Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu tham khảo đặc biệt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu tham khảo đặc biệt. Hiển thị tất cả bài đăng

13/1/13

Cận cảnh 150 bản đồ chủ quyền biển đảo vừa về đến Việt Nam

(Thethaovanhoa.vn) - Ngày 8/1, Viện phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng tổ chức họp báo công bố mở thùng bản đồ và atlas do anh Trần Thắng từ Mỹ gửi về đợt 2.

Bản đồ 56 dân tộc Trung Hoa in năm 1980, không có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
 
150 bản đồ - chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Đợt 2 này gồm có 43 bản đồ lãnh thổ Trung Quốc, bản đồ chỉ ra Hoàng Sa thuộc Việt Nam và 1 sách atlas Trung Hoa bưu chính dư đồ 1919 do Bộ Giao Thông Trung Hoa Dân Quốc phát hành tại Nam Kinh. Đây là sách atlas đầu tiên do nhà nước Trung Hoa phát hành với số lượng nhỏ. Sách được rao bán trên mạng Ebay với giá 9.000 USD. Sách nằm tại Ba Lan, anh Trần Thắng trả giá còn 5.000USD.

Như vậy, đến thời điểm này, 150 bản đồ và 3 tập atlas khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã về đến Việt Nam an toàn. Trong đó, có 110 bản đồ gốc và 40 bản đồ tái bản, gồm:

- 80 bản đồ do phương Tây in từ năm 1626 đến năm 1980 xác nhận lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam. “Quan trọng nhất là 2 bản đồ in năm 1980: Bản đồ dầu khí của Trung Quốc và Bản đồ về 56 dân tộc Trung Hoa, cả hai bản đồ này không thấy chỉ ra Trung Quốc có Hoàng Sa và Trường Sa. Điều đó chứng tỏ, đến tận thời điểm năm 1980, mới chỉ cách đây có hơn 30 năm, trên bản đồ của Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa”, tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn - Viện phó Viện phát triển kinh tế- xã hội Đà Nẵng - phân tích.

- 50 bản đồ thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa nằm sát lãnh thổ Việt Nam

- 10 bản đồ hàng hải thể hiện Hoàng Sa và Trường San ằm trong vùng lãnh hải của ViệtNam

- 10 bản đồ tổng thể châu Á và Đông Nam Á có thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong vùng lãnh hải của Việt Nam.

3 sách alats Trung Quốc không có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

3 tập atlas gồm Trung Quốc địa đồ 1908, Trung hoa bưu chính dư đồ 1933 và Trung hoa bưu chính dư đồ 1919. Atlas of the Chinese Empire - Trung Hoa địa đồ, xuất bản năm 1908, bằng tiếng Anh. Atlas này gồm 1 bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và 22 bản đồ vẽ các tỉnh của Trung Quốc. Các bản đồ đều có kích thước 31cm x 41cm. Đây là atlas chính thức, được in lần đầu tại Trung Quốc với số lượng in giới hạn, do The China Inland Mission, có trụ sở ở Thượng Hải (Trung Quốc), London (Anh), Philadenphia (Hoa Kỳ), Toronto (Canada) và Melburn (Australia), biên soạn và phát hành với sự giúp của Tổng cục Bưu chính của nhà Thanh Triều và sự trợ giúp kỹ thuật của một người Anh tên là Edward Stanford. Anh Trần Thắng tặng cho Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng tập atlas này và 1 tập Trung Hoa bưu chính dư đồ 1919.

Atlas Postal de Chine - Trung Hoa bưu chính dư đồ - Postal Atlas of China, cũng do Tổng cục Bưu chính, thuộc Bộ Giao thông của Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh vào năm 1933. Atlas này in bằng 3 thứ tiếng: Trung - Anh - Pháp, gồm 1 bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và 29 bản đồ vẽ các tỉnh của Trung Quốc. Các bản đồ trong atlas này đều có kích thước 61cm x 71 cm. Tấm bản đồ số 23 trong atlas này là bản đồ Quảng Đông, bao gồm cả đảo Hải Nam, nhưng do hạn chế kích thước nên không thể in đảo Hải Nam trên bản đồ này. Vì thế, người ta đã in thêm đảo Hải Nam vào góc trái của tấm bản đồ số 23 này. Atlas này được chuyển cho UBND huyện Hoàng Sa.

Về Đà Nẵng trong đợt 2 này là Atlas Postal de Chine - Trung Hoa bưu chính dư đồ - Postal Atlas of China, do Tổng cục Bưu chính, thuộc Bộ Giao thông của Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh năm 1919, cũng được in bằng 3 thứ tiếng: Trung - Anh - Pháp, gồm 1 bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và 46 bản đồ vẽ các tỉnh của Trung Quố, đều có kích thước 61cm x 71 cm.

Các atlas này là sản phẩm của chương trình thiết lập bản đồ bưu chính do nhà Thanh vạch ra vào năm 1906 và được chính phủ Trung Hoa dân quốc kế tục vào các năm sau đó. Các bản đồ được lập chi tiết ở từng tỉnh, thể hiện rõ các con đường vận chuyển thư từ, công văn trong các tỉnh, thành của Trung Quốc. Nơi nào không thuộc Trung Quốc thì không được thể hiện trong các bản đồ trong atlas. Vì thế mà cương giới cực Nam của Trung Quốc trong các sách atlas này luôn chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam, mà không đả động gì đến Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Điều này chứng tỏ rằng cho đến khi nhà Thanh phát hành atlas này vào năm 1908 và sau này chính quyền Trung Hoa dân quốc tái bản các sách atlas này vào các năm 1919 và 1933, thì hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vẫn nằm ngoài cái gọi là “chủ quyền lịch sử” phi pháp của Trung Quốc.

150 bản đồ và 3 sách atlas sẽ được đem ra triển lãm trong thời gian sớm nhất để người dân có điều kiện trực tiếp chiêm ngưỡng.

Dưới đây là hình ảnh những bản đồ và atlas thể hiện chủ quyền biển đảo của Việt Nam mà Thethaovanhoa.vn ghi lại được:

Điểm cực nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam

Cuốn Atlas of the Chinese Empire - Trung Hoa địa đồ, xuất bản năm 1908

Các lãnh đạo đang bóc từng lớp giấy bọc bên ngoài bản đồ trong sự hồi hộp của mọi người

Cuốn atlas về đợt 2, Atlas Postal de Chine - Trung Hoa bưu chính dư đồ- Postal Atlas of China, 1919

Hồng Thúy

28/7/12

NGHỊCH LÝ CHIẾN LƯỢC BIỂN CỦA TRUNG QUỐC

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 26/7/2012
TTXVN (Niu Yoóc 24/7)

Ngày 17/7, hãng Stratfor của Mỹ công bố tài liệu với đầu đề trên, trong đó cho biết, trong thập kỷ qua, Biển Đông trở thành một trong những điểm bất ốn nhất ở Đông Á. Trung Quốc, Việt Nam, Philíppin, Malaixia, Brunây và Đài Loan đều khẳng định chủ quyền một phần hoặc tất cả vùng biển, và các tuyên bố chồng lấn dẫn đến đối đầu ngoại giao và thậm chí quân sự trong những năm gần đây. Do Biển Đông có nhiều quần đảo, giàu tài nguyên khoáng sản, năng lượọng và gần 1/3 tuyến đường hàng hải của thế giới đi qua, nên tất nhiên vùng biển này có giá trị chiến lược đối với các quốc gia liên quan. Nhưng với Trung Quốc, kiểm soát trên Biển Đông không chỉ là vấn đề thực hiện mà còn là tâm điểm chính sách ngoại giao tiến thoái lưỡng nan của Bắc Kinh: Làm sao để khẳng định chủ quyền hàng hải lịch sử trong khi vẫn duy trì các chính sach không đối đầu với các nước do ông Đặng Tiểu Bình xây dựng năm 1980. Trung Quốc đã khẳng định quyền kiểm soát Biển Đông từ khi kết thúc cuộc nội chiến Trung Quốc. Lúc đó, hầu hết ở các nước khác đều đang nổi lên các phong trào giành độc lập, Trung Quốc chỉ cần làm rất ít việc để đảm bảo lời khẳng định của mình. Nhưng do các quốc gia khác xây dựng lực lượng hàng hải, theo đuổi mối quan hệ mới và có một quan điểm tích cực hơn trong việc thăm dò và tuần tra vùng biển và với thái độ không thân thiện của Trung Quốc trước bất cứ nhượng bộ nào về lãnh thổ, cách tiếp cận lặng lẽ của Đặng Tiểu Bình là lựa chọn đúng đắn.

Sự phát triển hàng hải của Trung Quốc

Trung Quốc là nước kiểm soát một bờ biển dài, trước kia từ biển Nhật Bản ở phía Đông Bắc tới Vịnh Bắc Bộ ở phía Nam. Mặc dù bờ biển dài, nhưng Trung Quốc gần như chỉ luôn chú trọng bên trong, ít khi quan tâm đến các vùng biển và thậm chí cả trong những thời điểm khá ổn định trên đất liền. Theo truyền thống, các mối đe dọa lớn nhất đối với Trung Quốc không xuất phát từ biển, trừ trường hợp cướp biển không thường xuyên, mà thường từ cạnh tranh nội bộ và các lực lượng du mục ở phía Bắc và phía Tây. Thách thức địa lý của Trung Quốc đã thúc đẩy một nền kinh tế nông nghiệp trên cơ sở quy mô dòng họ và nhỏ lẻ với một cơ cấu quyền lực mạnh mẽ phân cấp, được thiết kế một phần để giảm thiểu những thách thức liên tục từ các lãnh chúa và khu vực. Phần lớn thương mại của Trung Quốc với thế giới được thực hiện thông qua các tuyến đường bộ hoặc bởi người Arập và các thương nhân nước ngoài khác tại một số khu vực ven biển. Nói chung, Trung Quốc chỉ tập trung ổn định dân cư và biên giới đất liền hơn là các cơ hội tiềm tàng từ thương mại hàng hải hoặc thăm dò, bởi vì khi đó tiếp xúc với bên ngoài có thể mang lại nhiều rắc rối không kém gì những lợi ích. Hai yếu tố góp phần vào việc Trung Quốc thử nghiệm phát triển hải quân gồm: sự thay đổi chiến tranh từ phía Bắc xuống phía Nam Trung Quốc và có những thời điểm an ninh trong nước khá ổn định. Trong suốt triều đại nhà Tống (960-1279), các đội kỵ binh của vùng đồng bàng phía Bắc, vốn là một lực lượng quân sự lớn trên đất liền, kéo xuống phía Nam ven sông và đầm lầy. Lực lượng hải quân sông nước cũng phát triển ra bờ biển, và nhà Tống khuyến khích chuyển hướng về phía biển và thương thuyền của Trung Quốc thay thế các thương nhân nước ngoài dọc bờ biển. Mặc dù chủ yếu vẫn hướng vào nội địa trong suốt triều đại nhà Nguyên (1271-1368), nhưng Trung Quốc đã thực hiện ít nhất hai cuộc chiến hải quân lớn vào cuối thế kỷ 13 – chống Nhật Bản và Java – cả hai cuối cùng đã không thành công. Thất bại của các cuộc chiến góp phần vào quyết định của Trung Quốc một lần nữa quay lưng lại với biển. Cuộc phiêu lưu hàng hải lớn cuối cùng diễn ra vào đầu triều đại nhà Minh (1368-1644), khi nhà thám hiểm Hồi giáo Trịnh Hòa thực hiện 7 chuyến hành trình nổi tiếng tới nhiều khu vực trên thế giới như châu Phi, nhưng không sử dụng cơ hội này để thiết lập sức mạnh lâu dài của Trung Quốc ở nước ngoài. Hạm đội của Trịnh Hòa đã bị lãng quên vì Nhà Minh nhìn thấy khó khăn đang nổi lên trong đất liền, kể cả nạn cướp biển hoành hành ngoài khơi và Trung Quốc một lần nữa lại hướng nội. Tại cùng thời điểm mà Magellan bắt đầu chuyến thám hiểm toàn cầu vào đầu những năm 1500, Trung Quốc tiếp tục chính sách cô lập của họ, hạn chế thương mại và giao tiếp với bên ngoài và chấm dứt nghiên cứu các rủi ro hàng hải. Lực lượng hải quân Trung Quốc chuyển sang phòng vệ bờ biển hơn là tấn công. Sự xuất hiện các tàu chiến châu Âu trong thế kỷ 19 đã thu hút sự quan tâm của chính quyền Trung Quốc, và Trung Quốc sau đó đã thực hiện một chương trình hải quân dựa trên công nghệ phương Tây. Điều này cho thấy sự thống nhất trong suy nghĩ chiến lược lớn hơn của Trung Quốc vẫn hạn chế. Nhận thức không đầy đủ về hàng hải góp phần đưa đến quyết định của nhà Thanh nhượng quyền ra vào quan trọng cửa sông Đồ Môn cho Nga năm 1858, vĩnh viên đóng cửa ra vào vùng biển Nhật Bản từ phía Đông Bắc. Sau đó gần 40 năm, mặc dù xây dựng một đội tàu lớn nhất khu vực, hải quân Trung Quốc đã bị hải quân Nhật Bản mới nổi lên đánh bại. Sau đó gần một thế kỷ, người Trung Quốc một lần nữa tập trung gần như hoàn toàn trên đất liền, các lực lượng hải quân chỉ đóng vai trò phòng thủ thuần túy ven biển. Từ những năm 1990, chính sách này dần dần thay đổi khi mối quan hệ kinh tế của Trung Quốc với thế giới mở rộng. Đối với Trung Quốc, để bảo đảm sức mạnh kinh tế và nâng cao ảnh hưởng toàn cầu mạnh mẽ hơn, phát triển một chiến lược hải quân tiên phong đã trở thành điều bắt buộc.

Giải thích “đường 9 đoạn”

Để hiểu lôgích hàng hải của Trung Quốc ngày nay và các tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng của Trung Quốc, đầu tiên cần hiểu cái gọi là đường chín đoạn – đường biên giới lỏng lẻo phân định ranh giới các khiếu nại hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông. Đường 9 đoạn của Trung Quốc được dựa trên cơ sở một tuyên bố lãnh thổ năm 1947 của Chính quyền Quốc Dân Đảng lúc đó đang cầm quyền, thiếu sự cân nhắc chiến lược do lúc đó đang phải tập trung đối phó với hậu quả từ sự chiếm đóng của Nhật Bản trên đất Trung Quốc và cuộc nội chiến với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sau khi kết thúc sự chiếm đóng của Nhật Bản, Chính quyền Quốc Dân Đảng đã cử các sĩ quan hải quân và các đội khảo sát đến Biển Đông để lập bản đồ các hòn đảo khác nhau. Bộ Nội vụ Đài Loan công bô một tấm bản đồ đường 11 đoạn ở Biển Đông kéo ra xa từ bờ biển của Trung Quốc. Bản đồ này, mặc dù thiếu các tọa độ cụ thể, đã trở thành cơ sở cho tuyên bố hiện nay của Chính quyền Bắc Kinh sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949. Năm 1953, có lẽ như một biện pháp nhàm giảm thiểu xung đột với nước láng giềng Việt Nam, Bắc Kinh loại bỏ 2 trong số 11 đoạn, từ đó hình thành đường 9 đoạn như hiện nay. Trước đây các nước láng giềng ít phản đối hoặc khiếu nại bản đồ đường 9 đoạn của Bắc Kinh do họ đang tập trung cho các phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc. Bắc Kinh coi sự im lặng của những người hàng xóm và cộng đồng quốc tế là sự phục tùng và sau đó Bắc Kinh chủ yếu im lặng để tránh những thách thức đối với bản vẽ. Bắc Kinh lảng tránh việc tuyên bố chính thức đường 9 đoạn vì cho rằng nó là một biên giới bất khả xâm phạm bất chấp các nước khu vực và quốc tế công nhận hay không công nhận và coi đường 9 đoạn là cơ sở lịch sử để chống lại các tuyên bố chủ quyền biển khác.

Cũng như các nước tuyên bố chủ quyền khác như Việt Nam và Philíppin, mục tiêu lâu dài của Trung Quốc là sử dụng khả năng mạnh mẽ của hải quân để kiểm soát các đảo cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên và vị thế chiến lược của Biển Đông. Khi quân đội còn yếu kém, Bắc Kinh ủng hộ quan điểm gạt sang một bên các bất đồng chủ quyền và chú trọng phát triển chung nhằm hạn chế các bất đồng lớn do sự chống lấn chủ quyền, đồng thời kéo dài thời gian để phát triển lực lượng hải quân của mình. Bên cạnh đó, để đối phó với sự đoàn kết của các nước tuyên bố chủ quyền Biển Đông, Bắc Kinh âm mưu sử dụng cách tiếp cận đàm phán với từng quốc gia tuyên bố lãnh thổ mà không cần đề cập đến tuyên bố về đường 9 đoạn đó. Cách tiếp cận này sẽ cho phép Bắc Kinh chiếm ưu thế trong các cuộc đàm phán song phương – vấn đề mà họ lo sợ sẽ bị mất trong các diễn đàn đa phương. Mặc dù đường 9 đoạn không được Công ước củua Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 công nhận và liên tục gây nhiều tranh cãi, nhưng hiện nay Bắc Kinh ít có khả năng từ bỏ tuyên bố của họ. Trước sự quan tâm rất lớn của quốc tế và cạnh tranh khu vực trên Biển Đông, người dân Trung Quốc, vốn coi vùng nước trong đường 9 đoạn là khu vực lãnh hải Trung Quốc, đang ép Bắc Kinh có những hành động quyết đoán hơn. Điều này khiến Trung Quốc ở một vị thế khó khăn khi Bắc Kinh cố gắng mô tả phát triển chung như một bằng chứng cho thấy các nước khác đã công nhận tuyên bố lãnh thổ của Trung Quốc. Trái lại, các nước đối tác đã lảng tránh khi Bắc Kinh tìm cách giảm nhẹ tuyên bố để duy trì quan hệ quốc tế, trong khi người dân Trung Quốc ở trong nước thường tổ chức các cuộc biểu tình yêu cầu Chính phủ hành động. Nhưng bất cứ nỗ lực nào nhằm thu hút cử tri trong nước của Chính quyền Bắc Kinh đều có nguy cơ gây tức giận cho các đối tác nước ngoài hoặc ngược lại.

Phát triển chính sách hàng hải


Các diễn biến từ đường 9 đoạn, tình hình phát triển trong nước, và hệ thống quốc tế có nhiều thay đổi đã góp phần hình thành chiến lược phát triển biển của Trung Quốc. Dưới thời Mao Trạch Đông, Trung Quốc tập trung vào nội bộ và bị hạn chế do lực lượng hải quân yếu kém. Mặc dù các tuyên bố lãnh hải của Trung Quốc rất mơ hồ, nhưng khi các nước láng giềng chỉ tập chung vào cuộc đấu tranh giành độc lập, Trung Quốc đưa ra quan điểm biên giới lãnh hải mạnh mẽ hơn. Phát triển hải quân của Trung Quốc chủ yếu vẫn phục vụ mục tiêu phòns thủ và bảo vệ bờ biển khỏi các cuộc xâm lược từ bên naoài. Trong các nỗ lực cải cách kinh tế trong nước cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, Đặng Tiểu Bình đã tìm cách phát triển kinh tế thực dụng hơn từ các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông, đặt tuyên bố chủ quyền lãnh hải sang một thời điểm khác. Chi phí quân sự của Trung Quốc tiếp tục ưu tiên cho các lực lượng trên bộ và lực lượng tên lửa, còn lực lượng hải quân chỉ đóng vai trò bảo vệ các vùng ven biến Trung Quốc. Hai thập kỷ tiếp theo, Đặng Tiểu Bình vẫn tiếp tục các chính sách như vậy. Mặc dù lúc đó ở Biển Đông xảy ra một số đụng độ, nhưng nói chung, Bắc Kinh tiếp tục theo đuổi chiến lược tránh đối đầu và coi đây là một nguyên tắc cốt lõi trên biển. Hải quân Trung Quốc không ở vị trí thách thức sự thống trị của hải quân Mỹ hoặc không có bất cứ hành động quyêt đoán nào đối với các nước láng giềng, đặc biệt kể từ khi Bắc Kinh tìm cách tăng cường ảnh hướng trong khu vực thông qua các phương tiện kinh tế và chính trị. Nhưng đề nghị hợp tác phát triển Biển Đông của Bắc Kinh phần lớn bị thất bại. Do sức mạnh kinh tế và chi tiêu quân sự của Trung Quốc ngày càng tăng, đặc biệt gần đây Trung Quốc tập trung hiện đại hóa lực lượng hải quân, từ đó khiến các nước láng giềng nghi ngờ và họ kêu gọi đóng vai trò tích cực hơn để đối trọng với sự gia tăng của Trung Quốc. Vấn đề đường 9 đoạn và tuyên bố chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc cùng nổi lên đáng kể vì nhiều nước nộp đơn khiếu nại chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển. Trung Quốc, đã ký Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển chủ yếu do lợi ích hàng hải và tài nguyên ở Biển Đông, nhận thấy chính họ cũng phải đưa ra một số tuyên bố ngược lại ở Biển Đông, từ đó báo động ở các nước láng giềng trước những gì được coi là hành động thúc đẩy ý đồ bá chủ khu vực của Bắc Kinh. Nhưng không chỉ các quốc gia có tranh chấp Biển Đông tỏ ra lo ngại trước các biện pháp của Trung Quốc, các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc Mỹ, Ôxtrâylia và Ấn Độ…, những nước phụ thuộc vào biển về thương mại và vận tải quân sự, cũng tỏ thái độ không thể chấp nhận quan điểm bành trướng của Trung Quốc. Tất cả các quốc gia này coi những hành động của Trung Quốc như một khúc dạo đầu thách thức các vùng nước thuộc quốc gia khác. Trung Quốc phản ứng băng những lời lẽ ngày càng quyết đoán và quân đội Trung Quốc cũng đóng vai trò lớn hơn trong các quyết định chính sách đối ngoại. Rõ ràng chính sách về không đối đầu của Trung Quốc trước đây nay đã được thay thế bằng một cách tiếp cận mới.

Tranh luận về chính sách đối ngoại

Năm 1980, Đặng Tiểu Bình đưa ra chính sách đối ngoại, trong đó yêu cầu Trung Quốc lặng lẽ quan sát, giữ vững trận địa, bình tĩnh ứng phó, giấu mình chờ thời…. Những nguyên lý cơ bản này vẫn là cốt lõi trong chính sách đối ngoại Trung Quốc và được coi là nguyên tắc chỉ đạo hành động hoặc sử dụng để bào chữa cho hành động yên lặng. Nhưng môi trường trong nước và khu vực đã thay đổi đáng kể từ những ngày đầu của cuộc cải cách do Đặng Tiểu Bình phát động và phát triển kinh tế và quân sự của Trung Quốc. Do đó Bắc Kinh hiểu rằng chỉ thông qua một chính sách chủ động hơn, Trung Quốc mới có thể phát triển từ một sức mạnh duy nhất trên đất liền đến sức mạnh trên biển và định hình lại khu vực một cách có lợi cho lợi ích an ninh của họ. Nếu không hành động như vậy, các quốc gia khác trong khu vực và đồng minh của họ, cụ thể Mỹ, sẽ âm mưu hoặc thậm chí đe dọa các tham vọng của Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc đang tranh cãi hoặc thay đổi ít nhất bốn yếu tố chính sách của Đặng Tiểu Bình: 1. Thay đổi từ không can thiệp chuyển sang việc can thiệp sáng tạo; 2. Thay đổi từ nền ngoại giao song phương sang ngoại giao đa phương; 3. Thay đổi từ ngoại giao phản ứng sang ngoại giao phòng ngừa; 4. Phát triển từ chính sách không liên kết chặt chẽ sang bán liên minh. Can thiệp sáng tạo được Bắc Kinh mô tả như một biện pháp để Trung Quốc chủ động hơn trong việc bảo vệ lợi ích của họ ở nước ngoài bằng cách tham gia nhiều hơn vào tình hình chính trị của các nước khác – một sự thay đổi từ không can thiệp sang một thứ gì đó linh hoạt hơn. Trung Quốc đã sử dụng tiền và các công cụ khác để hình thành sự phát triển bên trong ở các nước khác trong quá khứ, nhưng sự thay đối chính sách chính thức sẽ đòi hỏi Trung Quốc phải can dự sâu hơn các vấn đề khu vực. Nhung điều này sẽ làm suy yếu các nỗ lực của Trung Quốc trong việc thúc đẩy ý đồ: Trung Quốc chỉ là một quốc gia đang phát triển giúp các nước đang phát triển khác trong bối cảnh của chủ nghĩa đế quốc phương Tây và bá quyền. Sự thay đổi trong nhận thức có thể ảnh hưởng đến một số lợi thế của Trung Quốc trong việc lôi kéo các nước đang phát triển vì Bắc Kinh dựa trên những cam kết không can thiệp chính trị như một biện pháp chống lại những lời chào mời của phương Tây về các công nghệ tốt hơn hoặc những nguồn phát triển tốt hơn thường kèm theo nhũng yêu cầu thay đổi chính trị của phương Tây. Từ lâu Trung Quốc đã dựa vào quan hệ song phương như một biện pháp ưa thích để quản lý các lợi ích quốc tế. Khi hoạt động trong các diễn đàn đa phương, Trung Quốc thường im lặng chứ không thể hiện sức mạnh của một siêu cường. Ví dụ, Trung Quốc có thể ngăn chặn các biện pháp trừng phạt trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhưng hiếm khi đề nghị các giải pháp khác cho cộng đồng quốc tế theo đuổi.

Nhưng hiện nay Trung Quốc đang theo đuổi các mối quan hệ đa phương như một cách để bảo đảm quyền lợi của họ thông qua các nhóm lớn hơn. Mối quan hệ của Trung Quốc với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, tham gia Tổ chức Hợp tác Thượng Hải và theo đuổi hội nghị thượng đỉnh ba bên giúp Bắc Kinh định hướng chính sách của các tổ chức này. Bằng việc chuyển sang cách tiếp cận đa phương, Trung Quốc có thể làm cho một số quốc gia yếu hơn cảm thấy an toàn, từ đó có thể ngăn chặn các nước này chuyển sang tìm kiếm sự ủng hộ của Mỹ. Theo truyền thống, Trung Quốc áp dụng một chính sách ngoại giao tương đối tích cực, đối phó với cuộc khủng hoảng khi chúng xuất hiện nhưng thường không phát hiện hoặc hành động để ngăn chặn các cuộc khủng hoảng trước khi chúng trở thành hiện thực. Ở những nơi đã tìm cách tiếp cận được các nguồn tài nguyên thiên nhiên, Bắc Kinh thường bị chỉ trích không quan tâm tới những thay đổi trong khu vực và không chuẩn bị các chiến lược phản ứng, chẳng hạn sự phân chia Xuđăng thành hai nước Xuđăng và Nam Xuđăng. Giờ đây Trung Quốc đang tranh luận về việc chuyển hướng chính sách này sang một chính sách khác để có thể hiểu biết các lực lượng cơ bản và các nguy cơ dẫn đến xung đột, từ đó hành động một mình hoặc hợp tác với cộng đồng quốc tế nhằm xoa dịu các căng thẳng. Đối với Biển Đông, điều này có nghĩa, Trung Quốc phải làm rõ chủ quyền biển của họ ở mức nào thay vì tiếp tục sử dụng đường 9 đoạn mơ hồ, đồng thời nỗ lực theo đuổi các ý tưởng cho một cơ chế an ninh châu Á, trong đó Trung Quốc sẽ đóng một vai trò lãnh đạo tích cực. Lập trường của Trung Quốc về các liên minh vẫn giữ nguyên như Đặng Tiểu Bình đưa ra trong những năm 1980: Trung Quốc không tham gia thiết lập liên minh nhằm chống lại nước thứ ba. Đây là quan điểm cho phép Trung Quốc duy trì chính sách đối ngoại độc lập và tránh các vấn đề quốc tế do liên minh gây nên. Ví dụ, kế hoạch Trung Quốc chiếm lại Đài Loan bị nhấn chìm bởi sự tham gia của Trung Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên và nhờ đó quan hệ của Trung Quốc với Mỹ được thiết lập lại sau một thập kỷ. Sự sụp đổ của hệ thống Chiến tranh Lạnh và sự gia tăng ảnh hưởng kinh tế và quân sự của Trung Quốc đã tạo nên chính sách mới. Bắc Kinh theo dõi thận trọng khi NATO mở rộng về phía Đông và khi Mỹ tăng cường liên minh quân sự ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Rõ ràng, chính sách không liên minh của Bắc Kinh khiến Trung Quốc thiếu khả năng một mình đối mặt với các tổ chức này. Do đó, Trung Quốc chủ trương theo đuối cơ cấu bán liên minh nhăm khăc phục nhược điểm này. Hiện nay Trung Quốc đang tìm kiếm và thúc đẩy các mối quan hệ đối tác chiến lược cũng như các cuộc diễn tập quân sự và nhân đạo với nhiều quốc gia khác là một phần của chiến lược này. Chiến lược mới của Trung Quốc nhằm xây dụng một cơ cấu liên minh chống lại Mỹ. Trong chiến lược biển, Bắc Kinh đang nỗ lực hợp tác với Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc trong các hoạt động clìống cướp biển, và trao đổi các hoạt động của hải quân và diễn tập chung.

Hướng về phía trước

Thế giới đang thay đổi. Sự phát triển của Trung Quốc như một cường quốc kinh tế lớn buộc Bắc Kinh phải suy nghĩ lại chính sách đối ngoại truyền thống. Trước mắt, vấn đề Biển Đông là một mô hình thu nhỏ của cuộc tranh luận rộng lớn về chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Các tuyên bố chủ quyền mập mờ của Trung Quốc chỉ có tác dụng khi tình hình khu vực yên tĩnh, nhưng không phục vụ mục đích phát triển lợi ích biển và hoạt động của hải quân Trung Quốc, ngược lại đã làm tăng căng thẳng giữa Bắc Kinh và khu vực. Công cụ chính sách trước đây không còn phục vụ các nhu cầu của Trung Quốc. Chính sách phát triển kế thừa từ Đặng Tiểu Bình không còn mang lại bất cứ sự hợp tác đáng kể nào với các nước láng giềng ven biển và việc khẳng định đường 9 đoạn hoàn toàn trái với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển đồng thời làm gia tăng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi ở trong nước cũng như các phản ứng mạnh mẽ của các nước láng giềng. Mặc dù chính sách biển thiếu rõ ràng, nhưng Trung Quốc thể hiện ý đồ tiếp tục củng cố tuyên bố của họ trên cơ sơ đường 9 đoạn. Bắc Kinh thừa nhận những thay đổi chính sách là cần thiết, nhưng sự thay đổi đó không được gây nên bất cứ hậu quả nào./.

VỊ TRÍ NÀO CHO INĐÔNÊXIA Ở ĐÔNG NAM Á?

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 26/7/2012
TTXVN (Giacácta 22/7)

Bàn về các yếu tố cấu thành địa chính trị – kinh tế của khu vực Đông Nam Á trong bối cảnh hiện nay; vai trò và cách hành xử của Inđônêxia với tư cách là một nước lãnh đạo khu vực có sức ảnh hưởng ngày càng tăng trong chính sách của các nước lớn, học giả Beginda Pakpahan – giảng viên Đại học Inđônêxia và là một nhà nghiên cứu tại trường Đại học Edinburgh (Anh) có bài biết đăng trên tờ “Bưu điện Giacácta”, nhan đề: “Địa chính trị và địa kinh tế ở Đông Nam Á: Vị trí nào của Inđônêxia?”. Dựa trên những phân tích tình hình, trong đó có vấn đề Biển Đông và cấu trúc hiệp định tự do thương mại (FTA), tác giả cũng đã đưa ra những luận giải chính sách vì một Đông Á, ASEAN ổn định, phát triển đáng lưu tâm. Sau đây là nội dung bài viết:


Địa chính trị và địa kinh tế trên toàn bộ khu vực Đông Nam Á đang thay đổi nhanh chóng hơn bao giờ hết, trong khi tầm quan trọng toàn cầu của các vấn đề nội bộ khu vực tiếp tục mở rộng. Trong đó, Biển Đông và sự gia tăng của quan hệ đối tác thương mại là hai vấn đề trung tâm của các nước khu vực và trên toàn thế giới.

Vậy vị trí của Inđônêxia,trong hai vấn đề này là gì? Làm thế nào chúng ta có thể dự báo phản ứng của Inđônêxia đối với những phát triển đó? Mức độ mà Inđônêxia có thể, hoặc nên phát triển hoặc tăng cường vị trí của mình?

Tôi cho rằng Inđônêxia nên ở vào vị trí trung tâm địa chính trị – kinh tế đương đại khu vực Đông Nam Á; tăng cường năng lực và khả năng của mình để hành xử như một nhân tố ổn định không liên kết, và như là một nhạc trưởng, nếu không thì cũng như một bên tham gia.

Thiết lập và duy trì ổn định kinh tế, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế trong khu vực là vai trò chính của ASEAN. Inđônêxia, với tư cách là một quốc gia, một quyền lực ngoại giao hoặc kinh tế, có thể phải đóng vai trò trung tâm trong định hướng tới nhũng mục tiêu này. Đó chính là sức mạnh của nên kinh tế Inđônêxia, đến mức mà sự ổn định khu vực không thể đạt được nếu thiếu chúng ta.

Biển Đông trở thành một vấn đề quan trọng đối với Inđônêxia, bởi hiện tồn tại rất nhiều tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và các nước ASEAN (Philíppin, Malaixia, Việt Nam và Brunây). Đôi khi Trung Quốc và Philíppin chơi trò chơi nguy hiểm ăn miếng trả miếng thông qua các tàu của họ ở bãi Scarborough – nơi cả hai đều tuyên bố chủ quyền. Hai bên cố tình gia tăng căng thẳng trong khu vực tới mức mà Trung Quốc gần đây đã phải cảnh báo các công dân của mình ở Philíppin. Còn Philíppin được Mỹ cam kết bảo vệ những gì mà Manila coi là lãnh thổ, nếu bị tấn công.

Sự căng thẳng ở Biển Đông có thể sẽ trở thành một cuộc chiến tranh toàn diện, nếu không được giải quyết hiệu quả.

Ôxtrâylia mời Mỹ triển khai 2.500 lính thủy đánh bộ ở căn cứ Danviri, với tuyên bố công khai là để đối phó với thiên tai trong khu vực. Oasinhtơn cũng hứa hẹn với Canbơrơ triển khai các thiết bị do thám ở quần đảo Cocos để theo dõi các hoạt động ở Biển Đông.

Những động thái này đã khiến Trung Quốc và các nước ASEAN chú ý. Biển Đông có khả năng trở thành một nơi cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc. Xét về mặt địa lý, đây là một khu vực căng thẳng địa chính trị hoàn toàn mới, và là sân sau của chúng ta.

Nếu Biển Đông đại diện cho một địa chính trị mới, thì sự phổ biến của các quan hệ đối tác kinh tế chắc chắn phải là hình mẫu của một địa kinh tế mới ở khu vực Đông Nam Á. ASEAN đã mở rộng họp tác kinh tế với các đối tác bên ngoài thông qua các hiệp định tự do thương mại (FTA) và hiệp định đối tác kinh tế khác. Nhiều thòa thuận kinh tế đã được ký kết, hoàn tất và đang trong quá trình triển khai, với các nước láng giềng và lân cận như Trung Quốc, Ấn Độ, Ôxtrâylia, Niu Dilân, Nhật Bản và Hàn Quốc. Các nước thành viên ASEAN cũng đã đạt thoả thuận song phương về kinh tế, ví dụ: Xinhgapo – Trung Quốc và Brunây – Nhật Bản.

Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang nổi lên như một thỏa thuận thương mại quan trọng trong khu vực chúng ta.

Các nước thành viên TPP hiện bao gồm Niu Dilân, Xinhgapo, Brunây, Chilê, Mỹ, Malaixia, Ôxtrâylia, Việt Nam và Nhật Bản đã bày tỏ sự quan tâm đến tư cách thành viên và nhanh chóng thúc đẩy đàm phán gia nhập.

Trong khi chưa phải là thành viên của quan hệ đối tác này, Mỹ đã tuyên bố ý định thuyết phục các đồng minh trong khu vực Đông Nam Á tham gia TPP. Do đó, việc mở rộng nhanh chóng của các hiệp định thương mại kết họp với việc Mỹ xúc tiến thành lập TPP tạo nên đặc điểm một địa kinh tế mới của khu vực.

Dù muốn hay không, vị trí của Inđônêxia là ở trung tâm của những phát triển này. Một mặt, chúng ta là quốc gia lớn nhất Đông Nam Á với một vị trí chiến lược trong mối quan hệ với Trung Quốc, Mỹ, Ôxtrâylia. Nhật Bản và Hàn Quốc. Mặt khác, Inđônêxia nằm giữa sự cạnh tranh đang phát triển giữa Trung Quốc và Mỹ về các vấn đề nêu trên: cọ xát kinh tế và lãnh thổ trong khu vực.

Không liên kết và nằm giữa các siêu cường, Inđônêxia hoàn toàn có thể là một nhân tố ổn định ảnh hưởng và trung gian trung thực giữa Mỹ và Trung Quốc. Chúng ta có cả cơ hội và năng lực để thúc đẩy hòa bình, an ninh và phát triển kinh tế.

Trên bình diện địa chính trị của khu vực Đông Nam Á, nếu ảnh hướng của Inđônêxia không phát huy tác dụng, liệu Trung Quốc có thể được thuyết phục để tôn trọng Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC) và Bộ qui tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông? Inđônêxia, và có lẽ chỉ Inđônêxia, mới có động lực và cơ hội để tác động đến Trung Quốc và Philíppin và giảm căng thẳng trong khu vực Biển Đông.

Inđônêxia có thể đề nghị phương cách chủ quyền chung đối với các vùng biển tranh chấp giữa Trung Quốc, Philíppin, Việt Nam, Malaixia và Brunây với sự ủng hộ của Mỹ và các nước ASEAN khác. Nếu cần phải như vậy, Inđônêxia sẽ dàn xếp ổn thỏa việc này.

Dưới vai trò chèo lái của Inđônêxia, ASEAN và Trung Quốc có thề thiết lập một ủy ban an ninh chung để giám sát các thỏa thuận tập thể (ví dụ như an ninh hàng hải và hợp tác năng lượng) trên Biển Đông.

Với vai trò lãnh đạo mạnh mẽ, vô tư đó, thì Trung Quốc, Philíppin, và các quốc gia liên quan khác có thể làm việc cùng nhau để bảo vệ và phát triển khu vực Biển Đông mà không còn có bầu không khí ngờ vực, sợ hãi và các mối đe dọa như hiện nay.

Đối với các yếu tố địa kinh tế của khu vực Đông Nam Á, Inđônêxia có thể tạo năng lực để ASEAN đạt đuực một lập trường chung khi ứng phó với sự phát triển của quan hệ đối tác kinh tế trong khu vực. Inđônêxia cần nhắc nhở và tác động các nước ASEAN khác hành động một cách tập thể, nhằm tăng cường hiệu lực của các FTA giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài, và làm cho Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) trở thành một cơ sở cho hợp tác kinh tế ở Đông Á.

Mỹ, Ôxtrâylia và các nước khác trong khu vực là thành viên của EAS. Nói cách khác, nếu có ý chí, Inđônêxia có thể mang lại một nỗ lực tập thể của ASEAN, Mỹ và các đối tác khác để thúc đẩy EAS trở thành một trục họp tác kinh tế./.

14/7/12

TRIỂN VỌNG QUAN HỆ HỢP TÁC NGA-TRUNG Ở HƯỚNG ĐÔNG



THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 12/7/2012
TTXVN (Mátxcơva 10/7)

“Báo Độc lập” (Nga) gần đây đăng bài viết của nhà phương Đông học Iuri Tavrovski với tiêu đề “Phát triển phía Đông”, trong đó phân tích và bình luận về chiến lược mở rộng, phát triển phía Đông của Nga và triển vọng quan hệ hợp tác giữa Nga và Trung Quốc ở khu vực này, như sau:

Từ mùa Thu 2011, sáu tháng trước khi bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống tiếp theo, trong một bài báo, ông Vladimir Putin đã bất ngờ tuyên bố về sự cần thiết phải tái liên kết không gian Âu-Á. Tính chất quan trọng của những ý định này của ông Putin được khẳng định bằng việc thành lập một cơ cấu chuyên biệt siêu quốc gia – Ủy ban Kinh tế Âu – Á. Ủy ban này đã tuyển hàng trăm nhân viên và có quyền hạn rộng rãi được hợp thức hóa về mặt pháp lý. Đề xuất mang tính khái niệm vấn đề chuyển sang phía Đông tiếp tục được đề cập ở một trong bảy bài viết mang tính cương lĩnh, nói về chính sách đối ngoại của Nga đặc biệt trong đó nhấn mạnh việc nâng cao vai trò của khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong các quá trình kinh tế và chính trị toàn cầu, nhấn mạnh ý nghĩa của việc sử dụng các nguồn lực của Trung Quốc để nâng cao đời sống kinh tế ở vùng Xibêri và Viễn Đông. Ông Putin kêu gọi “mượn gió của Trung Quốc để nâng cánh buồm kinh tế của chúng ta”. Bài báo “đề cập đến việc “nâng ảnh hưởng của toàn bộ khu vực châu Á-Thái Bình Dương” và “những chân trời mới đang được mở ra cho hoạt động có hiệu quả”.

Bộ Phát triển khu vực Viễn Đông, Sân bay vũ trụ mới, Hội nghị thượng đỉnh

Khuôn khổ của bài viết trước bầu cử không cho phép ông Putin nêu ra đầy đủ mọi thuận lợi và bất lợi khiến Nga sẽ phải gia tăng ảnh hưởng của mình trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Trước hết Tổng thống Mỹ Obama đã đưa ra tuyên bố về việc chuyển ưu tiên của Mỹ trong chính sách đối ngoại và những chuẩn bị về mặt quân sự từ khu vực Trung Đông sang châu Á-Thái Bình Dương nhằm “kiềm chế” Trung Quốc. Chiến lược này của Mỹ sẽ động chạm không chỉ đến Trung Quốc mà đến tất cả các nước trong châu Á-Thái Bình Dương, cho dù các nước này có quan hệ với Oasinhtơn hay Bắc Kinh như thế nào đi chăng nữa. Đối với Nga, việc “kiềm chế” Trung Quốc làm gia tăng áp lực của Mỹ và đồng minh của Mỹ đối với khu vực Xibêri, đặc biệt là Viễn Đông. Mỹ định hạn chế việc Trung Quốc khai thác các nguồn nguyên nhiên liệu của các nước khác – từ Libi đến Mianma, từ Xuđăng đến Mỹ Latinh. Tình trạng di cư ít ỏi và tương đối chưa phát triển của các khu vực phía Đông của chúng ta có thể trở thành cái cớ để họ kêu gọi “quốc tế hóa” khu vực này. Họ tranh luận rằng “những nguồn tài nguyên mà Nga đang sử dụng một cách không hợp lý là thuộc về toàn thể nhân loại”, vấn đề bảo vệ khu vực Xibêri và Viễn Đông có thể, trước hết, thông qua việc đẩy nhanh sự phát triển các khu vực này, mở rộng các xí nghiệp hiện có và xây dựng các xí nghiệp mới, các tuyến đường giao thông vận tải, các thành phố và làng mạc. Việc xao nhãng những vấn đề phía Đông đất nước làm nảy sinh tư tưởng phân lập trong cư dân địa phương. Trong một cuộc điều tra dân số mới đây, hàng nghìn người đã gọi mình là “người Xibêri”. Sự tồn tại không lâu của nước Cộng hòa Viễn Đông “có chủ quyền”, đã bị những người Bônsêvích giải thể vì ảnh hưởng của Mỹ ngày càng tăng lên, đang được nhắc lại với sự hoài niệm.

Vài tháng trước đây, vai trò đột phá trong sự hồi sinh một nửa phía Đông của nước Nga đã được giao cho Tổng công ty nhà nước về phát triển khu vực Xibêri và Viễn Đông. Trước hết, Tổng Công ty này bắt tay vào việc xây dựng các cảng, đường sá và sân bay, phát triển hệ thống thông tin liên lạc. Điều đáng chú ý là những thống tin đầu tiên về việc thành lập bộ mới (Bộ Phát triển khu vực Viễn Đông) đã gặp phải sự chỉ trích gay gắt của một số nhà kinh tế có ảnh hưởng. Những người có xu hướng hướng sang phương Tây chỉ trích mạnh mẽ nhất. Họ lo ngại việc làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác Nga – Trung và trong “Chương trình – 2020” do họ soạn thảo, họ công khai gọi Trung Quốc là “mối đe dọa chiến lược chủ yếu của Nga”. Những lời chỉ trích nhằm vào việc “con quái vật có quyền hành vô hạn của nhà nước đang ngăn cản sự phát triển của các lực lượng thị trường”. Tuy nhiên, những kết quả không hài lòng của việc tự gạt bỏ vai trò của nhà nước có lợi cho các lực lượng thị trường ở khu vực Xibêri và Viễn Đông trong những năm “thắng lợi của chủ nghĩa tự do tiên tiến” đang chứng minh sự mong muốn có những

cách tiếp cận mới đối với khu vực này. Có lẽ, việc thành lập Bộ Phát triển khu vực Viễn Đông thuộc về những cách tiếp cận đó. Chưa bao giờ trong các cơ cấu chính phủ của Liên Xô trước đây hoặc Nga hiện nay có bộ này. Hiện chưa rõ, liệu bộ này có bãi bỏ ý tưởng thành lập tổng công ty nhà nước hay không. Nhưng rõ ràng bộ mới sẽ có quyền hạn hết sức rộng lớn và có nguồn lực tài chính đáng kể. Không phải ngẫu nhiên mà ông Viktor Ishayev, cựu Thống đốc khu vực Khabarovsk được bổ nhiệm làm bộ trưởng bộ này. Ông Ishayev sẽ đồng thời giữ chức Đại diện toàn quyền của Tổng thống tại khu vực Viễn Đông thuộc Liên bang. Việc bố trí trụ sở của Bộ Phát triển khu vực Viễn Đông tại Khabarovsk, chứ không phải ở Matxcơva, sẽ là việc chưa từng có. Bởi để làm việc này thậm chí phải sửa đổi Hiến pháp Nga. Hiến pháp quy định trụ sở của các bộ chỉ đóng ở Matxcơva. Dường như, Bộ Phát triển khu vực Viễn Đông đóng ở Khabarovsk sẽ đáp ứng được sự phát triển của vùng Xibêri.

Trong các dự án phát triển vùng Xibêri – Viễn Đông gắn với tên của ông Putin, nổi lên việc xây dựng Sân bay vũ trụ mới “phương Đông” và việc tổ chức Hội nghị thượng đỉnh APEC tại Vladivostok vào tháng 9 năm nay. Cũng có nhiều bình luận và chỉ trích gay gắt và sự hoài nghi đối với những dự án này. Thật vậy, tham nhũng và tình trạng bừa bãi, trình độ chuyên môn thấp và sự thiếu hụt sức lao động đã ảnh hưởng đáng kể tới việc thực hiện nhiều sáng kiến, cho dù ở phía Tây hay ở phía Đông nước Nga. Nhưng việc mới đây kết nối khâu cuối cùng của cây cầu treo khổng lồ dẫn tới “đảo Nga”, nơi sẽ diễn ra Hội nghị thượng đỉnh APEC, chứng tỏ sự đúng đắn của câu thành ngữ “Có đi mới đến”.

Thủ tướng Stolypin trước đây, Tổng thống Putin hiện nay

Tại sao ông Putin lại quan tâm nhiều tới các khu vực phía Đông của nước Nga đến vậy? Bản thân ông sinh ra và lớn lên Lêningrát, thành phố phía Tây nước Nga, học tiếng Đức và trải qua những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời ở Đức. Sau khi nắm quyền lực, ông đã nhanh chóng thiết lập các mối quan hệ chính thức với các đồng nghiệp Đức, Pháp, Italia, Mỹ, giành được uy tín đối với họ. Phải chăng điều đáng thất vọng chính là trong sự tương tác với các nhà lãnh đạo châu Âu và Mỹ, những người luôn nói những lời ấm áp và vồ vai, nhưng vẫn tiếp tục bao vây Nga bằng một vòng các căn cứ quân sự và ép đẩy các công ty của Nga ra khỏi các thị trường mà chúng ta đã giành được? Trong khi đó, các nhà lãnh đạo Trung Quốc, mặc dù không vỗ vai, nhưng họ thực hiện đầy đủ những cam kết trong quan hệ đối tác chiến lược, họ cho chúng ta vay tín dụng để thực hiện các dự án về dầu mỏ – những dự án rất quý giá đối với ông Putin.

Có lẽ niềm say mê đối với lịch sử và địa lý của ông Putin trong thời gian gần đây đã thúc đẩy việc mở rộng tầm nhìn chiến lược của ông. Việc khai thác vùng Xibêri và Viễn Đông trong đầu thế kỷ XX là một phần quan trọng trong những thành tựu cua Thủ tướng Stolypin (triều đại Nikolai II, Hoàng đế cuối cùng trong lịch sử Nga) mà ông ngưỡng mộ Việc di chuyển thành công ba triệu nông dân từ Ucraina và Nga sang phía Đông cùng với việc dành cho họ những khuyến khích về tài chính và ưu đãi về thuế đang gợi lên những liên tưởng về cơ cấu hoàn hảo được ông Putin ủng hộ. Thủ tướng Stolypin đã nói vào năm 1908 khi thảo luận tại Đuma Quốc gia vấn đề về xây dựng tuyến đường sắt Amursk “Con đại bàng của chúng ta, di sản của Đế chế Bidăngtin – là con đại bàng hai đầu. Tất nhiên, những con đại bàng một đầu khỏe mạnh và mạnh mẽ, nhưng con đại bàng của Nga nếu chặt cái đầu nhìn sang phía Đông, thì các vị sẽ không thể biến nó thành con đại bàng một đầu, các vị sẽ chỉ làm cho nó chảy máu”. Có lẽ ông Putin hồi tưởng lại những lời nói này của Thủ tướng Stolypin trong một chuyến công cán bằng chiếc Lada màu vàng trên con đường cao tốc Chita – Khabarovsk, ông nhận ra những cơ hội hết sức to lớn và tình trạng chưa phát triển của vùng Viễn Đông, ông cũng chợt nhớ lại chuyến du hành trong những năm 1890-1891 của Hoàng thái tử Nikolai Alexandrovich bằng đường biển vòng quanh châu Âu và châu Phi đến Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản và trở lại Xanh Pêtécbua bằng đường bộ qua vùng Viễn Đông và Xibêri. Tận mắt nhìn thấy các nước láng giềng và sự rộng lớn của nước Nga. sau khi trở thành Hoàng đế, Nikolai đã bật đèn xanh cho một số dự án phát triển quy mô lớn, xây dựng các thành phố, bến cảng và đường sắt. Nhà phương Đông học Esper Ukhtomsky, người đi hộ tống chuyến đi của Hoàng Thái tử và trở thành người bạn thân cận của vị hoàng đế chuyên quyền, đã đứng đầu Ngân hàng Nga – Trung Quốc và Hội đồng quản trị đường sắt Mãn Châu Lý, thực hiện các sứ mệnh ngoại giao tế nhị.

Sự phát triển “rượt đuổi” – mô hình phát triển hiệu quả
Trong thời kỳ Liên Xô và tiếp theo là Nga, Chính quyền đã nỗ lực ngăn chặn tình trạng sụy giảm dân số và chậm phát triển kinh tế của vùng Xibêri và Viễn Đông. Không ít chương trình, dự án dài hạn và ngắn hạn của các công ty nhà nước và các chủ thể thuộc Liên bang đã được thông qua. Những nguồn tài chính khổng lồ đã được phân bổ để thực hiện những chương trình và dự án đó. Thường những chương trình và những dự án này không đồng bộ và không hướng vào mục tiêu chung – phát triển khu vực này. Rõ ràng, hiện nay các phương pháp tiếp cận mới và sáng tạo có thể bảo đảm hiệu ứng tương đối nhanh chóng, sẽ được đặt ra. Những việc đã làm trước đây liệu có bổ ích cho những người hoạch định chiến lược mới, những người không có thời gian để soạn thảo “từ đầu” hay không. Tuy nhiên, bên cạnh chúng ta có một mô hình phát triển các khu vực chậm phát triển hiện đang có hiệu quả. Ở đây chúng tôi muốn nói tới Trung Quốc. Các chương trình chiến lược như “mở cửa các khu vực cận biên” (từ năm 1992), “khai thác quy mô lớn phần phía Tây đất nước” (từ năm 1999), “hiện đại hóa các cơ sở công nghiệp cũ ở phía Đông Bắc Trung Quốc” (từ năm 2007) đang được thực hiện ơ Trung Quốc, tuy không cho phép đuổi kịp sự phát triển kinh tế và xã hội của các tỉnh ven biển, nhưng làm giảm đáng kể tình trạng phát triển không đồng đều, cải thiện sự cân bằng của các quá trình phát triển kinh tế, nhân khẩu học và xã hội. Việc nhà nước trực tiếp trợ cấp cho các khu vực, cấp tài chính từ ngân sách cho các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở và sản xuất lớn, cũng như các phương pháp kích thích kinh tế, mở rộng quyền hạn của chính quyền cơ sở, khuyến khích sáng kiến của cá nhân đã trở thành những công cụ để thực hiện các chương trình và dự án nói trên. Chúng ta tận mắt nhìn thấy thành phố Mãn Châu, cách làng Zabaikalsk của chúng ta khoảng 2 km, xuất hiện trong 20 năm như một câu chuyện cổ tích, các đường cao tốc và những thành phố với những tòa nhà cao chọc trời, những trường đại học và sân vận động ở tỉnh Quý Châu nghèo nhất…

Kinh nghiệm đó hiện nay đối với Nga là vô cùng quý giá và chúng ta không có gì phải xấu hổ khi “vay mượn” kinh nghiệm cửa các đối tác Trung Quốc. Điều này liên quan tới các nhà lãnh đạo đất nước, những người chắc chắn thích thú với công nghệ chuẩn bị các quyết sách chiến lược ở Bắc Kinh và điều quan trọng là việc các cơ quan chính quyền ở trung ương và cơ sở đưa các quyết sách đó vào cuộc sống. Điều này cũng liên quan tới các nhà lãnh đạo các khu vực và các tỉnh của Nga. Kinh nghiệm của những đồng nghiệp Trung Quốc ở các tỉnh lân cận và các khu tự trị, những hình thức khác nhau mà họ áp dụng để có được và sử dụng các nguồn kinh phí từ trung ương, các quyền hạn bổ sung trong lĩnh vực ưu đãi về thuế và các hình thức thu hút vốn đầu tư nước ngoài khác v.v… là rất hữu ích đối với họ. Điều này liên quan tới thị trưởng các thành phố, thị xã, đặc biệt là các thành phố, thị trấn gần biên giới. Họ nhìn thấy sự phát triển nhanh chóng của các điểm dân cư và các xí nghiệp trong các khu vực lân cận và muốn tìm hiểu những bí quyết của thành công.

về vấn đề này tôi đề nghị nên tổ chức những cuộc gặp giữa tổng thống Nga và Chủ tịch Trung Quốc luân phiên nhau ở các thành phố lân cận – chẳng hạn, Hắc Hà và Blagoveshchensk hoặc Mãn Châu và Zabaikalsk. Và nên đưa việc này vào chương trình các cuộc gặp thượng đỉnh Nga – Trung. Trong các cuộc gặp gỡ thường kỳ, thủ tướng hai nước cũng nên tới thăm các thành phố và các khu vực đã có sự hợp tác có hiệu quả, ủng hộ các nhà lãnh đạo các thành phố và khư vực đó. Các nhà lãnh đạo cần càng sớm càng tốt thông qua những thoả thuận tương ứng về trao đổi kinh nghiệm phát triển khu vực và đưa ra những chỉ đạo cần thiết cho các cơ quan chính quyền ở trung ương và địa phương.

Chúng tôi muốn Bộ Phát triển khu vực Viễn Đông ngay từ khi bắt đầu hoạt động nên thiết lập sự hợp tác với các bộ phận tương ứng của Chính phủ Trung Quốc, thành lập ở Matxcơva và Khabarovsk, cũng như ở trung tâm các khu vực, tỉnh những nhóm công tác thường trực nghiên cứu kinh nghiệm phát triển các khu vực lạc hậu của Trung Quốc. Chúng ta không nên loại trừ việc có thể sử dụng các hình thức như vậy để thu hút các cố vấn Trung Quốc làm việc trong bộ này. Một việc làm đúng đắn là tiến hành dịch sang tiếng Nga và phân tích các văn kiện của Chính phủ Trung Quốc trong những năm gần đây – những văn kiện tập trung vào vấn đề phát triển hạ tầng cơ sở, tạo môi trường sống trong sạch, phát triển khoa học, công nghệ, giáo dục và xây dựng các điểm phát triển mới năng động, ưu tiên các phát triển của ngành công nghiệp tiên tiến sử dụng các nguồn lực tại địa phương và truyền thống, nâng cao đáng kể mức dịch vụ công, loại bỏ các rào cản hành chính trên con đường thu hút vốn đầu tư nước ngoài và vốn của tư nhân, trong đó có vốn của các nước láng giềng và các điểm dân cư lân cận. Tất cả những việc nêu trên sẽ mở ra những lĩnh vực hợp tác mới của “quan hệ đối tác chiến lược Nga- Trung”.

Mối quan tâm chung

Chiến lược “Phát triển về phía Đông của Nga” đã được vạch ra trùng hợp với thời điểm tình hình kinh tế đối ngoại của Trung Quốc đang xấu đi. Các chuyên gia Trung Quốc nhận thấy một trong những phương thức làm giảm thiểu những hậu quả của việc cắt giảm các thị trường xuất khẩu truyền thống là nhanh chóng tìm lối ra thị trường ở các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Nga. Việc chủ động sử dụng kinh nghiệm, công nghệ, thiết bị và cán bộ của các công ty Trung Quốc trong việc xây dựng đường sá, nhà ở, các công trình công nghiệp và nông nghiệp hết sức cần thiết đối với vùng Xibêri và Viễn Đông, sẽ có lợi cho cả Trung Quốc và Nga. Việc thực hiện ngay từ đầu, chí ít là một số dự án thí điểm lớn với phương thức “chìa khóa trao tay” sẽ cho thấy tốc độ, hiệu quả và tính kinh tế của việc sử dụng “gió của Trung Quốc để thổi cánh buồm kinh tế của chúng ta”, điều mà ông Putin đã viết trong bài báo của mình. Một điều không kém quan trọng là việc thực hiện thành công các công trình thí điểm sẽ chứng minh sự vô căn cứ của những lo ngại về “mối đe dọa” Trung Quốc, hiện vẫn còn trong tâm trí những thường dân Nga cũng như một bộ phận giới tinh hoa đô thị.

Nga bắt đầu “quay về phía Đông”. Bây giờ điều quan trọng là đẩy nhanh sự “quay về phía Nam” của các khu vực Xibêri và Viễn Đông, còn đối với các tỉnh của Trung Quốc là “quay về phía Bắc”. Những điều chỉnh các véctơ phát triển này phù hợp với xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hóa, được các nhà lãnh đạo Trung Quốc thực hiện theo nguyên tắc “hài hòa” và “phát triển toàn diện”. Đối với các nhà lãnh đạo Nga, Tổng thống Putin đã nhấn mạnh trong bài viết về chính sách đối ngoại của mình: “Nước Nga cần Trung Quốc thịnh vượng và ổn định” và ngược lại, ông tin rằng “Trung Quốc cũng cần một nước Nga hùng mạnh và thành công”./.

3/7/12

CÁC QUAN ĐIẾM CỦA CHÍNH GIỚI MỸ VỀ VIỆC THAM GIA CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ LUẬT BIỂN

THÔNG TẤN XÃ VIỆTNAM
Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 27/6/2012
TTXVN (Oasinhtơn 25/6)

Liên tục trong hai tháng qua, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ đã tổ chức hai cuộc điều trần về việc Mỹ nên hay không nên tham gia vào Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS). Tại các diễn đàn này, phần lớn các quan chức chóp bu về an ninh, quốc phòng và ngoại giao Mỹ đều ủng hộ việc tham gia UNCLOS, nhưng cùng có một số ý kiến trái chiều, cho rằng tham gia UNCLOS sẽ trói tay trói chân và bất lợi đối với Mỹ. Dưới đây là tổng hợp các bài phát biểu của các quan chức Mỹ tại các cuộc điều trần ngày 23/5 và ngày 14/6 tại Ủy ban Đối ngoại Thượng viện.

Phát biểu trong cuộc điều trần ngày 23/5, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cho rằng việc Mỹ cho đến nay vẫn chưa tham gia UNCLOS đã làm suy yếu sự ủng hộ đối với các đồng minh trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông đang bị đe dọa bởi tham vọng chủ quyền của Trung Quốc. Bà Hillary nhấn mạnh “vì không phải là thành viên của UNCLOS, chúng ta để cho Trung Quốc tung hoành về mặt pháp lý. Chúng ta đã tự đặt mình vào thế bị động. Chúng ta không phát huy được vai trò là chỗ dựa cho các bạn bè và các đồng minh trong khu vực. Đây là điều không cường quốc hàng hải nào của thế giới muốn lâm vào”. Ngoại trưởng Hillary nói: “Chúng ta cần chấm dứt việc đứng ngoài lề và bắt đầu tận dụng những lợi ích to lớn mà UNCLOS mang lại cho Mỹ và cộng đồng doanh nghiệp”. Bà cho rằng các công ty dầu khí của Mỹ trước đây chưa có đủ công nghệ để tận dụng những quy định của UNCLOS về thềm lục địa, nhưng nay các công ty này đã có khả năng và sẵn sàng khai thác các vùng này. Bà cũng cho rằng nếu tham gia UNCLOS, Mỹ sẽ nhận được sự công nhận của quốc tế về quyền chủ quyền, trong đó có việc sử dụng các thủ tục nêu trong Công ước, cho phép các công ty dầu lửa cơ sở pháp lý để thực hiện việc khai thác. Bà Hillary bác bỏ lập luận của những người chống UNCLOS, cho rằng UNCLOS được sự ủng hộ của tất cả các tổng thống của cả hai đảng, trong đó có Tổng thống đảng Cộng hòa George W. Bush, các doanh nghiệp Mỹ, ngành công nghiệp năng lượng và vận tải biển, cũng như các tố chức về môi trường. Trong cuộc điều trần, lần đầu tiên Ngoại trưởng Mỹ công khai cho rằng đòi hỏi chủ quyền cúa Trung Quốc ở Biển Đông đã vượt quá những gì UNCLOS cho phép.

Cũng trong cuộc điều trần ngày 23/5, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta khẳng định, là một trong những quốc gia có đường bờ biển dài nhất thế giới và có thềm lục địa mở rộng rộng nhất thế giới, Mỹ sẽ được lợi nhiều nhất từ việc tham gia UNCLOS. Ông Panetta cho rằng việc này sẽ tạo cơ sở pháp lý cho Mỹ có các quyền tự do hàng hải và tiếp cận toàn cầu cho các tàu thuyền thương mại và quân sự, máy bay và các đường cáp quang dưới đáy biển, thay vì như hiện nay phải thực hiện quyền tự do hàng hải thông qua tập quán quốc tế. Ông Panetta cho biết cho tới nay đã có 161 nước phê chuẩn UNCLOS và Mỹ là nước duy nhất trong Hội đồng bảo an LHQ chưa phê chuẩn UNCLOS. Theo lập luận của ông Panetta, khi tham gia UNCLOS, Mỹ vừa bảo vệ được lợi ích của mình, vừa chi phối được các cuộc thảo luận để tác động vào các thể chế liên quan tới luật biển. Tham gia UNCLOS, Mỹ có thế mở rộng nguồn tài nguyên và quyền tài phán kinh tế không chỉ trong phạm vi 200 hải lý ngoài khơi bờ biển Mỹ mà cả thềm lục địa được mở rộng ra ngoài phạm vi 200 hải lý. Tham gia UNCLOS, Mỹ cũng sẽ bảo vệ được quyền và lợi ích của mình ở vùng Bắc Cực, một khí vực ngày càng quan trọng về kinh tế và an ninh.

Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân, Tướng 4 sao Martin Dempsey phát biểu trong cuộc điều trần ngày 23/5 cho rằng là thành viên thường trực duy nhất của Hội đồng Bào an LHQ và là quốc gia Bắc Cực duy nhất chưa phải là thành viên UNCLOS, vì thế Mỹ bị hạn chế trong khả năng xây dựng các liên minh cho các nỗ lực an ninh quốc tế quan trọng. Tướng Dempsey đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải tham gia UNCLOS “trong bối cảnh chúng ta đã bắt đầu tái cân bằng nhũng lợi ích an ninh của mình ở khu vực Thái Bình Dương, việc phê chuẩn công ước là rất quan trọng. Nếu không phê chuẩn công ước này trong thời gian tới, chúng ta có nguy cơ phải đối đầu với các nước vẫn luôn diễn giải tiền lệ luật pháp quốc tế theo hướng có lợi cho họ. UNCLOS sẽ tạo cơ hội để chúng ta nói mạnh về tự do trên biển và các quyền hàng hải.

Thượng nghị sỹ John Kerry, người chủ trì cả hai phiên điều trần cho rằng việc phê chuẩn công ước UNCLOS là vấn đề cấp bách, nhưng Mỹ đã chần chừ quá lâu. Không phê chuẩn công ước, Mỹ sẽ mất nhiều lợi ích như dầu lửa và khí đốt, quyền đi lại trên biển và thâm nhập các nguồn tài nguyên như các mỏ đất hiếm. Với Trung Quốc, ông Kerry nói: “Trung Quốc và một số nước đang đưa ra những đòi hỏi phi pháp ở Biển Đông và các vùng biển khác. Tham gia Công ước sẽ giúp Mỹ ngay lập tức nâng cao uy tín, đồng thời đẩy lùi nhũng đòi hỏi chủ quyền quá đáng và những lệnh cấm phi pháp đối với các chiến hạm và tàu chở hàng của Mỹ”.

Tham gia cuộc điều trần ngày 14/6 có Đô đốc James Winnefeld, Phó Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân; Tư lệnh Hải quân, Đô đốc Jonathan Greenert; Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương, đô đốc Samuel Locklear; cựu Giám đốc Cục tình báo trung ương (CIA), cựu Thứ trưởng Ngoại giao John Negroponte; cựu Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld cùng một số quan chức và cựu quan chức cấp cao khác.

Phát biểu trong cuộc điều trần ngày 14/6, Phó Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng Liên quân, đô đốc James Winnefeld cho rằng tham gia UNCLOS sẽ góp phần củng cố vai trò lãnh đạo toàn cầu về hàng hải, tăng cường uy tín của Mỹ và cho phép Mỹ trong vị trí cường quốc hải quân có đầy đủ tầm ảnh hưởng đối với các tranh chấp biển. Theo Đô đốc Winnefeld, sẽ là sai lầm khi cho rằng công ước UNCLOS sẽ hạn chế hoạt động hải quân của Mỹ tại các khu vực đang hoạt động hiện nay, trái lại tham gia UNCLOS sẽ tạo cho Mỹ ở vào một vị thế mạnh hơn đế ủng hộ các đồng minh và đối tác đang chịu sự hăm dọa trong các tranh chấp.

Tư lệnh Hải quân Jonathan Greenert khẳng định Mỹ sẽ được hưởng lợi từ việc tham gia UNCLOS đối với hoạt động của Mỹ trên biển; tăng cường quyền chủ quyền cho các tàu Mỹ, nâng cao vị thế của Mỹ trong việc thúc đẩy áp dụng luật pháp và duy trì quyền tự do tiến hành các hoạt động quân sự trong các khu vực này. Việc Mỹ không tham gia UNCLOS có thế tạo cớ cho các quốc gia khác ngăn cản quyền tự do hàng hải.

Tư lệnh Thái Bình Dương Samuel Locklear cho rằng do khu vực châu Á – Thái Bình Dương tiếp tục trỗi dậy, ngày càng nhiều đòi hỏi chủ quyền trên biển chồng chéo, nhất là Biển Đông, do vậy tham gia UNCLOS Mỹ sẽ khích lệ các bên giải quyết tranh chấp bằng hòa bình dựa trên luật pháp. Công ước UNCLOS cũng sẽ hỗ trợ pháp lý quan trọng cho các đối tác vận tải hàng không dân sự của Bộ Quốc phòng Mỹ.

Tư lệnh lực lượng bảo vệ bờ biển Robert Papp cho rằng tham gia UNCLOS sẽ đảm bảo các quy định thuận lợi trên cơ sở pháp lý mạnh mẽ nhất và vị thế tốt hơn cho Lực lượng bảo vệ bờ biển thực hiện các quyền và duy trì hoạt động. Tham gia công ước giúp tăng cường vị thế của Mỹ khi phản đối và ngăn cản các đòi hỏi chủ quyền trên biển quá đáng; tạo cho Mỹ ở vị thế thuận lợi đối với tương lai tại Bắc Cực.

Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến phản đối tham gia UNCLOS. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, phát biểu trong cuộc điều trần ngày 14/6 thừa nhận công ước UNCLOS mang lại một số lợi ích, trong đó có việc giải quyết những tranh chấp cụ thể dễ dàng hơn, tuy nhiên Hải quân Mỹ đã làm tốt chức năng này nên Mỹ không cần phải tham gia UNCLOS. Chuyên gia Viện Heritage Steven Groves thì cho rằng tham gia UNCLOS không giúp gì cho việc phát triển hoặc đảm bảo vị thế chủ thể của các nguồn tài nguyên khí đốt tại các vùng thềm lục địa mở rộng và Mỹ sẽ phải mất một khoản thu lớn do phải nộp phí khai thác tại các khu vực chung của quốc tế.

Mỹ là nước tích cực tham gia đàm phán, soạn thảo Công ước UNCLOS 1982. Từ năm 1994 đến nay, Chính phủ Mỹ qua các Tổng thống Bill Clinton và George W. Bush đã nhiều lần đề nghị Thượng viện phê chuẩn nhưng đều thất bại do sự chống đối của một số thượng nghị sĩ bảo thủ của đảng Cộng hòa. Ngày 25/5, ngay sau cuộc điều trần đầu tiên đã có 27 Thượng nghị sĩ Mỹ đồng gửi thư tuyên bố chống việc tham gia UNCLOS, cho rằng UNCLOS 1982 phản ánh các quan điểm chính trị, kinh tế và tư tưởng không thống nhất với các giá trị và chủ quyền của Mỹ./.

TRANH CHẤP BÃI CẠN HOÀNG NHAM/SCARBOROUGH: QUẢ BOM NỔ CHẬM CHỜ TRUNG QUỐC

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 27/6/2012
TTXVN (Hồng Công 25/6)

Những căng thăng giữa Trung Quốc và Philíppin xung quanh vụ tranh chấp đảo Hoàng Nham (Philíppin gọi là bãi cạn Scarborough) đã tạm thời lắng dịu sau khi hai bên cùng rút các tàu thuyền khỏi khu vực này với lý do “thời tiết xấu.” Tuy nhiên, theo báo Bưu Điện Hoa Nam Buổi sáng (Hồng Công), xen giữa những cuộc tập trận và những cuộc khẩu chiến ngoại giao làm quan hệ Trung Quốc – Philíppin lạnh nhạt cuộc tranh chấp chủ quyền đảo Hoàng Nham là một quả bom nổ chậm” về mặt pháp lý vẫn đang chờ Trung Quốc, ngay cả khi căng thẳng giữa hai nước đã được xoa dịu.

Vào lúc tình hình căng thẳng lên tới đỉnh điểm, Bắc Kinh đã bác bỏ (một hành động đã được dự báo) đề nghị của Manila đưa vụ tranh chấp đảo Hoàng Nham ra Tòa án Công lý quốc tế, đồng thời khăng khăng cho rằng vấn đề này cần phải được giải quyết thông qua con đường ngoại giao và các cuộc thương lượng song phương.

Bề ngoài, hành động này của Trung Quốc dường như gây lúng túng cho phía Philíppin. Theo quy định, Tòa án Công lý quốc tế yêu cầu một thỏa thuận song phương giữa hai nước trước khi có thể tiến hành một phiên xử về tranh chấp chủ quyền lãnh thổ tại cơ quan này. Vì vậy, sự phản đối của Trung Quốc trên thực tế đã “giết chết” ý đồ của Philíppin từ trong trứng nước.

Tuần này, căng thẳng giữa Trung Quốc và Philíppin đã lắng dịu khi cả hai nước rút các tàu thuyền khỏi đảo Hoàng Nham, nhưng tranh chấp chủ quyền rộng lớn hơn vẫn duy trì, cùng với câu hỏi được đặt ra là Philíppin sẽ “nuôi dưỡng” ý đồ giải quyết tranh chấp qua con đường pháp lý như thế nào? Được sự ủng hộ của các cố vấn luật pháp quốc tế, các quan chức Philíppin đang lặng lẽ tìm kiếm những con đường pháp lý mà ở đó họ có thể buộc Trung Quốc phải chấp nhận ra tòa hoặc chịu sự tài phán, kể cả trong trường hợp đi ngược lại ý muốn của Trung Quốc. Khi nói về vụ tranh chấp khiến quan hệ hai nước băng giá trong hơn hai tháng qua, Ngoại trưởng Philippin Albert del Rosario đặt câu hỏi: “Liệu chúng tôi có cần phải có Trung Quốc cùng song hành trong việc lập ra những cơ chế?” và ông tự đưa ra đáp án: “Câu trả lời là không!”

Những phát biểu như vậy đã làm sôi động các phòng họp cấp cao và các trưởng đại học của các nước trong khu vực những tuần gần đây, gợi ra một số câu hỏi hấp dẫn: Một hành động như tuyên bố của Philíppin liệu có thực sự khả thi? Và hành động đó sẽ có tác động như thế nào? Theo một số luật sư quốc tế và các học giả nắm vững Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS), xét một cách cơ bản, Ngoại trưởng Rosario đã đúng về mặt nguyên tắc pháp luật – Philíppin có thể đơn phương hành động. Sự cân nhắc về mặt chính trị, dĩ nhiên, khi đưa Trung Quốc vào tình thế phải giải quyết theo con đường này, có thể giảm bớt những thách thức pháp lý đáng kể.

Không giống như Tòa án Công lý quốc tế, UNCLOS không thể được sử dụng đế dàn xếp các vấn đề về chủ quyền, nhưng nó có thể giải quyết những tranh chấp liên quan trên một phạm vi rộng lớn. Nó cho phép một quốc gia tranh cãi với một quốc gia khác về các hành động, lập trường mà không cần sự đồng ý của quốc gia đó, thông qua cải gọi là “dàn xếp tranh chấp bắt buộc.”

Trung Quốc, nước đã ký và phê chuẩn UNCLOS ngay sau khi công ước này có hiệu lực năm 1994, dường như lâu nay vẫn thận trọng với hành động đơn phương như vậy. Năm 2006, Trung Quốc đã thực hiện bước đi chính thức thể hiện quyền của nước này tránh một hành động như vậy trong một số trường hợp, chủ yếu tập trung vào các hoạt động quân sự, ranh giới trên biển và các vùng nước lịch sử.

Tuy nhiên, như một số học giả nghiên cứu luật pháp quốc tế đã nhấn mạnh, những sự lảng tránh như vậy không đủ ảnh hưởng để trở thành điều không thể bác bỏ được. Một hành động đơn phương trong tranh chấp sẽ vẫn có thể xảy ra xung quanh các tranh chấp xoay quanh quyền đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế theo tuyên bố của một quốc gia, hoặc ví dụ là một tảng đá, dải đá ngầm có thể được xem như một hòn đảo theo UNCLOS. Và do vậy, những vùng tranh chấp đó có thể được gắn với vùng đặc quyền kinh tế.

Một số luật sư tin rằng vụ tranh chấp đảo Hoàng Nham và những quyền đầy tranh cãi của ngư dân Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý theo tuyên bố của Philíppin, có thể là một trường họp như vậy. Các quan chức Trung Quốc nói ràng Trung Quốc có quyền lịch sử đối với đảo Hoàng Nham và việc đảo này ở gần Philíppin không được bro vệ theo luật pháp quốc tế. Ông Robert Beckman, Giám đốc Trung tâm Luật quốc tế thuộc Đại học Quốc gia Xinhgapo, trong bài viết công bố tại một hội nghị ở Cuala Lămpơ (Malaixia) đã nhấn mạnh: “Những tranh chấp liên quan đến sự phản đối của Trung Quốc đối với các hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông có lẽ khó tránh khỏi hệ thống dàn xếp tranh chấp bắt buộc.”

Đảo Hoàng Nham nằm ngoài quần đảo Trường Sa và do vậy chỉ có Trung Quốc và Philíppin tranh chấp khu vực này. Tuy nhiên, vụ tranh chấp, này được các bên cùng có tranh chấp ở Biển Đông theo dõi chặt chẽ. Một phái viên kỳ cựu ở Đông Nam Á cho biết: “Luật pháp quốc tế là một cách giải quyết tranh chấp. Chúng tôi biết rằng đó có thể là một giải pháp tốt hơn là từng nước thương lượng với một cường quốc như Trung Quốc. Tất cả chúng tôi đều đang quan sát xem liệu Philíppin có đủ dũng cảm để thực hiện bước đi đầu tiên trên con đường đó – và đối mặt với một sự phản ứng dữ dội từ Bắc Kinh.”

Trong khi đó, chuyên gia Jonathan Gimblett thuộc Công ty Luật Covington & Burling ở Oasinhtơn (Mỹ) đã cảnh báo rằng chặng đường để buộc một quốc gia phải ra tòa án đối mặt với những điều đi ngược lại mong muốn của họ, nhiều khả năng sẽ rất dài và phức tạp, đồng thời kéo theo những rủi ro chính trị lớn.

Trong bài phát biểu tại một hội nghị ở Tôkyô (Nhật Bản), ông Robert Beckman đã nhấn mạnh đến một chính sách “mơ hồ có tính toán” mà Trung Quốc đang áp dụng đối với tuyên bố về các nguồn tài nguyên ở Biển Đông. Ông Beckman đặt câu hỏi: “Vấn đề nghiêm túc đã được đặt ra trong các nước ASEAN là liệu Trung Quốc có định tôn trọng luật pháp quốc tế nói chung và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển nói riêng khi giải quyết tranh chấp với các nước láng giềng nhỏ hơn hay không? Điều này gây ra lo ngại đáng kể trong ASEAN. Một trong những nguyên tắc cơ bản mà các quốc gia ASEAN tuân theo khi giải quyết vấn đề với các nước lớn là bất kỳ sự hợp tác nào đều phải tuân theo luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển.” Tuy nhiên, theo ông Beckman, Trung Quốc “dường như muốn giải quyết các cuộc tranh chấp thông qua thương lượng, đặc biệt là tại các cuộc thương lượng song phương, nơi các yếu tố liên quan như lịch sử, có thể được tính đến.”

Một vụ xử tranh chấp theo UNCLOS liên quan đến một ủy ban phân xử của Liên họp quốc sẽ có sự ràng buộc pháp luật. Tuy nhiên, không có gì đảm bảo rằng một tòa án được thành lập theo UNCLOS sẽ đồng ý phân xử một vụ việc như vậy. Khi các tòa án quốc tế có những quyền lực về phạm trù đạo đức và lương tâm nhiều hơn là quyền lực thực chất, việc bắt buộc tuân theo phán quyết cuối cùng lại là vấn đề khác. Thậm chí, theo nhiều luật sư, các nước sẽ tuân theo quyết định cuối cùng của chính họ.

Một học giả giấu tên tại Bắc Kinh nói rằng hiện vẫn có những hoài nghi về khả năng Philíppin thực sự quan tâm đến việc thúc đấy tiến trình pháp lý chống lại Trung Quốc trong cuộc tranh chấp đảo Hoàng Nham không chỉ bởi vì Manila biết rằng việc này “đi ngược lại mong muốn của Bắc Kinh, mà còn bởi vì họ cũng có nguy cơ đối mặt với một phán quyết chống lại chính họ.” Do vậy, học giả này tin rằng Philíppin sẽ không thực hiện tiến trình pháp lý như đã nhiều lần đe dọa./.

26/6/12

XUNG QUANH CHIẾN LƯỢC TRỞ LẠI CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG CỦA MỸ

THỐNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 21/6/2012
TTXVN (Niu Yoóc 19/6)

Phản ánh ý đồ và kết quả chuyến công du 8 ngày tới các nước châu Á của Bộ trưởng Quốc phòng và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ đầu tháng 6/2012, “Tạp chí Âu-Á” ngày 13/6 cho biết, ngày 30/5 hai quan chức đứng đầu bộ máy quân sự toàn cầu của Mỹ này đã đến thăm sở chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ tại Haoai, sau đó thực hiện chuyến công du tới nhiều nước châu Á – Thái Bình Dương và chính thức thông báo kế hoạch di chuyển lực lượng và các trang bị quân sự đến các nước trong khu vực
.
Ngày 2/6, Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Martin Dempsey đã có mặt tại Xinhgapo để tham dự Đối thoại Shangri-La hàng năm-nơi họ gặp gỡ các đối tác quốc phòng của 26 nước châu Á – Thái Bình Dương. Tiếp đó, Bộ trưởng Quốc phòng Panetta đến thăm Việt Nam và Ấn Độ – hai đối tác quân sự châu Á mới và quan trọng nhất trong giai đoạn sau Chiến tranh Lạnh, còn Tướng Demsey đến thăm Philippin và Thái Lan – hai đồng minh quân sự truyền thống của Mỹ.

Trong thời gian ở Xinhgapo, Bộ trưởng Quốc phòng Panetta thông báo Oasinhtơn sẽ tăng cường sức mạnh hải quân ở Thái Bình Dương gồm các tàu sân bay, tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu chiến ven bờ và tàu ngầm từ mức 50% hiện nay lên 60%, đồng thời củng cố và phát triển các liên minh quân sự với tất cả các nước khắp khu vực, đặc biệt với các nước ở Đông Nam Á hiện đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc trên Biển Đông. Bộ trưởng Quốc phòng Panetta nhấn mạnh việc tăng cường hợp tác quân sự giữa Mỹ với 6 nước châu Á – Thái Bình Dương mà Mỹ đã ký các hiệp ước phòng thủ trong thời gian Chiến tranh Lạnh và hiện chống lại Trung Quốc gồm: Ôxtrâylia, Nhật Bản, Niu Dilân, Philippin, Hàn Quốc và Thái Lan, đồng thời mở rộng và làm sâu sắc hơn các mối quan hệ đối tác hiện có với các nước như Xinhgapo, Inđônêxia, Malaixia và Ấn Độ. Ngoài ra, Bộ trưởng Panetta cũng cho biết Mỹ sẽ thúc đẩy các mối quan hệ quân sự với Mianma. Sau khi rời Xinhgapo, Bộ trưởng Panetta đến thăm một tàu chiến Mỹ đang sửa chữa tại vịnh Cam Ranh của Việt Nam-một năm sau khi Mỹ và Việt Nam ký bản ghi nhớ nhằm thúc đẩy hợp tác quân sự trên 5 lĩnh vực và 2 năm sau khi tàu khu trục trang bị tên lửa có điều khiển USS John S. McCain đến thăm cảng Đà Nẵng để tham gia cuộc tập trận chung với hải quân Việt Nam trên Biển Đông. Bộ trưởng Panetta là quan chức cấp cao đầu tiên của Mỹ đến thăm căn cử quân sự trước đây của Mỹ, kể từ khi kết thúc cuộc Chiến tranh Việt Nam.

Cùng ngày 2/6, Bộ trưởng Quốc phòng Xinhgapo Ng Eng Hen khẳng định với ông Panetta rằng Chính phủ Xinhgapo sẵn sàng cho phép 4 tàu tác chiến ven bờ của Mỹ đến thăm các căn cứ hải quân ở nước này theo đúng cam kết trong Thỏa thuận Khung Chiến lược được hai nước ký năm 2005. Hai Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ và Xinhgapo cũng cam kết thực hiện hơn nữa thỏa thuận và tăng cường quy mô của các cuộc diễn tập quân sự, chẳng hạn tăng thêm lực lượng hải quân vào thành phần của các cuộc diễn tập “Commando Sling” hàng năm. Ông Panetta và đối tác Xinhgapo còn thảo luận việc sử dụng Cơ sở Huấn luyện thành phố Murai cho các cuộc diễn tập song phương bao gồm các lực lượng lính thuỷ đánh bộ Mỹ và lực ương vũ trang Xinhgapo bắt đầu vào năm tới. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta tuyên bố Mỹ sẽ khuyến khích mối quan hệ đối tác với tất cả các nước trong khu vực, kể cả Mianma. Cho đến khi Mỹ lôi kéo Mianma thành công trong năm 2011, nước này là một trong số đồng minh lệ thuộc của Trung Quốc ở châu Á. Đề cập đến vấn đề luân chuyển các tàu chiến Mỹ tại Xinhgapo, Tướng Dempsey cho biết các tàu tác chiến ven bờ sẽ bắt đầu triển khai luân chuyển đến Xinhgapo trong thời gian tới và đây là một ví dụ thể hiện sự can dự quân sự ngày càng tăng của quân đội Mỹ nhằm thực hiện “Chiến lược trở lại châu Á – Thái Bình Dương” của Tổng thống Obama.

Trong khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đang củng cố mối quan hệ đối tác chiến lược quan trọng với đối thủ của Trung Quốc ở bờ biển phía Tây của Biển Đông, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ Demsey cũng đang hành động tương tự tại Philíppin-quốc gia hiện đang đối đầu trực diện với Trung Quốc trên Biển Đông. Sau hai tuần tàu ngầm tấn công hạt nhân USS Caroline của Mỹ hiện diện tại căn cứ hải quân cũ của Mỹ ở vịnh Subic, Tướng Dempsey đến thăm sở chỉ huy Lực lượng Tác chiến Đặc biệt của quân đội Philíppin trên đảo Mindanao-nơi Mỹ đang triển khai 600 binh sĩ chuyên tham gia các chiến dịch chống nổi dậy với quân đội Philíppin. Sau đó tướng Dempsey đã hội đàm với đối tác Philíppin Tướng Jessie Dellosa ở thủ đô Manila. Ngày 5/6, báo “Ngôi Sao Philíppin” trích nguyên văn tuyên bố của Thứ trưởng Quốc phòng Philíppin Honorio Azcueta sau khi hội đàm với Tướng Dempsey: “Các binh sĩ, tàu chiến và tàu sân bay của Mỹ có thể sẽ tiếp tục được phép sử dụng các căn cứ không quân và hải quân ở Subic thuộc Zambales và Clark thuộc Pampanga”. Thứ trưởng Quốc phòng Azcueta khẳng định đó là những gì Philíppin mong muốn và hai nước sẽ tăng cường diễn tập quân sự chung cũng như nâng cao khả năng phối họp tác chiến giữa quân đội hai nước. Cũng như căn cứ hải quân trước đây tại vịnh Cam Ranh của Việt Nam, căn cứ hải quân Subic và sân bay của căn cứ này được Mỹ sử dụng để phục vụ các chiến dịch quân sự lớn trong Chiến tranh Việt Nam.

Sau khi rời Philippin, Tướng Dempsey đến thăm Thái Lan để hội đàm với Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng và các tư lệnh lục quân, không quân và hải quân của quân đội Thái Lan. Trong số các vấn đề được bàn thảo trong chuyến thăm, Tướng Dempsey đã đạt được ý đồ sử dụng căn cứ U- Tapao cho các hoạt động của quân đội Mỹ trên danh nghĩa phục vụ mục đích nhân đạo, nhưng thực chất sân bay này sẽ được Mỹ sử dụng cho các chiến dịch quân sự lớn trong tương lai. Trước đây Mỹ đã từng sử dụng căn cứ không quân U-Tapao để phục vụ cuộc chiến tranh Việt Nam và hiện đang được sử dụng cho các cuộc diễn tập quân sự chung Mỹ-Thái Lan mang tên “Hổ Mang Vàng”-cuộc diễn tập quân sự đa quốc gia lớn nhất do Mỹ chủ trì ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Cuộc diễn tập “Hổ Mang Vàng”-2012 có sự tham dự của quân đội của một số nước khác như: Inđônêxia, Nhật Bản, Malaixia, Xinhgapo và Hàn Quốc. Tướng Dempsey cũng thông báo quân đội Mỹ và Thái Lan đang xem xét và chuẩn bị thiết lập một trung tâm tại Thái Lan nhằm giúp đỡ nhân đạo và khắc phục thiên tai. Đây có thể được coi là một nỗ lực song phương của Mỹ và Thái Lan và ngay từ đầu trung tâm có thể có một số nước khác tham gia.

Sau chuyến công du châu Á – Thái Bình Dương 8 ngày của Bộ trưởng Quốc phòng Panetta, cơ quan báo chí của Lầu Năm Góc khẳng định chuyến thăm của Bộ trưởng Panetta là nhằm thúc đẩy chính sách đối ngoại “trở lại châu Á” mới của Tổng thống Barack Obama, trong đó ông Panetta nêu bật 2 chủ đề chính trong chuyến công du: thứ nhất, Oasinhtơn sẽ chú trọng chính sách lớn hơn đến châu Á – Thái Bình Dương, so với châu Âu và Trung Đông; thứ hai, Mỹ có ý định đẩy mạnh các hoạt động quân sự trong khu vực, kể cả tăng cường các cuộc diễn tập quân sự chung hơn nữa với nhiều nước, trong đó có Ôxtrâylia, Philíppin, Xinhgapo và Thái Lan và cung cấp nhiều trang thiết bị quân sự, trong đó ít nhất 40 tàu chiến mới cho các nước khu vực này. Rõ ràng, bằng cách thiết lập các mối quan hệ đối tác quân sự với 10 nước thành viên ASEAN, Mỹ đang xây dựng cơ sở để thiết lập một tổ chức châu Á tương tự NATO. Mỹ đã sử dụng NATO để bao vây, ngăn chặn và cuối cùng đối đầu với Nga, do đó Mỹ có ý định sử dụng liên minh mới để đạt được mục tiêu tương tự đối với Trung Quốc.

***

TTXVN (Băngcốc 16/6)

Nhân chuyến thăm Thái Lan của Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ Martin Dempsey, Tổng biên tập tờ “Dân tộc” Suthichai Yoon đã có cuộc phỏng vấn ông này vấn đề nhạy cảm là mối quan tâm của Mỹ đối với căn cứ quân sự U-tapao và sự cân bằng quyền lực tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn:

Suthichai: Ông đã thông báo ông sẽ bố trí lại hải quân Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Tới năm 2020 ông sẽ bố trí 60% tàu chiến Mỹ tại khu vực này. Ông có lo ngại Trung Quốc không?

Dempsey: Không, chúng tôi đang tái cân bằng. Với ý nghĩa này, chúng tôi đang thực hiện ba vấn đề: tập trung chú ý hơn tới châu Á – Thái Bình Dương. Bởi vì trong cuộc chiến tranh 10 năm tại Irắc và Ápganixtan, chúng tôi đã tập trung mối quan tâm về phía đó. Giờ đây, chúng tôi sẽ chú ý nhiều hơn tới lợi ích lâu dài của mình tại Thái Bình Dương và các đồng minh của chúng tôi ở đó. Như ông đã biết, Thái Lan là đồng minh lâu nhất của chúng tôi trong khu vực này, với khoảng 180 năm quan hệ. Do vậy, lợi ích của chúng tôi là can dự nhiều hơn và có chất lượng hơn. Tất cả những trang thiết bị tốt nhất của chúng tôi như tàu chiến tốt nhất, tàu sân bay tốt nhất, đều sẽ đưa vào Thái Bình Dương. Là một sinh viên lịch sử và kinh tế, tôi gợi ý rằng cường quốc kinh tế thế giới, cường quốc quân sự thế giới và các vấn đề liên quan tới dân số nên quan tâm tới khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Chúng tôi muốn đảm bảo rằng chúng tôi sẽ giải quyết các thách thức trong tương lai, sẽ tiếp tục chú ý tới những thách thức mới nảy sinh từ ngày hôm nay.

Suthichai: Nhưng Trung Quốc có thể sẽ cho rằng điều đó gây nguy hại cho nước này.

Dempsey: Tôi đã có những cuộc nói chuyện với các đối tác Trung Quốc, với các học giả Trung Quốc, với nhiều người trong khu vực. Vấn đề đó thường xuyên được đặt ra. Câu trả lời của tôi rất rõ là việc tái cân bằng Thái Bình Dương không có ý nghĩa là kiềm chế Trung Quốc. Tôi muốn gợi ý rằng chúng ta không nên đặt ra các điều kiện cho những nhận thức và tính toán sai lầm. Tôi sẽ đưa ra một ví dụ. Tôi đang ở Thái Lan, với các đối tác Thái Lan của tôi; tất cả chúng ta đều có mối quan hệ với Trung Quốc, nhưng chúng là các mối quan hệ khác nhau. Chúng tôi đang hoạt động ở một khoảng cách xa, trong khi ông đang ở bên cạnh. Tôi khuyến khích mọi người hợp tác song phương và đa phương để đạt được sự hiểu biết rõ hơn. Chúng ta có quá nhiều lợi ích chung – cứu trợ thảm họa và nhân đạo, chống chủ nghĩa khủng bố và chống vi phạm bản quyền. Đây là những vấn đề cần hợp tác.

Suthichai: Nhưng vấn đề thời điểm là rất đáng quan tâm. Trung Quốc đang có nhiều vấn đề với các láng giềng của họ tại Biển Đông và Hải quân Mỹ cũng đang tiến lại gần hơn. Oasinhtơn từng cảnh báo Trung Quốc không nên tạo ra vấn đề với các láng giềng, do vậy, sự hiện diện của Mỹ có thể cân bằng sức mạnh của Trung Quốc.

Dempsey: Hãy để tôi đưa ra một vài ví dụ về Biển Đông. Tôi mới trở về từ Philíppin. Trước tiên, vấn đề này không mới. Nó là vấn đề của 80 năm trước, nhưng tại sao ngày nay nó lại trở nên quan trọng. Đó là vì công nghệ đã khai thác được dưới biển sâu và thềm lục địa. Thứ hai, chúng tôi nói về Biển Đông là rất rõ ràng – đó là chúng tôi có lợi ích rõ ràng trong việc duy trì quyền đi lại và tự do hàng hải, và chúng tôi khuyến khích tất cả các nước thực hiện trong khuôn khổ Công ước Liên họp quốc về luật biển và các luật pháp quốc tế khác. Chúng tôi không muốn can dự vào các tranh chấp lãnh thổ. Cuối cùng, điều quan trọng chúng tôi muốn nói với tất cả các bên là chúng tôi tin chắc rằng vấn đề này không thể giải quyết thông qua đối đầu mà nên thông qua các diễn đàn quốc tế.

Suthichai: Nhưng sự có mặt của các ông tại đây có thể ngăn cản được Trung Quốc không thực hiện những hành động của họ.

Dempsey: Nhưng đó không phải là mục tiêu của chúng tôi ở đây. Điều mà chúng tôi muốn làm là khôi phục quan hệ với các đồng minh hiện nay của chúng tôi. Như ông đã biết, Thái Lan và Philíppin là những đồng minh của chúng tôi tại Đông Nam Á. Chúng tôi đang thiết lập các quan hệ mới khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đi thăm Việt Nam và Ấn Độ. Chúng tôi muốn hiểu rõ đối tác của chúng tôi muốn có mối quan hệ như thế nào với chúng tôi. Giờ đây, chúng tôi có thời gian và khả năng tái đầu tư vào Thái Bình Dương. Về chính trị, chúng ta phải xác định tình thế hiện nay nghiêng về chúng ta và thuộc về các đối tác của chúng ta.

Suthichai: Ông có lo ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc và những dấu hiệu rõ ràng gần đây về việc mở rộng quân sự của nước này không?

Dempsey: Nói chung tôi không có mối quan ngại nào về sự trỗi dậy của Trung Quốc bởi vì tôi nghĩ họ có sức mạnh kinh tế, họ có nguồn nhân lực dồi dào và đang cố gắng làm hết sức của mình. Còn liệu điều này có dẫn tới đối đầu quân sự hay không, thì câu trả lời là hoàn toàn không. Trên thực tế, việc tái đầu tư của chúng tôi vào Thái Bình Dương là chỉ nhằm tránh đối đầu quân sự thôi.

Suthichai: Ông không lo ngại về việc Trung Quốc tăng ngân sách quân sự chứ?

Dempsey: Một câu hỏi hay, là một sinh viên lịch sử, tôi cho rằng sức mạnh quốc gia luôn được dành cho sức mạnh ngoại giao, sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự. Trong lịch sử các dân tộc, họ đầu tư vào ba lĩnh vực này. Tôi không ngạc nhiên trước việc Trung Quốc đầu tư vào sức mạnh quân sự, nhưng tôi không nghĩ nó được dùng để ngăn cản chúng tôi, giống như cách chúng tôi đầu tư không nhằm để ngăn chặn những người khác.

Suthichai: Đã bao giờ ông hỏi các đối tác Trung Quốc rằng tại sao họ lại tăng ngân sách quân sự chưa?

Dempsey: Chưa, chúng tôi không hỏi những câu hỏi cụ thể như vậy. Thỉnh thoảng chúng tôi nói chuyện với nhau về chiến lược, về việc chúng ta sẽ như thế nào trong năm 2020. Chúng tôi biết hiện nay chúng tôi đang ở đâu. Chúng tôi biết những thách thức hiện nay, nhưng chúng ta mong muốn điều gì vào năm 2020? Tôi cho rằng chúng ta có thể tìm ra lợi ích chung và sẽ trở nên rõ ràng hơn với từng bên. Chúng tôi đang cố gắng tránh những nhận thức và tính toán sai lầm.

Suthichai: Trung Quốc vừa hạ thủy chiếc tàu sân bay đầu tiên của họ. Nó quan trọng như thế nào trong lĩnh vực hải quân?

Dempsey: Tàu sân bay là một biểu tượng sức mạnh quốc gia. Điều mà các quốc gia làm khi họ có nguồn lực và khả năng là thể hiện sức mạnh trong một số trường họp. Nó là sự thể hiện khả năng của quốc gia. Đối với nước Mỹ, chúng tôi phải mất khoảng 50 năm để hiểu hết việc làm thế nào để sử dụng các tàu sân bay, luân chuyển chúng như thế nào, làm thế nào để tổ chức các hoạt động của nó. Tàu sân bay không chỉ đơn giản là một công cụ của chiến tranh. Gần đây, chúng tôi có cơ hội giúp đỡ Nhật Bản sau thảm họa sóng thần, và tại Haiti sau động đất ở đó. Chúng tôi cử tàu sân bay tới bởi chúng có khả năng tạo ra năng lượng, cung cấp nguồn lực ngoài việc cứu trợ thảm họa và trợ giúp nhân đạo. Do vậy, nếu Trung Quốc đầu tư vào công nghệ tàu sân bay, thì rõ ràng họ biết sử dụng tàu sân bay trong nhiều vai trò. Nó là công cụ có thể sử dụng được nhiều cách.

Suthichai: Phải mất bao nhiêu năm Trung Quốc mới đuổi kịp được Mỹ?

Dempsey: Câu hỏi này nên dành cho các học giả. Thực sự, tôi không dám chắc tôi biết câu trả lời, nhưng tôi biết rằng khả năng của Mỹ là không nhằm vào bất kỳ một quốc gia cụ thể nào. Chúng tôi biết lợi ích của nước Mỹ cũng là lợi ích toàn cầu và vì thế chúng tôi xây dựng lực lượng phải có khả năng duy trì và củng cố những lợi ích đó chống lại bất kỳ ai có thể gây thách thức với nó. Chúng tôi không xây dựng khả năng của chúng tôi nhằm vào Trung Quốc, nếu ông hỏi như vậy. Nhưng chúng tôi luôn mong muốn là một đội quân tốt nhất trên thế giới này.

Suthichai: Nhưng khi ông nhìn lại sau xem ai là người đứng thứ hai và ông thấy Trung Quốc đang bắt kịp một cách nhanh chóng, ông phải tính toán xem chừng nào Trung Quốc sẽ tới sát cạnh chứ?

Dempsey: Trung Quốc đang đầu tư tập trung vào công nghệ. Họ không đầu tư mở rộng như chúng tôi. Mỗi chúng tôi có thể tính toán điều gì có nghĩa trong tương lai. Một lần nữa, tôi là người ủng hộ việc can dự. Tôi ủng hộ việc có mặt tại đây. Tôi là một người ủng hộ các mối quan hệ song phương và đa phương.

Suthichai: Ông đã bao giờ hỏi Thái Lan về việc sử dụng căn cứ U-tapao cho các mục đích quân sự chưa?

Dempsey: Chưa, chưa từng bao giờ. Chúng tôi có thể có mục tiêu đó. Chúng tôi đang thảo luận về nó. Hãy để tôi giải thích: U-tapao đã từng hỗ trợ chúng tôi một vài lần. Chúng tôi có một lịch sử khá dài với U-tapao.

Suthichai: Đúng, tôi đã nhiều lần viết về U-tapao trong Chiến tranh Việt Nam, nhìn thấy B52 cất cánh và hạ cánh ở đó.

Dempsey: Nhưng giờ đây chúng tôi sẽ không làm như vậy. Chúng tôi sẽ tổ chức diễn tập như tập trận Hổ mang vàng. U-tapao đang ngày càng trở nên quan trọng như một trung tâm hậu cần cho hoạt động diễn tập đó. Về kết quả của tập trận Hổ mang vàng, Tướng Tanasak Patimapragorn, Tư lệnh tối cao của Thái Lan, và tôi đã thảo luận về khả năng ở một số điểm nếu chúng tôi có thể nhất trí về việc sử dụng U-tapao. Nó sẽ trở thành trung tâm hoạt động cứu trợ thảm họa và trợ giúp nhân đạo. Nó là một địa điểm lý tưởng cho điều đó. Nếu chúng tôi quyết định về việc hợp tác đó, nếu có thể đặt ra thời gian biểu và từng gian đoạn, chúng tôi sẽ tiến tới thực hiện. Nhưng trước khi làm điều đó, chúng ta sẽ phải thăm dò các khả năng.

Suthichai: Liệu cuối cùng nó có được sử dụng là căn cứ hải quan, giống như Clark ở Philíppin và vịnh Cam Ranh tại Việt Nam hay không? Nhìn vào bản đồ, với U-tapao, Clark và Cam Ranh, đó sẽ là một chiến lược tam giác hoàn hảo cho Hải quân Mỹ. Ông không nghĩ như thế chứ?

Dempsey: Tôi có nghĩ như vậy không à? U-tapao sẽ không phải là một căn cứ hải quân. Tôi có thể đảm bảo với ông như vậy. Tôi không mang theo lá cờ nước Mỹ trong người và vạch ra nơi nào chúng tôi muốn tới. Hoàn toàn không phải như vậy. Chúng tôi trở lại Thái Lan với 179 năm quan hệ tốt đẹp ở phía sau. Chúng tôi không muốn mối quan hệ đó bị ngừng trệ. Điều gì tiếp sau việc cung cấp cứu trợ thảm họa và trợ giúp nhân đạo. Nó có thể là một điểm, nơi các tàu chiến của chúng tôi luân chuyển với các tàu đa chức năng tại Xinhgapo. Các tàu chiến của chúng tôi có thể đóng tại Xinhgapo và quản lý khu vực bên ngoài Xinhgapo và một điểm dừng có thể là U-tapao và một có thể là Băngcốc. Đó là quyết định mà chúng tôi muốn thảo luận và đồng thời chúng tôi cũng sẽ tạo cơ hội để đối tác của chúng tôi lựa chọn.

Suthichai: Có thông tin rằng NASA cũng muốn sử dụng U-tapao cho các mục đích khoa học. Làm thế nào để điều đó và hoạt động hải quân kết hợp được với nhau?

Dempsey: NASA hoàn toàn không liên quan gì với Bộ Quốc phòng. Tôi đã đọc một câu chuyện tương tự, tôi đã làm bài tập và đặt câu hỏi tại sao NASA lại quan tâm tới U-tapao như một địa điểm tiềm năng. Đó là bởi vì nó có một số khả năng lôgíc cụ thể. Nó có thể làm tốt hơn công việc trợ giúp dự báo các sự kiện thiên nhiên và diễn biến thời tiết. Nó không phải là một phần của NASA, nhưng tôi có thể nói với ông tại sao họ có thể muốn chỗ đó. Nhưng nó hoàn toàn không nằm trong bất kỳ một cuộc thảo luận nào về quân sự.

***

TTXVN (Oasinhtơn 20/6)

Tạp chí Người đưa tin Ngoại giao (Diplomatic Courier) ngày 14/6 đăng bài viết của tác giả Paul Nash về nguy cơ Chiến tranh Lạnh mới giữa Mỹ với Trung Quốc. Sau đây là nội dung bài viết:

Năm 1964, Albert Ravenholt viết cho tờ Tin tức hàng ngày Chicago rằng “Tàu ngầm của Trung Quốc cộng sản có thể là một mối đe dọa lớn đối với tàu của Mỹ”, khi ông đề cập đến mối đe dọa dưới biển của Mao đối với các lực lượng hải quân Mỹ trên Biển Đông, ngoài khơi bờ biển của Việt Nam. Các tàu ngầm do Nga cung cấp đóng trên đảo Hải Nam và trên Vịnh Bắc Bộ. Vào thời điểm đó, Trung Quốc ước tính có khoảng từ 30 đến 40 tàu đang hoạt động, là hạm đội lớn thứ tư sau Liên Xô, Mỹ và Anh.

Gần 48 năm trôi qua, đã có nhiều thay đổi và sẽ tiếp tục có nhiều thay đổi trên cùng một quỹ đạo. Khi Ravenholt, phóng viên tại Thượng Hải vào những năm 1940 trong chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai, qua đời ở tuổi 90 hồi năm 2010, Trung Quốc vẫn là cộng sản, mặc dù sắc thái ý thức hệ được cho là đã biến thành dân tộc chủ nghĩa sau ba thập kỷ gia tăng thịnh vượng.

Trung Quốc đã hiện đại hóa quân sự của mình song song với tăng trưởng kinh tê. Trung Quốc cam kết chi tiêu quân sự lớn, nỗ lực để bắt kịp với sức mạnh công nghệ của phương Tây bằng cách chế tạo vũ khí tiên tiến được dẫn đường chính xác, vũ khí chống vệ tinh và khả năng chiến tranh mạng. Năm ngoái, Trung Quốc trình làng máy bay chiến đấu J-20, dự kiên sẽ đi vào hoạt động trong giai đoạn 2017-2019. Trung Quốc cũng thiết lập một hệ thống tên lửa chống hạm trên đất liền để hạn chế khả năng đi lại tự do của các quốc gia khác trong vùng biển khu vực, bao gồm cả các vùng biển xung quanh các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đang tranh chấp, mà Trung Quốc ước tính có thể có trữ lượng lớn thứ tư thế giới về dầu và khí tự nhiên.

Ngoài việc tăng cường số lượng tàu ngầm diesel lên hơn 50 chiếc, Trung Quốc đã có bốn hoặc năm tàu ngầm hạt nhân lớp Tân, có trang bị tên lửa đạn đạo. Và, trong năm 2007, Trung Quốc đã hoàn thành xây dựng 1 căn cứ ngầm hiện đại trên đảo Hải Nam, cho phép các tàu của họ dễ dàng ra vào eo biển Malắcca, Biển Đông và Ấn Độ Dương, tuyến đường vận chuyển quan trọng cho phần lớn thương mại của thế giới và cung cấp dầu cho Trung Quốc từ Vịnh Pécxích. Mục tiêu lâu dài của Bắc Kinh là nhằm thiết lập một lực lượng hải quân biển khơi đầy đủ, trong vài thập kỷ nữa, cho phép họ có sức mạnh vượt ra ngoài vùng biển khu vực, cả về phía Tây và về phía Đông.

Để gia tăng khả năng triển khai sức mạnh của mình, Trung Quốc đã thành lập một hạm đội nhỏ “ít nhất ba” tàu sân bay. Năm 1998 sau khi Liên Xô tan rã, Trung Quốc mua một tàu sân bay ngừng hoạt động từ Ucraina được chế tạo đặc biệt cho chiến tranh chống tàu ngầm. Tàu Varyag ban đầu được dùng làm khách sạn và casino nổi ngoài khơi Macao, nhưng năm ngoái Hải quân của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN) đã công bố rằng con tàu đã được tân trang lại để “nghiên cứu khoa học, thử nghiệm và huấn luyện”. Nói cách khác, rất có thể nó được sử dụng nghiên cứu chế tạo một tàu sân bay trong tương lai. Tàu dự kiến sẽ vận hành vào trong năm nay mang theo 30 máy bay chiến đấu J-15, máy bay trực thăng và một thủy thủ đoàn 2.000 người.

Sau khi phát triển với tốc độ trung bình hàng năm hơn 10% kể từ những năm 1990, chi tiêu quân sự của Trung Quốc hiện đã sẵn sàng để vượt xa châu Âu lần đầu tiên trong nhiều thế kỷ.

Theo đánh giá về cân bằng sức mạnh quân sự toàn cầu của Viện Quốc tế Nghiên cứu Chiến lược (IISS), có trụ sở tại Luân Đôn được công bố gần đây, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc đã tăng lên một cách mạnh mẽ nếu không muốn nói là đáng báo động, kể từ khi diễn ra các cuộc khủng hoảng tài chính 2008, trong khi ngân sách của Mỹ và châu Âu đi xuống. Viện này cho rằng chi tiêu của Trung Quốc vượt qua mức tổng cộng của các nước châu Âu lớn nhất trong NATO vào năm 2015, khiến nhiều người kêu gọi liên minh này phải hành động với sáng kiến “phòng thủ thông minh” của mình. Sáng kiến phòng thủ thông minh” do Tổng thư ký Anders Fogh Rasmussen đề xuất, có nghĩa là các thành viên trong NATO sẽ tổng họp và chia sẻ khả năng cho nhau để hiệp lực trong bối cảnh hạn chế về mặt tài chính.

Chi phí quân sự của Bắc Kinh đến nay là lớn nhất trong khu vực nếu không tính Ôxtrâylia và Niu Dilân. Đại hội đại biểu Nhân dân Toàn quốc cơ quan phê duyệt đề xuất ngân sách, gần đây công bố rằng chi tiêu quốc phòng chính thức của quốc gia – hiện chỉ đứng thứ hai sau Mỹ về con số tuyệt đối mặc dù vẫn còn cách xa về bình quân đầu người – sẽ tăng 11,2% trong năm nay, lên 670 tỷ nhân dân tệ (khoảng 106 tỷ USD). Cho dù nhỏ hơn so với mức 12,7% được phân bổ trong năm 2011, song nó có thể không hẳn là chi tiêu thực tế. Một số nhà phân tích cho rằng nó có thể nhiều gấp đôi bởi số liệu chính thức không bao gồm chi tiêu cho vũ khí hạt nhân và chương trình không gian.

Trung Quốc, một cách có thể hiểu được, rất lo lắng về việc bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Ký ức về cuộc xâm lược của châu Âu thế kỷ XIX và Nhật Bản ở thế kỷ XX đã nâng cao ý thức về sự dễ bị tổn thương trước các liên minh quân sự hiện đại, hình thành bởi các nước và vùng lãnh thổ láng giềng, chẳng hạn như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc và Mỹ. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã tiến hành các cuộc tập trận quy mô lớn nhằm cải thiện khả năng phòng thủ ven biển, huy động nhanh và khả năng linh hoạt trong chỉ huy và kiểm soát. Các cuộc tập trận này rõ ràng nhằm vào sự hiện diện của Mỹ dưới nước, trên mặt biển và trên không.

Nhưng thử nghiệm của Trung Quốc với khả năng triển khai lực lượng tầm xa cho thấy những ý nghĩa về sự thay đổi trên biển. Nó vượt khỏi phạm vi nỗ lực để đạt được các khả năng cần thiết nhằm thiết lập một vành đai phòng thủ quanh các lãnh hải của mình.

Nhằm xoa dịu các mối quan ngại quốc tế, quân đội Trung Quốc đã đẩy mạnh chiến dịch ngoại giao quân sự để cải thiện mối quan hệ song phương và đa phương trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương và xuống thang trong các tranh chấp lãnh thổ. Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc cũng đã tham gia Sáng kiến an ninh toàn cầu, chẳng hạn như các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc và họp tác với NATO chống cướp biển ngoài khơi vùng Sừng châu Phi. Tìm hiểu cách để làm việc với nhau chặt chẽ và minh bạch hơn là một chủ đề chính của cuộc thảo luận giữa các nhà lãnh đạo của quân đội Trung Quốc và các đại biểu thuộc tổ chức Các nhân viên quân sự quốc tế (IMS) khi họ gặp nhau tại Bắc Kinh vào tháng Hai. NATO, trong nỗ lực tăng cường đối thoại với quân đội Trung Quốc, đang nỗ lực để phát huy kết quả từ các cuộc gặp cấp cao thường xuyên mà họ thực hiện một cách lặng lẽ với Trung Quốc hai lần mỗi năm, cũng như mở rộng các kênh liên lạc đã thành lập thông qua đại sứ của Bắc Kinh tại Bỉ.

Phản ứng trước việc Trung Quốc tăng cường khả năng hải quân, Lầu Năm Góc, hiện đang đối mặt với việc cắt giảm 485 tỷ USD trong 10 năm tới, đã bắt đầu một cuộc “xoay trục” ưu tiên chiến lược của mình. Đô đốc Sam Locklear, chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương (PACOM), sau khi dẫn đầu lực lượng hải quân Mỹ ở châu Âu và điều phối hoạt động của NATO ở Libi, đã được giao nhiệm vụ chuyển đổi PACOM thành lực lượng tiên phong của chiến lược quốc phòng mới của Mỹ. Nhìn ở phạm vi rộng, điều này có nghĩa là củng cố sự hiện diện của Mỹ ở Thái Bình Dương để kiềm chế Trung Quốc. Về mặt ngoại giao, Bộ Ngoại giao Mỹ đã tái khẳng định cam kết an ninh của mình đối với các quốc gia khác nhau trong khu vực và củng cố quan hệ với các đồng minh lâu đời như Nhật Bản, Philíppin và Ôxtrâylia. Mỹ cũng làm sâu sắc thêm quan hệ với các quốc gia ASEAN. Chính PACOM đã đàm phán các thỏa thuận an ninh song phương với Việt Nam, Xinhgapo, Thái Lan, Campuchia và Philíppin. Trong khi một số nhà phân tích chính sách cho rằng một mối quan hệ đối tác NATO-ASEAN trong tương lai là quan trọng đối với sự ổn định trong khu vực, nhiều người khác cảm thấy rằng PACOM đã đủ lớn và không gặp các trở ngại của một bộ máy quan liêu đa quốc gia để thành công trong việc đảm bảo lợi ích chiến lược của Mỹ ở Thái Bình Dương.

Theo quan điểm của Trung Quốc, sự tiếp tục tồn tại của NATO kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, lý do chính để nó tồn tại và mở rộng phạm vi hoạt động ra ngoài Bắc Đại Tây Dương đã cho thấy màu sắc thật sự của nó. Nhận thức chung ở Trung Quốc là NATO chủ yếu là một phương tiện cho sự bá chủ toàn cầu và thống trị quân sự của Mỹ. Bắc Kinh đặc biệt lo ngại về vai trò của NATO trong việc lật đổ chế độ không mong muốn ở Ápganixtan và Libi. Họ xem đây là một tiền lệ nguy hiểm cho khả năng hỗ trợ Đài Loan, nếu hòn đảo “nổi loạn” này tuyên bố độc lập chính trị với Trung Quốc đại lục; hoặc, một ngày nào đó ép buộc chuyển đổi chính trị ở Trung Quốc nếu chế độ hiện nay quyết thách thức quyền tự do tuyệt đối của Mỹ.

Tuy nhiên, Trung Quốc cũng thừa nhận mong muốn bình thường hóa và làm sâu sắc thêm quan hệ với NATO nếu nó đáp ứng mục tiêu “trỗi dậy hòa bình” và hội nhập hài hòa hệ thống toàn cầu như tuyên bố. Trung Quốc vẫn sẵn sàng chấp nhận một cách tiếp cận đa phương và “tôn trọng” với các vấn đề quan tâm chung, đặc biệt là những vấn đề mà từ đó Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể giành được vốn liếng chính trị quốc tế, chẳng hạn như các mối đe dọa an ninh phi truyền thống như chống cướp biển, khủng bố và phổ biến vũ khí.

Khi sự quyết đoán của PLAN gia tăng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, thu hút sự chú ý của Mỹ khỏi vùng Đại Tây Dương, thì chương trình của Bắc Kinh về ảnh hưởng kinh tế và chính trị gián tiếp đối với châu Âu cũng được đẩy mạnh bằng việc gia tăng thương mại và đầu tư.

Sự thiếu rõ ràng về ý định chiến lược của Trung Quốc đã được thảo luận chi tiết trong chuyến thăm của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Mỹ hồi tháng Hai. Ông Tập, người có quan hệ gần gũi với quân đội Trung Quốc hơn so với Hồ cẩm Đào và dự kiến sẽ thay thế ông Hồ làm chủ tịch nước vào cuối năm nay, cam kết sẽ thúc đẩy việc khôi phục và mở rộng đối thoại quân sự Trung-Mỹ. Các cuộc Tham vấn Quốc phòng hàng năm giữa các quan chức cấp cao dân sự, quân sự Trung Quốc và Mỹ, đã bị gián đoạn trong những năm gần đây do việc Mỹ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan. Tập Cận Bình nhấn mạnh rằng hiện đại hóa và mở rộng quân sự của Trung Quốc là hoàn toàn có tính chất phòng thủ, tốc độ nhanh chóng của nó chỉ đơn giản là phản ánh sự cần thiết phải có lực lượng ở mức độ tương xứng với sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia, dân số lớn và vị thế quốc tế tăng cao.

Người ta hy vọng rằng một cuộc đối thoại thiện chí sẽ mang lại sự rõ ràng hơn. Trung Quốc có thể chủ yếu nỗ lực để bảo vệ lãnh thổ của mình và bảo vệ tuyến đường biển vận chuyển năng lượng và tài nguyên khác từ Trung Đông và châu Phi. Hoặc Trung Quốc có thái độ cứng rắn hơn với các tuyên bố về kinh tế và lãnh thổ đối với toàn bộ Biển Đông. Trung Quốc có thể phát triển khả năng của mình để hỗ trợ các nhiệm vụ đa quốc gia nhằm thúc đẩy hòa bình và ổn định trên thế giới và khu vực. Hoặc, như một số nhà quan sát nhận định, có thế muốn làm suy yếu NATO và mang lại một sự cân bằng quyền lực ba bên mới, một trạng thái cân bằng chiến lược có lợi cho việc kiểm soát rủi ro toàn cầu đối với việc mở rộng danh mục đầu tư kinh tế ở châu Phi và các nơi khác.

Trong mọi trường hợp, có một điều đã trở nên rõ ràng hơn – là sự quyết đoán đang gia tăng của Trung Quốc và nhiệm vụ khẳng định mình của PACOM trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang tạo ra sân choi cho một cuộc Chiến tranh Lạnh mới có thể diễn ra./.

24/6/12

NHỮNG CHÍNH SÁCH SAU BẦU CỬ CỦA MỸ ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

THỐNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu Tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 21/6/2012
TTXVN (Luân Đôn 19/6)

Viện Nghiên cứu Hoàng gia các vấn đề Quốc tế (Chatham House) đăng bài phân tích của tác giả Xenia Dormandy, chuyên gia nghiên cứu cấp cao của Chatham House về xu hướng chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc trong nhiệm kỳ thứ hai của Chính quyền Barack Obama hoặc Chính quyền của Mitt Romney, và khả năng ảnh hưởng quốc tế của những chính sách này. Dưới đây là nội dung chính của bài phân tích:

Giới thiệu


Trung Quốc đã từ lâu được coi là “hộp đen” đối với Mỹ. Mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc được bao trùm bởi sự thiếu tin cậy chiến lược và không rõ ràng. Về phía Mỹ, sự trỗi dậy của Trung Quốc mang lại cả cơ hội và mối đe dọa. Việc hoạch định chính sách ở Oasinhtơn còn phức tạp hơn do thiếu sự rõ ràng về sự cân bằng quyền lực giữa chính phủ dân sự của Trung Quốc và giới quân sự của nước này cũng như mục tiêu và lợi ích tương ứng của họ. Điều này dẫn đến chính sách hiện nay của Mỹ là vừa muốn có sự tham gia của Trung Quốc nhưng lại vừa có thái độ đề phòng. Còn quan điểm của Trung Quốc là Bắc Kinh cũng thấy có sự không ổn định trong chính sách của Mỹ và không chắc liệu Mỹ đang thực hiện biện pháp đề phòng rủi ro hay nhằm kìm chân mình.

Nhìn từ bối cảnh mối quan hệ hiện nay giữa Mỹ và Trung Quốc, dưới đây là các chính sách của Mỹ với Trung Quốc nếu Tổng thống Barack Obama tái đắc cử:

Chính quyền Obama đã tiếp tục duy trì chiến lược “đối trọng và can dự” trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống George W Bush với trọng tâm đặt vào vế thứ hai. Chính quyền hiện nay đã làm việc với Trung Quốc về một loạt các vấn đề, tham gia nhiều cuộc đối thoại từ Đối thoại kinh tế và chiến lược đến việc gần đây mở rộng đối thoại từ những vấn đề về hợp tác châu Á – Thái Bình Dương đến hỗ trợ nhân đạo và ứng phó với thảm họa thiên tai. Nhiệm kỳ thứ hai của Obama có thể sẽ tiếp tục nhấn mạnh vào sự can dự, tập trung vào các lĩnh vực phối hợp hợp tác hơn là những vấn đề mà Mỹ lo ngại, từ vấn đề kinh tế đến môi trường.

Mặc dù khái niệm có ý nghĩa mở rộng hơn, nhưng đối với Trung Quốc, chính sách châu Á của Mỹ (và đặc biệt gần đây là “trục chiến lược” chuyển trọng tâm sang châu Á) là trực tiếp chĩa vào Trung Quốc. Thực tế, chính sách đối với Trung Quốc sẽ tiếp tục chỉ là một yếu tố trong chính sách tổng thể về châu Á của Mỹ và được xử lý trong bối cảnh mở rộng hơn. Trong khi chính sách “trục” chuyển hướng sang châu Á sẽ tiếp tục được thực hiện, trong tương lai Mỹ sẽ cố gắng để đảm bảo chiến lược này không bị coi là nhằm trực tiếp chống lại Trung Quốc.

Có hai lĩnh vực có thế sẽ giành được sự chú ý nhiều hơn trong nhiệm kỳ hai của Chính quyền Obama. Lĩnh vực đầu tiên liên quan đến sự can dự của Trung Quốc vào các thể chế quốc tế, nhất là WTO và G20. Vì Obama có quan điểm đa phương hơn người tiền nhiệm của ông ta, nên có khả năng chính quyền của ông sẽ tiếp tục cố gắng lôi kéo Chính phủ Trung Quốc vào những vũ đài này, nơi có thể nuôi dưỡng sự ủng hộ dành cho họ về những chuẩn mực quốc tế rộng lớn hơn về các vấn đề như Bắc Triều Tiên, Mianma và Xyri. Nhóm nghiên cứu của Obama cũng sẽ tiếp tục khuyến khích các đối tác khác, đặc biệt là châu Âu, mở rộng tầm nhìn của họ về Trung Quốc, cân nhắc các vân đề an ninh và chiến lược rộng hơn chứ không chỉ tập trung đơn thuần về thương mại.

Lĩnh vực thứ hai là an ninh không gian và an ninh mạng. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton gần đây đã bày tỏ Mỹ sẵn sàng tham gia tích cực hơn trong việc xây dựng một bộ qui chuẩn cho không gian vũ trụ. Chính quyền Obama cũng sẽ hợp tác với các nước khác cùng quan tâm để ràng buộc Chính phủ Trung Quốc vào các chuẩn mực nhằm hạn chế tin tặc và gián điệp bắt nguồn từ nước này.

Chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc nếu Mitt Romney thắng cử:


Những lời lẽ to tát mạnh mẽ về Trung Quốc của ứng cử viên Romney tập trung chủ yếu vào vấn đề kinh tế mà ít chú ý vào quân sự, địa chính trị hoặc quyền lực mềm của nước này. Do Romney có kinh nghiệm về các vấn đề thương mại và kinh tế nên nếu trở thành tổng thống Mỹ, chính sách đối với Trung Quốc của ông có khả năng tập trung vào những lĩnh vực này. Tuy nhiên, mức độ rộng lớn của các mối tương tác và lợi ích giữa hai nước chắc chắn sẽ dẫn đến một nền tảng chính sách rộng lớn hơn mà bao gồm cả các yếu tố đa dạng khác của mối quan hệ song phương.

Romney đã tuyên bố ông sẽ gắn mác “nước thao túng tiền tệ” cho Trung Quốc ngay trong ngày đầu trờ thành tổng thống Mỹ. Đây chủ yếu chỉ là công cụ hùng biện vì điều này chỉ cần tiến hành các cuộc đàm phán với Trung Quốc. Trong khi đó Trung Quốc có thể sẽ phản ứng lại với tuyên bố chính trị này, nhưng tác động thực tế là rất hạn chế. Các mối quan hệ căng thẳng lâu năm của nhiều người trong nhóm chính sách đối ngoại của Romney với các quan chức Trung Quốc sẽ được kiềm chế để bảo đảm không có tác động lâu dài hoặc đáng kể tới mối quan hệ song phương.

Tuy không phải là phần chính của chiến dịch tranh cử, nhưng do có nền tảng về khu vực tư nhân, nên điều này sẽ làm cho Romney nhạy cảm hơn với các lo ngại về vấn đề tin tặc, quyền sở hữu trí tuệ và gián điệp của nhiều doanh nghiệp trong các cộng đồng kinh doanh ở Mỹ. Làm việc để hướng tới một sân chơi bình đẳng hơn cho các công ty nước ngoài ở Trung Quốc và hỗ trợ các lợi thế cạnh tranh của Mỹ, sẽ là một ưu tiên cao của Chính quyền Romney. Romney đã tuyên bố rằng ông sẽ làm cho Trung Quốc có cùng các giá trị và chuẩn mực như các nước khác, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và thương mại.

Trong lĩnh vực an ninh và địa chính trị, Romney kêu gọi Mỹ phải có thái độ chủ động hơn hoặc chính sách ngoại giao và an ninh của Mỹ phải quyết đoán hơn, và tăng ngân sách cho quân đội. Nếu được thực hiện, điều này có thể có tác động trở lại đáng kể đến quan hệ song phương. Hiện Romney ít đề cập đến các điểm nóng tiềm năng ví dụ như Đài Loan.

Cuối cùng, Romney đã đề nghị rằng ông sẽ tập trung nhiều hơn vào các hành động của Trung Quốc tại các tổ chức quốc tế và sự hỗ trợ của nước này cho các qui chuẩn quốc tế, đặc biệt là về nhân quyền. Do bản thân là người có nền tảng về tôn giáo mạnh mẽ, nên điều này có khả năng sẽ là một vấn đề quan tâm đặc biệt của Romney, nhưng còn chưa rõ liệu Romney có coi đó là một ưu tiên trong mối quan hệ này không.

Khả năng ảnh hưởng quốc tế

Quĩ đạo của Trung Quốc và mức độ can dự vào cộng đồng quốc tế của nước này là mối quan tâm của toàn cầu. Chúng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể bởi mối quan hệ với Mỹ: hợp tác thì sẽ có khả năng dẫn đến một vai trò tích cực hơn của Trung Quốc, trong khi cạnh tranh sẽ dẫn đến việc Trung Quốc không khoan nhượng và làm ảnh hưởng đến sự tiến bộ của các vấn đề toàn cầu, từ môi trường đến vũ trụ và an ninh mạng cũng như các vấn đề phát sinh trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, đến thương mại và phát triển. Nó cũng sẽ đặt các quốc gia (mà phụ thuộc vào cả Mỹ và Trung Quốc về kinh tế/hoặc các lý do an ninh) vào một tình thế khó khăn vì họ phải cân bằng với cả hai nước này. Vậy nên việc có chỗ cho sự tăng trưởng và tham gia của Trung Quốc sẽ là điều rất quan trọng.

Nhưng có hai nhân tố làm cho việc xử lý trỗi dậy này đặc biệt khó khăn. Trước hết là sự thiếu minh bạch ở Trung Quốc đã được đề cập trước đó: hiểu biết không đầy đủ về lợi ích và những mối quan ngại của Trung Quốc có thể dẫn đến sự hiểu lầm và các xung đột có thể xảy ra. Nhân tố thứ hai liên quan đến sự căng thẳng giữa việc Mỹ biểu hiện quan tâm đến những lợi ích của Trung Quốc và việc trong mắt của Trung Quốc, họ coi biểu hiện đó là sự yếu kém của Mỹ.

Vì những lý do này, sẽ là quan trọng để bất kỳ Chính quyền Mỹ nào cùng phải nỗ lực hết sức để tham gia các cuộc đối thoại cởi mở và minh bạch với Trung Quốc và cho thấy rằng những ý định của Mỹ là rõ ràng. Bảo đảm sự rõ ràng đó và sự thận trọng có thể giúp được nhiều trong việc duy trì các mối quan hệ trong một quĩ đạo tích cực, hoặc ít nhất, để chúng không vượt khỏi tầm kiểm soát. Trong khía cạnh này, tính tiếp nối của Chính quyền Obama nhiệm kỳ hai trong việc theo đuổi một thái độ tương tự sẽ là hữu ích, đặc biệt khi Trung Quốc kết thúc thời kỳ chuyển giao chính trị ở nước này.

Những ưu tiên và việc làm tăng căng thẳng trong lĩnh vực kinh tế của Chính quyền dưới thời Romney sẽ có hai tác động chính trên thế giới. Trước tiên, nó có thể dẫn đến hành động trả đũa của Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế, chẳng hạn như đảo ngược thái độ hiện nay tương đối hợp tác bằng cách làm đình trệ sự linh hoạt về tiền tệ, làm chậm sự tiến bộ về hội nhập quốc tế hơn nữa trong lĩnh vực tài chính, hoặc tăng các rào cản thương mại hoặc thuế quan. Thứ hai, nó có thể thúc đẩy Trung Quốc tiếp tục giảm sự phụ thuộc lẫn nhau của Trung Quốc với Mỹ, khiến Trung Quốc quay sang đầu tư nhiều hơn vào châu Âu và các khu vực khác và gắn bó chặt chẽ hơn với các mối quan hệ thương mại, làm cơ sở cho Trung Quốc ngày càng can dự sâu hơn vào nhiều nước ở châu Âu.

Ngoài ra, nếu tìm cách hợp tác với Trung Quốc có thể thuyết phục nước này đẩy mạnh tốc độ tự do hóa tài khoản vốn của nó, cho phép tỷ giá đồng nhân dân tệ linh hoạt hơn cũng như cải cách sâu sắc hơn trong lĩnh vực tài chính trong nước. Kết quả có thể sẽ là tăng dòng vốn từ Trung Quốc để đầu tư sang các nước khác, nhưng quan trọng hơn là có nhiều cơ hội to lớn hơn và tiếp cận thị trường vốn quốc tế dễ dàng hơn để đầu tư vào thị trường nội địa của Trung Quốc.

Trong khi sự suy giảm trong guan hệ Mỹ – Trung có thể có tác động về kinh tế, các nước ở châu Á – Thái Bình Dương, cũng quan ngại về ảnh hưởng an ninh. Căng thẳng tăng cao giữa hai nước làm cho sự cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc trở nên khó hơn. Nếu nhận thấy mình là kẻ gây ra tình trạng căng thẳng như vậy, thì sự rút lui của Mỹ có thể xảy ra trong khu vực (trái ngược với những gì đã xảy ra trong những năm gần đây sau khi Trung Quốc có thái độ hung hăng).

Một thái độ quân sự “quyết đoán” hơn của Mỹ, như Romney kêu gọi sẽ làm cho Trung Quốc càng lo ngại “chính sách ngăn chặn” của Mỹ, và củng cố vị trí của phái diều hâu trong bộ máy quân sự và dân sự Trung Quốc những người ủng hộ tăng ngân sách quốc phòng và có thể bắt đầu một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực.

Cả Romney và Obama có thể sẽ tiếp tục tái cân bằng trọng tâm chiến lược của Mỹ sang châu Á. Điều này không nhất thiết cho thấy có khoảng cách với châu Âu. Tuy nhiên, mức độ các lực lượng của Mỹ ở châu Âu có thể bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi dự kiến cắt giảm ngân sách quốc phòng của Tổng thống Obama trong nhiệm kỳ hai so với dưới Chính quyền Romney, do Romney có ý định duy trì hoặc thậm chí tăng chi tiêu quốc phòng.

Cả hai chính quyền tiềm năng trong những năm tới có thể sẽ chú ý nhiều hơn đến mối quan ngại ngày càng gia tăng liên quan đến an ninh trong không gian mạng và tên miền không gian. Đây sẽ là những lĩnh vực khó khăn để đối phó với Trung Quốc, do đó cả hai chính quyền đều sẽ có thể lôi kéo các đối tác khác thông qua các tổ chức đa phương. Giải quyết những lĩnh vực mới có nhiều khả năng gây ra căng thẳng này là điều quan trọng sống còn không chỉ đối với Mỹ và Trung Quốc mà còn đối với cả cộng đồng quốc tế nói chung./.
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...