Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"
Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

15/3/13

Tại sao Trung Quốc đánh chiếm các đảo của Việt Nam vào tháng 3.1988?

(TNO) Từ đầu năm 1988, Trung Quốc đã sử dụng một lực lượng lớn hải quân gồm nhiều tàu chiến chiếm đóng một loạt đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Đảo Gạc Ma đã bị quân Trung Quốc đánh chiếm vào ngày 14.3.1988 - Ảnh: D.Đ.Minh

Cao trào của hành động xâm lược này diễn ra vào ngày 14.3.1988 khi biên đội gồm 6 tàu chiến, trong đó có 3 tàu hộ vệ có trang bị tên lửa và pháo 100 mm, của Trung Quốc đã bắn chìm và cháy 3 tàu vận tải của Việt Nam tại bãi đá ngầm Gạc Ma trong cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.

Trong vụ thảm sát này, 64 binh sĩ Việt Nam đã anh dũng hy sinh. Sau đó Trung Quốc còn ngăn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu những người bị thương, bị nạn.

Điều phải lưu ý là đây là lần đầu tiên người Trung Quốc (lục địa) đặt chân đến Trường Sa. Trước đó, với tư cách quan phương, Trung Quốc chưa bao giờ có mặt ở vùng biển này.

Tàu HQ505 đã lao lên bãi ngầm ở đảo Cô Lin cắm cờ khẳng định chủ quyền Tổ quốc vào ngày 14.3.1988 - Ảnh: tư liệu


Đã một phần tư thế kỷ trôi qua, từ sự kiện 14.3.1988, có những điều cần phải nói rõ như sau:

Đầu tiên, ngay sau ngày 14.3.1988, thông qua hệ thống tuyên truyền khổng lồ của mình, Trung Quốc đã ngang nhiên bịa đặt trắng trợn với dư luận trong nước và quốc tế rằng: Các tàu Trung Quốc đang thả neo để yểm trợ cho tàu chở đoàn các nhà khoa học Liên Hiệp Quốc (LHQ) đi khảo sát khoa học tại Trường Sa thì bị các tàu chiến của Việt Nam tấn công. Vì thế hải quân Trung Quốc bắt buộc phải đánh trả tự vệ!

Sau đó thông qua người phát ngôn của Tổng thư ký, LHQ đã nói rõ: không hề có tàu của LHQ tổ chức khảo sát khoa học ở Trường Sa vào 3.1988!

Rõ là “cháy nhà ra mặt chuột” và chính quyền Trung Quốc đã “lấy thúng úp voi”, đã “lấy thịt đè người” lại còn muốn lấy tay che mặt trời!

Đã không có tàu khảo sát khoa học của LHQ thì chắc chắn không có việc tàu chiến Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc. Điều mà nhiều người đều biết đó là chuyện “ngậm máu phun người” là sở trường của các nhà cầm quyền Trung Quốc.

Trước đó, năm 1962 Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới với Ấn Độ và chiếm của Ấn Độ hàng nghìn km2 nhưng lại vu cáo Ấn Độ xâm lược Trung Quốc. Năm 1979, Trung Quốc tiếp tục đem 60 vạn quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Bắc. Sự việc rõ ràng như vậy nhưng cũng được họ tuyên truyền là “phản kích tự vệ quân Việt Nam xâm lược”!


Lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh ngày 14.3.1988 tại Cam Ranh (Khánh Hòa) - Ảnh: tư liệu

Thứ hai, có một câu hỏi cần đặt ra là, tại sao Trung Quốc lại tiến hành đánh chiếm các đảo của Việt Nam tại Trường Sa vào tháng 3.1988?

Cuối 1987 đầu 1988 là thời kỳ Việt Nam rơi xuống điểm thấp nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Tình hình trong nước chồng chất khó khăn: kinh tế đình đốn, đời sống của đại đa số người dân cực kỳ vất vả.

Cũng trong thời điểm đó, Liên Xô cũng bắt đầu lâm vào khủng hoảng chính trị - xã hội. Bắc Kinh cúi mình trước Washington, tự nhận là “NATO phương Đông” để nhận được nguồn tài chính và công nghệ, kỹ thuật từ Mỹ và phương Tây để phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa. Trong bối cảnh ấy, Trung Quốc cũng đã câu kết với Mỹ và hầu hết các nước trong khu vực (trừ Lào và Campuchia) siết chặt vòng bao vây, cấm vận đối với Việt Nam.

Lợi dụng tình thế khó khăn đó của Việt Nam, Trung Quốc đánh chiếm một số đảo của Việt Nam tại Trường Sa phục vụ cho ý đồ lâu dài.

Trung Quốc cũng là bậc thầy trong việc lợi dụng thời điểm. Mặc dù đã đưa lực lượng ra Trường Sa và có những hoạt động đe dọa từ đầu năm 1988, nhưng thời điểm được Trung Quốc lựa chọn nổ súng rơi đúng vào 14.3.1988 cũng là thời điểm lễ tang Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng được tổ chức tại Hà Nội! Một khi họ đã có dã tâm thì chuyện “tang gia bối rối” lại trở thành điều có thể lợi dụng được!

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc - Ảnh: Chiến sĩ canh gác trên đảo Len Đao (quần đảo Trường Sa) - Ảnh: D.Đ.Minh


Câu chuyện xảy ra ngày 14.3.1988 tại Trường Sa đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Sự hy sinh của những người lính Việt Nam 25 năm trước là một lời nhắc nhở tới 90 triệu người đồng bào hôm nay, trước hết là những người có trọng trách với dân tộc, không bao giờ được quên 3 điều:

Một là, lòng tin phải được đặt đúng chỗ. Đối với Trung Quốc, điều quan trọng không phải là lời nói mà là hành động. Các đấng quân vương Trung Hoa từ xưa đến nay và từ nay về sau đều là những bậc thầy về nghệ thuật “nói một đàng làm một nẻo”. Tin vào những điều mà giới lãnh đạo cấp cao ở Bắc Kinh nói không khác gì chuyện “gửi trứng cho ác”!

Hai là, cần phải hiểu về con đường mà Trung Quốc lựa chọn. Những toan tính và hành động của Trung Quốc liệu có phải là một quốc gia cộng sản đồng chí như họ từng miêu tả hay thực tế là chính sách dân tộc nước lớn vị kỷ?

Việc vô cớ đem quân đánh chiếm các đảo của một quốc gia láng giềng, bất kể quốc gia đó phát triển theo đường lối nào cũng là đi ngược lại những nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế và phản bội đối với chủ nghĩa Marx - Lênin mà Trung Quốc từng sử dụng như một chiêu bài.

Láng giềng là vĩnh viễn và không bao giờ thay đổi, trừ phi có một trận siêu động đất đẩy hai quốc gia ra xa nhau!

Việt Nam cần và mong muốn có một mối quan hệ hữu nghị, ổn định, lâu dài với Trung Quốc. Tuy nhiên quan hệ ấy cần được đặt trong sự tôn trọng lẫn nhau về nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề “bất biến” là chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc. Không tỉnh táo nhận thức được điều này, lệ thuộc vào những yếu tố “ứng vạn biến” như “mười sáu chữ”, “bốn tốt” có thể dẫn đến những bước đi sai lầm mang lại hậu quả lớn cho quốc gia, dân tộc!

Chúng ta đã có được bài học đắt giá khi rơi vào cảnh bị cô lập trên trường quốc tế từ 1979-1990. Bài học ấy cùng với sự kiện 14.3.1988 mách bảo chúng ta rằng bị cô lập không đồng nghĩa với có độc lập, mà ngược lại, bị cô lập sẽ dẫn đến thảm họa, thậm chí mất cả độc lập và chủ quyền quốc gia.

Các nhà sử học Việt Nam chân chính và những người Việt có lương tâm trong sáng sẽ còn mất nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, mổ xẻ, soi xét sự kiện 14.3.1988 một cách khách quan để rút ra bài học bổ ích cho những người Việt hiện nay và các thế hệ mai sau.

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thuộc sở hữu riêng của riêng ai. Nó là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc.

Liêm Thạch

13/1/13

Cận cảnh 150 bản đồ chủ quyền biển đảo vừa về đến Việt Nam

(Thethaovanhoa.vn) - Ngày 8/1, Viện phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng tổ chức họp báo công bố mở thùng bản đồ và atlas do anh Trần Thắng từ Mỹ gửi về đợt 2.

Bản đồ 56 dân tộc Trung Hoa in năm 1980, không có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
 
150 bản đồ - chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Đợt 2 này gồm có 43 bản đồ lãnh thổ Trung Quốc, bản đồ chỉ ra Hoàng Sa thuộc Việt Nam và 1 sách atlas Trung Hoa bưu chính dư đồ 1919 do Bộ Giao Thông Trung Hoa Dân Quốc phát hành tại Nam Kinh. Đây là sách atlas đầu tiên do nhà nước Trung Hoa phát hành với số lượng nhỏ. Sách được rao bán trên mạng Ebay với giá 9.000 USD. Sách nằm tại Ba Lan, anh Trần Thắng trả giá còn 5.000USD.

Như vậy, đến thời điểm này, 150 bản đồ và 3 tập atlas khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã về đến Việt Nam an toàn. Trong đó, có 110 bản đồ gốc và 40 bản đồ tái bản, gồm:

- 80 bản đồ do phương Tây in từ năm 1626 đến năm 1980 xác nhận lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam. “Quan trọng nhất là 2 bản đồ in năm 1980: Bản đồ dầu khí của Trung Quốc và Bản đồ về 56 dân tộc Trung Hoa, cả hai bản đồ này không thấy chỉ ra Trung Quốc có Hoàng Sa và Trường Sa. Điều đó chứng tỏ, đến tận thời điểm năm 1980, mới chỉ cách đây có hơn 30 năm, trên bản đồ của Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa”, tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn - Viện phó Viện phát triển kinh tế- xã hội Đà Nẵng - phân tích.

- 50 bản đồ thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa nằm sát lãnh thổ Việt Nam

- 10 bản đồ hàng hải thể hiện Hoàng Sa và Trường San ằm trong vùng lãnh hải của ViệtNam

- 10 bản đồ tổng thể châu Á và Đông Nam Á có thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong vùng lãnh hải của Việt Nam.

3 sách alats Trung Quốc không có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

3 tập atlas gồm Trung Quốc địa đồ 1908, Trung hoa bưu chính dư đồ 1933 và Trung hoa bưu chính dư đồ 1919. Atlas of the Chinese Empire - Trung Hoa địa đồ, xuất bản năm 1908, bằng tiếng Anh. Atlas này gồm 1 bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và 22 bản đồ vẽ các tỉnh của Trung Quốc. Các bản đồ đều có kích thước 31cm x 41cm. Đây là atlas chính thức, được in lần đầu tại Trung Quốc với số lượng in giới hạn, do The China Inland Mission, có trụ sở ở Thượng Hải (Trung Quốc), London (Anh), Philadenphia (Hoa Kỳ), Toronto (Canada) và Melburn (Australia), biên soạn và phát hành với sự giúp của Tổng cục Bưu chính của nhà Thanh Triều và sự trợ giúp kỹ thuật của một người Anh tên là Edward Stanford. Anh Trần Thắng tặng cho Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng tập atlas này và 1 tập Trung Hoa bưu chính dư đồ 1919.

Atlas Postal de Chine - Trung Hoa bưu chính dư đồ - Postal Atlas of China, cũng do Tổng cục Bưu chính, thuộc Bộ Giao thông của Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh vào năm 1933. Atlas này in bằng 3 thứ tiếng: Trung - Anh - Pháp, gồm 1 bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và 29 bản đồ vẽ các tỉnh của Trung Quốc. Các bản đồ trong atlas này đều có kích thước 61cm x 71 cm. Tấm bản đồ số 23 trong atlas này là bản đồ Quảng Đông, bao gồm cả đảo Hải Nam, nhưng do hạn chế kích thước nên không thể in đảo Hải Nam trên bản đồ này. Vì thế, người ta đã in thêm đảo Hải Nam vào góc trái của tấm bản đồ số 23 này. Atlas này được chuyển cho UBND huyện Hoàng Sa.

Về Đà Nẵng trong đợt 2 này là Atlas Postal de Chine - Trung Hoa bưu chính dư đồ - Postal Atlas of China, do Tổng cục Bưu chính, thuộc Bộ Giao thông của Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh năm 1919, cũng được in bằng 3 thứ tiếng: Trung - Anh - Pháp, gồm 1 bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và 46 bản đồ vẽ các tỉnh của Trung Quố, đều có kích thước 61cm x 71 cm.

Các atlas này là sản phẩm của chương trình thiết lập bản đồ bưu chính do nhà Thanh vạch ra vào năm 1906 và được chính phủ Trung Hoa dân quốc kế tục vào các năm sau đó. Các bản đồ được lập chi tiết ở từng tỉnh, thể hiện rõ các con đường vận chuyển thư từ, công văn trong các tỉnh, thành của Trung Quốc. Nơi nào không thuộc Trung Quốc thì không được thể hiện trong các bản đồ trong atlas. Vì thế mà cương giới cực Nam của Trung Quốc trong các sách atlas này luôn chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam, mà không đả động gì đến Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Điều này chứng tỏ rằng cho đến khi nhà Thanh phát hành atlas này vào năm 1908 và sau này chính quyền Trung Hoa dân quốc tái bản các sách atlas này vào các năm 1919 và 1933, thì hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vẫn nằm ngoài cái gọi là “chủ quyền lịch sử” phi pháp của Trung Quốc.

150 bản đồ và 3 sách atlas sẽ được đem ra triển lãm trong thời gian sớm nhất để người dân có điều kiện trực tiếp chiêm ngưỡng.

Dưới đây là hình ảnh những bản đồ và atlas thể hiện chủ quyền biển đảo của Việt Nam mà Thethaovanhoa.vn ghi lại được:

Điểm cực nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam

Cuốn Atlas of the Chinese Empire - Trung Hoa địa đồ, xuất bản năm 1908

Các lãnh đạo đang bóc từng lớp giấy bọc bên ngoài bản đồ trong sự hồi hộp của mọi người

Cuốn atlas về đợt 2, Atlas Postal de Chine - Trung Hoa bưu chính dư đồ- Postal Atlas of China, 1919

Hồng Thúy

24/7/12

Những trận đánh khiến người phương Bắc kinh hồn bạt vía

(VTC News) - Đất nước Việt Nam nhỏ bé mà anh hùng. Trải ngàn năm Bắc thuộc mà không quỳ gối. Những quốc gia hùng mạnh nhất thế giới cũng bị đánh đuổi. Người Việt Nam hiền hậu, nhưng hàng ngàn năm qua chẳng mấy khi được yên bình.

VTC News xin giới thiệu loạt bài viết của Nhà sử học Đặng Hùng, để chúng ta thêm tự hào về tổ tiên anh dũng của mình.

Bài 1: Nhà Tống muối mặt vì thất bại ê chề

Từ khi có lịch sử dân tộc, mở đầu bằng quốc gia Văn Lang, dân tộc ta đã kiên cường, bền bỉ chinh phục thiên nhiên, khai phá đất hoang, quai đê lấn biển và chống sự xâm lược của ngoại bang để tiếp tục sống và phát triển, bảo vệ quê hương đất nước.

Vua Lê Thánh Tông xưa đã từng căn dặn quần thần: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vất bỏ... Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ (Vua Lê Lợi) mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di...” (ĐVSKTT-T2-NXBVHTT-Tr.344).

Thông qua những trang ghi chép của thư tịch cổ, chúng ta có quyền tự hào về truyền thống anh hùng bất khuất trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, xử lý khôn khéo, lúc cương lúc nhu trong chính sách đối ngoại của tổ tiên xưa.

Tượng Lý Thường Kiệt trong Đại Nam Quốc Tự.

Mỗi khi đất nước có họa xâm lăng thì nhân dân ta lại đoàn kết một lòng với tinh thần “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” và “Không có gì quý hơn độc lập tự do” (Hồ Chí Minh).

Tên tuổi của các vị vua, các vương triều, các danh tướng gắn liền với các trận đánh lịch sử oai hùng, với các địa danh: Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử, Chi Lăng, Đống Đa... đã khiến cho quân xâm lược tháo chạy về tới cố quốc mà còn tim đập chân run, nghe tiếng trống đồng mà lòng khiếp sợ đến bạc tóc trên đầu.

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ biểu dụ tướng sĩ trước khi ra Bắc đánh đuổi 20 vạn quân nhà Thanh vào năm 1788 – 1789: “Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng/ Đánh cho chúng chích luân bất phản/ Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn/ Đánh cho sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Đưa quân sang phương Bắc tập kích kẻ xâm lược

Năm Kỷ Dậu (1009), Vương Triều Lý do Vua Lý Công Uẩn lãnh đạo đã thay nhà tiền Lê mở đầu kỷ nguyên mới của Quốc gia Đại Việt, đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của nước ta với việc dời đô từ Hoa Lư về kinh thành Thăng Long (1010).

Thời kỳ đó nhà Tống đã làm chủ Trung Quốc, nhưng luôn bị các nước nhỏ là Liêu, Hạ xâm lấn. Vua quan nhà Tống chủ trương đánh nước ta ở phía Nam để gây thanh thế và sức mạnh, khiến có thể quay lại đánh thắng Liêu, Hạ ở phía Bắc sau này.

Nhà Tống mua chuộc chia rẽ các dân tộc miền núi với nhân dân miền xuôi, cắt quan hệ buôn bán với Đại Việt, cho người đóng thuyền, tích trữ lương thực, luyện tập thủy quân, gây rối biên giới, lôi kéo Chiêm Thành nhằm uy hiếp và tấn công xâm chiếm nước ta.

Ngôi mộ ở Hưng Yên nghi của Lý Thường Kiệt. Ảnh: Phạm Ngọc Dương.

Các châu Ung – Khâm – Liêm (thuộc Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay) trở thành căn cứ quan trọng, nơi tập trung quân đội, lương thực, khí giới của quân Tống chuẩn bị cho cuộc tấn công Đại Việt vào năm 1075.

Trước âm mưu và hành động xâm lược ngày càng rõ rệt của giặc Tống, Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt chủ trương: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước chặn thế mạnh của giặc...”. Triều đình nhà Lý đồng ý với chủ trương triệt phá âm mưu xâm lược của nhà Tống ngay khi còn trong “trứng nước”. Vua Lý Nhân Tông “sai Lý Thường Kiệt và tướng Tôn Đản đem hơn 10 vạn binh đi đánh; đường thủy, đường bộ đều tiến” (ĐVSKTT-Tr.328).

Trước tiên Lý Thường Kiệt vạch ra kế hoạch dùng 4 vạn quân (phần lớn là thổ binh tấn công giặc ở biên giới, nhằm thu hút lực lượng địch). Sau đó cho 6 vạn quân vượt biển, bất ngờ đổ bộ đánh chiếm các cảng Khâm (Khâm Châu), Liêm (Hợp Phố) rồi sau đó tiến về thành Ung Châu (Nam Ninh) hợp với đạo quân từ biên giới theo hướng huyện Vĩnh Bình đánh sang.

Ngày 15/9 (20/6/1075) suốt dọc biên giới từ Quảng Yên (Cao Bằng) tới Vĩnh An (Móng Cái) quân ta bất ngờ tấn công phá hủy tất cả đồn trại và tiêu diệt nhiều binh lính, tướng lĩnh địch. Bị đánh đòn sấm sét phủ đầu, quân Tống không kịp đối phó, phần thì bị quân ta tiêu diệt, phần thì buông vũ khí đầu hàng hoặc bỏ chạy.

Ngày 20/10 (30/12/1075) đại quân ta đổ bộ lên Cảng Khâm (cánh quân thủy), địch lại hoàn toàn bị bất ngờ, nhanh chóng bị tiêu diệt hoàn toàn. 4 ngày sau một cánh quân khác của ta đổ bộ bất ngờ vào cảng Liêm, hạ luôn thành này. Từ Châu Liêm một bộ phận quân ta tiến về phía thành Ung Châu nhằm ngăn chặn và tiêu diệt viện binh giặc từ phía Đông và phía Bắc kéo tới.

Trên hai hướng, 10 vạn quân Đại Việt tiến sâu vào đất Tống với mục tiêu chính là triệt phá căn cứ thành Ung Châu với danh nghĩa chỉ đánh quân Tống để giữ nước và đồng thời nhân đó giúp đỡ những người dân nghèo khổ (nhân dân Tống) bị triều đình nhà Tống bóc lột, nên quân đội Đại Việt đã tranh thủ được sự cảm tình và ủng hộ của nhân dân nước Tống ở các thành trên.

Ngày 10 tháng Chạp (18/1/1076), đại quân ta vây chặt thành Ung Châu. Đoán chắc địch có thể từ phía Bắc cứu viện thành Ung Châu, trong lúc đang vây thành, Lý Thường Kiệt đã bí mật phái một đạo quân tiến lên phía Côn Lôn Quan (cách Ung Châu khoảng 40km về phía Bắc – nay là phủ Nam Ninh, tỉnh Quảng Đông) để chặn địch từ Quế Lâm kéo xuống.

Đúng như dự đoán, Đô giám Quảng Tây (Nhà Tống) là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu, bị quân đội Đại Việt phục kích, bất ngờ tấn công, chém Thủ Tiết chết tại trận, khiến quân giặc hoảng sợ tháo chạy tán loạn.

Ngày 4 tháng Giêng (sau 42 ngày vây hãm giặc – quân ta dùng bao đất chồng lên cao ngang mặt thành – do đó đã tiến quân được vào thành và hạ thành Ung Châu, tiêu diệt và bắt sống nhiều quân địch).

Sau khi đã phá tan căn cứ hậu cần quan trọng của giặc, làm phá sản kế hoạch đánh úp nước ta của nhà Tống, Lý Thường Kiệt chủ trương rút quân về nước để củng cố các cứ điểm quan trọng, chuẩn bị chống quân Tống xâm lược sau này.

Đập tan đội quân xâm lược nhà Tống trên đất Đại Việt

“Bính Thìn, năm thứ 5 (1076) – Tống Hy Ninh năm thứ 9) mùa Xuân, tháng 3, nhà Tống sai Tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm Chiêu Thảo Sứ, Triệu Tiết làm phó tướng, đem quân và 9 tướng hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn nước ta. Vua sai Lý Thường Kiệt đón đánh. Đến sông Như Nguyệt đánh tan địch. Quân Tống bị chết hơn 1000 người. Quách Quỳ lui quân, lại lấy châu Quảng Nguyên của ta”.

“Tân Dậu năm thứ 6 (1081) – Tống Nguyên Phong năm thứ 4 – trả lại cho nhà Tống những binh lính bắt được ở 3 châu Ung - Khâm - Liêm vì cớ nhà Tống trả lại ta các châu Quảng Nguyên” (ĐVSKTT – Tr.333).

Tháng 10/1076, Quách Quỳ được vua Tống cử làm thống soái chỉ huy 10 vạn quân chiến đấu và 20 vạn quân tải lương tấn công Đại Việt. Đại quân tiến theo hướng Lạng Sơn rồi vào thành Thăng Long. Thủy quân sẽ dọc theo ven biển vào sông Bạch Đằng, tạo thế gọng kìm để tấn công Đại Việt. Sau khi đánh tan các đạo quân thủy bộ của ta, chúng sẽ hội quân, dùng thuyền vượt sông Hồng đánh chiếm Thăng Long.

Sau chiến thắng Ung Châu quân ta đã rút về nước. Biết trước quân Tống sẽ sang xâm lược, triều đình nhà Lý đã chủ động tích cực chuẩn bị đối phó với quân Tống.


Tranh Lý Thường Kiệt.

Ở khu vực sát biên giới, thổ binh, hương binh bố trí ở các nơi hiểm yếu để sẵn sàng tiêu hao, ngăn chặn địch. Quân đội triều đình do phò mã Thân Cảnh Phúc chỉ huy phục kích ở ải Quyết Lý và giáp khẩu (Châu Ôn và Chi Lăng). Ven biển có thủy quân đóng ở căn cứ Vân Đồn (thuộc Quảng Yên) phối hợp với quân bộ đóng ở Ngọc Sơn (Móng Cái) có nhiệm vụ ngăn chặn địch trên vùng biển Đông Kênh (Quảng Ninh).

Chiến tuyến chính của ta là ở trung du, dựa vào bờ nam sông Như Nguyệt đắp đê cao, rào cọc tre, phên dậu ken dày chạy dài từ sườn Đông Bắc dãy Tam Đảo đến sườn Tây Nam dãy núi Nham Điền (Yên Dũng – Hà Bắc), khoảng 100km. Dưới sông, thủy quân ta tập trung trên 400 chiến thuyền đóng tại vùng Vạn Xuân (Phả Lại) sẵn sàng cơ động đánh địch ở các hướng.

Cuối tháng 11/1076, quân Tống đánh chiếm Quảng Yên. Ngày 1 tháng Chạp (1077) đại quân Tống chia làm nhiều đường tấn công Lạng Sơn. Quân Tống chiếm được các châu Ôn, Quyết Lý, Quang Lang, rồi theo đường tắt vượt qua dãy Bắc Sơn tiến đến sông Phú Lương (sông Cầu thuộc địa phận Thái Nguyên ngày nay).

Một cánh quân địch tấn công lực lượng của phò mã Thân Cảnh Phúc. Quân ta phân tán vào rừng núi, dùng lối đánh tỉa, đánh úp, phục kích tấn công vào các đoàn tải lương của địch. Ngày 21 tháng Chạp (18/1/1077) quân Tống do Quách Quỳ và Miêu Lý chỉ huy đóng ở trên đoạn bến sông Như Nguyệt và ở Thị Cầu.

Trên biển, thủy quân ta phục kích chặn đánh tiêu diệt và đẩy lui thủy quân Tống. Chờ mãi không thấy thủy quân đến, Quách Quỳ cho đóng thuyền bè chở quân vượt sông Như Nguyệt tấn công chiến tuyến phòng thủ của ta.

Bị thất bại nhiều lần, Quách Quỳ phải rút quân cố thủ ở bờ Bắc sông Như Nguyệt và hạ lệnh: “Ai bàn đánh sẽ bị chém”.

Quân địch bị tấn công cả ở phía trước và phía sau, lương thực bị thiếu trầm trọng, lòng quân hoang mang dao động. Nằm chắc thời cơ Lý Thường Kiệt chủ động cho quân chủ lực bộ binh và thủy binh phản công giặc.

Tục truyền rằng, vào một đêm quân sĩ ta chợt nghe ở trong đền thờ Trương tướng quân (Trương Hống, Trương Hát) có tiếng ngâm to rằng: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. (Tạm dịch: Sông núi nước Nam vua Nam ở/ Cõi bờ ngăn cách tự sách trời/ Cớ chi quân giặc sang xâm lấn?/ Thất bại bay xem sẽ đến nơi” (ĐVSKTT-Tr.330).

Trên đoạn từ Đông Nham Điền đến Tây Vạn Xuân, hoàng tử Hoằng Chân chỉ huy 400 chiến thuyền và hàng vạn quân đánh sâu vào nơi đóng quân của địch. Nhân lúc địch tập trung đối phó ở cánh phải, Lý Thường Kiệt chỉ huy đại quân vượt sông Phú Lương tấn công giặc ở cánh trái.

Theo “Việt Sử Lược” trong trận này địch 10 phần bị tiêu diệt đến 5,6. Quân địch bị đẩy vào thế cố thủ, trước mặt, sau lưng đều bị quân dân Đại Việt tấn công. Lương thảo của giặc ngày càng cạn kiệt. Nắm rõ tình hình bất lợi của giặc, Lý Thường Kiệt chủ động cho người sang gặp Quách Quỳ bàn hòa với điều kiện: “Toàn bộ quân Tống phải rút khỏi đất nước Đại Việt”.

Không còn con đường nào khác, như người sắp chết đuối vớ được cọc, Quách Quỳ vội chấp nhận điều kiện trên và y không chờ lệnh của vua Tống mà lập tức rút ngay quân đội về nước. Tháng 2/1077, 23.400 quân chiến đấu và 3.174 ngựa chiến của Quách Quỳ về tới đất Tống.

Trong hơn 2 tháng chiến đấu anh dũng, quân dân Đại Việt đã tiêu diệt trên 19 vạn quân chiến đấu và quân tải lương, với gần 6.000 ngựa chiến của quân Tống. Toàn bộ lãnh thổ của nhà nước Đại Việt đã sạch bóng quân xâm lược.

Sau chiến thắng, với chính sách ngoại giao khôn khéo của vương triều Lý, triều đình nhà Tống phải công nhận Đại Việt là Quốc gia riêng biệt có chủ quyền, chứ không phải là một quận của nước Tống. Vua Lý là một quốc vương chứ không phải là “Giao Chỉ Quận Vương” như các đời vua Tống trước đây thường “phong”.

Nhà sử học Đặng Hùng

7/7/12

Lời hứa thiêng liêng trước Tượng đài đội Hoàng Sa

(TTO) - Sáng 7-7, trong không khí thiêng liêng, Đảng ủy - Bộ tư lệnh Quân khu 5 đã tổ chức trao tặng và đặt lư hương tại tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc hải trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi).

Lễ đặt lư hương tại tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản bắc hải trên đảo Lý Sơn - Ảnh: Văn Mịnh


Tham dự buổi lễ có đại diện lãnh đạo Bộ tư lệnh Quân khu, lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi, đại diện các hội, đoàn thể, sở ban ngành của tỉnh, lực lượng vũ trang và đông đảo cán bộ nhân dân địa phương.

Thay mặt Đảng ủy Bộ tư lệnh quân khu 5, Thiếu tướng, Phó chính ủy Lê Văn Hoàng ghi nhận công lao và những đóng góp to lớn của thế hệ cha ông trong đội Dân binh Hoàng Sa năm xưa đã không quản khó khăn gian khổ cùng phong ba bão táp, vâng lệnh triều đình nhà Nguyễn dong thuyền căng buồm ra cắm mốc, đo đạc hải trình, khẳng định chủ quyền của ta trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thiếu tướng Lê Văn Hoàng đồng thời thay mặt cho lực lượng vũ trang hứa quyết tâm ra sức phấn đấu, rèn luyện, nâng cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng trời vùng biển thiêng liêng của tổ quốc.

Sau buổi Lễ, đại diện lãnh đạo Bộ tư lệnh QK5, lãnh đạo tỉnh cùng lãnh đạo các sở ngành, lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương thắp hương tưởng niệm tại tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải.

VĂN MỊNH

17/5/12

Tháng 5/1981: Đánh giập đầu bọn phản động Trung Quốc xâm lược và gửi công hàm phản đối hành động xâm chiếm

Đôi lời: Đúng vào dịp kỷ niệm 31 năm ngày diễn ra một trận đánh đáng nhớ chống lại bọn bành trướng Trung Quốc trên Biên giới phía Bắc, cộng tác viên BDM đã gửi tới một tài liệu quý nhắc mọi người ghi nhớ chiến công của quân dân ta. Lại đúng lúc Biển Đông đang dậy sóng vì những hành động gây hấn, đe dọa của Trung Quốc với cả Philippines và Việt Nam, giúp ta có dịp so sánh thái độ trước đây và hiện nay với kẻ xâm lấn này, dường như trái ngược.

BÁO NHÂN DÂN
Sấm sét trên điểm cao 400

SỐ 9831 THỨ HAI NGÀY 18-5-1981

Nguyễn Thành Văn

Ghi nhanh của phóng viên báo Nhân Dân tại Lạng Sơn

ĐIỂM cao 400 gồm có ba mỏm chính ở bên này cột mốc 26 thuộc xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn. Đêm 5-5 bọn Trung Quốc xâm lược vô cớ tiến công xâm chiếm quả đồi và suốt mười ngày sau đó, chúng liên tiếp bắn đủ các loại đạn pháo vào hầu hết các xã thuộc vùng biên giới Cao Lộc. Cứ mỗi một ki-lô-mét vuông trên vùng này phải chịu hơn bảy trăm quả pháo. Hàng trăm căn nhà bị đổ, hàng trăm con trâu, bò và các loại gia súc khác bị chết, đồng ruộng sắp đến kỳ thu hoạch bị đạn cày xới. Có những người dân vô tội, phần lớn là đàn bà trẻ em, bị chết và bị thương… Nghiêm trọng nhất, suốt đêm 14 và ngày 15-5, bọn địch tập trung pháo lớn 130 và cối 160 bắn sâu vào trong lãnh thổ ta suốt từ Thanh Lòa đến sát thị xã Lạng Sơn. Cùng thời gian, chúng ráo riết điều lực lượng bộ binh, xe tăng, pháo binh áp sát biên giới, từ Lộc Bình đến Bình Lập… 
 

 
 
Căm thù bọn phản động Trung Quốc, cán bộ, chiến sĩ trung đoàn Y và các đơn vị phối thuộc phối hợp với nhân dân địa phương quyết trừng trị đích đáng bọn địch. Nhiều chiến sĩ đã có quyết định xuất ngũ, có đồng chí đã cầm giấy nghỉ phép, giấy đi viện trong tay cũng tha thiết xin đơn vị cho được ở lại chiến đấu. 100% cán bộ, chiến sĩ ở các phân đội xung phong được chiến đấu ở mũi chủ yếu. Các đơn vị dân quân và đồng bào địa phương làm việc quên mình, chiến đấu cùng bộ đội lập thành tích kỷ niệm Ngày sinh của Bác Hồ.

Bầu trời đêm 16-5, trong vắt, điềm cao 400 hiện rõ trong tầm nhìn của các chiến sĩ. Đúng 2 giờ 10 phút, sau phát pháo hiệu xanh, các trận địa pháo ta đồng loạt nhả đạn giội bão lửa xuống đầu quân giặc ở mỏm 1, mỏm 2, mỏm 3 và các vị trí địch chung quanh. Đồng bào ta ở các làng bản reo to : «bắn nữa đi, đánh dập đầu quân bành trướng dã man». Bọn địch trên ba mỏm cao hốt hoảng, nhiều toán chạy rạt xuống sườn đồi. Trong lúc pháo bắn, các mũi bộ binh ta nhanh chóng áp sát các vị trí địch. Mũi chủ yếu do tiểu đoàn trưởng Chênh chỉ huy, từ phía nam như một cơn lốc thọc thẳng lên mỏm 1, dùng AK, pháo tay diệt gọn từng tên địch.

 
Tiếng địch la hét, kêu khóc hòa lẫn tiếng súng âm vang và khói lửa ngút trời. Đúng 4 giờ 20 phút quân ta hoàn toàn làm chủ mỏm 1 và mỏm 2. Bọn địch còn lại tập trung về mỏm 3, kết hợp với số quân mới được tăng viện chống trả, đồng thời, pháo binh của chung tư nhiều trận địa bắn để chi viện cho bọn bộ binh, nhưng các chiến sĩ pháo bính ta lập tức giáng trả, một số trận địa pháo địch phải câm họng ngay sau loạt đạn đầu. Được pháo binh yểm hộ, các chiến sĩ bộ binh ta lần lượt tiêu diệt từng ổ súng địch và đến 6 giờ 30 phút quân ta hoàn toàn làm chủ mỏm chính trên điềm cao 400, tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu gần 4 tiểu đoàn của trung đoàn 23, sư đoàn 3, bộ đội biên phòng Quảng Tây của địch. Cay cú trước thất bại, suốt ngày 16-5 bọn địch tổ chức nhiều đợt phản kích hòng chiếm lại những vị trí đã mất,nhưng mọi đợt tiến công của địch đều bị quân ta đầy lùi. Xác giặc ngổn ngang khắp sườn đồi và trận địa của ta vẫn được giữ vững.

  
 
Trong suốt mấy ngày chiến đấu giành giật với quân xâm lược từng tấc đất thiêng liêng của Tồ quốc đã xuất hiện biết bao gương dũng cảm, anh hùng làm xúc động lòng người. Đó là cán bộ, chiến sĩ phân đội cối 160, liên tục chiến đấu suốt ngày đêm,chịu đựng gần một nghìn quả pháo của địch vẫn trụ bám trận địa, chi viện đắc lực cho bộ binh, kiềm chế có hiệu quả pháo địch, chiến sĩ bị thương không chịu rời trận địa. Phân đội phó Nguyễn Thanh Bình, chiến sĩ lái tăng Lưu Đình Phúc, pháo thủ Lê Bá Tiên diệt hơn bảy hỏa điềm địch khi lộ mục tiêu, pháo địch bắn dữ dội vẫn bình tĩnh chi viện cho bộ binh tiến công tiêu diệt địch. Tiểu đội trưởng Phương có vợ lên thăm, đơn vị cho nghỉ, nhưng cả hai vợ chồng lên gặp chỉ huy xin được đi chiến đấu, lúc bị thương nặng, anh vẫn kiên cường cùng tiểu đội chiến đấu. Các mẹ, các chị, trong lúc chiến đấu ác liệt, vẫn mang cho bộ đội từng vắt cơm nóng, từng bi-đông nước sôi, khắc thêm hình ảnh đẹp đẽ và cảm động của mối tình quân dân gắn bó.

Sau khi cho bọn phản động Trung Quổc một bài học đích đáng trên điềm cao 400, quân và dân huyện Cao Lộc và các vùng biên giới khác lại tích cực chuẩn bị những đòn giáng trả mới mạnh hơn lên đầu chúng đồng thời đẩy mạnh sản xuất chiêm xuân và làm mùa.

———

BÁO NHÂN DÂN

BỘ NGOẠI GIAO TA GỬI CÔNG HÀM CHO BỘ NGOẠI GIAO TRUNG QUỐC:
Quân và dân Việt Nam ở vùng biên giới kiên quyết thực hiện quyền tự vệ chính đáng

SỐ 9831 THỨ HAI NGÀY 18-5-1981

 
 
Ngày 17-5, Bộ Ngoại giao nước ta đã gửi công hàm tới Bộ Ngoại giao Trung Quốc, toàn văn như sau:

Từ sau các sự kiện nghiêm trọng khiêu khích vũ trang, lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam ở Lạng Sơn và Hà Tuyên trong những ngày đầu tháng 5 năm 1981, nhà cầm quyền Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động vũ trang, phạm thêm nhiều tội ác dã man đối với nhân dân Việt Nam, gây tình hình hết sức căng thẳng ở vùng biên giới Việt Nam – Trung Quốc.

Ở Lạng Sơn, sau khi lấn chiếm trái phép vùng bình độ 400, từ ngày 6 đến ngày 13 tháng 5, quân Trung Quốc đã bắn hàng nghìn quả đạn cối 82, 120, pháo 122 và hỏa tiền vào nhiều làng bản và cơ sở sản xuất thuộc huyện Cao Lộc. Nghiêm trọng hơn là trong các ngày 14 và 15 tháng 5, lính Trung Quốc đã điên cuồng bắn hàng trăm phát pháo lớn 130 vào một số làng bản và khu vực thị xã Lạng Sơn, sâu trong lãnh thổ Việt Nam 11 ki-lô-mét.

Ở Hà Tuyên, sau khi dùng lực lượng lớn bộ binh và pháo binh lấn chiếm khu vực Lao Chải thuộc huyện Vị Xuyên, từ ngày 8 đến ngày 14 tháng 5, phía Trung Quốc còn đưa nhiều đơn vị pháo binh và bộ binh áp sát biên giới đối diện khu vực này và xã Thèn Chu Phìn (huyện Hoàng Su Phì), bắn hàng trăm quả đạn pháo 122 và hỏa tiện vào nhiều khu vực đông dân cư.

Ở Cao Bằng, ngày 12 tháng 5, nhiều toán lính Trung Quốc đánh sang khu vực phía nam mốc 112 huyện Hà Quảng, đồng thời nhiều lực lượng bộ binh và pháo lớn áp sát biên giới huyện Quảng Hòa.

Ở Quảng Ninh, từ đầu tháng 5 đến nay, phía Trung Quốc không ngừng tung nhiều tốp thám báo sang hoạt động ở các huyện biên giới.


Đi đôi với những hoạt động khiêu khích vũ trang, lấn chiếm lãnh thổ trên biên giới đất liền, nhà cầm quyền Trung Quốc còn cho hàng nghìn lần chiếc tàu thuyền có vũ trang xâm phạm vùng sông, biển Việt Nam từ sông Bắc Luân (Quảng Ninh) đến vùng biển đèo Ngang (Bình Trị Thiên) và cho hàng trăm tốp máy bay chiến đấu uy hiếp biên giới đất liền, nhiều tốp đã xâm phạm vùng trời Việt Nam, nhất là ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng.

Những hoạt động khiêu khích vũ trang và lấn chiếm lãnh thổ kể trên của nhà cầm quyền Trung Quốc đã gây nhiều thiệt hại về người và của cho nhân dân vùng biên giới Việt Nam, xâm phạm thô bạo chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, uy hiếp nghiêm trọng an ninh của Việt Nam ở vùng biên giới.

Cùng với những hoạt động thù địch chống Việt Nam trên đây, nhà cầm quyền Trung Quốc còn liên tiếp tiến hành các hoạt động vũ trang khiêu khích và xâm nhập lãnh thố vùng biên giới Lào ; ra sức xúc tiến việc tập hợp bọn Khơ-me phản động va tiếp tế vũ khí cho chúng chống nhân dân Cam-pu-chia.

Rõ ràng đây là hành động có tính toán của nhà cầm quyền Trung Quốc chống nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Cam-pu-chia, nằm trong âm mưu bành trướng, phá hoại hòa bình và ổn định ở Đông Dương và Đông-Nam Á.

Công hàm ngày 16 tháng 5 năm 1981 của Bộ Ngoại giao Trung Quốc gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc chỉ là thủ đoạn quen thuộc vừa ăn cướp vừa la làng nhằm che đậy âm mưu đen tối và hành động tội ác của họ, tránh né sự lên án của dư luận, chuẩn bị cho bước phiêu lưu khiêu khích quân sự mới chống nhân dân Việt Nam.

 
 
Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam kịch liệt tố cáo và nghiêm khắc lên án những âm mưu và hành động vũ trang khiêu khích và lấn chiếm lãnh thổ nói trên của nhà cầm quyền Trung Quốc, kiên quyết đòi họ phải chấm dứt ngay những hành động đó, rút ngay, rút hết quân của họ khỏi các vùng đất đã lấn chiếm của Việt Nam.

Quân và dân Việt Nam ở vùng biên giới quyết thực hiện quyền tự vệ chính đáng bảo vệ chủ qụyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Nhà cầm quyền Trung Quốc phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hậu quả do hành động thù địch chống Việt Nam của họ gây ra.

20/3/12

Đọc cuốn “Hải Chiến Hoàng Sa”

Trần Bình Nam
Gửi cho BBCVietnamese.com từ California

Cuốn Hải Chiến Hoàng Sa do Ủy Ban Nghiên Cứu Trận Hải Chiến Hoàng Sa soạn thảo. Ủy ban được gọi tắt là Ủy Ban Hoàng Sa (UBHS) và do Tổng Hội Hải Quân & Hàng Hải Việt Nam Cộng Hòa và Hội Đồng Hải Sử bảo trợ thành lập. UBHS ra đời năm 2004 và cuốn Hải Chiến Hoàng Sa là kết quả của 6 năm làm việc không ngừng của UBHS do cựu Hải Quân Thiếu Tá Trần Trọng Ngà làm Trưởng Ban cùng với 7 Ủy viên khác đều là cựu sĩ quan hải quân.


Trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19/1/1974 đã làm mất nhiều giấy mực. Nhưng trong xúc động và xáo trộn của biến cố 30/4/1975 liền sau đó các sự việc của trận đánh (như nguyên nhân, diễn tiến, kết thúc, thắng bại, hoạt động ngoại giao…) chưa được phân tích đầy đủ.

Khác biệt ý kiến

Ngày 30/4/1975 khi đoàn tàu HQ/VNCH rời khỏi nước không ai mang theo các tài liệu liên quan đến trận hải chiến, trong đó có một tài liệu quan trọng là Bản Tường Trình của Ủy Ban điều tra về trận đánh của Bộ Tư Lệnh Hải Quân (BTL/HQ). Nếu có tài liệu này, sự tranh cãi giữa các nhân vật liên hệ có thể đã không diễn ra hay ít nhất cũng giới hạn được rất nhiều các điểm cần tranh cãi.

Đại tá Hà Văn Ngạc trước khi qua đời năm 1999 tại Hoa Kỳ có viết một tài liệu nhan đề “Trận Hải chiến lịch sử Hoàng Sa” nói về trận đánh. Đây là tài liệu có thẩm quyền nhất của người trong cuộc. Nhưng một số hạm trưởng trong hải đoàn đặc nhiệm bảo vệ Hoàng Sa của ông nhìn diễn tiến cuộc chiến qua lăng kính của chiến hạm họ chỉ huy đã nêu ra nhiều điểm khác biệt. Và trong nội bộ HQ/VNCH đã có những cái nhìn rất khác nhau ngoài mẫu số chung là HQ/VNCH đã giao chiến với HQ/TQ khi Trung Quốc muốn chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Sự khác biệt nhau rất rộng ngay cả sự đánh giá thắng hay bại.

Thậm chí khi Hội Bạch Đằng ở San Jose tự sưu tầm tài liệu và nhân chứng thực hiện một DVD ngắn nói về trận hải chiến Hoàng Sa được vị cựu Tư Lệnh Hải Quân Trần Văn Chơn và nhiều sĩ quan HQ/VNCH khác xem là tương đối gần sự thật nhất cũng đã gặp phải sự “phiền hà” gay gắt của một trong 3 hạm trưởng còn sống sót khi DVD nói một trong 4 chiến hạm tham chiến đã gặp trở ngại tác xạ sau phát súng đại bác đầu tiên.

Có lẽ đó là lý do UBHS ra đời với mục đích nghiên cứu để viết một tài liệu lịch sử thật chính xác về cuộc hải chiến Hoàng Sa.

Trận đánh diễn ra cách đây 36 năm nên chưa đủ dài để có một lịch sử thật chính xác. Thí dụ các tài liệu mật về phía Trung Quốc (Trung Quốc có tiết lộ một số chi tiết với mục đích tuyên truyền). Và những sự việc quan trọng như ông Kissinger, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ đã nói gì với Thủ tướng Chu An Lai khi hai người gặp nhau tại Bắc Kinh cuối năm 1973 bàn về quan hệ Mỹ-Nga-Tàu.

UBHS đã dùng một số tài liệu Trung Quốc công bố sau khi gạn lọc. Nhưng về quan hệ Mỹ-Trung - có lẽ UBHS cho là một vấn đề tế nhị và chưa có bằng chứng xác thực - đã không nghiên cứu kỹ hơn.

Tài liệu về phía HQ/VNCH cũng thiếu sót nhiều. Vị sĩ quan hải quân Chủ tịch Ủy Ban điều tra hiện ở Hoa Kỳ cũng cho biết không còn nhớ được bao nhiêu vì thời gian. Riêng tài liệu về phía Hoa Kỳ chỉ có một bản tường trình công khai của ông cựu đại úy Gerald Kosh khi theo đoàn tàu HQ/VN ra Hoàng Sa và bị bắt trên đảo. Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ còn cất giữ nhiều tài liệu về vụ Hoàng Sa. UBHS có thể dùng luật “Information Act” của Hoa Kỳ để xin giải mật những tài liệu này nhưng UBHS không đủ thời gian và phương tiện.

Cuộc phỏng vấn các sĩ quan hải quân cao cấp VNCH liên hệ còn sống tại hải ngoại trong đó có vị TL/HQ năm nay đã hơn 90 tuổi và phó Đề Đốc Tư lệnh Vùng I Duyên Hải lúc đó thì nói chung vì tuổi tác và thời gian cũng không ăn khớp với nhau. Đáng tiếc nhất là ngoài đại tá Hà Văn Ngạc đa qua đời, trong 3 vị hạm trưởng còn sống, chỉ có Trung Tá Lê Văn Thự, hạm trưởng HQ 16 nhận trả lời phỏng vấn của UBHS.

Cần thêm những tư liệu mới về trận đánh năm 1974

Ba phần chính

Cuổn HCHS gồm 3 phần chính: Phần I nói về địa lý và lịch sử của quần đảo Hoàng Sa. Phần II nói về trận hải chiến. Phần III là phụ bản ghi lại nguyên văn (verbatim) các cuộc phỏng vấn, ngoại trừ cuộc trà đàm với ông Nguyễn Văn Ngân, cựu cố vấn đặc biệt tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được UB ghi lại.

Phần I, với nhưng bằng chứng lịch sử, diện địa, đất đai, và tài liệu ngoại giao UBHS đã chứng minh một cách hùng hồn quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Cuộc đấu tranh giành lại biển đảo đã mất sẽ rất cam go. Thế kỷ này là thế kỷ của Trung Quốc trên con đường vươn lên để làm bá chủ. Trung Quốc đang biến quần đảo Hoàng Sa thành một căn cứ quân sự nối dài về phía sau với căn cứ Hải quân tại Yulin ở cực nam đải Hải Nam, và nối dài về phía trước với quần đảo Trường Sa trong sách lược chiếm cứ Biển Đông và chia đôi Thái Bình Dương với Hoa Kỳ .

Phần II miêu tả những vận chuyển chiến thuật của 4 chiến hạm VNCH khi lâm trân. HQ/VNCH đã phải nổ súng trước, khi các tàu Trung Quốc ngăn cản không cho đổ lính và người nhái lên đảo. Mặt khác, nổ súng trước để lấy thế thượng phong.

HQ/VNCH cũng như HQ/TQ đều chưa có nhiều kinh nghiệm hải chiến trên đại dương nên UB không thể trình bày một thế trận theo sách vở tại các trường dạy về hải chiến. Cuối cùng HQ/VNCH quyết định triệt thối về căn cứ hải quân Đà Nẵng để bảo toàn chủ lực. HQ/TQ bắt tù binh trên đảo và trên biển, trong đó có đại úy Kosh. Sau đó Trung Quốc đưa nhiều tiểu đoàn bộ binh đến đổ bộ chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đưa tất các tù binh về đảo Hải Nam và Quảng Đông, được ghi nhận đối đãi tử tế. Sau khi phỏng vấn tù binh lấy lệ, 10 ngay sau Trung Quốc trả tự do cho ông Kosh và 4 quân nhân Việt Nam, và cuối tháng 2/1974 tất cả 45 tù binh sĩ quan cũng như binh sĩ VNCH còn lại đều được trả tự do tại Hồng Kông.

Phần III là phần phỏng vấn. Nội dung các cuộc phỏng vấn đã được UB dùng một cách có hệ thống trong suốt cuốn HCHS. Trong 16 nhân vật được phỏng vấn có 3 cuộc phỏng vấn đáng quan tâm, và đáng ra UBHS nên in lại nguyên văn bài viết “Trận Hải chiến lịch sử Hoàng Sa” của Đại Tá Hà Văn Ngạc trong phần này dù ông đã qua đời .

Cuộc phỏng vấn cựu Ngoại trưởng Vương Văn Bắc tiết lộ cuộc đấu tranh ngoại giao hết sức tích cực và đúng bài bản trên diễn đàn quốc tế để chứng minh quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Trước cuộc chiến, Bộ Ngoại Giao VNCH đã đưa ra những tuyên bố tố cáo định tâm xâm lăng của Trung quốc. Và sau cuộc chiến cũng đã đệ nạp cho Liên hiệp quốc những văn kiện khiếu nại cần thiết. Các thủ tục ngoại giao quốc tế và các tài liệu để lại sẽ là căn bản pháp lý quan trọng cho công cuộc đấu tranh giành lại đất đai về sau.

Ngày 30/4/1975 khi đoàn tàu HQ/VNCH rời khỏi nước không ai mang theo các tài liệu liên quan đến trận hải chiến, trong đó có một tài liệu quan trọng là Bản Tường Trình của Ủy Ban điều tra về trận đánh của Bộ Tư Lệnh Hải Quân (BTL/HQ). Nếu có tài liệu này, sự tranh cãi giữa các nhân vật liên hệ có thể đã không diễn ra hay ít nhất cũng giới hạn được rất nhiều các điểm cần tranh cãi.

Cuộc phỏng vấn thứ hai với cựu Thiếu Tá Không quân Hồ Kim Giàu, phi đoàn trưởng phi đoàn nghênh cản 538 là lý thú nhất vì từ trước đến nay chưa được ai đề cập tới.

Phi đoàn nghênh cản của Không quân Việt Nam được thành lập cuối năm 1973 để đối phó với Không quân Bắc Việt trường hợp họ tấn công các phi trường thuộc Vùng I chiến thuật. Ngày 19/1/1974 khi cuộc chiến tại Hoàng Sa còn chưa ngả ngủ, Thiếu Tá Giàu được lệnh chuẩn bị phi đoàn bay ra Hoàng Sa oanh tạc các chiến hạm Trung quốc. Phi đoàn nghênh cản gồm 4 chiến đấu cơ F5-A và 12 chiến đấu cơ F5-E tối tân và với bình xăng phụ có khả năng bay ra Hòang Sa tác chiến trong vòng 15 phút và trở về. Các phi công đều được huấn luyện không chiến tại Hoa Kỳ.

Sáng ngày 20/1 phi đoàn sẵn sàng lên đường. Nhưng đến trưa có lệnh từ phủ tổng thống hủy bỏ công tác.

Cuộc phỏng vấn thứ ba là một cuộc trà đàm không ghi âm với ông Nguyễn Văn Ngân do UB ghi lại theo trí nhớ gồm 7 điểm. Trong đó chỉ có điểm số 6 liên quan đến những gì ông Ngân nghe biết về vụ Hoàng Sa. Sáu điểm còn lại không liên quan đến vụ Hoàng Sa mà chỉ là những nhận xét chính trị của ông Ngân về quan hệ Việt –Mỹ sau Hiệp Định Paris.

Nhưng trong điểm 6 ông Ngân là người duy nhất trong 16 nhân vật được phỏng vấn nêu nghi vấn Hoa Kỳ đã thỏa thuận làm ngơ để cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa trước khi Hà Nội chiếm miền Nam Việt Nam, một điều Hoa Kỳ biết trước sau cũng xảy ra. Ý của Hoa Kỳ là dùng Trung Quốc cản đường Nga Xô sau này dựa thế đồng minh với Hà Nội tiến vào Biển Đông đe dọa eo biển Malacca và Ấn Độ Dương.

Rất tiếc UB không đi vào chi tiết để tìm hiểu cơ sở lý luận của ông Ngân, và đào sâu thêm nghi vấn quan trọng này trong mối quan hệ giữa VNCH và Hoa Kỳ vào giờ thứ 25.

Giá trị


Cuốn Hải Chiến Hoàng Sa là một tài liệu công phu và nghiêm chỉnh nhất từ trước đến nay. Quyết định của Tổng Hội HQ&HH Việt Nam Cộng Hòa và Hội Đồng Hải Sử thành lập Ủy ban Nghiên cứu trận Hải chiến Hoàng Sa là một quyết định có tầm vóc.

UBHS với số ủy viên chỉ còn 5 người khi hoàn thành cuốn Hải Chiến Hoàng Sa, đã làm việc kiên trì và liên tục trong 6 năm liền là một đóng góp lớn lao cho kho lịch sử dựng nước và giữ nước, và là một phần của lịch sử HQ/VNCH khi đất nước còn bị chia cắt.

Tài liệu này là một thứ vũ khí đóng góp không nhỏ cho công cuộc tranh đấu đòi đất, đòi đảo của dân tộc Việt Nam không phân biệt chính kiến.

Bài viết nêu quan điểm riêng của tác giả, đang sống ở tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Thái độ của Mỹ sau trận Hoàng Sa 1974

(BBC Tiếng Việt) - Một số tư liệu giải mật gần đây của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho người ta biết rõ hơn về thái độ lưng chừng của Mỹ trước tranh chấp quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đầu thập niên 1970.

Ông Henry Kissinger từng đóng vai trò quyết định trong chính sách của Hoa Kỳ với Đông Nam Á nhiều năm liền

Loạt sách Quan hệ Ngoại giao của Hoa Kỳ là hồ sơ chính thức về hoạt động ngoại giao của chính phủ Mỹ bắt đầu từ 1952, tập hợp các văn bản gốc như biên bản cuộc họp, điện tín, thư từ.

Các sử gia của Bộ Ngoại giao Mỹ đã hoàn tất 25 cuốn về chính quyền Kennedy, 34 cuốn về chính quyền Johnson, trong khi ý định làm 54 tập về thời kỳ Nixon và Ford (1969-1976) vẫn còn dở dang.

Biên bản cuộc họp ngày 25/01/1974, một tuần sau trận hải chiến Hoàng Sa (17 - 19 tháng Giêng), tường thuật cuộc họp về Đông Dương do Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger chủ trì.

'Tránh xa'

Đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân, báo cáo: "Chúng ta đã tránh xa vấn đề."

Ngoại trưởng Kissinger hỏi lại: "Chúng ta chưa bao giờ ủng hộ tuyên bố chủ quyền của họ [Nam Việt Nam]?"

Đô đốc Moorer trả lời: "Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa và các đảo khác có cùng vấn đề - đó là lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó."

Ông Kissinger hỏi "Ai khởi đầu trận chiến ở Hoàng Sa?"

Đô đốc Thomas H. Moorer mô tả: "Một đội tuần tra của Nam Việt Nam trong khu vực phát hiện một số tàu Trung Quốc tiến về các đảo; họ tiến đến và đưa khoảng 75 người lên đảo Duncan (Quang Hòa). Đó là một trong các đảo phía nam của nhóm Nguyệt Thiềm.
"Trường Sa và các đảo khác có cùng vấn đề - đó là lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó."

Đô đốc Thomas H. Moorer, 25/1/1974

"Họ phải đối đầu với hai đại đội Trung Quốc. Phía Nam Việt Nam phải rút sang các đảo gần đó.

"Bốn tàu Nam Việt Nam và khoảng 11 tàu Trung Quốc sau đó có trận hải chiến trong khi quân Nam Việt Nam rút lui."

Ngoại trưởng Mỹ hỏi tiếp: "Phản ứng của Bắc Việt trước toàn bộ vụ việc là thế nào?"

William Colby, Giám đốc tình báo CIA, nói: "Họ bỏ qua, nói rằng nó nằm dưới Vĩ tuyến 17 và vì thế không có ảnh hưởng đến họ. Nói chung, họ không đưa ra lập trường, không theo bên nào."

Ông William Smyser, từ Hội đồng An ninh Quốc gia, nói thêm: "Nó đặt họ vào tình thế tế nhị. Họ không nói gì cho đến khi đã xong chuyện, và rồi chỉ nói họ lên án việc dùng vũ lực."

Cuộc bàn luận tiếp tục với trình tự như sau:

"Ngoại trưởng Kissinger: Tôi biết họ nói gì rồi, nhưng họ thực sự cảm thấy thế nào?

Đô đốc Moorer: Tôi nghĩ họ lo lắng.

Ông Colby: Bắc Việt có thể muốn có mỏ dầu tại đó.

Ông Clements [Thứ trưởng Quốc phòng]: Đừng quá mơ mộng về khả năng có dầu tại các đảo đó. Đó vẫn là chuyện trên trời. Hiện chẳng có gì ở đấy cả, chỉ là tương lai thôi. Hiện nay dầu hỏa ở đó không khả thi. Chỉ là tiềm năng.

Đô đốc Moorer: Người Pháp nắm giữ các đảo trong thập niên 1930 cho đến khi Nhật chiếm trong Thế chiến. Năm 1955, người Pháp từ bỏ chủ quyền các đảo và Nhật đã làm như thế năm 1951. Nam Việt Nam và Trung Cộng kể từ đó cùng nhận chủ quyền. Philippines có tuyên bố yếu ớt, nhưng chỉ là trên giấy."

Sau đó, Đô đốc Moorer xác nhận lại với Henry Kissinger: "Chỉ thị của tôi là tránh xa khỏi toàn bộ khu vực."

Cũng cần nhắc lại, trong một cuộc gặp trước đó, ngày 23/1/1974 với ông Han Hsu, quyền trưởng phái đoàn liên lạc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Washington, Ngoại trưởng Kissinger nói: "Hoa Kỳ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này."

Bảo vệ Philippines hay không?



Trong một cuộc họp ngày 31/1/1974 của Bộ Ngoại giao, Ngoại trưởng Kissinger khi đó được thông báo: "Không có dấu hiệu Trung Quốc định tiến về Trường Sa. Dẫu vậy, có sự lo ngại đáng kể từ phía Nhật, Philippines và đặc biệt là Nam Việt Nam, mà theo tin báo chí thì hôm nay đã gửi đoàn 200 người ra chiếm một số hòn đảo lâu nay không ai ở trong khu vực Trường Sa."

"Đài Loan đã chiếm ít nhất một đảo và Trung Quốc cũng vậy."

Trong bối cảnh này, Philippines đã hỏi Mỹ liệu Hiệp Ước An ninh Mỹ - Philippines có được dùng nếu quân Philippines kéo ra Trường Sa và bị Trung Quốc tấn công.

Các quan chức Mỹ có mặt trong cuộc họp đồng ý rằng không có câu trả lời rõ rệt và họ muốn để ngỏ sự mơ hồ trong câu trả lời cho Philippines.

Một người trong cuộc họp, ông Hummel, nói: "Tạp âm xung quanh các tuyên bố của chúng ta về những hòn đảo này hẳn đã đủ cho người Philippines hiểu rằng chúng ta không có ý định hay chúng ta không muốn."

Ngoại trưởng Kissinger kết luận: "Câu trả lời của chúng ta là đúng. Chúng ta không nên nói chúng ta sẽ bảo vệ họ."

Chỉ cho đến gần đây, hồi tháng Bảy 2011, Thượng Nghị sĩ Jim Webb, chủ tịch Ủy ban Đông Á và Thái Bình Dương của Thượng viện Mỹ, đã kêu gọi Bộ Ngoại giao Mỹ giải thích công khai về hiệp ước an ninh Mỹ - Philippines trong tranh chấp Biển Đông.

Ông Jim Webb khi đó nói: "Sự minh bạch của chúng ta trong vấn đề này là vô cùng quan trọng với đồng minh, Philippines và cho toàn vùng Đông Nam Á."

19/3/12

Gặp những người lính trong trận hải chiến Trường Sa 1988

Tác giả: Hoàng Hường

(TUANVIETNAM.NET) Chúng tôi tìm về tỉnh Quảng Bình, nơi tập trung nhiều cựu chiến binh tham gia vào trận đánh bi hùng này. Họ là những người trực tiếp chiến đấu cùng anh Phương và anh Lanh, và trên chuyến tàu HQ-604 anh hùng, để được nghe tường tận hơn những câu chuyện rơi nước mắt chưa từng được biết đến.

Vợ chồng anh Lê Văn Đông và Nguyễn Thị Thương, Ảnh: Hằng Nhom

Những ngày gần đây, tình hình Biển Đông đang căng thẳng. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc phức tạp. Người dân cả nước lại hướng trái tim ra vùng trời biển tổ quốc. Những sự kiện từng xảy ra trên vùng biển, cũng như trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lại được đặc biệt quan tâm, trong đó đương nhiên có trận hải chiến trên đảo Trường Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày 14/3/1988. Sự kiện được đề cập tới trong clip phim tài liệu 'vòng tròn bất tử' từng làm làm xôn xao cư dân mạng từ năm 2008.

Hình ảnh thiếu úy liệt sĩ Trần Văn Phương ngã xuống khi giành giật lá cờ tổ quốc, và Anh hùng Quân đội Nguyễn Văn Lanh tay không chiến đấu để bảo vệ cờ đã trở thành biểu tượng anh dũng trong công cuộc giữ gìn chủ quyền đất nước.

Gần đây Tuần Việt Nam đã đăng bài viết Phía sau những người đã ngã xuống vì Trường Sa ghi lại những câu chuyện cảm động về các gia đình, thân nhân liệt sĩ đã ngã xuống trong sự kiện ngày 14/3/1988.

Để tiếp nối câu chuyện và có cái nhìn trực diện hơn, chúng tôi tìm về tỉnh Quảng Bình, nơi tập trung nhiều cựu chiến binh tham gia vào trận đánh bi hùng này. Họ là những người trực tiếp chiến đấu cùng anh Phương và anh Lanh, và trên chuyến tàu HQ-604 anh hùng, để được nghe tường tận hơn những câu chuyện rơi nước mắt chưa từng được biết đến. 

Đầu xuân năm 1988, thượng sĩ Lê Văn Đông (Thôn Rẫy, xã Tây Trạch, huyện Bố Trạch, Tỉnh Quảng Bình) được nghỉ phép hai tuần đón Tết Nguyên Đán. Không bỏ phí khoảng thời gian quý báu, anh chiến sĩ (khi ấy 22 tuổi - chỉ còn vài tháng nữa là hết kỳ nghĩa vụ quân sự) tranh thủ tổ chức đám cưới với người con gái cùng thôn đã chờ anh mấy năm quân ngũ.

Ngay trong ngày cưới, chú rể nhận lệnh của đơn vị và đúng 24 giờ sau, Lê Văn Đông quay lại đơn vị chuẩn bị làm nhiệm vụ. Bỏ lại cô dâu mới và đêm tân hôn còn nồng đượm, chàng trai lên đường và không biết hơn một tháng sau đó, cuộc đời binh nghiệp của anh có những lối rẽ không ngờ, gắn liền với một dấu mốc trong lịch sử chủ quyền đất nước.

Anh Mai Văn Hải đang 'ngắm' lại chính mình trong đoạn clip phim tài liệu. Lời bình trong phim cho rằng người này là chiến sĩ Trương Văn Hiền, nhưng các nhân chứng đều khẳng định đó là anh Mai Văn Hải. Hiện anh Hải đang sống tại xã Liên Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Ảnh: Hoàng Hường


Đầu năm 1988, Trung Quốc bất ngờ đổ bộ chiếm đóng trái phép 5 đảo đá: Chữ Thập, Châu Viên, Xu Bi, Huy Gơ và Ga Ven trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, sát cụm đảo Sinh Tồn.

Trong khi đó, trên 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao phía Tây Nam cụm đảo Sinh Tồn, giống ba góc tam giác có vị trí như trạm quan sát tuyến đầu, 'mắt thần' của Trường Sa, đã có nhà đóng giữ và cột mốc chủ quyền của Việt Nam.

Anh Nguyễn Văn Thống, anh là một trong những người bị thương nặng nhất trong trận chiến ngày 14/3/1988. Anh bị chìm cùng tàu HQ-604. Khi được vớt lên, chính đồng đội cũng không nhận ra anh. Anh Thống hiện là thương binh hạng 1. Anh sống cùng vợ con tại xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Ảnh: Hằng Nhom.

Chiều 13/3/1988, Việt Nam đưa ba tàu vận tải HQ-604, HQ-605, HQ-505 chở bộ đội ra đóng giữ ba đảo này. Lực lượng chủ yếu trên ba tàu này là các chiến sĩ thuộc Trung đoàn Công binh Hải quân Việt Nam E83, đơn vị của anh Lê Văn Đông. Trước đó đơn vị này đang đóng quân tại Đà Nẵng, được điều khẩn cấp ra Cam Ranh, Khánh Hòa.

Khá tình cờ, nhiều đồng hương của anh Đông tại Quảng Bình cùng đơn vị đều đi trên tàu HQ-604, được lệnh đóng giữ đảo Gạc Ma, con tàu bị tổn thất nặng nề nhất với gần như toàn bộ thủy thủ thương vong hoặc bị bắt, tàu bị bắn chìm.

Anh Lê Văn Đông chỉ vào cảnh anh đang bị lính Trung Quốc bắt trong đoạn phim tài liệu, Ảnh Hằng Nhom

Anh Đông kể lại, hầu hết chiến sĩ trên tàu thuộc trung đoàn công binh E83 và một số học viên của Học viện Hải quân. Tuổi đời hầu hết đều khoảng từ 20 - 23. Trong đó anh Đông thuộc diện 'may mắn' hơn vì đã kịp lấy vợ. Hầu hết những chiến sĩ khác đều chưa lập gia đình, để rồi nhiều người trong số họ đã ngã xuống khi chưa kịp có một mối tình nào mang theo.

Những đồng đội Quảng Bình như Mai Văn Hải, Nguyễn Văn Thống, Trần Văn Quyết, Lê Thanh Miễn và nhiều người đều 'bái phục' thành tựu tình yêu của anh Đông. Thế nhưng sau này, khi trải qua biến cố trên đảo Gạc Ma, bị báo tử khi còn sống. Trong các câu chuyện khi bị tù đày nơi xứ người. Anh Đông không khỏi day dứt về người vợ trẻ vừa cưới được một ngày của mình, khi vừa mang thai được vài tháng đã nhận tin chồng hy sinh.

Nhưng chị Nguyễn Thị Thương - vợ anh Đông - đã may mắn hơn nhiều người vợ lính khác trong sự kiện 14/3/1988 lại được đón chồng trở về, để trở thành nhân chứng của một câu chuyện lịch sử.

Kỳ 2: Vòng tròn bất tử

18/3/12

Đánh chìm một tàu ngầm của Trung Quốc trên biển Đông Việt Nam

(Hotrungnghia - 30/01/2012) Khi nghe tên "K-10", ai đó có thể liên tưởng đến thương hiệu của những cánh cửa kim loại - hay một số ký tự như tụ điện hay bộn vi xử lý ... nhưng với các thủy thủ thì ngay lập tức họ nhớ đến tàu ngầm hạt nhân "K-10" thuộc hạm đội Thái Bình Dương được chỉ huy bởi chỉ huy trưởng số 1 ông Valeriy Medvedev. Và, tất nhiên, chỉ cần nhớ những tin đồn về cách mà Medvedev đã đánh chìm một tàu ngầm Trung Quốc, được cho là giết chết khoảng một trăm người trên tàu ngầm Trung Quốc.


Đừng cố tìm trên "google" - có một số chi tiết của thảm họa này sẽ không thể tìm thấy. Bởi vì bất kỳ bài báo hoặc tài liệu trong bất kỳ dấu vết đáng chú ý của vấn đề không có. Và người Trung Quốc đặc biệt đã không báo cáo với thế giới về vấn đề này. Và người Nga thích giả vờ rằng không có vấn đề gì ở đó. Tốt nhất, bạn hãy tập trung vào một bài viết của "Wikipedia", trong đó có đoạn một: "21/01/1983. K-10. 675 dự án, Echo-II. Liên Xô. Tàu ngầm hạt nhân tên lửa. Trong khi thực hiện nhiệm vụ đã phải đối mặt với một đối tượng không rõ. Không có báo cáo nào về một cuộc tai nạn tàu ngầm trên Thái Bình Dương ở khu vực biển Đông Việt Nam. Chỉ hai năm sau đó xuất hiện trên báo chí Trung Quốc một cáo phó về cái chết của ngày hôm đó một nhóm các nhà khoa học tại trên tàu ngầm. Chính thức, những sự kiện này đã không được so sánh. "

Khu vực va chạm quần đảo Trung Sa

21.1.1983. Do hậu quả va chạm với một tàu ngầm nước ngoài đã làm hư hại phần chóp mũi "K-10", Tàu ngầm mang tên lửa hành trình đang tiến hành chuyến hành quân liên căn cứ xuất phát từ PMTO Cam Ranh. Đột nhiên tàu va phải một vật thể ngầm. Khi nổi lên mặt nước tàu không phát hiện được gì ngoài mấy vệt dầu. Khi về tới vũng Pavlovskii, tàu được đưa lên ụ. Các đại diện của phòng đặc biệt (tức văn phòng KGB tại Hạm đội Thái Bình Dương) đã lấy được từ phần mũi tàu hư hại một mảnh kim loại không phải chủng loại vật liệu dùng chế tạo "K-10". Không có quốc gia nào tại khu vực Thái Bình Dương tuyên bố tai nạn tàu ngầm của mình. Nhưng hai năm sau, báo chí Trung quốc có đăng tải cáo phó nhân việc hy sinh trên biển năm 1983 của một nhóm các nhà khoa học Trung quốc chết trên một tàu ngầm bị nạn không rõ lý do, khi đang tiến hành thử nghiệm tên lửa đạn đạo do chính họ thiết kế. Về mặt chính thức, các hoàn cảnh tai nạn này không trùng hợp nhau;

26.9.1984. Theo quyết định của Bộ Tư lệnh Hải quân và Bộ Công nghiệp đóng tàu, tàu ngầm mang tên lửa hành trình được trang bị lại theo đề án 675MKV và được sửa chữa và thực hiện tái trang bị tại Nhà máy đóng và sửa chữa tàu biển vùng Viễn Đông "Ngôi Sao" (Дальневосточный завод «Звезда»).

Tôi xin báo cáo tình hình hiện tại, vào ngày 22 tháng 1 năm 1983, lúc 21 giờ 28 phút (giờ Moskva), tại điểm có tọa độ: Vĩ độ = 15 độ 34,4 phút bắc, Kinh độ = 115 độ 21 phút Đông; tàu ngầm nguyên tử mang tên lửa hành trình "K-10" đã va phải một vật thể ngầm chưa xác định được ở chiều sâu 54 (năm mươi tư) mét. PLARK "K-10" đi theo hành trình trên tuyến quy định trong khu vực thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu. Tại thời điểm xảy ra va chạm, tàu đang ở khoảng giữa điểm số 22 và 23 trên hành trình. Tàu đang vận hành ở tốc độ tổng quát 4 hải lý, hướng tổng quát 202 độ. Trên thực tế, tại thời gian trước khi xảy ra va chạm, kể từ lúc 19 giờ 39 phút đến 21 giờ 15 phút, tàu nằm trên hướng tức thời 247 độ và tốc độ thật là 9 hải lý.

Vào 21 giờ 15 phút tàu bẻ lái sang trái hướng 89 độ theo luồng tức thời kế tiếp.

Vào 21 giờ 22 phút, tàu đã ở trên hướng 89 độ. Các đài thủy âm "MG-10" liên tục trực chế độ SHP, "MG-13" chế độ OGS. Đài thủy âm "MG-200" đã ngắt. Chiều sâu 54 m.

Chế độ hành trình:
- tại cả hai thân, công suất làm việc của thiết bị năng lượng chính như sau: - mạn phải 20%, mạn trái 30%; - máy tuabin bánh răng chính mạn phải - chế độ "TG"; - máy tuabin bánh răng chính mạn trái - "Vận tốc nhỏ" - 265 vòng tại trục chân vịt. PLARK được điều chỉnh cân bằng tại độ sâu 40 m với độ chênh mớn dọc 05 độ đằng mũi. Điều khiển độ sâu bằng các bánh lái lớn phương ngang. Tư thế của bánh lái đứng 10 độ theo chỉ số đồng hồ điện.

Lúc 21 giờ 23 phút có báo cáo của sỹ quan trực đài thủy âm về tình hình kiểm tra nghe các góc hướng vùng lái mạn trái và đồng mức đường chân trời. Chân trời sạch.

Lúc 21 giờ 28 phút, tôi cảm thấy một cú va chạm mềm kép với gián cách quãng 3 đến 6 giây vào mũi tàu và mức chênh mớn dọc lên tới 3 độ. Tôi nhận thấy vận tốc tàu ngầm giảm xuống qua bộ lặp của máy đo vận tốc 34s trong cabin hoa tiêu. Tôi phát lệnh báo động sự cố khẩn, ra lệnh cho thủy thủ trực vị trí chiến đấu số 45 thổi khí balat khẩn cấp.

Lúc 21 giờ 29 phút tôi ra lệnh cho thủy thủ trực lái - về hướng 202 độ - hướng nổi lên an toàn.


Lúc 21 giờ 30 phút tôi ra lệnh - kiểm tra các khoang. Tôi nhận được báo cáo của chỉ huy khoang thứ nhất về nước ngoài mạn rò vào qua van khóa các ống phóng ngư lôi 1-4. Tôi ra lệnh dùng sức người ép lại nắp che các ống phóng ngư lôi 1-4.

Lúc 21 giờ 31 phút tàu ngầm nổi lên mặt nước. Tôi cho nâng kính tiềm vọng, nâng các cột anten "Uspekh-2", các anten vô tuyến "Iva", "Styr". Tôi kiểm tra đường chân trời bằng mắt thường và thiết bị kỹ thuật vô tuyến của trạm "Nakat" - chân trời sạch.

Lúc 21 giờ 32 phút tôi đưa tuabin trái sang chế độ "TG".

Lúc 21 giờ 33 phút tôi tăng tốc các motor - cho cả hai motor chạy hết tốc lực.

Tôi nhận báo cáo sự cố từ chỉ huy các khoang. Không có vấn đề gì, vỏ bền vẫn kín. Không có hiện tượng nước ngoài tàu rò và thấm vào các khoang.

Lúc 21 giờ 35 phút tôi tiếp nhận báo cáo từ chỉ huy các bộ phận tác chiến và trưởng các bộ phận phục vụ tác chiến, báo cáo có các hư hỏng gây ảnh hưởng đến việc thi hành nhiệm vụ được giao. Tôi nhận được báo cáo của trưởng ban kỹ thuật liên lạc vô tuyến - trở kháng của các đài thủy âm "MG-200", "MG-26", "MG-10", "Plutoni" bằng không. Các đài thủy âm mất khả năng làm việc. Gương anten bị kẹt ở vị trí trung gian, không quay bằng điện được nữa. Các bánh lái phương ngang bị nghẽn lại.

Lúc 21 giờ 38 phút, tôi mở nắp đài chỉ huy. Tình hình thời tiết: - biển động - cấp 5, mây - cấp 10, tầm nhìn xa - 30 kaben, gió nam - 20 m/giây. Chúng tôi đang ở trên hướng 202 độ.

Lúc 21 giờ 50 phút tôi kiểm tra các ống phóng ngư lôi 1-4. Qua ống phóng ngư lôi thứ nhất, nước theo áp lực rò vào sitec khe hở vòng. Nắp che trước của ống phóng ngư lôi thứ nhất không còn kín. Tôi ra lệnh hàn kín ống phóng ngư lôi thứ nhất lại đối với khoang này.

Các biện pháp và thao tác sử dụng để ép kín lại nắp che ống phóng ngư lôi thứ nhất không mang lại kết quả. Nắp sau ống phóng ngư lôi thứ nhất bị kẹt không mở được. Ép lại bằng tay các nắp che phía trước các ống phóng ngư lôi 2,3,4, hiện tượng dò nước chấm dứt. Tôi cho mở họng tiêu thủy của các ống phóng ngư lôi 2,3,4 rồi cho máy bơm hoạt động để tiêu nước cho sitec khe hở vòng. Theo báo cáo của trợ lý chính và chỉ huy ban tác chiến 3, mực nước trong các ống phóng ngư lôi 2,3,4 không vượt quá 6-8 cm.

21 giờ 58 phút. Không có khả năng xác định vị trí theo phương pháp chính xác nhất. "Loran-C" - không có tín hiệu đài dẫn đường, mây cấp 10, không có ánh sao, pha đèn biển vô tuyến do khoảng cách quá xa sẽ sai sót lớn. Để tiến hành các bước tiếp theo, tôi chuẩn y tọa độ: Vĩ độ = 15 độ 27,8 bắc, Kinh độ = 115 độ 20,5 đông. Vị trí cuối cùng được xác định lúc 15 giờ 56 phút ngày 22 tháng 1 năm 1983 theo hệ thống "Loran-C", bằng trạng thái của hai đường thẳng. Sai số vị trí - 2,2 dặm.

23 giờ 30 phút. Chuyển điện tín từ nhóm 30 đến địa chỉ Sở chỉ huy Trung tâm Hạm đội Thái Bình Dương báo cáo về vụ va chạm với vật thể ngầm chưa xác định được. Việc xác định vị trí đầu tiên sau khi va chạm diễn ra lúc 01 giờ 30 phút ngày 23 tháng 1 năm 1983 bằng phương pháp thiên văn theo trạng thái bốn đường thẳng. Sai số vị trí - 3,3 dặm. Sai số khép kín tại thời điểm định vị về vị trí - 13,4 dặm, về hướng - 13,5 độ.

Tọa độ đúng của điểm va chạm với vật thể ngầm chưa xác định được: Vĩ độ = 15 độ 44,5 phút bắc, Kinh độ = 115 độ 24,2 phút đông. Chiều sâu theo bản đồ tại điểm này - 4200 m. Trong bán kính 30 dặm không có các chỗ sâu nguy hiểm. Từ đầu chuyến vượt qua eo biển Bashi và trước lúc xảy ra va chạm, máy đo tiếng vọng NEL-6 được sử dụng ngắt quãng như sau: - 2 giờ làm việc, 10 phút - ngừng.

Trên hải trình phát triển tiếp từ điểm 22 và đến trước khi va chạm, tôi có điều chỉnh sớm các điểm cơ động của mình 12 tiếng. Tốc độ quy định chung - 4 hải lý, tốc độ thực tế - 9 hải lý. Tôi cơ động theo dải chiều rộng 30 dặm theo các hướng thay đổi, gần với hướng chung và chỉnh hướng chống lại sự đẩy giạt do cơn bão nhiệt đới đang đi qua và dòng hải lưu tại khu vực này gây nên. Trong tính toán tôi đưa vào hướng: - 300 độ, vận tốc không quá 3 hải lý. Thống kê tính đến 10 giờ 44 phút ngày 21 tháng 1 năm 1983.

Vào 21 giờ 44 phút ngày 21 tháng 1 năm 1983 tôi chấm dứt tính toán dòng chảy, bởi vì theo quan sát phát hiện ra rằng tại khu vực này độ lệch 300 độ - tốc độ 3 hải lý không được xác nhận, nhưng do cơn bão đang đi qua tôi tính rằng độ trôi dạt là có thể xảy ra nên tôi đã chọn các hướng tương ứng, khi sắp xếp chúng trong dải bên trái của hải trình. Sự vượt sớm có ý nghĩa vô cùng quan trọng và bắt buộc phải có vì lý do hoàn cảnh thực tế và các điều kiện của việc đi biển đặc trưng tại khu vực này - vấn đề đạo hàng ở đây rất phức tạp. Việc tính toán xây dựng trên cơ sở vượt thật nhanh qua khu vực nguy hiểm về đạo hàng ở khu vực đá ngầm Macclesfield Bank của biển Nam Trung Hoa và tạo độ dự trữ về thời gian để thực hiện cơ động kiểm tra xem có sự theo dõi tàu ngầm từ phía lực lượng chống ngầm của Hoa Kỳ và Nhật Bản hay không trước khi chiếm lĩnh khu vực có trách nhiệm thi hành nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, cũng như trong trường hợp thiết lập sự theo dõi để đưa lực lượng chống ngầm của đối phương vào các hướng nghi binh.

Các hư hại hiện tại do vụ va chạm:
1. Ống phóng ngư lôi thứ nhất mất độ kín, đạn ngư lôi 53-65K bị ngập nước và hỏng.
2. Các đài thủy âm sau không còn làm việc được:
- MG-10;
- MG-200;
- MG-26;
- "Plutonii"
3. Vỏ nhẹ thân tàu bị xé ở khu vực Sitec Balat chính 1-4 mạn phải phía dưới đường mớn nước.

Để tiếp tục kiểm tra chất lượng phần ngầm dưới nước cần phải kiểm tra bằng thợ lặn, hoặc đưa tàu ngầm lên dok của tàu vận tải ụ nổi. Tại thời điểm va chạm, tôi đang trực chỉ huy trong cabin hoa tiêu tại vị trí trung tâm.

 Đọc thêm tại newsland.ru , vnmilitaryhistory.net
 
... 28 năm im lặng, sự việc chỉ nằm trong nỗi nhớ của Valeriy Medvedev, phóng viên newsland.ru đã phải cố gắng rất nhiều để ông tiết lộ.

Valeriy Medvedev bắt đầu kể, ông kể một cách nhỏ nhẹ không như giọng bình thường của các chỉ huy hải quân

22 Tháng 1 năm 1983 "K-10" khi đang hoạt động trên vùng biển Đông Việt Nam. Mọi hoạt động vẫn tiếp tục như thường lệ, và như các thủy thủ thường nói trong trường hợp này, "không có dấu hiệu gì xảy ra." Độ sâu dưới dưới - 45mét ( thuật ngữ trên tàu ngầm: "Năm phút đi bằng xe buýt.") Đó là một thứ bảy. Sau khi tắm các thủy thủ tàu ngầm đi xem phim trong ngăn đầu tiên.

Để thoát khỏi khu vực được xác định và phải qua trước tám giờ. Đến khu vực chính cần thiết để trùng thời gian và lịch trình.
Captain Medvedev đã quyết định rằng sẽ không có lực lượng của Hoa Kỳ và Nhật Bản. Với lại theo thông tin từ máy dò tìm báo cáo. Mọi thứ đã an toàn! độ sâu - 54 mét.

Đột nhiên có một va chạm: một cảm giác rằng con tàu đã gặp một số trở ngại. Từ va chạm đã làm cho toàn bộ con tàu rung mạnh. "K-10", có thể đụng chạm với một đối tượng không rõ, cùng thời gian di chuyển cùng với tàu ngầm. Sau đó, mọi thứ bình thường. Ngay lập tức, một tuyên bố báo động khẩn cấp được phát ra. Ba phần đầu tiên được mũi được đóng kín, những thủy thủ ở mũi chỉ còn biết ôm cây thánh giá.

Medvedev điện hỏi các ngăn phía mũi. Nhưng chỉ thấy phản ứng - im lặng. Người ta có thể tưởng tượng ra cảm xúc của người chỉ huy tại thời điểm đó. Trong khi đó, chiếc tàu đang trên lộ trình của nó và vẫn giữ độ sâu nhất định với một vận tốc chậm...

Medvedev cho biết: "Tôi liên tục điện hỏi các ngăn phía trước. Trong trường hợp va chạm một số thủy thủ chắc chắn sẽ có rất nhiều căng thẳng, cần thiết để làm rõ tình hình ... Sau hai phút, có vẻ như là cả cuộc đời với tôi, nhận được báo cáo đầu tiên: ngăn được bịt kín "!

Thời điểm 21 giờ 31 phút tàu nổi lên. Biển bão đang hoành hành. Gió mạnh và sóng lớn đã ném chiếc tàu như một vật nhỏ. Đêm ở những vĩ độ, tối và nhưng có thể nhìn qua kính tiềm vọng quang học biển, Medvedev, theo ông, đã thấy không có gì. Ông đã đưa lệnh quay trở lại điểm va chạm. Đến đó,cùng với kíp điều khiển và giám lộ viên đã nhìn thấy ánh sáng nhấp nháy màu cam phát từ một tàu ngầm. Sau khoảng 30-40 giây, ánh sáng đã biến mất.

Medvedev khẳng định đi khẳng định lại nhiều lần: "Trên đèn nhấp nháy nhìn tôi nhìn thấy một chiếc tàu ngầm ..."

Valery dừng lại. Rõ ràng, ông nhớ lại những khoảnh khắc khó khăn. Ông đã trấn tĩnh lại tinh thần một trăm lần đến quyết định quay lại khu vực để tìm hiểu va chạm với những loại tàu thuyền nào. Ông đi đến kết luận rằng đã va chạm với người Trung Quốc. Và đây là lý do tại sao. Theo quy định của Chính phủ Liên Xô từ 1959/09/01 CDB-16 từ tháng Ba đến tháng 12 năm 1959 các bản vẽ thi công và tài liệu kỹ thuật về một dự án phức tạp 629 D-1 R-11FM tàu ngầm tên lửa chuyển giao cho nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Vào mùa thu năm 1960 tại một xưởng đóng tàu ở Đại Liên (Trung Quốc) họ đã bắt đầu lắp đặt các chie tiết của dự án tàu ngầm đầu tiên 629 của Trung Quốc. Để tăng tốc độ đóng họ đã được sử dụng rộng rãi các thiết kế của Liên Xô, cũng như các thiết bị máy móc và từ thiết kế tàu ngầm "K-139" (ra mắt tháng 5 năm 1960). Việc đóng tàu ngầm Trung Quốc đã được hoàn thành vào cuối năm 1961 và nhận được một số phụ khoảng 200 thiết bị. Đồng thời ở thành phố nhà máy đóng tàu ngầm Komsomolsk-on-Amur cung cấp 138 thiết bị.

Sau khi đóng xong con tàu Trung Quốc bắt đầu đưa vào vận hành cuối năm 1962 đưa vào hoạt động theo số hiệu 208. Sau hai năm so với "K-10", đã có báo cáo rằng vào năm 1983, tàu ngầm Trung Quốc № 208 đã bị mất tích cùng với tất cả các thủy thủ cùng với một nhóm các nhà khoa học và kỹ sư đang trong quá trình thử nghiệm tên lửa đạn đạo JL-1 của Trung Quốc.

Theo đánh giá Dự án 629 với thủy thủ đoàn khoảng 100 người và cùng có một nhóm các chuyên gia dân sự, chúng tôi không thể thể đoán chính xác số lượng nạn nhân.
Đáng chú ý là Trung Quốc vẫn chưa chính thức có thông tin gì liên quan đến cuộc đụng độ và cái chết của các thủy thủ đoàn. Bây giờ chúng ta gần như có thể nói chắc chắn tuyệt đối rằng tàu ngầm đó của Trung Quốc đã chìm trong vụ va chạm với "K-10." Nếu đã có một chiếc tàu ngầm va chạm với "K-10" tại điểm va chạm trong năm giây đó, ở độ sâu 45 mét là tàu ngầm Trung Quốc.

... Medvedev, tất nhiên, ngay lập tức báo cáo cho hạm đội. Trong phản ứng đó ông được lệnh về căn cứ Cam Ranh ở Nam Việt Nam. Họ đã phát hiện thấy mũi tàu bị hư hỏng nặng. Trong số các vết lõm của "K-10" đã tìm thấy mảnh kim loại của nước ngoài. Không phải thép của "K-10" độ dày 30 mm và chiều dài bị cắt trên tàu khoảng 32 mét, như dao cạo.

Sau khi kiểm tra của lệnh hạm đội tàu ngầm đã quyết định rằng, trong tình trạng như vậy con tàu có thể vượt qua 4.500 km để về cơ sở chính, buộc phải vượt qua eo biển Bashi, Okinawa và Hàn Quốc. Tất nhiên quyết định này gần như là quyết định điên rồ: Nhưng mệnh lệnh đã được phát ra. Không có các thiết bị do tìm âm, hầu như các cảm ứng bị hỏng, nhưng 4500 km đã vượt qua bình thường. Medvedev tự tin với các thủy thủ đoàn của ông. Và phi hành đoàn đã không làm chỉ huy thất vọng...

Nguồn: Hotrungnghia Blog

15/3/12

SƯ 313 ĐÃ TIÊU DIỆT 1 SƯ CỦA ĐẠI QUÂN KHU BẮC KINH

(Nhà văn Phạm Viết Đào) - Hỏi chuyện Đại tá Bùi Như Lạc nguyên Q. Sư đoàn trưởng Sư 313 về trận đánh trên Đồi Cô Ích: Nghe câu chuyện về trận đánh do Đại tá Bùi Như Lạc kế trên Đồi Cô Ích, thấy nhiều tình tiết trùng hợp với một trận đánh do báo Phượng Hoàng Trung Quốc đưa về một trận thảm bại của quân Trung Quốc do tướng Túc Nhung Sinh con của Danh tướng Túc Dụ cầm quân. Có điều trên báo Phượng Hoàng tác giả Trung Quốc La Gia Bình viết về trận này xảy ra vào ngày 31/5/1985, còn Đại tá Bùi Như Lạc nhớ là năm 1986 ? Có thể Đại tá Bùi Như Lạc nhớ sai.


Phamvietdao.net đã tìm gặp Thiếu tá Hoàng Cường, trợ lý tác chiến Bộ tư lệnh quân sự tỉnh Hà Tuyên lúc đó, ông có xác nhận đúng Sư 313 đã có một trận thắng oanh liệt, lừa đánh được quân Trung Quốc năm 1985.

Xem các Video: Hỏi  chuyện Đại tá Bùi Như Lạc nguyên Q. Sư đoàn trưởng Sư 313


Xem bản đồ của phía Trung Quốc nêu vị trí Đồi 211 đúng là Đồi cô Ích mà phía Việt Nam gọi...

Xin đưa lại 2 bài viết này đã đưa trên Phamvietdao.net để minh chứng thêm ý kiến của Đại tá Bùi Như Lạc
-LÃO SƠN THẢM BẠI, TÚC NHUNG SINH THĂNG QUAN

-MẶT TRẬN VỊ XUYÊN HÀ GIANG 1981-1988: TRẬN STALINGRAD CỦA VIỆT NAM ( Kỳ 27 ) đề cập tới sự kiện này... Đồi 211 trong bài viết này trên bản đồ phía trên có ký hiệu C...


LÃO SƠN THẢM BẠI, TÚC NHUNG SINH THĂNG QUAN

La Gia Bình (TQ)


Sau thảm bại ngày 31 tháng 5, quân 67 còn xảy ra một chuyện trước sau chưa từng có trong chiến tranh với Việt Nam. Một người chiến sĩ, vốn người Táo Trang [18], từ trận đánh đồi 211 may mắn được sống quay về, vào giờ ăn cơm sáng, bước vào nhà ăn sở chỉ huy quân 67, nhằm Túc Nhung Sinh mà bắn, Túc Nhung Sinh nhanh nhẹn trốn xuống gầm bàn ăn, nên không bị thương. Nhưng người cảnh vệ của họ Túc thì bị giết chết, Quân trưởng Quân 67 Trương Chí Kiên bị thương xuyên bả vai, còn mười người gồm binh lính sĩ quan đang đứng tại hiện trường cũng trúng thương...


Đồi 211 ở chiến khu cửa khẩu Na Lạp tại tiền tuyến Lão Sơn là trận địa Quân 1 đoạt đựợc từ 11/2/1985, đến 18/5/1985 thì chuyển sang cho Quân 67 giữ và tiếp tục cố thủ trận địa này. 13 ngày sau, tức 31/5/1985, vào 5 giờ 10 phút buổi sớm, Quân khu 2 của Việt Nam đột nhiên phát động (đợt công kích) “M-1” tấn công vào Quân 67 vốn còn chưa ổn định, pháo kích mãnh liệt toàn bộ chiến trường Lão Sơn. Hỏa lực đã được chuẩn bị để tập kích liên tục suốt 45 phút.

5 giờ 5 phút, lực lượng pháo binh của VN lại mở rộng hỏa kích, Doanh 4 Đoàn [2] 982 của quân Việt Nam chia hai đường, công kích ba đồi 211, 156, 166. Đồng thời Doanh 5 Đoàn 982 thực thi dương công [3] vào các đồi 140, 142. Binh sĩ Việt Nam dưới sự yểm trợ rất chuẩn xác của hỏa lực pháo binh, cấp tốc chiếm lĩnh các cứ điểm[4]1, 2 trên đồi 211, các binh sĩ (của TQ) có mặt trên [các cứ diểm này] hầu hết tử vong. Lí Lâm Hải, đóng tại cứ điểm 1 bị quân Việt bắt. Đây là binh sĩ duy nhất của quân đội Trung Quốc bị bắt trong thời kí “Lưỡng Sơn Luân chiến”[5]. Ban [6] trưởng Bảo Hổ Dân bỏ trận địa, chạy ven núi nấp vào các bụi cỏ mất 7 ngày rồi sau đó quay về trận địa Hữu Lân. Quân Việt có pháo kích yểm hộ nhiều lần công kích vào các đồi 140, 155, 166, đến 9 giờ 30 phút tối mới dừng tấn công. Đồi 211 không lớn, tiếp giáp với đồi 227 có quân Việt đồn trú. Trước mặt đồi 211 có bố trí ba cứ điểm, có thể nói, quân Việt đã chiếm lĩnh thành công đồi 211.
Ngày hôm đó, Quân 67 báo cho Quân khu Côn Minh và Bộ Tổng tham mưu (Tổng tham hối) là đồi 211 vẫn còn trong tầm kiểm soát, nhưng người đương nhiệm Bộ trưởng Bộ tác chiến của Tổng Tham hối là Trung tướng Ngôi Phúc Lâm đòi hỏi trực tiếp đến Lão Sơn kiểm tra tình hình, yêu cầu Quân 67 gửi chiến sĩ từ đồi 211 đến để hỏi chuyện.

Quân 67 thấy không còn cách nào khác, đành phải bằng mọi giá quyết đoạt lại các cứ điểm 1, 2 trên đồi 211.

Thiếu tướng Sư trưởng Trịnh Quảng Thần của Sư 199 (sau làm đến Phó tư lệnh Quân khu tỉnh Sơn Đông mới về hưu) phản đối mạo hiểm xuất kích, cho rằng nếu cứ cố tiếp thủ trận địa thì phía ta chưa thành thục tình huống, địa điểm và tình hình bên đối phương, nên giữ quân chờ đến lúc quân ta đã thành thục. Trịnh Quảng Thần nhận định, trận chiến đầu này rất quan trọng, không đánh thì thôi đánh thì nhất định phải thắng, phải có được cơ sở là đã nắm chắc mọi thứ thì mới nên tiến hành chiến đấu. Ý kiến của ông không được chấp nhận mà còn bị Tham mưu trưởng Túc Nhung Sinh cho là “sợ đánh”, “tinh thần dao động”. Túc Nhung Sinh đến gặp Quân trưởng báo cáo việc của Sư trưởng. Quân trưởng giận dữ cắt luôn quyền chỉ huy của Sư trưởng (tức ông Trịnh), cho phép Túc Nhung Sinh vượt thẩm quyền của Sư 199, trực tiếp nắm quân quyền tổ chức Đoàn 595 thuộc Sư 199 tiến hành phản kích.

(Lại nói thêm rằng, Túc Nhung Sinh là người mới được đề bạt lên Sư trưởng của Sư 200 được một năm, trước chiến tranh, nhờ công dẹp được mâu thuẫn ở cấp cao nên được đề bạt lên làm Tham mưu trưởng Quân 67. Chỉ vì lần này ông ta chuộng hư danh ưa dối trá [7] mà khiến cho sĩ quan binh lính của Sư 199 đi đến cảnh ngộ bi đát. Sau khi Quân 67 thảm bại, Túc Nhung Sinh bị hãm ở cương vị Tham mưu trưởng suốt 5 năm. Đến năm 1990 , bị điều sang làm Phó bộ trưởng Bộ quân vụ.

Sau khi “Dương gia tướng” [8] thôi chức, Sở Thanh [9] nhờ cấp dưới cũ của Đại tướng Túc Dụ là Phó chủ tịch Quân ủy họ Trương, đề bạt Túc Nhung Sinh lên làm Quân trưởng đơn vị cũ của cha ông ta là Quân 24. Tháng 11 năm 1997 được đề bạt lên làm Phó tư lệnh Quân khu Bắc Kinh (chủ quản hậu cần, cơ quan, nội vụ, hoạt động đối ngoại). Năm 1999, sau 11 năm là Thiếu tướng, được phong lên hàm Trung tướng. Nghe nói, “xét đồng chí Túc Nhung Sinh, trong thực tế quá trình công tác xây dựng bộ đội và huấn luyện tác chiến, tích cực khai triển nghiên cứu khoa học, được tặng giải thưởng (Vì) Sự tiến bộ của nền khoa học quốc gia bậc hai, giải thưởng (Vì) Sự tiến bộ của khoa học quân sự bậc nhất cùng các hạng mục khen thưởng khác. Cùng hơn mười hạng mục về kĩ thuật chuyên lợi quốc gia. Đồng chí Túc Nhung Sinh cũng kiêm chức Giáo sư Đại học Quốc phòng, thành viên Hội Úy viên chuyên gia kiến thiết tự động hóa chỉ huy toàn quân”).

1/6/1985, từ Quân 67, Túc Nhung Sinh tổ chức thành ra Doanh 1 Đoàn 595 nhằm đồi 255 tập kết rồi tìm cơ tiến hành phản kích đồi 211. Phó doanh trưởng Vương Triêu Lịch (Lao [10]) phụ trách chỉ huy toàn tuyến. Sáng sớm, gặp được trời mưa cực to, đội đột kích thứ nhất được chỉ đạo hướng về đồi 211 xuất kích. Cùng lúc, Bài trưởng Bài 2 Liên 1 Vương Trung Viễn [11] dẫn đội đột kích thứ nhì từ đồi 908 hướng về đồi 211 xuất kích. Để khỏi chịu thương vong quá lớn, bên ta dùng “chiến thuật thêm dầu [12]”, đi trước tuần tự là Đảng viên Cộng sản, Ban trưởng, rồi đến Đoàn viên thanh niên, tổ chức thành các tổ chiến đấu nhỏ, lần lượt xuất kích. Hai đội đột kích thông qua một khoảng đất trũng, đánh thẳng vào các cứ điểm 1, 2 của đồi 211. Vào lúc đó, bọn quân Việt trên đồi phát hiện đội đột kích của bộ đội ta, ngay lập tức khai hỏa. Quân Việt ở trên cao hướng xuống, nhả đạn về phía quân ta. Đạn bay dày như mưa thoáng chốc đã tới, đồng thời chúng gọi pháo binh đến tiến hành dùng hỏa lực phong tỏa đoạn đường xung kích của quân ta, trong khi đó pháo binh ta cũng nhằm đồi 211 pháo kích gây áp lực.

Trước mặt đồi 211, 255, pháo binh hai bên dồn thành một khối, đạn xả như mưa. Trên con đường xung kích bùn lầy, hai Phó ban trưởng bị bắn trúng chết tại trận. Dưới chân đồi 211 có khối đá cao 5m, ở đó chết hơn mười người của các đội đột kích, máu tươi hòa với mưa tạo thành một vũng lầy, còn những thây chết đang cứng lại thì mưa tẩy rửa hết (máu). Khối đá này cách cứ điểm 3 của đồi 211 do quân Trung Quốc cố thủ khoảng 15m. Những người còn sống chỉnh lại đội nghũ rồi từ cứ điểm 3 xuất kích hướng về cứ điểm 1, 2. Tại vùng tiếp nối trận địa 227 có quân Việt đóng với đồi 211, từ hai phía (quân đột kích) giáp công thành một khối. Sau một hồi chiến đấu thảm khốc kịch liệt, cứ điểm 1,2 đã được quân ta chiếm lại, quân Việt đóng trước mặt trận địa 227 lập tức tăng viện. Liền đó, đội đột kích vừa chiếm được cứ điểm 1 và 2 của đồi 211 liền bị bao vậy. Do hai bên lực lượng quá chênh lệch, đội đột kích bị ép vào thế hạ phong.

May sao còn 8 người quay về cứ điểm 3, trong số đó có 5 người đã bị thương. Hỏa lực của quân Việt vẫn rượt theo rất rát, đường thông từ đồi 255 đến đồi 211 bị phong tỏa hoàn toàn, mà quân tăng viện vẫn chưa thấy kéo đến. 8 người của ta ở phía trên không kéo xuống dưới được, sau mấy ngày cầm cự ngoan cường tại cứ điểm 3 đồi 211, năm người bị thương lần lượt tử vong. Trong đợt đụng độ sau đó, ở khối đá lớn phía trước cứ điểm 1, quân Việt đã treo ngược xác một người lính Trung Quốc để thị uy. Sau đó quân ta tra xét biết được rằng người bị phơi thây ấy là Phó liên [13] trưởng Giả Kha của Liên 1 Đoàn 595. Hành động này của quân Việt đã kích động lửa giận của cấp chỉ huy. Vậy là, hết một lượt đầu đội đột kích đã ngã xuống, thì lại đến lượt đội đột kích khác tiếp tục, trước sau (cấp trên) liên tục chỉ đạo cho Quân 67 yêu cầu bộ đội không được tiếc bất kỳ giá nào, nhất định công kích đồi 211.

Tại điện đài 861, không ngừng nghe tiếng bộ đội Trung Quốc xung phong để chiếm lĩnh lại các cứ điểm 1 và 2, nhưng sau mỗi đợt xung kích đó, đại bộ phận bộ đội không hy sinh thì cũng trọng thương. Trong khoảng thời gian đó, hỏa lực pháo kích của hai bên che trùm hai đồi 255, 211, cùng với âm thanh gầm xé của đạn pháo, đội xung kích hết lượt này đến lượt khác tràn lên. Hỏa lực thực quá ư mãnh liệt, mà quân Việt ở trên đồi 211 có lợi thế là từ cao đánh xuống thấp, thành thử phần nhiều quân đột kích phát động xung phong mà không sao tiếp cận được đồi 211, đành ngã xuống dưới trời mưa đạn. Tính ra, Liên 3 tổ chức 3 đội xuất kích xung phong lên phía trên, đến hôm sau, chỉ còn sống 2 người. Để bảo đảm trước khi Bộ trưởng Bộ tác chiến Ngôi Phúc Lâm đến nơi (sẽ có chứng cứ là) đã chiếm được đồi 211, đến thời khắc quyết định, ba vị Phó doanh trưởng được phái đi tăng viện của đoàn 595, dưới mệnh lệnh “không được tiếc bất cứ giá nào, phải thu lại đồi 211, có ba vị Phó tống lí [14] ở Trung Nam Hải đang đợi tin thắng trận của ta đó” của Tham mưu trưởng Quân 67, đã mang cả những người lính liên lạc [15] cuối cùng lên tận đỉnh núi.

Từ mùng 2 thàng 6 đến ngày 11 tháng 6, sau 10 ngày hỏa lực pháo binh của 2 bên tập kích mãnh liệt, đội đột kích của bộ đội ta căn bản không có cách nào tiếp cận đồi 211. Nhưng vị chỉ huy vẫn phái bộ đội tiến lên. Trong tình cảnh không thể đoạt lại đồi 211, Quân 67 vẫn không tiếc bất cứ giá nào ném một lượng lớn binh sĩ đạn dược vào nhằm đoạt lại đồi cho bằng được. Trong trận này, do bị hỏa lực pháo binh cực kì mạnh mẽ của quân Việt phong tỏa, ta không có cách nào chở thi thể của những người tử vong tại trận về được, cảnh tượng thây chết đầy đồng cực kì thê thảm. Quân 67 lại ra mệnh lệnh tối hậu, bằng mọi giá phải lấy được xác binh sĩ trận vong về, do đó Sư 199 lại tiến hành vài đợt công kích với tính chất yểm hộ. Đến ngày chiến đấu thứ 11, Đoàn 595 Sư 199 Quân 67 tổn thất nghiêm trọng: 2 doanh bị quân Việt phá vỡ, các thiết chế đoàn-liên hoàn toàn bị phá, 3 Liên của Đoàn 597 vốn là đội dự bị đến tăng viện cho đoàn 595 đã bị tổn thất nghiêm trọng trong những đợt tiến công không có chút hy vọng thắng lợi. 120 tướng sĩ của đội đột kích vĩnh viễn nằm lại trên đồi 211, còn những người bị thương nặng và nhẹ thì không xiết kể. Trong khoảng trăm hang hốc phụ cận đồi 211, các chiến sĩ bị thương của các đội đột kích bên ta tạm trú lại, nhưng lúc dó bên ta không biết họ đang kiên trì chờ các Bác sĩ của ta đến cứu chữa. Sau đợt chiến đấu này, các chiến sĩ có thể tự mình quay về địa điểm xuất phát mười phần chẳng được lấy một….

Cả Đoàn 595 đã mất hết năng lực chiến đấu, không thể tiếp tục chấp hành nhiệm vụ tác chiến được nữa, bị điều khỏi tiền tuyến để chỉnh đốn. Để thay thế cho Đoàn 595, Quân khu Tế Nam ở Sơn Đông đã cấp tốc tổ chức lập Đoàn 598 (3 Doanh là từ Đoàn 598, Đoàn 599 và đoàn 600, còn liên pháo binh trực thuộc thì từ Sư 76).

Xem xét địa hình mà nói, đồi 211 chả có giá trị quân sự gì, nhưng vì đồi 211 là do Quân 67 tiếp nhận từ tay Quân 1 giao lại, nên thủ trưởng Quân 67 cho rằng không thể để mất được, thế là hết lần này đến lần khác đem số lượng lớn binh sĩ đẩy vào trận địa pháo kích của quân Việt, đó là nguyên nhân chính dẫn đến thua trận mất người ngày 11 tháng 6 vậy. Khi tin tức Đoàn 595 Sư 199 Quân 67 đánh đồi 211 thất lợi truyền ra ngoài, quân đội cả nước náo loạn cả lên! Nhưng đối với những chiến sĩ của Đoàn 595 tử vong trong chiến đấu ngày đó, cái nỗi tiếc hận còn để lại không chỉ đến thế mà thôi, bởi vì đối với những tướng sĩ đã tận trung báo quốc đó, đại bộ phận sau đó lại không được hưởng những vinh dự thích đáng. Trong danh sách mà Quân khu Tế Nam phong tặng danh hiệu anh hùng [16] bậc 1, bậc 2 và liệt sĩ công lao bậc 1 cho khoảng 100 bộ đội “luân chiến” [17], ngoại trừ Giả Kha ra, cũng ít thấy tên những sĩ quan binh lính của Đoàn 595 hy sinh trong ngày 11 tháng 6.

Toàn Sư 199, từ trên xuống dưới, đối với các thủ trưởng của Quân 67 cực kì phẫn nộ. Có một lần cán bộ chiến sĩ đã liên danh làm cáo trạng, báo lên Tổng bộ Quân ủy, chỉ trích Tham mưu trưởng quân 67 không nghe ý kiến của bộ đội, chỉ biết bàn việc binh trên giấy, gây nên tổn thất nghiêm trọng cho bộ đội trong chiến đấu. Tổng bộ trước sau lần lượt phái Bộ trưởng Bộ huấn luyện quân là Thạch Hiệp và một số người khác đến điều tra. Sau khi điều tra, khẳng định rằng tuyệt đối không phải lãnh đạo sư 199 sợ chiến đấu, mà do lúc đó thủ trưởng Quân 67 phán đoán không chính xác tình hình địch ta, chỉ huy vượt cấp, sau khi thất bại lại đổ trách nhiệm xuống cấp Sư, về lí không đúng, đối với Quân 67 cần phê bình nghiêm khắc. Túc Nhung Sinh lúc này cảm thấy mình rất là mất mặt, liền dẫn quan chức (cấp Quân) của quân 67 lui về quân Bộ. Sư trưởng Sư 199 Trịnh Quảng Thần được khôi phục quyền chỉ huy, những trận chiến sau này, đều do bộ phận (lãnh đạo cấp Sư) của Sư 199 tự tổ chức chỉ huy.

Trịnh Quảng Thần tổ chức cho Sư 199 làm quen với chiến trường, làm quen với các đặc điểm về cách thức chiến đấu của quân Việt đối địch, chỉnh lí bộ đội, tủy thời triển khai phương pháp huấn luyện có mục tiêu cụ thể. Cứ thế ba tháng liền, đến mùng 8 tháng 9, Phó liên trưởng Liên trinh sát là Nguyên Minh, Phó chỉ huy là Hạ Quang Minh đã lấy17 người tổ chức thành đội đột kích, phát động tập kích ngay giữa ban ngày, vào mười giờ sáng men cứ điểm 3 bên trái sang trèo qua một đoạn vách núi lên cứ điểm 2 do quân Việt chiếm lĩnh, giết được 7 người lính Việt đóng trên đồi 211, đổi lại bên ta chỉ có hai người bị thương nhẹ. Sau đó quân Việt pháo kích trả thù, kết quả Phó liên trưởng Nguyên Minh mắt trái bị thương thành mù, hai vị Ban trưởng của đội đột kích bị thương, hy sinh trên đường đưa về trạm y tế cấp cứu.

Sau thảm bại ngày 31 tháng 5, Quân 67 còn xảy ra một chuyện trước sau chưa từng có trong chiến tranh với Việt Nam. Một người chiến sĩ, vốn người Táo Trang [18], từ trận đánh đồi 211 may mắn được sống quay về, vào giờ ăn cơm sáng, bước vào nhà ăn sở chỉ huy Quân 67, nhằm Túc Nhung Sinh mà bắn, Túc Nhung Sinh nhanh nhẹn trốn xuống gầm bàn ăn, nên không bị thương. Nhưng người cảnh vệ của họ Túc thì bị giết chết, Quân trưởng Quân 67 Trương Chí Kiên bị thương xuyên bả vai, còn mười người gồm binh lính sĩ quan đang đứng tại hiện trường cũng trúng thương.

Cả hiện trường náo loạn, tất cả đều cho rằng đây là đội đặc công mà bên Việt Nam phái sang thâm nhập đánh úp, mấy ngày sau mà chưa làm rõ được đầu đuôi là chuyện gì. Mà người chiến sĩ ấy cũng an toàn trở về từ hiện trường. Mấy ngày sau, mới phát hiện anh ấy đã tự sát tại hầm nước phía sau sở chỉ huy Quân 67. Trong lòng còn ôm ngọn súng, do đã qua một thời gian dài nên xác đã bốc mùi. Thế là (sự việc xảy ra ở) Quân 67 lại một lần nữa bị thông báo trong toàn quân.

Sau khi sự việc phát sinh, Quân ủy trung ương, Bộ Công an, Bộ An ninh Quốc gia và Quân khu Tế Nam liên tiếp phái người đến Quân 67 điều tra nguyên nhân sự việc. Trương Chí Kiên đang nằm viện, phải chịu việc điều tra, khóc mà nói rằng: “Tôi chưa bao giờ nghĩ đến nông nỗi quân của mình lại cầm súng bắn vào Quân trưởng của họ như vậy!”

N.T.A.T.
* Nguồn: 名将粟裕之子粟戎生67军对越作战中5.31惨败之谜
发表时间: 2011-02-14 03:14 作者: 罗家坪 看中国15/2/2011
Chú thích:
[1] Quân là đơn vị ở trên “sư”
[2] “Doanh” tức Tiểu đoàn, “Đoàn” tức Trung đoàn
[3] Nghĩa là triển khai mũi tấn công phụ để quân địch không biết chủ lực và phương hướng tiến công chính ở đâu mà tập trung quân lực
[4] Nguyên văn: Tiêu vị
[5] TQ goi giai đoạn chiến đấu với VN từ 84 đến 89 như vậy
[6] Ban tương đương với tiểu đội
[7] Nghuên văn “độ kim” tức “mạ vàng”, ý chỉ viẹc ông này chạy theo thành tích bề ngoài
[8] Là một dòng họ sinh ra nhiều danh tướng đời Tống, ở đây chỉ Dương Thượng Côn. Năm 1992-1993 ông thôi giữ các chức vụ Ủy viên Cục chính trị Trung ương, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phó Chủ tịch thứ nhất quân ủy trung ương
[9] Phu nhân Đại tướng Túc Dụ
[10] Chữ có hai âm đọc
[11] Chỗ này ghi “Nhất liên nhị bài trưởng Vương Trung Viễn”. Bài là đơn vị ngay dưới Liên, Bài tương đương Trung đội.
[12] Thiêm du chiến thuật
[13] Liên, tức là tương đương với Đại đội
[14] Tổng lí tương đương Thủ tướng
[15] Nguyên văn: thông tấn viên
[16] Nguyên văn: “Anh mô”
[17] Tức viết tắt của “Lưỡng sơn luân chiến”, xem ở trên
[18] Thành phố Táo Trang, thuộc tỉnh Sơn Đông

Nguồn: pagewash.com

Nguyễn Thị Anh Thư dịch
---------------------------------------------------------------------
MẶT TRẬN VỊ XUYÊN HÀ GIANG 1981-1988: TRẬN STALINGRAD CỦA VIỆT NAM ( Kỳ 27 ):


Thiếu tá Hoàng Cường,người ngồi bên phải...


Hỏi chuyện Thiếu tá Hoàng Cường-Nguyên Trợ lý tác chiến Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tuyên về trận thảm bại 31/5/1985 của quân Trung Quốc, dưới quyền chỉ huy của Tướng Túc Nhung Sinh…

Sáng thứ 7 ngày 15/4, đúng 8 giờ, tôi gọi điện cho ông Nguyễn Tấn Trọng xem đêm qua ông đã liên hệ giúp tôi để sáng nay tôi gặp và hỏi chuyện ông Hoàng Cường không? Đầu giây, ông Trọng cho biết, ông đang chuẩn bị đến nhà ông Hoàng Cường, nếu ông Hoàng Cường nhận lời, ông sẽ gọi điện lại cho tôi…

Đợi đến 9 giờ, vẫn không thấy động tĩnh gì, tôi lại gọi điện cho ông Nguyễn Tấn Trọng, ông Trọng cho biết: “Tôi đang ngồi ở nhà ông Hoàng Cường đây. Ông Hoàng Cường đang mệt, ông cũng không còn nhớ nhiều về cuộc chiến đã xảy cách đây hơn 20 năm…”Tôi hơi thất vọng. Nhưng ông Trọng lại cho biết, nếu anh đến chơi ông Hoàng Cường sẽ tiếp. Tôi hỏi địa chỉ. Ông Trọng dặn bắt tăxi đến Nhà văn hóa phường tại Cầu Phát, ông Trọng sẽ ra đón tôi…

Tôi liền bắt xe đi mất 10 phút. Đến nơi ông Trọng đã đợi sẵn vì nhà Thiếu tá Hoàng Cường cách đấy mấy bước chân.

Vào nhà, thấy Thiếu tá Hoàng Cường không lộ cái vẻ gì là mệt mỏi cả, trông ông đã gần 80 mươi nhưng vẫn còn còn quắc thước, đĩnh đạc. Sau một hồi giao đãi đủ chuyện để làn tan băng cái không khí ngại ngần.

Ông Hoàng Cường năm nay 78 tuổi, ông tham gia quân đội từ năm 1950, lúc ông 17 tuổi. Trong thời kỳ chiến tranh chống bành trướng Bắc Kinh, ông là Trợ lý tác chiến của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tuyên, lúc đó ông mang hàm Trung úy; ông về hưu năm 1994 với quân hàm Thiếu tá..

Sau đây là những điều mà ông Hoàng Cường đã trao đổi với Blog Phamvietdaonv…


P.V.Đ: Thưa bác, là một sĩ quan trợ lý tác chiến của Mặt trận Hà Giang, theo bác vì sao Trung Quốc lại mở những trận đánh lớn tại mặt trận này để nhằm đạt mục đích gì ?

-Thiếu tá Hoàng Cường: Theo tôi, Trung Quốc chính thức mở mặt trận Hà Giang đầu năm 1984, tập trung quân và phương tiện chiến tranh để đánh những trận đánh lớn chắc không nhằm mục đích chính là để chiếm đất. Có lẽ họ muốn sử dụng địa bàn Hà Giang để thể nghiệm và áp dụng binh pháp mới của họ; Họ muốn biến Hà Giang thành một “cái bẫy”, một loại “cối xay thịt” để hút lực lượng ta vào đây để tiêu hao, để trả thù cho những thất bại trong cuộc chiến 1979 của họ…Về phương diện này họ rất giỏi…

Thời gian 1979, Trung Quốc chưa vào Hà Giang mà chỉ vào mạn Lạng Sơn, Cao Bằng…Đến đầu năm 1984 mới mở mặt trận tại Hà Giang khởi đầu bằng việc đánh chiếm một số cao điểm như 1509 ( Trung Quốc gọi là Lão Sơn ), như Núi Bạc ( Trung Quốc gọi là Giả Âm Sơn ) và một số cao điểm xung quanh cửa khẩu Thanh Thủy như Bình địa 400, Bình độ 200… Với lợi thế bất ngờ và hỏa lực áp đảo họ đã đẩy lùi quân ta tại một số cao điểm trong giai đoạn đầu…

Tuy bị bất ngờ tấn công nhưng về phía Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tuyên lúc đó cũng đã vạch ra các phương án tác chiến đối với các tình huống xấu nhất:

- Phươn án 1 nếu Trung Quốc chiếm Thanh Thủy thì lập tức cho đánh sập dãy lèn đá ở cây số 18; đã cho gài sẵn hàng tấn thuốc nổ ở đây. Nếu Trung Quốc vào được Thanh Thủy thì cho nổ mìn, đánh sập núi cho đá đổ xuống đường, cản xe cơ giới. Vì đây là con đường độc đạo, một bên là lèn đá, một bên là Sông Lô…


-Phương án 2 nếu mất Thị xã Hà Giang thì sẽ lập phòng tuyến ở Bắc Quang…

Do quan điểm của ta lúc đó là một tấc đất cũng không để mất… Do đó khi bị Trung Quốc đánh bất ngờ, chiếm đất của ta thì chúng ta buộc lòng phải phản công lấy lại…Đó chính là lý do của những trận đánh ác liệt, giằng co trong năm 1984 và 1985, cả hai bên đều chịu nhiều tổn thất…

Trận 12/7/1984 là trận đánh lớn nhất thể hiện quyết tâm giành lại những cao điểm bị mất; chính khi chúng ta ra quyết tâm, chúng ta đã trúng kế của Trung Quốc; về khoản này người Trung Quốc rất giỏi, họ lừa chúng ta lao vào cái “cối xay” của họ…

Sau trận này chúng ta đã rút ra bài học, thay đổi cách đánh; từ sau trận 12/7/1984 chúng ta ít tập trung phát động những chiến dịch lớn lớn bộ binh để giành lại chốt; sau 1985 thì chủ yếu dùng pháp binh để nói chuyện phải trái với Trung Quốc…

Khi dùng pháo binh thì hiệu quả hơn, đỡ thương vong cho bộ đội ta hơn…

P.V.Đ: Trong năm 1985, theo bác có trận nào chúng ta đã đánh trả Trung Quốc đáng chú ý không ?

Trong năm 1985 vào giai đoạn đó, chúng tôi được cấp trên hoan hỷ báo tin là ta cũng đã lừa được Trung Quốc được một trận. Ta đã dùng mẹo để cuối cùng bằng hỏa lực pháo binh, bắn phá trong một ngày đêm liền. Kết quả theo thông tin chúng tôi được phổ biến, trong một ngày đêm liền bắn phá liên tục, pháo binh của ta đã tiêu diệt, xóa sổ được cả một sư đoàn quân chủ lực của Bắc Kinh?

Sau trận này, quân dân Vị Xuyên được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang…Đánh trận đó theo thông tin mà tôi nắm được là do Sư 313 đánh; Sư 313 sau khi để mất 1509 và chịu nhiều thiệt hại, được củng cố trở lại và tăng cường lực lượng pháo binh và đây là trận ta đã lừa được Trung Quốc…

( Còn lừa như thế nào, tôi có gặng hỏi nhưng ông Hoàng Cường không kể… Đây là thông tin mà tình cờ Thiếu tá Hoàng Cường buột mồm kể ra, không biết có trùng với trận thảm bại của Trung Quốc trong ngày 31/5/1985 tại Cao điểm mà Trung Quốc gọi là 211? Đó là trận do Tướng Túc Nhung Sinh con trai của Đại tướng Túc Dụ cầm quân? Thông tin đã đăng trên blog trong kỳ 22…)

Trở lại trận 12/7/1984, xin hỏi bác, vừa rồi trên blog cháu có đưa ý kiến của một viên sĩ quan pháo binh Trung Quốc cho biết, trong trận 12/7/1984 phía thương vong của phía Việt Nam là 3700 người? Trong khi đó trên mạng Quân sử Việt Nam có thảo luận về ý kiến này và theo một số cựu chiến binh thì có khả năng phía ta thiệt hại khoảng 500 bộ đội ?! Bác bình luận gì về con số này ?

Suy nghĩ một lát, ông Hoàng Cường cho biết:” Con số 3700 thì hơi nhiều nhưng nếu nói ta thiệt hại khoảng 500-600 thì cũng không chính xác. Hơi ít !”

Trong khi đang viết bài này thì một bạn Nặc danh đã để lại một nhận xét mới về bài đăng của bạn MẶT TRẬN VỊ XUYÊN HÀ GIANG 1981-1988: TRẬN STALINGRAD KỲ 26...như sau": “Toi co nguoi chu tung la chinh tri vien tieu doan.Tieu doan truong luc do la ong nguyen song phi hien la pho tong tham muu truong quan doi nhan dan vietnam.Chu toi noi so thuong vong khong toi 3700 nguoi ... duoi 2500 thi co…”

Như vậy, con số 3700 mà viên sĩ quan Trung Quốc đưa trên mạng Trung Quốc không phải là một thông tin xuyên tạc thái quá…

Trở lại những năm tháng đó, tôi gợi thêm một số vấn đề nhưng Thiếu tá Hoàng Cường có vẻ ngần ngại, thoái thác với lý do lâu ngày quên, ngay sổ tay hồi đó nhiều phiên họp cá nhân cũng không được giữ, không được ghi chép. Ông hứa sẽ liên hệ giới thiệu tôi với cấp trên của ông hiện đang ở Hà Giang, để có thê cung câp những thông tín chính xác hơn về những điều mà tôi muốn tìm hiểu…

Thiếu tá Hoàng Cường ( trái ), ông Nguyễn Tấn Trọng ( phải )

Ông Nguyễn Tấn Trọng thì cho biết, sau khi 2 nước bình thường hóa quan hệ, sau 4 ngày cửa khẩu thông thương, ông đã sang bên Trung Quốc để xem các trận địa của phía Trung Quốc. Theo ông Trọng thì nhiều trận địa pháo của Trung Quốc được đặt trong hầm núi, có đường ray để lúc bắn thì kéo ra, lúc dừng thì đẩy vào trong. Đường ôtô vào tận các trận địa pháo và theo như cựu chiến binh Trung Quốc kể lại thì mỗi khẩu pháo có 3 chiếc xe tiếp đạn…Phía Trung Quốc đã chuẩn bị kỹ càng trước đó cho những trận đánh từ 1984 về sau…

Còn phía ta, theo một số cựu chiến binh của Sư 313 thì chúng ta đã mang cả kachiusa và 6 quả bom bay lên sẵn sàng ăn thua với quân Trung Quốc nếu chúng vào sâu. Theo các cựu chiến bình thì bom bay là tác phẩm của nhà sáng chế Trần Đại Nghĩa, mỗi quả khi nổ có khả năng sát thương trong vòng 2 km2, hiệu quả hơn B.52 của Mỹ. Có điều là chúng ta chưa sử dụng tới vì quân Trung Quốc chỉ loanh quanh trên các cao điểm. Về sau thì họ cũng đã rút về, trả lại Việt Nam…Họ rút hay họ không chịu nổi pháo của ta ?
Ngay cao điểm Núi Bạc, Trung Quốc gọi là Giả Âm Sơn, nơi từng xảy ra nhiều trận giao tranh ác liệt, trước đây quân Trung Quốc đã chiếm, sau đó họ cũng đã rút…
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...