Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

31/7/11

Hải quân Việt Nam thao diễn bắn tên lửa

Trong khuôn khổ Hội nghị Tư lệnh Hải quân các nước ASEAN lần thứ 5 (ANCM-5), theo lời mời của nước chủ nhà, các trưởng đoàn và thành viên tham dự hội nghị tới thăm một số đơn vị của Hải quân Nhân dân Việt Nam.

Tổ hợp tên lửa bờ đang thao diễn Ảnh: CTV.

Đó là Đoàn tên lửa bờ 679 hiện đại và Bảo tàng Hải quân tại Hải Phòng. Thành lập tháng 6-1979, Đoàn tên lửa bờ 679 có nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng triển khai tới các trận địa dọc bờ biển và trên các đảo, phối hợp tác chiến cùng các đơn vị khác của lực lượng Hải quân và Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến công tiêu diệt các tàu địch trên biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo và thềm lục địa của Tổ quốc.

Ngoài ra, cán bộ chiến sĩ của Đoàn 679 còn thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn, giúp dân phòng chống lụt bão, phòng chống cháy nổ, cháy rừng…

Tư lệnh Hải quân các nước Malaysia, Việt Nam, Singapore và Philippines (từ trái qua) đang trao đổi và tham quan tổ hợp tên lửa bờ. Ảnh: CTV.

Tại đây, Tư lệnh Hải quân các nước ASEAN đã tham quan tổ hợp khí tài tên lửa bờ REDUT-M và chứng kiến thao diễn bắn tên lửa tiêu diệt mục tiêu trên biển do kíp trắc thủ của Đoàn 679 thực hiện. Được biết, đây là loại tổ hợp tên lửa có tầm bắn xa và độ chính xác cao khi tấn công mục tiêu.

Sĩ quan tác chiến thuộc Đoàn 679 chuẩn bị thao diễn bắn tên lửa diệt mục tiêu trên biển.


Tại Bảo tàng Hải quân, các đại biểu đã nghe giới thiệu về quá trình ra đời, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Tư lệnh Hải quân Malaysia, Đô đốc Tan Sri Abdul Aziz bin Jaafar cho rằng, Hải quân Nhân dân Việt Nam có những bước phát triển đáng kể. Với những trang thiết bị hiện đại, Hải quân Việt Nam đã chứng tỏ được vai trò của mình trong thực hiện nhiệm vụ, góp phần giữ gìn hòa bình và an ninh khu vực.

Minh Nguyễn – CTV
Hải quân Việt Nam - Singapore tăng cường hợp tác

Trong buổi tiếp đoàn Hải quân Singapore do Chuẩn Đô đốc Ng Chee Peng dẫn đầu sau khi bế mạc ANCM-5, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Trung tướng Đỗ Bá Tỵ cho rằng hải quân các nước ASEAN cần có sự trao đổi, thống nhất quan điểm về các vấn đề liên quan tới Biển Đông.

Thời gian qua, quan hệ hợp tác giữa quân đội và hải quân Việt Nam - Singapore đạt được nhiều kết quả tốt đẹp trên lĩnh vực trao đổi đoàn, đào tạo ngôn ngữ, chia sẻ thông tin hàng hải, phòng chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn.

Tư lệnh Hải quân Singapore mong muốn thời gian tới QĐND Việt Nam giúp đỡ quân đội Singapore đào tạo cán bộ phiên dịch tiếng Việt, cử sỹ quan làm việc tại trung tâm chia sẻ thông tin của lực lượng Hải quân Singapore, góp phần tăng cường tình đoàn kết hữu nghị, nâng cao hiệu quả hợp tác phát triển giữa quân đội và hải quân hai nước.

M.N (Tổng hợp)

XEM KẾ SÁCH BẢO VỆ CHỦ QUYỀN CỦA PHILIPPINES

Bùi Công Tự

Trông người mà nghĩ đến ta

So với Philippine thì sự đe dọa từ phía Trung Quốc đối với Việt Nam nguy hiểm hơn gấp nhiều lần. Tuy nhiên chúng ta cũng cứ tìm hiểu kế sách bảo vệ chủ quyền của nước bạn, xem có thể tham khảo được điều gì chăng?



Tôi biết đất nước Philippine đầu tiên từ thầy giáo trường làng, qua câu chuyện ly kỳ về nhà thám hiểm Majenlang, người Bồ đào nha, theo lệnh nhà vua Tây ban nha, giong chiến thuyền đi vòng quanh thế giới, tìm kiếm những vùng đất mới. Ngài Majenlang dũng cảm đã bị tử chiến khi đổ bộ lên quần đảo Philippine, trong một trận giao tranh với những người thổ dân kiên quyết bảo vệ chủ quyền. Đó là năm 1521.

Về mặt khoa học, hành trình của Majenlang đã góp phần chứng minh rằng trái đất có hình cầu. Đồng thời nó cũng khởi đầu cho những cuộc viễn chinh của người châu Âu chinh phục châu Á, mà đầu tiên là người Tây ban nha xâm chiếm Philippine vào năm 1562.

Mãi tới năm 1946 Philippine mới giành được độc lập. Tuy nhiên quãng thời gian gần bốn thế kỷ bị nước ngoài thống trị không làm nguội lạnh được ý chí bảo vệ độc lập chủ quyền của người dân trên xứ sở đầy gió bão này. Tinh thần ấy giờ đây lại đang bùng lên mạnh mẽ trước nguy cơ bị nước lớn Trung hoa xâm chiếm các đảo và lãnh hải ở biển Tây Philippine (tức là biển Đông đối với Việt Nam).

Philippine là một quốc đảo có tới 7.000 hòn đảo ở phía Tây Thái Bình Dương. Diện tích tổng cộng khoảng 300.000 km2. Dân số 86 triệu người (năm 2005). Số người biết chữ chiếm 95%. Tuổi thọ trung bình 70. Vài số liệu ấy cho thấy nước bạn tương đương với Việt Nam về nhiều mặt.

Tôi nghe nói người Philippine giỏi ngoại ngữ hơn chúng ta nên khi đi xuất khẩu lao động họ thường được làm những công việc nhẹ nhàng hơn và có mức lương cao hơn người Việt Nam. Nhưng mới đây Tổ chức sở hữu trí tuệ toàn cầu thuộc LHQ (WIPO) lại đánh giá trí tuệ Việt Nam cao hơn Philippine nhiều bậc (Việt Nam xếp thứ 51/125, Philippine xếp thứ 91/125).

Chúng ta trở lại câu chuyện về kế sách bảo vệ độc lập chủ quyền của Philippine hiện nay.

Như chúng ta đã biết, Trung Quốc tuyên bố một vùng biển đảo rộng lớn giáp bờ Tây Philippine là chủ quyền của Trung Quốc, trong khi người Philippine nói là của họ. Mới đây thôi, năm 2009, không biết có phải vì “đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu” hay vì sức ép nào khác mà bà Tổng Thống Gloria Arroyo của Philippine lúc đó đã có những thỏa thuận với Trung Quốc hợp tác thăm dò địa chấn trên vùng biển mà cả Philippine, Việt Nam và Trung Quốc cùng tuyên bố chủ quyền. Cũng năm 2009 Philippine tuyên bố phản đối hồ sơ của Việt Nam và Malaixia về lãnh hải trên biển Đông.

Chúng ta cũng biết rằng hiện nay Philippine đang chiếm đóng trái phép một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong đó lớn nhất là đảo Thị Tứ (mà Philippine gọi là Pagasa), họ đã xây dựng sân bay trên đảo này. Nhưng sự tranh chấp này, theo tôi, không đe dọa Việt Nam. Ta và bạn trong tương lai có thể giải quyết theo luật quốc tế cho dù còn lâu dài.

Hiện nay dưới sự lãnh đạo của ngài Tổng Thống Aquino, chính phủ Philippine đã có chiến lược mới rất rõ ràng cho công cuộc bảo vệ biển đảo trước nguy cơ xâm lăng từ Trung Quốc.
Chiến lược đó thể hiện ở những động thái sau đây:

- Chính phủ Philippine chính thức phản đối yêu sách” đường lưỡi bò 9 đoạn” phi lý của Trung Quốc.
- Tuyên bố sẽ kiện Trung Quốc lên Tòa Án quốc tế.
- Nâng cấp và hiện đại hóa trang thiết bị quân sự.
- Có phản ứng tức thì, kiên quyết, cứng rắn trong các vụ bị Trung Quốc gây hấn.
- Gắn bó hơn trong quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ và Nhật Bản.

 
 
Ngày 25/07/2011 phát biểu trước Nghị viện, trong thông điệp gửi quốc dân, Tổng Thống Aquino đã tuyên bố nước này sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để bảo vệ chủ quyền quốc gia ở vùng biển Tây Philippine.

Ông nói: “Chúng ta không muốn gây căng thẳng với bất kỳ ai, nhưng chúng ta phải để cho thế giới biết rằng chúng ta sẵn sàng bảo vệ lãnh thổ của mình”. “ Thông điệp của chúng ta gửi thế giới rất rõ ràng. Cái gì của chúng ta là của chúng ta!”.


Tinh thần ấy đã thể hiện trong việc Philippine xử lý vụ Trung Quốc gây hấn ngày 02/03/2011. Ngày hôm đó 02 tàu tuần tiểu của Trung Quốc đã áp sát tàu thăm dò dầu khí MV Veritas Voyayer của Philippine ở gần đảo Bãi cỏ rong, ép tàu này phải rời khỏi khu vực thăm dò. Ngay sau đó sự xuất hiện kịp thời của 02 máy bay và 02 tàu hải quân Philippine đã buộc tàu tuần tiểu của Trung Quốc rút chạy.

Về vụ đụng độ này tướng Sabban của Philippine tuyên bố:” Rõ ràng đây là lãnh thổ của chúng tôi. Nếu họ (TQ) ức hiếp chúng tôi thì trẻ con cũng sẽ chống trả”.

Sau đó Bộ trưởng Quốc phòng Philippine tướng Gazmin và Tư lệnh LLVT tướng Oban đã trực tiếp thị sát khu vực thăm dò nói trên.

Philippine tuyên bố tiếp tục đẩy mạnh thăm dò dầu khí ở khu vực đảo Bãi cỏ rong (đảo Bãi cỏ rong bị TQ chiếm năm 1995) Chủ tịch Công ty dầu khí Forum Enery (Anh quốc) cũng cho biết tiếp tục đầu tư lớn vào dự án này.

Thực ra, về quân sự, Philippine thuộc loại yếu, nếu như không nói là rất yếu trong khu vực. Một viên tướng không giấu diếm:” Chúng tôi chỉ có 53 chiếc tàu, trong đó thường xuyên hoạt động chỉ 25 cái, phần lớn là tàu cũ”. Nhưng họ đang có chương trình đầu tư 2,33 tỷ USD để mua sắm khí tài quân sự và xây dựng căn cứ trên 8 hòn đảo trong vùng tranh chấp mà họ đang chiếm giữ. Họ cũng vừa mua của Mỹ 1 tàu tuần tra trị giá 10 triệu USD và đã đưa vào tuần tra trên biển.

Sở dĩ Philippine “mạnh miệng” được là vì họ có những người bạn chiến lược. Đó là Hoa Kỳ và Nhật Bản. Philippine đã cho phép quân đội Mỹ đồn trú tại nước này vô thời hạn và quân đội 2 nước có quyền tham gia các hoạt động quân sự dưới nhiều hình thức.

Ngày 15/04/2011 quân đội Mỹ và Philippine đã tổ chức tập trận chung “Vai kề vai 2011” với qui mô lớn nhất từ trước đến nay. Mục đích của cuộc tập trận chung này, theo bình luận của các chuyên gia, là nhằm tăng cường khả năng của Philippine để đối phó với Trung quốc trong vùng tranh chấp tại biển Đông.

Tư lệnh quân đội Mỹ tại Thái Bình Dương Willaad đã phát biểu cam kết tiếp tục hỗ trợ Philippine trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh, nhất là hỗ trợ tuần tra trên biển. Đó cũng là nội dung Hiệp định phòng vệ song phương ký kết giữa Mỹ và Philippines năm 1951, các lực lượng Mỹ phải có nghĩa vụ bảo vệ binh lính, tàu bè và máy bay Philippines nếu họ bị tấn công trên Biển Đông.

Ngày 09/0/4/2011 Tổng Thống Aquino tuyên bố: “Trong số các nước bạn bè của Philippine không có quốc gia nào vĩ đại hơn Mỹ và Nhật Bản. Thời gian đã chứng minh rằng, chúng ta (Philippine) có thể dựa vào những nước đồng minh như họ (Mỹ và Nhật). Khi an ninh và chủ quyền của chúng ta bị uy hiếp chúng ta tin rằng họ sẽ đứng về phía chúng ta “.

Như vậy chúng ta thấy các nhà lãnh đạo Philippine đã tuyên bố cho nhân dân họ biết rõ ràng về chiến lược bảo vệ chủ quyền quốc gia của họ. Chắc chắn họ cũng cố được niềm tin của nhân dân, góp phần tăng cường sức mạnh cho dân tộc họ.

Vậy thì cho dù Philippine có nằm giữa vành đai bão Thái Bình Dương, người dân của quốc đảo này vẫn có thể ngon giấc hơn những người yêu nước Việt Nam? Chúng ta có thể tham khảo được gì qua kế sách bảo vệ chủ quyền của nước bạn?

TP HCM, ngày 29 tháng 07 năm 2011
Bùi Công Tự

Tại sao Trung Quốc sẽ không đưa vấn đề Trường Sa ra Liên Hợp Quốc?

Ted Laguatan
Tác giả Ted Laguatan, thành viên đoàn Luật sư bang California, là một trong những luật sư giỏi nhất nước. Ông là một trong số 29 luật sư Mỹ được chính thức công nhận là Chuyên gia về Luật Nhập cư, liên tục hơn 20 năm qua.

Ngày 27-7-2011

Căn cứ luật hàng hải quốc tế khả dụng và các luật có liên quan, Trung Quốc biết là nếu họ đưa kiến nghị thư ra Tòa án Công lý Quốc tế của Liên Hợp Quốc hay Tòa án Quốc tế về Luật Biển để khẳng định yêu sách đáng ngờ của họ rằng họ sở hữu đủ thứ trên biển Hoa Nam tức biển Tây Philippines – thì cơ hội chiến thắng của họ cũng chắc chắn như khi ta thấy bông tuyết rơi trên sa mạc Sahara.

Cả hai tòa án đều có quyền tài phán phù hợp để giải quyết các vấn đề chủ quyền giữa các quốc gia trong vấn đề biên giới trên biển – ví dụ các vấn đề liên quan tới hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Ta hãy tưởng tượng xem điều gì chắc chắn sẽ xảy đến nếu Trung Quốc đưa vụ việc của họ ra Tòa án Công lý Quốc tế, và đại diện của Trung Quốc – ta hãy gọi ông ta là ông Lee (Lý) – đang đứng trước Tòa án mà người đứng đầu là vị quan tòa cao nhất. Hãy xem kịch bản sau:

Quan tòa: “Đề nghị quý vị cho Tòa biết cơ sở của yêu sách của quý vị, theo đó toàn bộ biển Nam Hoa tức biển Tây Philippines thuộc về nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa?”.

Ông Lý: “Xin cảm ơn ngài. Yêu sách của chúng tôi dựa trên sự thật lịch sử rằng toàn bộ khu vực này đã thuộc về chúng tôi từ thời Hán”.

Quan tòa: “Ông dự định sẽ chứng minh vụ việc của mình như thế nào?”.

Ông Lý: “Tôi sẽ đệ trình cho Tòa xem một bản đồ cổ của nhà Hán, gần 2000 năm tuổi, cho thấy các biên giới của vương quốc thời Hán triều”.

Quan tòa: “Để thảo luận, ta hãy giả định rằng Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei và các nước xung quanh đã từng là các tỉnh lỵ hoặc là các phần thuộc triều Hán trong suốt thời gian tồn tại của nhà Hán, ngay cả khi bản đồ mà ông cầm có thể là một bản đồ hàng hải không thật sự xác định ra các biên giới địa lý của Hán triều. Bây giờ nghiên cứu của tôi về lịch sử Trung Quốc cho thấy là nhà Hán tồn tại từ năm 206 trước Công nguyên cho tới năm 220 thuộc Công nguyên. Có đúng như thế không?”.

Ông Lý: “Đúng vậy”.

Quan tòa: “Tôi giả định với ông Lý rằng ông quen Alexander Đại đế, vị vua trẻ tuổi của Macedonia, người đã chinh phục gần như cả thế giới cổ đại”.

Ông Lý: “Vâng, cứ cho là tôi quen ông ta”.

Quan tòa: “Vào thời điểm Alexander chết, năm 323 trước Công nguyên, vương quốc của ông ta bao gồm Hy Lạp, Syria, Ba Tư mà bây giờ là Iran, Ai Cập, và một phần Ấn Độ. Ông Lý, ông có biết Macedonia, quê hương của Alexandre, bây giờ là nước Cộng hòa Macedonia không?”.

Ông Lý: “Vâng, nếu ngài nói vậy”.

Quan tòa: “Tốt. Ông có vẻ hiểu lịch sử nước mình đấy. Tôi giả định là ông cũng biết đến Đế quốc La Mã, đã từng tồn tại suốt hơn 1000 năm”.

Ông Lý: “Cảm ơn ngài. Tôi có đọc sử”.

Quan tòa: “Vậy ông Lý, ông phải biết rằng ở đỉnh cao của nó, Đế quốc La Mã bao gồm phần lớn châu Âu và nhiều phần của châu Phi, châu Á”.

Ông Lý: “Tôi biết vậy, thưa ngài”.

Quan tòa: “Ông Lý, kể từ thời Alexander, thời Đế quốc La Mã và triều Hán – qua thời gian, trải qua bao nhiêu biến cố lịch sử, các nhà nước độc lập khác nhau đã nổi lên tại châu Âu, châu Phi và châu Á – và bây giờ họ đều có lãnh thổ của riêng mình. Đó là một thực tế mà tất cả chúng ta phải thừa nhận, phải vậy không?”.

Ông Lý: “Chúng ta không thể bác bỏ sự thực, thưa ngài”.

Quan tòa: “Ông Lý, một sự thật không thể phủ nhận nữa là đế chế của Alexander, đế quốc La Mã và vương quốc của nhà Hán giờ đều không tồn tại nữa – tôi nói vậy có đúng không?”.

Ông Lý: “Đúng, thưa ngài”.

Quan tòa: “Ông Lý, một cách thành thực nhất, ông có thật sự tin rằng nếu Cộng hòa Macedonia và chính quyền Italia đến trước Tòa án này và yêu cầu chúng tôi xác nhận rằng họ sở hữu tất cả các vùng lãnh thổ thuộc về các nước mà giờ đây đang độc lập, bởi vì các vùng lãnh thổ ấy từng một thời thuộc về đế chế của Alexander hay đế quốc La Mã – thì chúng tôi sẽ bị thuyết phục phải chấp nhận những kiến nghị đó không?”.

Ông Lý: “Tôi hiểu điều ngài đang đạt được, thưa ngài thẩm phán – nhưng phần lớn những gì chúng tôi đang đề cập đến là biển chứ không phải đất liền”.

Quan tòa: “Quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa không phải đất liền? Dù sao đi nữa, chẳng phải Trung Quốc cũng là một thành viên ký kết Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), mà quý vị phê chuẩn vào ngày 6/7/1996, và do đó đã đồng ý chịu sự ràng buộc của các điều khoản của nó hay sao? Mà một phần của Công ước quy định rằng bất kể cái gì nằm trong vùng 200 hải lý tính từ đường cơ sở của một nước thì đều thuộc về nước đó?”.

Ông Lý: “Trung Quốc đã đồng ý với các điều khoản đó vào thời điểm mà chúng tôi chưa ý thức được về hậu quả xa xôi của UNCLOS đối với lợi ích quốc gia của chúng tôi”.

Quan tòa: “Tôi không định nói chẻ hoe ra đâu, ông Lý. Ý ông là vào thời điểm đó, thế giới, kể cả Trung Quốc, đều chưa nhận thức được rằng những mỏ dầu và khí tự nhiên khổng lồ sẽ được phát hiện trong vùng chủ quyền của các nước láng giềng chứ gì. Bây giờ, vì đã ý thức được điều ấy, cho nên ngay cả khi Trung Quốc biết là mình đang xâm lược, đang vi phạm luật quốc tế, họ cũng sử dụng sức mạnh cưỡng chế của mình – sức mạnh quân sự hoặc gì đó khác – để cướp các mỏ vàng đen khổng lồ đó khỏi lãnh thổ của các nước láng giềng nhỏ bé hơn, yếu hơn, nghèo hơn, những nước cần các tài sản đó một cách tuyệt vọng để cải thiện tình hình của người dân nước họ”.
----------------------
Vĩ thanh: Căn cứ tất cả các dữ kiện và luật pháp đang hiện hành, chắc chắn là tòa án Liên Hợp Quốc sẽ thấy kiến nghị thư của Trung Quốc là không có giá trị.

Bất chấp yêu cầu từ phía Philippines, các nước láng giềng và Mỹ, đòi phải đưa vấn đề chủ quyền biển Tây Philippines ra Liên Hợp Quốc, Trung Quốc nhất định từ chối. Thay vì làm thế thì họ liên tục tham gia các trò cân não, sử dụng các xảo thuật đáng sợ, để khẳng định rằng tất cả mọi thứ trên biển Tây Philippines là của họ và vấn đề này là không có gì phải tranh cãi.

Với việc làm ấy, con rồng khổng lồ khát dầu này tìm cách áp chế tinh thần quốc gia của các nước láng giềng, để cưỡng bức họ phải chấp nhận các thỏa thuận đàm phán song phương bất bình đẳng – mà không có sự tham gia của Liên Hợp Quốc hay Hoa Kỳ. Philippines, Việt Nam và các quốc gia láng giềng không được rơi vào cái bẫy đó. Họ phải đoàn kết và xây dựng nên một liên minh, và phải khẳng định – với sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, với phương tiện quân sự nếu cần – rằng Trung Quốc phải tôn trọng quyền của họ, tôn trọng tài sản của họ.

Phần được hoan nghênh nhiều nhất trong bài diễn văn về tình hình quốc gia của Tổng thống Benigno Simeon Aquino là lời tuyên bố mạnh mẽ của ông, rằng cái gì thuộc về Philippines thì sẽ ở Philippines. Ai cũng hiểu ý ông: Philippines sẽ đứng vững, chống lại những trò bắt nạt, cân não của Trung Quốc hòng ăn cướp nhiên liệu và tài nguyên biển của chúng ta (tức Philippines – ND).

Thật là một sự khác biệt to lớn giữa một vị tổng thống đáng tin cậy, người đã lãnh đạo đất nước một cách có đạo đức, và chăm lo đến lợi ích của quốc gia, với một kẻ sẵn sàng bán tài sản của quốc gia nhằm mục đích tư lợi.

Người dịch: Đỗ Quyên
 
Nguồn: The Inquirer

29/7/11

Đô đốc Mullen: Mỹ yêu cầu Trung Quốc không ép buộc các quốc gia nhỏ

Mỹ vẫn sẽ là một siêu cường ở Thái Bình Dương, đó là tuyên bố của chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, đô đốc Mike Mullen, như một thông điệp rõ ràng gửi đến Trung Quốc vốn đang phản đối sự hiện diện của Mỹ trong khu vực.

Đô đốc Mike Mullen và tướng Trần Bỉnh Đức, tổng Tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, ngày 11.7.2011. Ảnh: AFP

"Chúng tôi đang và sẽ vẫn là một quyền lực ở Thái Bình Dương", đô đốc Mike Mullen phát biểu tại một cuộc họp báo với báo chí nước ngoài ở Washington hôm 25.7.

"Quân đội của chúng tôi đang và sẽ duy trì cánh tay dài của quyền lực đó. Chúng tôi sẽ không giảm trách nhiệm, từ trách nhiệm cũ hay mới. Và chúng tôi chắc chắn sẽ không thu hẹp mọi cơ hội để tăng cường hòa bình và ổn định trong khu vực quan trọng này của thế giới", ông nói.

Đô đốc Mullen, người vừa thăm Trung Quốc trở về, cho biết việc Mỹ phát triển mối quan hệ quân sự với Trung Quốc là quan trọng, nhưng không thể để cho mối quan hệ này quyết định đến việc suy nghĩ, lập kế hoạch và bố trí lực lượng của Mỹ.

"Chúng tôi có những cam kết về an ninh quan trọng và lâu dài trong khu vực khiến chúng tôi phải tăng cường và mở rộng", ông Mullen nói thêm rằng đây là lý do mà ông đến Nhật Bản và Hàn Quốc sau chuyến thăm Trung Quốc từ 10.7 - 13.7 vừa qua.

"Chúng tôi tìm kiếm việc mở rộng hợp tác quân sự, với Ấn Độ là việc không phổ biến vũ khí hạt nhân, bảo vệ các lợi ích toàn cầu và chống lại chủ nghĩa khủng bố. Và chúng tôi sẽ mở rộng hợp tác an ninh quân sự và các cuộc diễn tập với Philippines, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia, Pakistan, Indonesia, Singapore và các quốc gia khác trong khu vực, cộng tác với họ để giải quyết các mối đe dọa đến chủ quyền và an ninh của họ ", Đô đốc Mullen cho biết.

"Chúng tôi cũng sẽ yêu cầu họ làm như vậy với những nước khác. Chúng tôi có một cam kết an ninh lâu dài ở Thái Bình Dương, chúng tôi có kế hoạch để cam kết này sâu rộng hơn, nhưng chúng tôi cũng muốn thấy nước khác làm sâu sắc hơn việc hợp tác với các nước láng giềng của họ. Mối quan hệ đó không chỉ là quan hệ song phương, mà là đa phương, cho dù có bao gồm Mỹ hay không, "ông nói.

Đây là lý do tại sao Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đến với Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) vừa qua tại Bali, Indonesia, và cũng là lý do quân đội Mỹ sẽ tiếp tục chú trọng việc hợp tác với ASEAN và các diễn đàn đa phương khác.

Ngoài ra, trên một bài viết đăng trên báo New York Times ngày 26.7, đô đốc Mullen khi nói về việc hợp tác quân sự Mỹ – Trung Quốc đã khẳng định: ưu tiên chiến lược về an ninh quốc gia của Mỹ đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương bao gồm mối quan hệ đang phát triển với Trung Quốc và các cam kết an ninh lâu dài với các quốc gia khác ở khu vực này.

Theo ông Mullen, Mỹ sẽ không ngồi nhìn việc Trung Quốc gia tăng hoạt động quân sự tại Biển Đông. “Chúng tôi vẫn không hiểu đầy đủ việc Trung Quốc biện minh cho sự gia tăng nhanh chóng trong chi tiêu quốc phòng hoặc cho mục tiêu dài hạn về hiện đại hóa quân sự. Và chúng tôi không tin rằng Trung Quốc được phép giải quyết các tranh chấp ở vùng biển tranh chấp bằng cách ép buộc các quốc gia nhỏ hơn. Hơn nữa, ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton đã nói rõ, chúng tôi ủng hộ quá trình hợp tác ngoại giao giữa tất cả các bên để giải quyết các tranh chấp theo quy định của luật pháp quốc tế. Và chúng ta cần có cơ chế tốt hơn để đối phó với những căng thẳng không thể tránh khỏi”, ông Mullen nêu trên bài viết.
Theo thông tin trên một trang web của Hải quân Mỹ, hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ "hiện vẫn là lực lượng hải quân lớn nhất thế giới, mở rộng từ bờ biển phía tây của Mỹ đến Ấn Độ Dương, trải rộng qua ba đại dương, sáu lục địa, và hơn một nửa bề mặt của trái đất". Hạm đội này có 180 tàu chiến, gần 2.000 máy bay, cùng 125.000 thủy thủ, lính thủy đánh bộ và nhân viên dân sự".
H.S (theo Hindu, NYT)

Anh hùng Lê Mã Lương: “Trung Quốc sẽ nhận một bài học xác đáng”

14 Tháng 7 2011 07:15 
 
Đó là nhận định của Thiếu tướng, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Lê Mã Lương, người nổi tiếng với câu nói "Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến chống quân thù..." khi trao đổi với Báo GDVN về vấn đề biển đảo của dân tộc.
 
Bản chất của Trung Quốc là “khát đất, khát nước”
 
Là người từng nghiên cứu lịch sử và có những đóng góp quan trọng vào công cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, ông có suy nghĩ gì khi Trung Quốc đang có những hoạt động gây hấn, đe dọa đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam?
 
 


Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Trung Quốc là một người bạn, một người hàng xóm vĩ đại của dân tộc ta. Đó là điều đã được lịch sử thừa nhận. Thế hệ chúng tôi không bao giờ quên ơn những đóng góp, ủng hộ của họ, đứng đầu là Đảng và Chính phủ Trung Quốc.
 
Tuy nhiên, từ năm 1979 – 1986, tranh chấp biên giới Việt – Trung liên tục xảy ra. 6 năm liền, tôi chỉ huy binh đoàn chiến đấu từ Quảng Ninh, Lạng Sơn rồi tới Hà Giang, Tuyên Quang, 2 năm liền cầm súng trực tiếp chiến đấu ở Vị Xuyên (Hà Giang). Sau khi đất liền tạm ổn, từ năm 1986, vấn đề biển Đông lại dội lên. Tất cả những điều đó khiến tôi không lạ gì bản chất của người Trung Quốc. 
 
Bản chất của họ là “khát đất” và “khát nước”. Để có “đất” và “nước”, mỗi một ngày thêm một tấc đất liền, mỗi một ngày thêm một thước nước biển, người Trung Quốc không có cách nào khác là phải bành trướng. 
 
Tôi ở sát biên giới 6 năm, ban đầu rất ngạc nhiên bởi hành động của những người dân Trung Quốc. Mỗi ngày, người ta trồng một cây ngô, một cây đậu, một cây khoai… để lấn được sang đất Việt Nam. Nhưng càng về sau, càng ngẫm nghĩ thì càng hiểu ra rằng: hành động đó xuất phát từ tư tưởng bành trướng đã ăn sâu vào suy nghĩ của người Trung Quốc từ thế hệ nọ tới thế hệ kia.
 
Vì vậy, sự kiện tàu quân sự của Trung Quốc ngụy trang thành tàu dân sự, cắt cáp tàu Bình Minh và Viking 2 của Việt Nam đã không khiến tôi bất ngờ. Đó là hành động của một kẻ cướp biển, là biểu hiện của tư tưởng “khát đất” và “khát nước”. “Khát” đến không còn giới hạn, không còn tôn trọng luật pháp quốc tế. 
 
Theo ông, những hành động vừa qua của Trung Quốc chỉ là một bước đi trong chiến lược bành trướng lâu dài đã được vạch sẵn?
 
Đúng vậy. Việc khống chế biển Đông nằm trong chiến lược, ý đồ lâu dài của Trung Quốc, không đơn thuần là vấn đề dầu mỏ, khí đốt mà còn là vấn đề gây áp lực lên các nước Đông Nam Á và giảm bớt ảnh hưởng của Mỹ đối với khu vực này. 
 
Tuy nhiên, đó là điều Trung Quốc không thể làm được. Thứ nhất, vấn đề lịch sử biển Đông của Trung Quốc nêu ra với thế giới là không có sức thuyết phục đối với những ai quan tâm đến biển và hiểu luật biển trên thế giới. 
 
Trong bài thơ Gửi miền Nam của nhà thơ Tố Hữu có câu: “Đẹp biết mấy bài ca ra trận - Mỗi chàng trai, một Lê Mã Lương” để nói về ông. Năm 17 tuổi, anh đã từ chối ước mơ vào giảng đường Đại học Tổng hợp Hà Nội và giấy báo du học nước ngoài để lên đường vào Nam đánh Mỹ. 18 tuổi anh bị thương lần đầu tiên, rất nặng, hỏng một mắt.
21 tuổi Trung uý Lê Mã Lương được tuyên dương Anh hùng quân đội; tháng 7/1968 anh được gặp Bác Hồ tại Quân y viện 108. Sau ngày miền Nam giải phóng, anh học tiếp khoa Sử ĐHTH Hà Nội mà năm xưa bỏ dở và làm luôn luận án tiến sĩ. Giữa năm 1998, anh có quyết định làm Giám đốc Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam.
Anh hùng LLVTND (tiền thân là các danh hiệu Anh hùng quân đội và Anh hùng LLVT giải phóng miền Nam) là danh hiệu vinh dự cao nhất của nhà nước phong tặng cho đơn vị và phong tặng hay truy tặng cho cá nhân trong các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đã lập được "thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu và công tác, tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân". 
Thứ hai, tham vọng của Trung Quốc là muốn đàm phán song phương với từng nước có xung đột. Nhưng tất cả các các nước trong khối ASEAN như Philippin, Việt Nam, Malaysia… thừa hiểu, nếu như đoàn kết lại thì buộc Trung Quốc phải điều chỉnh chiến lược biển Đông của mình. Hơn nữa, không chỉ có Mỹ mà các nước khác trên thế giới như Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản… sẽ đều ủng hộ các nước ASEAN để bảo vệ công lý, bảo vệ luật biển quốc tế.
 
Vừa qua, có một số người hỏi ý kiến của tôi: “Trung Quốc sẽ “đánh” ai trước? Việt Nam hay Philippin?”. Tôi có thể trả lời quả quyết: Trung Quốc không thể đánh ai trước, đánh ai sau cả. Bởi Trung Quốc không thể làm được điều ấy!  
 
Vậy ông nghĩ sao khi một tướng Trung Quốc mạnh miệng tuyên bố sẽ “dạy Việt Nam một bài học lớn hơn”?
 
Đó là phát ngôn của một kẻ ngông cuồng và thiếu hiểu biết, đồng thời thể hiện rất rõ bản chất võ biền, liều lĩnh của một bộ phận người Trung Quốc. 
 
Hiện nay, tình hình đã khác. Sau năm 1975, sau chiến tranh biên giới Tây Nam với Campuchia, sau chiến tranh biên giới phía Bắc với Trung Quốc… thế giới đã hiểu tranh chấp biển Đông  như thế nào, cái vô lý của Trung Quốc như thế nào. Hơn nữa, nếu như Trung Quốc tiếp tục làm căng vấn đề biển Đông thì nội bộ của Trung Quốc chuẩn bị cho Đại hội Đảng XVIII sẽ có nhiều vấn đề. 
 
Không phải người lãnh đạo nào của Trung Quốc cũng đồng ý với những chính sách đe dọa đến hòa bình và tình hữu nghị giữa hai dân tộc.
 
 
Anh hùng Lê Mã Lương trên trận tuyến
Anh hùng Lê Mã Lương trên trận tuyến
 
 
Vừa qua, việc Trung Quốc tạm hoãn hạ thủy tàu sân bay cho thấy, Trung Quốc đang tự nhận ra mình đã đi một bước sai lầm, đã quá đà ở vấn đề biển Đông. Uy tín của họ trên trường quốc tế đang bị giảm sút nặng nề. Nếu để xảy ra “lình xình” lớn hơn, thế giới tiếp tục lên án, Việt Nam và Asean tiếp tục có những động thái mạnh mẽ … thì Trung Quốc sẽ nhận được một bài học xác đáng. 
 
“Trung Quốc lùi một bước để tiến hai bước”
 
Trung Quốc tự nhận ra mình đã đi một bước sai lầm, đã quá đà ở vấn đề biển Đông? Liệu rằng, Trung Quốc sẽ bớt hung hăng hơn tại biển Đông? 
 
“Lùi một bước và tiến hai bước” là thủ đoạn và sách lược bất biến của người Trung Quốc. Trung Quốc sẽ không bao giờ quay đầu và biển Đông sẽ là một sự kiện lịch sử không bao giờ hết phức tạp. Hiện tại, Trung Quốc có thể đang trùng xuống nhưng có thể sẽ lại thổi bùng vấn đề lên sau Đại hội Đảng XVIII, khi bộ máy tổ chức kiện toàn. Do đó, chúng ta vẫn phải hết sức cảnh giác lưu ý với từng hành động của họ. 
 
Đâu là giải pháp chiến lược của Việt Nam để đối phó với vấn đề sẽ còn kéo dài và diễn biến phức tạp này?
 
Hơn bao giờ hết, Việt Nam phải thể hiện thái độ cứng rắn của mình. Việt Nam phải tiếp tục thông tin để thế giới và nhân dân trong nước hiểu rõ hơn bản chất tranh chấp ở biển Đông. Mỗi người dân Việt Nam phải được trang bị đầy đủ kiến thức về chủ quyền biển đảo và luật quốc tế. 
 
Hiện nay, công tác tuyên truyền của chúng ta đã được đẩy mạnh song vẫn còn nhiều hạn chế. Tôi cho rằng, không ít người Việt Nam chưa thực sự hiểu được bản chất của vấn đề, thậm chí ngay cả những khái niệm đơn giản nhất như: thềm lục địa, hải lý là gì? “Đường lưỡi bò” ra sao?... Chúng ta phải hiểu để có thái độ ứng xử hết sức bình tĩnh, tránh những hành động quá khích gây ảnh hưởng tới chính sách chung của Đảng và Nhà Nước.
 
Ngoài ra, ngư dân ta nên được tổ chức thành những tổ hợp đánh cá khi đánh bắt xa bờ. 
 
Thử tưởng tượng, cả một tập đoàn với vài chục con tàu, làm sao Trung Quốc có thể làm được những chuyện phá hoại như đối với tàu Bình Minh và Viking 2. Tất nhiên, nhiều người dân của ta không làm theo phương thức này vì tư tưởng làm ăn riêng lẻ và tư lợi. tuy nhiên, Nhà nước phải kiên quyết đứng ra tổ chức vì cộng đồng và chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Nhà nước cần đứng ra bảo trợ, trang bị cho họ phương tiện tự bảo vệ, máy thông tin để liên lạc với đất liền khi xảy ra sự cố.
 
“Tin tưởng vào thế hệ thanh niên Việt Nam”
 
Trong suốt quá trình trực tiếp tham gia đấu tranh bảo vệ chủ quyền dân tộc, theo ông còn có thông tin nào cần được tuyên truyền để người dân trong và ngoài nước hiểu hơn về chủ nghĩa bành trướng?
 
Có nhiều điều mà chúng ta chưa tiện nhắc tới vì tình đoàn kết, hòa hảo giữa hai dân tộc. Nhưng có một sự thật tôi có thể nhắc đến ở đây là sự kiện biển Đông năm 1988. Khi đó, hải quân Trung Quốc và hải quân Việt Nam đã xảy ra một vụ đụng độ.
 
Chúng ta đã chịu không ít tổn thất nặng nề. Nhiều chiến sĩ ưu tú của Việt Nam đã ngã xuống để bảo vệ vùng biển Tổ quốc. Chúng ta đã ứng xử bằng một thái độ hết sức mềm dẻo nhưng kiên quyết. Tuy nhiên, đối với những người lính như chúng tôi, những người trực tiếp chứng kiến đồng đội mình hy sinh thì đó là một nỗi đau tới tận cùng. 
 
Là anh hùng LLVTND, một tấm gương đấu tranh gìn giữ nền độc lập dân tộc, ông có nhắn nhủ điều gì đối với hậu thế?
 
Để có được một đất nước Việt Nam trọn vẹn và thống nhất như ngày hôm nay, bao thế hệ Việt Nam đã phải đổ cả núi xương, sông máu. Vì vậy, thế hệ trẻ hiện tại và tương lai phải có trách nhiệm để giữ gìn và cống hiến, làm cho nước Việt Nam ngày càng mạnh hơn, uy tín của Việt Nam ngày càng lớn hơn. Đặc biệt, chúng ta phải lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế làm trọng tâm. Bởi nếu nền kinh tế của chúng ta yếu kém, chúng ta không mạnh lên thì chúng ta sẽ dễ dàng đối mặt với nguy cơ mất nước. 
 
Thời gian qua, ông đánh giá như thế nào về thế hệ trẻ Việt Nam khi đứng trước sự an nguy của Tổ Quốc?
 
Tôi rất tin tưởng vào thế hệ trẻ Việt Nam. Khi tôi đi giao lưu, có nhiều ý kiến cho rằng: không thể tin vào thế hệ trẻ bây giờ. Nhưng theo tôi, họ đã quá sai lầm. 
 
Thành tựu của đất nước ta trong mấy chục năm qua có sự đóng góp lớn lao của những người trẻ. Đặc biệt, khi dân tộc xảy ra xung đột, ảnh hưởng tới sự an nguy của Tổ Quốc thì lòng tự trọng của thanh niên Việt Nam được đẩy lên rất cao. Họ sẵn sàng dẹp bỏ tất cả mọi rào cản để hành động vì mục tiêu chung. 
 
Vừa qua, tôi nhận thấy Đoàn Thanh niên đã tổ chức những chuyến đi dọc các bờ biển Việt Nam. Đó là một hành động rất hữu ích góp phần trang bị cho thế hệ trẻ hiểu hơn về vùng biển đảo quê hương và tăng cường sự gắn bó quân dân, giúp những người lính hải quân thêm ấm lòng và chắc tay súng. 
 
Thiết nghĩ, các tổ chức, đoàn thể của ta nên tiếp tục hướng tới những hoạt động có ý nghĩa như vậy, vừa có tính chất giáo dục sâu sắc lại vừa làm “mềm” ngoại giao của ta.
 
Huyền Anh

Nguồn: Báo Giáo dục Việt Nam

Thượng tướng, nguyên Thứ trưởng Quốc phòng bàn về TQ và Biển Đông

“Cuộc hải chiến Trường Sa năm 1988 với Trung Quốc nhắc lại cho chúng ta thấy tham vọng bá quyền của Trung Quốc đã thể hiện ra bằng hành động xâm phạm chủ quyền chứ không phải chỉ bằng các hành động gây hấn mới đây từ các tàu hải giám của họ”, Thượng tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Rinh nói. 
 
Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh (bên phải ảnh)
Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh (bên phải ảnh)
 
PV báo Giáo dục Việt Nam đã có buổi phỏng vấn Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ quốc phòng hiện đang là Chủ tịch hội nạn nhân chất độc màu da cam/đioxin Việt Nam về vấn đề này.
 
“Tôi đã nhiều lần ra Trường Sa, đi tất cả các đảo nổi và đảo chìm. Điều tôi băn khoăn nhất khi ra Trường Sa là về vấn đề bảo đảm phòng thủ cho vùng biên cương này của Tổ quốc. Trường Sa ở xa đất liền nên công tác bảo đảm hậu cần rất khó khăn. 
 
Đó cũng là lý do, công tác nghiên cứu xây dựng kế hoạch phòng thủ, bảo vệ vùng biển - đảo luôn là một nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan tham mưu tác chiến chiến lược”.
 
PV: Diễn biến nóng gần đây tại khu vực biển Đông đang khiến nhiều người lo ngại. Ý kiến của Thượng tướng về vấn đề này như thế nào?
 
Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh: Việc Trung Quốc xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam đã được các cơ quan báo chí lên tiếng kịp thời. Có ba điểm rất đáng ngại, không chỉ vi phạm Công ước luật biển năm 1982, vi phạm Tuyên bố ứng xử biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc mà hành động này của phía Trung Quốc còn trái với nhận thức chung của lãnh đạo cao nhất của Việt Nam – Trung Quốc.
 
Lãnh đạo cấp cao của hai nước đã thỏa thuận là xây dựng quan hệ hữu nghị giữa hai nước theo phương châm 16 chữ trên tinh thần 4 tốt.
 
Cũng cần phải nhắc lại, chứng cứ của Trung Quốc đưa ra để chứng tỏ chủ quyền của mình tại hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là không có cơ sở. Bản thân đường lưỡi bò mà họ đưa ra cũng hết sức phi lý  và vi phạm nghiêm trọng công ước luật biển năm 1982.
 
Nhưng tham vọng bá quyền của Trung Quốc là rất lớn, họ sẽ chẳng chịu bỏ cuộc. 
 
PV: Vừa qua chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong phát biểu với báo giới ngay sau khi đắc cử đã  nhấn mạnh: “ Chúng ta là nước nhỏ nên phải dựa vào sức mạnh của tập thể, của cộng đồng, của Công ước luật biển 1982 để bảo vệ chủ quyền biển đảo, vùng đặc quyền kinh tế”. Xin thượng tướng cho biết ý kiến riêng của mình về nguồn sức mạnh Việt Nam hiện nay để giữ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa?
 
Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh: Chủ tịch nước nói như thế là đúng quan điểm của nhà nước ta.
 
Bảo vệ chủ quyền đất nước là bảo vệ cả đất liền, vùng biển và vùng trời. Còn sức mạnh Việt Nam là sức mạnh tổng hợp. Vì quân đội ta là quân đội nhân dân, sức mạnh quân đội Việt Nam chính là sức mạnh dân tộc. Trong đó lấy việc xây dựng quân đội làm nòng cốt.  
 
Nói về vũ khí thì chúng ta không hiện đại hơn Trung Quốc nhưng nói về ý chí dân tộc thì các triều đại Trung Quốc đánh mình mấy nghìn năm nhưng họ vẫn phải thua.
 
Bên cạnh đó, chúng ta phải làm cho nhân dân thế giới và cả nhân dân Trung Quốc am hiểu hơn về Việt Nam. Muốn làm việc đó thì chỉ có tuyên truyền rộng rãi. Đồng thời phải làm sao để nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới kể cả nhân dân Trung Quốc am hiểu hơn về luật pháp quốc tế về biển. 
 
Ngày trước chiến tranh chống Mỹ cũng thế, chúng ta thắng họ là một phần nhờ vào nhân dân Mỹ hiểu Việt Nam, hiểu được những gì mà nhà cầm quyền Mỹ đang làm ở Việt Nam là phi nghĩa.
 
Một phần rất lớn nữa chính là sức mạnh thời đại. Hiện nay xu hướng nhân dân các nước trên thế giới đều chống chiến tranh và bảo vệ hòa bình, đoàn kết, cùng phát triển. 
 

“Liên quan đến sự kiện xảy ra tại Trường Sa vào năm 1988, việc làm của phía Trung Quốc 1988 gây cho Việt Nam những tổn thất đáng kể. Họ bắn tàu của ta khiến cho 64 chiến sỹ bị hy sinh và sau đó trả lại tự do cho 9 người, 31 người hiện vẫn mất tích.
 
Bộ quốc phòng Việt Nam đã yêu cầu phía Trung Quốc giải quyết vấn đề này, để hải quân của chúng ta đến khu vực đó tìm kiếm hài cốt của các chiến sỹ đưa về đất liền nhưng phía Trung Quốc bao lâu nay vẫn cứ lờ đi.
 
Tôi nghĩ việc này cần phải được giải quyết vì nó hoàn toàn chính đáng. Sau khi  chiến tranh kháng chiến chống Mỹ kết thúc, phía ta vẫn tỏ thiện chí trong việc cùng với phía Mỹ tìm kiếm hài cốt của các binh sỹ Mỹ”.
 
Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh
 
Ba sức mạnh: sức mạnh dân tộc, sức mạnh dư luận, sức mạnh thời đại làm nên sức mạnh tổng hợp để chúng ta bảo vệ đất nước trong đó có việc bảo vệ các vùng hải đảo thuộc chủ quyền của ta.
 
Xuyên suốt lịch sử Việt Nam là các cuộc chiến tranh bảo vệ độc lập chủ quyền. Hơn ai hết, nhân dân ta muốn tránh chiến tranh và muốn duy trì ổn định. Quan điểm nhất quán của chúng ta là mình không đánh trước. 
 
Việt Nam không bao giờ dùng sức mạnh quân sự đi đánh một nước khác. Nhưng nếu có nước nào xâm phạm chủ quyền quốc gia của Việt Nam thì dân tộc này sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ từng thước đất, thước biển của quê hương.
 
PV: Đi đôi với phát triển kinh tế là nhiệm vụ tăng cường sức mạnh quân sự, củng cố quốc phòng. Trước tình hình mới, nhiều người dân có nguyện vọng xây dựng quỹ quốc phòng để quân đội trang bị vũ khí hiện đại nhiều hơn. Thượng tướng nghĩ sao về đề nghị này?
 
Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh: Tôi biết gần đây một số người dân có ý kiến góp tiền để xây dựng quỹ quốc phòng để mua thêm vũ khí và trang thiết bị hiện đại cho quân đội. Đó là nguyện vọng chính đáng của người dân. Hiện nay chúng ta cũng đã có quỹ Vì Trường Sa thân yêu.
 
Tuy nhiên cũng cần phải thấy rằng tiền của người dân hay tiền của nhà nước thì đều là nguồn tiền từ đất nước. Mà các vũ khí quân sự thì lại rất đắt, một chiếc tàu ngầm đã có giá hàng trăm triệu đô la. 
 
Thế cho nên, cá nhân tôi mong mỗi người dân hãy đầu tư phát triển kinh tế để xây dựng đất nước. Đó là nhiệm vụ trọng tâm hiện nay. Khi kinh tế mạnh thì sức mạnh quốc phòng sẽ mạnh theo.
 
Còn mới đây năm 2009, chúng ta có kí hợp đồng mua 6 tàu ngầm lớp kilo 686 chạy dầu diezel-điện thuộc dự án 636 và từ năm 2014, Nga sẽ bắt đầu chuyển giao các tàu ngầm này cho Hải quân Việt Nam. Phải nói rằng đây là các tàu ngầm nếu so với các tàu ngầm trên thế giới hiện nay thì là loại nhỏ và thuộc thế hệ cũ. Loại này chỉ dùng để huấn luyện là chính.
 
Và con số 6 so với số lượng tàu ngầm của các nước thì vẫn còn quá ít. Mà vùng biển của chúng ta lại rất rộng. Chính vì thế trong thời gian tới chúng ta phải trang bị vũ khí hiện đại hơn cho hải quân, tăng cường các tầu tuần tra trên biển. 
 
PV: Thượng tướng có thể nói gì về việc hiện đại hóa hải quân của quân ta hiện nay?
 
Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh: Việc hiện đại hóa hải quân nói riêng và quân đội nói chung đòi hỏi từng bước và phụ thuộc vào khả năng kinh tế của đất nước. Hiện nay chúng ta đang từng ngày tăng cường năng lực tác chiến cho cả hải quân trên biển, lực lượng chi viện trên bờ cho biển và lực lượng trên trên không. 
 
PV: Theo Thượng tướng, để xây dựng vững chắc lực lượng phòng thủ, bảo vệ biển đảo thì điều cần làm nhất của chúng ta hiện nay là gì?
 
Thượng tướng Nguyễn Văn Rinh: Điều quan trọng nhất là mình phải có sức mạnh để giữ. Mà sức mạnh đó là của dân tộc, một sức mạnh tổng hợp. Đồng thời phải bảo đảm cho lực lượng giữ phòng thủ trên các đảo giữ vững chủ quyền các vùng biển đảo của mình. So với ngày trước thì lực lượng của ta đã khá hơn nhiều rồi.
 
Tôi tin nhà nước ta sẽ bảo đảm được điều đó!
 
Nguồn: Báo Giáo dục Việt Nam

Tư lệnh hải quân ASEAN lập đường dây nóng, camera, quan sát từ vệ tinh đối với biển Đông.

Hãng thông tấn Đức DPA ngày 28/7 trích thuật nguồn tin từ một giới chức Việt Nam cho biết tư lệnh hải quân các nước Đông Nam Á sẽ thành lập các đường dây điện thoại trực tiếp và tổ chức các cuộc họp thường niên nhằm tăng cường các mối quan hệ trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

 
Trung tướng Ðỗ Bá Tỵ phát biểu tại Hội nghị Tư lệnh hải quân ASEAN ở Hà Nội, ngày 27/7/2011

Tư lệnh hải quân ASEAN sẽ thành lập đường dây nóng giữa tình hình tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông

Hãng thông tấn Đức DPA ngày 28/7 trích thuật nguồn tin từ một giới chức Việt Nam cho biết tư lệnh hải quân các nước Đông Nam Á sẽ thành lập các đường dây điện thoại trực tiếp và tổ chức các cuộc họp thường niên nhằm tăng cường các mối quan hệ trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Ngày 28/7, phát biểu bên lề Hội nghị Tư lệnh hải quân ASEAN diễn ra trong 3 ngày tại Hà Nội, Phó Đô Đốc Nguyễn Văn Hiến nhấn mạnh cần giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng sức mạnh tập thể của khối ASEAN.

Ông Hiến cho biết các đường dây nóng sẽ giúp các tư lệnh hải quân ASEAN ứng phó với các vấn đề như bắt giữ ngư dân hay xâm nhập chủ quyền lãnh hải cũng như trong công tác cứu hộ.

Việt Nam cũng kêu gọi tăng cường đoàn kết giữa hải quân các nước ASEAN để tìm một giải pháp hòa bình cho vấn đề Biển Đông.

Tàu tuần tra của Trung Quốc bị tố cáo thường xuyên sách nhiễu ngư dân Việt Nam, làm tăng xích mích Việt-Trung liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Gần đây, Trung Quốc bị cả Việt Nam và Philippines cáo giác là gây hấn với các tàu thăm dò dầu khí của Hà Nội và Manila trong khu vực.

Hội nghị Tư lệnh hải quân ASEAN lần thứ 5 sẽ bế mạc vào thứ Sáu tuần này. Hội nghị lần tới sẽ được tổ chức ở Brunei vào năm 2012.

Nguồn:
DPA, Manila Standard Today

Vì sao Trung Quốc không đưa vấn đề Trường Sa ra Liên Hiệp quốc

Bài viết rất hay của Luật sư Ted Laguatan, là một trong những luật sư giỏi nhất nước Mỹ, có bằng hành nghề chuyên môn và là một trong 29 luật sư trong số hàng triệu luật sư ở Mỹ chính thức được cấp bằng hành nghề chuyên môn liên tục 20 năm. 
 

Trong bài này, ông Laguatan đưa ra kịch bản khi Trung Quốc ra toà án quốc tế đối đáp ra sao với quan tòa. Mr. Lee đại diện cho phía TQ đối đáp với quan tòa – Quan tòa: Ông nghĩ sao nếu như Cộng Hoà Macedonia và Ý cũng đến tòa này đòi lại lãnh thổ từ các nước độc lập, do họ đã từng sở hữu từ thời Alexander hoặc đế chế La Mã, vậy thì chúng tôi cũng sẽ chấp nhận đòi hỏi này của họ à? “Judge: ‘Now Mr.Lee, in all candor, do you seriously believe that if the Republic of Macedonia and the Italian government were to come before this Court and petition us to affirm that they own the territories of these now independent countries because they were once a part of Alexander’s empire or the Roman empire — that we would be persuaded to grant these petitions?”
 
Why China will not bring the Spratlys issue to the United Nations  
 
 
Based on applicable international maritime and related laws, China knows that if she petitions the United Nations International Court of Justice or the International Tribunal for the Law of the Sea to affirm  her dubious claim that she owns everything in the South China Sea aka West Philippine Sea — her chances of winning are about as likely as having a snowfall in the Sahara desert.

Both Courts have proper jurisdictions to settle sovereignty issues between nations  regarding marine territories — such as those concerning the Spratly and Paracel islands.

Let’s imagine  what most likely would happen if  China does take her case to the International Court of Justice  and the representative of China — let’s call him Mr. Lee — is before the Court headed by the Presiding Judge. Consider this scenario:

Judge:  “Please inform this Court of the basis  for your claim that the entire South China Sea aka West Philippine Sea belongs completely to the People’s Republic of China?”

Mr. Lee: “Thank you, your honor. Our claim  is based on the historical fact that this entire area has belonged to us since the Han Dynasty.”

Judge: “How do you intend to prove your case?”

Mr. Lee: “I will present to this Court an almost two thousand year old Han Dynasty map that indicates the limits of the Han Dynasty kingdom.”

Judge: “Let’s  assume for purposes of discussion  that  the Philippines, Vietnam, Malaysia, Brunei and other surrounding countries were provinces or part of the Han Dynasty during its time even if the map you hold may just actually be a navigational map which does not really define the limits of the Han Dynasty. Now  my study of China’s history indicate that the Han Dynasty lasted from 206 B.C. To 220 A.D.  Is this correct?”

Mr. Lee: “Yes your honor.”

Judge: “I  assume Mr. Lee that you are familiar with Alexander the Great, the young Macedonian king who conquered much of the ancient world.”

Mr. Lee: “I am, your honor.”

Judge: “At the time of his death in 323 B.C., Alexander’s kingdom included Greece, Syria, Persia now known as Iran, Egypt and a part of India. Are you aware Mr. Lee that Macedonia, Alexander’s country — is now known as the Republic of Macedonia?”

Mr. Lee: “If you say so your honor.”

Judge: “Good! You appear to know your history. I assume you are also familiar with the Roman Empire which existed for over a thousand years.”

Mr. Lee: “Thank you your honor, I do read history.”

Judge: “You are then aware Mr. Lee that at its height, the Roman Empire included most of Europe and parts of Africa and Asia.”

Mr. Lee: “I am aware, your honor.”

Judge: “Now Mr. Lee, since the time of Alexander, the Roman Empire and the Han Dynasty — through the course of time and historical events, various  independent countries have emerged in Europe, Africa and Asia — which now have their own respective territories. This is a reality which  we all have to accept, wouldn’t you say?”

Mr. Lee: “We cannot deny reality, your honor.”

Judge: “Now Mr. Lee, another undeniable reality is that Alexander’s empire, the Roman empire and the Han Dynasty kingdom are no longer existent — am I correct in my observation?
Mr. Lee: “You are correct, your honor.”

Judge: “Now Mr.Lee, in all candor, do you seriously believe that if the Republic of Macedonia and the Italian government were to come before this Court and petition us to affirm that they own the territories of these now independent  countries because they were once a part of Alexander’s empire or the Roman empire — that we would be persuaded to grant these petitions?”

Mr. Lee: “I understand what you are getting at, Judge — but most of what we are claiming as ours is marine area and not land.”

Judge: “The Spratlys and the Paracel islands are not land? Anyway, isn’t it a fact that China is a signatory to the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) which she ratified on July 6, 1996 thereby agreeing to be bound by its provisions — and part of which is that anything within 200 miles from the baseline of a country belongs to that country?

Mr. Lee: “China did agree to those provisions at a time when it was not yet aware of the far reaching consequences of UNCLOS to her national interests.”

Judge: “I will not mince my words Mr. Lee. What you mean is that at that time, the world, including China, was not yet aware, that vast deposits of oil and natural gas were to be found within the territorial limits of neighboring countries. Now because of this awareness, even if China knows she is trespassing and violating international law, she is using the coercive might of her size, military or otherwise — to grab these enormous reserves of petrowealth from the territories of her smaller, weaker, poorer neighbors — who badly need these assets to improve the plight of their own people.

Postscript:  In view of all the facts and existing applicable law,  the likelihood  is that the UN court will find China’s petition to be without merit.

Notwithstanding requests from the Philippines,  neighboring countries and the United States  to bring West Philippine Sea sovereignty issues to the United Nations, China has steadfastly refused to do so. Instead, it is constantly involved in mind games, using scare tactics, insisting that everything in the whole West Philippine Sea is theirs and that this issue is non-negotiable.

By so doing, the gigantic oil hungry  dragon seeks to condition the national minds of her neighbors  to forcibly accept inequitable bilateral settlement agreements — without United Nations or United States involvement. The Philippines, Vietnam and other neighbor countries must not fall into this trap. They should unite and create an alliance and insist — with the aid of the global community, with military means if necessary — that China should respect their rights and leave their national patrimony alone.

The most loudly applauded part of President Benigno Simeon Aquino’s State of the Nation speech was his strong affirmation that what belongs to the Philippines stays in the Philippines. Everyone understood his meaning:  The Philippines will stand firm against China’s bully tactics and mind games in trying to grab our energy and marine resources.

What a big difference  to have a trustworthy President who provides moral leadership and looks after the interests of the nation instead of one ready to sell out the country’s patrimony for personal gain.

Note: The California State Bar honors Attorney Ted Laguatan as one of the best lawyers in the country. He is one of only 29 U.S.  lawyers officially certified continuously for more than 20 years as an Expert Specialist in Immigration Law. For communications: (San Francisco area)
455 Hickey Blvd. Suite 516, Daly City, Ca 94015 Tel 650 991 1154 Fax 650 991 1184 Email laguatanlaw@gmail.com
 

Nhật-Hàn-Mỹ liên kết can dự vào vấn đề tranh chấp Biển Đông

1. Nhật-Hàn-Mỹ liên kết can dự vào vấn đề tranh chấp Biển Đông 
 
Theo tin “Japan, ROK, U.S. in tune on sea talks” từ nhật báo "Yomiuri" của Nhật Bản, nước này đã nhất trí sẽ hợp tác với Hàn Quốc và Mỹ để giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ hóc búa ở Biển Đông. Thông tin chi tiết về việc hợp tác này sẽ được bổ sung thêm trước Hội nghị Cấp cao Đông Á ở Inđônêxia vào tháng 11 tới.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton (trái), Ngoại trưởng Nhật Bản Takeaki Matsumoto (giữa) và Ngoại trưởng Kim Sung-hwan trong cuộc họp ở Bali, Indonesia. (Nguồn: AP)

Tuy nhiên, sự bất ổn chính trị ở Nhật Bản có thể ảnh hưởng tiêu cực tới quan hệ hợp tác ba bên này.Trong tuyên bố báo chí chung được đưa ra sau cuộc hội đàm bên lề Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) ở đảo Bali, Inđônêxia, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Takeaki Matsumoto và người đồng cấp của Mỹ và Hàn Quốc đã kêu gọi ba nước hợp tác để giúp làm dịu tình trạng căng thẳng giữa Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á do các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông. Phát biểu sau các cuộc hội đàm cấp bộ trưởng bên lề ARF, Bộ trưởng Matsumoto nói: “Nhật Bản rất quan tâm tới những gì đang diễn ra trên Biển Đông và chúng tôi quan ngại về tình hình trong khu vực này hiện nay”. Ông cũng bày tỏ hy vọng việc tranh chấp chủ quyền trong khu vực này sẽ được “giải quyết một cách hòa bình theo luật pháp quốc tế”.

Các phát biểu của Bộ trưởng Matsumoto có vẻ như nhằm vào tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, nơi có một số tuyến đường biển tấp nập nhất thế giới. Quan điểm của Bộ trưởng Matsumoto đã lặp lại quan điểm của Mỹ, nước vẫn kêu gọi tất cả các bên có liên quan tới các tranh chấp lãnh thổ ở khu vực này đưa ra “các bằng chứng pháp lý” để chứng tỏ cho các tuyên bố chủ quyền của họ.

Các nguồn tin Chính phủ Nhật Bản cho biết các thông tin chi tiết về việc Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc sẽ hợp tác với nhau như thế nào trong vấn đề Biển Đông sẽ được bổ sung thêm trước Hội nghị Cấp cao Đông Á ở Inđônêxia vào tháng 11 tới. Trước đó, Chính phủ Nhật Bản đã có kế hoạch xây dựng khuôn khổ hợp tác giữa Nhật Bản và Mỹ cùng với 10 nước thành viên Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) để buộc Trung Quốc phải tuân thủ các quy tắc quốc tế nhằm đảm bảo quyền tự do hàng hải và giải quyết hòa bình các cuộc xung đột trên biển trong khu vực này.

Các nguồn tin trên cho biết Nhật Bản lo ngại rằng nếu ASEAN nhượng bộ một cách dễ dàng với Trung Quốc trong lúc soạn thảo các quy tắc về an toàn biển ở Biển Đông, điều đó có thể có những tác động ngược đối với các vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên biển Hoa Đông, nơi có quần đảo Senkaku mà Nhật Bản đang tranh chấp với Trung Quốc. Theo các nguồn tin trên, Chính phủ Nhật Bản hài lòng rằng tuyên bố chung với Hàn Quốc và Mỹ khẳng định ba nước sẽ theo dõi việc soạn thảo các quy tắc trên biển giữa Trung Quốc và ASEAN.

Tuy nhiên, các nguồn tin này cho rằng thành công ngoại giao có thể sẽ chưa được cụ thể hóa do các sự kiện ở Nhật Bản. Sự hỗn loạn trên chính trường Nhật Bản do Thủ tướng Naoto Kan vẫn tiếp tục tại nhiệm có thể sẽ cản trở chiến lược ngoại giao mới này. Nhiều khả năng Thủ tướng Kan không còn nắm quyền khi Hội nghị Cấp cao Đông Á khai mạc vào tháng 11/2011. Điều này đang làm phức tạp các nỗ lực của Chính phủ Nhật Bản nhằm dàn xếp các cuộc thương lượng với những nước khác tham dự hội nghị này bởi vì nhiều khả năng vấn đề Biển Đông có thể sẽ là được người kế nhiệm Thủ tướng Kan xử lý.

Theo Yomiuri (25/7)

Hương Trà (gt)
 
2. Nhật, Mỹ, Hàn sẽ giúp các bên giải quyết tranh chấp ở Biển Đông
 
Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc đã nhất trí sẽ cùng hợp tác hỗ trợ các bên liên quan giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông. Một tuyên bố chung sau cuộc hội đàm giữa Ngoại trưởng Takeaki Matsumoto với Mỹ và đối tác Hàn Quốc cho thấy cả 3 nước sẽ hợp tác nhằm xoa dịu căng thẳng giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á có tranh chấp ở Biển Đông.

Sau các cuộc họp Ngoại trưởng bên lề Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) tại Bali, Indonesia hôm 23/7, ông Matsumoto nói rằng:

“Nhật Bản rất quan tâm đến các sự việc diễn ra ở khu vực Biển Đông gần đây. Chúng tôi hi vọng các tranh chấp trong khu vực sẽ được giải quyết một cách hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế”.

Theo tờ Yomiuri Shimbun, bài phát biểu của ông Matsumoto rõ ràng muốn nói đến tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Ông Ngoại trưởng Nhật Bản lặp lại lập trường của Mỹ kêu gọi tất cả các bên tranh chấp cung cấp “bằng chứng pháp lý” theo luật pháp quốc tế để chứng minh chủ quyền của mình.

Yomiuri Shimbun dẫn nguồn tin từ chính phủ Nhật Bản cho biết các chi tiết liên quan đến việc Nhật Bản, Mỹ và Hàn Quốc thảo luận về vấn đề Biển Đông sẽ được bổ sung trước Hội nghị thượng đỉnh Đông Á diễn ra tại Indonesia vào tháng 11 tới. Tokyo trước đó đã lên kế hoạch xây dựng một khuôn khổ hợp tác Nhật-Mỹ cùng với 10 thành viên của ASEAN để hối thúc Trung Quốc tuân thủ các quy tắc quốc tế nhằm đảm bảo tự do hàng hải và giải quyết hòa bình các xung đột trong khu vực.

Nguồn tin Chính phủ Nhật cho biết Tokyo quan ngại về việc nếu ASEAN nhượng bộ dễ dàng để Trung quốc thiết lập quy tắc về an toàn hàng hải ở Biển Đông, có thể gây hậu quả xấu cho các vấn đề tranh chấp ở Biển Hoa Đông bao gồm cả tranh chấp ở quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư), hiện đang là vấn đề gây căng thẳng giữa Tokyo và Bắc Kinh.

Nguồn tin cũng cho biết Tokyo hài lòng vì sự hợp tác của 3 nước Nhật, Mỹ và Hàn nhằm theo dõi chặt chẽ việc xây dựng quy tắc hàng hải ở Biển Đông giữa Trung Quốc và ASEAN.

Thái Hòa
Theo Yomiuri Shimbun

Nhật phải hỗ trợ ASEAN về qui chế ứng xử với Trung Quốc

Nhật Bản là quốc gia khu vực rất quan tâm đến tranh chấp Biển Đông. Bài học tranh chấp đảo Senkaku/Điếu Ngư với Trung Quốc hồi năm ngoái là động lực cho nước này tích cực thúc đẩy và ủng hộ ASEAN trong vấn đề Biển Đông. Một số nội dung thể hiện quan điểm trong bài viết “Japan must support ASEAN on rules to deal with China” trên Daily Yomiuri như sau.


Để tháo ngòi căng thẳng giữa TQ và các nước láng giềng về chủ quyền ở Biển Đông, thiết yếu là phải thực thi các qui định quốc tế và yêu cầu TQ kiềm chế.

Tại một loạt cuộc gặp bộ trưởng NG của ASEAN và các nước liên quan trên đảo Bali, Indonesia tuần trước, việc hải quân TQ tăng cường hoạt động trở thành một trọng tâm lớn.

NG Nhật và NG Mỹ đã kêu gọi giải quyết tranh chấp dựa trên quy định quốc tế, nói rằng tôn trọng luật quốc tế và đảm bảo minh bạch là quan trọng. Tuy nhiên, NG TQ lại nói rằng an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông không bị đe dọa. TQ lý luận đối đầu trên Biển Đông cần được giải quyết bởi các nước trực tiếp liên đới và không cần sự tham gia rộng rãi hơn của cộng đồng quốc tế. Không cần nói, thảo luận đã không đi đến thỏa thuận gì.

Hành động ích kỷ của Trung Quốc

Đặc biệt trong năm nay, hành động của TQ ở Biển Đông đang tỏ ra hiếu chiến. Thí dụ tàu TQ can thiệp vào hoạt động thăm dò dầu khí của tàu Việt Nam. Tuy nhiên, TQ nói hành động của họ là chính đáng. Những hành động ích kỷ đó không thể bỏ qua.

Nhật và Mỹ cần hợp tác chặt chẽ với ASEAN kiên trì yêu cầu TQ đồng ý với các nỗ lực xây dựng các qui định hiệu quả hơn.

TQ và ASEAN năm 2002 đã thông báo Tuyên bố DOC ở Biển Đông. DOC qui định các bên sẽ “giải quyết tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán bằng biện pháp hòa bình”. Tuy nhiên Tuyên bố không ràng buộc về pháp lý. Để hỗ trợ thực hiện Tuyên bố, lần này TQ và ASEAN đồng ý về “hướng dẫn” về ứng xử nhằm thúc đẩy hợp tác ở Biển Đông, gồm cả phát triển nguồn tài nguyên. Tình hình đã tiến thêm một mức độ nhất định, song thỏa thuận đó vẫn chưa đủ.

ASEAN đầu tiên đã đòi đưa đưa vào “giải quyết tranh chấp bằng các nước đa phương” để bù lại chênh lệch sức mạnh giữa TQ và mỗi nước ASEAN riêng biệt, nhưng không thực hiện được.

Có nghi ngờ rằng TQ đã ngầm phá quan điểm thống nhất của ASEAN bằng cách, thí dụ, mời chào các nước thân TQ chương trình hỗ trợ kinh tế đổi lấy việc ủng hộ TQ.

Lợi ích của Nhật liên đới

ASEAN dự định bắt đầu thương lượng với TQ nâng cấp DOC 2002 lên COC có tính ràng buộc pháp lý. Chúng tôi nghĩ Nhật cần tích cực ủng hộ ASEAN trong việc này.

Nhật không thể bỏ qua tranh chấp ở Biển Đông coi như là việc của ai khác. Nhật có các tuyến vận tải biển quan trọng ở Biển Đông. Bản thân Nhật có xung đột với TQ, trong đó có căng thẳng đối với các đảo Senkaku ở Okinawa.

Vào tháng 11, Thượng đỉnh EAS sẽ diễn ra có 18 nước tham gia gồm cả Nhật, TQ, HQ, Mỹ và Nga và các nước ASEAN. TTg Mỹ và TTg Nga sẽ tham dự lần đầu tiên với tư cách thành viên chính thức.

Hòa bình và ổn định ở Biển Đông là lợi ích chung cho các nước EAS. Nhằm đạt được đồng thuận tiến tới xây dựng những qui tắc thực sự áp dụng được là việc rất quan trọng.

Theo: Daily Yomiuri

Quốc Giang, cộng tác viên tại Nhật Bản (gt)

Ba giá trị quân sự của Biên Đông đối với Trung Quốc

Báo Đông Phương buổi sáng (Thượng Hải) ngày 26/7 đăng bài viết của tác giả Mã Nghiêu, phân tích 3 giá trị quân sự của Biển Đông đối với Trung Quốc. Nội dung chính như sau:


Với diện tích rộng, độ sâu lớn, vị trí chiến lược hiểm yếu và nguồn tài nguyên phong phú, Biển Đông có giá trị hết sức to lớn về mặt quân sự. Nhất là với một nước lớn đang trỗi dậy như Trung Quốc thì giá trị quân sự mà Biển Đông mang lại là không gì thay thế được. Giá trị này chủ yếu thể hiện trên 3 phương diện:

Thứ nhất, Biển Đông là mặt trận quan trọng đối với tương lai phát triển lực lượng hàng không vũ trụ của Trung Quốc. Trung Quốc hiện đang xây dựng Trung tâm phóng tên lửa hàng không Văn Xương trên đảo Hải Nam, nơi có vĩ độ thấp thuận lợi cho việc phóng tàu vũ trụ. Trong tương lai, đây sẽ là nơi Trung Quốc tiến hành phóng các loại tên lửa và các thiết bị hàng không phục vụ mục đích chinh phục vũ trụ. Việc tiến hành các hoạt động hàng không, trong đó có phóng tên lửa đẩy tại các đảo ngoài khơi có vĩ độ thấp đỏi hỏi phải có sự đảm bảo về mặt chủ quyền, quyền chủ quyền trên biển. Hiện nay, các cơ sở nghiên cứu phát triển công nghệ hàng không vũ trụ và tên lửa đẩy của Trung Quốc hầu hết đều đặt tại những trung tâm khoa học kỹ thuật lớn, nằm ven biển phía Đông như Thượng Hải và Thiên Tân, trong khi 3 trường bắn tên lửa cũ là Tây Xương, Tửu Tuyền và Thái Nguyên đều nằm sâu trong lục địa, điều này khiến cho tên lửa sau khi chế tạo xong phải vận chuyển một quãng đường khá dài bằng đường bộ để tới các trường bắn. Nếu so sánh với vận tải bằng đường biển thì vận tải đường bộ gặp nhiều hạn chế hơn, do đó việc đặt Trung tâm phóng tên lửa Văn Xương trên đảo Hải Nam là đã cân nhắc đến yếu tố này.

Thứ hai, Biển Đông là địa bàn hoạt động cơ động và căn cứ trú ẩn ưu việt cho lực lượng hải quân hạt nhân của Trung Quốc trong tương lai. Quân đội Mỹ từ thế kỷ trước đã bắt đầu tiến hành nghiên cứu công nghệ lazer rà quét tàu ngầm, với mục tiêu phát hiện các thiết bị lặn ở độ sâu 150m. Trong các vùng biển xung quanh Trung Quốc, Bột Hải có độ sâu trung bình chỉ 18m, Hoàng Hải có độ sâu trung bình là 44m, với độ sâu này thì thiết bị thăm dò nói trên hoàn toàn có thể kiểm soát toàn bộ. Đông Hải tuy có độ sâu đạt 370m, nhưng Mỹ - Nhật Bản đã bố trí tại đây những hệ thống rà quét tiên tiến, khả năng tàu ngầm Trung Quốc bị phát hiện là rất cao. Chỉ có Biển Đông với độ sâu trung bình đạt tới 1.212m mới là môi trường và địa điểm ưu việt để xây dựng căn cứ tàu ngầm hạt nhân.

Hải quân Trung Quốc hiện nay chưa đủ năng lực để vươn ra kiểm soát vòng cung “chuỗi đảo thứ hai” và khu vực Ấn Độ Dương, do đó trong tình hình hiện nay thì Biển Đông là khu vực duy nhất lực lượng tàu ngầm hạt nhân có thể tiến hành hoạt động tuần tra chiến lược.

Cuối cùng, Biển Đông là vùng biển lý tưởng nhất để hàng không mẫu hạm có thể thực hiện các hoạt động huấn luyện và diễn tập. Hiện nay, do nhiều nhân tố như chiến lược phát triển, trình độ khoa học kỹ thuật, thực lực kinh tế,… hải quân Trung Quốc trên thực tế mới chỉ phát triển được tàu ngầm và các loại tàu chiến vừa và nhỏ. Để chủ động nắm ưu thế kiểm soát trên biển thì hàng không mẫu hạm là chỗ dựa đáng tin cậy, đồng thời cũng là phương tiện duy nhất hiện nay mang lại sự bảo đảm trên không cho hạm đội khi tác chiến tại các vùng biển xa. Với đặc điểm là loại tàu chiến mặt nước có kích thước và trọng tải lớn nhất, đồng thời kèm theo nó là biên đội khoảng 10 tàu các loại, hàng không mẫu hạm cần những vùng biển rộng lớn để tiến hành diễn tập và huấn luyện. Điều này là khó thực hiện tại những vùng biển nhỏ như Bột Hải, Hoàng Hải và Đông Hải, mặt khác lại dễ gây phản ứng từ phía các nước xung quanh như Nhật Bản, Hàn Quốc. Chỉ có Biển Đông là khu vực lý tưởng cho hàng không mẫu hạm Trung Quốc, không chỉ bởi thực lực quân sự của các nước ven Biển Đông khá yếu mà thế lực của Mỹ tại đây cũng không lớn như tại khu vực Đông Bắc Á.

Tóm lại, Biển Đông có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quá trình vươn lên trở thành một cường quốc hải dương, cường quốc vũ trụ; là vùng biển chiến lược để Trung Quốc phát triển lực lượng hải quân biển xa.

Hoàng Anh (gt)

Thế trận hải quân châu Á - Thái Bình Dương

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang là nơi tập trung của nhiều thế lực hải quân hùng mạnh.

Sơ đồ vị trí một số căn cứ hải quân lớn trong khu vực - Đồ họa: Thái Nguyên

Những tranh chấp trên các vùng biển Hoa Đông, Hoàng Hải, biển Đông đang thu hút sự quan tâm chú ý của thế giới. Xét về mặt địa chính trị, khu vực châu Á - Thái Bình Dương còn là những tuyến hàng hải quan trọng của thế giới, nổi bật có eo biển Malacca chiếm 1/4 lưu lượng giao thông hàng hải thế giới.

Thêm vào đó, tham vọng trỗi dậy của hải quân Trung Quốc cũng là yếu tố khiến khu vực thường “nổi sóng”. Tất cả những điều đó giải thích tại sao nhiều lực lượng hải quân hùng mạnh đang hiện diện tại châu Á - Thái Bình Dương.

Lực lượng hải quân của Mỹ và các nước đồng minh được bố trí trải dài từ vùng biển phía nam của Nga cho đến vùng lục địa phía dưới của Úc. Xét về chiều ngang, lực lượng Mỹ và đồng minh có tầm hoạt động phủ khắp Thái Bình Dương. Trong khi đó, ba hạm đội của Trung Quốc chỉ mới đảm bảo tầm hoạt động ở ba vùng biển chính là Hoàng Hải, Hoa Đông và biển Đông.

Giới quan sát nhận định, với sự bố trí của các hạm đội và căn cứ quân sự trong khu vực, con đường thoáng nhất để Trung Quốc có thể vươn ra Thái Bình Dương chính là khu vực biển Đông và vùng biển lân cận Đài Loan. Đó được cho là một trong những lý do khiến Trung Quốc tăng cường các động thái đơn phương trong chiến lược thâu tóm biển Đông thời gian gần đây.

Mỹ và các đồng minh

Vốn chú trọng đến châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ luôn hiện diện đông đảo tại đây với nhiều căn cứ quân sự ở Guam, Hawaii, Yokosuka, Singapore. Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương gồm Hạm đội 3, Hạm đội 7 và một số lực lượng khác, được đặc phái cho khu vực này. Trong đó, Hạm đội 7 là một lực lượng hải quân hỗn hợp với tàu khu trục, tàu tuần dương, tàu sân bay, tàu ngầm... chuyên trách vùng biển tiếp giáp châu Á. Hạm đội 7 có ba căn cứ chính là Yokosuka, Sasebo ở Nhật và Apra Harbor ở Guam cùng một số căn cứ hỗ trợ khác, theo tuần báo Jane’s Defense Weekly.

Bên cạnh lực lượng hải quân, quân đội Mỹ còn có nhiều căn cứ lính thủy đánh bộ và không quân trong khu vực để có thể kết hợp tác chiến toàn diện. Tại Okinawa (Nhật Bản), căn cứ không quân Futenma của Mỹ được ví như một “hàng không mẫu hạm không thể chìm”. Máy bay xuất kích từ căn cứ Futenma có thể nhanh chóng tiếp cận hầu hết các mục tiêu trong khu vực. Nhờ đó, sức mạnh của hải quân Mỹ trong khu vực được hỗ trợ đáng kể.

(*) Trong đó, có một số tàu chiến đã được đặt hàng và đang chờ hoàn thiện, các nước còn có thêm một số tàu hỗ trợ, tàu đổ bộ (Nguồn: Tổng hợp từ Asia Military Review)


Bên cạnh đó, lực lượng phòng vệ biển của Nhật được tạp chí Asia Military Review đánh giá là một trong những lực lượng mạnh, sở hữu nhiều loại tàu chiến hiện đại. Cạnh bên Nhật Bản là Hàn Quốc, một đồng minh khác của Mỹ, có lực lượng hải quân ngày càng tinh nhuệ. Hàn Quốc đã có thể tự đóng các tàu chiến hiện đại như tàu khu trục Sejong The Great trị giá gần 1 tỉ USD và nước này còn đang đóng bổ sung thêm các tàu chiến hiện đại khác. Đài Loan với lực lượng phòng vệ khiêm tốn chỉ khoảng 38.000 lính nhưng lại được trang bị những tàu chiến tân tiến. Tương tự, Úc cũng sở hữu một lực lượng hải quân tinh nhuệ với số lượng tàu chiến đa dạng.

Trung Quốc

Lực lượng tác chiến chủ chốt của Trung Quốc gồm ba hạm đội là Hạm đội Bắc Hải, Hạm đội Đông Hải và Hạm đội Nam Hải. Trong đó, Hạm đội Nam Hải đang được Trung Quốc ra sức phát triển làm nền tảng tăng cường hoạt động ở biển Đông. Hạm đội Bắc Hải đảm trách khu vực Hoàng Hải, vịnh Bột Hải và vùng biển tiếp giáp với Nga, Hạm đội Đông Hải chịu trách nhiệm vùng biển Hoa Đông.

Theo tạp chí quân sự Jane's Intelligence Review, Trung Quốc đang có căn cứ tàu ngầm Hải Nam, nằm gần Tam Á trên đảo Hải Nam, là trung tâm điều hành các tàu ngầm tấn công của Hạm đội Nam Hải.

Mới đây, Tổng tham mưu trưởng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc Trần Bỉnh Đức cho hay nước này đang phát triển tên lửa chống tàu sân bay Đông Phong 21D. Trung Quốc cũng đang ráo riết chuẩn bị hạ thủy tàu sân bay Thi Lang, tàu sân bay đầu tiên của nước này. Nhiều thông tin cho rằng tàu sân bay thứ hai của Trung Quốc cũng đang được đẩy mạnh tiến độ chế tạo. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều hồ nghi về sức mạnh thật sự của hải quân Trung Quốc. Nhiều chuyên gia cho rằng tàu sân bay hay tên lửa Đông Phong 21D chưa thể sớm được đưa vào hoạt động.

Các nước ASEAN

Hải quân các nước ASEAN cũng là một lực lượng đang ngày càng lớn mạnh. Trong thời gian qua, hải quân các nước ASEAN đã được bổ sung nhiều tàu chiến hiện đại gồm tàu ngầm, tàu khu trục thuộc nhiều lớp khác nhau với khả năng tác chiến đa dạng, phù hợp với đặc điểm của từng quốc gia. Nhiều quốc gia của khối như Singapore, Malaysia hay Indonesia đều mới trang bị thêm các tàu chiến tân tiến của phương Tây. Thái Lan là nước duy nhất trong khối sở hữu một tàu sân bay cỡ nhỏ. Philippines cũng vừa trang bị tàu chiến lớn nhất trong lịch sử nước này là Gregorio del Pilar, mua lại từ Mỹ. Theo nguồn tin từ Jane’s Defense Weekly, Philippines cũng đang đàm phán với tổ hợp đóng tàu PT Pal của Indonesia để mua 3 tàu đổ bộ có thể chở trực thăng.

Nga

Một cường quốc quân sự khác là Nga cũng có hải quân hiện diện ở vùng châu Á - Thái Bình Dương. Hiện Nga đang có căn cứ Vladivostok là nơi đồn trú của tàu chiến hạng nặng gồm tàu tuần dương, tàu khu trục, tàu ngầm. Kết hợp với các tàu chiến là một cơ số đáng kể máy bay ném bom, máy bay đánh chặn, máy bay chống tàu ngầm để tạo khả năng tác chiến tổng hợp. Nga còn có một căn cứ tàu ngầm lớn ở Vilyuchinsk trên bán đảo Kamchatka thuộc vùng Viễn Đông. Căn cứ này nằm gần căn cứ ở Vladivostok, cũng thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Nga. Ngoài ra, giữa tháng 11.2010, Tân Hoa xã dẫn các nguồn tin không chính thức cho hay Nga có kế hoạch xây dựng một căn cứ lớn cho Hạm đội Thái Bình Dương tại 4 hòn đảo đang tranh chấp với Nhật Bản. Tokyo gọi những hòn đảo này là “vùng lãnh thổ phía Bắc”, còn Moscow gọi là “nhóm đảo Nam Kuril”.

Ngô Minh Trí 
 

Một người Mỹ gốc Hoa chính thức làm đại sứ tại Trung Quốc

1. Một người Mỹ gốc Hoa chính thức làm đại sứ tại Trung Quốc

Thượng viện Hoa Kỳ vừa chuẩn nhận ông Gary Locke làm đại sứ tại Trung Quốc. Thượng viện đã đồng loạt bỏ phiếu hôm thứ Tư, chuẩn nhận người được Tổng thống Barack Obama bổ nhiệm. Ông Locke, hiện nay là Bộ trưởng Thương Mại, sẽ là vị đại sứ người Mỹ gốc Hoa đầu tiên tại Trung Quốc.


Ông sẽ thay thế ông Jon Huntsman, mới rời nhiệm sở này để ra tranh cử tổng thống cho Đảng Cộng Hòa.

Trong một cuộc điều trần chuẩn nhận hồi tháng 5, ông Locke nói với một ủy ban thượng viện rằng chính phủ Trung Quốc cần tạo áp lực hơn nữa để buộc Bắc Triều Tiên từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân.

Ông cũng hứa sẽ nêu lên những quan ngại về tình trạng nhân quyền của của Trung Quốc. Ông cho biết ông có “mối bất đồng mạnh mẽ” với Trung Quốc liên quan đến vấn đề nhân quyền, trong đó có việc nước này đàn áp các ký giả, luật gia, người viết blog, nghệ sĩ và các nhóm tôn giáo.

2. Tân đại sứ Mỹ gốc Hoa tại Trung Quốc: Sẽ yêu cầu Trung Quốc làm đúng cam kết

SGTT.VN - Sau khi được Thượng viện Mỹ phê chuẩn vào ngày 27.7, ông Gary Locke là người gốc Hoa đầu tiên chính thức trở thành đại sứ Mỹ tại Trung Quốc.

Nhiệm kỳ đại sứ của ông Locke sắp tới là một trong những giai đoạn quan hệ Mỹ-Trung đã giảm bớt căng thẳng.

Ông Locke là thống đốc thứ 21 của bang Washington nhiệm kỳ 1997-2005 và cũng là thống đốc gốc Hoa đầu tiên. Trước đó, ông từng là chủ tịch uỷ ban Đặc trách chi tiêu của Hạ viện. Năm 2009, ông được Tổng thống Barack Obama bổ nhiệm là bộ trưởng Thương mại. Trong những chuyến công tác của mình, ông từng gặp cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân và Chủ tịch đương nhiệm Hồ Cẩm Đào. Ông tốt nghiệp cử nhân khoa học chính trị tại đại học Yale. Vào thời điểm ông Locke được đề cử làm đại sứ Mỹ tại Trung Quốc hồi tháng 3.2011, Bắc Kinh đã hoan nghênh quyết định này.

Nhiệm kỳ đại sứ của ông Locke sắp tới là một trong những giai đoạn quan hệ Mỹ-Trung đã giảm bớt căng thẳng sau nhiều vấn đề như chính sách xuất khẩu của Bắc Kinh, Trung Quốc tăng cường trang bị quân sự và về nhân quyền; vấn đề tổng thống Barack Obama gặp gỡ Đạt Lai Lạt Ma, Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan... Hơn nữa, Trung Quốc còn là chủ nợ lớn nhất của Mỹ.

Trong phiên điều trần trước Thượng viện ngày 27.7, ông Locke nói sẽ sử dụng những kinh nghiệm của mình để đến với người dân Trung Quốc, nhưng không ngại đề cập tới những vấn đề nhạy cảm như "sự bất đồng sâu sắc" giữa quan điểm của ông và các nhà lãnh đạo nước này về nhân quyền và các cuộc đàn áp những nhà bất đồng chính kiến trong nước.

Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc là người gốc Hoa đầu tiên. Ảnh: Reuters

"Việc bảo vệ và thúc đẩy quyền được tự định đoạt và sự tự do là những nguyên lý cơ bản trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Tôi sẽ nỗ lực hết sức để tuyên truyền về nhân quyền cho mọi người tại Trung Quốc", ông Locke nói. Ông Locke cũng cho biết sẽ đặt vấn đề không phổ biến vũ khí hạt nhân làm ưu tiên hàng đầu và Bắc Kinh "có thể, và chắc chắn, cần phải hành động hơn nữa" để kiềm chế CHDCND Triều Tiên.

Cũng trong phiên điều trần, ông Locke khẳng định sẽ đấu tranh cho các doanh nghiệp Mỹ bằng cách đẩy mạnh việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quyền dành cho các công ty nước ngoài được tham gia các gói thầu của chính phủ, xem thị trường Trung Quốc là "một mục tiêu trọng tâm".

Báo Wall Street Journal cho biết trong một lần tham dự diễn đàn về cải thiện môi trường đầu tư của Mỹ vào Trung Quốc hồi tháng 5.2011, ông Locke nói Trung Quốc đang đi ngược lại với những lời hứa sẽ đưa nền kinh tế nước này cởi mở hơn với công ty nước ngoài. "Tất cả những hành động gần đây của Trung Quốc, như phân biệt đối xử, hoạt động không minh bạch và thất bại trong ngăn chặn hàng giả tràn lan cho thấy nền kinh tế nước này trở nên kém cạnh tranh hơn và cũng ít nồng nhiệt để chào đón đầu tư nước ngoài trực tiếp", ông Locke nói.

Ông khẳng định Mỹ sẽ "sẵn sàng sử dụng mọi công cụ pháp lý nếu cảm thấy cần để bảo đảm Trung Quốc làm đúng cam kết của mình", trong đó gồm cả việc phải tuân thủ các chính sách thị trường mở mà nước này đã đồng ý khi tham gia WTO vào năm 2001. Khi được hỏi về vấn đề tỉ giá đồng nhân dân tệ, ông Locke thừa nhận Trung Quốc có tăng giá đồng nhân dân tệ, nhưng "càng ngày đồng nhân dân tệ càng thả nổi nhiều hơn và nhanh hơn". Chủ tịch hội đồng Thương mại Mỹ - Trung (USCBC), John Frisbie nhận định: "Với kinh nghiệm là bộ trưởng Thương mại Mỹ, ông Locke sẽ biết cần phải làm gì với quan hệ thương mại hai nước".

Thường xuyên đến Trung Quốc, ông Locke nói: "Trung Quốc hiện tại là một nước mà người dân sẽ không thể hình dung từ thời tuổi thơ của họ. Nơi đây có những thành phố hiện đại, hàng trăm triệu người đã được xóa nghèo... Nhưng vị thế mới này đồng nghĩa với những trách nhiệm quan trọng. Chính quyền cần kết hợp sự phát triển nội địa với những vấn đề quốc tế để thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực, bằng những cách thức phù hợp với tiêu chuẩn, luật lệ và tổ chức quốc tế hiện hành".

NAM LIÊN (theo AFP, WALL STREET JOURNAL, WIKIPEDIA)

Bài phát biểu của GS Tương Lai tại lễ tưởng niệm đồng bào, chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, Tây nam và ở Hoàng Sa, Trường Sa

Kính thưa các cụ, thưa quý vị,

Trong những ngày nặng trĩu suy tư này, hôm nay, 27 tháng 7 năm 2011, Ngày Thương binh Liệt sĩ, ngày tổ quốc tri ân những người đã bỏ mình vì đất nước để có một Việt Nam ngàn năm văn hiến do ông cha để lại, non sông quy vào một mối, chúng ta có mặt tại đây để cùng đồng bào cả nước nghiêng mình trước anh linh những người đã bỏ mình vì sự toàn vẹn của đất nước.



Trước tình hình nóng bỏng ở Biển Đông do những thế lực hiếu chiến trong giới cầm quyền Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm hải phận của ta, bắt giữ hãm hại ngư dân chúng ta, cắt cáp thăm dò dầu khí ngay trên vùng biển thuộc chủ quyền của ta, tiếp tục những tội ác của chúng đã gây ra tại Hoàng Sa năm 1974 khiến 74 người con yêu của đất nước đã hy sinh và năm 1988 lại 88 chiến sĩ dũng cảm nữa ngã xuống tại Trường Sa vì chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc. Và rồi, máu của Việt Nam vẫn đang chảy trên Biển Đông.

Quả thật chủ nghĩa bành trướng Đại Hán đã không cam chịu một nước Việt Nam thống nhất và hùng mạnh làm cản trở tham vọng nuốt trọn Biển Đông và tràn xuống Đông Nam Á như xưa kia cha ông chúng đã từng theo đuổi. Cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 do Đặng Tiểu Bình phát động, đánh một đòn hiểm khi những vết thương chiến tranh kéo dài hơn một phần tư thế kỷ trên đât nước ta chưa kịp hàn gắn, đời sống của nhân dân ta cực kỳ khó khăn, đã phơi trần dã tâm chưa lúc nào từ bỏ của chúng.

Vì vậy, hôm nay trong lễ tưởng niệm đồng bào chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, phía Tây Nam và ở Hoàng Sa, Trường Sa chúng ta thành kính nghiêng mình tưởng nhớ đến những người đã khuất, sẻ chia với những thương binh, bệnh binh và gia đình của những người đã nằm xuống trong chiến tranh những cam go họ đang phải chịu đựng. 

Kinh Thánh có viết: “Chúa đã ban cho tôi miệng lưỡi đã được huấn luyện, để tôi biết dùng lời nói nâng đỡ kẻ nhọc nhằn” (Is. 50,4). Những điều chúng ta nói lên hôm nay để tưởng niệm những người đã ngã xuống, máu của họ đã thấm đẫm trên từng thước đất, thước biển của tổ quốc ta, là những lời nói gan ruột. 

Đức Phật lại dạy: “Nước mắt nào cũng cùng một vị mặn, máu của người nào cũng cùng một màu đỏ”. Chúng ta càng thấm thía rằng, máu nào đã tô thắm mảnh đất thiêng này cũng là máu Việt Nam.

Vì thế, chúng ta nhớ lại lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng và gộp cả những nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi”, để khẳng định quyết tâm xóa bỏ mọi kỳ thị định kiến, góp tâm góp sức làm lành vết thương chứ không để cho cho cơ thể Tổ quốc tiếp tục rỉ máu. Giọt nước mắt Việt Nam nào cũng có vị mặn, giọt máu nào của cơ thể Việt Nam cũng màu đỏ. 

Chúng ta càng ghi nhớ lời dạy của ông cha ta: “Gươm dơ lấy nước làm sạch. Nước dơ lấy máu làm sạch”. Máu của bao thế hệ Việt Nam đã tưới đẫm từng thước núi, tấc sông của Tổ quốc từ thưở Vua Hùng dựng nước cho đến tận hôm nay quyết không uổng. Vì thế, để xứng đáng với truyền thống quật cường dựng nước và giữ nước mà ông cha ta muôn đời truyền dạy, chúng ta quyết không một phút mơ hồ trước mưu toan xâm lược nhằm thực hiện mộng bành trướng của các thế lực hiếu chiến Trung Quốc. 

Chúng ta cảm động khi thấy tên của những người anh hùng trong các trận quyết tử để bảo vệ Hoàng Sa của năm 1974 và Trường Sa của năm 1988 được những thanh niên yêu nước giương cao trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược ngay tại Hồ Hoàn Kiếm, trái tim của Thủ đô ngày 24.7.2011 vừa qua. Tấm gương hy sinh của thế hệ đi trước đang tiếp sức cho thế hệ hôm nay tỉnh táo và hiên ngang thực hiện sứ mệnh cao cả của mình, không đang tâm ngồi nhìn bọn cướp nước đang trăm mưu nghìn kế thực hiện chính sách thâm hiểm của chúng. Đó chính là cách thiết thực nhất, mạnh mẽ nhất trong vô vàn những cách thức khác nữa để tưởng niệm những người đã khuất.

Vì thế, giọt nước mắt trong lễ tưởng niệm này cũng là “…Giọt nước mắt thương dân. Dân mình phận long đong…” như người nhạc sĩ tài hoa nọ đã hát. Đây chính là “dòng nước mắt trong tim. Chảy lai láng vào hồn…” của mỗi chúng ta. Tâm hồn của mỗi chúng ta đang hướng về Hoàng Sa, Trường Sa, trái tim của mỗi chúng ta đang đập theo nhịp sóng Biển Đông. Chúng ta mong đợi Quốc hội đang họp sẽ có một Nghị quyết toàn diện và mạnh mẽ về Biển Đông, tiếp sức thêm cho hành động yệu nước của chúng ta.

Lễ tưởng niệm này chỉ là một dấu nhấn trong toàn cảnh hoạt động của mỗi người dân yêu nước. Chúng ta tin rằng anh linh của các liệt sĩ tại các trận chiến đấu trên biển năm 1974, 1988, cuộc chiến đấu trên bộ ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc năm 1979, hồn thiêng sông núi muôn đời Việt Nam, chứng giám cho nhịp đập trái tim yêu nước của tất thảy những lương tâm Việt Nam, để họ biết cách hiến dâng những suy tư và hành động cao cả cho sự nghiệp thiêng liêng của đất nước. 

Một lần nữa, xin kính cẩn nghiêng mình.

Tương Lai

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Nhất định thất bại

Randy Schriver
Ông Randy Schriver là chủ tịch Dự án 2049 và là cựu phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về vấn đề Đông Á.
25-07-2011

Quan hệ quân sự Mỹ – Trung chỉ có lợi cho Quân đội Trung Quốc.

Nếu định nghĩa về sự điên loạn là làm cùng một thứ lặp đi lặp lại nhưng mong muốn đạt các kết quả khác nhau, thì chắc chắn đã đến lúc phải đánh giá nghiêm túc về cái được, cái mất của những nỗ lực mà Mỹ đang thực hiện nhằm xây dựng một mối quan hệ quân sự tốt đẹp hơn với Trung Quốc. 
 

Kể từ khi thiết lập các mối quan hệ quân sự cách đây gần 30 năm, các chính quyền kế tiếp của Mỹ đã thất bại hoàn toàn trong nỗ lực nhằm tạo dựng mối quan hệ quân sự song phương Mỹ – Trung thúc đẩy các mục tiêu của Washington.

Thực tế hoàn toàn trái ngược, các mối quan hệ quân sự Mỹ – Trung, một cách vô tình, chủ yếu tăng thêm sức mạnh cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (tức Quân đội Trung Quốc – PLA), khi lực lượng này cố gắng trở nên chuyên nghiệp hơn và có năng lực hơn. Để ngăn chặn xu hướng này, điều cần làm là tái cơ cấu một cách nghiêm túc các mối quan hệ quân sự song phương.

Từng là một giám đốc cấp cao phụ trách chính sách về Trung Quốc ở Lầu Năm Góc, tôi đã từng có trách nhiệm quản lý các mối quan hệ quân sự Mỹ – Trung với tư cách đại diện cho hai bộ trưởng quốc phòng. Qua công việc ở Lầu Năm Góc và công việc sau đó cả ở trong và ngoài chính phủ, tôi đã quan sát kỹ lưỡng sự phát triển của mối quan hệ quân sự với Trung Quốc. Nói rằng những kết quả thu được từ nỗ lực của chúng ta rất đáng thất vọng vẫn là quá nhẹ.

Mỹ đúng khi muốn một sự minh bạch hơn nữa từ Quân đội Trung Quốc; muốn nâng cao mức độ an toàn của các hoạt động ở Thái Bình Dương; muốn thể hiện những ý định và năng lực về hiệu quả đánh chặn trước những khiêu khích tiềm tàng của Trung Quốc; muốn giảm bớt khả năng tính toán sai thông qua đối thoại ngay thẳng; muốn tìm kiếm các biện pháp phối hợp cho những thách thức trên toàn cầu; và muốn tác động đến một thế hệ các sĩ quan PLA trẻ hơn. Tuy nhiên, giờ đây, chúng ta có rất nhiều bằng chứng gom được trong 30 năm qua cho thấy chúng ta ngày càng rời xa, chứ không đến gần hơn, những mục tiêu đó. Không chỉ có vậy, 3 thập niên cố gắng ràng buộc đã tạo điều kiện cho Bắc Kinh tiến tới các mục tiêu của họ bằng cách tận dụng những theo đuổi liên tục của đối tác nhiệt tình ở Washington.

Ở đây ẩn chứa nguyên nhân cơ bản cho thành tích mờ mịt của chúng ta: Các lãnh đạo PLA có các mục tiêu riêng khi tham gia quan hệ quân sự với Washington. Họ tìm cách tác động tới việc ra quyết định của Washington về cái gọi là các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, để giành được bí quyết xây dựng chuyên môn từ đội quân mạnh nhất thế giới, để nhìn thấu những điểm yếu của quân đội Mỹ, và đạt được tiến bộ trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ, đặc biệt là nơi các công nghệ sử dụng kép được quan tâm.

Giờ chúng ta nên tạm dừng và đánh giá bảng thành tích một cách khách quan. Và nếu làm vậy, chúng ta phải thừa nhận rằng, so với thành tích của chúng ta, Trung Quốc làm tốt hơn đến cỡ nào trong việc đạt được rất nhiều mục tiêu của họ trong mối quan hệ quân sự này.

Chiều theo Trung Quốc, và bất chấp việc PLA nhanh chóng xây dựng lực lượng, chính quyền Obama đến nay đã đạt được thành tích tệ nhất về các hợp đồng bán vũ khí cho Đài Loan kể từ khi Đạo luật Các mối quan hệ Đài Loan được thông qua năm 1979. Bất chấp sự những hành động khiêu khích của Trung Quốc ở Biển Đông, các quan chức chính quyền Obama đang công khai thảo luận việc rút bớt các chuyến bay do thám quân sự ở Thái Bình Dương như một cơ chế tiềm năng nhằm xây dựng lòng tin với Bắc Kinh. Và bất chấp những biểu lộ tin tưởng từ Washington rằng sự phô bày sức mạnh của chúng ta ở Thái Bình Dương sẽ chặn được Trung Quốc, chúng ta lại thấy một kế hoạch thâu tóm hung hăng của PLA nhằm gây phức tạp cho các hoạt động của Mỹ bằng những chương trình như các hoạt động tấn công trên mạng, các tên lửa chống vệ tinh và các tên lửa đạn đạo đối hạm.

Khi còn trong chính phủ, tôi đã trực tiếp chứng kiến nhiều hậu quả tồi tệ về các mục tiêu cạnh tranh của chúng ta. Vào thời điểm xảy ra vụ EP-3 năm 2001, Ngoại trưởng Colin Powell khi ấy đã định viện đến Hiệp định Tư vấn Hàng hải Quân sự Mỹ – Trung (MMCA), văn bản gồm những điều khoản rõ ràng nêu hành động mà hai bên phải làm trong trường hợp xảy ra tai nạn. Thay vì chấp nhận các đề nghị của chúng ta là tổ chức tìm kiếm và cứu nguy viên phi công Trung Quốc mất tích, thành lập một lực lượng đặc nhiệm chung để điều tra các nguyên nhân tai nạn, và sử dụng các cơ chế MMCA để lập ra các quy tắc mới nhằm trách những tai nạn như vậy trong tương lai, thì Trung Quốc lại hủy bỏ các cuộc hội đàm MMCA và yêu cầu Mỹ chấm dứt các chuyến bay do thám ở Thái Bình Dương. Đối với tôi, chuyến thăm mới đây của Đô đốc Mike Mullen tới Bắc Kinh, nơi ông chịu một bài thuyết trình hạ mình từ vị tướng cao cấp nhất của PLA, gây “cảm giác ngờ ngợ”.

Ngày nay, nguồn căng thẳng và trở ngại đối với những trao đổi quân sự hữu ích đang ngày càng phình to – nhưng chúng tiếp tục được chính quyền Obama giải quyết thông qua những sáng kiến nhún nhường như cũ để “tăng cường sự tin cậy”. Hơn thế, Trung Quốc ngày càng nhìn nhận các mối quan hệ quốc phòng là dễ bị hy sinh, không vững chắc và chủ yếu mang tính biểu tượng. Kết quả là, Trung Quốc đầu tư vào mối quan hệ này chỉ ở mức độ mà họ tin là sẽ tác động đến chính sách ngoại giao của Mỹ. Điều đó càng chứng tỏ chúng ta cần đánh giá lại một cách chiến lược.

Nhưng đúng như dự đoán, chính quân đội Trung Quốc là bên đặt ra “các điều kiện” cho việc nâng cao các mối quan hệ quân sự trong tương lai. Các quan chức quân sự Trung Quốc đã thẳng thừng tuyên bố rằng các mối quan hệ quân sự không thể phát triển cho đến khi nào Mỹ thay đổi chính sách bán vũ khí cho Đài Loan, chấm dứt các chuyến bay do thám ở Thái Bình Dương, và sửa đổi luật cấm một số loại tương tác quân sự nhất định giữa Mỹ và Trung Quốc.

Như Ngoại trưởng George Shultz thời Ronald Reagan nhận xét cách đây 30 năm, “khi tầm quan trọng địa chiến lược của Trung Quốc trở thành lăng kính dựa trên các khái niệm mà thông qua đó, các mối quan hệ Mỹ – Trung được đánh giá, thì gần như không thể tránh khỏi việc giới hoạch định chính sách Mỹ sẽ quan tâm quá mức đến những lợi ích, những lo ngại và những nhạy cảm của Trung Quốc. Ta cần hy vọng chính quyền Obama chú ý đến những lời cảnh báo này.

Thật mỉa mai, khi các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh muốn biểu thị nỗi oán giận về việc Mỹ ủng hộ Đài Loan, Trung Quốc lại đẩy lùi các trao đổi quân sự hai bên. Nếu xảy ra những trường hợp như vậy trong tương lai thì Mỹ nên hoan nghênh quyết định của Trung Quốc. Vì Trung Quốc đang hùng hổ theo đuổi sự hiện đại hóa quân sự và muốn trở thành một lực lượng chuyên nghiệp hơn nên chọn cách hạn chế tương tác với quân đội lớn nhất thế giới sẽ gây hại cho Trung Quốc nhiều hơn cho Mỹ.

Mỹ nên tạm dừng, hoặc, ở một mức độ tối thiếu, thu nhỏ các mối quan hệ quân sự với Trung Quốc cho đến khi nào PLA sẵn sàng tham gia vào một mối quan hệ đôi bên cùng có lợi. Chúng ta cần có các điều kiện của riêng mình về cải thiện các mối quan hệ song phương (chẳng hạn, yêu cầu PRC từ bỏ sử dụng vũ lực chống lại Đài Loan và tuân thủ các nguyên tắc tự do hàng hải ở Biển Đông). Chúng ta nên tăng cường nỗ lực củng cố các liên minh quân sự ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và sự cộng tác an ninh của chúng ta với Đài Loan. Nếu chính quyền Obama không thực hiện những biện pháp đó, Quốc hội cần nghiêm túc xem xét phong tỏa các quỹ dành cho cách tiếp cận phản tác dụng này với các mối quan hệ quân sự Mỹ – Trung.

Người dịch: Trúc An
 
Nguồn: Washington Times
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...