tới Tonga và Lesotho. Những căng thẳng cũng đang sục sôi tại Ấn Độ, nơi người Trung Quốc được thu hút vào một số dự án cơ sở hạ tầng lớn. Thậm chí các quan chức cấp cao đang nói toạc ra về chuyện này. Tại Việt Nam, các kế hoạch giành cho một khu mỏ khai thác bauxite mở được người Trung Quốc vận hành đã bị vị Đại tướng anh hùng cách mạng Võ Nguyên Giáp chỉ trích công khai, bởi vì theo như ông nói, về “nguy cơ nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên và xã hội.”

Một ốc đảo

Náu mình ở một trong những phần lạc hậu nhất của một trong những quốc gia kém phát triển nhất trên thế giới, mỏ Ramu đã nổi lên như là một tấm gương gai góc về thái độ oán hận chống lại Liên hợp Công ty Trung Hoa [China Inc.]. Năm 2004 Thủ tướng P.N.G. Michael Somare từ Bắc Kinh về nước, hân hoan khi bị giăng bẫy để có được dự án đầu tư nước ngoài lớn nhất nước cho tới nay. Trạng thái ngây ngất đã nhanh chóng chết yểu. Các chủ đất đã vung ná cao su lên và tuyên bố là họ sẽ không ngừng nói về vùng lãnh thổ của bộ lạc đang bị sử dụng để bòn rút khoáng sản, không hề gì, văn kiện đã được ký tại Đại lễ đường Nhân dân Trung Quốc. Nhưng người quan tâm tới việc bảo vệ môi trường đã lên án trò nhơ bẩn quanh những kế hoạch tập kết chất thải của khu mỏ tại Vịnh Basamuk Bay tuyệt đẹp, trong khi các công nhân địa phương đã phản kháng về những điều kiện làm việc mà thậm chí Bộ trưởng Lao động và các Quan hệ Chủ thợ P.N.G. David Tibu đã phải miêu tả là tựa như nô lệ và “không xứng đáng giành cho lũ chó lợn.” Những cuộc đụng độ nhỏ nhiều lần đã bùng lên giữa dân làng và 1.500 lao động nhập cư người Trung Quốc, một số trong đó đang làm việc bất hợp pháp tại P.N.G. Cùng lúc, cơn giận dữ đã sôi lên do một dòng thác hàng ngàn người Trung Quốc chỉ trong vài năm mà đã nắm giữ độc quyền hoạt động kinh doanh mà theo luật pháp đáng ra cần phải được giành cho những người bản xứ P.N.G. Vào tháng Năm, những cuộc náo loạn chống lại người Trung Quốc đã làm rung chuyển các thành phố trên khắp đất nước, và một số người đã bị giết giữa những cuộc cướp bóc các cửa hàng do người Trung Quốc làm chủ. “Gỗ của chúng tôi, mỏ của chúng tôi, mọi thứ, đều chạy sang Trung Quốc hết,” đó là nhận xét của Damien Ase, người sáng lập nên tổ chức bất vụ lợi Trung tâm Luật Môi trường và Các quyền lợi Cộng đồng tại Port Moresby. “Thế nhưng chúng tôi nhận lại quá ít.”

Đối với nhiều người P.N.G., không ngạc nhiên là đất nước họ đã đứng ở tuyến đầu trong chiến dịch toàn cầu của Trung Quốc. Nằm ở nửa phía đông của hòn đảo lớn thứ hai thế giới, P.N.G. là một vùng có ngôn ngữ khác biệt nhất trên thế giới, khi chỉ với 6,5 triệu dân mà nói ít nhất 800 thứ ngôn ngữ địa phương riêng biệt. Dù cho tính đa dạng sắc tộc như vậy, song đất nước này lại thống nhất trong ít nhất là một khía cạnh: sự hoài nghi về hoạt động khai thác của người nước ngoài những tài nguyên phong phú của họ, từ khí gas và gỗ cho tới thủy hải sản và vàng. Những căng thẳng đã nổ ra vào những năm 1990 trên hòn đảo Bougainville của P.N.G., nơi có những mối quan ngại về những tác động môi trường và kinh tế của một khu mỏ đồng do người Anh-Úc quản lý đã làm nổ ra một cuộc đấu tranh của những người chủ trương ly khai từng đòi quyền khai thác mỏ của 15.000 cư dân quanh một diễn biến kéo dài một thập kỷ. (Khu mỏ này là một trong những địa điểm khai thác mở lớn nhất thế giới, giờ đây đã bị đóng cửa như là hệ quả của cuộc nội chiến chính thức chấm dứt vào năm 2000). Ngoài ra, chính phủ nước này đã buộc phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp tại tỉnh Cao nguyên Nam phần từ ba năm trước khi những người chống đối đã đạt được một thắng lợi cao nhất chống lại một đường ống dẫn khí gas được để nghị bởi tập đoàn đa quốc gia. (Dự án này kể từ đó đã bị sa lầy).

Địa điểm Ramu đã nằm im lìm trong bốn thập kỷ, khi một loạt các công ty của Úc tính toán rằng lượng nickel kém giá trị không đáng để trích xuất tại một vùng đất xa xôi như vậy với đầy dẫy những thay đổi về mức độ trung thành với chính phủ của sắc dân ở đây. Nhưng Ramu Nico, công ty con của China Metallurgical trong hoạt động khai mỏ, đã nghĩ rằng họ có thể thành công tại nơi mà những công ty khác không dám thử sức. Năm 2007, Ramu Nico đã phái đi những tiểu đoàn công nhân Trung Quốc, dùng dao rựa mở đường qua những rừng cây dày đặc và xây nên khu Phố người Hoa như trong ảo ảnh, nơi mà cỏ voi và những giống cây kwila cũng được dùng tới. Ngày nay, trong những gì được coi như là một quãng thời gian tù đày với căn bệnh sốt rét trên những ngọn đồi, trong thung lũng, trong những khu nhà tập thể rộng lớn, các văn phòng và nhà máy chế biến nằm rải rác khắp nơi, cùng với một đường ống chuyển vữa dài 135 km uốn khúc từ Ramu cho tới bờ biển Basamuk. (Từ Basamuk, những chuyến tàu biển chất đầy nickel và cobal sẽ dong buồm sang Trung Quốc.) Tháng Mười hai năm ngoái, Ramu Nico đã khánh thành cây cầu đầu tiên bắc qua sông Ramu, làm cho xuồng bè ngang qua rất khó khăn. Công ty này còn lát một con đườn bê tông bằng qua rừng, một trong số ít con đường tại một đất nước nhiệt đới, mà nhựa đường là của hiếm không khác gì băng tuyết. Mặc dù dự án đã bắt di dời nơi cứ trú của hàng nghìn chủ đất, nó cũng đã cung cấp một cách tệ hại cơ sở hạ tầng cần thiết cho vùng này. Quãng đường mà chỉ trong một vài năm trước phải đi bộ băng rừng trong 10 tiếng đồng hồ từ khu mỏ ra tới con sông thì giờ đây đã được rút ngắn lại trong một chuyến xe 30 phút.

Một sự tiến bộ giật lùi

Đường xá và cầu cống không đủ để xoa dịu người dân địa phương, những người bám chặt vào mảnh đất tổ tiên của mình, điều này dường như khó hiểu đối với người Trung Quốc, những người họp lại nhau theo nguyên tắc cộng sản là nhà nước làm chủ. Ở làng Ganglau, tập hợp của các căn lều ở phía trước một cái vịnh đầy ắp cá heo và cá ngừ, những người lớn tuổi trong cộng đồng Mou Bilang phàn nàn rằng hầu hết những người dân trong làng không được bồi thường về việc mất đất, một khi đã sử dụng để trồng trọt cây trái bán thu lợi, để dành $125, “trả tiền bụi”, số tiền đuợc bồi thường vì bụi bặm như một lời xin lỗi do bụi đất của dự án tung lên. “Người Trung Quốc đã hứa với chúng tôi miễn phí điện, nước, và đào tạo nghề miễn phí cho con trai của chúng tôi”. Bilang nói với tôi. “Nhưng họ chẳng làm gì cả”. Căng thẳng đã lên đến đỉnh điểm cách đây năm tháng, khi một thanh niên địa phương vô tình bị thương vì một chiếc máy kéo Trung Quốc. Hơn 100 dân làng đã nổi cơn thịnh nộ, mang đá và dao to nhắm vào người Trung Quốc. Những người nước ngoài bảo vệ mình bằng những ống thổi lửa hàn đồ, nhưng có ba người đã bị thương nặng – một người đã bị mổ bụng – họ đã được đưa đến bệnh viện bằng máy bay.

Vào tháng bảy, quan hệ đã gặp vận đen mới khi trưởng khu cảnh sát mỏ P.N.G ra lệnh cho đóng cửa tất cả công việc xây dựng ở khu Ramu Nico vì những quan ngại đến sức khoẻ và sự an toàn. Công việc ngưng lại trong một tháng trước khi có “sự tiến bộ đáng kể” ở Ramu NiCo để thuyết phục chính phủ cho phép công việc xây dựng tiếp tục. Cuộc tranh chấp làm phát sinh bùng nổ khác xảy ra năm ngoái khi những người dân địa phương trang bị súng cao su làm bị thương trầm trọng ba công nhân người Trung Quốc do người dân P.N.G. cho rằng có sự phân biệt chủng tộc tại nơi làm việc: mọi thứ, từ thức ăn, nhà vệ sinh cho tới lương bổng và chỗ ở, họ viện dẫn rằng đã kém xa những người công nhân Trung Quốc. “Người Trung Quốc nghĩ rằng chúng tôi là súc vật,” một người thợ hàn tên là Nenge nói, người này đã từ chối cho biết đầy đủ họ tên để khỏi bị đuổi việc. “Không có ngày nghỉ, đôi khi nhận cá đóng hộp thay tiền trả phụ trội, nhà vệ sinh thì bẩn thỉu với mùi xú uế. Làm thế nào họ có thể tôn trọng chính mình khi đối xử với chúng tôi tệ như thế”?

Lao động là vấn đề phức tạp do những quan ngại về môi trường được các học giả quốc tế lên tiếng. Viện Chính sách Khoáng sản Mỏ có trụ sở ở Úc tin rằng sự bảo đảm của Ramu NiCo về việc xử lý chất thải từ khai thác mỏ ở Vịnh Basamuk không gây ngộ độc cho vùng nước có nhiều cá dựa trên dữ liệu “rạn nứt chết người”. (Các công ty khác của Trung Quốc đã bị cáo buộc nhập khẩu trái phép một số lượng gỗ rất lớn từ những khu rừng bị thu hẹp ở P.N.G, trong khi Bắc Kinh cố gắng bảo vệ rừng thiên nhiên của họ bằng cách thẳng tay trừng trị việc đốn gỗ lậu ở nhà.) “Với những nước khác, chúng tôi cố gắng làm cho các công ty nước ngoài chịu trách nhiệm bằng cách vận động các cổ đông hoặc nâng cao nhận thức công chúng ở quốc gia đó,” Matilda Koma, người làm chủ công ty sinh thái có tên là Trung tâm Phát triển Môi trường và Nghiên cứu ở Port Moresby cho hay. “Nhưng với Trung Quốc, nhà nước và công ty đều như nhau và công luận không có tiếng nói – thế chúng tôi có thể khiếu nại ai đây?

Cố gắng chơi trò chơi

Để giữ uy tín của mình, Ramu Nico đã làm được nhiều hơn mức trung bình một doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc làm để thay đổi hình ảnh và để được sự chấp nhận của cộng đồng. Không giống như hầu hết các công ty Trung Quốc khác, công ty này đã đáp ứng kịp thời các chất vấn của báo chí quốc tế và đã xuất bản một báo cáo dự án phát triển bền vững toàn diện. Ramu NiCo có một website sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh để trao đổi qua lại về các câu nói thông dụng thích hợp cho một công ty thuộc Forturne 500: phát triển bền vững, lợi ích cạnh tranh, tiềm lực trao đổi văn hoá. Các trụ sở chính của Ramu NiCo được bọc kính ở khu phố Madang, nơi tốc độ cuộc sống nhanh nhất được thiết lập bởi một đám người láu cá, khoác lác về nguồn nhân lực và các ban về an toàn và sức khoẻ. (Với bốn tầng, đây là toà nhà cao nhất trong khu phố). Ramu NiCo đã xây nhiều trường học và các trung tâm y tế ở các khu vực bị ảnh hưởng bởi hầm mỏ và gửi các kỹ sư P.N.G. tham dự các khoá huấn luyện ở Trung Quốc. Đáng ghi nhận cho một công ty thuộc sở hữu chính thức của nhà nước cộng sản vô thần Trung Quốc, Ramu NiCo cũng đã tài trợ cho các hoạt động ở nhà thờ.

Đáng chú ý nhất là công ty đã đồng ý bỏ ra 2,5% cổ phần mỏ cho một nhóm chủ đất địa phương, mặc dù nhiều người khác nói rằng họ đã bị đưa ra khỏi thoả thuận. “Đối với Trung Quốc và những người Papua New Guinea, những người đến từ các nền văn hoá khác nhau, là lẽ tự nhiên phải mất một thời gian để chúng tôi thật sự hiểu nhau và đôi khi không dễ dàng chút nào,” ông Wu Xuefeng, Phó Tổng Quản đốc Ramu NiCo nói. “Đề nghị của chúng tôi là để khắc phục những khó khăn thử thách này là đưa nó vào khuôn khổ sự phát triển một cách bền vững trên phương diện tổng thể, và chúng tôi rất vui mừng khi chúng tổi đã cải thiện trên bước đường đi tới và sự liên kết của chúng tôi với cộng đồng cũng đã vững mạnh”. Wu cũng ghi nhận rằng những trở ngại mà công ty của ông phải đối mặt là “đa số cùng loại với hầu hết các công ty khai thác mỏ quốc tế khác gặp phải ở P.N.G.”

Nhưng phòng học mới và quyền sở hữu cổ phần nhỏ không thể giải quyết hết vấn đề bồi thường đất đai hoặc điểm quan trọng khác của mối bất đồng: thực tế là có quá nhiều người Trung Quốc đã tới P.N.G., nhiều trường hợp bất hợp pháp. Tháng 11 vừa qua, ở một điểm ngoại giao của Trung Quốc – P.N.G., cảnh sát đã bố ráp các khu xây dựng ở Basamuk và Ramu, và đã bắt giữ 223 người Trung Quốc vi phạm luật nhập cư. Các công nhân nước ngoài, đã được tìm thấy đến đất nước này bằng visa cấm làm việc. Ngược lại, Ramu Nico than phiền rằng chính quyền quan liêu nên rất chậm chạp, để có được giấy tờ hợp lệ phải mất hàng năm cho nên họ buộc lòng phải phá luật. Nhưng có những sự vi phạm luật khác. Luật lệ địa phương quy định rõ rằng người nước ngoài chỉ có thể làm những công việc mà người dân địa phương không thể làm được và rằng những người này phải có khả năng nói tiếng Anh hoặc tiếng bồi. Hầu hết công nhân Trung Quốc không thể nói nổi một từ nào của một trong 2 loại ngôn ngữ này.

Tuy nhiên, chính phủ P.N.G. không muốn gặp rủi ro trong việc đầu tư lớn như thế. Một thoả hiệp đã đạt được, một phần đòi hỏi người Trung Quốc làm việc ở hầm mỏ tham dự các lớp tiếng Anh. Vẫn chưa có người Trung Quốc nào ở Ramu hay Basamu mà tôi nói chuyện nói rằng họ đã từng tham dự bất kỳ khoá học ngôn ngữ này. Hơn nữa, mặc dù có sự bảo đảm rằng người Trung Quốc làm việc ở công trình chỉ là kỹ sư hoặc các chuyên gia khác, tôi thấy người Trung Quốc quét dọn rác ở công trình xây dựng và làm những việc lao động phổ thông khác, chắc chắn rằng người dân địa phương có thể làm được.

Sự không nhất quán giữa chính sách nhập cư của quốc gia và thực tế ở địa phương, Bộ Lao động và Quan hệ Công nghiệp của P.N.G. đều nhận biết. Trợ lý thư ký Nadile thẳng thắn nói với tôi rằng, cô nghi ngờ hầu hết những người Trung Quốc nhập cư đã làm như vậy mà không có visa cần thiết và giấy phép làm việc. Hôm nay, tại các thành phố lớn khắp P.N.G., đại đa số các quá bar gọi là kai, hoặc nhà hàng bán thức ăn nhanh được điều hành bởi những người nhập cư Trung Quốc đến trong thời gian gần đây, hầu như tất cả các cửa hàng tạp hoá cũng đều như thế. Nhưng cũng có vài người Trung Quốc đã điều chỉnh lại giấy tờ để làm chủ các cửa hiệu như thế. Tôi hỏi Nadile nếu cô có thể nói với tôi một nơi gần đây mà cô nghi ngờ điều hành bất hợp pháp, cô dẫn tôi tới một cửa sổ văn phòng nhìn qua Port Moresby và chỉ vào hai cái KAI bar toạ lạc ở nơi chỉ mất khoảng vài phút đi bộ từ văn phòng Chính phủ: đó là bar Rickshaw và Noodle Shop.

Sau đó tôi đi đến Rickshaw và gặp người chủ lịch sự tên Liu Lianghua. Câu chuyện mà ông ta kể giống như những câu chuyện trong tranh biếm hoạ về người di dân Trung Quốc. Những người anh em rể của ông ta đã đến P.N.G cách nay một thập niên bởi vì họ có gia đình định cư ở đây từ trước. Cuối cùng thì Liu cũng đi theo gia đình mình. Nhiều bà con khác đã đi theo họ sau đó. Hơn 12 thành viên của gia đình Liu bây giờ đang sống ở P.N.G. Một building ở dưới khu phố mà Rickshaw toạ lạc cũng có cửa hiệu quần áo, một cửa hàng bán đồ tạp hoá, một bar dành chơi game và một nhà hàng, tất cả đều do người Trung Quốc điều hành. Khi tôi hỏi về visa, ông ta cười và nói rằng chuyện di trú không phải là vấn đề ở Papua New Guinea. “Những người dân địa phương không biết làm thương mại, và chính phủ biết điều đó,” ông Liu nói. “Nếu người dân địa phương kiếm được tiền, họ sẽ mua rượu ngay lập tức. Người Trung Quốc không đến đây để tận hưởng cuộc sống. Chúng tôi đến chỉ để kiếm tiền.”

Những người cùng phe xa lạ

Ít nhất tại Papua New Guinea, những công dân bình thường có thể biểu thị thái độ e dè của họ về việc đầu tư của Trung Quốc. Thế nhưng tại nhiều quốc gia nơi mà Trung Quốc đã thực hiện những cuộc cướp phá lớn nhất của mình qua buôn bán kinh doanh, thái độ bất đồng một cách dân chủ như vậy bị đè bẹp bởi những chính phủ hà khắc vốn đang chiếm giữ được phần lớn nhất trong các lợi ích đầu tư. Thậm chí, những căng thẳng có thể sôi sục theo những cách đáng ngạc nhiên. Vào tháng bảy, một phe Al-Qaeda ở Bắc Phi thề tấn công vào những người nhập cư Trung Quốc sống ở đó để trả thù cho chuyện xung đột sắc tộc mới xảy ra trong khu vực của người Hồi giáo Tân cương. Tháng sau, một cuộc bạo loạn chống lại các thương gia Trung Quốc nổ ra ở thủ đô nước An-giê-ri nơi cư dân ở đó cáo buộc người nước ngoài không tôn trọng đạo Hồi. Năm ngoái, chín công nhân dầu khí Trung Quốc sống gần khu vực Darfur, Sudan đã bị bắt cóc bởi một nhóm không rõ. Năm người sau đó đã bị giết. Một lệnh cấm vận thương mại quốc tế vì những tội ác diệt chủng ở Darfur ngăn hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài đến Sudan, nhưng Trung Quốc xài hơn 60% lượng dầu của Sudan. Đối với một chính quyền quan tâm đến việc tách rời giữa kinh tế với chính trị, Bắc Kinh đã nhận thấy rằng hai [lĩnh vực] này có sự dính kết vào nhau. Trung Quốc cũng học được rằng họ không thể che đậy các vụ bê bối chính trị dễ dàng như là họ kềm chặt thông tin ở quê nhà. Ví dụ như ở P.N.G., báo chí địa phương loan tin rộng rãi về một điều tra của chính phủ liên quan đến những phàn nàn rằng các quan chức tham nhũng ở địa phương cho phép di dân Trung Quốc mua hộ chiếu. Trong tháng năm, Thủ tướng Chính phủ Somare đã đi xa hơn khi ám chỉ sở di trú với bình luận rằng “Chúng tôi biết có vài người nói ‘Anh cho tôi một két bia 6 chai, tôi sẽ cho anh hộ chiếu’”.

Một trường hợp thậm chí còn nhạy cảm hơn đã xảy ra trong tháng Bảy. Các công tố viên Namibia đang buộc tội những người đại diện có liên hệ với một nhà sản xuất máy kiểm soát an ninh thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc với việc đã hối lộ các quan chức địa phương để thắng thầu một hợp đồng trị giá 55 triệu đô la năm 2008. Cho tới năm ngoái, người đứng đầu công ty này, có tên là Nuctech, không ai khác là Hu Haifeng, là con trai của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Mặc dù anh chàng họ Hồ này đã không công khai dính líu vào vụ việc, song các hệ thống kiểm duyệt của Trung Quốc cũng đã vội vã dập tắt những bài phóng sự báo chí về cuộc khám xét tại Trung Quốc. (Ngoài ra, các quan chức E.U. cũng đang điều tra xem liệu hãng Nutech có dính líu gì tới những hoạt động phi pháp tại Âu châu hay không.)

Tuy nhiên, đối với tất cả những tranh cãi vây quanh dòng tiền Trung Quốc chảy vào Phi châu, Mỹ Latin và Á châu, sự thật là đa số đông đảo những người Trung Quốc làm việc ở nước ngoài đang trở về quê hương không phải là giàu có. Khi lái xe tới khu mỏ Ramu, tôi dừng xe tại một vị trí có tầm nhìn không hợp lý: tương phản với một nơi có những khu rừng với những cơn mưa nhiệt đới, một người đàn ông Trung Quốc đơn độc đã dựng lên một mảnh bìa cứng để ngồi trông nom một toán công nhân người địa phương đang vật lộn dưới ánh mặt trời để bọc một đoạn đường ống bằng băng cách điện. Có một thứ gì đó đượm vẻ phong kiến trong quang cảnh này, song cuộc sống của Chen Ming, người đốc công sinh ở tỉnh Tứ Xuyên, ở miền thôn quê còn rất cực nhọc. Anh đã tới P.N.G. được 18 tháng, làm việc mỗi tuần bảy ngày, tuy nhiên anh không thấy có gì đặc biệt trong những ngày nghỉ “bởi vì ở đây chẳng có gì mà làm cả.” Vào thời điểm hoàn thành việc trả tiền vì những suy diễn lớn lao của mình cho căn phòng và tiền cơm tháng, anh đã kiếm được ít hơn những gì anh muốn cho một công việc tượng tự ở quê nhà. Song những người thất nghiệp đang nhiều thêm tại Trung Quốc, và Chen đã phải vật lộn trong nhiều tháng để tìm được công việc thay thế tại quê nhà. “Nó không phải là một nghề hay, nhưng tôi có thể làm công việc nào khác được?” anh hỏi, phe phẩy quạt bằng mảnh bìa cứng. “Tôi phải ăn và gửi tiền về nhà.” Đối với Chen và những công nhân khác – người Trung Quốc cũng như người P.N.G. – lao động cực nhọc tận sâu trong những khu rừng rậm, tất cả những gì họ đòi hỏi chỉ là được sống sót. Nhưng những công ty lớn của Trung Quốc, và các chính quyền địa phương mà họ ủng hộ – họ mong đợi không gì ít hơn, dường như là những vận may sẽ thay hình đổi dạng thế giới này.
 
Nguồn: TIME

Tại Sudan, Trung Quốc nhắm vào những giếng dầu, đâu phải vào những gì nước này cần

THE CHRISTIAN SCIENCE MONITOR

Bài của Danna Harman , Thông tín viên của The Christian Science Monitor

PALOICH, MIỀN NAM SUDAN – Người yêu của Li Haowei trao cho anh chiếc nhẫn bạc khi anh rời quê hương, tỉnh Liêu Ninh (Lieuning), Trung Quốc 9 tháng trước. Trước khi anh bước lên máy bay đến Sudan, Li chưa bao giờ ra khỏi Liêu Ninh. “Anh thật là may mắn,” người yêu Li nói với vẻ ghen tị. 
 

“Tôi phấn khởi vì được ra nước ngoài và được nhìn thấy thế giới,” theo lời Li, kế toán của Petrodar, một tập đoàn dầu lửa đa quốc gia. “Nhưng tôi đã không đủ hiểu biết để hiểu là tôi không muốn tới đây.”

Paloich không phải là một nơi đặc biệt được chào đón. Không khí nóng vây bọc và bóp nghẹt hơi thở của bạn tựa như trong cái túi ni lông. Bụi mùa khô như roi quất vào mắt và chui đầy vào lỗ mũi. Muỗi vo ve không ngớt trong lỗ tai của bạn.

Li kiếm được khoản tiền lương gấp ba so với ở nhà. Song anh nhớ người yêu, anh nói trong lúc xoay xoay cái nhẫn trong tay. Anh nhớ Liêu Ninh. Anh nhớ những món ăn thực sự của Trung Quốc. Thỉnh thoảng anh không ngủ được. Nỗi lo sợ bị sốt rét luôn thường trực. Anh đã bật khóc khi đọc bức thư chan chứa yêu thương của mẹ vào tháng trước. Anh không thích cuộc sống ở đây.

Những người dân địa phương Sudan không mấy thích thú về sự hiện diện của anh ở đây.

Sản lượng dầu lửa bình quân của Sudan là 536.000 barrel một ngày, theo như ước lượng của Cơ quan Năng lượng Quốc tế đóng tại Paris. Theo những tính toán khác thì gần 750.000 barrel/ngày. Và trên một diện tích 1 triệu dặm vuông của Sudan chứa một trữ lượng ước tính 5 tỉ barrel dầu, hầu hết trong số đó nằm ở phía nam đất nước, một vùng dân cư chủ yếu theo Cơ-đốc giáo và thổ dân da đen theo thuyết duy linh với 21 năm nội chiến chống lại chính quyền Ả-rập Hồi giáo thống trị phía bắc.

Phần lớn số dầu này, 64%, được bán cho Trung Quốc, hiện là nước tiêu thụ dầu lửa lớn thứ hai thế giới. Và trong khi cả Khartoum, Trung Quốc, cũng như Petrodar không nơi nào chịu cung cấp số liệu thống kế – thì nó được ước đoán ít nhất phải trị giá 2 tỉ dola một năm.

Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC) là cổ đông lớn trong cả Petrodar và Greater Nile Petroleum Operating Company, hai trong số những tập đoàn dầu khí lớn nhất Sudan.

CNPC đã đầu tư hàng tỉ dola cơ sở hạ tầng liên quan tới dầu lửa ở vùng Paloich này, trong đó có 900 dặm đường ống từ các giếng dầu Paloich đến điểm cuối là các tàu chở dầu tại Cảng Sudan trên Biển Đỏ, một con đường lát đá dẫn tới Khartoum, và một sân bay với các chuyến bay tới Bắc Kinh.

Song họ không đầu tư vào nhiều lĩnh vực nào khác ở đây.

Người dân địa phương sống trong những túp lều xiêu vẹo, thức ăn từ lạc và cái cần câu trên con sông Nile ô nhiễm. Chẳng có điện đóm gì. Một tổ chức từ thiện Thụy Sĩ giúp chăm lo sức khỏe. Một nhóm trợ giúp nhân đạo Hoa Kỳ chở tới thức ăn và màn chống muỗi. Hầu hết trẻ em không được tới trường. Không tìm được việc làm ở đây. Petrodar có công nhân riêng của mình – hầu hết mọi người trong số họ là người nước ngoài (chủ yếu là người Trung Quốc, Malaysia, và Quata) hoặc người miền bắc Sudan. Các tập đoàn thuê người Paloich chỉ để làm công việc phục dịch, song cũng hiếm khi.

Đó là bức tranh kém phát triển không phải là lạ tại miền nam Sudan nửa tự trị. Trong khi ví tiền của một vài kẻ – như các nhà tư bản địa phương ở Juba và các thị trấn lớn hơn ở Rumbek và Wau – được nhìn thấy rủng rẻng hơn kể từ khi ký kết hiện ước hòa bình 2005, thì số đông còn lại ở phía nam vẫn ngập ngụa trong vũng lầy nghèo nàn lạc hậu.

Người dân địa phương đổ lỗi cho số phận của họ là do sự áp bức của chính phủ Hồi giáo Sudan và cuộc chiến tranh kéo dài với miền bắc. Song họ cũng đổ lỗi cho người Trung Quốc.

“[Người Trung Quốc] đuổi chúng tôi đi để chúng tôi không thể nhìn thấy những gì đang diễn ra. Chúng đang ăn cắp dầu lửa của chúng tôi và chúng hiểu điều đó,” theo lời Abraham Thonchol, một mục sư theo lực lượng phiến quân đã lớn lên gần Paloich. “Dầu lửa có giá trị lớn và chúng tôi không phải là những thằng ngốc. Chúng tôi hy vọng một điều gì đó sẽ đến.”

Hãng Chevron tại Mỹ là công ty dầu lửa đầu tiên tới đây, bắt đầu hoạt động vào những năm 1980. “Họ thuê mướn chúng tôi,” ông Thonchol nói. “Chúng tôi giúp khoan dầu, đưa họ đi đây đi đó, và làm những công việc bếp núc.”

Nhóm chủ thầu dầu lửa thứ hai xuất hiện không có vẻ gì là nhân từ, nhiều người dân địa phương nhận xét. Anh họ của Thonchol, Peter Nyok, thuộc mẫu người “6 feet-6 inch” *, thành viên của bộ tộc Dinhka với những hình xăm trên trán và sáu cái răng trước sún kiểu truyền thống, nói rằng cần có thời gian cho dân địa phương để có thể nhận ra sự khác biệt giữa những người phương Tây với những người Trung Hoa đến sau này. “Với chúng tôi, trông họ giống người da trắng. Chúng tôi không thể nhận ra điểm nào khác biệt, ngoại trừ, có thể, là họ thấp hơn,” anh nói. “Nhưng rồi chúng tôi đã phát hiện ra lối cư xử khác biệt của họ.”

Bị bật khỏi từ cuộc nội chiến trong khoảng giữa những năm 1980 và 1990, và sau đó tiếp tục bị đẩy lui dưới sức ép của các nhóm nhân quyền, Chevron và các công ty phương Tây bỏ lại những mỏ dầu cho nhà thầu khác. Canadian Talisman Energy đã phải đối mặt với một trận chiến bị tước đoạt, bị ép phải bán lại 25% cổ phần của nó lại cho Greater Nile Petroleum Operating Company năm 2002.

Các công ty của Trung Quốc đã may mắn hơn khi lấp vào chỗ trống.

Nhưng những hoạt động của Trung Quốc đã bị để ý “từ khi khởi đầu” bởi một “sự đồng lõa thâm hiểm bằng những vi phạm nhân quyền, tàn phá đất đai của dân bản xứ,” theo như đánh giá của nhà hoạt động xã hội Sudan Eric Reeves, giáo sư trường Đại học Smith ở Northampton, bang Massachuset. Đưa ra những bằng chứng chuyên môn trước Uỷ ban Phê chuẩn Kinh tế và An ninh Hoa Kỳ-Trung Quốc thuộc Quốc hội tháng 8 trước, ông Reeves đã khẳng định rằng người Trung Quốc đã có những trợ giúp trực tiếp cho các lực lượng quân đội Khartoum để từ đó chúng đốt làng mạc, xua đuổi người dân địa phương ra khỏi nhà họ, và hủy hoại môi trường thiên nhiên để thực hiện việc khai thác dầu lửa.

Brad Phillips, giám đốc của Persecution International, một tổ chức cứu trợ hoạt động tại Nam Sudan, đã nhìn thấy những hoạt động phá hoại trực tiếp. “Người Trung Quốc là cổ đông ngang vốn với Khartoum khi họ đến đây khai thác tài nguyên và sức lao động bản địa ở đây,” ông nói. “Mối quan tâm duy nhất của họ là những gì thuộc về họ.” Ông vui lòng nhìn thấy sự bảo trợ của Trung Quốc cho một ngôi trường ở đây, ông nói, hay một phòng khám bệnh, hay một chương trình nông nghiệp, hay “bất cứ thứ gì cho người dân.” Song chẳng có thứ gì tương tự như vậy trong mắt chúng ta. Chỉ có những mảnh đất bị tàn phá.

“Đơn giản là người Trung Quốc không quan tâm tới chúng tôi,” Martin Buywomo, thị trưởng Palich nói. “Họ không có liên lạc gì. Họ chưa bao giờ tới căn lều của tôi để chào hỏi. Họ nghĩ chúng tôi là những kẻ hèn kém.” Một thành viên của bộ tộc Shilluk rất quan tâm tới những ngôi trường của hội truyền giáo Anh, ông Buywomo đặt cuốn sách ông đang đọc xuống – một bản copy cũ nát của cuốn “Silas Marner” cổ điển từ thế kỷ 19 của George Eliot – rồi nói tiếp với giọng buồn bã. “Chúng tôi nhìn thấy họ trên những chiếc xe tải của họ nhưng họ lờ chúng tôi đi. Nếu như họ nhìn thấy chúng tôi đang nằm chết dần bên đường, họ cũng sẽ lờ đi.”

Buywomo sắp xếp lại những bông hồng bằng nhựa của Trung Quốc trên bàn. “Cái này lại hoàn toàn là chủ nghĩa thực dân một lần nữa.”

THABO MBEKI, với chính ông, có lẽ không phải vội vã để sửa chữa cho cái ấn tượng đó. Tháng 12 vừa qua, Tổng thống Nam Phi – mà nước ông là bạn hàng lớn nhất của Bắc Kinh trên lục địa này – đã cảnh báo lần nữa về một sự bất bình đẳng và “mối quan hệ thuộc địa” với Trung Quốc.

Bước qua biên giới, trên nước láng giềng Zimbabwe – một đất nước quá yếu để có đủ khả năng làm khó chịu cho những nước bạn bè mới của nó – Trevor Ncube, một chủ nhà in báo đáng kính nể, đã tận tâm cho số báo gần đây của tờ Zimbabwe Standard để cảnh báo liệu làm ăn với Trung Quốc có phải “đơn giản là tráo đổi một tay thực dân già của chúng ta lấy một tên thực dân mới.”

Có thể hầu hết những gì đang gây lo lắng về người Trung Quốc là một phản ứng tự nhiên đối với những tiến bộ của họ tại đất nước Zambia miền nam Phi châu.

Trung Quốc, khách hàng mua đồng lớn nhất trên thế giới, đã hứa một khoản 800 triệu US dola đầu tư ở Zambia, một trong những nước sản xuất đồng lớn nhất thế giới. Bắc Kinh đã xóa một khoản nợ gần 8 triệu US dola cho Zambia và tuyên bố việc thiết lập một khu vực mậu dịch tự do, theo đại sứ Trung Quốc ở Zambia cho biết, và nó sẽ cung cấp hàng chục nghìn việc làm.

Tuy nhiên, trong bước khởi đầu cho kỳ bầu cử vào ngày 28 tháng 9, ứng cử viên tổng thống Micheal Sata đã lôi vấn đề thiếu an toàn tại các khu mỏ của Trung Quốc vào chương trình nghị sự của chiến dịch tranh cử (50 công nhân mỏ Zambia đã thiệt mạng trong một vụ nổ năm 2005). Ông Sata đã nổi giận về điều mà ông gọi là sự cướp bóc nguồn khoáng sản giàu có của quốc gia và không thèm đếm xỉa tới môi trường – và hứa sẽ tống cổ người Trung Quốc ra và công nhận Đài Loan nếu như ông thắng cử. Ông đã thất cử. Song mấy tháng sau đó, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã huỷ bỏ chuyến viếng thăm thành phố khai thác đồng Chambishi vì sợ các cuộc biểu tình quần chúng chống lại ông ở đây.

Hình ảnh tiêu cực về Bắc Kinh này tựa như một kẻ thực dân mới có thể không còn tệ thêm nữa trong phương kế mà Trung Quốc – một quốc gia chưa bao giờ dính líu vào cả “Sự giành giật châu Phi” kiểu thực dân những năm 1800 lẫn trò buôn bán nô lệ châu Phi – muốn được nhìn nhận ở đây.

“Trong nửa cuối thập kỷ qua, người Trung Quốc và người Phi châu đã xây dựng mối quan hệ bè bạn sâu sắc trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, phát triển, và đổi mới,” lúc đó Ngoại trưởng Li Zhaoxing đã nói với các nhà báo sau chuyến thăm khu mỏ Zambia bị huỷ bỏ của ông Hồ. “Các bạn Phi châu, từ những nhà lãnh đạo cho tới những người dân … đã gọi Trung Quốc một ‘người anh em của châu Phi,’ một ‘người bạn trong mọi thời tiết,’ và là một ‘bạn hàng quan trọng nhất,’” ông Li tô son trát phấn.

Người Trung Quốc, những kẻ, chẳng giống với những thế lực Âu châu tới trước họ, không có quyền lực trực tiếp trên người dân ở đây và dàn xếp các điều kiện cho sự có mặt của họ với giới cầm quyền, chửi rủa rằng quyền lực là không thể chấp nhận trong cách kinh doanh của mình.

“Chúng tôi luôn động viên các công ty Trung Quốc phải hợp tác bình đẳng với các đối tác châu Phi của họ, tôn trọng luật pháp và các nguyên tắc nước sở tại,” Liu Guijin, đại diện đặc biệt mới được bổ nhiệm của Trung Quốc ở châu Phi đã nói như vậy với các nhà báo tại Bắc Kinh vào tháng Tư. “Nếu họ làm điều gì đó không được hay, thì điều đó là không phù hợp với chính sách của nhà nước.”

Xu Weizhong, giám đốc cơ quan nghiên cứu Phi châu thuộc Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc, một nhóm chuyên gia cố vấn cho chính phủ, đã đưa ra quan điểm này. Trước hết, ông nói, nhiều công ty Trung Quốc có khả năng lèo lái … và muốn đôi lúc khước từ các chính sách của chính phủ. Điều này là một sự tiến thoái lưỡng nan cho chính quyền Trung Quốc.”

Nhưng hơn nữa, ông nói, trong khi Trung Quốc thực sự nhắm tới việc trở thành một đối tác thương mại sòng phẳng, việc xác định khái niệm “thực hiện tốt” có thể sẽ không được thực hiện bởi những kẻ ngoài cuộc. “Chính phủ Trung Quốc tôn trọng bất kỳ những luật lệ và nguyên tắc nào của Phi châu nếu như có, [nhưng] sẽ khó có được sự nhất trí hơn trong việc tôn trọng những luật lệ mà chính phủ phương Tây áp đặt đối với những vấn đề của châu Phi,” ông tuyên bố.

Nhân viên kế toán Petrodar Li bác bỏ toàn bộ ý kiến tranh luận, gọi những câu chuyện về cướp đoạt dầu, làm giảm nhân cách và môi trường, và trở thành những thực dân mới tựa như “truyện Ali Baba.”

“Tôi ở đây để kiếm tiền. Công ty của tôi ở đây cũng đề làm như vậy,” ông nói. “Tôi hiểu đây là xứ sở rất nghèo và không an toàn, song tôi không có trách nhiệm phải sửa chữa tất cả mọi thứ sai lầm ở Sudan,” ông nói thêm, không tỏ ra thấu hiểu về những lời than phiền. “Đó là cuộc sống. Đó là kinh doanh.”

SO SÁNH TRUNG QUỐC VỚI CÁC THỰC DÂN ÂU CHÂU NHƯ THẾ NÀO

Người Trung Quốc không hề là kẻ đứng hàng đầu bị cáo buộc đã kiếm lời ở lục địa này. Trên thực tế, họ đang bước xuống một con đường thuận lợi đã có nhiều kẻ qua lại là những người lúc này đầy dân tộc tính đang chỉ tay cáo buộc họ.

Trong quá trình cái gọi là kỷ nguyên của Sự cướp đoạt Phi châu, được bắt đầu vào những năm 1880, các quốc gia Âu châu đế quốc đã giành giật quyền kiểm soát từng mẩu nhỏ được biết đến của lục địa, cuối cùng nắm được quyền kiểm soát hầu như nguyên vẹn, rộng lớn, từng khu vực. Sự cai trị này do những kẻ ngoại bang, dưới hình thức này hay hình thức khác, được tiếp nối cho tới sau Thế chiến thứ Hai.

Người Pháp có mặt trên cả tá các nước Tây Phi, trong đó có vùng mà ngày nay là Senegal và vùng Bờ biển Ngà, cũng như Chad, Madagascar, và Comoros. Người Đức, cùng lúc, cai trị những phần mà nay là Burundi, Rwanda, Tanzania, và Namibia. Nước Ý chia cắt theo kiểu nó muốn ở Eritrea và một ít ở Somalia. Tây Ban Nha có địa vị vững vàng ở phía Tây. Thổ Nhĩ Kỳ – những kẻ thực dân đầu tiên ở Phi châu – nắm chắc Angola, Mozambique, và những vùng lãnh thổ nhỏ khác. Bỉ bỉ ổi thọc vào Congo với bàn tay tàn bạo, và nước Anh thiết lập sự ủy trị khắp Đông Phi và ở nơi mà nay là Sudan, Zimbabwe, Zambia, Malawi, Ghana, và Nigeria.

Trong lúc Sudan (1956) và Ghana (1957) trở thành những quốc gia Phi châu đầu tiên giành được độc lập, với các quốc gia khác nhanh chóng theo sau, nhiều năm dài sau đó nhiều nước vướng vào các cuộc xung đột.

Người Âu châu đã, chẳng có gì ngạc nhiên, miễn cưỡng từ bỏ những mảnh đất “của họ”. Trong nhiều thập kỷ, Phi châu đề nghị họ mở cửa thị trường thực phẩm và những điều kiện phong phú cho những nỗ lực truyền giáo. Quan trọng hơn, lục địa này đã cung cấp cho người Âu châu những nguyên liệu thô rẻ (hoặc cho không), như bông, cao su, trà, và thiếc và – tất nhiên – với nguồn nhân lực miễn phí.

Một số thế lực thực dân đã cư xử khá nhân từ, dù là kiểu gia trưởng, tập quán ở Phi châu – xây dựng cơ sở hạ tầng, mở trường học, và tham gia vào việc điều hành chính quyền địa phương, ghi lại lịch sử.

Tuy nhiên theo họ, với hầu hết các vùng, các chủ thực dân Âu châu đã hạn chế bước phát triển của các quốc gia-ràng buộc các thể chế lại trong nhiệm vụ đảm bảo việc cai trị được thuận lợi. Qua dấu ấn của ngôn ngữ và lòng trung thành trong các bộ lạc thổ dân được xác lập tùy hứng bởi các đường ranh giới “quốc gia”, nơi người ngoại quốc đã thực hiện quyền chiếm hữu của họ, thường rất tàn bạo, với thái độ khinh rẻ sự tồn tại của những kiến trúc và truyền thống địa phương. Những vết thương nặng nề qua thời kỳ này vẫn đang gây đau đớn cho người dân Phi châu ngày nay.

Khi những người Bồ Đào Nha cuối cùng rời Angola năm 1975, ví dụ, di sản tồi tệ của họ vẫn đang gây ra bao khốn đốn. Sau khi khép lại 500 năm cai trị, họ thăng hoa bằng việc huấn luyện kỹ càng mọi công chức, kỹ thuật viên hay binh lính Phi châu. Khi nền tự do cuối cùng đã đến, người Angola nói với những khách viếng thăm ngày nay là ở đó không có một bác sĩ, một luật sư, hay kỹ sư người địa phương nào tại thủ đô Luanda. Nội chiến đã nhanh chóng nổ ra.

Người Trung Quốc, không cai trị trực tiếp một nước Phi châu nào hay áp đặt văn hóa hoặc tôn giáo của họ lên dân bản địa, có thể sẽ được cho là bị thuần hóa nếu như đem ra so sánh.

“Bất chấp cho chủ nghĩa hoài nghi đang gia tăng trước mục đích của Trung Quốc trên lục địa này,” theo biện luận của Hãng Thông tấn Xinhua thuộc nhà nước Trung Quốc trong một bài tường thuật, “ … sự tiếp cận của nước này với Phi châu rõ ràng khác với cách của các đối tác phương Tây – cả trong quá khứ lẫn hiện tại.”

Andrew Small, một chuyên gia về Trung Quốc thuộc Quỹ German Marshall Fund, một viện nghiên cứu chính sách công, đã chỉ ra rằng nhiều mưu đồ xấu xa của Trung Quốc ở châu Phi ngày nay nảy sinh không phải từ tư tưởng thực dân, mà là từ trình độ phát triển của chính bản thân nước Trung Quốc. “Trong tất cả những thảm họa hầm mỏ ở Zambia, việc tái định cư bắt buộc xung quanh đập nước Merowe [của Sudan], và thỏa thuận làm tha hóa các giới chức chính quyền, có bản sao của nó từ Dongbei [Trung Quốc], đập nước Three Gorges, ở Thượng Hải, và những nơi khác,” ông vạch rõ. “Những lời hô hào gần đây của chính quyền trung ương đối với các công ty Trung Quốc hoạt động ở nước ngoài phải có ý thức về hình ảnh quốc tế của Trung Quốc và tôn trọng vị thế của các nước sở tại gần như là đòi hỏi cho một tiêu chuẩn cao hơn về tư cách trong những thỏa thuận của họ với phần còn lại của thế giới hơn là những gì họ làm ở trong nước.”

Hơn nữa, ông Small nói, sự tiếp cận của Trung Quốc với châu Phi là hoàn toàn khác với cách của những kẻ cai trị từ Âu châu trong quá khứ.

“Có một quan điểm trong nhiều người Trung Quốc rằng châu Phi – cũng giống như châu Á mấy thập kỷ trước – được nuôi dưỡng để làm đà phát triển … bằng việc làm cho nó trở thành cơ hội cho thương mại và đầu tư hơn là một bộ phận bị giam hãm của thế giới chỉ mong muốn được cứu giúp hay chỉ là một cái kho đơn độc chứa các nguồn tài nguyên thiên nhiên,” ông nói. “[Trung Quốc] sẽ giữ một vị trí khác thường trong cả hai vai trò là một siêu cường và một nước đang phát triển cho tương lai sắp tới, với những yếu tố nội tại của Trung Quốc tương hợp với Phi châu hơn là với phương Tây.”

Có thể đúng vậy, song chính sự so sánh về tính chất thực dân là vô nghĩa, theo lời Robert Rotberg, giám đốc Chương trình của Trường Kennedy thuộc Đại học Harvard nói về những lập luận mâu thuẫn.

“Tôi có thể không nói rằng đó là chủ nghĩa thực dân, cũng như giai đoạn đó là đặc trưng cho một khu vực và thời kỳ riêng biệt,” ông nói. “Song tôi có thể gọi nó là sự khai thác hậu thuộc địa, mà trong đó người Trung Quốc đang tước đoạt thuộc địa từ nguyên liệu thô nhanh tới mức họ có thể và không thương tiếc đằng sau việc họ đưa lao động của mình sang thực hiện các dự án mà lờ đi nguồn nhân công bản địa.”

Trung quốc: thay đổi lịch sử trong chính sách tuyển quân


THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

(Trang ”Diễn đàn’ của tờ ”Văn hối” của Hồng Công, số ra ngày 15/11/2009)

Đầu tháng 11/2009, quốc vụ viện (chính phủ) và Quân uỷ trung ương Trung Quốc đẵ triệu tập “Hội nghị công tác tuyển quân mùa đông”. Tại hội nghị này đă phê chuẩn và thực hiện toàn diện “Chính sách tuyển quân mới “của Quân Giải Phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA). Theo đó chú trọng tuyển dụng tân binh là sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng chuyên ngành. Các chuyên gia quân sự Trung Quốc cho rằng đây là sự thay đổi mang tầm lịch sử trong chính sách tuyển quân của PLA. Thực hiện “chính sách tuyển quân mới” là xu thế tất yếu, cũng là hướng đi đúng và là yêu cầu cấp thiết để Trung Quốc hiện đại hoá quốc phòng và quân đội một cách toàn diện.

1-Thời gian, phạm vi thực hiện và chính sách ưu đãi đi kèm

Chính sách tuyển quân mới của PLA sẽ bắt đầu từ đợt tuyển quân mùa Đông năm nay trên phạm vi cả nước. “Chính sách mới” yêu cầu tiếp tục tăng cường cải cách sâu rộng dối tượng tuyển dụng, lấy sinh viên tốt nghiệp các trường đại học và cao đẳng chuyên ngành cũng như các trường kỹ thuật trong cả nước là đối tượng tuyển dụng chủ yếu.”Chính sách mới” nêu rõ trong các đối tượng tuyển dụng nếu cùng điều kiện, ưu tiên tuyển dụng thanh niên có trình độ học vấn cao.Trong cácđối tượng cùng trình độ học vấn, ưu tiên tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp trong năm.

Thực hiện “chính sách tuyển quân mới”, cùng với việc tập trung tuyển dụng sinh viên đại học và cao đẳng vào quân đội, chính phủ và Quân uỷ trung ương trung Quốc đã thống nhất thực hiện một loạt các chính sách ưu đãi đi kèm như sau:

- Bắt đầu từ năm 2009, sinh viên đã tốt nghiệp đại học và cao đẳng chuyên ngành nhập ngũ đều được bồi thường học phí, nhà nước trợ cấp trả tiền học phí, mức cao nhất có thể lên tới 24.000 nhân dân tệ (khoảng 4.000USD, mức này áp dụng cho những sinh viên nghèo phải vay tín dụng toàn phần để nộp học phí trong quá trình theo học đại học hoặc cao đẳng).

- Sau khi nhập ngũ, những tân binh có biểu hiện tốt và có nguyện vọng phục vụ quân đội lâu dài, có thể trực tiếp đề bạt phong quân hàm sỹ quan hoặc cho phép tự lựa chọn quân hàm hạ sỹ quan. Sau khi giải ngũ sẽ được ưu tiên bố trí công việc (ở cấp cơ sở) theo qui định của pháp luật nếu như không tự tìm được việc làm.

2- Cơ sở thực hiện

Các chuyên gia quân sự Trung Quốc nêu rõ để thực hiện toàn diện chính sách mới này, PLA đẵ trải qua quá trình thử nghiệm trong suốt 5 năm qua.Trước đây, đối tượng tuyển quân của PLA chủ yếu là thanh niên nông thôn và thanh niên thành thị chưa có việc làm. Mặc dù ở mức độ nhất định, chính sách này bảo đảm ổn định nguồn tuyển quân, nhưng đối tượng tuyển dụng phổ biến là thanh niên có trình độ văn hoá thấp, cho nên đă ảnh hưởng đến chất lượng và sự phát triển tổng thể của PLA.Những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng trong xây dựng hiện đại hoá quân đội, nhu cầu tuyển quân có trình độ học vấn cao ngày càng gia tăng, buộc chính phủ và Quân đội Trung Quốc phải tiến hành điều chỉnh chính sách tuyển quân hàng năm. Đến nay, có thể nói PLA đầy đủ điều kiện thực hiện toàn diện “chính sách tuyển quân mới”, cụ thể như sau:

- Thực hiện thí điểm thành công. Các nhà quan sát quân sự Trung Quốc cho biết, bắt đầu từ tháng 9/2001, chính phủ và Quân uỷ trung ương Trung Quốc công bố “Điều lệ (sửa đổi) công tác tuyển quân”, trong đó theo quy định của pháp luật, PLA có thể tuyển dụng các sinh viên đang theo học hoặc đã tốt nghiệp tại các trường đại học và cao đẳng trong cả nước; các sinh viên tình nguyện nhập ngũ có đủ điều kiện sẽ được tiếp nhận. Năm 2003, PLA tiến hành thực hiện tuyển dụng thí điểm và phong quân hàm hạ sỹ quan cho các sinh viên đã tốt nghiệp các trường đại học và cao đẳng chuyên ngành ở một số đơn vị đã qui định. Thời gian thực hiện thí điểm (quy định) là 5 năm, tức đến hết năm 2008. Trong thời gian thực hiện thí điểm, Chính phủ và Quân uỷ trung ương đã có một số điều chỉnh như cuối tháng 10/2005, đưa ra mệnh lệnh:công tác tuyển quân mùa đông năm 2005 ưu tiên tuyển dụng đối tượng là sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng chuyên ngành một cách toàn diện và trong cả nước.

- Môi trường xã hội thuận lợi. Những năm gần đây, hình ảnh của PLA ngày càng được nâng cao, PLA đã tạo ra sức hấp dẫn nhất định đối với tầng lớp thanh niên trong xã hội, trong đó bao gồm cả những sinh viên đại học và cao đẳng chuyên ngành. Điển hình là cuộc duyệt binh mừng Quốc khánh hôm 1/10 vừa qua, PLA đã trình diện một đội ngũ lãnh đạo bậc nhất, trang bị vũ khí bậc nhất, thành quả huấn luyện bậc nhất và tác phong bậc nhất. Mọi tầng lớp trong xã hội và báo chí trong và ngoài nước ca ngợi, trong đó bao gồm cả tầng lớp thanh niên trong cả nước. Hình ảnh và bầu không khí này đã kích thích sự nhiệt tình tham gia quân đội hơn của tầng lớp thanh niên Trung Quốc, kể cả những sinh viên tốt nghiệp đại học và cao đẳng chuyên ngành.

- Chính sách ưu đãi đi kèm cơ bản khá hoàn thiện. Các chuyên gia quân sự Trung Quốc nêu rõ những chính sách ưu đãi đi kèm như trên đã quan tâm đến những vấn đề thiết thực của tầng lớp thanh niên, điều này sẽ làm nảy sinh nguyện vọng và có sức hấp đẫn lớn đối với tầng lớp thanh niên là sinh viên đại học và cao đẳng chuyên ngành tham gia quân đội. Hơn thế, do công tác tuyển quân liên quan đến mọi nhà, ảnh hưởng đến thành thị, nông thôn và các trường đại học và cao đẳng, nên từ khi đưa ra chính sách đến thực hiện thí điểm, chính phủ và Quân uỷ trung ương đều đã xem xét đến vấn đề ổn định xã hội và dân sinh, đến nay thực hiện toàn diện có thể coi là đẵ đủ điều kiện và đúng thời cơ.

3- Đánh giá của giới chuyên gia

Các chuyên gia quân sự Trung Quốc cho rằng “chính sách tuyển quân mới” đã thể hiện những thay đổi mang tầm lịch sử trong vấn đề tuyển quân của PLA. Đây là xu hướng tất yếu, cũng là hướng đi đúng và là yêu cầu cấp thiết để Trung Quốc thực hiện hiện đại hoá quốc phòng và quân đội một cách toàn diện. Chuyên gia quân sự nổi tiếng của Trung Quốc, Tống Hiểu Quân nêu rõ đây là cuộc “cách mạng mang tính lịch sử” về chính sách tuyển quân của PLA, đương nhiên để thực hiện được như vậy PLA đã trải qua quá trình thử nghiệm trong suốt 5 năm qua. Chính sách mới này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của Quân đội Trung Quốc hiện nay, cũng như phù hợp với nhu cầu xây dựng hiện đại hoá quân đội của Trung Quốc. Hơn thế, thời điểm này tiến hành thay đổi chính sách tuyển quân nhằm vào những đối tượng tuyển quân có tố chất cao là phù hợp và PLA đã có đủ điều kiện để thay đổi.

Các chuyên gia quân sự Trung Quốc thừa nhận chính sách tuyển quân mới đã xem xét khá đầy đủ đến vấn đề thực tế của tầng lớp thanh niên nhập ngũ, nhất là thanh niên đã tốt nghiệp đại học. Từ bồi thường học phí đến đề bạt phong cấp hàm và đến bố trí việc làm sau khi giảI ngũ, có thể coi là một chính sách ưu đãi toàn diện về cơ bản có thể xoá bỏ được về mọi ưu tư của sinh viên tốt nghiệp đại học nhập ngũ. Tuy nhiên, cũng có các chuyên gia quân sự cảnh báo “chính sách tuyển quân mới” cùng với chính sách ưu đãi đi kèm khá toàn diện sẽ khiến cạnh tranh trong quá trình tuyển dụng quyết liệt hơn, từ đó sẽ nảy sinh vấn đề tiêu cực trong công tác tuyển quân. Để tránh được tiêu cực, khi thực hiện cần lấy công khai để thúc đẩy công bằng, lấy minh bạch để thúc đẩy chính xác, thiết thực giao cho xã hội giám sát chính xác, điều kiện, hạn ngạch và đối tượng tuyển dụng, loại bỏ “quy tắc ngầm” và tham nhũng trong công tác tuyển quân, ảnh hưởng đến chất lượng tuyển dụng. Đây là điều kiện để PLA tuyển dụng đội ngũ tân binh có chất lượng cao phục vụ trong quân đội.

Giới chức Hoa Kỳ: ‘Việt Nam đóng vai trò quan trọng tại châu Á’

Thưa quý vị, năm 2010 đánh dấu 15 năm Việt Nam và Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ trong bối cảnh Washington mạnh mẽ tăng cường ảnh hưởng ở châu Á – Thái Bình Dương. Năm nay, Hoa Kỳ được đánh giá đã thể hiện vai trò ngoại giao của mình ở khu vực này với khẳng định của Ngoại trưởng Hillary Clinton về ‘quyền lợi quốc gia’ của Mỹ trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp ở biển Đông. Trong cuộc phỏng vấn dành riêng cho Nguyễn Trung của VOA Việt Ngữ, Phó Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Joseph Yun, cho rằng tuyên bố từng khiến Trung Quốc mạnh mẽ phản ứng của bà Clinton đã ‘dẫn tới các cuộc họp mang tính đa phương’. Mời quý vị theo dõi cuộc trao đổi trong chuyên mục ‘Câu chuyện Việt Nam’ tuần này. 

 Phó Trợ lý Ngoại trưởng Joseph Yun nói rằng ‘một cột trụ rất quan trọng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ là nhân quyền’. Hình: Trung Nguyen

Phó trợ lý ngoại trưởng Joseph Yun nói: ‘Vậy nên có thể nói rằng nếu quan hệ cải thiện, thấu hiểu nhau hơn cũng như thực thi tốt hơn về nhân quyền, quyền hoạt động chính trị và không còn tù nhân chính trị thì lúc đó quan hệ song phương sẽ tốt hơn và sâu sắc hơn. Tôi không thấy có điều gì mâu thuẫn trong chuyện đó cả’. 

VOA: Ngoại trưởng Hillary Clinton hai lần công du tới Việt Nam trong năm 2010. Những chuyến thăm đó mang ý nghĩa như thế nào, thưa ông? 


Phó Trợ lý Ngoại trưởng Joseph Yun: Tôi đã tháp tùng bà Ngoại trưởng cả hai lần tới Hà Nội tham dự Diễn đàn Khu vực ASEAN vào tháng Bảy và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á hơn hai tháng trước. Trong cả hai chuyến công du, bà đều dành thời gian đáng kể để trao đổi về các vấn đề liên quan tới Việt Nam. Bà đã gặp Thủ tướng và dĩ nhiên cả Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam để trao đổi về mối quan hệ Hà Nội – Washington.


Tôi cho rằng đó là chuyến công tác quan trọng, và cả bất thường nữa vì Ngoại trưởng Hoa Kỳ công du tới một địa điểm hai lần. Điều đó cho thấy chúng tôi đánh giá cao mối bang giao với Việt Nam, cũng như mong mỏi cải thiện mối quan hệ của chính phủ hai phía. 

VOA: Hoa Kỳ đang mạnh mẽ tăng cường hợp tác với các quốc gia châu Á nhằm duy trì ảnh hưởng ở khu vực này. Vậy Washington nhận thấy Việt Nam có thể đóng vai trò gì trong tiến trình đó? 

Phó Trợ lý Ngoại trưởng Joseph Yun: Việt Nam đóng vai trò quan trọng ở châu Á. Đây là một đất nước nằm giữa khu vực chúng tôi gọi là Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Việt Nam cũng có đường lãnh hải dài và chung đường biên giới trên bộ với Trung Quốc, Lào hay Campuchia. Tôi cho rằng Việt Nam nằm ở một vị trí chiến lược.

Ngoài ra, quốc gia này cũng ở vị trí trung tâm của các hoạt động kinh tế diễn ra khắp châu Á. Vậy nên tôi cho rằng Việt Nam đã, đang và sẽ hưởng lợi từ sự trỗi dậy của các nước lớn ở khu vực này cũng như đóng vai trò hữu ích giữa các nước thuộc vùng Đông Nam Á và Đông Bắc Á.  

VOA: Mối quan hệ Việt – Mỹ đã phát triển nhanh sau 15 năm bình thường hóa quan hệ. Nhưng tại một cuộc hội thảo ở Trung tâm Đông Tây hồi tháng 11, ông nói rằng nhân quyền vẫn là một vấn đề gây trở ngại giữa hai nước. Chủ đề gây tranh cãi này ảnh hưởng ra sao tới mối quan hệ song phương, thưa ông? 


Phó Trợ lý Ngoại trưởng Joseph Yun: Khi phát biểu như vậy, tôi muốn nhấn mạnh rõ rằng một cột trụ rất quan trọng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ là nhân quyền. Song hành cùng với yếu tố đó còn là dân chủ, sự tôn trọng và công nhận đối lập chính trị.

Đây là vấn đề chúng tôi không chỉ nêu lên đối với riêng Việt Nam mà còn với các nước khác trên thế giới. Đó là lý do tại sao chúng tôi lại tham gia các cuộc đối thoại về nhân quyền với Việt Nam.

Một trong các đồng nghiệp của tôi, ông Michael Posner, Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ đặc trách về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động tới Hà Nội khoảng một tuần trước. Ông Posner cũng từng tham gia các cuộc đối thoại thường niên kiểu như vậy với nhiều nước như Trung Quốc chẳng hạn.

Vậy nên, chuyện đối thoại về nhân quyền không phải là điều gì đó bất thường. Đó là một cột trụ trong chính sách ngoại giao của chúng tôi, và đây là điều không thể bị bỏ qua. Hiện có các tù nhân chính trị ở Việt Nam và chúng tôi cho rằng nước này cần phải cởi mở hơn. Ngoài ra còn có quan ngại về chuyện tự do thờ phượng nữa tại đây. 

Vậy nên có thể nói rằng nếu quan hệ cải thiện, thấu hiểu nhau hơn cũng như thực thi tốt hơn về nhân quyền, quyền hoạt động chính trị và không còn tù nhân chính trị thì lúc đó quan hệ song phương sẽ tốt hơn và sâu sắc hơn. Tôi không thấy có điều gì mâu thuẫn trong chuyện đó cả. 

VOA: Ông từng nắm giữ vị trí Giám đốc Văn phòng Lãnh hải Đông Nam Á thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Vậy theo đánh giá của ông, vấn đề tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông) khó giải quyết đến mức nào? 

Phó Trợ lý Ngoại trưởng Joseph Yun: Biển Nam Trung Hoa là một vùng đại dương rộng lớn, trải dài từ Đông Bắc Á cho tới eo biển Malacca. Đây là một trung tâm giao thương, và các hoạt động kinh tế diễn ra tại đây là nguồn sống đối với nhiều nước, trong đó có cả Trung Quốc, Việt Nam hay nhiều quốc gia châu Á khác. 

Vì thế, nếu xảy ra tình trạng căng thẳng ở biển Nam Trung Hoa, không chỉ có thương mại mà còn cả việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên (dầu khí, hay hải sản) sẽ bị ảnh hưởng.

Khi đề cập tới vấn đề biển Nam Trung Hoa, mục tiêu của chúng tôi là muốn nhấn mạnh rằng nếu có các tuyên bố trái ngược về chủ quyền các hòn đảo, các tranh chấp này cần phải được thảo luận tại một diễn đàn đa phương để giải quyết thông qua đường lối ngoại giao, không gây căng thẳng và tránh gây xung đột bạo lực. Đó là mục tiêu mà chúng tôi theo đuổi. 

VOA: Nhưng thưa ông, Trung Quốc đã ‘giận dữ’ phản ứng trước tuyên bố của bà Clinton hồi tháng Bảy vừa qua tại Hà Nội rằng Hoa Kỳ coi việc giải quyết hòa bình tranh chấp ở biển Đông là ‘quyền lợi quốc gia’. Ông nghĩ sao về hành động của Bắc Kinh? 

Phó Trợ lý Ngoại trưởng Joseph Yun: Tôi không nghĩ là tôi có cùng quan điểm cho rằng Trung Quốc đã ‘giận dữ’, bởi lẽ sau khi vấn đề này được đưa ra thảo luận tại Diễn đàn An ninh Khu vực và các hội nghị sau đó như Diễn đàn Các bộ trưởng quốc phòng (ADMM+) cũng ở Hà Nội, tôi cho rằng đã có những tiến triển.
Lấy ví dụ, khi chúng ta đang nói chuyện ở đây, Trung Quốc đang gặp các quốc gia ASEAN tại Côn Minh trong khuôn khổ của hội nghị Trung Quốc – ASEAN về biển Nam Trung Hoa. 

Tôi tin rằng việc chúng tôi đề cập tới chủ đề này đã dẫn tới các cuộc họp mang tính đa phương và theo đuổi đường lối giải quyết ngoại giao. Đây là cách thức nên được dùng để giải quyết vấn đề. Chúng tôi nêu lên một vấn đề gây quan ngại đối với chúng tôi và các bên phản ứng bằng cách tổ chức các cuộc họp sau đó. Tôi nghĩ đấy là một dấu hiệu tuyệt vời. 

VOA: Thưa ông, mới đây, hãng tin AP của Hoa Kỳ nhận định rằng việc Trung Quốc cương quyết khẳng định chủ quyền lãnh hải đối với vùng biển Nam Trung Hoa và cả vùng biển Đông Trung Hoa đã khiến các nước trong vùng xích lại gần hơn với Washington. Ông nghĩ sao về ý kiến này, thưa ông? 

Phó Trợ lý Ngoại trưởng Joseph Yun: Đó là ý kiến riêng của hãng AP. Chúng tôi muốn có quan hệ tốt đẹp với các nước ASEAN cũng như với cả Trung Quốc nữa. Mối bang giao giữa Washington và Bắc Kinh mang tính đa diện, và không tập trung vào một vấn đề. Có thể thấy chúng tôi còn bất đồng về vấn đề tiền tệ, thương mại, sở hữu trí tuệ hay dân chủ và nhân quyền. Rất nhiều chuyện cùng lúc xảy ra. 

Điều rất quan trọng đối với chúng tôi là phải duy trì quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc để đôi bên có thể trao đổi một cách cởi mở và thoải mái. Nhưng đồng thời, chúng tôi cũng muốn phát triển và tăng cường vị thế ở Đông Nam Á, mà minh chứng là Ngoại trưởng Hillary Clinton đã tới đây sáu lần trong vòng hai năm qua, còn Tổng thống Obama cũng đã công du khu vực hai lần. 

Tôi không cho rằng vấn đề tôi vừa nói không thể tương thích với nhau. Có đúng là vấn đề biển Đông đã đưa các nước ASEAN lại gần hơn với chúng tôi hay không, tôi không rõ. Có thể đúng, nhưng mục tiêu ở đây không phải là một cuộc cạnh tranh giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, mà chúng tôi muốn bảo vệ lợi ích của mọi phía tại vùng biển tranh chấp này. 

VOA: Trong một phiên điều trần tại Thượng viện Hoa Kỳ về vấn đề phát triển bền vững và bảo đảm an ninh cho sông Mekong, ông nhận định rằng, xin trích, ‘thực tế không thể phủ nhận được rằng sẽ luôn có các tranh chấp quanh vấn đề nguồn nước’. Vậy Hoa Kỳ sẽ làm gì để giúp các nước trong khu vực hóa giải các căng thẳng có thể có trong tương lai? 

Phó Trợ lý Ngoại trưởng Joseph Yun: Tôi vẫn duy trì quan điểm đó, trong trường hợp nguồn nước đó được chia sẻ giữa hai nước trở lên. Rõ ràng, việc một nước quản lý vùng nước của riêng mình, một cái hồ trong lãnh thổ của mình, thì đó là chuyện đương nhiên. Nhưng nếu lại phải dùng chung một cái hồ, một dòng sông hay một vùng đại dương nào đó, sẽ luôn nảy sinh tranh chấp. 

Quan điểm của Hoa Kỳ là, các tranh chấp luôn xảy ra nhưng chúng cần phải được giải quyết hòa bình thông qua đường lối ngoại giao với trọng tâm là giữ vững ổn định. Đấy là chính sách kiên định của chúng tôi đối với các vấn đề như biển Nam Trung Hoa hay sông Mekong. Tôi hy vọng rằng chúng tôi sẽ đóng vai trò hữu ích để giải quyết trong trường hợp xảy ra tranh chấp, nếu không điều đó sẽ ảnh hưởng lớn tới dân chúng. Đây là điều chúng tôi muốn tránh. 

Nguồn: VOA

Quan hệ Việt – Mỹ 2010: Sôi nổi nhờ Biển Đông

Nhìn lại một năm 2010 sắp kết thúc, có thể nói không sai là khía cạnh ngoại giao chiến lược đã trở thành yếu tố nổi bật nhất trong quan hệ Việt Mỹ, phần nào che khuất hai lãnh vực truyền thống là nhân quyền và kinh tế, vẫn thường xuyên chi phối bang giao giữa hai bên. Do thái độ quyết đoán hung hăng của mình trên vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đã mặc nhiên biến thành tác nhân thúc đẩy Washington và Hà Nội xích lại gần nhau hơn. 
 
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (trái) bắt tay Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates. Đứng giữa là Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt. Ảnh: Reuters

Hàng không mẫu hạm George Washington thuộc Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ neo lại ngoài khơi Đà Nẵng, tiếp đón một phái đoàn quan chức chính quyền và quân đội Việt Nam lên thăm. Sự kiện diễn ra ngày 8/8/2010, có thể được xem là biểu tượng, đánh dấu một năm phát triển mạnh mẽ của quan hệ Việt Mỹ, đặc biệt là trong lãnh vực nhạy cảm nhất là quân sự quốc phòng.

Lẽ dĩ nhiên, năm 2010 là một năm quan trọng đối với quan hệ Việt – Mỹ vì lẽ đây là thời điểm đánh dấu 15 năm ngày hai nước cựu thù bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, các hoạt động kỷ niệm cột mốc này lại sôi động hơn hẳn những lúc bình thường, nhất là trong địa hạt quốc phòng, cho đến gần đây, vẫn còn hết sức dè dặt.

Riêng trong lãnh vực này, năm 2010 đã chứng kiến việc Hoa Kỳ và Việt Nam “nâng cấp” quan hệ quốc phòng, với việc Việt Nam lần đầu tiên mở cuộc thao diễn hải quân chung với Hoa Kỳ, dù chỉ ở quy mô nhỏ, nhân dịp chiến hạm John McCain ghé cảng Đà Nẵng vào tháng 8 vừa qua. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng bắt đầu thực hiện việc bảo trì, sửa chữa các tàu quân sự của đệ thất hạm đội khi có yêu cầu. Các chuyến tàu Mỹ ghé Việt Nam cũng nhiều hơn, mà nổi bật nhất là chiếc George Washington.



Ý nghĩa của sự kiện này từng được giới phân tích đánh giá là rất lớn. vì chiếc hàng không mẫu hạm nguyên tử này là biểu tượng của sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ tại vùng Thái Bình Dương, mà sức mạnh được xem là cản lực duy nhất khả dĩ ngăn chặn được chiều hướng tự tung tự tác của hải quân Trung Quốc trong khu vực.

Cho dù vào ngày 8/8 vừa qua, chiếc tàu này chỉ neo lại ngoài khơi, cách bờ biển Đà Nẵng đến 320 cây số, thế nhưng, đó lại là một vị trí ngay tại cửa ngõ dẫn ra các vùng quần đảo mà Trung Quốc đang tranh chấp với Việt Nam tại Biển Đông. Trước khi ghé Biển Đông, chiếc USS George Washington đã tham gia tập trận cùng với Hải quân Hàn Quốc trong vùng Biển Hoa Đông, làm dấy lên những lời chỉ trích từ phía Trung Quốc, không muốn cho chiếc tàu này đến gần bờ biển của họ.

Theo các nhà quan sát, việc Hoa Kỳ cho hàng không mẫu hạm George Washington ghé Việt Nam là một thông điệp gởi tới Bắc Kinh, nhắn nhủ rằng Trung Quốc không phải là cường quốc duy nhất trong khu vực, và Hoa Kỳ luôn luôn sẵn sàng đứng ra quyền tự do thông thương trên Biển Đông có dấu hiệu bị Trung Quốc đe dọa.

Ngoài các hoạt động cụ thể kể trên, ba lãnh đạo cao cấp Hoa Kỳ, từ Tổng thống Obama, Ngoại trưởng Clinton, cho đến bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates, tất cả đều đã công khai xác định quan điểm dấn thân mạnh mẽ hơn của Mỹ vào Châu Á và Đông Nam Á, phản bác đòi hỏi chủ quyền rộng khắp của Trung Quốc đối với vùng Biển Đông.

Theo ông Ngô Nhân Dụng, bình luận gia báo Người Việt tại California, nếu tổng kết tình hình quan hệ Việt Mỹ trong năm 2010 sắp kết thúc, điều cần phải ghi nhận trước tiên hết chính là khía cạnh chính trị, ngoại giao, với việc Hoa Kỳ hậu thuẫn cho Việt Nam và một số nước ASEAN chống lại các đòi hỏi quá đáng của Trung Quốc tại Biển Đông.

Tuy nhiên, đối với ông Ngô Nhân Dụng, trong năm 2010 này, không thể bỏ qua khía cạnh nhân quyền vẫn khuấy động quan hệ Việt Mỹ, đặc biệt với sự kiện là vào cuối năm, Hạ viện Hoa Kỳ sắp mãn nhiệm đã thông qua nghị quyết yêu cầu Washington đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC của các nước ”cần quan tâm đặc biệt" vì vi phạm quyền tự do tôn giáo.

Trong lãnh vực kinh tế, Việt Nam cần phải tranh thủ được nguồn vốn hiện đang có rất nhiều trong tay các ngân hàng Mỹ, chỉ chờ cơ hội đầu tư sinh lợi. Muốn được như vậy, Việt Nam phải tránh tình trạng như đã xảy ra với Tập đoàn Vinashin.

Trong năm 2011 sắp đến, quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc có khả năng được cải thiện hơn so với năm nay. Chiều hướng đó, theo ông Ngô Nhân Dụng, sẽ là một điều tốt cho Việt Nam trong bang giao với Mỹ.


Nguồn: RFI

Biên giới Trung-Ấn không loại trừ khả năng xung đột

(VTC News) – Mặc dù quan hệ Trung-Ấn có nhiều điểm sáng về kinh tế, nhưng tranh chấp biên giới giữa hai nước vẫn ngày càng gia tăng, đặc biệt Ấn Độ liên tục tăng quân đến khu vực biên giới Trung-Ấn trong thời gian vừa qua. 
 
Binh sĩ Ấn Độ.

Một nhà phân tích của Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm, Thụy Điển vừa cho biết, do vấn đề tranh chấp biên giới Trung-Ấn vẫn chưa được giải quyết, điều này làm cho làm cho quan hệ hai nước Trung-Ấn có thể nảy sinh căng thẳng bất cứ lúc nào, thậm chí không loại trừ khả năng dần dần phát triển thành xung đột quy mô lớn.

Ngày 26/12, Tân Hoa Xã dẫn nguồn tin của hãng AFP đưa tin cho biết, đến nay tranh chấp biên giới Trung-Ấn vẫn chưa được giải quyết, trong vấn đề này, không những Trung Quốc có thái độ cứng rắn, mà Ấn Độ cũng tăng cường sự hiện diện quân sự của họ tại khu vực xung quanh biên giới, bao gồm điều động đến hàng nghìn binh sĩ và xe bọc thép, đồng thời mở rộng căn cứ không quân tiền tuyến.

Nhà nghiên cứu cao cấp Viện nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm, Thụy Điển là Simon Weitzman phân tích cho biết:

"Mặc dù hai bên đều tuyên bố nói rằng tranh chấp biên giới cần được giải quyết hòa bình, nhưng điều này vẫn là một vấn đề nan giải".

Ông nói: "Nếu những thông tin này là sự thật, giữa Trung-Ấn trên thực tế thường xuyên xảy ra sự cố".

Ông cũng cho biết: "Cùng với việc có nhiều binh sĩ và vũ khí hơn được đưa đến khu vực này, một số sự cố nhỏ có thể sẽ phát triển thành sự cố lớn, thậm chí có thể mất kiểm soát, dẫn đến nảy sinh xung đột ác liệt như năm 1962".

Nguồn: VTC

Hoa Kỳ Công bố Báo cáo về Nhân quyền

Tác giả: NTDTV/Epoch Times

Hôm thứ Năm, chính phủ Hoa Kỳ đã công bố bản báo cáo nhân quyền thường niên lần thứ 34 của mình, và nói rằng Trung Quốc và Iran đã tăng cường sự lạm dụng nhân quyền.

Bản báo cáo buộc tội Trung Quốc vi phạm tự do văn hóa và tôn giáo, cũng như mở rộng nỗ lực theo dõi thông tin trên Internet.

[Ông Michael Posner, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động]:
“Tôi chỉ muốn đề cập đến một vài nơi khác, một là Trung Quốc, nơi hồ sơ nhân quyền của chính quyền vẫn còn tồi tệ, và đã tồi tệ hơn ở một số lĩnh vực, bao gồm việc tăng cường đàn áp văn hóa và tôn giáo đối với các dân tộc thiểu số.”

Theo bản báo cáo, “Trung Quốc đã tăng cường các nỗ lực theo dõi việc sử dụng Internet, kiểm soát nội dung, hạn chế thông tin, phong tỏa việc truy cập các trang web trong nước và nước ngoài, khuyến khích tự kiểm duyệt, và trừng phạt những ai vi phạm các quy định.” Bản báo cáo cũng đề cập đến việc Bắc Kinh đã sử dụng hàng ngàn người để theo dõi những giao tiếp điện tử.

Trong bản báo cáo, Iran cũng bị buộc tội đàn áp bằng bạo lực các cuộc biểu tình của quần chúng, tiếp theo sau việc tái cử của Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad.

[Ông Michael Posner, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ về Dân chủ, Nhân quyền và Lao động]:
”Iran, với tình trạng nhân quyền vốn đã tồi tệ, đã tệ hơnmột cách nhanh chóng sau cuộc bầu cử hồi tháng Sáu, ít nhất 45 người đã bị giết chết trong các cuộc đụng độ, hàng ngàn người bị bắt giữ và một ngàn người khác bị bắt giữ trong các cuộc biểu tình hồi tháng 12. Đây là một nơi mà chúng tôi đang tiếp tục thấy việc đàn áp nghiêm trọng bất đồng chính kiến, và chúng tôi tiếp tục quan tâm rất đặc biệt.”

Bản báo cáo bao gồm một cuộc khảo sát về nhần quyền ở 194 quốc gia.

Hoa Kỳ cũng chỉ trích Cuba, Myanmar, Bắc Triều Tiên, Nga và Sri Lanka vì lạm dụng nhân quyền.

Nguồn: http://english.ntdtv.com/ntdtv_en/ns_na/2010-03-12/271778568225.html

28/12/10

“Lịch sử là phải đúng sự thật”

1. “Lịch sử là phải đúng sự thật”
Phát biểu tại buổi tiếp các thành viên BCH Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cho rằng: Lịch sử là phải đúng sự thật, trung thực và chính xác, tuy nhiên việc công bố những tư liệu lịch sử cần phải theo một lộ trình thích hợp… 
 
 (Ảnh minh họa: TTXVN)

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đánh giá cao gần 4000 hội viên Hội Khoa học lịch sử Việt Nam cũng các nhà nghiên cứu lịch sử trong cả nước vì đã có những đóng góp cực kỳ quan trọng, có tác dụng to lớn và hết sức có ý nghĩa góp phần làm cho mỗi người Việt Nam tự hào về lịch sử, truyền thống của dân tộc và đã tiếp thêm sức mạnh có ý nghĩa sống còn cho cả dân tộc Việt Nam.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, nhờ những công trình nghiên cứu về 4000 năm lịch sử của đất nước, đã bồi đắp và tiếp thêm sức mạnh cho mỗi tâm hồn Việt Nam và đã hun chí cho con người Việt Nam vượt qua bao thử thách để quyết tâm xây dựng một đất nước hùng cường. Chính những công trình nghiên cứu lịch sử cũng đã chứng minh dân tộc Việt Nam là một dân tộc có bản lĩnh, có ý chí và một dân tộc hội đủ chí thông minh, bản lĩnh, ý chí và lòng tự hào dân tộc thì làm bất cứ việc gì cũng thành công.

Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết bày tỏ mong muốn, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam sẽ tiếp tục những nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu những di sản, lịch sử còn ẩn chứa trong tâm hồn, nguồn cội của dân tộc Việt Nam để quảng bá, giới thiệu cho các thế hệ tiếp theo, nếu việc này bị xem nhẹ là sẽ tạo ra nguy cơ đối với sự tồn vong của dân tộc. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng hoan nghênh nỗ lực của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam trong việc tiếp cận với sự thật lịch sự, đồng thời khẳng định, đã là lịch sử thì phải đúng sự thật, trung thực và chính xác. Đối với những vấn đề trước đây công bố chưa chính xác thì khi đã có đủ tư liệu, cần có bước đi thích hợp để đính chính lại lịch sử.

Nhân dịp này, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cũng ủng hộ Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam xây dựng quỹ để tài trợ cho các hoạt động của mình, đồng thời đề nghị Hội làm thủ tục cần thiết để Chủ tịch nước có thể trao tặng Huân chương cho Hội.

(Theo VTV)

2. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tiếp đoàn Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam

Ngày 14-12, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã tiếp đoàn Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam do Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội dẫn đầu. 
 
(Ảnh minh họa: Internet)
 
Báo cáo với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết về kết quả hoạt động của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam trong thời gian qua, Giáo sư Phan Huy Lê cho biết, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã tập hợp gần 4000 hội viên là các nhà khoa học lịch sử trong cả nước. Với nhận thức: Lịch sử Việt Nam phải xuất phát từ lãnh thổ Việt Nam hiện nay ngược về quá khứ, tất cả những gì diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam hiện tại đều thuộc chủ quyền nghiên cứu và thuộc phạm vi lịch sử và văn hóa Việt Nam. Dựa trên nguyên tắc khoa học, tư duy độc lập, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã biên soạn nhiều cuốn sách có giá trị cho đất nước. Hội cũng thảo luận, nghiên cứu bổ sung vào chương trình giảng dạy bậc phổ thông về truyền thống bảo vệ và xây dựng đất nước, xây dựng tri thức về sử học cho học sinh…

Phát biểu tại buổi tiếp, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết cảm ơn và đánh giá cao những đóng góp hết sức to lớn, quan trọng của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học hoạt động trong lĩnh vực sử học. Chủ tịch nước cho rằng, sử học là một lĩnh vực khoa học xã hội sâu sắc, có ý nghĩa to lớn, góp phần giúp mỗi người Việt Nam hiểu thêm về truyền thống của dân tộc, thêm tự hào về lịch sử đất nước, từ đó khơi dậy ý chí, bản lĩnh, quyết tâm của nhân dân trong nỗ lực vượt qua khó khăn, xây dựng đất nước phát triển. Hội Khoa học Lịch sử đang làm nhiệm vụ tuyên truyền, quảng bá truyền thống của dân tộc Việt Nam, tiếp sức, bồi dưỡng truyền thống quật cường của dân tộc. Những đóng góp của các nhà sử học là vô giá, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Các nhà khoa học lịch sử Việt Nam phải tự hào về những đóng góp đối với đất nước, dân tộc.

Chủ tịch nước đề nghị Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tiếp tục tìm tòi, nghiên cứu để khám phá những di sản còn tiềm ẩn của dân tộc, phát hiện thêm về cội nguồn dân tộc Việt Nam. Hội cần có những đóng góp hơn nữa để đẩy mạnh phổ cập giáo dục lịch sử trong nhà trường, xây dựng cho các thế hệ mai sau niềm tin và nhận thức rõ ràng về lịch sử đất nước. Cùng với đó, Hội phải tiếp tục làm tốt vai trò tư vấn, phản biện trong những vấn đề liên quan đến lịch sử, phải tiếp cận sự thật lịch sử, có định hướng dư luận để mỗi người dân có thể nhận thức rõ hơn từng vấn đề được nêu ra, bởi khoa học lịch sử là phải chính xác, trung thực.

(TTXVN)
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...