Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

28/2/11

Ấn Độ phá 'chuỗi ngọc trai' của Trung Quốc

Củng cố "Bức màn sắt", khôi phục IOR-ARC (*) là cách mà New Delhi thực hiện chống lại "Chuỗi ngọc trai" của Trung Quốc đang thít chặt, bao vây tiểu lục địa

 Máy bay trinh sát biển Dornier-228, món quà mà New Delhi dành tặng quốc đảo Seychelles.
 
(*) Tổ chức Hợp tác khu vực vành đai Ấn Độ Dương

Cuối tháng 2, Hải quân Ấn Độ triển khai máy bay trinh sát biển Dornier-228 (1) tại thủ đô Victoria của Seychelles trong 2 năm, nhằm giúp đỡ quốc gia này bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế và chống cướp biển tại Ấn Độ Dương.

Bên cạnh máy bay Dornier, hai máy bay trực thăng Chetak của Ấn Độ cũng được trao cho Seychelles, để thực hiện nhiệm vụ chống cướp biển trong thời gian tới.

Đây là một phần trong thỏa thuận đạt được giữa Ấn Độ và Seychelles trong chuyến thăm quốc đảo này của Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ A K Antony tháng 7/2010.

Seychelles, quốc gia có 150 hòn đảo với diện tích đất liền chỉ 450 km2 nhưng sở hữu vùng đặc quyền kinh tế rộng tới 1,3 triệu km2, án ngữ trên tuyến đường vận chuyển quốc tế trên Ấn Độ Dương.

Cùng với Mauritius, Seychelles là một bộ phận của quần đảo Chagos, từng thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các cường quốc biển gồm: Bồ Đào Nha, Pháp, Anh, Mỹ, Nga và gần đây là Trung Quốc.

Năm 2007, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã đến thăm nước này đồng thời mời ông James Michel, Tổng thống Seychelles, một trong ít lãnh đạo quốc tế tham dự lễ khai mạc Triển lãnh quốc tế Thượng Hải, tổ chức năm 2010.

Thay vì phản đối sự thâm nhập của Trung Quốc, Ấn Độ âm thầm tăng cường hợp tác với quốc đảo này. Lợi thế của Ấn Độ trong quan hệ với Seychelles là quốc đảo từng là thành viên của Tổ chức Hợp tác khu vực vành đai Ấn Độ Dương (IOR-ARC), được New Delhi khởi xướng thành lập năm 1997. Hơn nữa, Seychelles đang cần sự giúp đỡ của Ấn Độ để giám sát, tuần tra và khai thác nguồn tài nguyên biển rộng lớn.

Vị trí trọng yếu của quốc đảo Seychelles.

Đầu tháng 6/2010, Ấn Độ đón Tổng thống Michel. Tiếp theo là hàng loạt cuộc trao đổi đoàn cấp cao nhất về chính trị giữa hai nước, bàn về những vấn đề chiến lược trong quan hệ đối.

Đáng chú ý là chuyến thăm 2 ngày của Bộ trưởng Quốc phòng A. K. Antony tới Seychelles vào tháng 7/2010. Trong chuyến thăm, Ấn Độ nhất trí hợp tác trong lĩnh vực chống cướp biển, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng trên biển, gia tăng các hoạt động viếng thăm của tàu chiến Ấn Độ tới khu vực.

Trước đó, năm 2005, Ấn Độ đã tặng Seychelles chiến hạm INS Taramugli, là một phần trong cam kết của Ấn Độ xây dựng hải quân cho Seychelles.

Quan trọng hơn cả, việc làm trên của Ấn Độ là loại bỏ ảnh hưởng của Trung Quốc tìm kiếm thêm các “hạt ngọc” trong chiến lược “chuỗi ngọc” bao vây, kiềm chế Ấn Độ.

Việc triển khai máy bay trinh sát biển Dornier-228 và sắp tới là máy bay trực thăng Chetak, cùng với trạm giám sát, chặn thu bố trí ở phía bắc Madagascar thu thập tin tức tình báo về hải quân các nước hoạt động trong khu vực; tìm cách đứng chân ở Oman, Mauritius là bước đi thực hiện chiến lược Bức màn sắt (Iron Curtain) để đảm bao an ninh cho tuyến vận chuyển hàng hải từ châu Phi, Trung Đông qua Ấn Độ Dương nhưng quan trọng nhất là giám sát hoạt động của Trung Quốc và Pakistan tại Ấn Độ Dương, nhất là hoạt động của Trung Quốc tại Vịnh Eden.

Bên cạnh Seychelles, trong những năm gần đây Ấn Độ đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia Mauritus, Madives, Indonesia và các quốc gia khác thuộc vành đai Ấn Độ Dương như Nam Phi, Tanzania và Mozambique trong lĩnh vực kinh tế và quân sự như bỏ việc đánh thuế 2 lần đối với hàng hóa của nhiều nước trên; cung cấp các tàu tuần tra hải quân; giúp đào tạo, sửa chữa các cơ sở hải quân cho các quốc gia khu vực mà Trung Quốc đang ve vãn; tuần tra chung với hải quân Indonesia và Sri Lanka, tập trận với Singapore và Oman, đảm bảo an ninh biển cho các hội nghị thượng đỉnh tại Mozmbique. Đây chính là nỗ lực của Ấn Độ khôi phục tổ chức IOR-ARC.
(1) HAL-Dornier-228 là máy bay trinh sát biển do Ấn Độ sản xuất, theo giấy phép của công ty M/s Dornier GmbH (Đức). Đây là loại máy bay tiết kiệm nhiên liệu cao, động cơ 2 turbin cánh quạt, đảm nhận nhiều vai trò quân sự và dân sự.

Việc áp dụng thiết kế khí động học mới, có phần đặc biệt, Dornier-228 cải thiện đáng kể tỷ lệ nâng/cản so với thiết kế thông thường, giảm được lực cản và giảm trọng lượng máy bay nhưng thân vẫn vững chắc. Do đó, Dornier-228 phù hợp với công tác tuần tra trên biển.

Dornier-228 được trang bị các loại radar, các thiết bị điện tử Eagle dùng để phát hiện tàu chiến, máy bay, các thiết bị nhận dạng bạn/thù, hệ thống định vị toàn cầu, hệ thống xử lý phao âm phát hiện tàu ngầm, kết nối dữ liệu để liên lạc với trung tâm chỉ huy dưới mặt đất, và trang bị tên lửa Trishul, thủy lôi hiện đại Sheyna do Ấn Độ nghiên cứu và sản xuất.

Quang Minh (tổng hợp)

Cuộc họp Nhóm giữa kỳ Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) về An ninh biển lần thứ 3 tại Tokyo- Nhật Bản

Trong hai ngày 14-15/02/2011, cuộc họp Nhóm giữa kỳ ARF về An ninh biển lần thứ 3 do Nhật Bản, Niu Di lân và In-đô-nê-xia đồng chủ trì đã diễn ra tại Tôkyô, Nhật Bản. 
 
Nhật Bản - Ấn Độ hợp tác về vấn đề an ninh biển. Ảnh: http://www.eastasiaforum.org 

Tại cuộc họp, đại diện các nước đã trao đổi về tình hình chia sẻ thông tin về an ninh biển trong khu vực hiện nay; các vấn đề an ninh biển cần được tiếp tục thảo luận trong thời gian tới, thảo luận và thông qua nội dung Kế hoạch Công tác về an ninh biển giai đoạn 2011-2013.

Các nước đều khẳng định tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác để duy trì an ninh và an toàn biển và cho rằng chia sẻ thông tin có tính chất quyết định trong quá trình hợp tác ARF nhằm đối phó với các thách thức về an ninh biển. Hợp tác chia sẻ thông tin về an ninh biển giữa các nước ARF đang tiến triển tốt nhưng chủ yếu dựa trên cơ sở song phương. Để đẩy mạnh chia sẻ thông tin về an ninh biển trong thời gian tới, các nước ARF cần xây dựng và phát triển “văn hóa chia sẻ thông tin về an ninh biển”, tăng cường chia sẻ thông tin trên cơ sở đa phương, hướng tới việc hình thành một trung tâm chia sẻ thông tin về an ninh biển trong khu vực; tăng cường sự gắn kết giữa các cơ chế chia sẻ thông tin hiện có trong khu vực với các cơ chế ngoài khu vực; tăng cường xây dựng năng lực và hỗ trợ kỹ thuật cho các nước ARF kém phát triển hơn. Cũng trong cuộc họp này, Ban Thư ký ASEAN thông báo đã thiết lập cơ sở dữ liệu trên mạng về các đầu mối liên hệ về an ninh biển của các nước ARF. Hàn Quốc thông báo sẽ khai trương website về chống cướp biển vào tháng 6/2011 để các nước ARF có thể tham khảo và hợp tác trong việc chia sẻ thông tin về an ninh biển.

Các đại biểu tham dự cuộc họp cho rằng an ninh biển là một phạm trù rộng và đa dạng, bao gồm các vấn đề từ an ninh truyền thống (chủ quyền, lãnh thổ…) tới các vấn đề an ninh phi truyền thống (chống cướp biển, bảo vệ môi trường...). Để tăng cường hợp tác trong lĩnh vực này, trong thời gian tới, các nước cần tập trung vào các vấn đề ít nhạy cảm, không liên quan tới chủ quyền, lãnh thổ. Đại biểu các nước thảo luận nhiều về các vấn đề an ninh phi truyền thống, trong đó tập trung vào vấn đề hợp tác chống cướp biển, chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia, buôn người, buôn lậu vũ khí, bảo vệ môi trường biển và phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn. Nhiều đại biểu đánh giá cao và ủng hộ việc tổ chức diễn tập trên biển nhằm chống cướp biển và khủng bố giữa các nước tham gia ARF. Các đại biểu cũng nhất trí cần mời đại diện các ngành công nghiệp biển tới tham dự các cuộc họp nhóm giữa kỳ của ARF về an ninh biển trong thời gian tới.

Cuộc họp cơ bản thống nhất Dự thảo Kế hoạch Công tác về an ninh biển giai đoạn 2011-2013 do Nhật Bản, In-đô-nê-xia và Niu-Di lân soạn thảo với một số điểm thay đổi nhỏ. Cuộc họp đã nhất trí bỏ khái niệm “đánh bắt cá trái phép” trong phần “Các lĩnh vực ưu tiên hợp tác” trong Dự thảo Kế hoạch Công tác. Do tính nhạy cảm của việc chia sẻ thông tin về khả năng hải quân của các nước ARF (nêu trong mục “các lĩnh vực ưu tiên” của Dự thảo), cuộc họp đã nhất trí Kế hoạch chỉ nêu trao đổi thông tin và chia sẻ các kinh nghiệm tốt, trong đó có các hoạt động hải quân một cách chung chung. Theo kế hoạch, Dự thảo Kế hoạch Công tác sẽ được trình lên Cuộc họp Nhóm giữa kỳ về xây dựng lòng tin/Ngoại giao phòng ngừa (ISG on CBMs/PD) vào tháng 4/2011 trước khi trình lên ARF SOM vào tháng 5/2011. Các đại biểu nhất trí việc 3 nước Hoa kỳ, Hàn Quốc và In-đô-nê-xia sẽ đồng chủ trì các cuộc họp Nhóm giữa kỳ ARF về an ninh biển trong thời gian tới.

So với hai cuộc họp trước, Cuộc họp Nhóm giữa kỳ ARF về an ninh biển lần này đã có tiến triển với việc xác định được các lĩnh vực ưu tiên hợp tác trong thời gian tới: Trao đổi thông tin và chia sẻ những kinh nghiệm tốt trong đó có các hoạt động hải quân; thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin dựa trên các khuôn khổ pháp lý, các thỏa thuận và hợp tác quốc tế và khu vực; xây dựng năng lực cho các cơ quan thực thi pháp luật về biển trong khu vực.
 
Thảo Phương
Nguồn: http://www.biengioilanhtho.gov.vn

27/2/11

Nhật Bản tăng cường vũ khí đối phó hải quân Trung Quốc

Lo ngại sức mạnh của Trung Quốc trên biển, Nhật Bản đang cân nhắc kế hoạch hoán đổi mục đích sử dụng của một số phà dân sự vào việc sử dụng làm tàu vận chuyển cao tốc.

Nhật Bản tăng cường vũ khí đối phó Trung Quốc. Ảnh minh họa.

Tờ Sankei số ra ngày 19/2 cho biết Nhật Bản đang hết sức quan ngại trước thông tin Trung Quốc sẽ sử dụng hải quân để xâm chiếm các hòn đảo nằm rất xa thuộc biển Hoa Đông.

Và để tăng cường sức mạnh tác chiến của hải quân, Nhật Bản đang dự tính cải tạo mục đích sử dụng của một số phà dân sự nhằm giảm chi phí, thay vì đóng mới những chiếc xuồng cao tốc. Theo đó, các xuồng cao tốc có thể được triển khai nhanh, qua đó giúp các đơn vị của Lực lượng phòng vệ đất liền (GSDF) đến giải cứu các đảo của Nhật Bản trên biển Hoa Đông khi có sự cố bất ngờ xảy ra.

Nhật Bản trước mắt sẽ xem xét sử dụng hai xuồng cao tốc, từng được sử dụng để vận tải trên tuyến đường biển nối Aomori tới. Đây là hai chiếc phà thuộc loại lớn nhất thế giới với chiều dài 112 m, có thể đạt vận tốc tối đa 67 km, chở được 774 người và khoảng 220 ôtô các loại.

Khi những chiếc xuống cao tốc được đưa vào hoạt động, quân đội Nhật Bản cũng sẽ triển khai trung đoàn bộ binh đang đóng ở tỉnh Nagasaki tới các khu vực đảo ở biển Hoa Đông. Theo đó, một số binh sĩ sẽ thường xuyên sử dụng xuồng cao tốc để tuần tra, thay cho những chiếc tàu chiến, vốn có thể dẫn tới những nguy cơ bất ổn.

Nhật Bản hy vọng xuồng cao tốc có thể sẽ nhanh chóng khắc phục yếu kém trên và sẽ trở thành loại phương tiện vận tải hữu hiệu cho chiến lược triển khai quân từ đảo chính Honshyu tới các hòn đảo nằm ở phía Tây Nam gần với Trung Quốc trên biển Hoa Đông.

Theo Bee

ĐỊA DANH TRUNG QUỐC CÁC QUẦN ĐẢO GIỮA BIỂN ĐÔNG: LỊCH SỬ MỘT THẾ KỶ CHUYỂN ĐỔI

GS. TS. Nguyễn Quang Ngọc - Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, ĐH Quốc gia Hà Nội

I. Về một số địa danh cổ


Sách báo Trung Quốc gần đây thường viện dẫn các địa danh như Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu, Thất Châu Dương... làm minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo giữa Biển Đông đã có từ hàng nghìn năm trước. Các địa danh Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu thật ra chỉ là những địa danh phiếm chỉ một vùng biển đảo nguy hiểm, hư hư, ảo ảo nằm ngoài đảo Hải Nam và đương nhiên là không thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Riêng Thất Châu Dương là vùng biển đảo có thật, được ghi chép rất rõ ràng trong thư tịch và bản đồ cổ Trung Quốc, gần huyện Văn Xương của đảo Hải Nam, thì lại bị người ta cố tình mơ hồ hoá, huyền thoại hoá và đẩy nó ra tận giữa Biển Đông!.

Thư tịch và bản đồ cổ của Trung Quốc tính cho đến cuối thế kỷ XIX và thậm chí cả những năm cuối thập kỷ đầu của thế kỷ XX đều phản ánh một thực tế hết sức hiển nhiên là vùng lãnh thổ, lãnh hải truyền thống của Trung Quốc chưa bao giờ vượt quá đảo Hải Nam.

Bản đồ Trung Quốc: lãnh thổ, lãnh hải chưa bao giờ vượt quá đảo Hải Nam. 
Nguồn: http://www.wall-maps.com

Bản đồ Trung Quốc: lãnh thổ, lãnh hải chưa bao giờ vượt quá đảo Hải Nam. 
Nguồn:http://www.natgeomaps.com/china

Bộ bản đồ có ảnh hưởng lớn nhất đến các nhà địa lý học Trung Quốc từ đầu thế kỷ XIV cho đến những năm cuối cùng của thế kỷ XIX là bộ Dư đồ của Chu Tư Bản (Chu Ssu Pen) năm 1320. Bản chính của Dư đồ không còn nữa, nhưng vẫn có thể hình dung được nó trên đại thể trong bộ bản đồ của La Hồng Tiên (Lo Hung-Hsien) ở vào khoảng giữa thế kỷ XVI với cái tên Quảng dư đồ. Trong Quảng dư đồ, từ tấm bản đồ giới thiệu chung về Trung Quốc cho đến tấm bản đồ Quảng Đông đều không có bản đồ nào vẽ lãnh thổ Trung Quốc bao gồm cả các đảo phía dưới đảo Hải Nam.

Khâm định Tứ khố toàn thư đề yếu Đại Thanh nhất thống chí là bộ sách đồ sộ gồm 500 quyển, được biên soạn dưới sự chỉ đạo trực tiếp của vua Thanh Càn Long. Theo sắc chỉ năm Càn Long thứ 21 (1764) thì sách này được soạn trên cơ sở tập hợp tư liệu của các Thống bộ quán các tỉnh, phủ địa phương và kịp thời bổ sung những tình hình mới nhất. Thế nhưng cũng như Quảng dư đồ, tất cả các địa danh huyền thoại như Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường, Thạch Đường, Cửu Nhũ Loa Châu... đều không được nhắc tới và dĩ nhiên đều không được đặt trong bản đồ Trung Quốc.

Các sách bản đồ khác như Độc sử phương dư kỷ yếu, Quỳnh Châu phủ chí, Quảng Đông đồ thuyết, Quốc triều nhu viễn ký, Trung Quốc cận thế dư địa đồ thuyết... cũng đều không đề cập đến các địa danh này trong bản đồ. Riêng Dương phòng tập yếu và Lịch đại dư địa đồ mục lục tuy có đánh dấu các địa danh này nhưng lại không chứng minh chúng thuộc chủ quyền Trung Quốc. Mãi cho đến năm 1909 mà tấm bản đồ Đại Thanh đế quốc vị trí, khu hoạch cũng vẫn chỉ vẽ vùng lãnh thổ cực nam của Trung Quốc dừng lại ở đảo Hải Nam. Đây là loại bản đồ phản ánh khách quan thực tế và tôn trọng sự thật lịch sử.

Khảo toàn bộ lịch sử Trung Quốc từ thời kỳ tối cổ cho đến trước năm 1909, chúng tôi chưa từng thấy có một văn kiện của bất cứ một triều đại nào khẳng định một cách chính thức, rõ ràng và thực sự chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực các quần đảo giữa Biển Đông. Khảo sát các công trình nghiên cứu, các bộ sưu tập tư liệu đồ sộ của người Trung Quốc trước sự kiện Lý Chuẩn ra Paracels vào năm 1909, chúng tôi cũng không thấy bất kỳ một tư liệu nào thuộc loại này xuất hiện. Người làm cuốn sách Điều tra Tây Sa quần đảo báo cáo thư cho biết vào năm 1928 khi đoàn đi tìm kiếm tư liệu mà: “Tra cứu về quần đảo Tây Sa không thấy sách xưa nào ghi chép, lại không có sách chuyên khảo nào chép rõ, nay soạn sách này cũng là một tác phẩm mở đầu”. Lục Đông á trong bài báo mang tên Nhận thức về quần đảo Tây Sa, không thể không thừa nhận một thực tế là: “Quần đảo Tây Sa được phát hiện từ thời kỳ nào, ở trong sách lịch sử, địa lý và bản đồ của Trung Quốc xưa thật không thể khảo cứu được”. Điều mà các nhà nghiên cứu Trung Quốc vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX không tìm được bất cứ tài liệu gì nói đến các quần đảo này chỉ vì một lý do hết sức giản đơn là vùng lãnh thổ, lãnh hải truyền thống của Trung Quốc không vượt quá điểm cực nam đảo Hải Nam, tương đương với khoảng vĩ độ 18, và vốn chưa bao gồm những quần đảo xa xôi và hết sức nguy hiểm ở giữa Biển Đông.

II. 100 năm Trung Quốc đặt và đổi tên các quần đảo giữa Biển Đông

Lúc đầu trước sức ép của các nước tư bản phương Tây, chính quyền nhà Thanh chủ trương đóng cửa tự thủ. Dần dần họ mới bắt đầu ý thức được rằng để bảo vệ an toàn vùng lãnh thổ duyên hải, các cửa khẩu và các hải đảo quan trọng, Trung Quốc cần phải phòng thủ từ xa, phòng thủ vòng ngoài để hỗ trợ cho việc phòng thủ chủ yếu ở bên trong. Tuy thấy được sự cần thiết phải tiến ra biển khơi, song trong hoàn cảnh lúc đó Trung Quốc khó có thể giữ nổi vùng nội địa đất liền thì làm sao có thể vươn ra chiếm lĩnh đại dương được. Từ sự thức tỉnh muôn màng ý thức tiến ra biển khơi đến khi nhà Thanh bắt đầu có chủ trương chiếm lĩnh các hải đảo trên Biển Đông là cả một chặng đường trù tính, chuẩn bị lâu dài đến gần một thế kỷ.

Chắc chắn là nếu người Nhật chưa chiếm Đông Sa thì vấn đề chủ quyền của Trung Quốc ở ngay tại Đông Sa thôi cũng chưa được đặt ra. Nếu Đông Sa thuộc về người ngoại quốc thì quả thật đấy sẽ là mối nguy hiểm lớn đối với Trung Quốc nội địa, chí ít là ở khu vực tỉnh Quảng Đông. Việc nắm lại Đông Sa vì thế đã trở thành một mắt khâu trọng yếu trong toàn bộ kế sách phòng thủ vùng duyên hải phía đông nam của Trung Quốc. Trương Nhân Tuấn tập họp một nhóm các tác giả sưu tầm nghiên cứu tư liệu có liên quan, cố tìm cách chứng minh cho bằng được chủ quyền của Trung Quốc ở Đông Sa.

Giữa lúc đó, trước sức ép của hải quân Pháp, Trương Nhân Tuấn lệnh cho phó tướng Ngô Kính Vinh phải tổ chức tuần tra nắm tình hình các quần đảo trên để tìm phương án đối phó. Ngô Kính Vinh giao công việc này cho Quảng Đông Thuỷ sư Đề đốc Lý Chuẩn thực hiện. Lý Chuẩn tiến hành tuần tra khu vực Đông Sa, rồi sau đó tiến ra Paracels. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc cử người ra Paracels với tư cách đại diện cho chính quyền địa phương tỉnh Quảng Đông. Có thể do không biết, mà cũng có thể là cố tình tảng lờ trước sự thật lịch sử hết sức rõ ràng là các nhà nước Việt Nam đã liên tục nhiều thế kỷ chính thức kinh dinh khu vực Paracels mà Lý Chuẩn tự đặt lại tên đảo là Tây Sa có lẽ với ý nghĩa nếu xuất phát từ Quảng Châu thì nó là các bãi cát nằm thiên về phía Tây (thực ra phải là Tây Nam) và xem mình là người có công khai sơn phá thạch ở đây!. Như thế cái tên Tây Sa (hay Tây Sa quần đảo) được đặt chồng lên cái tên Hoàng Sa của Việt Nam và Paracels của người phương Tây chỉ mới bắt đầu từ năm 1909 và người sáng tác ra nó, không ai khác, chính là Lý Chuẩn.

Tuy địa danh quần đảo Tây Sa vừa mới được đặt, hoàn toàn xa lạ đối với người Trung Quốc, nhưng với việc Lý Chuẩn tiến hành tuần tra và đặt tên Trung Quốc cho quần đảo cũng đã đánh dấu một bước ngoặt căn bản trong lịch sử vươn xuống chiếm lĩnh các đảo trên Biển Đông của Trung Quốc nói chung và chính quyền nhà Thanh ở những năm cuối cùng của triều đại nói riêng. Từ chỗ chỉ khoanh vùng lãnh thổ, lãnh hải của mình từ vĩ tuyến 18, nghĩa là từ cực nam của đảo Hải Nam ngược trở lên phía bắc, đến những ý tưởng muốn vươn ra biển khơi để phòng thủ tầm xa trước hiểm hoạ Trung Quốc trở thành miếng mồi của chủ nghĩa tư bản phương Tây của một số chiến lược gia, đến đây chính quyền nhà Thanh đã khẳng định chủ trương muốn kéo quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào trong vùng lãnh thổ, lãnh hải của Trung Quốc.

Từ sau năm 1909, chính quyền tỉnh Quảng Đông Trung Quốc mặc dù có quan tâm đến việc tổ chức khai thác quần đảo Tây Sa, nhưng đó cũng mới chỉ là những chủ trương trên giấy mà không hề được thực hiện. Sự hiểu biết của người Trung Quốc về quần đảo Hoàng Sa khoảng gần hai chục năm sau vẫn chưa cải thiện được là bao. Vì thế, theo chúng tôi cuộc điều tra quần đảo Tây Sa của trường đại học Trung Sơn và bản báo cáo Điều tra Tây Sa quần đảo báo cáo thư của Thẩm Bằng Phi phải được xem là một cái mốc quan trọng đánh dấu sự hiểu biết của người Trung Quốc về quần đảo Tây Sa cũng như Biển Đông. Đây là cơ sở để chính quyền Trung Hoa dân quốc đẩy xa hơn nữa chủ trương chiếm lĩnh toàn bộ các quần đảo ở ngoài khơi Biển Đông của họ. Tuy thế cho mãi đến năm 1934, bản đồ Trung Quốc vẫn chưa vượt quá quần đảo Tây Sa. Người Trung Quốc lúc này gọi đảo Tri Tôn ở vĩ độ 15 độ 45 phút là đảo Nam Cực, với lời giải thích rằng đảo đó là cột mốc đánh dấu lãnh thổ cực nam của Trung Quốc (nguyên văn trong Tuần hải ký trang 73: Nhân tại Nam Hải cực nam, cố danh Nam Cực đảo). Khu vực phía đông quần đảo Tây Sa mà người phương Tây gọi là Macelesfield Bank vẫn chưa hề được người Trung Quốc quan tâm đến.

Từ năm 1934 trở về trước chưa có bản đồ nào của người Trung Quốc vẽ về vùng quần đảo này, trừ tấm bản đồ phiên dịch từ bản đồ hằng hải Anh được Quảng Nha thư cục khắc in trong Trung Quốc giang hải hiểm yếu đồ chí vào năm 1907. Cũng cần phải nói rõ là Trung Quốc giang hải hiểm yếu đồ chí hoàn toàn chỉ là tấm bản đồ phiên dịch từ nguyên bản Hải đồ của Hải quân Anh (Anh quốc Hải quân hải đồ quan cục nguyên bản) sang tiếng Trung Quốc. Lúc đó Paracels được phiên thành Bá Mỗi Lập Tây Nhĩ Liệt, Macelesfield Bank là Mã Thập Lực Sĩ Phi Nhĩ Đặc và đương nhiên China Sea được phiên thành Trung Quốc Hải (với ý nghĩa là biển của riêng người Trung Quốc?).

Đồng thời với việc xuất bản tấm bản đồ này là vào khoảng năm 1935, Trung Quốc đã tiến hành dịch nghĩa và phiên âm tên phương Tây cho một loạt đảo (Island), bãi cát (Sand, Bank), tiêu (Reef), bãi ngầm/ ám sa (Shoal)... Tấm bản đồ này và những địa danh mới được phiên dịch hoàn toàn không thể coi là bản đồ Trung Quốc, những địa danh trên các quần đảo mặc dù được viết chữ Trung Quốc nhưng không phải là địa danh Trung Quốc và tuyệt nhiên không có một chút giá nào trị minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông.

Trong khoảng thời gian 1935-1936, lần đầu tiên các địa danh quần đảo Nam Sa và Đoàn Sa xuất hiện trên bản đồ Trung Quốc. Chúng tôi nhận thấy trong sách Trung Quốc địa lý tân chí được Trung Hoa thư cục phát hành vào năm 1935 (và in lại vào năm 1940) có các tấm bản đồ Trung Hoa dân quốc và Trung Quốc thiên sản vật công bố đồ đều đặt cái tên Nam Sa quần đảo vào vùng Macelesfield Bank ở phía đông của Tây Sa quần đảo còn Đoàn Sa quần đảo ở phía dưới của Nam Sa quần đảo (khu vực Spratlys).

Năm 1936 Đồ Tư Thông và Vương Chấn biên soạn Hiện đại bản quốc địa đồ và Tân Trung Quốc phân tỉnh đồ (bản đồ được xuất bản vào năm 1939), hai bộ bản đồ này thực chất chỉ là một, trong đó bản đồ tỉnh Quảng Đông phần đặc tả các đảo Nam Hải được vẽ chi tiết hơn. Đặc biệt, tấm bản đồ mang tên Trung Quốc cương giới biến thiên đồ đã vẽ đường biên giới hình chữ U (hay còn được các nhà nghiên cứu quen gọi là đường hình lưỡi bò), không đứt đoạn chia đôi vịnh Bắc Bộ vòng theo bờ biển Việt Nam xuống phía bắc đảo Borneo rồi bám sát bờ biển Philippines và chạy vào phía trong của Đài Loan, khoanh gọn gần như toàn bộ Biển Đông vào trong lãnh hải Trung Quốc. Vị trí của các quần đảo Tây Sa, Nam Sa, Đoàn Sa chưa có gì thay đổi so với bản đồ Trung Hoa dân quốc (1935).

Giai đoạn từ năm 1939 đến năm 1947 là giai đoạn Trung Quốc tập trung tìm mọi cách lý giải để hợp thức hoá chủ trương chiếm toàn bộ Biển Đông. Địa danh quần đảo Nam Sa bị đẩy sâu xuống vùng Spratlys thay cho quần đảo Đoàn Sa và nhường chỗ cho địa danh mới là quần đảo Trung Sa. Như thế đến đây bản đồ Trung Quốc xuất hiện địa danh Trung Sa quần đảo thay cho Nam Sa quần đảo ở khu vực Macelesfield Bank, còn Nam Sa quần đảo thì bị đẩy sâu xuống phía nam thay cho Đoàn Sa quần đảo ở khu vực Spratlys và như vậy địa danh Đoàn Sa quần đảo đã hoàn toàn biến mất. Đường ranh giới hình chữ U trước đây được vẽ liền thì bây giờ được thể hiện đứt đoạn với 9 khúc, nhưng hình dáng và vị trí không thay đổi. Có thể coi chủ trương đặt lại tên đảo ở Nam Hải theo cách đặt tên Trung Quốc vào năm 1947 và bộ bản đồ Trung Hoa nhân dân cộng hoà quốc phân tỉnh đồ (trong đó có tấm bản đồ Nam Hải các đảo dư, Trung Quốc chính thức công bố các đảo ở Nam Hải thành một bản đồ riêng), có thể được xem là một cái mốc đánh dấu sự hoàn thiện quá trình đặt và đổi tên, hoàn thiện bản đồ và hoàn thiện cả chủ trương chiếm lĩnh Biển Đông của các nhà nước Trung Quốc cận đại và hiện đại. Đến năm 1983, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa lấy danh nghĩa “tiêu chuẩn hoá địa danh toàn quốc” đã bổ sung nhiều tên đảo, đá, đá ngầm, bãi ngầm và các luồng lạch thuộc các quần đảo trên biển Nam Hải. So sánh với các tên đã đặt năm 1947, chúng tôi thấy số địa danh thuộc khu vực quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam tăng từ 30 lên 49 (trong đó có 22 địa danh được giữ nguyên); số địa danh thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam tăng từ 97 lên 187, trong đó có 83 địa danh được giữ nguyên và 10 địa danh được giữ lại tên nhưng các đặc điểm địa hình là đảo, tiêu, thán hay ám sa thì được định lại.

III. Bản chất của vấn đề

Các quần đảo giữa Biển Đông vốn thuộc chủ quyền của các nhà nước Việt Nam từ lâu đời. Địa danh đầu tiên xuất hiện trong dân gian, trong bản đồ và trong thư tịch cổ của Việt Nam là Bãi Cát Vàng, vì thực tế ở đó có bãi cát vàng mà bất cứ ai từng chứng kiến cũng phải coi là dấu ấn sâu sắc nhất. Có lẽ lúc đầu do những người dân ra làm ăn ở vùng này đăt ra, rồi sau trở thành địa danh chính thức của nhà nước quản lý. Bãi Cát Vàng là cách gọi thuần Việt, nôm na, khi đi vào văn bản phải viết bằng chữ Nôm thì thật không mấy tiện dụng. Trong khi đó các văn bản chính thức của các nhà nước Việt Nam thời kỳ này đều viết bằng chữ Hán, nên Bãi Cát Vàng được phiên ra theo âm Hán Việt là Hoàng Sa. Hoàng Sa như thế cũng chỉ là cách gọi theo âm Hán Việt của Bãi Cát Vàng mà thôi. Tuy nhiên khi đã gọi là Hoàng Sa rồi thì các nhà nước Việt Nam lúc đó quan niệm nó là cả một vùng rộng lớn bao gồm cả quần đảo Trường Sa nữa, chứ không chỉ riêng Bãi Cát Vàng cụ thể trước đây. Không chỉ người Việt Nam mà các nhà hằng hải phương Tây đương thời cũng quan niệm Hoàng Sa bao gồm cả Trường Sa mà họ gọi chung là Paracels, còn Spratlys chỉ xuất hiện muôn sau này.

Thư tịch và bản đồ cổ Trung Quốc cho đến tận cuối thế kỷ XIX và những năm đầu thập kỷ đầu thế kỷ XX đã chép một cách rất lô gích và thống nhất rằng lãnh thổ, lãnh hải cực nam của nước Trung Hoa cổ truyền không vượt quá đảo Hải Nam. Vùng biển đảo ở giữa Biển Đông (mà Trung Quốc gọi là biển Nam Hải) chưa được các Nhà nước Trung Quốc quan tâm (hay nói cho đúng ra là chưa có điều kiện quan tâm) khai chiếm, mà chỉ được nhắc đến như những cái mốc vô cùng nguy hiểm, thuyền bè qua lại cần phải tránh xa. Trung Quốc suốt trong chiều dài lịch sử chỉ có duy nhất một ứng xử là tìm đường thuận lợi xuống phía nam sao cho không bao giờ chạm đến vùng biển đảo cực kỳ nguy hiểm này. Họ trong thực tế chưa từng có bất cứ một hoạt động chủ quyền nào với tư cách nhà nước chính thức ở đây. Một số địa danh cổ vừa hư ảo, vừa cho là thuộc vùng “Man Di”, hoàn toàn không có giá trị minh chứng cho chủ quyền của Trung Quốc trên vùng biển đảo này.

Chỉ từ đầu thế kỷ XX, khi Trung Quốc triển khai chủ trương chiếm đóng các quần đảo giữa Biển Đông, thì cái tên quần đảo Tây Sa là tên Trung Quốc mới xuất hiện vào năm 1909 và được đặt chồng lên địa danh quần đảo Hoàng Sa, vốn là địa danh chính thức, lâu đời của Việt Nam. Tuy nhiên những địa danh này cũng còn phải thay đi, đổi lại, điều chỉnh nhiều lần thì mới đi đến chính thức vào cuối những năm 1940 và được “tiêu chuẩn hoá” vào đầu những năm 1980.

Ngày nay cầm tấm bản đồ các đảo Nam Hải của Trung Quốc hẳn không còn mấy ai nhớ rằng Đông Sa, Tây Sa sớm nhất thì cũng chỉ xuất hiện lần đầu tiên trên bản đồ tỉnh Quảng Đông vào năm 1909, Nam Sa xuất hiện lần đầu tiên ở Macelesfield Bank vào khoảng năm 1935-1936, nhưng sau đó phải dời xuống vùng quần đảo Spratlys để nhường chỗ cho Trung Sa vào năm 1947. Đoàn Sa được đánh dấu trên vùng Spratlys khoảng những năm 1935-1936, nhưng chi hơn chục năm sau đã bị Nam Sa chiếm chỗ và mất hẳn vị trí trên bản đồ. Quá trình đặt và đổi địa danh các quần đảo giữa Biển Đông là quá trình Trung Quốc thực thi một chiến lược nhất quán nhằm mở rộng lãnh hải, lãnh thổ, biến toàn bộ Biển Đông thành cái ao riêng của mình. Vấn đề địa danh ở các quần đảo giữa Biển Đông từ đầu thế kỷ XX đã được các nhà nước Trung Quốc chính trị hoá và biến thành phương tiện giành giật chủ quyền quốc gia lãnh thổ và lãnh hải, chứ không còn là những địa danh tự nhiên, thông thường như trước nữa.

Đến cuối năm 2008, trên cơ sở 3 địa danh chính là quần đảo Tây Sa (đặt năm 1909), quần đảo Trung Sa (đặt năm 1947) và quần đảo Nam Sa (đặt năm 1947), Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn việc thành lập thành phố Tam Sa là thành phố cấp huyện thuộc tỉnh Hải Nam để trực tiếp quản lý cả 3 quần đảo kể trên. Như thế thành phố cấp huyện Tam Sa của Trung Quốc, trên thực tế đã được đặt chồng lên hai huyện của Việt Nam là Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng và Trường Sa thuộc tỉnh Khánh Hoà.

Cũng cần phải khẳng định một cách tuyệt đối rằng lịch sử thực thi chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trư­ờng Sa với tư­ cách Nhà nư­ớc, phát triển dần từ thấp đến cao, liên tục, thực sự và rõ ràng, muộn nhất là từ đầu thế kỷ XVII (dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên), qua các thế kỷ XVII, XVIII (dưới thời các chúa Nguyễn tiếp theo và vương triều Tây Sơn), thế kỷ XIX (dưới thời các vương triều Nguyễn, trong đó đặc biệt là các vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị) và cho mãi đến những năm đầu của thế kỷ XX vẫn ch­ưa hề gặp phải sự phản đối của bất cứ quốc gia nào. Vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo chính yếu của quần đảo Tr­ường Sa chí ít trong suốt 3 thế kỷ XVII, XVIII, XIX là hiển nhiên và trọn vẹn.

Lịch sử quá trình tranh chấp chủ quyền các vùng quần đảo giữa Biển Đông chỉ thực sự bất đầu từ năm 1909 khi Trung Quốc lần đầu tiên đặt tên quần đảo Tây Sa vào đúng vị trí quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Từ bấy đến nay vừa tròn 100 năm, Trung Quốc đã không chỉ khẳng định địa danh, khẳng định bản đồ, mà còn tìm mọi cách biến vùng biển đảo vô cùng xa lạ đối với họ trở thành một đơn vị hành chính chính thức của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, thành một thành phố cấp huyện của tỉnh Hải Nam, thành một vùng lãnh thổ, lãnh hải thân thương và máu thịt của Trung Quốc từ ngàn đời!!!. Lịch sử một thế kỷ đặt và thay đổi địa danh của Trung Quốc ở các vùng quần đảo giữa Biển Đông xét về thực chất chỉ là quá trình từng bước, từ thấp đến cao, từ bộ phận đến toàn thể cướp chiếm chủ quyền của Việt Nam, ngang nhiên hoán đổi thành chủ quyền của Trung Quốc, bất chấp sự phản đối của Việt Nam và cộng đồng quốc tế.

GS. TS. Nguyễn Quang Ngọc
- Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, ĐH Quốc gia Hà Nội

"Gác tranh chấp, cùng khai thác" kiểu Trung Quốc

(Dương Danh Huy - TuanVietNam.net) "Gác tranh chấp, cùng khai thác" trên phương diện đó là một nguyên tắc chung thì có thể chấp nhận được, nhưng với những quan niệm của Trung Quốc đằng sau nó thì trước mắt sẽ bất công cho Việt Nam và về lâu về dài sẽ nguy hại cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.  

LTS: Gần đây, chủ trương "gác tranh chấp, cùng khai thác" được Trung Quốc nhấn mạnh nhiều lần như một sáng kiến mang tính xây dựng trong bối cảnh tranh chấp trên Biển Đông vẫn đang căng thẳng. Xét đến tính phức tạp và khó tìm lối ra hiện tại đối với tranh chấp Biển Đông, giải pháp này có thể chấp nhận được nếu các bên cùng "gác tranh chấp, cùng khai thác" một cách công bằng.

Bài viết dưới đây phân tích chủ trương "gác tranh chấp, cùng khai thác" của phía Trung Quốc, từ đó đi tới nhận định giải pháp này có thể chấp nhận được nếu các bên cùng "gác tranh chấp, cùng khai thác" một cách công bằng. Như vậy phải có những nguyên tắc công bằng không có trong quan niệm của Trung Quốc về "gác tranh chấp, cùng khai thác".

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Mời bạn đọc cùng tranh luận.

Tại hội thảo quốc tế với chủ đề "Biển Đông: tăng cường hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực" ở Hà Nội ngày 26-27/11/2009[1], GS Ji Guoxing của Đại học Jiaotong, Thượng Hải, nguyên giám đốc bộ môn Châu Á - Thái Bình Dương của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế Thượng Hải, nhắc lại chủ trương "gác tranh chấp, cùng khai thác" của Trung Quốc[2].

GS Ji Guoxing đề xuất rằng, trước hết, các bên trong tranh chấp phải thoả thuận được một khuôn khổ chung cho việc khai thác trên toàn bộ Biển Đông. GS Ji Guoxing cụ thể hoá bằng cách đề nghị Việt Nam và Trung Quốc bàn về khả năng cùng khai thác bãi Tư Chính, một khu vực nằm gần như hoàn toàn bên trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý từ lãnh thổ không bị tranh chấp của Việt Nam, không thuộc quần đảo Trường Sa vốn đang trong tình trạng tranh chấp chủ quyền[3].

Trong khi đó, chủ trương "gác tranh chấp, cùng khai thác" của Trung Quốc không bao gồm quần đảo Hoàng Sa, nơi Trung Quốc đang chiếm đóng. Thậm chí, Trung Quốc còn cho rằng không tồn tại tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa[4].

Bản đồ 1: Lãnh hải 12 HL của các đảo bị tranh chấp và vùng đặc quyền kinh tế 200 HL của những vùng lãnh thổ khác. Khai thác chung trên cơ sở đường lưỡi bò có thể công bằng?

Tại buổi họp báo ở Hà Nội ngày 6/1/2010[5], Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường cũng đề nghị chủ trương "gác tranh chấp, cùng khai thác".

Đại sứ Tôn Quốc Tường nói, "Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc đã nêu ra một sáng kiến mang tính xây dựng, đó là gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác", và đề nghị rằng Việt Nam và Trung Quốc nên tạm gác lại tranh chấp, đợi điều kiện chín muồi.

"Nếu điều kiện chín muồi, hai bên giải quyết được vấn đề, chắc chắn sẽ thúc đẩy phát triển quan hệ hai bên chúng ta. Nếu điều kiện chưa chín muồi, làm cản trở cho quan hệ hai nước thì điều cần phải làm và nên làm là gác lại vấn đề. Trong quan hệ hai nước còn có nhiều công việc cần cố gắng, nỗ lực, có nhiều hợp tác có thể tiến hành...

Trong khi phát triển quan hệ song phương và chờ đợi điều kiện chín muồi, hai bên có điều kiện giải quyết vấn đề này tốt hơn và sẽ đưa ra phương án giải quyết hợp lý hơn nữa."

Bài viết này phân tích chủ trương "gác tranh chấp, cùng khai thác" của Trung Quốc mà Đại sứ Tôn Quốc Tường cho là một sáng kiến mang tính xây dựng của  Trung Quốc.

Nguồn gốc của chủ trương "gác tranh chấp, cùng khai thác" của Trung Quốc

Bối cảnh tranh chấp quần đảo Shenkaku/Điếu Ngư Đài

Chủ trương "Gác tranh chấp, cùng khai thác" được Trung Quốc chính thức đề nghị lần đầu tiên trong văn cảnh tranh chấp chủ quyền quần đảo Shenkaku (tên Nhật)/Điếu Ngư Đài (tên Trung Quốc) giữa Nhật và Trung Quốc.

Bản đồ 2: Vị trí quần đảo Shenkaku/Điếu Ngư Đài

Trong chuyến thăm Nhật, ngày 25/10/1978, Thủ Tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình nói với Thủ Tướng Nhật Takeo Fukuda rằng có thể để các thế hệ sau giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với Shenkaku/Điếu Ngư Đài; trong quan hệ ngoại giao, hai nước nên lấy quyền lợi chung làm ưu tiên[6].

Thực tế cho thấy Nhật và Trung Quốc đã đi theo phương hướng "gác tranh chấp" này.

Điều đáng lưu ý là Nhật là nước đang kiểm soát Shenkaku/Điếu Ngư Đài. Trong tranh chấp chủ quyền, nếu tranh chấp được gác lại thì có lợi cho nước đang kiểm soát lãnh thổ trong tình trạng tranh chấp. Vì vậy việc gác tranh chấp có lợi cho Nhật hơn cho Trung Quốc.

Trong bối cảnh vào cuối thập niên 1970, Trung Quốc cần mở rộng quan hệ quốc tế. Có lẽ vì nhu cầu đó Trung Quốc đã phải đề nghị gác tranh chấp Shenkaku/Điếu Ngư Đài, một đề nghị có lợi cho Nhật hơn cho Trung Quốc trong phạm trù tranh chấp chủ quyền, để thuận tiện cho việc phát triển quan hệ với Nhật.

Ngày 11/5/1979, Đặng Tiểu Bình nói với đại biểu quốc hội Nhật Zenko Suzuki rằng Trung Quốc và Nhật có thể cùng khai thác vùng biển lân cận đảo Shenkaku/Điếu Ngư Đài mà không đề cập đến tranh chấp chủ quyền đối với đảo.

Điều đáng lưu ý là Shenkaku/Điếu Ngư Đài và vùng biển lân cận nằm dưới sự kiểm soát của Nhật, và vùng biển này gần Nhật và Đài Loan hơn Trung Quốc, cho nên Nhật có nhiều khả năng để đơn phương khai thác vùng biển này hơn Trung Quốc. Vì vậy, đề nghị của Trung Quốc để khai thác chung vùng biển này là một đề nghị có lợi cho Trung Quốc hơn là có tính xây dựng cho cả Trung Quốc và Nhật.

Trên thực tế, cho tới nay, Nhật luôn luôn khước từ tất cả các đề nghị của Trung Quốc để khai thác vùng biển lân cận đảo này.

Bối cảnh tranh chấp Trường Sa

Khi Trung Quốc bắt đầu phát triển quan hệ ngoại giao với ASEAN trong hai thập niên 1970 và 1980, một phần là để mở rộng quan hệ ngoại giao, một phần là để đối trọng Việt Nam, Đặng Tiểu Bình đưa ra với ASEAN đề xuất về tranh chấp Trường Sa mà Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho là hợp lý[7]:
·        Quần đảo Trường Sa là một phần không tách rời được của Trung Quốc từ thời cổ xưa. (bằng chứng đâu?)
·        Tranh chấp chủ quyền phát sinh từ thập niên 1970.
·        Vì quan hệ hữu nghị với những nước liên quan, Trung Quốc muốn tạm gác tranh chấp sang một bên và sau này tìm một giải pháp mà cả hai bên có thể chấp nhận được.
·        Các bên nên tránh xung đột vũ trang và nên tìm cách khai thác chung.

Tháng 6/1986, Đặng Tiểu Bình đề nghị với Phó Tổng Thống Philippines Salvador Laurel rằng Trung Quốc và Philippines nên gác tranh chấp Trường Sa, "không nên để vấn đề này cản trở tình hữu nghị của Trung Quốc với Philippines và các nước khác"[8].

Tháng 4/1988, Đặng Tiểu Bình đề nghị với Tổng Thống Philippines Corazon Aquino, "Xét quan hệ hữu nghị giữa hai nước chúng ta, chúng ta có thể tạm gác vấn đề này và tiếp cận theo hướng khai thác chung"[9].

Ngay cả khi đề nghị gác tranh chấp, Đặng Tiểu Bình cũng "giải thích" rằng Trung Quốc có chủ quyền đối với Trường Sa. Theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình nói thẳng rằng, "Các bản đồ thế giới luôn vẽ Trường Sa thuộc Trung Quốc.", "Chúng tôi có nhiều bằng chứng. Các bản đồ thế giới của nhiều nước cũng chứng minh điều này." Đặng Tiểu Bình cũng nói với Tổng Thống Corazon Aquino rằng Trung Quốc có nhiều thẩm quyền nhất về vấn đề Trường Sa vì Trường Sa luôn luôn là một phần của lãnh thổ Trung Quốc[10].

Điều đáng lưu lý là vào đầu năm 1988 Trung Quốc chiếm đóng những bãi cạn Đá Chữ Thập, Châu Viên, Gaven, Huy Gơ và Xu Bi thuộc quần đảo Trường Sa và vào tháng 4/1988 máu của các chiến sĩ Việt Nam còn chưa tan hết trên biển Trường Sa sau khi Trung Quốc tấn công chúng ta để chiếm Cô Lin, Gạc Ma và Len Đao ngày 14/3/1988 và chiếm được Gạc Ma. Đây là một thí dụ cho thấy giới hạn của điều mà Trung Quốc gọi là "gác tranh chấp".

Rõ ràng nếu nói "Gác tranh chấp" mà kèm theo lời nói "Đó là của Trung Quốc", thậm chí kèm theo hành động chiếm đoạt thêm, thì đó không phải là "gác lại tranh chấp" mà nghĩa thật của nó là "các nước khác đừng tranh chấp".

Trong đề nghị và cách ứng xử của Trung Quốc, "giải pháp mà cả hai bên có thể chấp nhận được" có vẻ không phải là một sự phân định chủ quyền công bằng mà là một giải pháp trong đó các nước khác đành phải chấp nhận chủ quyền Trung Quốc, và, đáp lại, Trung Quốc sẽ chấp nhận cho những nước này một số quyền lợi nhất định nào đó.

Như vậy, sáng kiến "gác tranh chấp, cùng khai thác" của chính phủ Đặng Tiểu Bình cho tranh chấp Trường Sa không phải do tính xây dựng mà là để phục vụ mục đích đối trọng Việt Nam nói chung và chiếm đoạt Trường Sa từ Việt Nam nói riêng.

Bắt đầu từ thập niên 1990, yêu sách của Trung Quốc được nâng cao để bao gồm tất cả diện tích bên trong ranh giới 9 đoạn của nước này, và chủ trương "gác tranh chấp, cùng khai thác" được Trung Quốc đề nghị cho tất cả diện tích đó.

Như vậy, việc Trung Quốc áp dụng khái niệm "gác tranh chấp, cùng khai thác" cho yêu sách ranh giới 9 đoạn không phải do tính xây dựng mà là để Trung Quốc đòi hỏi khai thác chung trong những vùng biển mà Trung Quốc đòi hỏi một cách vô lý, thí dụ như trong vùng Tư Chính - Vũng Mây và Nam Côn Sơn của Việt Nam.
Chúng ta có thể hiểu rõ thêm về khái niệm "gác tranh chấp, cùng khai thác" của Trung Quốc từ giải thích trên trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

Giải thích của Trung Quốc về "gác tranh chấp, cùng khai thác"
Theo bài "Set aside dispute and pursue joint development" đăng trên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, khái niệm "gác tranh chấp, cùng khai thác" có 4 yếu tố[11]:
1.     Chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ liên quan thuộc về Trung Quốc.
2.     Khi điều kiện chưa chín muồi để có giải pháp quán triệt, hoãn lại đàm phán về chủ quyền - để có thể gác tranh chấp sang một bên. Gác tranh chấp không có nghĩa từ bỏ chủ quyền [mà chủ quyền duy nhất được đề cập tới là chủ quyền Trung Quốc - tác giả].
3.     Khai thác chung các vùng lãnh thổ liên quan.
4.     Mục đích của khai thác chung là nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau và tạo điều kiện cho giải pháp cuối cùng về chủ quyền lãnh thổ [mà chủ quyền duy nhất được đề cập tới là chủ quyền Trung Quốc - tác giả].
4 yếu tố này có một số vấn đề căn bản.

Thứ nhất, "Chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ liên quan thuộc về Trung Quốc" là một trong những yếu tố của khái niệm "gác tranh chấp, cùng khai thác", nhưng khả năng chủ quyền thuộc về những nước khác đối với toàn bộ hay một phần lãnh thổ bị tranh chấp thuộc về các nước khác không được đề cập tới. Yếu tố này chính là một sự tranh chấp chủ quyền và đi ngược với tinh thần "gác tranh chấp".

Thứ nhì, điều kiện thế nào là chín muồi để có giải pháp quán triệt? Cần làm gì để có những điều kiện đó. Thế nào là giải pháp quán triệt?

Theo ý kiến của tác giả, chỉ có phân định chủ quyền một cách công bằng mới có thể là giải pháp quán triệt. Để phân định chủ quyền một cách công bằng cần phải có đàm phán hoặc phân xử bởi một trọng tài công bằng, thí dụ như Toà án Công lý Quốc tế. Hoãn lại đàm phán về chủ quyền không thuận tiện cho điều kiện chín muồi cho việc phân định chủ quyền một cách công bằng.

Có thể là điều kiện chín muồi mà Trung Quốc đề cập tới là điều kiện chín muồi để thực hiện yếu tố thứ nhất: "Chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ liên quan thuộc về Trung Quốc".

Thứ ba, đâu là các vùng lãnh thổ liên quan có thể khai thác chung? Việc khai thác chung chỉ có thể công bằng trong những vùng lãnh thổ mà lý lẽ chủ quyền của các bên trong tranh chấp hợp lý hơn một mức tối thiểu nào đó. Không thể chấp nhận được việc một nước đòi hỏi tới đâu thì các nước kia phải khai thác chung với nước đó tới đó.

Ranh giới 9 đoạn của Trung Quốc quá vô lý cho nên nếu khai thác chung với Trung Quốc trên cơ sở ranh giới đó thì sẽ không thể công bằng.

Không những thế, Trung Quốc không chấp nhận Việt Nam khai thác chung khu vực Hoàng Sa, trong khi lý lẽ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa hợp lý hơn mức tối thiểu cho việc Việt Nam khai thác chung.

Yếu tố thứ tư cho thấy mục đích tối hậu của Trung Quốc trong đề nghị khai thác chung là tạo điều kiện cho yếu tố thứ nhất, tức là "Chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ liên quan thuộc về Trung Quốc".

Như vậy, mặc dù khái niệm "gác tranh chấp, cùng khai thác" trên phương diện đó là một nguyên tắc chung thì có thể chấp nhận được, nhưng với những quan niệm của Trung Quốc đằng sau nó thì trước mắt sẽ bất công cho Việt Nam và về lâu về dài sẽ nguy hại cho chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, không chỉ đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, mà còn đối với cả những vùng biển bị ranh giới 9 đoạn của Trung Quốc đe doạ.

Để có thể gác tranh chấp, cùng khai thác một cách công bằng, phải có những nguyên tắc công bằng không có trong quan niệm của Trung Quốc về "gác tranh chấp, cùng khai thác".

[1] T. Lam. Hội thảo quốc tế về Biển Đông. Vietnamnet, 25/11/2009. Trên mạng: http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/200911/Hoi-thao-quoc-te-ve-Bien-Dong-880652/
[2] Huỳnh Phan. Giải quyết tranh chấp Biển Đông trong mắt học giả Trung Quốc. Vietnmanet, 07/12/2009. Trên mạng: http://www.tuanvietnam.net/2009-12-04-giai-quyet-tranh-chap-bien-dong-trong-mat-hoc-gia-trung-quoc
[3] Ibid.
[4] Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương trả lời phóng viên về việc Việt Nam phản đối Trung Quốc tập trận tại Hoàng Sa. Foreign Ministry Spokesperson Qin Gang's Regular Press Conference on 27 November, 2007. Bộ Ngoại giao Trung Quốc, 28/11/2007. Trên mạng: http://big5.fmprc.gov.cn/gate/big5/tr.china-embassy.org/eng/fyrth/t385091.htm
Q: It was reported that Vietnam protested against China's military exercise in Xisha Islands, regarding it as a "violation" of its "sovereignty". Do you have any comment?
A: It is known to all that China has undeniable sovereignty over the Xisha Islands and its adjacent islets. China and Vietnam have no dispute over this issue. The routine training of the Chinese navy is an ordinary activity within Chinese waters under China's sovereignty. Vietnam's protest is totally groundless.
[5] Xuân Linh. Chờ điều kiện chín muồi giải quyết tranh chấp Biển Đông. Vietnamnet, 6/1/2010. Trên mạng: http://vietnamnet.vn/chinhtri/201001/Cho-dieu-kien-chin-muoi-giai-quyet-tranh-chap-bien-Dong-888092/
[6] Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Set aside dispute and pursue joint development. 17/11/2000. Trên mạng: http://www.fmprc.gov.cn/eng/ziliao/3602/3604/t18023.htm
[7] Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã dẫn:
When China entered into diplomatic relations with the Southeast Asian countries in the 1970s and 1980s, during talks with the leaders of these countries, Deng Xiaoping made the following reasonable proposal for resolving disputes over the Nansha Islands: The Nansha Islands have been an integral part of China's territory since the ancient times. But disputes have occurred over the islands since the 1970s. Considering the fact that China has good relations with the countries concerned, we would like to set aside this issue now and explore later a solution acceptable to both sides. We should avoid military conflict over this and should pursue an approach of joint development.
[8] Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã dẫn:
In June, 1986, Deng said to visiting Filipino Vice President Laurel: "We should leave aside the issue of the Nansha Islands for a while. We should not let this issue stand in the way of China's friendship with the Philippines and with other countries."
[9] Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã dẫn:
Deng Xiaoping once again brought up this idea when he met visiting Filipino President Aquino in April, 1988. Deng said: "In view of the friendly relations between our two countries, we can set aside this issue for the time being and take the approach of pursuing joint development."
[10] Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã dẫn:
In addition to proposing the approach of "setting aside difference and pursuing joint development", Deng Xiaoping also explained China's stand that it has sovereignty over the Nansha Islands. He explicitly pointed out that "the Nansha Islands have always been marked as part of China on the maps of the world. The Nansha Islands belong to China." "We have many evidences. The maps of the world in many countries also prove this." He also said to President Aquino that China is in a most authoritative position to address the issue of the Nansha Islands since they have always been a part of China's territory.
[11] Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã dẫn:
The concept of "setting aside dispute and pursuing joint development" has the following four elements: 1. The sovereignty of the territories concerned belongs to China. 2. When conditions are not ripe to bring about a thorough solution to territorial dispute, discussion on the issue of sovereignty may be postponed so that the dispute is set aside. To set aside dispute does not mean giving up sovereignty. It is just to leave the dispute aside for the time being. 3. The territories under dispute may be developed in a joint way. 4. The purpose of joint development is to enhance mutual understanding through cooperation and create conditions for the eventual resolution of territorial ownership.

Bài đã được xuất bản trên Tuần Việt nam.: 21/01/2010 07:00 GMT+7
Nguồn: nguyencuubiendong 

"Việt Nam còn mờ nhạt trong mắt người Mỹ"

TRẦN THẮNG - Chủ tịch Viện Văn hóa và Giáo dục Việt Nam tại Mỹ (IVCE) 

Tạo dựng hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè thế giới là việc làm cần thiết, nhưng dường như chúng ta vẫn chưa tiến xa được.

 
Việc quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới được tiến hành từ nhiều năm nay, bằng nhiều con đường, do nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân thực hiện và đã có một số kết quả khả quan. Ngoài những đợt hay chương trình quảng bá mang tính toàn cầu, "tiếp thị" hình ảnh đất nước tại từng quốc gia với các nội dung hướng tới đối tượng cụ thể được coi như kênh quảng bá không kém phần hiệu quả. Từ những việc "mắt thấy, tai nghe" trong việc quảng bá hình ảnh Việt Nam tại Mỹ, tôi xin chia sẻ một vài ý kiến.

Thất vọng từ ảnh tới tranh


Tháng 8 năm ngoái, Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch Việt Nam, Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc và Ban quản lý Vịnh Hạ Long đồng tổ chức triển lãm ảnh về Vịnh Hạ Long và bầu chọn Hạ Long là 1 trong "7 kỳ quan thiên nhiên của thế giới" tại Viet Gallery ở New York, Mỹ.

Khi bước vào phòng ảnh, chúng tôi đi một mạch từ trên xuống dưới và từ dưới lên trong ba phút, thỉnh thoảng dừng lại vài giây ngắm nhìn vài bức ảnh. TS. Ngô Thành Nhàn nói: "50 ảnh như từ 5 ảnh mà ra", vì ảnh nào cũng là đảo, đá. Mọi người cảm thấy thất vọng, dù số ảnh này được chọn lọc từ hàng ngàn ảnh tại Việt Nam!

Vịnh Hạ Long là kỳ quan thiên nhiên thế giới do UNESCO bình chọn, thế nên Việt Nam cần quảng bá hình ảnh Hạ Long với bộ ảnh có tầm vóc, phản ảnh mọi khía cạnh từ huyền thoại cho đến không gian, thời gian, phong cảnh, hệ sinh thái, sinh hoạt của cư dân, hoạt động du lịch... Chưa kể còn có thể thuê nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp nước ngoài chụp theo con mắt thẩm mỹ của người nước ngoài.

Cũng nên có một bức ảnh Hạ Long khổ lớn để khi bước vào phòng tranh là người xem phải ngước nhìn với sự hồ hởi và thán phục, từ đó dễ tạo được ấn tượng nơi người xem.

Và một cuộc triển lãm mang tầm vóc quốc gia cần được tổ chức tại một nơi chuyên nghiệp thay vì tại một phòng triển lãm cá nhân, có như thế cuộc triển lãm mới đại diện được cho tiếng nói cấp quốc gia.

Vịnh Hạ Long

Đa phần họa sĩ Việt Nam sang Mỹ đều thất vọng khi không bán được bức tranh nào cho người Mỹ, mà chỉ bán được cho người Việt. Lý do là người Mỹ không hiểu về tranh Việt Nam.

Văn học Việt Nam có giá trị không thua kém văn học Nhật Bản hay Trung Quốc, nhưng hai nền văn học này đã đi vào trường học của Mỹ, còn Việt Nam thì chưa. Và những hình thức nghệ thuật khác cũng có chung "số phận": nhận thức của người Mỹ về Việt Nam còn hạn chế.

Việt Nam còn mờ nhạt trong mắt người Mỹ

Quảng bá tại Mỹ khá khó khăn vì nước Mỹ là hiệp chủng quốc, bao gồm nhiều sắc tộc, nhiều thành phần xã hội và nhiều tính cách khác nhau.

Tôi nhớ vài năm trước đây, Việt Nam bỏ ra vài trăm ngàn USD để quảng bá hình ảnh đất nước trên kênh CNN. Không biết kết quả ra sao, nhưng theo tôi là không có hiệu quả vì đặt không đúng vị trí.

Quảng cáo trên CNN chỉ có hiệu quả khi người ta biết đến mình rồi, phần quảng bá giống như thêm thông tin về một sự kiện mới. Còn một khi người ta chưa biết đến mình thì dù sự kiện mới hay cũ người ta cũng không quan tâm.

Người Mỹ biết đến Nhật Bản hay Trung Quốc (trong khu vực châu Á) do tác động của các yếu tố kinh tế, khoa học, quân sự, giáo dục, văn hóa... Việt Nam chỉ có thể dùng văn hóa để tạo nhận thức cho người Mỹ về đất nước mình, việc này đòi hỏi người Việt cả trong lẫn ngoài nước phải nỗ lực, đặc biệt là tầng lớp học giả và những người làm văn hóa Việt Nam.

Tôi đã đôi lần giới thiệu về hoạt động văn hóa của IVCE, chiếu phim Việt Nam trong mỗi học kỳ tại 10 - 15 trường đại học. Nét đặc trưng của chương trình của IVCE là chiếu phim thường kỳ nhằm tạo ra sự quen thuộc và dần dần đi vào nhận thức của người Mỹ.

Chúng tôi tổ chức hoạt động này tại những nơi uy tín như đại học danh tiếng hay trung tâm văn hóa lớn, nhằm làm tăng giá trị của những chương trình về Việt Nam.

Hoạt động của IVCE là một cách tạo nhận thức cho người Mỹ về Việt Nam. Có nhiều cách để làm tăng sự nhận thức này, như: tạo điều kiện cho các chương trình Việt Nam học của các đại học Hoa Kỳ phát triển tại Việt Nam, phát triển các chương trình trao đổi nghiên cứu, thực hiện các chương trình văn hóa định kỳ tại các thành phố lớn của Hoa Kỳ, sử dụng internet trong việc quảng bá hình ảnh Việt Nam...

Tạo dựng hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè thế giới là việc làm cần thiết, nhưng dường như chúng ta vẫn chưa tiến xa được.

(Theo Doanh nhân Sài Gòn)

Chính sách sách ngoại giao tàu chiến

Theglobeandmail

Khi Liên Xô bắt đầu xây dựng hàng không mẫu hạm Varyag cách đây hơn 1/4 thế kỷ, người ta nói là chiếc tàu sân bay dài 300m này một ngày nào đó sẽ khiêu khích tiến vào biển Địa Trung Hải, một thách thức thời chiến tranh Lạnh đối với vai trò chế ngự biển của Mỹ tại khu vực này. 


Ảnh minh họa: Tàu sân bay Illustrious (phải) và tàu sân bay USS. John C.Stennis. (Báo Đất Việt)

Nhưng rốt cuộc khi được hạ thủy vào một ngày nào đó trong năm nay hoặc năm tới, Vargag sẽ có một ông chủ mới và nhiệm vụ hoàn toàn khác. Trên thực tế, dự án đóng hàng không mẫu hạm này được khởi công tại cảng Mykolaiv của Ukraine bắt đầu từ năm 1985 và giờ đang được hoàn thành ở hải cảng sầm uất Đại Liên của Trung Quốc. Trong một thế giới và một khu vực hoàn toàn khác với các mục đích ban đầu, Varyag sẽ gây lo ngại và nghi ngờ giữa Mỹ và Trung Quốc - đối thủ quân sự mới nhất của chú Sam.

Varyag không phải là tham vọng cao nhất của Hải quân Trung Quốc. Trên thực tế, không rõ con tàu sân bay này liệu có trở thành cái gì ngoài một thử nghiệm cho các phi công và máy bay trước khi chuyển sang một hàng không mẫu hạm lớn hơn và do chính người Trung Quốc chế tạo, mà nước này bóng gió là có thể sẵn sàng hoạt động vào năm 2015. Có tới 6 hàng không mẫu hạm được cho là đã lên kế hoạch hoặc đang được Hải quân Trung Quốc chế tạo.

Quy chế của Varyag (một di vật của chiến tranh Lạnh, dường như từng được thiết kế để trở thành một sòng bạc nổi ở Ma Cao, Trung Quốc) giờ lại gây ra mối quan ngại lớn tại Washington, và các nước láng giềng của Trung Quốc. Thực tế này cho thấy một thực tế nay vẫn còn đúng về quan hệ quốc tế: Ngay cả trong một thế giới của chiến tranh không gian và các vũ khí vệ tinh, sức mạnh hải quân vẫn có tầm quan trọng, trong năm 2011 cũng như trong các thế kỷ trước.

Đọc tiếp: Anh từ chối bán HMS Invincible cho thương gia Trung Quốc



Dù có nhiều tiến bộ về ngoại giao, thông tin và vũ khí quân sự nhưng cách một siêu cường thể hiện sự không hài lòng của mình vẫn không thay đổi nhiều kể từ năm 1841, khi soái hạm Nemesis của Anh xuất hiện trên sông Dương Tử trong cuộc chiến đầu tiên trên Đảo Thuốc phiện, buộc Trung Quốc phải nhường đảo Hong Kong cho vương quốc của nữ hoàng Victoria.

Tàu chiến đến nay vẫn quan trọng. Một phần vì đó là niềm tự hào dân tộc. Các hàng không mẫu hạm - hậu duệ của các chiến hạm bọc sắt và thiết giáp hạm trong các thế kỷ trước - chính là hào quan của quyền lực. Nhưng trong thời toàn cầu hóa, chúng cũng đóng vai trò sống còn trong việc bảo vệ các tuyết đường thương mại. Và trong trường hợp xảy ra tranh chấp giữa các quốc gia, chúng vẫn là các giải pháp hiệu quả hơn để bảo vệ cho một lập luận nào đó.

  Hãy nhìn vào tình hình căng thẳng mới đây trên bán đảo Triều Tiên. Sau khi CHDCND Triều Tiên nã pháo vào một hòn đảo tiền tiêu của Hàn Quốc hồi tháng 11/2010, Mỹ đã đề nghị Trung Quốc kiềm chế đồng minh của mình. Khi Bắc Kinh không hành động gì, Mỹ đã huy động một trong 11 hàng không mẫu hạm - chiếc USS George Washington với trọng tải 98.000 tấn - đến Hoàng Hải, tiến hành một loạt cuộc tập trận chung với Hải quân Hàn Quốc không chỉ ở gần hải giới đang tranh chấp giữa hai miền Triều Tiên mà còn ngay ở cạnh vùng nước mà Trung Quốc coi là vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Mỹ và chính sách sách ngoại giao tàu chiến

Khi cuộc khủng hoảng lên cao trào - và trong bối cảnh căng thẳng giữa Bắc Kinh và Washington vẫn không thuyên giảm - Mỹ đã thúc đẩy chính sách ngoại giao tàu chiến của mình, đồng thời huy động ba đội chiến hạm vận tải (mỗi đội gồm một tàu tuần dương trang bị tên lửa hành trình, nhiều tàu khu trục và tàu nhỏ, cộng thêm 90 máy bay chiến đấu) đến Tây Thái Bình Dương lần đầu tiên kể từ sau khi kết thúc chiến tranh thế giới Hai.

Trong những năm gần đây, Mỹ cũng đã chuyển hầu hết hạm đội tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân của mình tới Thái Bình Dương, sự thay đổi này chủ yếu xuất phát từ các nỗ lực nâng cấp và mở rộng các sức mạnh hải quân của Trung Quốc. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, Đô đốc Mike Mullen cuối năm ngoái đã phát biểu về việc hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc rằng: "Tôi đã chuyển từ tò mò sang thực sự lo ngại".

Ngày nay, Mỹ vẫn đang thống trị Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong khi hạm đội nổi của Trung Quốc có thể sẽ không tạo ra thách thức nào trong vài năm tới, nếu không muốn nói là vài thập kỷ nữa, nhưng họ đã phát triển một vũ khí ít nhất có thể buộc hạm đội vận tải của Mỹ phải tránh xa bờ biển Trung Quốc hơn: đó là các tên lửa đất đối hạm tân tiến, loại bom có thể đánh chìm các tàu chiến lớn. Và sau nhiều năm tập trung vào bảo vệ khu vực bờ biển và chuẩn bị đối phó nguy cơ chiến tranh liên quan đến Đài Loan, Hải quân Trung Quốc giờ đã nói đến "phòng thủ biển xa".

Các chiến lược gia Trung Quốc coi hàng không mẫu hạm là tối quan trọng đối với lực lượng hải quân biển xa, cho phép Trung Quốc tấn công tới tận vành đai căn cứ của Mỹ tại Nhật Bản, Đài Loan và Philippines. Là nhà xuất khẩu lớn nhất thế giới, và cùng là một nhà nhập khẩu lớn về dầu mỏ và các nguồn tài nguyên khác từ châu Phi và Trung Đông, Trung Quốc không còn tín nhiệm Mỹ và các lực lượng hải quân nước ngoài trong việc bảo vệ các chuyến tàu biển của mình.

Một vị Tướng về hưu của quân đội Trung Quốc, ông Xu Guangyu cho biết: "Chúng tôi có những lợi ích và nhiệm vụ trên toàn thế giới và cần một sức mạnh hải quân để bảo vệ các lợi ích này. Đây không phải là một thách thức đối với bất kỳ ai, chúng tôi chỉ muốn tham gia câu lạc bộ hàng không mẫu hạm". Ông nhấn mạnh: "Cũng là lẽ tự nhiên khi Hải quân Trung Quốc có khả năng vượt qua chuỗi đảo đầu tiên, ra Thái Bình Dương và các đại dương khác. Không ai có thể ngăn cản Trung Quốc làm điều này".

Với Trung Quốc, mọi chuyện đều vì dầu mỏ


Những người khác lại thấy có một cách giải thích đơn giản hơn cho việc tăng cường sức mạnh hải quân của Trung Quốc trong những năm qua. Ông Andrei Chang, Tổng biên tập Tạp chí Quốc phòng Kanwa - ấn phẩm luôn đưa tin về quân đội Trung Quốc - cho biết: "Đó là vì dầu, dầu và dầu. Mọi thứ họ đang chuẩn bị, những máy bay chiến đấu, các hàng không mẫu hạm, đều là để bảo vệ các nguồn tài nguyên dầu của họ".

Ông Chang nhắc tới tuyến đường dài mà các tàu chở dầu từ Trung Đông và châu Phi phải đi qua để đến được các cảng biển của Trung Quốc, và nhiều điểm nóng dọc tuyến đường này, đặc biệt là ở Eo biển Malacca. 8% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc được chuyển qua hành lang biển giữa Malaysia và đảo Sumatra của Indonesia, một tuyến huyết mạch có thể ngay lập tức bị Mỹ đóng cửa nếu xảy ra xung đột. Ông Chang cho biết: "Tuyến đường biển rất dài đối với họ. Vì vậy họ nói họ cần một lực lượng hải quân hùng mạnh hơn".

Năm ngoái, một tàu khu trục nhỏ của Trung Quốc và một tàu tiếp tế đã đến cảng Abu Dhabi, chuyến thăm hiện đại đầu tiên của các tàu chiến Trung Quốc tới khu vực Trung Đông nhiều dầu mỏ.

Tàu chiến Trung Quốc cũng đã tham gia các hoạt động tuần tra chống cướp biển ở ngoài khơi bờ biển Somalia, và một đô đốc hải quân Trung Quốc đã đề xuất lập một căn cứ hải quân ở vùng Vịnh Aden để hỗ trợ cho các chiến dịch này. Trung Quốc đã có tàu chiến đóng tại Myanmar và đang xây dựng một cảng nước sâu ở bờ biển phía Nam Sri Lanka có thể nhằm mục đích sử dụng tương tự.

Theo một số ước tính, Hải quân Trung Quốc đang sở hữu "tàu chiến quan trọng" - bao gồm tàu ngầm, tàu khu trục lớn và tàu khu trục nhỏ... - nhiều hơn Hải quân Mỹ, dù tàu của Mỹ được cho là trên tầm Trung Quốc về công nghệ.

Tờ Global Times của Trung Quốc số ra một tuần sau chuyến thăm Bắc Kinh của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates viết: "Mỹ dường như tự cho mình cái quyền kiểm soát hoàn toàn các đại dương và vùng trời trên thế giới. Tuy nhiên, thế giới chúng ta đang sống không chỉ bao la mà còn đang thay đổi rất nhanh. Mỹ dù có thể mạnh, cũng không thể cai trị một mình".

Chuyến thăm của ông Gates - diễn ra sau khi Trung Quốc ngừng quan hệ quân sự với Mỹ trong một năm qua nhằm phản đối việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan - đã được đánh dấu bởi chuyến bay thử nghiệm của máy bay tàng hình đầu tiên của Trung Quốc, chiếc J-20. Mô hình của chiếc J-20 này không hề tạo ngạc nhiên cho giới chức ở Mỹ, những người trước đó đã phỏng đoán rằng một chiến bay thử nghiệm như thế đã được tiến hành cách đây nhiều năm.

Nếu căng thẳng leo thang trong khu vực biến thành một cái gì đó hơn nữa, rất có thể đó sẽ liên quan các vùng nước nhiều tài nguyên trên Biển Đông. Các nước trong khu vực đều có một bản đồ của riêng mình về vùng biển này - nơi được xếp vào một trong những vùng biển bận rộn nhất thế giới. Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Philippines đều đòi chủ quyền đối với các nhóm đảo nhỏ, mà trong lòng lục địa nơi này có cả một gia tài thiên nhiên (từ 8 -28 tỷ thùng dầu).

Trung Quốc đòi chủ quyền đối với quần đảo nằm cách bờ biển của mình hàng trăm km và vì vậy, gần như toàn bộ Biển Đông. Tranh chấp lâu đời này hồi năm ngoái đã trở nên khẩn cấp hơn khi giới chức Trung Quốc, được báo giới đưa tin, đã nói với các đồng nhiệm Mỹ rằng toàn bộ vùng biển này giờ được coi là một "lợi ích cốt lõi của quốc gia" - cụm từ trước đây được dùng để chỉ các vấn đề lãnh thổ giới hạn đỏ như Đài Loan và Tây Tạng, những nơi mà Bắc Kinh cho biết sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ.

Tuyên bố trên gây ra phản ứng ngay lập tức từ Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, người đã đến Hà Nội để phát đi thông điệp rằng Mỹ coi tự do hàng hải trong các vùng nước này là một "lợi ích quốc gia" của mình.

Trung tâm của quá trình tăng cường lực lượng hải quân nhanh chóng của Trung Quốc là Vịnh Tam Á, một cảng nước sâu ở bờ biển phía Nam đảo Hải Nam, một hòn đảo nhiệt đới trên biển Đông được biết đến nhiều hơn như một nơi nghỉ dưỡng để tránh cái rét trong Trung Quốc đại lục. Đường bờ biển dài 900km của hòn đảo này đã được biến thành căn cứ hải quân tân tiến nhất của Trung Quốc. Đảo Hải Nam cũng là trung tâm của các hoạt động chế tạo hàng không mẫu hạm của nước này.

Dù giới lãnh đạo Trung Quốc nói đến sự cần thiết của các đại dương "hài hòa" và việc sử dụng các khả năng hải quân mới của mình vào cuộc đấu tranh chống hải tặc cũng như các hoạt động cứu hộ cứu nạn, nhưng các nước láng giềng vẫn lo ngại. Trong 5 năm tới, dự kiến các lực lượng hải quân trong khu vực sẽ đầu tư khoảng 60 tỷ USD - hơn tổng chi tiêu của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, bao gồm cả Mỹ - để nâng cấp sức mạnh của các chiến hạm tàu nổi và tàu ngầm.

Không nước nào lo ngại trước việc Trung Quốc nâng cấp sức mạnh hải quân hơn là cựu siêu cường quốc hải quân trong khu vực này: Nhật Bản. Quan hệ giữa Bắc Kinh và Tokyo nay đã ấm hơn sau một vụ va chạm giữa tàu cá Trung Quốc với tàu tuần tra Nhật Bản hồi tháng 9/2010. Sau khi Trung Quốc thể hiện về tầm với của quân đội, họ muốn lao vào khẩu chiến, siết chặt việc xuất khẩu một loại tài nguyên có vị trí sống còn đối với nền công nghiệp công nghệ cao của Nhật Bản, khiến đất nước Mặt trời mọc buộc phải thủ thế.

Cuối năm 2010, Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản đã công bố một cuốn sách trắng trong đó nhấn mạnh một sự thay đổi quan trọng trong chính sách: quân đội sẽ cắt giảm chi tiêu cho xe tăng chiến đấu và đầu tư vào tàu ngầm và tàu chiến mới. Mũi nhọn của quân đội từ nay sẽ tập trung vào miền Nam và Tây, hướng tới các vùng nước giữa Nhật Bản và Trung Quốc.

Yuki Asaba, trợ giảng về quan hệ quốc tế tại Đại học Tỉnh Yamaguchi (Nhật Bản), nhận định: "Sự nổi lên một cách thông thường của Trung Quốc và việc họ hiện đại hóa hải quân một cách đặc biệt, đang đặt ra một thách thức khác thường và chưa từng thấy đối với khu vực và thế giới. Nhật Bản cần làm rõ rằng mọi khiêu khích trong tương lai sẽ không thể được tha thứ".

Sự cố tàu cá trên đã xảy ra gần chuỗi đảo không có người sống ở biển Hoa Đông, được Nhật Bản gọi là Senkaku và Trung Quốc gọi là Điều Ngư, hiện do Nhật kiểm soát nhưng Trung Quốc đòi là thuộc chủ quyền của mình. Và đây hoàn toàn không phải một sự kiện đơn lẻ. Tuyên bố gây ấn tượng nhất về tầm với ngày càng xa của hải quân Trung Quốc được đưa ra hồi tháng Tư, khi một hạm đội gồm hai tàu ngầm và tám tàu khu trục của nước này đi tuần tra tại khu vực giữa hai đảo của Nhật nối ra Thái Bình Dương. Khi hai tàu khu trục Nhật Bản được cử ra theo dõi bảo vệ các đảo này, một máy bay trực thăng của Trung Quốc đã lượn lờ phía trên các tàu Nhật chỉ cách 100m.

Tướng Xu cảnh báo Nhật Bản và các nước khác cần phải làm quen với trật tự mới trong khu vực. Ông nói: "Khi một nước trở nên mạnh hơn, họ sẽ có trách nhiệm hơn với thế giới. Khi Trung Quốc mạnh hơn, quân đội và tàu chiến của Trung Quốc sẽ đi xa hơn. Các nước láng giềng, đặc biệt là những nước từng ức hiếp chúng tôi trong lịch sử, nên bình tĩnh và thích nghi tốt hơn với sự nổi lên của Trung Quốc"./.

Quốc Thái theo theglobeandmail.com

Hệ thống hỗ trợ chiến đấu FELIN

Ấn Độ đề phòng Trung Quốc trong năm 2014?

Ngày 15/2, nguồn tin giấu tên từ BQP Ấn Độ cho biết, các chuyên gia nước này tỏ ra lo ngại và cảnh báo Trung Quốc sẽ tấn công Ấn Độ vào năm 2014.
 

Bản đồ khu vực tranh chấp giữa Trung Quốc và Ấn Độ.

Theo các chuyên gia Ấn Độ, mục đích thực sự của cuộc tấn công là để chuyển hướng chú ý của những người bất đồng chính kiến trong nước khỏi các vấn đề về tài chính, đe doạ đến sự cầm quyền của Đảng Cộng Sản ở Trung Quốc.

Bên cạnh đó, Trung Quốc mong muốn đảm bảo thị uy quyền lực tối cao ở khu vực châu Á. Bởi, Bắc Kinh ngày càng lo lắng về sự hợp tác quân sự thân mật giữa Ấn Độ và Mỹ.

Quân đội Ấn Độ đang phụ thuộc vào mua sắm vũ khí của Nga, sau đó là Israel, nhưng cuối cùng Mỹ mới là nguồn cung quan trọng nhất cho việc mua sắm trang bị quân sự của Ấn Độ.

Trung Quốc lo ngại rằng các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia, và nhiều quốc gia Đông Nam Á đang cố gắng kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Bởi lẽ, không ít thì nhiều, các quốc gia này có một số xung đột lợi ích với Trung Quốc, đặc biệt là Ấn Độ.

Ngân sách quân sự của Trung Quốc chính thức được thông báo là khoảng 78 tỷ USD nhưng theo dự đoán của chính phủ Mỹ thì có thể tới 150 tỷ USD. Nhưng điều quan trọng hơn cả là giống Trung Quốc, Ấn Độ cũng đang không ngừng xây dựng và hiện đại hóa quân đội. Điều này được Ấn Độ coi là vấn đề sống còn. 

Trong nhiều năm qua, mối đe doạ từ Trung Quốc đã leo lên mức có khả năng xảy ra xung đột đối với Ấn Độ, do Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền khu vực Arunachal Pradesh. Ấn Độ từng yêu cầu Trung Quốc và Pakistan chấm dứt ngay lập tức sự chiếm đóng lãnh thổ bất hợp pháp.

Vấn đề biên giới khu vực Kashmir và Tây Tạng đã được tiến hành đàm phán nhiều vòng. Nhưng bên cạnh đó, Ấn Độ đã bắt đầu cải thiện cơ sở hạ tầng dọc theo biên giới với Trung Quốc và đang xây dựng nhiều tuyến đường bộ và các sân bay mới. 

Đồng thời, New Delhi không ngừng tăng cường binh lính và mua sắm vũ khí trang bị trên tuyến biên giới này. Chính quyền Ấn Độ cũng đã lên tiếng bày tỏ mối quan ngại của mình đối với chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc ngày càng tăng.

Ấn Độ còn yêu cầu minh bạch trong lĩnh vực hợp tác hạt nhân giữa Trung Quốc với Pakistan. Mới đây, thông tin cho rằng Trung Quốc và Pakistan gần đây đã ký kết một hiệp định chung, theo đó Trung Quốc sẽ xây dựng 4 lò phản ứng hạt nhân tại Khushabin thuộc tỉnh Punjab của Pakistan.

(Theo The times of India)

Năm 2015: Ấn Độ biên chế tàu ngầm Scorpene

Hải quân Ấn Độ sẽ nhận bàn giao tàu ngầm Scorpene đầu tiên trong số 6 chiếc đã ký thỏa thuận, trì hoãn 3 năm so với kế hoạch ban đầu (năm 2012).
 
Tàu ngầm Scorpene tại xưởng đóng tàu ở Mumbai.

“Chiếc tàu ngầm Scorpene đầu tiên có kế hoạch sẽ được chuyển giao trong nửa cuối năm 2015. Theo thỏa thuận, tàu sẽ được chuyển giao vào tháng 12/2012. Sau đó, mỗi năm chuyển giao 1 chiếc cho đến tháng 12/2017”, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ A.K. Antony cho biết trong một phúc đáp bằng văn bản.

6 tàu ngầm Scorpene – nằm trong Dự án 75 - đang được đóng tại Nhà máy đóng tàu Mazagon (MDL) ở Mumbai, với chi phí 4 tỷ USD/chiếc với sự hợp tác của DCNS (Pháp).

“Có sự chậm trễ chuyển giao tàu ngầm Scorpene so với kế hoạch ban đầu là do vấn đề công nghệ, điều chỉnh gia tăng cơ sở hạ tầng và quá trình mua nguyên liệu của Nhà máy đóng tàu Mazagon”, Bộ trưởng Antony phát biểu. 

Ông Antony cho biết, Chính phủ Ấn Độ rất quan tâm về môi trường an ninh và có quyết định phù hợp về việc biên chế các trang thiết bị quốc phòng và các cơ sở quân sự, bao gồm cả tàu ngầm cho lực lượng hải quân.

“Đây là tiến trình được thực hiện thường xuyên, liên tục cho hiện đại hóa lực lượng vũ trang để xây dựng quân đội luôn trong trạng thái sẵn sàng đáp ứng mọi tình huống khẩn cấp,” ông Antony nói.

“Bất kỳ sự khiếm khuyết nào về năng lực tàu ngầm đều được giải quyết bằng cách hiện đại hoá và nâng cấp với các loại vũ khí hiện đại, hệ thống cảm biến nhằm tăng cường khả năng sẵn sàng chiến đấu của hải quân,” ông Antony giải thích thêm.

Đồng thời, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ cũng lưu ý, chính phủ đã phê duyệt mức chi phí chỉnh sửa của Dự án 75 vì tăng chi phí mua các loại nguyên liệu, liên quan đến phần mũi tàu và bổ sung cơ sở hạ tầng.

Ngoài ra, ông Antony cũng cho biết chính phủ đã tiến hành thúc đẩy quá trình phát triển các tàu ngầm bổ sung thuộc Dự án-75.

Để giải quyết sự thiếu hụt của hạm đội tàu ngầm vào năm 2011, Ấn Độ sẽ chi 11 tỷ USD để mở thầu toàn cầu cho xây dựng thêm 6 tàu thế hệ mới theo Dự án 75, ngay sau khi hợp đồng 6 tàu ngầm Scorpene hoàn thiện.

Hiện tại, Hải quân Ấn Độ đang biên chế và sử dụng 14 tàu ngầm diesel-điện, sau khi lực lượng này loại biên hai tàu ngầm lớp Foxtrot vào năm 2010.

Trong số 14 tàu ngầm của Hải quân Ấn Độ, có 10 tàu ngầm lớp Kilo của Liên Xô trước đây và số tàu ngầm còn lại là của công ty HDW, Đức.

Trong khoảng 15 năm tới, Ấn Độ dự kiến sẽ biên chế 12 tàu ngầm, thuộc Dự án 75. Trong đó, tàu ngầm đầu tiên trong số 12 chiếc sẽ được biên chế vào năm 2015, số còn lại được biên chế sau đó. Các tàu này là một phần của kế hoạch biên chế 30 tàu ngầm cho Hải quân Ấn Độ đã được phê duyệt vào những năm đầu của thập kỷ trước (2000-2010).

Tới năm 2015, số lượng tàu ngầm của Hải quân Ấn Độ có thể sẽ chỉ là một nửa trong số 14 tàu hiện tại, tức là khoảng 7 chiếc, vì hầu hết số tàu đó đã cũ và có thể sẽ bị loại biên trong 5 năm tới.

(Theo SIFY)

26/2/11

Hồi ký "Hồi ức và Suy nghĩ" của Trần Quang Cơ (Phần 7)

Hồi ức và Suy nghĩ - Trần Quang Cơ 

Ông Trần Quang Cơ
Bài học đầu tiên là Việt Nam đã bỏ lở cơ hội thiết lập bang giao với Hoa Kỳ khoảng cuối thập niên 1970 dưới thời tổng thống Carter. Sự việc thứ hai là sự cô lập ngoại giao của Việt Nam sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ phải tìm đến Trung quốc. Và thứ ba là Trung quốc đã lợi dụng lúc Việt Nam cô thế để chèn ép về ngoại giao, kinh tế, lãnh thổ, và ngay cả dùng ảnh hưởng len vào nội bộ nhân sự cao cấp.
Bài học chính mà ông Trần Quang Cơ muốn ghi lại là quan hệ với Trung quốc. Và người đọc có cảm tưởng rằng áp lực của Trung quốc đang đè nặng lên Việt Nam và ông lo sợ Trung quốc là mối đe dọa lớn cho nền an ninh của Việt Nam trong tương lai. Đến nay, những suy nghĩ đó vẫn còn có giá trị hiện thực về mối đe dọa, âm mưu từ Trung Quốc là rất lớn và nguy hiểm.

10. THUỐC ĐẮNG NHƯNG KHÔNG DÃ ĐƯỢC TẬT

Sáng 30.5.90, BCT họp bàn về đàm phán với Trung Quốc, TBT Nguyễn Văn Linh thông báo với Bộ Chính trị về cuộc họp với 2 TBT đảng Lào và đảng Campuchia ngày 20-21.5, nói ra dự định sẽ gặp đại sứ Trung Quốc và Từ Đôn Tín khi Từ đến Hà Nội. Cố vấn Phạm Văn Đồng và một số trong BCT tỏ ý phải thận trọng trong xử sự với Trung Quốc. Anh Tô nói: Mấy nghìn năm Trung Quốc vẫn là Trung Quốc, không nên cả tin. Ta cần thăm dò thúc đẩy nhưng phải cảnh giác, đừng để hớ. Đỗ Mười cũng khuyên anh Linh không nên gặp đại sứ Trung Quốc và Từ Đôn Tín trước cuộc đàm phán. Nhưng Lê Đức Anh lại tỏ ra đồng tình với dự định của anh Linh, cho rằng phải thăm dò và phân tích chiến lược của Trung Quốc, xử lý mối quan hệ của 3 nước lớn và 5 nước thường trực HĐBA, tranh thủ thế giới thứ ba, ủng hộ các nước XHCN. Đa số trong BCT đều cho rằng không nên nói đến “giải pháp Đỏ” với Trung Quốc nữa. Cuối cùng TBT Nguyễn Văn Linh kết luận lại là anh sẽ chỉ gặp đại sứ Trung Quốc, còn không gặp Từ Đôn Tín; về phía lãnh đạo ta, chỉ có anh Thạch tiếp Từ. Nguyễn Văn Linh còn nói khi gặp Trương Đức Duy anh sẽ chỉ nói về hợp tác hai nước và đề nghị gặp cấp cao, không nói đến “giải pháp Đỏ”. Nhưng trên thực tế trong cuộc gặp đại sứ Trung Quốc vài hôm sau, Nguyễn Văn Linh đã lại nêu vấn đề đó.

Ngày 5.6.90, vài ngày trước khi Từ Đôn Tín đến Hà Nội, TBT Nguyễn Văn Linh đã mời đại sứ Trương Đức Duy (vừa từ Bắc Kinh trở lại Hà Nội) đến Nhà khách Trung ương Đảng nói chuyện thân mật để tỏ lòng trọng thị đối với Bắc Kinh.36 Trong cuộc gặp, như để chấp nhận lời phê bình của Đặng (nói qua Kayson), Nguyễn Văn Linh nói “Trong quan hệ hai nước, 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa”. Anh sốt sắng ngỏ ý muốn sang gặp lãnh đạo Trung Quốc để “bàn vấn đề bảo vệ Chủ nghĩa xã hội” vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội... chúng âm mưu diễn biến hoà bình, mỗi đảng phải tự lực chống lại. Liên Xô là thành trì XHCN , nhưng lại đang có nhiều vấn đề. Chúng tôi muốn cùng các người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội... Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc gặp lãnh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay... Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin”. Về vấn đề Campuchia, anh Linh đã gợi ý dùng “giải pháp Đỏ” để giải quyết: “Không có lý gì những người cộng sản lại không thể bàn với những người cộng sản được”, “họ gặp Sihanouk còn được huống chi là gặp lại nhau”.

Sáng 6.6.90, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh lại gặp riêng và mời cơm đại sứ Trương Đức Duy. Cuộc gặp riêng chỉ giữa hai người, Trương Đức Duy vốn là thông dịch, rất thạo tiếng Việt nên không cần có người làm phiên dịch. Nội dung cuộc gặp này mãi đến ngày 19.6 trong cuộc họp BCT để đánh giá cuộc đàm phán 11-13.6 giữa tôi và Từ Đôn Tín, Lê Đức Anh mới nói là đã gặp Trương Đức Duy để nói cụ thể thêm ba ý mà anh Linh đã nói với đại sứ Trung Quốc hôm trước (gặp cấp cao hai nước; hai nước đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội; hai nhóm cộng sản Khmer nên nói chuyện với nhau). Nhưng trước đó, từ ngày 6.6, phía Trung Quốc (tham tán Lý Gia Trung và Bí thư thứ nhất Hồ Càn Văn) đã cho ta biết nội dung câu chuyện giữa Lê Đức Anh và Trương Đức Duy. Còn đại sứ Trung Quốc cho anh Ngô Tất Tố, Vụ trưởng vụ Trung Quốc biết là trong cuộc gặp ông ta ngày 6.6, anh Lê Đức Anh đã nói khá cụ thể về “giải pháp Đỏ”: “Sihanouk sẽ chỉ đóng vai trò tượng trưng, danh dự, còn lực lượng chủ chốt của hai bên Campuchia là lực lượng Heng Somrin và lực lượng Polpot, Trung Quốc và Việt Nam mỗi bên sẽ bàn với bạn Campuchia của mình, và thu xếp để hai bên gặp nhau giải quyết vấn đề. Địa điểm gặp nhau có thể ở Việt Nam, có thể ở Trung Quốc, nhưng ở Trung Quốc là tốt hơn cả. Đây là gặp nhau bên trong, còn bên ngoài hoạt động ngoại giao vẫn như thường... Ngày xưa Polpot là bạn chiến đấu của tôi...”

Trưa ngày 9.6.90, Đại sứ Trương Đức Duy nói với Vụ Trung Quốc Bộ Ngoại giao ta rằng, trong cuộc gặp TBT Nguyễn Văn Linh, phía Trung Quốc rút ra được 3 ý kiến:

Đồng chí Nguyễn Văn Linh nói về quan hệ hai nước rất đậm đà. Nói 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái sai như lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa. Muốn gặp cấp cao Trung Quốc để trao đổi những vấn đề lớn trong quan hệ hai nước.

Về tình hình quốc tế: tình hình Liên xô, Đông Âu có nhiều thay đổi. Liên Xô trước đây là thành trì của CNXH, nay thành trì này cũng lung lay rồi. Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ CNXH, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin. Việt Nam kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin. Những mgười cộng sản chân chính phải đoàn kết để bảo vệ CNXH. Chủ nghĩa đế quốc luôn tấn công vào CNXH. Chúng tuyên bố đến cuối thế kỷ này sẽ làm cho CNXH biến mất.

Về Campuchia: tại sao những người cộng sản không hợp tác với nhau ? Polpot và Hunxen phải hợp tác với nhau.

Chiều 10.6.90, Bí thư thứ nhất sứ quán Trung Quốc Hồ Càn Văn nói với anh Vũ Thuần, Vụ phó vụ Trung Quốc Bộ Ngoại giao: “Từ Đôn Tín tuy là trợ lý ngoại trưởng nhưng là người có thực quyền trong việc giải quyết các vấn đề châu Á. Trên khía cạnh nào đó có thể nói còn có thực quyền hơn cả cấp thứ trưởng. Việc Từ sang Việt Nam lần này là có sự quyết định của cấp cao nhất của Trung Quốc, chứ không phải Bộ Ngoại giao.”

Theo Hồ Càn Văn, ngày 23.5.90 Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam Vũ Xuân Vinh đã mời Tuỳ viên quân sự Trung Quốc Triệu Nhuệ đến để thông báo là TBT Nguyễn Văn Linh và Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh sẽ tiếp Từ Đôn Tín khi Từ đến Hà Nội. Chính những động thái bất thường và vượt ra ngoài khuôn khổ ngoại giao này của ta đã làm cho Trung Quốc hiểu rằng nội bộ Việt Nam đã có sự phân hoá và vai trò của Bộ Ngoại Giao không còn như trước.

Ngày 8.6.90, khi được biết là lần này tôi sẽ là người đứng ra thay anh Đinh Nho Liêm đàm phán với Từ Đôn Tín. Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh còn điện thoại dặn tôi tránh chủ động nói đến “giải pháp Đỏ”: Việc hai bên Đỏ tiếp xúc với nhau là chuyện lâu dài, cần cho ổn định lâu dài. Trung Quốc sẽ tác động với phía Campuchia thân Trung Quốc, ta sẽ tác động với phía Campuchia thân ta để hai bên kiềm chế việc thù địch nhau. Việc này phải có thời gian, không thể nhanh được, không thể đòi họ trả lời ngay. Đừng thúc họ, cứ để họ chủ động, khi nào trả lời được thì họ trả lời... Phải rất bí mật. Lộ ra rất nguy hiểm. Chỉ nói khi gặp riêng chứ không nói khi đàm phán. Việc anh Nguyễn Văn Linh đặt vấn đề với đại sứ Trương Đức Duy nói sẵn sàng đi Trung Quốc gặp cấp cao nhất, cũng không nên hỏi lại nếu họ chưa nói tới.” Những lời dặn dò này đối với tôi thực ra là không cần thiết, không phải vì tôi sẵn ý thức bảo mật cao, mà bởi vì ngay từ đầu tôi đã khó chịu với cái ý nghĩ gọi là “giải pháp Đỏ”, với ý nghĩ bắt tay với bọn diệt chủng – dù chỉ là gián tiếp - để làm vừa lòng Trung Quốc. Nhưng sự việc trở nên phức tạp khi trưa ngày 11.6.90 sau đàm phán phiên đầu với Từ Đôn Tín tôi về Bộ Ngoại Giao hội báo lại với anh Thạch. Anh Thạch lúc này đang họp Hội nghị ngoại giao đánh giá tình hình Đông Âu - Liên Xô. Nghe tôi phản ánh tình hình đàm phán xong, anh liền gạn hỏi tôi có nói với Từ về “giải pháp Đỏ” không. Tôi nói: “Đồng chí Lê Đức Anh đã dặn phải thận trọng tránh nói đến vấn đề đó khi đàm phán.” Anh Thạch vặn lại: “Vậy đồng chí nghe theo ý kiến bộ trưởng Quốc phòng hay ý kiến bộ trưởng Ngoại giao ?”. Tôi đáp: “Là cán Bộ Ngoại Giao, tôi sẵn sàng chấp hành ý kiến anh, với sự hiểu biết rằng anh nói với tư cách là uỷ viên Bộ Chính trị”. Lúc ấy tôi thật bất ngờ trước phản ứng của anh Thạch, nhưng đồng thời cũng cảm nhận được vết rạn nứt trong BCT đã khá sâu.

Phía Trung Quốc tất nhiên không để lọt hiện tượng này vì chính họ đang muốn tác động vào nội bộ ta. Chính thái độ quá đặc biệt, quá nhún mình và cũng quá sơ hở của lãnh đạo ta ngày 5 và 6.6.90 đã gây khó khăn không nhỏ cho ngoại giao ta trong đợt đàm phán này. Ngay từ hôm đầu đến Hà Nội và trong suốt mấy ngày đàm phán, Từ Đôn Tín luôn giở giọng cao ngạo, dùng uy lực của chính lãnh đạo ta để gây sức ép với cán bộ ngoại giao ta. Ngay trong lời đáp từ tại buổi tiệc của tôi chiêu đãi đoàn Trung Quốc tối 9.6.90, Từ đã nói: “Sau khi nghe đại sứ Trương Đức Duy báo cáo lại, tôi càng tăng thêm lòng tin tưởng, tôi tin rằng đồng chí thứ trưởng Trần Quang Cơ và các đồng chí ở Bộ Ngoại giao Việt Nam nhất định sẽ tuân theo ý nguyện và tinh thần của các đồng chí lãnh đạo Việt Nam, cụ thể hoá vào cuộc trao đổi với chúng tôi để chúng ta nhanh chóng giải quyết xong vấn đề”.

Vào phiên đàm phán đầu tiên, sáng 11.6.90, Từ đã tìm cách ghim lại những điểm có lợi cho Trung Quốc hoặc ít nhất cũng hợp với ý đồ của họ bằng cách nêu ra “5 nhận thức chung rất bổ ích” mà hai bên đã đạt được trong cuộc gặp ở Bắc Kinh đầu tháng 5.90:

“Hai bên đều cho rằng vấn đề Campuchia cần đạt được một giải pháp toàn diện, công bằng và hợp lý.

Phía Việt Nam bày tỏ đã rút hết quân khỏi Campuchia, chấp nhận sự kiểm chứng của LHQ và cam kết sẽ không quay lại Campuchia.

Hai bên đều cho rằng, trong thời kỳ quá độ ở Campuchia sau khi Việt Nam rút hết quân, chấm dứt viện trợ bên ngoài và thực hiện ngừng bắn, cần thành lập Hội đồng toàn quốc tối cao. Về nguyên tắc, hai bên chúng ta đều tán thành Hội đồng toàn quốc tối cao phải là cơ cấu quyền lực có thực quyền. Còn việc tổ chức Hội đồng đó thế nào, ý kiến của hai bên cơ bản nhất trí với nhau. Ứng cử viên của Hội đồng đó cụ thể là ai thì phải do các bên Campuchia lựa chọn. Trung Quốc, Việt Nam tôn trọng sự lựa chọn đó. Chúng ta tán thành Hội đồng toàn quốc tối cao không loại trừ bất cứ bên nào, cũng không để bên nào nắm độc quyền. Về Hoàng thân Sihanouk, hai bên đều chủ trương Hoàng thân Sihanouk làm Chủ tịch Hội đồng toàn quốc tối cao.

Vấn đề quân sự trong thời kỳ quá độ, hai bên đều cho rằng để tránh xảy ra nội chiến và giữ hoà bình ở Campuchia, cần có sự sắp xếp thoả đáng quân đội 4 bên Campuchia. Dĩ nhiên sắp xếp như thế nào, hai bên chúng ta cần bàn thêm.

Còn một điểm nữa, các đồng chí Việt Nam bày tỏ từ nay về sau sẽ không nhắc đến vấn đề diệt chủng, kể cả trong các văn kiện quốc tế cũng không nêu nữa”.

Vì vậy Từ đề nghị tập trung bàn hai điểm tồn tại của lần gặp trước là vấn đề phạm vi quyền lực của SNC và vấn đề lực lượng vũ trang của các bên Campuchia trong thời kỳ quá độ. Trong 3 ngày đàm phán, mỗi khi phía Trung Quốc thấy ta không chấp nhận yêu sách vô lý của họ về hai vấn đề thuộc nội bộ Campuchia này, nhất là khi ta kiên trì công thức “hai bên Campuchia” – tức là hai chính phủ PhnomPenh và chính phủ Campuchia Dân chủ, hoặc có thể nói “các bên Campuchia”, nhưng dứt khoát bác công thức “4 bên Campuchia” của họ mang hàm ý chấp nhận vai trò hợp pháp của bọn Khmer đỏ và nhắc đến thoả thuận Tokyo, thì Từ lại lên giọng chê trách tôi làm trái ngược ý kiến của lãnh đạo Việt Nam. Y đưa ra lập luận là lãnh đạo Việt Nam đã đưa ra ý “hợp tác giữa 2 phái cộng sản Khmer” tức là37 nhận từ “4 bên Campuchia” (có nghĩa là đưa Khmer đỏ lên ngang với Chính phủ PhnomPenh). Từ nói: “Phát biểu của các đồng chí không nên trái ngược với các đồng chí lãnh đạo Việt Nam. ý kiến của Bộ Ngoại giao nên nhất trí với ý của lãnh đạo cấp cao, không nên có hai tiếng nói trái ngược”. Tôi phải đưa Từ trở về vị trí của y: “Đồng chí có thể yên tâm, không cần lo hộ chúng tôi là Bộ Ngoại giao có tiếng nói khác Trung ương. Đảng chúng tôi nhất trí từ trên xuống dưới. Bộ Ngoại giao là một bộ phận chịu sự lãnh đạo chặt chẽ của Bộ Chính Trị chúng tôi”.

Về vấn đề Hội đồng Dân tộc Tối cao Campuchia, Trung Quốc kiên trì 3 điểm:
a. SNC phải là cơ quan chính quyền tối cao hợp pháp duy nhất, đại diện cho độc lập, chủ quyền, thống nhất của Campuchia. Về mặt đối ngoại, đại diện cho Campuchia trên quốc tế, giữ ghế của Campuchia ở LHQ; về mặt đối nội, thực hiện quyền lập pháp và quản lý hành chính, trực tiếp nắm các ngành quan trọng ảnh hưởng đến tổng tuyển cử tự do, công bằng gồm quốc phòng, ngoại giao, nội vụ, tuyên truyền, tài chính (với hiểu ngầm là xoá 5 bộ này của chính quyền PhnomPenh).
b. Không loại bên nào (tức là không loại Khmer Đỏ), không bên nào độc quyền.
c. Thành phần, số lượng do 4 bên Campuchia bàn bạc và quyết định. Sihanouk làm chủ tịch SNC (thực chất là bác bỏ Thông cáo chung Tokyo đã thoả thuận là Hội đồng gồm 12 người, chia đều cho 2 bên, mỗi bên 6 người).

Tôi khẳng định SNC có trách nhiệm và quyền lực trong việc thực hiện các hiệp định được ký kết về Campuchia, về hoà giải dân tộc và về tổng tuyển cử; hai chính quyền hiện tồn tại không được làm việc gì cản trở trách nhiệm và quyền lực trên đây của SNC. Còn việc các bên Campuchia chấp nhận ý kiến của Trung Quốc đến đâu là quyền của các bên Campuchia, Việt Nam và Trung Quốc không thể thay các bên Campuchia sắp đặt việc nội bộ của Campuchia.

Về vấn đề lực lượng vũ trang, Trung Quốc đòi ghi vào biên bản thoả thuận: quân đội của 4 bên Campuchia phải tập kết vào những địa điểm của uỷ ban giám sát của LHQ chỉ định. Còn việc giảm quân hay giải pháp thì để cho SNC hoặc chính phủ sau bầu cử quyết định.

Tôi nói: “Việt Nam tôn trọng thoả thuận giữa các bên Campuchia ở Tokyo là lực lượng vũ trang ở đâu đóng đó. Nguyên tắc về lực lượng vũ trang các bên Campuchia là chấm dứt nội chiến càng sớm càng tốt, duy trì ngừng bắn, không can thiệp vào đời sống chính trị, không can thiệp vào tổng tuyển cử để bảo đảm cho tổng tuyển cử được thực sự tự do và công bằng. Còn các biện pháp để thực hiện các nguyên tắc trên sẽ do các bên Campuchia thoả thuận với nhau”.

Sau khi tỏ phản ứng về lập trường của ta, Từ nói: “Tôi muốn nói thật rằng nếu lần này chúng ta đi một bước không hay thì sẽ có hậu quả sau này. Không những hai chúng ta thất vọng mà kết quả còn trái ngược với nguyện vọng của đồng chí TBT Nguyên Văn Linh và các đồng chí lãnh đạo khác nói với chúng tôi. Chúng ta đang ở ngã ba đường, lựa chọn thế nào ? Thời gian không cho phép. Trung tuần tháng 7, 5 nước Hội đồng bảo an họp lại. Trung Quốc không thể không tỏ thái độ. Nếu Trung Quốc và Việt Nam không đạt được kết quả giải quyết vấn đề Campuchia thì lòng mong muốn của chúng ta sẽ chịu hậu quả lớn.”

Như để thuyết phục ta chấp nhận lập trường của họ, Từ đưa ra dự kiến của Trung Quốc giải quyết vấn đề Campuchia theo 5 bước:
Trung – Việt đạt được thoả thuận về giải pháp vấn đề Campuchia và ghi nhận lại bằng một biên bản nội bộ;
Họp ngoại trưởng 5 nước Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Inđônêxia, Lào và ra tuyên bố chung;
Họp hội nghị có tính chất khu vực giữa 5 nước trên và 4 bên Campuchia;
Họp 5 nước Hội đồng Bảo an và 4 bên Campuchia.
Họp hội nghị quốc tế Paris về Campuchia.

Từ nói chỉ trao đổi nội bộ với ta dự kiến này ở đây, không nói với 4 nước uỷ viên thường trực HĐBA, cũng không nói với Liên Xô để tránh sự quấy nhiễu của bên ngoài. Tôi tránh bình luận cụ thể, chỉ nói đây là một gợi ý thú vị, rất đáng suy nghĩ, song cần làm sao cho bước khởi động của chúng ta ở đây có kết quả thì toàn bộ kế hoạch mới có khả năng triển khai được.

Chiều ngày 12.6.90, theo yêu cầu của phía Trung Quốc, đã có cuộc họp hẹp giữa hai trưởng đoàn. Qua đó Từ nhờ tôi chuyển tới lãnh đạo Việt Nam trả lời của lãnh đạo Trung Quốc về những ý kiến mà Nguyễn Văn Linh và Lê Đức Anh đã nói với đại sứ Trung Quốc ngày 5 và 6.6.90: “Lãnh đạo Trung Quốc rất coi trọng quan hệ Trung – Việt, Lãnh đạo Trung Quốc cũng rất coi trọng những ý kiến TBT Nguyễn Văn Linh và đồng chí Lê Đức Anh đã nói với đại sứ Trương Đức Duy. Phía Trung Quốc cho rằng quan hệ Trung–Việt sớm muộn cũng sẽ bình thường hoá. Hai bên đều cần cùng nhau cố gắng để thực hiện. Vấn đề Campuchia, cuộc chiến tranh Campuchia đã kéo dài hơn 10 năm. Đây là vấn đề toàn thế giới quan tâm, các nước trong khu vực, nhất là ASEAN, cũng rất quan tâm. Đối với hai nước Trung Quốc và Việt Nam, nhiệm vụ cấp bách cần giải quyết hiện nay là trên cơ sở những nhận thức chung đã đạt được, tiếp tục trao đổi ý kiến về hai vấn đề tồn tại (vấn đề quyền lực của Hội Đồng tối cao và việc xử lý quân đội của các bên Campuchia), làm sao cho có tiến triển hai vấn đề này. Nếu được như vậy, chúng ta sẽ góp phần vào việc thực sự giải quyết vấn đề Campuchia. Bước đi này là hết sức quan trọng. Chỉ có đi xong bước này, chúng ta mới có thể suy nghĩ đến những bước sau. Cũng có nghĩa là chỉ có đi xong bước này lãnh đạo Trung Quốc mới suy nghĩ về việc gặp cấp cao và việc thúc đẩy hai phái cộng sản Khmer hoà giải với nhau”.

Nghe Từ đọc xong, tôi hỏi lại: “Như vậy có phải là chỉ sau khi giải quyết xong vấn đề quyền lực của SNC và vấn đề lực lượng vũ trang Campuchia thì Trung Quốc mới nghĩ đến việc gặp cấp cao ?” Từ khẳng định đúng là như vậy và nói thêm: “Giải quyết hai vấn đề đó có nghĩa là Trung Quốc và Việt Nam đã nhất trí cơ bản về việc giải quyết vấn đề Campuchia, sẽ làm thành biên bản chung ghi các điều đã nhất trí làm cơ sở để thúc đẩy giải quyết vấn đề Campuchia, tác động đối với bạn bè mỗi bên và mở đầu quá trình bình thường hoá quan hệ hai nước”. Từ nói: “Nhất quyết phải giải quyết xong hai điểm tồn tại đó để có được giải pháp toàn bộ, không nên vượt qua vấn đề Campuchia. Giải quyết xong vấn đề Campuchia thì các bước tiếp theo về gặp gỡ cấp cao và bình thường hoá quan hệ giữa hai nước sẽ dễ giải quyết”.

Ngay sau đó, tôi sang gặp thủ tướng Đỗ Mười báo cáo tình hình cuộc đàm phán để chuẩn bị cho việc anh ấy tiếp Từ Đôn Tín chiều hôm sau như đã dự định. Tôi nói: “Chỉ với việc anh Linh và anh Lê Đức Anh gặp Trương Đức Duy trước khi Từ Đôn Tín tới Hà Nội đã làm cho phía Trung Quốc lên giọng trong đàm phán, nay nếu anh Linh hoặc anh Mười lại tiếp hắn nữa thì rất không nên”. Nghe tôi trình bày xong, Đỗ Mười bảo sở dĩ anh nghĩ đến chuyện gặp Từ là vì sáng 10.6.90, Lê Đức Anh đến yêu cầu Đỗ Mười gặp Từ, nay như vậy thì không cần gặp nữa. Đỗ Mười bảo tôi cùng đi ngay sang báo cáo sự tình với TBT Nguyễn Văn Linh vì anh Linh cũng dự định tiếp Từ. Sau khi nghe tôi trình bày, có một phút lặng đi, tôi nghĩ bụng TBT chắc bị bất ngờ về những câu trả lời quá ư lạnh nhạt của lãnh đạo Trung Quốc đối với những điều tâm huyết mà anh và Lê Đức Anh đã thổ lộ với đại sứ Trương Đức Duy. Rồi anh Linh cho ý kiến là trong tình hình này anh Mười hoặc một cấp cao khác của ta không cần tiếp Từ Đôn Tín nữa.

Ba ngày đàm phán với Từ nói chung là căng, nhưng giông tố chỉ nổ ra khi Từ Đôn Tín đến chào Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch chiều 13.6.90 trước khi đoàn Trung Quốc rời Hà Nội. Ngay từ đầu không khí trò chuyện đã không lấy gì làm mặn mà lắm. Nhưng đến khi Từ nói: “Các đồng chí nói chúng ta nên khuyên hai phái cộng sản Campuchia hoà giải với nhau, [nói đó là mong muốn chân thành của Việt Nam. Nhưng trên thực tế, các đồng chí cố sức tiêu diệt Khmer Đỏ. Nếu lãnh đạo Việt Nam muốn có sự hoà giải giữa hai nhóm cộng sản Khmer thì lẽ dĩ nhiên phải chấp nhận “4 bên”.]38 Chúng tôi không thể hiểu được trong hai giọng nói đó, cái nào là thật, cái nào là giả. Nghe tiếng nói này thì tiếng nói kia là giả dối, nghe tiếng nói kia thì tiếng nói này là giả dối. Mong rằng sau này các đồng chí không nên làm như vậy”, anh Thạch đã phản ứng mạnh: “Chúng tôi không đòi các đồng chí nói chỉ có hai bên Campuchia; các đồng chí cũng không thể đòi chúng tôi nói 4 bên. Chúng tôi nói các bên, không loại bỏ bên nào là đủ rồi. Nếu nói khác đi là chống lại Hội nghị Tokyo. Tôi nói thật, dùng thủ đoạn xuyên tạc thì rất khó đàm phán... Tôi rất trọng đồng chí nhưng rất không hài lòng với những điều đồng chí nói vì đồng chí có những xuyên tạc. Như thế rất khó đàm phán”. Cuộc nói chuyện kết thúc bằng câu “Chào Ngài ! ” của Từ Đôn Tín. Và anh Thạch cũng đáp lại bằng từ đó thay vào từ “đồng chí”.
Tôi không có mặt trong buổi anh Thạch tiếp Từ Đôn Tín, nhưng khi nghe kể lại chuyện đó tôi không hề ngạc nhiên. Tôi nhớ như in cái giọng ngạo mạn kiểu “sứ giả thiên triều” của Từ trong buổi gặp ngày 13.6.90: “Lần này tôi sang Hà Nội chủ yếu để bàn với các đồng chí Việt Nam về vấn đề Campuchia, đồng thời cũng xem xét nguyện vọng của các đồng chí, chúng tôi đã chuẩn bị ý kiến về quan hệ hai nước Trung Quốc - Việt Nam”. Khi nói “nguyện vọng của các đồng chí” là Từ muốn nói đến những điều mà Anh Linh và Lê Đức Anh đã nói với đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy ngày 5 và 6.6.90. Đây là cuộc đàm phán giữa hai quốc gia bình đẳng, làm sao Trung Quốc có thể nói đến chuyện “xem xét nguyện vọng” của lãnh đạo Việt Nam được. Thêm vào đó, tâm trạng Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch trong những ngày này lại đang nặng chĩu những suy tư khác.

Sau khi xảy ra va chạm giữa Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch và trưởng đoàn Trung Quốc Từ Đôn Tín, sức ép vào nội bộ ta càng mạnh hơn: suốt nửa cuối 1990 đến 1991, Trung Quốc phớt lờ Bộ Ngoại giao, chỉ làm việc với Ban Đối ngoại; Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham từ chối gặp Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch tại kỳ họp Đại hội Đồng LHQ ở Nữu-ước tháng 9.90. Trước đó, ý đồ Trung Quốc phân hoá nội bộ ta đã bộc lộ rõ: muốn ta phải thay đổi Bộ trưởng Ngoại giao. Không chỉ thế, Trung Quốc còn lợi dụng sự cả tin của lãnh đạo ta để phá hoại uy tín đối ngoại của ta bằng cách dùng thủ đoạn cố ý lộ tin ra với các nước.

Liều thuốc của Tàu bốc cho ta thật là đắng, thế nhưng đâu có dã được tật !

Chú thích:
36 Phần [ ], bản 01 viết: [Đây cũng là lần đầu tiên trong 10 năm qua, Tổng Bí thư Đảng ta tiếp đại sứ Trung Quốc để tỏ sự trọng thị đối với Bắc Kinh.]
37 bản 01 thêm: [đã công nhận Khmer Đỏ là 1 trong 4 bên Campuchia. Trong phiên họp 13.6.90, khi tôi không chấp]
38 Phần [ ], bản 01 viết: [nhưng lại không chấp nhận có “4 bên” Campuchia].

Kỳ sau:  BỘ CHÍNH TRỊ ĐÁNH GIÁ CUỘC ĐÀM PHÁN THÁNG 6.90

      Đón đọc: Hồi ký "Hồi ức và Suy nghĩ" của  Trần Quang Cơ (Phần 8)
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...