Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"
Hiển thị các bài đăng có nhãn Người Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Người Việt. Hiển thị tất cả bài đăng

24/7/12

Những trận đánh khiến người phương Bắc kinh hồn bạt vía

(VTC News) - Đất nước Việt Nam nhỏ bé mà anh hùng. Trải ngàn năm Bắc thuộc mà không quỳ gối. Những quốc gia hùng mạnh nhất thế giới cũng bị đánh đuổi. Người Việt Nam hiền hậu, nhưng hàng ngàn năm qua chẳng mấy khi được yên bình.

VTC News xin giới thiệu loạt bài viết của Nhà sử học Đặng Hùng, để chúng ta thêm tự hào về tổ tiên anh dũng của mình.

Bài 1: Nhà Tống muối mặt vì thất bại ê chề

Từ khi có lịch sử dân tộc, mở đầu bằng quốc gia Văn Lang, dân tộc ta đã kiên cường, bền bỉ chinh phục thiên nhiên, khai phá đất hoang, quai đê lấn biển và chống sự xâm lược của ngoại bang để tiếp tục sống và phát triển, bảo vệ quê hương đất nước.

Vua Lê Thánh Tông xưa đã từng căn dặn quần thần: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vất bỏ... Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ (Vua Lê Lợi) mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di...” (ĐVSKTT-T2-NXBVHTT-Tr.344).

Thông qua những trang ghi chép của thư tịch cổ, chúng ta có quyền tự hào về truyền thống anh hùng bất khuất trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, xử lý khôn khéo, lúc cương lúc nhu trong chính sách đối ngoại của tổ tiên xưa.

Tượng Lý Thường Kiệt trong Đại Nam Quốc Tự.

Mỗi khi đất nước có họa xâm lăng thì nhân dân ta lại đoàn kết một lòng với tinh thần “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” và “Không có gì quý hơn độc lập tự do” (Hồ Chí Minh).

Tên tuổi của các vị vua, các vương triều, các danh tướng gắn liền với các trận đánh lịch sử oai hùng, với các địa danh: Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử, Chi Lăng, Đống Đa... đã khiến cho quân xâm lược tháo chạy về tới cố quốc mà còn tim đập chân run, nghe tiếng trống đồng mà lòng khiếp sợ đến bạc tóc trên đầu.

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ biểu dụ tướng sĩ trước khi ra Bắc đánh đuổi 20 vạn quân nhà Thanh vào năm 1788 – 1789: “Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng/ Đánh cho chúng chích luân bất phản/ Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn/ Đánh cho sử tri Nam Quốc anh hùng chi hữu chủ”.

Đưa quân sang phương Bắc tập kích kẻ xâm lược

Năm Kỷ Dậu (1009), Vương Triều Lý do Vua Lý Công Uẩn lãnh đạo đã thay nhà tiền Lê mở đầu kỷ nguyên mới của Quốc gia Đại Việt, đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của nước ta với việc dời đô từ Hoa Lư về kinh thành Thăng Long (1010).

Thời kỳ đó nhà Tống đã làm chủ Trung Quốc, nhưng luôn bị các nước nhỏ là Liêu, Hạ xâm lấn. Vua quan nhà Tống chủ trương đánh nước ta ở phía Nam để gây thanh thế và sức mạnh, khiến có thể quay lại đánh thắng Liêu, Hạ ở phía Bắc sau này.

Nhà Tống mua chuộc chia rẽ các dân tộc miền núi với nhân dân miền xuôi, cắt quan hệ buôn bán với Đại Việt, cho người đóng thuyền, tích trữ lương thực, luyện tập thủy quân, gây rối biên giới, lôi kéo Chiêm Thành nhằm uy hiếp và tấn công xâm chiếm nước ta.

Ngôi mộ ở Hưng Yên nghi của Lý Thường Kiệt. Ảnh: Phạm Ngọc Dương.

Các châu Ung – Khâm – Liêm (thuộc Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay) trở thành căn cứ quan trọng, nơi tập trung quân đội, lương thực, khí giới của quân Tống chuẩn bị cho cuộc tấn công Đại Việt vào năm 1075.

Trước âm mưu và hành động xâm lược ngày càng rõ rệt của giặc Tống, Phụ quốc Thái úy Lý Thường Kiệt chủ trương: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước chặn thế mạnh của giặc...”. Triều đình nhà Lý đồng ý với chủ trương triệt phá âm mưu xâm lược của nhà Tống ngay khi còn trong “trứng nước”. Vua Lý Nhân Tông “sai Lý Thường Kiệt và tướng Tôn Đản đem hơn 10 vạn binh đi đánh; đường thủy, đường bộ đều tiến” (ĐVSKTT-Tr.328).

Trước tiên Lý Thường Kiệt vạch ra kế hoạch dùng 4 vạn quân (phần lớn là thổ binh tấn công giặc ở biên giới, nhằm thu hút lực lượng địch). Sau đó cho 6 vạn quân vượt biển, bất ngờ đổ bộ đánh chiếm các cảng Khâm (Khâm Châu), Liêm (Hợp Phố) rồi sau đó tiến về thành Ung Châu (Nam Ninh) hợp với đạo quân từ biên giới theo hướng huyện Vĩnh Bình đánh sang.

Ngày 15/9 (20/6/1075) suốt dọc biên giới từ Quảng Yên (Cao Bằng) tới Vĩnh An (Móng Cái) quân ta bất ngờ tấn công phá hủy tất cả đồn trại và tiêu diệt nhiều binh lính, tướng lĩnh địch. Bị đánh đòn sấm sét phủ đầu, quân Tống không kịp đối phó, phần thì bị quân ta tiêu diệt, phần thì buông vũ khí đầu hàng hoặc bỏ chạy.

Ngày 20/10 (30/12/1075) đại quân ta đổ bộ lên Cảng Khâm (cánh quân thủy), địch lại hoàn toàn bị bất ngờ, nhanh chóng bị tiêu diệt hoàn toàn. 4 ngày sau một cánh quân khác của ta đổ bộ bất ngờ vào cảng Liêm, hạ luôn thành này. Từ Châu Liêm một bộ phận quân ta tiến về phía thành Ung Châu nhằm ngăn chặn và tiêu diệt viện binh giặc từ phía Đông và phía Bắc kéo tới.

Trên hai hướng, 10 vạn quân Đại Việt tiến sâu vào đất Tống với mục tiêu chính là triệt phá căn cứ thành Ung Châu với danh nghĩa chỉ đánh quân Tống để giữ nước và đồng thời nhân đó giúp đỡ những người dân nghèo khổ (nhân dân Tống) bị triều đình nhà Tống bóc lột, nên quân đội Đại Việt đã tranh thủ được sự cảm tình và ủng hộ của nhân dân nước Tống ở các thành trên.

Ngày 10 tháng Chạp (18/1/1076), đại quân ta vây chặt thành Ung Châu. Đoán chắc địch có thể từ phía Bắc cứu viện thành Ung Châu, trong lúc đang vây thành, Lý Thường Kiệt đã bí mật phái một đạo quân tiến lên phía Côn Lôn Quan (cách Ung Châu khoảng 40km về phía Bắc – nay là phủ Nam Ninh, tỉnh Quảng Đông) để chặn địch từ Quế Lâm kéo xuống.

Đúng như dự đoán, Đô giám Quảng Tây (Nhà Tống) là Trương Thủ Tiết đem quân đến cứu, bị quân đội Đại Việt phục kích, bất ngờ tấn công, chém Thủ Tiết chết tại trận, khiến quân giặc hoảng sợ tháo chạy tán loạn.

Ngày 4 tháng Giêng (sau 42 ngày vây hãm giặc – quân ta dùng bao đất chồng lên cao ngang mặt thành – do đó đã tiến quân được vào thành và hạ thành Ung Châu, tiêu diệt và bắt sống nhiều quân địch).

Sau khi đã phá tan căn cứ hậu cần quan trọng của giặc, làm phá sản kế hoạch đánh úp nước ta của nhà Tống, Lý Thường Kiệt chủ trương rút quân về nước để củng cố các cứ điểm quan trọng, chuẩn bị chống quân Tống xâm lược sau này.

Đập tan đội quân xâm lược nhà Tống trên đất Đại Việt

“Bính Thìn, năm thứ 5 (1076) – Tống Hy Ninh năm thứ 9) mùa Xuân, tháng 3, nhà Tống sai Tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm Chiêu Thảo Sứ, Triệu Tiết làm phó tướng, đem quân và 9 tướng hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn nước ta. Vua sai Lý Thường Kiệt đón đánh. Đến sông Như Nguyệt đánh tan địch. Quân Tống bị chết hơn 1000 người. Quách Quỳ lui quân, lại lấy châu Quảng Nguyên của ta”.

“Tân Dậu năm thứ 6 (1081) – Tống Nguyên Phong năm thứ 4 – trả lại cho nhà Tống những binh lính bắt được ở 3 châu Ung - Khâm - Liêm vì cớ nhà Tống trả lại ta các châu Quảng Nguyên” (ĐVSKTT – Tr.333).

Tháng 10/1076, Quách Quỳ được vua Tống cử làm thống soái chỉ huy 10 vạn quân chiến đấu và 20 vạn quân tải lương tấn công Đại Việt. Đại quân tiến theo hướng Lạng Sơn rồi vào thành Thăng Long. Thủy quân sẽ dọc theo ven biển vào sông Bạch Đằng, tạo thế gọng kìm để tấn công Đại Việt. Sau khi đánh tan các đạo quân thủy bộ của ta, chúng sẽ hội quân, dùng thuyền vượt sông Hồng đánh chiếm Thăng Long.

Sau chiến thắng Ung Châu quân ta đã rút về nước. Biết trước quân Tống sẽ sang xâm lược, triều đình nhà Lý đã chủ động tích cực chuẩn bị đối phó với quân Tống.


Tranh Lý Thường Kiệt.

Ở khu vực sát biên giới, thổ binh, hương binh bố trí ở các nơi hiểm yếu để sẵn sàng tiêu hao, ngăn chặn địch. Quân đội triều đình do phò mã Thân Cảnh Phúc chỉ huy phục kích ở ải Quyết Lý và giáp khẩu (Châu Ôn và Chi Lăng). Ven biển có thủy quân đóng ở căn cứ Vân Đồn (thuộc Quảng Yên) phối hợp với quân bộ đóng ở Ngọc Sơn (Móng Cái) có nhiệm vụ ngăn chặn địch trên vùng biển Đông Kênh (Quảng Ninh).

Chiến tuyến chính của ta là ở trung du, dựa vào bờ nam sông Như Nguyệt đắp đê cao, rào cọc tre, phên dậu ken dày chạy dài từ sườn Đông Bắc dãy Tam Đảo đến sườn Tây Nam dãy núi Nham Điền (Yên Dũng – Hà Bắc), khoảng 100km. Dưới sông, thủy quân ta tập trung trên 400 chiến thuyền đóng tại vùng Vạn Xuân (Phả Lại) sẵn sàng cơ động đánh địch ở các hướng.

Cuối tháng 11/1076, quân Tống đánh chiếm Quảng Yên. Ngày 1 tháng Chạp (1077) đại quân Tống chia làm nhiều đường tấn công Lạng Sơn. Quân Tống chiếm được các châu Ôn, Quyết Lý, Quang Lang, rồi theo đường tắt vượt qua dãy Bắc Sơn tiến đến sông Phú Lương (sông Cầu thuộc địa phận Thái Nguyên ngày nay).

Một cánh quân địch tấn công lực lượng của phò mã Thân Cảnh Phúc. Quân ta phân tán vào rừng núi, dùng lối đánh tỉa, đánh úp, phục kích tấn công vào các đoàn tải lương của địch. Ngày 21 tháng Chạp (18/1/1077) quân Tống do Quách Quỳ và Miêu Lý chỉ huy đóng ở trên đoạn bến sông Như Nguyệt và ở Thị Cầu.

Trên biển, thủy quân ta phục kích chặn đánh tiêu diệt và đẩy lui thủy quân Tống. Chờ mãi không thấy thủy quân đến, Quách Quỳ cho đóng thuyền bè chở quân vượt sông Như Nguyệt tấn công chiến tuyến phòng thủ của ta.

Bị thất bại nhiều lần, Quách Quỳ phải rút quân cố thủ ở bờ Bắc sông Như Nguyệt và hạ lệnh: “Ai bàn đánh sẽ bị chém”.

Quân địch bị tấn công cả ở phía trước và phía sau, lương thực bị thiếu trầm trọng, lòng quân hoang mang dao động. Nằm chắc thời cơ Lý Thường Kiệt chủ động cho quân chủ lực bộ binh và thủy binh phản công giặc.

Tục truyền rằng, vào một đêm quân sĩ ta chợt nghe ở trong đền thờ Trương tướng quân (Trương Hống, Trương Hát) có tiếng ngâm to rằng: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. (Tạm dịch: Sông núi nước Nam vua Nam ở/ Cõi bờ ngăn cách tự sách trời/ Cớ chi quân giặc sang xâm lấn?/ Thất bại bay xem sẽ đến nơi” (ĐVSKTT-Tr.330).

Trên đoạn từ Đông Nham Điền đến Tây Vạn Xuân, hoàng tử Hoằng Chân chỉ huy 400 chiến thuyền và hàng vạn quân đánh sâu vào nơi đóng quân của địch. Nhân lúc địch tập trung đối phó ở cánh phải, Lý Thường Kiệt chỉ huy đại quân vượt sông Phú Lương tấn công giặc ở cánh trái.

Theo “Việt Sử Lược” trong trận này địch 10 phần bị tiêu diệt đến 5,6. Quân địch bị đẩy vào thế cố thủ, trước mặt, sau lưng đều bị quân dân Đại Việt tấn công. Lương thảo của giặc ngày càng cạn kiệt. Nắm rõ tình hình bất lợi của giặc, Lý Thường Kiệt chủ động cho người sang gặp Quách Quỳ bàn hòa với điều kiện: “Toàn bộ quân Tống phải rút khỏi đất nước Đại Việt”.

Không còn con đường nào khác, như người sắp chết đuối vớ được cọc, Quách Quỳ vội chấp nhận điều kiện trên và y không chờ lệnh của vua Tống mà lập tức rút ngay quân đội về nước. Tháng 2/1077, 23.400 quân chiến đấu và 3.174 ngựa chiến của Quách Quỳ về tới đất Tống.

Trong hơn 2 tháng chiến đấu anh dũng, quân dân Đại Việt đã tiêu diệt trên 19 vạn quân chiến đấu và quân tải lương, với gần 6.000 ngựa chiến của quân Tống. Toàn bộ lãnh thổ của nhà nước Đại Việt đã sạch bóng quân xâm lược.

Sau chiến thắng, với chính sách ngoại giao khôn khéo của vương triều Lý, triều đình nhà Tống phải công nhận Đại Việt là Quốc gia riêng biệt có chủ quyền, chứ không phải là một quận của nước Tống. Vua Lý là một quốc vương chứ không phải là “Giao Chỉ Quận Vương” như các đời vua Tống trước đây thường “phong”.

Nhà sử học Đặng Hùng

4/7/12

“Biển sóng, biển sóng đừng âm u đừng nuôi trong ấy trái tim thù”

(Báo Đại Đoàn Kết) - Phẫn nộ vì thói ngang ngược của một số thế lực hiếu chiến ở Trung Quốc với những toan tính đen tối của họ, mà tự nhiên nhận ra cái cảm xúc riêng tư của người nhạc sĩ tài hoa nọ bỗng trở thành những lời cảnh báo có dáng dấp của lời tiên tri! Thì báo chí Trung Quốc đang lu loa "Việt Nam tạo sóng ở Biển Đông” để đe dọa "mũi giáo và đối tượng chính cần nhằm vào là Việt Nam” để trả đũa Quốc hội ta vừa thông qua Luật Biển, khẳng định mạnh mẽ chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của nước ta từ lâu đã được Luật pháp quốc tế công nhận! Ai đang "tạo sóng” Biển Đông đây? Bao đời đứng trước biển, mỗi người Việt Nam dù sống ở đâu, vẫn nghe được tiếng rì rào của sóng biển, việc gì phải tạo sóng? 
 
 
Bằng sự trải nghiệm lịch sử, dân tộc ta hiểu rõ rằng nuôi thù hận không bằng giải tỏa với sự khoan dung. Đánh tan tác mấy chục vạn quân xâm lược, Lê Thái Tổ đã dụ rằng: "Trả thù báo oán là thường tình của mọi người, nhưng không thích giết người là từ tâm của bậc nhân đức. Vả lại, người ta đã hàng mà mình lại giết thì đó là điều xấu không hay. Nếu vì hả nỗi căm hận trong chốc lát, mà mang tiếng giết kẻ đầu hàng, thì chi bằng tha mạng sống cho vạn ức người để dập tắt mầm mống chiến tranh cho đời sau, sử xanh sẽ ghi chép, tiếng thơm để lại muôn đời, như vậy há chẳng tốt đẹp hay sao?” Nhờ có "từ tâm của bậc nhân đức " đó mà "Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể chưa thôi trống ngực, Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ hôi"!

Thế nhưng, cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Những hậu duệ của Toa Đô, Ô Mã Nhi, Liễu Thăng, Vương Thông, Tôn Sĩ Nghị, Sầm Nghi Đống ... vẫn không sao nguôi được giấc mộng bành trướng. Đặc biệt khi mà cơn khát nhiên liệu của một nền kinh tế đang cố vươn lên địa vị siêu cường đang cồn cào mà Biển Đông với một trữ lượng dầu mỏ không thua gì Vịnh Ba Tư thì làm sao dừng được "cái lưỡi bò thè ra toan tính” liếm trọn.

Vì cuộc sống bình yên nơi huyện đảo Trường Sa – Việt Nam. Ảnh: Hoàng Long

"Cái lưỡi bò” ham hố ấy, thật ra, vẫn thập thò từ lâu, lâu lắm rồi trong tâm địa của cha ông họ. Đông Nam Á vẫn là mục tiêu nhìn ngắm mà Việt Nam lại như một cái xương mắc ngang cổ họng không cho họ nuốt trọn miếng mồi vẫn thèm thuồng đó. Chẳng thế mà, khi thì mềm mỏng "mượn đường” theo món võ cổ truyền "muợn Ngu diệt Quắc” của cha ông họ, khi thì trắng trợn dùng đường biển thọc sâu vào vùng lãnh thổ phía nam nước ta rồi đánh ngược lên phối hợp với cánh quân đến từ Vân Nam, từ Lạng Sơn. Nhưng rốt cuộc thì tất cả các đạo quân xâm lược đều bị đánh tan tành, Toa Đô chết trên biển, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp bị bắt sống trên cửa sông Bạch Đằng, Liễu Thăng chết ở Chi Lăng, Tôn Sĩ Nghị chạy thục mạng, Sầm Nghi Đống treo cổ tự tử.

Thế nhưng "chết cái nết không chừa", hậu duệ của những kẻ xấu số kia hiện đang hung hăng với những toan tính mới rất có bài bản. Sau một thời kỳ "giấu mình chờ thời" bằng cách tung ra những lời lừa mị rất "hoành tráng” nhằm ru ngủ đối phương, thật ra thì chỉ lừa được những đầu óc yếu bóng vía, chứ nhân dân ta thì đã biết tỏng cái tim đen của họ. Giờ đây hình như họ nghĩ là "thời” ấy đã đến. Thế là, họ tung ra cái kế hoạch đã được mưu tính rất kỹ càng : thành lập cái gọi là "thành phố Tam Sa”, rồi mời thầu quốc tế tại 9 lô hoàn toàn nằm trong thềm lục địa thuộc chủ quyền Việt Nam, đồng thời triển khai 4 tàu hải giám thực hiện cái gọi là "tuần tra” trên Biển Đông.

Nếu nghĩ cho kỹ thì sẽ thấy rằng, sự ngang ngược trong những tuyên bố mời thầu của họ thật ra mang màu sắc chính trị song song với tranh giành lợi ích kinh tế, mà lần này thì mục tiêu chính trị nổi trội hơn. Đây là một sự "nắn gân” xem thử phản ứng của chúng ta và của thế giới ra sao, chứ mưu toan bành trướng của họ thì vẫn thế, có chăng là họ đang trắng trợn hơn để không cần phải che chắn bằng những lời hoa mỹ lừa mị. Thật ra thì động thái này không phải là lần đầu tiên, nó đã từng xảy ra từ năm 2003 đối với vùng biển Hoa Đông đang có tranh chấp giữa Nhật Bản và Trung Quốc khi Bắc Kinh đơn phương mời thầu quốc tế thăm dò, khai thác tại đây.

Và lập tức, thế giới đã lên tiếng: "Đây là hành động khiêu khích, nhằm trả đũa việc Việt Nam khẳng định các quyền pháp lý của mình trong luật quốc nội vào tuần trước. Những lời lẽ khiêu khích như vậy phải chấm dứt", đấy là phát biểu của Thượng nghị sỹ Lieberman tại Hội thảo An ninh Biển Đông ở Washington. Ông nói rõ: "Đây cũng chính là điều khiến cho Trung Quốc có thể sẽ ngày càng bị cô lập hơn trong khu vực cũng như trên thế giới”. Ông Labanyu, Giám đốc Nghiên cứu dầu khí tại Jefferies Hong kong Ltd, khẳng định sẽ không có công ty nước ngoài nào nhận thầu theo lời mời của Trung Quốc. Ông chỉ ra: "Quá trình mời thầu của CNOOC do Bộ Ngoại giao Trung Quốc chỉ đạo. Chính quyền trung ương Trung Quốc muốn sử dụng CNOOC để đưa ra một tuyên bố chính trị”. Theo ông Tetsuo Kotani, Viện Nghiên cứu Quốc tế Nhật Bản thì hành vi ứng xử của Trung Quốc tại Biển Đông, trong tương lai, cũng có thể là cách Trung Quốc sẽ giải quyết mâu thuẫn lâu dài với Nhật trên biển Hoa Đông và vì thế, quan chức quân sự Mỹ-Nhật đã đàm phán về khả năng tiến hành giám sát hàng hải chung giữa hai nước để giúp ổn định tình hình!

Đứng từ một góc độ nào đó mà xem xét sự kiện này sẽ thấy, đây là một dịp để nhân dân ta mài sắc thêm tinh thần cảnh giác không một chút mơ hồ về những lời đường mật đến từ nhiều phía. Xem ra thì quả là "họa trung hữu phúc", bộ mặt xâm lược càng phơi bày, thì ý chí quật cường sẽ trỗi dậy, đặc biệt là trong thanh niên, nguồn sinh lực của dân tộc. Họ sẽ hiểu rõ hơn cần phải làm gì, để rồi những ai đang còn mơ hồ sẽ thấy rõ hơn "trái tim thù" đang làm cho sóng Biển Đông âm u! Chính hành động ngang ngược đang diễn ra kia sẽ làm sống lại truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc mà đôi khi trong bộn bề lo toan với cuộc mưu sinh người ta có lúc sao nhãng đi.

Quả là, chưa bao giờ lịch sử đang là nhân tố tác động mạnh mẽ đến đời sống dân tộc như lúc này. Người ta nhớ lại, triệu tập Hội nghị Diên Hồng để lắng nghe tiếng nói của dân, để tiếp nhận thêm quyết tâm chống ngoại xâm bằng ý chí và sức mạnh của dân không ai khác Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông cùng với Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương, người đã chỉ ra thượng sách giữ nước là "khoan thư sức dân lấy kế sâu rễ bền gốc", là "vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức” . Người ta nhớ ra, trong tình thế hiểm nghèo, hai vua Trần vẫn cho cho khắc trên mũi thuyền rồng dòng chữ "Hoan Diễn do tồn thập vạn binh". Chính niềm tin mãnh liệt vào dân là yếu tố quyết định sự bình tĩnh, sáng suốt, không nhu nhược, dao động do khiếp sợ trước sức mạnh của quân Nguyên. Và rồi, nếu không nung nấu một tình yêu đất nước và lòng căm thù giặc mãnh liệt khiến "ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa được xả thịt lột da quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa thì cũng cam lòng” thì Hưng Đạo Vương sao có thể viết nên bài "Hịch tướng sĩ”, một áng "thiên cổ hùng văn” đi vào con tim khối óc của các tướng lĩnh, khởi động tinh thần và khí phách của họ cùng mình diệt giặc?

Không có bản lĩnh ấy, khí phách ấy, không thể có chiến thắng đánh tan quân xâm lược. Đấy là bài học ghi xương, khắc cốt của mọi thế hệ Việt Nam. Đương nhiên, mỗi thời điểm lịch sử đòi hỏi những giải pháp lịch sử mang tính sáng tạo. Vòng xoáy trôn ốc của sự phát triển lịch sử, nếu có vẻ như lặp lại, thì cũng diễn ra trên một tầng nấc mới. Hơn nữa, sự phát triển ấy không theo trình tự tuyến tính mà là phi tuyến tính với những hợp trội tạo ra những đột phá không lường trước được.

Và đây chính là điều mà những đầu óc mê muội với giấc mộng bành trướng kia sẽ phải nhận được bài học đích đáng như xưa kia cha ông của họ đã trải nghiệm! Thông điệp chúng ta gửi cho họ vào những ngày nóng bỏng này là hãy để cho sóng Biển Đông rì rào như nó vốn có, "đừng âm u, đừng nuôi trong ấy trái tim thù".


GS Tương Lai

4/5/12

GS Nguyễn Đình Đầu: Cát Vàng là tên gọi chỉ có ở Đại Việt xưa và Việt Nam nay

(Báo điện tử Dân trí ) - Gần 2 giờ trò chuyện cùng ông đã cho tôi thêm nhiều kiến thức sâu sắc cũng như giá trị của các bản đồ cổ trong việc khẳng định chủ quyền đất nước.

Nghiên cứu bản đồ, địa bạ là công việc mà GS Nguyễn Đình Đầu theo đuổi cả cuộc đời và ông khẳng định: “Tôi không phải là nhà sưu tầm bản đồ cổ như nhiều người nói lâu nay mà bản đồ là phương tiện để tôi nghiên cứu. Bản đồ giải mã được nhiều vấn đề còn bí ẩn, mơ hồ, nó đem lại chứng cứ xác thực, khoa học; trả lại sự thật cho lịch sử”. Gần 2 giờ trò chuyện cùng ông đã cho tôi thêm nhiều kiến thức sâu sắc cũng như giá trị của các bản đồ cổ trong việc khẳng định chủ quyền đất nước.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu

Lợi dụng để gây nên sự hiểu lầm

Là người dành trọn đời để nghiên cứu lịch sử – địa lý, nhất là bản đồ cổ; trong vấn đề Biển Đông, một thời gian dài, Trung Quốc đã cố tình gây ra sự hiểu nhầm khi lợi dụng tên gọi biển nam Trung Hoa (do người phương Tây gọi) để nói rằng, biển của Trung Quốc bao chiếm gần như toàn bộ Biển Đông, nhưng liệu các bản đồ cổ của Trung Quốc có vẽ tương tự không thưa ông?
“An Nam đại quốc họa đồ”, nguyên bản họa đồ khá lớn, ngang 40cm, dọc 80cm, ấn hành theo cuốn “Nam Việt dương hiệp tự vị” (Dictionarium Anamitico- Latinum), tác giả: Giám mục Jean Louis Taberd, xuất bản năm 1838 tại Serampore (Ấn Độ) vẽ một phần của “Paracel hay Cát Vàng” (Paracel seu Cát Vàng) vào khu vực quần đảo Hoàng Sa hiện nay.
GS Nguyễn Đình Đầu:

Trung Quốc nói thế nhưng sự thật lịch sử cho thấy danh xưng biển nam Trung Hoa (chỉ Biển Đông) mà Trung Quốc lợi dụng để gây sự hiểu nhầm chưa thấy xuất hiện ở những bản đồ do chính người Trung Quốc vẽ từ hàng trăm năm trước.

Từ xưa, các triều đại phong kiến Trung Quốc vẫn dùng tên Giao Chỉ cũng như tên An Nam để chỉ quốc gia và cư dân Đại Việt. Trong nhiều văn bản và bi ký, tên Giao Chỉ vẫn còn chỉ nước ta tới hết thế kỷ XIX.

Trên hai trang 11b và 12a trích từ sưu tập bản đồ Võ bị chí (ghi lại cuộc hành trình của Trịnh Hòa trong giai đoạn 1405-1433 đi từ Trung Quốc qua Ấn Độ Dương tới châu Phi) có vẽ nước ta tuy đơn giản nhưng cũng rõ ràng: nước Giao Chỉ, bắc giáp Khâm Châu – Trung Quốc, nam giáp nước Chiêm Thành, đông giáp biển cả mang tên Giao Chỉ dương, tức biển của nước Giao Chỉ. Đây là tư liệu cổ của Trung Hoa khắc vẽ về nước ta và biển cả thuộc về nước ta từ thế kỷ XV.

Đến năm 1842, Ngụy Nguyên – người Trung Hoa xuất bản sách “Hải quốc đồ chí” mô tả và khắc vẽ bản đồ tất cả các nước trên thế giới và toàn thể năm châu bốn bể, theo phương pháp khoa học với kinh tuyến và vĩ tuyến. Trong sách này, Ngụy Nguyên đã vẽ hai bản đồ về Việt Nam. Trong đó, bản đồ thứ nhất vẽ sơ sài, chia nước ta ra hai phần (Việt Nam đông đô và Việt Nam tây đô). Ở ngoài khơi phía đông hai phần Việt Nam, ông ghi rõ là Đông Dương đại hải, tức Biển Đông rất lớn.

Cũng trong tác phẩm “Hải quốc đồ chí”, Ngụy Nguyên còn khắc vẽ bản đồ An Nam quốc với đường nét đúng kinh tuyến và vĩ tuyến rất rộng lớn. Ngoài khơi nước An Nam có ghi rõ Đông Nam hải, tức là biển Đông Nam.

Như vậy, hầu hết bản đồ Trung Hoa vẽ về Việt Nam từ thế kỷ XV hoặc trước nữa cho tới đầu thế kỷ XX đều ghi tên biển cả phía đông Việt Nam là Giao Chỉ dương hay Đông Dương đại hải hoặc Đông Nam hải, đều có nghĩa là biển của Giao Chỉ (tức là Việt Nam) hay đơn giản là Biển Đông (của Việt Nam).

Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam, không thể xuyên tạc được


Như vậy, Biển Đông - người Trung Quốc gọi là Giao Chỉ Dương, Đông Dương đại hải hay Đông Nam hải, vì sao lại bị người phương Tây ghi nhầm là biển nam Trung Hoa (hay biển Trung Hoa) để họ có cớ chỉ dựa vào tên gọi mà nói Biển Đông là của Trung Quốc. Nếu theo cách lập luận phi lý của Trung Quốc thì Ấn Độ có thể gọi Ấn Độ Dương là biển của Ấn Độ?

Cách lập luận của Trung Quốc là phi lý. Người phương Tây ghi nhầm biển Nam Trung Hoa là vì sai lầm từ sơ khai. Chúng ta đều biết, năm 1492, Christophe Colomb (người Tây Ban Nha) tin theo bản đồ đương thời (từ thời thượng cổ đến thế kỷ XV, người ta tưởng rằng địa cầu chỉ có 3 châu lục: châu Âu, châu Á và châu Phi), tưởng rằng cho thuyền vượt Đại Tây Dương một hành trình không xa thì sẽ tới Ấn Độ. Nên khi tới tân thế giới (châu Mỹ), ông tin liền đây là Ấn Độ và gọi thổ dân nơi đây là người Ấn Độ (Indien, Indian). Danh xưng sai lầm này tồn tại mãi đến ngày nay.

Gần đồng thời tức cuối thế kỷ XV, nhà hàng hải Bồ Đào Nha Vasco de Gama theo đường biển phía đông vòng qua mũi Hảo Vọng Nam châu Phi tìm đường sang Ấn Độ. Họ chiếm được Goa rồi Malacca. Từ đây họ đi ngược lên để phát hiện đường tới Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản… Họ chiếm lãnh Macau của Trung Hoa và đặt thương điếm lớn nhất tại đó (1557). Đến đâu họ cũng điều tra kinh tế và vẽ bản đồ theo khoa học cho đúng kinh độ và vĩ độ. Bản đồ bán đảo Đông Dương được vẽ đúng với thực tế để đính chính lại phần Đông Nam Á đã vẽ theo tưởng tượng sai lầm ở các bản đồ phổ biến trước đó.

Cũng vào thời ấy, giữa bờ biển nước ta và quần đảo Paracel (gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa), các bản đồ thường ghi là vịnh Giao Chỉ gần Trung Hoa (Golfe de la Cochinchine). Địa danh Cochinchine nguyên là tên hai nước Giao Chỉ (Cochin) và nước Tần (Chine), viết theo Hán tự. Người phương Tây đọc âm hơi khác rồi ghi lại bằng chữ Latinh: Giao Chỉ (Việt Nam) thành Cauchy, Cochi, Cochin; còn Tần ghi là Tsin, Cin, Chine hay China. Nhưng nước Cochin (Giao Chỉ) lại trùng tên một thị trấn Cochin ở Ấn Độ nên người Bồ Đào Nha ghi là Cochinchina (Giao Chỉ gần nước Tần – China) cho dễ phân biệt chứ không phải là Trung Hoa. Cochin là chủ từ, China là túc từ. China thành tên nước Trung Hoa.

Từ năm 1525, nhà hàng hải Bồ Đào Nha Diogo Ribeiro đã phát hiện quần đảo Pracel rất lớn (gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa) nằm ở giữa Biển Đông. Ông xác định quần đảo này thuộc chủ quyền Cochin (Giao Chỉ) nên ghi bờ biển Pracel (Costa de Pracel) ở duyên hải Quảng Ngãi ngày nay.

Đến thế kỷ XIX, người ta mới thấy rõ khối quần đảo Paracel (là những hòn đảo nhỏ nằm rải rác từ Bắc xuống Nam. Ở Bắc gọi là quần đảo Paracel – Hoàng Sa), ở Nam gọi là quần đảo Spratly (Trường Sa). Biển Đông bao quanh quần đảo ấy không còn là biển Cochinchina mà ghi sai nhầm là biển China (China Sea, tức lấy túc từ mà bỏ chủ từ). Đến thế kỷ XX, địa danh biển Trung Hoa trở thành phổ biến!

Tôi có rất nhiều bản đồ như thế. Cái này rất đơn sơ nhưng rất là khó, sau nhiều năm nghiên cứu tường tận mới giải thích một cách cặn kẽ.

Và Trung Quốc đã vin vào cách gọi sai lầm của người phương Tây để cố tình bóp méo sự thật lịch sử?

Có lẽ phần nào từ sự sai lầm ấy mà Trung Quốc khẳng định biển Giao Chỉ hay Biển Đông là biển của mình kể cả các quần đảo trong biển ấy nữa. Giữa thế kỷ XX, Trung Hoa Dân Quốc (chính quyền Tưởng Giới Thạch) đã đưa ra “đường lưỡi bò” để đòi quyền làm chủ 80% Biển Đông. Rồi sau đó đến Cộng hòa nhân dân Trung Hoa kéo dài sự hiểu lầm này. Gần nhất là vào năm 2009, họ đã tiếp tục trình lên Liên Hiệp Quốc phần lãnh hải của mình với đường chữ U vô lý, không phù hợp với luật pháp quốc tế. Sự ghi nhầm địa danh gây ra thật nhiều tai hại và sẽ còn phức tạp hơn nếu sự hiểu nhầm ấy còn kéo dài nữa.

Nhưng chúng ta có “An Nam đại quốc họa đồ” (ANĐQHĐ) (1838) do một thừa sai phương Tây là Taberd vẽ, đã khẳng định “Bãi Cát Vàng” (tức Hoàng Sa) là của Việt Nam cùng “Đại Nam nhất thống toàn đồ” (ĐNNTTĐ) (1840) – một bản đồ chính thức của triều Minh Mệnh cũng có khẳng định tương tự?

Có thể nói, tới thời gian xuất bản năm 1838, nước ta chưa từng có một bản đồ lớn rộng và ghi chép khá đầy đủ địa danh như ANĐQHĐ. Đây là một công trình đặc sắc của Taberd. Nhưng xét chung thì đường nét bờ Biển Đông và biên giới phía tây cận kề sông Mê Kông thì ĐNNTTĐ chính xác hơn ANĐQHĐ, tuy ĐNNTTĐ chưa có căn cứ vào kinh tuyến và vĩ tuyến.

Về dạng thức bản đồ, Taberd vẽ theo các bản đồ phương Tây cho đúng kinh tuyến và vĩ tuyến. Nhưng khi ghi địa danh, Taberd sử dụng chính xác tài liệu của Việt Nam. Hầu như ông chỉ phiên âm từ Hán Nôm sang Latinh những bản đồ do Quốc sử quán đương thời cung cấp. Ông cũng ghi thêm địa danh mà người nước ngoài đặt để trước khi biết đến địa danh thực tế của ta. Như ở ngoài khơi Biển Đông gần vĩ tuyến 16 và kinh tuyến 112 có ghi Paracel seu (hay là) Cát Vàng; gần Cửa Tùng có ghi Hòn Cỏ – Tigris insula…

Địa danh của ta thường có hai hình thức: địa danh hành chính và tục danh. Thí dụ: Biên Hòa là địa danh hành chính có tục danh là Đồng Nai; Gia Định có tục danh là Sài Gòn; đảo Lý Sơn có tục danh là Cù lao Ré… Taberd đã ghi những địa danh hành chính cho các trấn và các đơn vị hành chính lớn để tránh sự nhầm lẫn, nhưng đã ghi rất nhiều tục danh nôm na cho gần bàn dân thiên hạ, như: Cái Mơn, Nhà Bè, Lái Thiêu, Hòn Nổi… Đặc biệt với quần đảo giữa Biển Đông có địa danh hành chính là Hoàng Sa (chữ Hán), Taberd đã ghi tục danh là Cát Vàng (Nôm) mà người phương Tây gọi là Paracel. Địa danh Cát Vàng là tiếng Việt chỉ có ở Đại Việt xưa và Việt Nam nay, không thể ở đâu khác. Qua đó chứng tỏ rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, không thể xuyên tạc được.

Mong muốn những tấm bản đồ này được treo trong nhà của mọi người dân


Như vậy, thông qua các bản đồ cổ vẽ Việt Nam và vùng biển của Việt Nam từ các nhà hàng hải Trung Quốc và phương Tây, các giám mục phương Tây đến bản đồ chính thức của các triều đại phong kiến Việt Nam thì chúng ta có cứ liệu lịch sử, khoa học và pháp lý để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, cố tình gây hiểu sai của giới học giả và chính quyền Trung Quốc?

Đó là điều chắc chắn. Ta thấy trong 4 thế kỷ XVI – XVII – XVIII – XIX, các bản đồ thế giới phương Tây đều ghi vẽ quần đảo Paracel hay Pracel (Hoàng Sa và Trường Sa) ở giữa Biển Đông và bờ biển Paracel (Costa da Paracel) luôn đặt ở bờ biển Quảng Nam – Khánh Hòa. Chúng ta chưa hề thấy một bản đồ thế giới nào ghi bờ biển Paracel là ở nam Trung Hoa, ở Phi Luật Tân hay ở Mã Lai. Bản đồ chính thức của Việt Nam là ĐNNTTĐ hoàn toàn thống nhất với các bản đồ thế giới trong suốt 5 thế kỷ qua, chủ yếu về địa lý Hoàng Sa – Trường Sa.

Bản đồ Việt Nam trong cuốn Từ điển Latinh - Việt Nam của Giám mục Jean Louis Taberd xuất bản năm 1838 vẽ một phần của "Paracel hay Cát Vàng" (Paracel seu Cát Vàng) vào khu vực quần đảo Hoàng Sa hiện nay

Tôi nói thêm điều này, rất quan trọng. Trong các bản đồ cổ đã chứng minh, Giao Chỉ chịu ảnh hưởng văn minh Trung Quốc chỉ đến Đèo Ngang. Còn từ năm 1069 đến 1698, biên giới lãnh thổ của Việt Nam kéo dài thêm từ Đèo Ngang đến tận Đồng bằng sông Cửu Long. Như vậy, từ Đèo Ngang trở lên là ảnh hưởng văn minh Trung Quốc, còn từ Đèo Ngang trở xuống thì ảnh hưởng văn minh Champa và trước Champa là văn minh Sa Huỳnh; xuống nữa là ảnh hưởng văn minh Khmer, trước Khmer là văn minh Phù Nam theo cổ sử.

Trong khi đó, từ Phù Nam, Sa Huỳnh và sau là Champa, Khmer đều chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, vừa Ấn Độ giáo vừa Phật giáo cổ. Do đó, Trung Quốc không thể nói là cả nước Việt Nam hoàn toàn ảnh hưởng văn minh Trung Hoa. Quan trọng nhất là Trung Quốc không thể nói Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc bởi vì Việt Nam chỉ ảnh hưởng văn minh Trung Quốc đến Đèo Ngang. Do đó, nếu không nghiên cứu tường tận lịch sử – địa lý của khu vực này thì dễ nhầm lẫn. Nước Việt Nam có vị trí quan trọng trên bản đồ thế giới, là nước không chỉ có Đồng bằng sông Hồng sản xuất lúa gạo đủ ăn mà phải có Đồng bằng sông Cửu Long thì mới thừa ăn… Nghiên cứu địa lý phải đi đến nơi đến chốn như vậy mới hiểu được lịch sử một cách cặn kẽ.

Với những giá trị đặc biệt của các bản đồ cổ nói trên, trong tình hình Biển Đông đang nóng, ông có ước nguyện gì?


Tôi mong muốn những tấm bản đồ này được treo ở các trường học, viện nghiên cứu và rộng hơn nữa là trong nhà người dân… Làm sao để nói được thật nhiều cho dân mình, cho thế giới, cho người Trung Quốc biết những chứng cứ lịch sử có thật, không thể đi ngược lại về chủ quyền biển đảo của Việt Nam ta. Và chính từ sự hiểu biết thật cặn kẽ, vững chắc mới mong tạo được sự thống nhất, sự nhận thức sâu xa trong lòng dân tộc về chủ quyền của mình. Điều đó sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Xin cảm ơn Giáo sư về cuộc trò chuyện này.
GS.Nguyễn Đình Đầu sinh năm 1920 tại Hà Nội, là nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực địa lý học – lịch sử Việt Nam. Ông tốt nghiệp Trường Bách nghệ Hà Nội (1939-1941). Năm 1945, ông là Bí thư Bộ Kinh tế trong Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh. Năm 1953, ông tốt nghiệp Cử nhân khoa học – xã hội Đại học Công giáo Paris. Về nước, ông dạy học và viết sách giáo khoa Sử – Địa…Năm 2005, ông được trao giải thưởng Trần Văn Giàu (lần 2) cho cụm tác phẩm “Nghiên cứu địa bạ và ruộng đất triều Nguyễn thuộc Nam Kỳ lục tỉnh” (7 cuốn). Năm 2008, ông dành giải thưởng nghiên cứu do Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh trao tặng. Hiện ông là Ủy viên Hội đồng Khoa học Xã hội TP HCM; Phó chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam – TP HCM; Ủy viên Nhân sĩ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – TP HCM…
Theo Thiên Thanh
Petrotimes

1/5/12

Tiến sĩ sử học - Hãn Nguyên Nguyễn Nhã: Đưa Hoàng Sa - Trường Sa ra với thế giới

(Báo Lao Động) - Ngày 29.4.2012, tiến sĩ Nguyễn Nhã lên đường sang Mỹ để thực hiện một công việc mà ông cho rằng rất quan trọng đối với ông, đó là hoàn thành bản dịch ra tiếng Anh công trình “Hồ sơ tư liệu chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa” mà ông đã dày công nghiên cứu thực hiện trong mấy chục năm qua.

TS Nguyễn Nhã nói chuyện tại San Jose - California - Mỹ (ảnh nhỏ). Đảo Trường Sa Lớn. Ảnh: T.L - H.U.Y

Quen biết với tiến sĩ Nguyễn Nhã đã lâu, qua nhiều lần trao đổi, làm việc, mới hiểu được ông là người có niềm đam mê rất lớn về nghiên cứu sử học và ông đã lựa chọn đường đi “sử học” của mình là Hoàng Sa - Trường Sa. Ông từng tâm sự, trước đây khi làm đề cương luận án tiến sĩ về đề tài này, một người bạn thân trong giới khoa học khuyên ông “không nên nhảy vào ổ kiến lửa”, còn một vị giáo sư khác lại phát biểu trong hội đồng xét duyệt đề cương luận án rằng “đề tài này phải là cấp quốc gia, một cá nhân không làm được”. Ông biết, không phải họ không tin vào năng lực nghiên cứu khoa học và sử học của ông, nhưng có một điều gì đó khiến họ không tin là ông sẽ làm được, ít nhất là khó tiếp cận được các nguồn thông tin, tư liệu thuộc loại “thâm cung bí sử” này.

Nhưng những lời can gián chân thành đó không ngăn được ông. Ông chọn một con đường quá chông gai, khó tìm được sự hợp tác. Vào thời điểm đó, ít ai nhận ra tầm quan trọng của nó, nhưng đến bây giờ, ai cũng có thể hiểu được rằng, may mà có một Nguyễn Nhã dấn thân vào con đường khoa học với đề tài lịch sử liên quan đến chủ quyền của quốc gia trên biển Đông và hai quần đảo phên giậu của tổ quốc, ngay từ khi ông còn là chủ biên Tập san Sử Địa số 29, đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa (1975).

TS Nguyễn Nhã nói vui, nhưng thực lòng rằng, ông có cái tật không chữa được, đó là đã say mê cái gì rồi làm cho tới cùng và cái mà ông say mê bao nhiêu năm qua là đi tìm mọi chứng cứ, tư liệu lịch sử để chứng minh chủ quyền của VN trên biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Ông đã làm được khá nhiều, nhưng với ông thì vẫn chưa tới cùng, ở cái tuổi ngoài 70, ông vẫn còn mang nỗi khát khao được đi thêm một chặng nữa với Hoàng Sa và Trường Sa, xem đó như là sứ mệnh của đời mình.

Chặng đó là gì, như ông nói, là phải đưa được công trình khoa học chứng minh chủ quyền của VN trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ra với thế giới. Trong thời gian qua, TS Nguyễn Nhã và các cộng sự, với sự giúp đỡ của Quỹ biển Đông, đã dịch công trình “Hồ sơ tư liệu chủ quyền của VN tại Hoàng Sa và Trường Sa” ra tiếng Anh. Công trình này gồm có ba phần. Phần thứ nhất là tư liệu của Bộ Tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương và các tài liệu của phương Tây từ thế kỷ 19 trở về trước, chứng minh chủ quyền của VN trên biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Phần thứ hai là các tham luận của TS Nguyễn Nhã tại các hội thảo về biển Đông được tổ chức tại VN, Pháp và Mỹ. Phần thứ ba là toàn văn luận án tiến sĩ “Quá trình xác lập chủ quyền của VN tại Hoàng Sa và Trường Sa” của TS Nguyễn Nhã, có thêm phần phụ lục bổ sung các tư liệu mới. Theo TS Nguyễn Nhã, năm trước, ông gửi hồ sơ tư liệu này cho Văn phòng Quốc hội Mỹ, ông Jim Webb - Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain và Hội Địa lý quốc gia Mỹ, cùng Trung tâm Nghiên cứu chiến lược quan hệ quốc tế Mỹ.

Chuyến đi Mỹ lần này TS Nguyễn Nhã sẽ cùng các chuyên gia hoàn thiện bản dịch tiếng Anh và sau đó sẽ gửi cho thư viện các trường đại học có ngành học Châu Á học ở Mỹ và gửi cho Thư viện Quốc hội Mỹ. Thư viện này có chi nhánh nhiều nơi trên toàn nước Mỹ. TS Nguyễn Nhã cho biết, trong chuyến đi năm 2011, ông đã gặp gỡ, trao đổi với các nhà khoa học VN và Mỹ về các vấn đề chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa - Trường Sa, nói chuyện với cộng đồng người Việt, có cả người Mỹ về đề tài biển Đông, giới thiệu về công trình nghiên cứu của ông. Các buổi trao đổi đó rất được giới khoa học và Việt kiều quan tâm. Có nhiều người đề xuất về việc in và quảng bá công trình bằng tiếng Anh, đó cũng là sự động viên để ông xúc tiến nhanh công trình bản tiếng Anh.

Lần này, mục tiêu đặt ra là phải giới thiệu đến với các trường đại học và các cơ quan, tổ chức quan tâm đến vấn đề biển Đông, để họ có cơ hội tiếp cận với sự thật lịch sử rằng, VN có chủ quyền và quyền tài phán trên biển Đông và Hoàng Sa -Trường Sa. TS Nguyễn Nhã khẳng định, VN là quốc gia mạnh nhất về tư liệu lịch sử chứng minh về chủ quyền, chưa có một quốc gia nào có đủ chứng cứ lịch sử được như vậy. Riêng Trung Quốc thì hoàn toàn không có mà chỉ suy diễn. Ông nói: “Cái mạnh của VN là chứng cứ lịch sử đầy đủ, không khai thác thế mạnh đó là uổng phí. Tôi quá sốt ruột nên phải bắt tay vào làm. Trong nước đã làm được một bước, bước tiếp theo là công bố cho cộng đồng thế giới biết về chủ quyền của VN trên biển Đông”.

Trả lời về vấn đề các nguồn tài trợ để thực hiện những công việc quan trọng này, TS Nguyễn Nhã cười nhưng cũng có đôi chút tâm tư, bởi vì không có bất cứ nguồn tài trợ nào từ Nhà nước hay các tổ chức, mà là tiền riêng và sự hỗ trợ của bạn bè, người thân. Ông tự bỏ tiền túi ra để mua vé máy bay, sang Mỹ thì có người thân đưa đón, lo ăn ở. Thế thôi. Nhưng mà biết làm sao được, lòng yêu nước thương nòi có ai tính toán bằng tiền bạc, kể cả máu xương.

Lê Thanh Phong

30/4/12

Đưa Hoàng Sa, Trường Sa đến giảng đường Mỹ


(Dân Việt) - Tôi sẽ sang Mỹ và thuyết phục giới chức trách, các nhà nghiên cứu, một số trường đại học đưa tài liệu Hoàng Sa và Trường Sa vào giảng dạy, phổ biến - TS sử học Nguyễn Nhã cho biết.

TS Nguyễn Nhã với một góc “Hoàng Sa và Trường Sa” tại nhà riêng.

“Dịp 30.4 năm nay, tôi sẽ sang Mỹ và thuyết phục giới chức trách, các nhà nghiên cứu, một số trường đại học đưa tài liệu Hoàng Sa và Trường Sa vào giảng dạy, phổ biến. Đây là công việc mà tôi đang cố gắng thực hiện nhằm góp tiếng nói bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc” - TS sử học Nguyễn Nhã nói khi trao đổi với phóng viên NTNN.

Hoàng Sa là của Việt Nam

Thưa TS, vì sao ông lại chọn sang Mỹ nhân kỷ niệm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước để tuyên truyền về việc xác lập chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa?

- Tôi nghĩ rằng, tuyên truyền về Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam là việc phải thực hiện thường xuyên. Cá nhân tôi đã dành cả cuộc đời này để nghiên cứu, tìm hiểu về Hoàng Sa nhưng giới thiệu về Hoàng Sa vào dịp này lại có ý nghĩa hoàn toàn khác. Bởi đây chính là thời điểm chúng ta nói nhiều nhất về lòng yêu nước, về ý chí quật cường của dân tộc.

Tháng 1.2003, tôi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ tại Trường Đại học KHXH & NV TP. Hồ Chí Minh với đề tài "Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa". Luận án của tôi đề cập quá trình xác lập chủ quyền từ đầu thế kỷ XVII và đến năm 1816 đội dân binh Hoàng Sa, đội Bắc Hải đã được Nhà nước cử ra Hoàng Sa để khai thác sản vật. Rồi từ năm 1816, thủy quân triều Nguyễn đã được lệnh với sự hỗ trợ của dân binh Hoàng Sa đi xác lập chủ quyền chính thức, tức là cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa.

Với luận án tiến sĩ này, tôi nghĩ mình đã góp thêm một tiếng nói về học thuật để khẳng định Hoàng Sa là một phần máu thịt của Việt Nam. Cá nhân tôi nghĩ rằng, luận án về Hoàng Sa, Trường Sa của tôi đáng để cho nhân dân trong và ngoài nước biết đến.

Vì sao ông không quảng bá tài liệu Hoàng Sa và Trường Sa ở một đất nước khác mà lại là ở Mỹ? Việc quảng bá này sẽ như thế nào, thưa ông?

- Năm 2011, tôi đã sang Mỹ để gửi tài liệu về Hoàng Sa và Trường Sa cho Hội Địa lý Mỹ, Văn phòng Quốc hội Mỹ, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Mỹ để họ cùng tham khảo. Còn lần này, trong quãng gần 2 tháng ở Mỹ, tôi sẽ dành thời gian hoàn chỉnh bản tư liệu 500 trang viết bằng tiếng Anh về Hoàng Sa và Trường Sa, trong đó có cập nhật thêm tư liệu của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương. Năm 1960, tài liệu của quân đội Mỹ có ghi rất rõ là năm 1816, Hoàng Sa và Trường Sa chính thức sáp nhập vào Việt Nam.

Hoàn thiện xong bản tài liệu này, tôi sẽ đến các thư viện, trường đại học ở Mỹ để chứng minh chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam tại Hoàng Sa. Việc chọn nước Mỹ do tại đây có nhiều trường đại học giảng dạy môn Á Châu, có nhiều sinh viên Trung Quốc đang làm nghiên cứu sinh về vấn đề Biển Đông. Để cho các nghiên cứu sinh tiếp cận tài liệu này, tôi nghĩ họ sẽ có những thay đổi quan điểm, nhận thức về chủ quyền của Việt Nam. Ngoài Mỹ, tôi còn mong ước đưa Trường Sa và Hoàng Sa vào giảng đường, trường học ở Việt Nam.

Cần ưu tiên kinh tế tri thức

Không phải bây giờ ông mới đề cập nhiều đến Hoàng Sa và Trường Sa mà vào năm 1975, ông cũng đã tổ chức triển lãm về chủ quyền biển đảo của đất nước. Như vậy, 1975 phải là năm vô cùng đặc biệt với riêng cá nhân ông? Cảm xúc của ông vào thời khắc 30.4.1975 như thế nào?

-Năm 1975, lúc đó tôi đang giảng dạy môn sử tại Trường Đại học?Sư phạm Sài Gòn và làm chủ bút Tập san Sử Địa thì được chứng kiến thời khắc quan trọng của lịch sử dân tộc. Thời điểm này tôi cũng đang tổ chức triển lãm trưng bày chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Hoàng Sa là đề tài tôi có thể đeo đuổi suốt đời; còn giải phóng là sự kiện cả đời tôi mới được chứng kiến.
“Tôi cho rằng, đất nước ta có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đầy những thách thức. Đất nước muốn phát triển thì mỗi người dân phải nỗ lực và tự tin ở mình. Nếu tin ở mình sẽ không ngại điều gì cả”.

TS Nguyễn Nhã
Tôi là nhà sử học nên càng phải có trách nhiệm ghi lại sự kiện này. Nghĩ vậy, tôi đã đi khắp ngõ ngách Sài Gòn để ghi âm lại những diễn biến chính của thời khắc quan trọng của lịch sử, bắt đầu từ 11 giờ ngày 30.4.1975. Năm 2005 tôi có chuyển cuốn băng này cho Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh phát nhân Kỷ niệm 30 năm Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Còn nói về cảm xúc thời điểm đó thì tôi cũng như triệu triệu người Việt Nam khác là chỉ biết đổ xuống đường ăn mừng thành phố được giải phóng, đất nước được thống nhất. Lúc đó, ai ai cũng tin vào tương lai mới, một vận hội mới của thành phố. Tuy nhiên, hiện nay nói thật TP. Hồ Chí Minh vẫn chưa đáp ứng kỳ vọng của người dân. TP. Hồ Chí Minh vẫn tiến lên phía trước nhưng tiến ở mức độ vừa phải thôi. Nếu so với các thành phố trong khu vực thì thấy rõ chúng ta đang tụt hậu, thua kém.

Trước năm 1975, Sài Gòn được mệnh danh là hòn ngọc Viễn Đông, các thành phố khác trong khu vực như Bangkok, Kuala Lumpur… đều xếp sau rất xa. Đến nay, TP. Hồ Chí Minh không còn vị thế đó nữa. Cần phải làm gì để TP. Hồ Chí Minh có một tương lai, vị thế xứng tầm?

- Nhìn một cách công bằng, TP. Hồ Chí Minh còn thua kém họ về kinh tế, về chỉnh trang đô thị nhưng về sự ổn định chính trị lại nổi bật hơn rất nhiều. Cái nào cũng có 2 mặt của nó, được cái này sẽ mất cái kia thôi. Riêng về kinh tế, việc chúng ta thua kém có nguyên nhân sâu xa là do con người.

Người Nhật Bản không bao giờ coi đất nước họ giàu về tài nguyên, rừng vàng biển bạc mà họ luôn coi tài nguyên của mình chính là con người. Với tư duy đó, họ sử dụng con người linh hoạt theo hướng rất trọng dụng người tài. Nhiều nước khác cũng theo xu hướng này. Còn người Việt ta thời chiến tranh thì quá ư bản lĩnh, trung kiên nhưng thời bình làm kinh tế vẫn còn hạn chế lắm. Nhiều người vẫn còn tâm lý tiểu nông, tiêu dùng còn hoang phí, thường thoả mãn với bản thân...

Tôi nói thế không phải vơ đũa cả nắm nhưng đúng là đang có thực tế đó và nếu không sớm nhận ra, không điểm mặt chỉ tên “người Việt xấu xí” thì thành phố này, đất nước này vẫn sẽ còn có những rào cản, ít nhất là về nguồn lực con người...

Bài học về ý chí thống nhất

Vậy ông nghĩ gì khi gần đây trên tờ báo Time của Mỹ đã tái khẳng định rằng: Nói đến TP. Hồ Chí Minh là nói đến sự năng động trong phát triển kinh tế?

- Họ nói thế cũng có cơ sở. Nhiều chuyên gia kinh tế của thế giới đến TP. Hồ Chí Minh đều thán phục về sự đa dạng, năng động của thành phố. Nhưng nói gì thì nói, thành phố của chúng ta vẫn còn nhiều yếu kém. TP. Hồ Chí Minh muốn phát triển cần có những cởi trói về cơ chế, trọng dụng người tài, đặc biệt phải sử dụng cho được những trí thức đang ở nước ngoài muốn góp sức. TP. Hồ Chí Minh phải là nơi hội tụ trí thức tốt nhất nước, phải phát triển trên nền tảng trí thức thì mới bứt phá được.

Việc sử dụng tri thức, tôi thấy TP. Hồ Chí Minh nói riêng và nhiều địa phương khác mới chỉ dừng lại ở chủ trương mà thôi. Việc mời những chuyên gia có chuyên môn cao, các tri thức Việt kiều về hiến kế xây dựng thành phố, chúng ta làm chưa tốt. Vấn đề ở đây là gì? Tôi nghĩ đó do tâm lý của người đứng đầu. Ở đâu đó vẫn có kẻ sợ người tài, ngại trí thức, tư duy này cần phải có những thay đổi căn bản.
TS Nguyễn Nhã sinh năm 1940 tại Ninh Bình. Năm 1966, ông là Chủ nhiệm kiêm chủ bút Tập san Sử Địa, Đại học Sư phạm Sài Gòn. Năm 1975, ông xuất bản Đặc khảo Hoàng Sa và tổ chức triển lãm trưng bày chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Năm 2003, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài: Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cả nước đang chào mừng 37 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Bây giờ nghiền ngẫm lại, theo ông những bài học nào của Chiến thắng 30.4 đang được phát huy trong thời kỳ hội nhập với thế giới hiện nay?

- Sự kiện 30.4 để lại cho chúng ta nhiều bài học, trong đó tôi đánh giá cao nhất là bài học về ý chí thống nhất. Trong bối cảnh hiện nay, thống nhất để tạo sức mạnh là điều càng phải hết sức quan tâm. Sự thống nhất không chỉ là thống nhất về lãnh thổ, địa lý mà còn là sự thống nhất về ý chí của mọi tầng lớp nhân dân..

Hiện chúng ta có hàng triệu người Việt ở nước ngoài, nếu biết thống nhất họ, huy động họ thì chúng ta có thêm nhiều sức mạnh. Ở trong nước cũng phải tạo được sự thống nhất. Chẳng hạn khi bàn về chủ quyền Hoàng Sa thì phải làm sao có sự thống nhất của mỗi người dân, tất cả cùng ủng hộ cho cuộc đấu tranh về vị thế pháp lý. Làm được như vậy, sự thành công không phải là quá khó khăn.

Xin cảm ơn Tiến sĩ.

Văn Hoài (thực hiện)

21/4/12

Trung Quốc thả 21 ngư dân Việt Nam

(BBC Tiếng Việt) - Thông tấn xã của nhà nước Trung Quốc nói chính quyền nước này đã thả 21 ngư dân Việt Nam và hai thuyền của họ sau khi bắt giữ gần Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa. 
 

Tân Hoa Xã từ Quảng Châu hôm 20 tháng 4 nói rằng đây là nhóm ngư dân "bị bắt giữ hơn một tháng trên đảo Tây Sa vì các cáo buộc đánh bắt cá trái phép”.

Truyền thông Trung Quốc cũng nói các ngư dân này được thả “sau khi đã ký giấy hứa sẽ không vi phạm” qua với hành động “đánh cá trên vùng lãnh hải Trung Quốc”.

Đây là nội dung được Cục Ngư nghiệp của Trung Quốc công bố mà truyền thông nhà nước Trung Quốc trích lại.

Cũng vẫn truyền thông Trung Quốc nói một tàu của họ đã bắt giữ những ngư dân này ở “gần Tây Sa” hôm 4 tháng 3.

Họ cũng nói các tàu cá Việt Nam “mang theo 25 cân chất nổ, dụng cụ đánh cá bằng mìn và hàng trăm kilogram hải sản”.

Chính phủ Việt Nam đã phản đối vụ bắt giữ này, xảy ra với các ngư dân từ đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Báo chí Việt Nam khi đó cho hay đây là hai tàu cá QNg 66074 TS và QNg 66101 TS, do hai ông Trần Hiền và Lê Vinh làm thuyền trưởng, khi các tàu này đang hoạt động gần quần đảo Hoàng Sa hôm 3/3.

Các ngư dân là người của xã An Vĩnh, Lý Sơn đã bị giữ trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa mà hiện nay cho Trung Quốc nắm.

Báo chí Việt Nam cho hay người Trung Quốc gọi điện cho gia đình của họ đòi tiền chuộc, 70.000 Nhân dân tệ, tức khoảng 11.000 đôla Mỹ, mà không rõ khi đó là cho một tàu hay cả hai.

Về vụ việc này, tới hôm 21/3, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị lên tiếng nói:

"Việt Nam kiên quyết phản đối hành động này của phía Trung Quốc, yêu cầu phía Trung Quốc thả ngay và vô điều kiện các ngư dân và tàu cá nói trên, chấm dứt việc bắt giữ, cản trở ngư dân Việt Nam tại các vùng biển của Việt Nam."

Ông Nghị cũng cho hay Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp Đại Sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội để trao công hàm nêu rõ lập trường của Việt Nam và đang tiếp tục đấu tranh để "giải quyết vụ việc, bảo đảm lợi ích chính đáng của ngư dân".

Thân nhân các ngư dân Lý Sơn được khuyến cáo không trả tiền chuộc và giới chức địa phương ở Lý Sơn đã liên lạc với tỉnh và trung ương kêu gọi giúp đỡ.

Trong bản tin mới nhất của Tân Hoa Xã không thấy nói gì đến chuyện tiền chuộc đã được trả hay chưa.

6/4/12

12 tàu cá Việt ứng cứu một tàu cá Việt

TTO - Chiều 5-4, năm tàu đánh cá của ngư dân hai tỉnh Khánh Hòa và Quảng Ngãi đã lai dắt tàu BĐ 51349 TS và 9 ngư dân bị nạn ở khơi xa về đến cảng cá Hòn Rớ (TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa) an toàn.

Từ trái qua: thuyền trưởng tàu BĐ 51349 Lê Văn Vương, tài công Trần Quang Thái và thuyền trưởng Nguyễn Ngọc Tý - Ảnh: Tiến Thành

Ông Lê Văn Vương (28 tuổi, ở xã Tam Quan Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định), thuyền trưởng tàu bị nạn, cho biết khoảng 19g ngày 3-4, trong khi đang đánh bắt cách bờ biển tỉnh Bình Thuận khoảng 170 hải lý về phía đông nam, tàu ông đột ngột chết máy, phải chong đèn sửa chữa.

Bị tàu lạ tông chìm

Ông Lê Văn Trương, thuyền phó tàu BĐ 51349 TS, kể: “Anh em đang ở dưới hầm máy, bất ngờ bị hất tung, té ngã dúi dụi. Khi chúng tôi nhào lên boong thì thấy một chiếc tàu sắt to như hòn núi trước mặt. Vì trời tối và quá hoảng loạn nên anh em không nhìn thấy số hiệu hoặc cờ của tàu gây tai nạn”.

Bị tàu sắt lớn đâm sượt từ giữa mạn phải đến mũi tàu, chiếc tàu cá của ông Vương bị vỡ nhiều vị trí ở vỏ tàu, nước tràn vào nhanh. 9 người trên tàu phải ném toàn bộ ngư cụ, hơn 10 tấn cá đánh bắt được trong gần một tháng xuống biển để cứu tàu, song chiếc tàu vẫn chìm dần.

Anh Lê Văn Trương, phó tàu BĐ 51349, đứng dưới phần khoang tàu bị rò nước do tàu lạ đâm - Ảnh: Tiến Thành

Các thuyền viên trên tàu BĐ 51349 cho biết buồng lái tàu bị vỡ hết kính và bong tróc do chấn động từ tàu lạ đâm - Ảnh: Tiến Thành

Anh Lê Văn Trương, phó tàu BĐ 51349, bên vết nứt dọc mạn tàu do tàu lạ đâm - Ảnh: Tiến Thành

Phần mạn tàu BĐ 51349 bị vỡ do tàu lạ đâm - Ảnh: Tiến Thành

Lúc 19g35, ông Vương dùng máy Icom liên lạc với Đài thông tin duyên hải Nha Trang đề nghị cấp cứu. Hệ thống đài thông tin duyên hải và Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam đã phối hợp liên hệ, kêu gọi các tàu đang hoạt động gần tàu bị nạn đến ứng cứu.

Theo ông Trần Xuân Bình, phó giám đốc Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải khu vực 4, lúc 0g ngày 4-4, tàu hàng Southern Falcon (quốc tịch Panama) đã đến ứng cứu chín thuyền viên của tàu cá Bình Định bị nạn, sau đó bàn giao các thuyền viên lại cho tàu đánh cá KH 96732 TS của thuyền trưởng Nguyễn Ngọc Trí ở Nha Trang.

Hợp sức cứu tàu bị nạn

Ông Trần Ngọc Trí kể: “Tàu tôi đang trên đường chạy đến vị trí thả lưới thì nhận được thông tin tàu anh Vương bị nạn, đo tọa độ trên máy định vị thấy cách chúng tôi khoảng 40 hải lý. Tôi quyết định không đánh bắt nữa, tăng hết tốc lực chạy liên tục 5 giờ để đến ứng cứu”. Ông Trí nói khi ông tới thì các thuyền viên của tàu bị nạn đã được tàu Southern Falcon cứu.

Tiếp đó, cứ cách khoảng 20-30 phút lại thêm một tàu đánh cá của Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Bình Định chạy đến, tổng cộng có 12 tàu cá ứng cứu tàu gặp nạn. Hàng chục ngư dân đã đưa máy bơm điện và cả tát nước thủ công để hút nước trong khoang tàu bị nạn ra.

Thuyền trưởng tàu bị nạn Lê Văn Vương nhận quà từ đại diện trung tâm vùng III Đài thông tin duyên hải Nha Trang - Ảnh: Tiến Thành

Một số ngư dân khác dùng bình lặn để trám tạm các lỗ thủng trên tàu cá Bình Định để nước biển không tiếp tục tràn vào. Họ làm việc suốt đêm, đến khoảng 5g30 ngày 4-4 thì chiếc tàu bị nạn đã nổi hẳn.

Ông Trí cho biết do thân tàu bị hư hỏng nặng, nếu lai dắt kiểu một kéo một thì có nguy cơ làm vỡ tàu bị nạn, nên bốn tàu của ông Trần Ngọc Trí, ông Trần Dưỡng, ông Trần Văn Hoa, và một tàu nữa đã cùng cột dây lai dắt, “cử” một tàu khác của Quảng Ngãi làm nhiệm vụ mở đường, kéo chiếc tàu bị nạn vào bờ; một số tàu khác ở lại giúp tìm kiếm ngư cụ mà các thuyền viên tàu bị nạn ném xuống biển.

Chiều 5-4, trở về đất liền, ông Lê Văn Vương xúc động: “Nếu không có sự hỗ trợ đắc lực từ hệ thống Đài thông tin duyên hải, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam, đặc biệt là sự hợp lực giúp đỡ của 12 tàu đánh cá của các bạn thuyền Khánh Hòa, Quảng Ngãi và Bình Định, thì tôi đã mất hẳn chiếc tàu trị giá gần 1 tỉ đồng này. Tôi vô cùng biết ơn sự giúp đỡ đó”.

Vụ tai nạn khiến ông Vương thiệt hại gần 3 tỉ đồng.

DUY THANH

28/3/12

Khát vọng chế tạo vệ tinh "Made in Vietnam"

(CAND) - Tháng 7/2008, anh Thư đề xuất với lãnh đạo FPT thành lập phòng nghiên cứu không gian (FSpace) để thực hiện dự án chế tạo vệ tinh nhỏ F-1 CubeSat. Bấy giờ, việc chế tạo vệ tinh "Made in Vietnam" bị coi như là ý tưởng ngông cuồng, nếu xét theo trình độ khoa học công nghệ của nước nhà. Nhưng khoa học cần những ý tưởng táo bạo, dù chỉ là 1% thành công, cuối cùng FSpace cũng thuyết phục được lãnh đạo FPT bảo trợ cho việc thực hiện F-1.

Hình ảnh vệ tinh F-1 CubeSat.

Không thích nói nhiều về mình, song chàng trai ấy khiến nhiều người nể phục, bởi ý tưởng táo bạo: chế tạo vệ tinh mang xuất xứ "Made in Vietnam". Tháng 7/2012, vệ tinh đầu tiên F-1 CubeSat do anh thiết kế, chế tạo sẽ được phóng lên quỹ đạo Trái đất. Nếu thành công, điều này sẽ chứng minh Việt Nam hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ vệ tinh nhỏ. Được bình chọn là 1 trong 10 gương mặt trẻ tiêu biểu Việt Nam năm 2011, anh vẫn rất khiêm nhường: "Tôi quá đỗi bất ngờ và hạnh phúc, thấy mình chưa làm được gì nhiều". Anh là Vũ Trọng Thư - Trưởng nhóm FSpace - Viện Nghiên cứu công nghệ FPT (Đại học FPT).

Tháng 7/2012, vệ tinh đầu tiên F-1 CubeSat do anh thiết kế, chế tạo sẽ được phóng lên quỹ đạo Trái đất. Nếu thành công, điều này sẽ chứng minh Việt Nam hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ vệ tinh nhỏ. Được bình chọn là 1 trong 10 gương mặt trẻ tiêu biểu Việt Nam năm 2011, anh vẫn rất khiêm nhường: "Tôi quá đỗi bất ngờ và hạnh phúc, thấy mình chưa làm được gì nhiều". Anh là Vũ Trọng Thư - Trưởng nhóm FSpace - Viện Nghiên cứu công nghệ FPT (Đại học FPT).

Sinh năm 1982, Vũ Trọng Thư đến với lĩnh vực thiên văn học như một cơ duyên. Mọi thứ bắt đầu từ mùa hè năm 1997 khi anh còn là một học sinh lớp 10 và con tàu thăm dò Mars Pathfinder 97 của NASA vừa đổ bộ thành công xuống sao Hỏa, gửi về những hình ảnh mới nhất của bề mặt hành tinh Đỏ.

Chính những hình ảnh đen trắng chiếu cảnh chiếc xe tự hành tí hon Sojourner nhảy tung tăng quanh các hòn đá trên sao Hỏa đã khiến anh rất tò mò. Anh tự hỏi: "Đây là cái gì mà khiến cho hàng triệu người trên thế giới quan tâm đến như vậy?" và thử đi tìm câu trả lời trong các cửa hàng bán sách cũ dọc đường Láng (Hà Nội).

Chính nhờ đọc các tạp chí Thế giới mới, Time và Newsweek… đã mở ra cho anh chân trời mới, để biết thế giới bên ngoài kia có gì. Năm 2002, anh tham gia thành lập CLB thiên văn học trên diễn đàn Trí tuệ Việt Nam Online. Những điều kì lạ trong vũ trụ khác với những gì thường thấy trên Trái đất đã trở thành động lực cho người thanh niên trẻ khao khát khám phá.

Vũ Trọng Thư (áo trắng) là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam luôn say mê, đầy khát vọng.

Sau khi tham gia cuộc thi thiết kế tàu thăm dò nghiên cứu quỹ đạo tiểu hành tinh 99942 Apophis có nguy cơ đâm vào Trái đất do The Planetary Society tổ chức, lọt vào tới vòng bán kết, anh bắt đầu đi sâu vào nghiên cứu chế tạo vệ tinh. Tháng 7/2008, anh đề xuất với lãnh đạo FPT thành lập phòng nghiên cứu không gian (FSpace) để thực hiện dự án chế tạo vệ tinh nhỏ F-1 CubeSat.

Bấy giờ, việc chế tạo vệ tinh "Made in Vietnam" bị coi như là ý tưởng ngông cuồng, nếu xét theo trình độ khoa học công nghệ của nước nhà. Nhưng khoa học cần những ý tưởng táo bạo, dù chỉ là 1% thành công, cuối cùng FSpace cũng thuyết phục được lãnh đạo FPT bảo trợ cho việc thực hiện F-1.

Vệ tinh F-1 có kích thước 10x10x10cm và nặng 1kg, có nhiệm vụ phải "sống" được trong môi trường vũ trụ ít nhất 1 tháng, nhận lệnh điều khiển từ mặt đất và phát tín hiệu trả lời. Trên F-1 có gắn một camera độ phân giải thấp (640x480), một cảm biến từ trường 3 trục (để phục vụ hệ thống xác định tư thế vệ tinh sau này) và một số cảm biến nhiệt độ xung quanh thân vệ tinh để thu thập dữ liệu từ môi trường không gian.

Khung của vệ tinh được làm bằng hợp kim nhôm T-6061 vừa đảm bảo độ bền vững cho vệ tinh trong quá trình phóng tên lửa và giảm nhẹ khối lượng của cả vệ tinh. Ngoài ra, trên vệ tinh có 2 bộ vi điều khiển và 2 máy thu phát sóng radio độc lập để đề phòng những sự cố bất thường có thể xảy ra trong quá trình hoạt động.

Không phải là kỹ sư viễn thông hay công nghệ thông tin, cũng chưa từng trải qua đào tạo bài bản về khoa học vũ trụ, Vũ Trọng Thư và FSpace đã gặp không ít khó khăn khi chế tạo F-1. Các thành viên FSpace đã phải tự động viên nhau để không nản chí, không ngừng bước. May mắn với Vũ Trọng Thư là ý tưởng của anh được nhiều tổ chức quốc tế giúp đỡ cả về tinh thần lẫn vật chất: Liên đoàn vũ trụ quốc tế IAF, Văn phòng các vấn đề vũ trụ của Liên hợp quốc (UNOOSA), Cơ quan không gian Nhật Bản (JAXA), Trường Đại học Tokyo…

Theo kế hoạch, tháng 7/2012, F-1 sẽ được phóng lên quỹ đạo Trái đất trên tàu vận tải HTV-3/HII-A của JAXA. Nếu thành công, điều này sẽ chứng minh, không gian vũ trụ không phải là cái gì quá xa xôi, người Việt Nam hoàn toàn có khả năng làm chủ công nghệ vệ tinh từ thiết kế, chế tạo tới vận hành. F-1 cũng sẽ là cơ sở để thực hiện những vệ tinh lớn hơn, có ứng dụng thực tiễn trong việc giám sát tàu biển, viễn thám…

Đầu năm 2012, Vũ Trọng Thư cùng nhóm cộng sự đã tham gia và giành giải nhất cuộc thi thiết kế giải pháp công nghệ cứu ngư dân trước thảm họa bão do Tập đoàn Hàng không vũ trụ và quốc phòng châu Âu EADS tổ chức tại Việt Nam. Ngay sau đó, anh được Giáo sư Nakasuka Shinichi, Khoa Kỹ thuật hàng không vũ trụ, Đại học Tokyo (Nhật Bản), mời tham gia dự án UNIFORM chế tạo chùm vệ tinh nhỏ 50kg có nhiệm vụ phát hiện và cảnh báo cháy rừng sớm.

Việt Nam có thể cử kỹ sư sang Nhật cùng tham gia chế tạo, thử nghiệm vệ tinh này và sẽ được chia sẻ dữ liệu từ vệ tinh sau khi được phóng lên. Ngoài ra, để có thể nhanh chóng phát hiện cháy rừng từ ảnh vệ tinh thì cần phải xây dựng một trạm thu vệ tinh ngay tại Việt Nam và phát triển phần mềm tự động phân tích hình ảnh, truyền thông tin nhanh chóng đến lực lượng kiểm lâm. Nếu thành công, dự án này sẽ góp phần giảm thiệt hại từ nguy cơ cháy rừng tại Việt Nam.

Vũ Trọng Thư chia sẻ: "Hãy luôn nuôi dưỡng những ước mơ của mình, nhưng hãy bắt tay vào làm những việc vừa sức và đi chắc chắn từng bước một. Tôi tâm đắc câu "Hãy để đầu óc của bạn trên mây nhưng đôi chân thì đặt ở dưới đất". Đó là một cuộc hành trình dài nhưng bạn sẽ khám phá nhiều điều mới mẻ trên đường đi"

Lâm Khánh Vy

24/3/12

Phim về học giả Hoàng Sa được giải

(BBC Tiếng Việt) - Một phim tài liệu cũ, từng bị gạt đi vì biến cố ngư dân Việt bị bắn chết năm 2005, được trao giải Cánh diều Bạc.

Phim Một đời nghiên cứu Hoàng Sa (kịch bản và đạo diễn: Phạm Xuân Nghị) nói về thành quả nghiên cứu hơn 30 năm của nhà sử học Nguyễn Nhã tại TP. HCM.

Tại lễ trao giải của Hội Điện ảnh Việt Nam hôm 17/3, phim được trao Cánh diều Bạc ở hạng mục Phim tài liệu truyền hình.

Đáng chú ý, phim này đã hoàn thành và được mang đi dự thi ở một vài liên hoan trong nước năm 2005, nhưng bị bỏ qua vì lý do "nhạy cảm".

Khi đó, vào ngày 8/1/2005, tám ngư dân thuộc tỉnh Thanh Hóa bị cảnh sát biển Trung Quốc bắn chết khi đang đánh cá tại vịnh Bắc Bộ.

Tám người khác bị bắt và đưa về đảo Hải Nam một thời gian trước một phiên tòa ở Hải Nam thả họ.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc khi đó nói các ngư dân Việt Nam là ''cướp biển'' và rằng vụ việc là trường hợp "ăn cướp có vũ trang nghiêm trọng trên biển”.
'Đừng bóp méo lịch sử cuộc tranh chấp'

Tiến sĩ Nguyễn Nhã phản bác một số luận điểm của Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông.
Việt Nam phản bác rằng "việc tàu Trung Quốc bắn chết chín ngư dân Việt Nam và làm bị thương nhiều người khác, gây thiệt hại đến tài sản và ngư cụ của ngư dân Việt Nam là nghiêm trọng".

Trước những căng thẳng ngoại giao vì biến cố này, phim Một đời nghiên cứu Hoàng Sa tưởng như bị rơi vào quên lãng.

Phim nói về nhà sử học Nguyễn Nhã, từng chủ trương tập san Sử Địa ra mắt năm 1966 ở Sài Gòn.

Số cuối cùng của tập san này, ra mắt đầu năm 1975, là một Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa.

Kể từ ngày đó, ông Nguyễn Nhã vẫn tiếp tục nghiên cứu, thu thập bằng chứng lịch sử với mục đích chứng tỏ Hoàng Sa là của Việt Nam.

Phim của đạo diễn Phạm Xuân Nghị được làm không lâu sau khi ông Nguyễn Nhã nhận luận án tiến sĩ lịch sử năm 2003 với chủ đề về Hoàng Sa.

Bộ phim được giới thiệu là "tài liệu giáo khoa lịch sử bằng hình ảnh cụ thể, sinh động".

Sự liên quan giữa biến cố 2005 và tác động đến phim này hoàn toàn không được truyền thông trong nước nhắc đến.

Dẫu vậy, việc trao giải thưởng muộn cho tác phẩm dường như cho thấy sự thay đổi trong thái độ của giới chức.

Những ngày đầu tháng Ba năm nay chứng kiến khẩu chiến giữa Việt Nam và Trung Quốc quanh tranh chấp ở quần đảo Hoàng Sa.

20/3/12

Đọc cuốn “Hải Chiến Hoàng Sa”

Trần Bình Nam
Gửi cho BBCVietnamese.com từ California

Cuốn Hải Chiến Hoàng Sa do Ủy Ban Nghiên Cứu Trận Hải Chiến Hoàng Sa soạn thảo. Ủy ban được gọi tắt là Ủy Ban Hoàng Sa (UBHS) và do Tổng Hội Hải Quân & Hàng Hải Việt Nam Cộng Hòa và Hội Đồng Hải Sử bảo trợ thành lập. UBHS ra đời năm 2004 và cuốn Hải Chiến Hoàng Sa là kết quả của 6 năm làm việc không ngừng của UBHS do cựu Hải Quân Thiếu Tá Trần Trọng Ngà làm Trưởng Ban cùng với 7 Ủy viên khác đều là cựu sĩ quan hải quân.


Trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19/1/1974 đã làm mất nhiều giấy mực. Nhưng trong xúc động và xáo trộn của biến cố 30/4/1975 liền sau đó các sự việc của trận đánh (như nguyên nhân, diễn tiến, kết thúc, thắng bại, hoạt động ngoại giao…) chưa được phân tích đầy đủ.

Khác biệt ý kiến

Ngày 30/4/1975 khi đoàn tàu HQ/VNCH rời khỏi nước không ai mang theo các tài liệu liên quan đến trận hải chiến, trong đó có một tài liệu quan trọng là Bản Tường Trình của Ủy Ban điều tra về trận đánh của Bộ Tư Lệnh Hải Quân (BTL/HQ). Nếu có tài liệu này, sự tranh cãi giữa các nhân vật liên hệ có thể đã không diễn ra hay ít nhất cũng giới hạn được rất nhiều các điểm cần tranh cãi.

Đại tá Hà Văn Ngạc trước khi qua đời năm 1999 tại Hoa Kỳ có viết một tài liệu nhan đề “Trận Hải chiến lịch sử Hoàng Sa” nói về trận đánh. Đây là tài liệu có thẩm quyền nhất của người trong cuộc. Nhưng một số hạm trưởng trong hải đoàn đặc nhiệm bảo vệ Hoàng Sa của ông nhìn diễn tiến cuộc chiến qua lăng kính của chiến hạm họ chỉ huy đã nêu ra nhiều điểm khác biệt. Và trong nội bộ HQ/VNCH đã có những cái nhìn rất khác nhau ngoài mẫu số chung là HQ/VNCH đã giao chiến với HQ/TQ khi Trung Quốc muốn chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Sự khác biệt nhau rất rộng ngay cả sự đánh giá thắng hay bại.

Thậm chí khi Hội Bạch Đằng ở San Jose tự sưu tầm tài liệu và nhân chứng thực hiện một DVD ngắn nói về trận hải chiến Hoàng Sa được vị cựu Tư Lệnh Hải Quân Trần Văn Chơn và nhiều sĩ quan HQ/VNCH khác xem là tương đối gần sự thật nhất cũng đã gặp phải sự “phiền hà” gay gắt của một trong 3 hạm trưởng còn sống sót khi DVD nói một trong 4 chiến hạm tham chiến đã gặp trở ngại tác xạ sau phát súng đại bác đầu tiên.

Có lẽ đó là lý do UBHS ra đời với mục đích nghiên cứu để viết một tài liệu lịch sử thật chính xác về cuộc hải chiến Hoàng Sa.

Trận đánh diễn ra cách đây 36 năm nên chưa đủ dài để có một lịch sử thật chính xác. Thí dụ các tài liệu mật về phía Trung Quốc (Trung Quốc có tiết lộ một số chi tiết với mục đích tuyên truyền). Và những sự việc quan trọng như ông Kissinger, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ đã nói gì với Thủ tướng Chu An Lai khi hai người gặp nhau tại Bắc Kinh cuối năm 1973 bàn về quan hệ Mỹ-Nga-Tàu.

UBHS đã dùng một số tài liệu Trung Quốc công bố sau khi gạn lọc. Nhưng về quan hệ Mỹ-Trung - có lẽ UBHS cho là một vấn đề tế nhị và chưa có bằng chứng xác thực - đã không nghiên cứu kỹ hơn.

Tài liệu về phía HQ/VNCH cũng thiếu sót nhiều. Vị sĩ quan hải quân Chủ tịch Ủy Ban điều tra hiện ở Hoa Kỳ cũng cho biết không còn nhớ được bao nhiêu vì thời gian. Riêng tài liệu về phía Hoa Kỳ chỉ có một bản tường trình công khai của ông cựu đại úy Gerald Kosh khi theo đoàn tàu HQ/VN ra Hoàng Sa và bị bắt trên đảo. Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ còn cất giữ nhiều tài liệu về vụ Hoàng Sa. UBHS có thể dùng luật “Information Act” của Hoa Kỳ để xin giải mật những tài liệu này nhưng UBHS không đủ thời gian và phương tiện.

Cuộc phỏng vấn các sĩ quan hải quân cao cấp VNCH liên hệ còn sống tại hải ngoại trong đó có vị TL/HQ năm nay đã hơn 90 tuổi và phó Đề Đốc Tư lệnh Vùng I Duyên Hải lúc đó thì nói chung vì tuổi tác và thời gian cũng không ăn khớp với nhau. Đáng tiếc nhất là ngoài đại tá Hà Văn Ngạc đa qua đời, trong 3 vị hạm trưởng còn sống, chỉ có Trung Tá Lê Văn Thự, hạm trưởng HQ 16 nhận trả lời phỏng vấn của UBHS.

Cần thêm những tư liệu mới về trận đánh năm 1974

Ba phần chính

Cuổn HCHS gồm 3 phần chính: Phần I nói về địa lý và lịch sử của quần đảo Hoàng Sa. Phần II nói về trận hải chiến. Phần III là phụ bản ghi lại nguyên văn (verbatim) các cuộc phỏng vấn, ngoại trừ cuộc trà đàm với ông Nguyễn Văn Ngân, cựu cố vấn đặc biệt tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được UB ghi lại.

Phần I, với nhưng bằng chứng lịch sử, diện địa, đất đai, và tài liệu ngoại giao UBHS đã chứng minh một cách hùng hồn quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Cuộc đấu tranh giành lại biển đảo đã mất sẽ rất cam go. Thế kỷ này là thế kỷ của Trung Quốc trên con đường vươn lên để làm bá chủ. Trung Quốc đang biến quần đảo Hoàng Sa thành một căn cứ quân sự nối dài về phía sau với căn cứ Hải quân tại Yulin ở cực nam đải Hải Nam, và nối dài về phía trước với quần đảo Trường Sa trong sách lược chiếm cứ Biển Đông và chia đôi Thái Bình Dương với Hoa Kỳ .

Phần II miêu tả những vận chuyển chiến thuật của 4 chiến hạm VNCH khi lâm trân. HQ/VNCH đã phải nổ súng trước, khi các tàu Trung Quốc ngăn cản không cho đổ lính và người nhái lên đảo. Mặt khác, nổ súng trước để lấy thế thượng phong.

HQ/VNCH cũng như HQ/TQ đều chưa có nhiều kinh nghiệm hải chiến trên đại dương nên UB không thể trình bày một thế trận theo sách vở tại các trường dạy về hải chiến. Cuối cùng HQ/VNCH quyết định triệt thối về căn cứ hải quân Đà Nẵng để bảo toàn chủ lực. HQ/TQ bắt tù binh trên đảo và trên biển, trong đó có đại úy Kosh. Sau đó Trung Quốc đưa nhiều tiểu đoàn bộ binh đến đổ bộ chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đưa tất các tù binh về đảo Hải Nam và Quảng Đông, được ghi nhận đối đãi tử tế. Sau khi phỏng vấn tù binh lấy lệ, 10 ngay sau Trung Quốc trả tự do cho ông Kosh và 4 quân nhân Việt Nam, và cuối tháng 2/1974 tất cả 45 tù binh sĩ quan cũng như binh sĩ VNCH còn lại đều được trả tự do tại Hồng Kông.

Phần III là phần phỏng vấn. Nội dung các cuộc phỏng vấn đã được UB dùng một cách có hệ thống trong suốt cuốn HCHS. Trong 16 nhân vật được phỏng vấn có 3 cuộc phỏng vấn đáng quan tâm, và đáng ra UBHS nên in lại nguyên văn bài viết “Trận Hải chiến lịch sử Hoàng Sa” của Đại Tá Hà Văn Ngạc trong phần này dù ông đã qua đời .

Cuộc phỏng vấn cựu Ngoại trưởng Vương Văn Bắc tiết lộ cuộc đấu tranh ngoại giao hết sức tích cực và đúng bài bản trên diễn đàn quốc tế để chứng minh quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Trước cuộc chiến, Bộ Ngoại Giao VNCH đã đưa ra những tuyên bố tố cáo định tâm xâm lăng của Trung quốc. Và sau cuộc chiến cũng đã đệ nạp cho Liên hiệp quốc những văn kiện khiếu nại cần thiết. Các thủ tục ngoại giao quốc tế và các tài liệu để lại sẽ là căn bản pháp lý quan trọng cho công cuộc đấu tranh giành lại đất đai về sau.

Ngày 30/4/1975 khi đoàn tàu HQ/VNCH rời khỏi nước không ai mang theo các tài liệu liên quan đến trận hải chiến, trong đó có một tài liệu quan trọng là Bản Tường Trình của Ủy Ban điều tra về trận đánh của Bộ Tư Lệnh Hải Quân (BTL/HQ). Nếu có tài liệu này, sự tranh cãi giữa các nhân vật liên hệ có thể đã không diễn ra hay ít nhất cũng giới hạn được rất nhiều các điểm cần tranh cãi.

Cuộc phỏng vấn thứ hai với cựu Thiếu Tá Không quân Hồ Kim Giàu, phi đoàn trưởng phi đoàn nghênh cản 538 là lý thú nhất vì từ trước đến nay chưa được ai đề cập tới.

Phi đoàn nghênh cản của Không quân Việt Nam được thành lập cuối năm 1973 để đối phó với Không quân Bắc Việt trường hợp họ tấn công các phi trường thuộc Vùng I chiến thuật. Ngày 19/1/1974 khi cuộc chiến tại Hoàng Sa còn chưa ngả ngủ, Thiếu Tá Giàu được lệnh chuẩn bị phi đoàn bay ra Hoàng Sa oanh tạc các chiến hạm Trung quốc. Phi đoàn nghênh cản gồm 4 chiến đấu cơ F5-A và 12 chiến đấu cơ F5-E tối tân và với bình xăng phụ có khả năng bay ra Hòang Sa tác chiến trong vòng 15 phút và trở về. Các phi công đều được huấn luyện không chiến tại Hoa Kỳ.

Sáng ngày 20/1 phi đoàn sẵn sàng lên đường. Nhưng đến trưa có lệnh từ phủ tổng thống hủy bỏ công tác.

Cuộc phỏng vấn thứ ba là một cuộc trà đàm không ghi âm với ông Nguyễn Văn Ngân do UB ghi lại theo trí nhớ gồm 7 điểm. Trong đó chỉ có điểm số 6 liên quan đến những gì ông Ngân nghe biết về vụ Hoàng Sa. Sáu điểm còn lại không liên quan đến vụ Hoàng Sa mà chỉ là những nhận xét chính trị của ông Ngân về quan hệ Việt –Mỹ sau Hiệp Định Paris.

Nhưng trong điểm 6 ông Ngân là người duy nhất trong 16 nhân vật được phỏng vấn nêu nghi vấn Hoa Kỳ đã thỏa thuận làm ngơ để cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa trước khi Hà Nội chiếm miền Nam Việt Nam, một điều Hoa Kỳ biết trước sau cũng xảy ra. Ý của Hoa Kỳ là dùng Trung Quốc cản đường Nga Xô sau này dựa thế đồng minh với Hà Nội tiến vào Biển Đông đe dọa eo biển Malacca và Ấn Độ Dương.

Rất tiếc UB không đi vào chi tiết để tìm hiểu cơ sở lý luận của ông Ngân, và đào sâu thêm nghi vấn quan trọng này trong mối quan hệ giữa VNCH và Hoa Kỳ vào giờ thứ 25.

Giá trị


Cuốn Hải Chiến Hoàng Sa là một tài liệu công phu và nghiêm chỉnh nhất từ trước đến nay. Quyết định của Tổng Hội HQ&HH Việt Nam Cộng Hòa và Hội Đồng Hải Sử thành lập Ủy ban Nghiên cứu trận Hải chiến Hoàng Sa là một quyết định có tầm vóc.

UBHS với số ủy viên chỉ còn 5 người khi hoàn thành cuốn Hải Chiến Hoàng Sa, đã làm việc kiên trì và liên tục trong 6 năm liền là một đóng góp lớn lao cho kho lịch sử dựng nước và giữ nước, và là một phần của lịch sử HQ/VNCH khi đất nước còn bị chia cắt.

Tài liệu này là một thứ vũ khí đóng góp không nhỏ cho công cuộc tranh đấu đòi đất, đòi đảo của dân tộc Việt Nam không phân biệt chính kiến.

Bài viết nêu quan điểm riêng của tác giả, đang sống ở tiểu bang California, Hoa Kỳ.

18/3/12

Phim “Hoàng Sa Việt nam – Nỗi Đau Mất Mát” đến Cộng hòa Séc

Phim “Hoàng Sa Việt nam – Nỗi Đau Mất Mát” đến Cộng hòa Séc - 26/3 Praha, 27/3 Plzeň


Đạo diễn André Menras Hồ Cương Quyết sẽ đến Praha từ thứ Hai 26/3 để ra mắt bộ phim gây nhiều sóng gió này và trò chuyện với cộng đồng người Việt ở Cộng hòa Séc. Bộ phim được Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Bộ Ngoại Giao Việt Nam đỡ đầu nhưng đã bị cấm chiếu khi ra mắt ở Sài Gòn vào mùa hè dữ dội 2011, khi những cuộc xuống đường chống Trung Quốc lan rộng. Vì vậy có thể xem chuyến công chiếu vòng quanh Châu Âu (qua Pháp, Đức, Cộng hòa Séc, Balan) là lần tiếp xúc đầu tiên của khán giả Việt Nam với Hoàng Sa – Nỗi Đau Mất Mát.

Tại Pháp, bộ phim cũng gặp khó khăn khi công chiếu, lúc thì do chính quyền thành phố sợ phản ứng của Trung Quốc, lúc thì Đại Sứ Quán Việt Nam can thiệp, nhưng các buổi chiếu đã thành công mỹ mãn ngoài mong đợi. Buổi tọa đàm cũng là một dịp để cộng đồng người Việt tại Châu Âu quyên góp ủng hộ những ngư dân có hoàn cảnh rất khó khăn ở trong nước. Theo dự kiến, ông André Menras sẽ về Việt Nam vào mùa hè này để gặp lại và cùng sống một thời gian với các ngư dân trong bộ phim.

Buổi chiếu phim và tọa đàm này chủ yếu cho người Việt. Bên cạnh tiếng Pháp, ông André Menras nói sõi tiếng Việt, tiếng Anh và rất vui mừng được đối thoại với cộng đồng Việt Nam nhất là các bạn trẻ.

Tại mỗi nước, mỗi thành phố trong khuôn khổ chuyến công chiếu này ông André Menras được sự hỗ trợ của các nhóm tình nguyện người Việt tại địa phương về phòng chiếu, quảng cáo, tổ chức, đi lại...

Xin mời tất cả các bạn đến dự buổi chiếu phim và gặp gỡ đạo diễn Hồ Cương Quyết, người phát ngôn cho những số phận bi đát bị lãng quên.

Vào cửa miễn phí.
Hoan nghênh mọi sự đóng góp cho ngư dân gặp nạn.

Thay mặt nhóm tổ chức Praha,
Nguyễn Cường, Nguyễn Quốc Vũ, Phạm Hữu Uyển
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...