Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

30/6/10

Lý Quang Diệu nói về 'tương lai châu Á'

Trước tranh cãi về căn cứ quân sự Mỹ ở Okinawa, cựu Thủ tướng Singapore, ông Lý Quang Diệu lên tiếng rằng châu Á cần chấp nhận sự hiện diện của quân đội Mỹ để tạo thế cân bằng.

 Tàu chiến Mỹ tại căn cứ hải quân Changi của Singapore 

Phát biểu tại một hội thảo ở Tokyo, ông cũng nói Singapore sẵn sàng nhận hạm đội Trung Quốc như đã làm với Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Trước nan đề dân số của Nhật, ông nêu kinh nghiệm Singapore để nói rằng Nhật Bản "nên thu nhận người nhập cư nếu muốn tiếp tục tăng trưởng".

Trước khi đến dự Hội thảo "Tương lai châu Á" lần thứ 16 do báo Nikkei tổ chức từ 20 đến 21 tháng 5, ông Lý Quang Diệu đã thăm Trung Quốc, và gặp mặt với nhà cựu lãnh đạo Giang Trạch Dân tại tư gia ở Giang Tô.

Không chỉ Nhật và Mỹ
Với dân số chỉ bằng 1/10 và kinh tế có thể bị Trung Quốc qua mặt trong nay mai, ông Lý Quang Diệu cho rằng Nhật Bản không thể có một mối quan hệ bình đẳng với Trung Quốc và cần sự hiện diện của người Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương:
“Chúng ta tin rằng sự hiện diện đó sẽ mang lại hòa bình và ổn định. Và tôi tin rằng cần có một căn cứ của Mỹ ở Đông Bắc Á.”
Căn cứ Futenma từ nhiều năm qua vẫn là đề tài nóng bỏng trên chính trường Nhật và trong quan hệ với Hoa Kỳ, do phản đối của người dân trên đảo Okinawa.
Hồi tháng 10/2005, Tokyo và Washington đạt được thỏa thuận dời căn cứ này đến một vị trí khác nhưng vẫn ở trên đảo.

 Dù lớn tuổi, ông Lý Quang Diệu vẫn theo dõi và bình luận tình hình thời sự quốc tế

Khi ông Yukio Hatoyama lên làm thủ tướng hồi tháng 9 năm ngoái, ông tuyên bố sẽ dời Futenma ra khỏi hẳn hòn đảo nằm ở phía Nam của Nhật Bản, gần Đài Loan và Trung Quốc.

Tuy nhiên, trong bối cảnh xung đột đang có xu hướng leo thang trên bán đảo Triều Tiên, ông Hatoyama đã đổi ý. Hôm 23.5, ông Hatoyama đã xin lỗi người dân Okinawa về việc sẽ không dời căn cứ Futenma ra khỏi đảo này.

Thủ tướng Hatoyama sẽ công bố quyết định về việc di dời căn cứ Futenma vào ngày 28 tháng 5.
Ông Lý Quang Diệu cho rằng: “Nếu Nhật Bản đẩy căn cứ này ra khỏi Okinawa, tôi nghĩ đây là một trở ngại cho việc triển khai các lực lượng của Mỹ. Điều này không có lợi cho châu Á.”
Ông cũng nói thêm: “Tôi không có ý nói rằng sắp sửa có chiến tranh. Nhưng nếu không có sự đối trọng, chúng ta không có đường lùi. Nếu có hai cây to, thay vì chỉ một, chúng ta có thể chọn đứng dưới bóng râm của cây nào.”

Với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Asean), vị cựu thủ tướng Singapore cũng tin rằng cần có một sự cân bằng giữa các đối tác:
“Khi Malaysia đề xuất một Thượng Đỉnh Đông Á, Singapore và Indonesia đã đề nghị phải đưa thêm Ấn Độ, Úc và New Zealand vào. Một nhóm gồm 10 nước Đông Nam Á, thêm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, gọi tắt là ASEAN+3, là không cân bằng."

Ông đề cập đến mô hình Malaysia nêu ra, đưa thêm ba nước ngoài khu vực vào:
"Nếu chúng ta thêm ba nước kia nữa thì tôi tin sẽ cân bằng hơn.”

Nan đề nước nhỏ
Ông giải thích đây là cách nhìn từ vị thế của Singapore, quốc gia đô thị chỉ có trên 700 km2 và gần 5 triệu dân:

“Là một nước nhỏ, chúng tôi phải nghĩ tới một thế cân bằng. Tạo được thế cân bằng rộng lớn là khôn ngoan.”
Trước viễn cảnh Trung Quốc có tham vọng xây dựng một “hạm đội nước xanh” ông Lý Quang Diệu chỉ ra nguyên nhân sâu xa vì sao Bắc Kinh muốn bảo vệ các tuyến đường biển phục vụ nền kinh tế đang cần nhiều nguyên liệu:
“Họ rất sợ bị gián đoạn các tuyến đường biển. Ví dụ như nếu ai đó đánh chìm một tàu lớn làm tắc nghẽn eo Malacca, Trung Quốc sẽ giậm chân tại chỗ.”

Tuy nhiên, ông kêu gọi giữ quan hệ tốt đẹp với cả Hoa Kỳ với Trung Quốc và Nhật Bản.
Hiện Singapore đã cho Hoa Kỳ và Nhật Bản sử dụng căn cứ hải quân nhưng nay ông Lý tiết lộ quốc gia đô thị này sẵn sàng cho cả tàu Trung Quốc vào:
"Nếu “hạm đội nước xanh” của Trung Quốc đến, chúng tôi cũng có thể cho họ sử dụng. Nói chung, tôi tin nên có nhiều cường quốc với cùng mối quan tâm ở khu vực này để duy trì thế cân bằng và bảo đảm không có anh nào trở thành kẻ thống trị”.

Nói với cử tọa Nhật Bản, ông Lý xuất phát từ kinh nghiệm của Singapore cho rằng Nhật Bản phải thu nhận người nhập cư có chất lượng để giải quyết nan đề dân số già và thiếu nhân lực.
“Các bạn có thể chọn lựa giữa hai cách, hoặc là duy trì sự thuần nhất màu da để rồi dân số ngày càng thu hẹp, kinh tế trì trệ, hoặc chấp nhận người nhập cư để tiếp tục tăng trưởng.”

Nhiều thập niên qua, nỗ lực khuyến khích tăng tỷ lệ sinh con ở người Singapore không đem lại kết quả. Vì thế, mỗi năm chính phủ Singapore cấp thẻ công dân hoặc quy chế thường trú vĩnh viễn cho trên dưới 100.000 người nhập cư.

Theo ông Lý Quang Diệu, người cùng đảng Nhân dân Hành động tuyên bố độc lập cho Singapore sau khi tách khỏi Liên bang Malaysia năm 1965, nhận người nhập cư là cách giải quyết nạn thiếu dân "rẻ, nhanh và hiệu quả hơn" so với một số nước châu Âu như Pháp và Thụy Điển.
 
Cao Minh
Gửi cho BBCVietnamese.com từ Singapore

29/6/10

Trung Quốc "nói vậy mà không làm vậy"

Nỗ lực trấn an về một chiến lược phát triển hòa bình, không đe dọa an ninh nước nào của giới lãnh đạo Trung Quốc cũng không làm an lòng phần còn lại của thế giới, khi những hành động thực tế lại chứng minh điều ngược lại.



Dựng hình tượng
Nhiều năm qua, sự trỗi dậy Trung Quốc đi liền với mối lo ngại về mối đe dọa Trung Quốc trong cộng đồng quốc tế. Cho rằng thế giới đang hiểu nhầm mình, Trung Quốc bằng nhiều cách thức, khi lặng lẽ, lúc ồn ào, cố gắng làm an lòng phần còn lại của thế giới về một chiến lược phát triển hòa bình của nước này.

Tranh thủ mọi cơ hội, mọi diễn dàn, khu vực và quốc tế, người Trung Quốc đang tỏ ra muốn "minh bạch hóa" chiến lược phát triển, nhất là các chính sách an ninh gắn với sự đầu tư ngày càng lớn cho quân sự.

Những cụm từ "phát triển hài hòa", "phát triển chung", "an ninh chung", "hợp tác", "đối tác bình đẳng", "tin cậy lẫn nhau", "đối tác có trách nhiệm"... thường xuyên xuất hiện trên cửa miệng của giới lãnh đạo Trung Quốc.

Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông nói 50 năm trước: "50 năm sau này, lãnh thổ Trung Quốc sẽ vẫn là 9.600.000 cây số vuông... Nếu như chúng ta xâm chiếm dù chỉ một phân đất đai của nước khác, chúng ta sẽ biến mình thành kẻ xâm lược" 
 Lifepro: "Bây giờ, Trung Quốc đã trở thành kẻ xâm lược, lấn chiếm đất đai của Việt Nam và một số nước Đông Nam Á"
Khẩu hiệu hòa bình và chống bá quyền được giới chức Trung Quốc tận dụng mọi cơ hội phô diễn.
Khi Biển Đông nóng lên, những phát ngôn mang tính trấn an như thế của lãnh đạo Trung Quốc càng xuất hiện với tần suất dày đặc, nhất là tại các diễn đàn khu vực, nơi các nước láng giềng chia sẻ mối lo về an ninh khu vực.

Chỉ trong vòng một tháng, nhân vật thứ 3 của giới quốc phòng Trung Quốc, Trung tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng tư lệnh quân đội đã hai lần trấn an đại diện các quốc gia Đông Nam Á và nước lớn, rằng "quân đội Trung Quốc không đe dọa an ninh nước nào".

"Sự phát triển năng lực của quân đội quốc gia Trung Quốc không nhằm thách thức, đe dọa hay xâm lược quốc gia nào mà trước hết và trên hết là để đảm bảo an ninh của Trung Quốc".

"Chỉ phát triển chung mới đảm bảo phát triển bền vững cho tất cả. Chỉ có an ninh chung mới có thể đảm bảo an ninh bền vững thực sự", ông Mã Hiểu Thiên nói. "Duy trì an ninh trong khu vực là lợi ích và bổn phận của Trung Quốc"... "Trung Quốc không bao giờ nhắm tới bá quyền, ngay cả khi mạnh hơn".

Cho rằng việc tìm kiếm an ninh qua đối đầu và chạy đua vũ trang đã lỗi thời, và việc hợp tác mới là lựa chọn cho an ninh, lãnh đạo Trung Quốc tuyên bố, "Chính phủ Trung Quốc cam kết tìm các giải pháp hòa bình cho các điểm nóng khu vực".

 Lính Trung Quốc luyện tập bên bờ Biển Đông mà Trung Quốc gọi là Nam Hải. Ảnh Reuters/China Daily.



Nói như Phó Giáo sư Peter Dutton, thuộc Viện Nghiên cứu Hàng hải, trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ, Trung Quốc đang xây dựng hình tượng "hòa bình phát triển" với thế giới.
Đáng tiếc, hình tượng đó dựng lên phần nhiều bằng lời nói, chứ không phải việc làm của chính Trung Quốc.

Tự định chuẩn
Cố gắng thuyết phục thế giới hiểu đúng về Trung Quốc và tham vọng phát triển của nước này, nhấn mạnh xây dựng quan hệ đối tác thực sự dựa trên sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, thế nhưng, hành động của Trung Quốc, nhất là liên quan đến Biển Đông lại buộc thế giới đặt những dấu hỏi nghi ngờ.

Những lời trấn an của lãnh đạo Trung Quốc không thể an lòng thế giới, nhất là khu vực, khi những hành động của giới chức nước này lại "một mình một lối".

Từ đường ranh giới chữ U đòi chủ quyền trên Biển Đông tham lam "lờ đi những giới hạn luật pháp được quy định bởi Công ước Luật biển Quốc tế 1982" (nhận xét của PGS Peter A. Dutton) đến những hoạt động thực tế mang tính hiếu chiến trên Biển Đông, Trung Quốc đã phá vỡ cam kết "giữ nguyên trạng", "không làm căng thẳng tình hình" mà nước này đã kí năm 2002 với các quốc gia ASEAN trong Tuyên bố về các nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông DOC.

Trung Quốc liên tục "gây chuyện", với từng nước riêng rẽ liên quan đến tranh chấp, trực tiếp và gián tiếp, và với cả khu vực. Xây dựng đơn vị hành chính, đơn phương cấm đánh bắt cá, bắt giữ và đòi tiền chuộc với các tàu cá của các quốc gia ĐNA, va chạm với tàu Mỹ, xây dựng cơ sở hải quân khổng lồ ở đảo Hải Nam, tổ chức tàu tuần tra, tập trận không quân và hải quân trong khu vực tranh chấp... là những bước leo thang của Trung Quốc trong việc làm căng thẳng tình hình Biển Đông. Quy mô và tần suất của các hoạt động phá vỡ lòng tin này ngày càng gia tăng.

Mới đây, Trung Quốc đã bắt đầu định danh tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông là "lợi ích chiến lược" của nước này, đặt ngang hàng với các vấn đề Đài Loan, Tây Tạng vốn được Trung Quốc ưu tiên cao. Và cùng với nó, việc tuyên truyền về khả năng giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng vũ lực cũng xuất hiện ngày càng dày trên truyền thông Trung Quốc.

Có vẻ như, cái gọi là "cam kết", "hợp tác", "không đe dọa"... đã được Trung Quốc tự định chuẩn theo cách hiểu của riêng nước này. "Phương cách đơn phương Trung Quốc" không chỉ được áp dụng trong giải thích luật biển quốc tế, mà trong những thuật ngữ hoa mỹ nước này dùng để dựng hình tượng về mình cũng như mô tả về quan hệ tốt đẹp với láng giềng.

Thay vì dùng lời nói thuyết phục thế giới và khu vực "hiểu đúng" về Trung Quốc với tư cách "cổ đông có trách nhiệm" trong cộng đồng quốc tế, có lẽ, đến lúc Trung Quốc dựng hình tượng ấy bằng hành động cụ thể, trước hết và trên hết bằng việc minh bạch hóa vấn đề an ninh Biển Đông với hành động thiện chí và xây dựng thực sự của nước này.

Và thay vì sử dụng phương cách Trung Quốc để rồi trách thế giới hiểu nhầm mình, Trung Quốc cần thực sự áp dụng phương cách và chuẩn mực quốc tế trong hành xử, để làm thế giới tin.

Tác giả: An Thái
 

Trung Quốc tập trận quy mô lớn ở Đông Hải

Ngày mai (30/6), Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) sẽ khai mạc một cuộc diễn tập thực binh hỏa lực kéo dài trong 6 ngày tại Đông Hải, một động thái mà các nhà phân tích cho là nhằm đáp lại một cuộc diễn tập hải quân chung giữa Mỹ và Hàn Quốc tại Hoàng Hải.

Trung Quốc sẽ tổ chức diễn tập hải quân tại Đông Hải

Quyết định của PLA được công bố vào ngày 24/6 và được đăng tải trên các trang web lớn của Trung Quốc hôm 28/6, khi cuộc diễn tập giữa Mỹ và Hàn Quốc theo kế hoạch cũng bắt đầu. Trước đó, Mỹ và Hàn Quốc tuyên bố Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (CHDCND) Triều Tiên là mục tiêu của cuộc diễn tập này. Một tàu sân bay chạy bằng năng lượng hạt nhân của Mỹ cũng có kế hoạch sẽ tham gia cuộc diễn tập diễn ra ngay ngoài khơi bờ biển Trung Quốc.

Tuy nhiên, hôm 28/6, hải quân Hàn Quốc đã tuyên bố rằng cuộc diễn tập chung của họ đã được hoãn đến đầu tháng 7.
Theo thông báo của PLA, tất cả các tàu thuyền sẽ bị cấm đi vào khu vực diễn tập đã được xác định của họ từ nửa đêm đến 18h00 hàng ngày từ ngày 30/6 đến ngày 5/7.

Hôm 28/6, một quan chức thuộc Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết cuộc diễn tập theo kế hoạch của PLA là hoạt động bình thường. Tuy nhiên, Nhật báo Mingpao có trụ sở tại Hồng Công coi đây là “động thái hiếm hoi” để công bố trước về một cuộc diễn tập.

Một số nhà phân tích cho biết động thái này rõ ràng liên quan đến sự hiện diện của tàu sân bay USS George Washington gần bờ biển của Trung Quốc, đặt các thành phố lớn bao gồm cả Bắc Kinh và các vùng ven biển của Trung Quốc nằm trong phạm vi tác chiến của chiếc tàu sân bay Mỹ này.

“Mặc dù chính phủ Trung Quốc không nói gì về cuộc diễn tập tại Đông Hải, nhưng bất cứ ai nhạy cảm về chiến lược quân sự sẽ đoán được rằng chúng có liên quan đến nhau,” ông Shi Yinhong, một chuyên gia cao cấp nghiên cứu về Mỹ thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc tại Bắc Kinh, cho biết.

Hồi đầu tháng 6, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Qin Gang cho biết Bắc Kinh quan ngại sâu sắc về cuộc diễn tập hải quân chung Mỹ-Hàn này và đang theo dõi chặt chẽ vấn đề này.
“Trong tình hình hiện tại, các bên liên quan cần phải kiềm chế và tránh làm căng thẳng leo thang và làm tổn hại đến lợi ích của các nước trong khu vực,” ông Qin nói.

Hôm 05/6, ông Ma Xiaotian, Phó Tổng Tham mưu trưởng PLA, phát biểu tại một hội nghị an ninh hàng năm ở Singapore rằng một trong những rào cản lớn trong quan hệ quân sự Trung-Mỹ là “hoạt động giám sát với cường độ cao của các tàu chiến và máy bay Mỹ ở biển Đông và Đông Hải.”

Mỹ và Hàn Quốc cho biết cuộc diễn tập hải quân chung này là nhằm vào CHDCND Triều Tiên sau vụ chìm một chiếc tàu chiến của Hải quân Hàn Quốc hồi tháng 3, tuy nhiên, “rất hiếm khi một cường quốc lớn triển khai một chiếc tàu sân bay đến gần một cường quốc lớn khác,” ông Shi cho biết.

“Bất kỳ quốc gia lớn nào đều có giới hạn đối với sự cảnh giác và niềm kiêu hãnh quân sự. Cuộc diễn tập Mỹ-Hàn đã gây nên sự phản ứng giận dữ của công chúng Trung Quốc và tôi nghĩ đó là một trong những lý do khiến cuộc diễn tập này phải tạm hoãn.”

Ông Li Jie, một nhà nghiên cứu thuộc học viện quân sự của Hải quân Trung Quốc, cho biết cuộc diễn tập Mỹ-Hàn sẽ không giúp làm giảm bớt căng thẳng về vụ chìm tàu chiến của Hàn Quốc.

Hôm 28/6, Bình Nhưỡng cũng đã lên tiếng đe dọa sẽ tăng cường khả năng hạt nhân của mình để đối phó với những gì mà họ cho là một chính sách thù địch của Mỹ và những mối đe dọa quân sự.

Tuy nhiên, các nhà phân tích khác cho biết hai cuộc diễn tập này không liên quan đến nhau vì năm ngoái hải quân Trung Quốc đã tiến hành một cuộc diễn tập tương tự.

Theo VIT
Nguồn tin:  Peopledaily

Ý đồ Trung Quốc qua việc bố trí 7 Đại quân khu

Nguồn lực về con người khiến Quân đội Trung Quốc trở thành một đối thủ đáng gờm. Ngoài ra, nhờ những tiến bộ vượt bậc mà đội quân này ngày càng trở nên mạnh hơn. Việc bố trí lực lượng của Trung Quốc luôn thu hút sự quan tâm của giới quân sự quốc tế.
Qua nghiên cứu bố trí lực lượng, người ta có thể đánh giá được mạnh yếu, chiến lược cũng như ý đồ quân sự của đất nước tỷ dân. Bài viết này, dựa trên nhiều tài liệu thu thập được của các chuyên gia quân sự Nga và các nguồn phân tích chiến lược phương Tây, sẽ cùng quý vị độc giả tìm hiểu thế bố trí lực lượng của Quân đội Trung Quốc, tức 7 đại quân khu của nước này.

Bản đồ bố trí 7 đại quân khu của Trung Quốc

Các chuyên gia quân sự Nga trong những năm gần đây đánh giá rất cao Quân đội Trung Quốc. Tuy nhiên, sự đánh giá này không dựa trên sức mạnh về khoa học kỹ thuật mà là sức mạnh “cơ bắp” – nguồn lực con người.
Nhiều nhà phân tích đánh giá, với sự “dư thừa” về con người như hiện nay (đặc biệt là nam giới), giới lãnh đạo quân sự Trung Quốc có được điều mà nhiều nước có nằm mơ cũng không có. Họ có quyền lựa chọn trong quá trình tuyển quân để lấy được những thanh niên trai tráng nhất. Điều đó giúp cho sức mạnh về con người trở thành một yếu tố quan trọng và điểm nổi bật của Quân đội Trung Quốc.

 Bản đồ bố trí 7 đại quân khu của Trung Quốc

Tỷ lệ nam/nữ hiện nay ở Trung Quốc vào khoảng 107/100. Trong khi đó, tỷ lên sinh của bé trai so với bé gái là 117:100, ở một số tỉnh thành tỷ lệ này là 130:100, cá biệt có khu vực là 152:100. Tất nhiên, sự mất cân bằng về giới đang khiến hàng chục triệu đàn ông Trung Quốc ế vợ. Nhưng xét về mặt nguồn lực con người cho quân sự, con số này được coi là “mơ ước” của nhiều quốc gia có tiềm lực kinh tế, đất đai rộng lớn nhưng lại ít ỏi về dân số.

Bố trí cụ thể
Trung Quốc có 7 đại quân khu là: Thẩm Dương, Bắc Kinh, Lan Châu, Tế Nam, Nam Kinh, Quảng Châu và Thành Đô.
1. Đại quân khu Thẩm Dương

  Đại quân khu Thẩm Dương

Bộ Tư lệnh của Đại quân khu Thẩm Dương đặt tại Thẩm Dương, Liêu Ninh. Đại Quân khu này có 3 tập đoàn quân là: Tập đoàn quân số 16 (căn cứ đặt tại Trường Xuân, Cát Lâm), Tập đoàn quân số 40 (căn cứ đặt tại Cẩm Châu, Liêu Ninh) và Tập đoàn quân số 39 Bộ binh cơ giới (căn cứ đặt tại Doanh Khẩu,  Liêu Ninh).

Về không quân, Đại quân khu Thẩm Dương có: 1 Quân đoàn không quân hỗn hợp số 1 (căn cứ đặt tại Trường Xuân, Cát Lâm), Sư đoàn tiêm kích số 1 được trang bị máy bay J-11 và J-8II (căn cứ đặt tại An Sơn, Liêu Ninh), Sư đoàn tiêm kích số 21 được trang bị máy bay J-7 và J-8 (căn cứ đặt tại Mẫu Đơn Dương, Hắc Long Giang), Sư đoàn tiêm kích số 30 được trang bị máy bay J-7E và J-8 (căn cứ đặt tại Đại Liên, Liêu Ninh) và Sư đoàn cường kích số 11 được trang bị máy bay Q-5 (căn cứ đặt tại Tứ Bình, Cát Lâm).

Đại quân khu Thẩm Dương có 1 lữ đoàn tên lửa chiến lược độc lập đặt tại Liễu Hà và 1 căn cứ thử nghiệm đặt tại Cát Lâm.

2. Đại quân khu Bắc Kinh

 Đại quân khu Bắc Kinh (Beijing)
Căn cứ của đại quân khu này đặt tại thủ đô Bắc Kinh với 3 tập đoàn quân là: Tập đoàn quân số 27 đặt căn cứ tại Thạch Gia Trang, Hà Bắc; Tập đoàn quân số 38 Bộ binh cơ giới đặt căn cứ tại Bảo Định, Hà Bắc; Tập đoàn quân số 65 đặt căn cứ tại Trương Gia Khẩu, Hà Bắc.

Đại quân khu Bắc Kinh có 1 Quân đoàn không quân hỗn hợp số 10 (căn cứ đặt tại Đại Đồng, Sơn Tây); Sư đoàn tiêm kích số 7 được trang bị máy bay J-11 và J-7 (căn cứ đặt tại Trường Gia Khẩu, Hà Bắc); Sư đoàn tiêm kích số 15 được trang bị máy bay J-7C/D (căn cứ đặt tại Đường Sơn); Sư đoàn tiêm kích số 24 được trang bị máy bay J-7, J-8I (căn cứ đặt tại Dương Thôn); Sư đoàn vận tải số 34 đặt căn cứ tại Bắc Kinh; Trung tâm Huấn luyện và Bay thử nghiệm đặt tại Thương Châu, Hà Bắc.

Về Lực lượng tên lửa chiến lược, Đại quân khu Bắc Kinh có 1 lữ đoàn đặt tại Thiên Tân và 1 Trung tâm thử nghiệm đặt tại Ngũ Trại, Thái Nguyên.

Trong số 7 đại quân khu của Trung Quốc, 2 đại quân khu được đánh giá mạnh nhất là Thẩm Dương và Bắc Kinh. Cả 2 đại quân khu này đều nằm ở phía Bắc Trung Quốc. Trong khi đó, 2 đại quân khu sát biên giới phía Bắc nước ta là Thành Đô và Quảng châu.

Tập đoàn quân số 38 của Đại quân khu Bắc Kinh là đơn vị thường xuyên tiến hành các hoạt động nghiên cứu, chế tạo và thử nghiệm các loại vũ khímới cũng như phương pháp ứng dụng và tổ chức. Pháo binh của Tập đoàn quân số 38 được tự động hóa hoàn toàn và có độ chính xác không hề thua kém pháo binh của Mỹ.

Riêng sư đoàn tăng số 6 trực thuộc Tập đoàn quân số 38 cũng được tự động hóa hoàn toàn và trang bị loại tăng hiện đại Type-96. Tốc độ tấn công của Tập đoàn quân số 38 lên đến 1.000km/tuần (150km/ngày đêm). Tập đoàn quân số 38 cũng là nơi có Lữ tên lửa phòng không số 4, được coi là lữ tên lửa phòng không hiện đại nhất với các tiểu đoàn tổ hợp tên lửa phòng không Tor.

3. Đại quân khu Lan Châu
 Đại quân khu Lan Châu (Lanzhou)
Bộ Tư lệnh Đại quân khu Lan Châu đặt tại Lan Châu với 2 tập đoàn quân là: Tập đoàn quân số 21 Bộ binh cơ giới có căn cứ tại Bảo Kê, Thiểm Tây và Tập đoàn quân số 47 có căn cứ tại Tây An, Thiểm Tây.

Về không quân, Đại quân khu Lan Châu có: Sư đoàn ném bom số 25 trang bị máy bay H-6 đặt căn cứ tại Ngân Xuyên, Hồi Ninh Hạ; Sư đoàn ném bom số 36 trang bị máy bay H-6 đặt căn cứ tại Lâm Thông; Sư đoàn tiêm kích số 6 được trang bị máy bay J-11, J-7 và J-6, đặt căn cứ tại Ngân Xuyên, Hồi Ninh Hạ; Sư đoàn tiêm kích số 37 với máy bay J-6, J-7 và J-7E đặt căn cứ tại Urumchi, Tân Cương.

Lực lượng tên lửa chiến lược của Đại quân khu Lan Châu có 1 lữ đoàn nằm cách Tây An 10km về phía Nam và 1 Căn cứ thử nghiệm vũ khí hạt nhân tại Lốp Nho, Tân Cương.

4. Đại quân khu Tế Nam

 Đại quân khu Tế Nam (Jinan)

Đại quân khu Tế Nam đặt căn cứ tại Tế Nam và có 3 tập đoàn quân, gồm: Tập đoàn quân số 20 đặt căn cứ tại Khai Phong, Hà Nam; Tập đoàn quân số 26 Bộ binh cơ giới đặt căn cứ tại Lai Dương, Sơn Đông và Tập đoàn quân 54 Bộ binh cơ giới đặt căn cứ tại Tân Hương, Hà Nam.

Không quân của Đại quân khu Tế Nam có Sư đoàn cường kích số 5 trang bị máy bay Q-5 đặt căn cứ tại Uy Huyện; Sư đoàn tiêm kích số 12 trang bị máy bay J-6, J-7 đặt căn cứ tại Tế Nam, Sơn Đông; Sư đoàn tiêm kích số 19 với máy bay J-11 đặt căn cứ tại Trịnh Châu, Hà Nam.

Đại quân khu chỉ có 1 lữ đoàn tên lửa chiến lược thuộc Lực lượng tên lửa chiến lược đặt tại Trịnh Châu, Hà Nam.

5. Đại quân khu Nam Kinh (đối diện Đài Loan)
  Đại quân khu Nam Kinh (Nanjing)

Đại quân khu Nam Kinh có căn cứ Bộ Tư lệnh đặt tại Nam Kinh với 3 tập đoàn quân: Tập đoàn quân số 1 đặt căn cứ tại Hàng Châu, Chiết Giang; Tập đoàn quân số 31 đặt căn cứ tại Chương Phố, Phúc Kiến; Tập đoàn quân số 12 đặt căn cứ tại Hợp Phì, An Huy.

Không quân của Đại quân khu Nam Kinh có: Quân đoàn không quân tiêm kích số 8 đặt căn cứ tại Phúc Châu, Phúc Kiến; Sư đoàn tiêm kích số 26 trang bị máy bay J8II đặt căn cứ tại Sàng Minh, Thượng Hải; Sư đoàn tiêm kích số 14 được trang bị máy bay J-7 đặt căn cứ tại Nam Xương, Giang Tây; Sư đoàn cường kích số 28 được trang bị máy bay Q-5 đặt căn cứ tại Hàng Châu, Chiết Giang; Sư đoàn tiêm kích số 29 với các loại máy bay J-13, J-7/B/D đặt căn cứ tại Huyện Hàng, Chiết Giang; Sư đoàn tiêm kích số 3 với máy bay J-13, J-7E đặt căn cứ tại Vu Hồ, An Huy; Sư đoàn ném bom số 10 trang bị máy bay H-6 đặt căn cứ tại An Khánh, An Huy.

Lực lượng tên lửa chiến lược của Đại quân khu Nam Kinh rất mạnh với Lữ đoàn tên lửa 815 trang bị tên lửa M-9 và M-11 đặt căn cứ tại Lạc Bình, Giang Tây và 1 trung đoàn tên lửa độc lập đặt căn cứ tại An Huy.
Đại quân khu Nam Kinh cũng là nơi tập trung lực lượng thủy quân lục chiến đông đảo và số lượng xe thiết giáp lội nước đông đảo. Ngoài ra, Đại quân khu Nam Kinh là nơi duy nhất có sư đoàn tăng lội nước Type-63 cùng lực lượng đặc nhiệm đổ bộ tinh nhuệ.

Việc bố trí lực lượng theo lãnh thổ của Trung Quốc được rất nhiều nước quan tâm, đặc biệt là các nước láng giềng. Trong số các cường quốc quân sự, Nga là nước có đường biên giới với Trung Quốc. Trong  những năm gần đây, thậm chí nhiều nhà quân sự Nga công khai bày tỏ lo ngại đối với việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh cho 2 đại quân khu Bắc Kinh (giáp vùng Siberia) và Thẩm Dương (giáp Vladivostok).

Trong phần sau, tác giả sẽ cùng quý vị độc giả tìm hiểu bố trí cụ thể của 2 đại quân khu phía Nam của Trung Quốc là Đại quân khu Quảng Châu và Đại quân khu Thành Đô. Đây là 2 đại quân khu giáp biên giới Việt Nam

Dưới đây là chùm ảnh về hoạt động quân sự của một số quân khu Trung Quốc
Chùm ảnh tập trận của Đại quân khu Thẩm Dương:






Chùm ảnh tập trận của Đại quân khu Nam Kinh:











Chùm ảnh tập trận của Đại quân khu Lan Châu với những binh sĩ làm nhiệm vụ chống khủng bố:






(Theo Bee.net)
 

Trung Quốc chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thôn tính Việt Nam

Với Trung Quốc không bao giờ có thân thiện. Với một nước nhỏ yếu hơn như Việt Nam thì lại càng không bao giờ. Lịch sử hàng nghìn năm, chứng minh Trung Quốc chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thôn tính Việt Nam. Và trong nhãn quan của nhà cầm quyền Trung Quốc, Việt Nam chưa bao giờ là quốc gia độc lập.



Lịch sử cũng cho thấy, Việt Nam chưa bao giờ thoát ra khỏi vòng kiềm tỏa của Trung Quốc, cả nghìn năm phong kiến, lẫn hơn 60 năm cộng sản. Hãy nhớ lại một sự thật, Hoàng đế Quang Trung sau khi chôn hai mươi vạn quân Thanh tại Gò Đống Đa, vì cố gắng tìm kiếm “hòa hoãn” với Trung Quốc, mà phải chết bất đắc kỳ tử vì chiếc áo Cẩm bào tẩm thuốc độc, do “Thiên triều” ban tặng. Đó là cái chết không thể tránh khỏi mà “Thiên triều” dành tặng cho mọi sự “phản bội” của chư hầu, theo tập quán của mọi triều đại Trung Hoa. “16 chữ vàng” và “4 tốt” chỉ là cái vòng kim quy trên đầu Tôn Ngộ Không, mà Trung Quốc thâm độc chụp lên đầu Việt Nam.

- Trung Quốc là quốc gia duy nhất ủng hộ cả về kinh tế, quân sự và chính trị cho chế độ độc tài quân sự Mianmar. Giống như từng ủng hộ chế độ diệt chủng Pol Pot trước đây và chế độ diệt chủng Soudan hiện nay. Dưới chiêu bài “không can thiệp nội bộ”, Trung Quốc đã lợi dụng cơ hội tẩy chay trừng phạt của phương Tây, để lấn đất và áp đặt ảnh hưởng. Nhưng không phải của cho không, Trung Quốc kiểm soát hoàn toàn 2100 km biên giới, cảng nước sâu Hyaukphyu, hai tuyến đường ống dầu lửa và khí đốt, nhà máy sản xuất vũ khí, căn cứ hải quân Mergui và Thewla, xây dựng sân bay trên đảo Perles. Người Trung Quốc chiếm 30% dân số tại Mandalay, thành phố lớn thứ hai của Mianmar, và chiếm một nửa dân số tại Lashio. (Theo EchoGeo và Statistic.org).

- Thành phố biên giới Boten của Lào nằm trên xa lộ N°3 nối Vân Nam với Bangkok đã hầu như Hán hóa hoàn toàn. 90% dân số thành phố là người Trung Quốc đến từ Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây và Hải Nam.
“Thành phố nhập vào múi giờ của Bắc Kinh, sử dụng đồng Yuan và tiếng quan thoại. Điện lưới và điện thoại nối với mạng của Vân Nam. Ổ cắm điện theo tiêu chuẩn Trung Quốc. Thổ dân được đẩy ra vùng ven. Trên đường phố, gái mại dâm, bia và thuốc lá của Trung Quốc”.
100 triệu Mỹ kim hỗ trợ xây dựng sân vận động Sea Games Viantian được đổi lấy quyền sử dụng 1650 ha đất ngoại ô thủ đô. (báo Courrier International.com)

- Cùng với các công ty khai mỏ, công ty trồng rừng, công ty dệt may, công ty làm đường, hơn một triệu người Trung Quốc tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến đã di chuyển sang Campuchia từ 2001 đến nay, tăng số Hoa kiều thường trú tại Phnom Penh lên 450,000 người năm 2006. Nhưng không ai biết được có bao nhiêu người Trung Quốc hiện có mặt tại những vùng rừng hẻo lánh phía đông bắc, giáp Việt Nam. Trung Quốc kiểm soát 100% khai thác rừng và xuất khẩu gỗ, 40% xuất khẩu dệt may và giày dép, toàn bộ hệ thống xa lộ và đường sắt. (Etude du CERI N° 113, 02/2007).

- Trung Quốc đã đưa hàng vạn người vào Tây Nguyên Việt Nam trong dự án Bauxite, áp đặt sức mạnh lấn từng mét đất chiếm trong hiệp định biên giới trên bộ, làm xa lộ Vân Nam – Hải Phòng, xa lộ Bằng Tường – Hà Nội, mua chuộc và hối lộ để thuê đất trồng rừng của 10 tỉnh biên giới, vẽ bản đồ hình lưỡi bò trên biển đông, bắt bớ , bắn chết ngư dân, gây rối loạn chủ quyền, tăng sức mạnh quân sự biển, lập căn cứ hải quân Trường Sa, căn cứ tầu ngầm Hải Nam, tăng cường hoạt động của Hoa kiều lũng đoạn chính trị tại TP.HCM, phân hóa, chia rẽ bằng nhiều thủ đoạn nôị bộ lãnh đạo đảng cộng sản, mua chuộc và khống chế, kiểm soát hoạt động tình báo của Nguyễn Chí Vịnh, biến Tổng cục II, thành công cụ kiểm soát hoạt động và đe dọa an ninh cá nhân của từng lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Không còn nghi ngờ gì nữa, âm mưu thôn tính Việt Nam đã quá rõ. Với một chính quyền độc đảng, lệnh phát động chiến tranh với Việt Nam có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

- Trung Quốc cần và thích quan hệ với các chính phủ độc tài và độc đảng, vì chỉ cần nắm quyền kiểm soát một nhóm người chóp bu của quyền lực, đủ để Trung Quốc kiểm soát mọi chính sách, khai thác và chiếm đoạt mọi lợi ích. Đảng Cộng sản Trung Quốc cấm báo chí Việt Nam đăng những tin xấu về hàng hóa Trung Quốc, về việc lấn đất trong các hiệp định cắm mốc trên bộ, về chiến tranh xâm lược 1979, về cướp đoạt và giết hại ngư dân Việt Nam, và vì phải giữ “4 tốt” và “16 chữ vàng”, (tất nhiên còn vì nhiều lý do bí ẩn khác), Chính phủ Việt Nam chấp hành răm rắp và vô điều kiện các mệnh lệnh đó, nhiều khi chỉ là một cú điện thoại từ bộ ngoại giao. Sự nhân nhượng xúc phạm Quốc thể này, chính phủ Việt Nam luôn bưng bít dư luận bằng hai chữ “nhạy cảm”, mà chẳng ai hiểu nghĩa của hai chữ đó thật sự là gì. Nhưng Trung Quốc bất lực với các nền dân chủ. Bởi vì, khác với nền độc tài, muốn kiểm soát một quốc gia phải kiểm soát được ý chí của cả một dân tộc, mà trên Trái đất này, không có dân tộc nào “chịu” được người Trung Quốc. Tiền của Trung Quốc đang len vào khắp mọi nơi, và sau những đồng tiền bất chấp đạo lý ấy là những cuộc di dân ồ ạt.

- Tư tưởng Bá chủ Đại Hán hẹp hòi, ích kỷ và thâm độc, lòng tham vô đáy, mưu lược tiểu nhân, nhẫn tâm và phi đạo đức – dân tộc Trung Hoa là một dân tộc duy nhất mà mọi thuộc tính đều đạt tới tột đỉnh của nó, từ trong môi trường khốc liệt của những cuộc nội chiến liên miên mấy nghìn năm. Áp lực sống còn dai dẳng, mối quan hệ thù địch với láng giềng, mối đe dọa sinh tử đến từ ngay những người thân…đã hun đúc nên con người Trung Hoa, giải thích thứ triết lý “thà phụ người, chứ không để người phụ ta” nổi tiếng của Tào Tháo. Người Trung Quốc không từ một việc gì, để đạt được mục đích. Trong lịch sử, người Trung Hoa là dân tộc duy nhất trên thế giới từng đổi con cho nhau để ăn thịt. Kỹ thuật tra tấn lấy cung, chưa nước nào trên thế giới đạt tới trình độ mà Trung Quốc có từ hai nghìn năm trước, tái sử dụng và hoàn thiện trong “cách mạng văn hóa”. Mao Trạch Đông úp mở: “mục đích biện minh cho hành động” còn Đặng Tiểu Bình thì nói toạc ra là: “mèo trắng hay mèo đen, miễn là bắt được chuột”. Loại “thương hiệu” này không thể có khách hàng. Trong tay độc tài, một dân tộc như vậy vĩnh viễn không thể tìm được bạn.

- Không có một quốc gia nào có chính sách ngoại giao thân thiện và tin cậy với Trung Quốc. Người ta chỉ “chơi” với Trung Quốc vì “bắt buộc”, hoặc vì một lợi ích nào đó không thể tránh khỏi, nhưng luôn phải đề phòng và lo sợ. Sự lớn mạnh của Trung Quốc độc đảng đang là sự lo ngại của cả thế giới, mà trước hết là các quốc gia trên bán đảo Đông Dương, rồi đến các nước ASEAN. Không có gì cưỡng lại được với một Trung Quốc mà một dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới đang nằm trong tay chỉ một nhóm ít người. Bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra, nếu quy trình ra mệnh lệnh không phụ thuộc và không do ý chí của toàn dân quyết định.

- “Mọi thương vụ với Trung Quốc đều có tham nhũng và lừa gạt” – báo “Les Afriques” đã viết như vậy- Tất cả các dự án gọi thầu quốc tế có Trung Quốc tham dự, kết quả trúng thầu đều rơi vào tay Trung quốc. Giá đấu thầu đều rất thấp, không quốc gia nào chịu nổi, nhưng chất lượng sản phẩm, chất lượng công nghệ, chất lượng thiết bị sẽ bị bóp méo dần và giá quyết toán đều vượt nhiều lần so với dự toán ban đầu. Mọi thứ đều được tháo gỡ bằng “kỹ thuật” “hai bên cùng có lợi”, nhưng thiệt cho bên thứ ba là nhà nước, tức là thiệt cho dân.

- Không có gì có lợi cho Việt Nam trong quan hệ với một láng giềng như Trung Quốc. Tài nguyền sẽ mất dần, thâm hụt ngoại thương không có lối thoát và không bao giờ giảm, nợ quốc gia sẽ không ngừng tăng và không phương cứu chữa, thị phần quốc tế của Việt Nam sẽ luôn mất dần vì không chịu nổi kiểu cạnh tranh (hy sinh môi trường và bảo hiểm xã hội) của Trung Quốc. Việt Nam sẽ là mảnh đất tiêu thụ hàng giả, hàng độc hại bị trả lại từ các thị trường khác và ồ ạt trốn thuế qua biên giới Trung Việt. Việt Nam sẽ trở thành bãi rác các sản phẩm công nghệ lỗi thời, lạc hậu được thải ra từ nền kinh tế Trung Quốc.

(Theo @1nguoiviet)

28/6/10

VN phản đối Trung Quốc du lịch hải đảo

Chính phủ Việt Nam phản đối kế hoạch của Trung Quốc phát triển du lịch đảo Hải Nam từ nay đến 2020 trong một đề xuất gồm cả các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

  Hải Nam hiện đã là khu du lịch lớn của Trung Quốc

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, Nguyễn Phương Nga tái khẳng định "chủ quyền không thể tranh cãi" của Việt Nam trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo hãng tin Bloomberg ngày 25 tháng 6, một tuyên bố trên trang web của chính phủ Việt Nam nói quan chức Bộ Ngoại giao đã gặp đại sứ quán Trung Quốc hôm 22 tháng 6.
Phía Trung Quốc đã thông qua "Cương yếu Quy hoạch xây dựng và phát triển đảo du lịch quốc tế Hải Nam 2010-2020", trong đó xác định Khu tổ hợp chức năng biển do tỉnh Hải Nam, Trung Quốc quản lý bao gồm cả Trường Sa và Hoàng Sa.

Dự án này nêu ra kế hoạch tăng cường mở tuyến du lịch đường không và đường biển ra Hoàng Sa mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, đồng thời khuyến khích việc đăng ký quyền sử dụng đối với các đảo không người ở.
Theo Bộ Ngoại giao Việt Nam thì "Những việc làm đó của phía Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, đi ngược lại nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước".

Ngoài ra, bà Nguyễn Phương Nga cũng nói việc làm của phía Trung Quốc "trái với tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) mà Trung Quốc đã cùng với các nước ASEAN ký kết năm 2002".
Bà Nguyễn Phương Nga:"Những việc làm đó của phía Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam"
Bà nhắc rằng điểm 5 của DOC khẳng định: "Các bên cam kết đảm bảo tự kiềm chế, không áp dụng các hành động mở rộng, làm phức tạp hóa tranh chấp và ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định, bao gồm không áp dụng các hành động cư trú trên các đảo, đá ngầm, bãi cát hoặc kết cấu tự nhiên khác hiện không có người cư trú, và xử lý các tranh chấp đó bằng phương thức mang tính xây dựng".
Phía Việt Nam cũng yêu cầu Trung Quốc "chấm dứt ngay những việc làm vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thực hiện nghiêm túc DOC".
Các hãng thông tấn trích lời trang web Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng nói đại diện của Ḅô đã đến gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc để phản đối hôm 22 tháng 6 vừa qua.

Đã có từ lâu
Tân Hoa Xã cho hay kế hoạch phát triển và khai thác tiềm năng của đảo Hải Nam đến 2020 đã được Quốc vụ viện và Quốc hội nước này thông qua, với mục tiêu biến hòn đảo thành điểm du lịch quốc tế.
Trung Quốc cũng muốn tăng đóng góp của du lịch vào GDP của Hải Nam lên 12 phần trăm trong vòng 10 năm tới.

Cho đến năm 2008, thu nhập của đảo này là 145,9 tỷ Nhân dân tệ, tương đương 21,36 tỷ USD.
Quốc vụ viện Trung Quốc cũng tuyên bố biến Hải Nam thành "cơ sở sản xuất nông nghiệp, phát triển các nguồn lợi và dịch vụ ngoài biển Nam Hải'.

Báo chí Trung Quốc đã đưa tin về kế hoạch phát triển toàn diện du lịch Hải Nam ít nhất từ tháng 1 năm nay, trước khi kế hoạch này được thông qua gần đây.

 Một nhà giàn trên mỏm đá do Việt Nam làm chủ thuộc vùng Trường Sa

Phía Trung Quốc cũng không né tránh nói đến Việt Nam trong bối cảnh đó.
Bí thư Đảng của Hải Nam, ông Vệ Lưu Thành được trích lời từ hôm 6 tháng 1 năm nay, nói:
"Chúng tôi phát triển du lịch, kinh tế và xã hội chỉ trên lãnh thổ và lãnh hải của mình, nên tôi không nghĩ điều đó sẽ có tác động đến ai khác".

Tại cuộc họp báo ở Bắc Kinh, ông Vệ, bản thân là một doanh gia, cũng được hỏi về chuyện Việt Nam nêu rằng sự phát triển ở Hải Nam có ảnh hưởng đến họ,

Ông Vệ trả lời rằng "Chúng tôi luôn coi các nước láng giềng là bạn và sẽ không làm hại đến quyền lợi của các nước hay nhân dân nước khác để hoàn tất kế hoạch phát triển của mình."

Tuy nhiên, quan chức này không nhắc gì đến các vụ tàu tuần ngư của Trung Quốc đâm vào thuyền cá của ngư dân Việt Nam trên Biển Đông, chuyện họ bị bắt giữ và phải chịu tiền phạt.

Đảo Hải Nam, bên cạnh du lịch cũng còn là căn cứ hải quân của Trung Quốc với mục tiêu kiểm soát các vùng biển phía Tây Thái Bình Dương.

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông hiện nằm ở vùng tranh chấp chủ quyền toàn bộ hoặc một phần giữa Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Brunei, Philippines và Malaysia.

Quần đảo Hoàng Sa đã nằm trong tay Trung Quốc từ năm 1974 khi hải quân nước này chiếm các đảo từ tay Việt Nam Cộng hòa.


Theo BBC Tiếng Việt

Đọc tiếp: Nói với con về Tổ Quốc ; Hội nghị Diên Hồng ; Diệt Thù Trên Hoàng Sa - Trường Sa

Dân biểu người Mỹ gốc Việt đến Hà Nội

Đoàn dân biểu Mỹ vừa có chuyến thăm ngắn ngày tới Việt Nam.
Phái đoàn gồm hai hạ nghị sĩ Dân chủ, là Eni F. H. Faleomavaega và Mike Honda.
Đoàn còn có ông Joseph Cao, dân biểu đảng Cộng hòa. 

 Ông Joseph Cao Quang Ánh gọi mục đích của chuyến đi là “thăm viếng và tìm hiểu.”

Josseph Cao, hay Cao Quang Ánh là dân biểu người Mỹ gốc Việt.
Ông Ánh trở thành dân biểu Quốc hội khóa 111 của Hoa Kỳ ngày 6 tháng Giêng năm 2009.
Hiện nay ông Ánh là thành viên của Ủy ban An ninh quốc nội, Vận tải và Cơ sở hạ tầng của Quốc hội Mỹ.
Báo Việt Nam nói ông Ánh thăm Việt Nam với tư cách dân biểu. Ông tới Hà Nội và tp Hồ Chí Minh. Mục đích của chuyến đi, theo ông, là “thăm viếng và tìm hiểu.”

Tại Việt Nam đoàn dân biểu Hoa Kỳ đã được ông Nguyễn Quang Xuân, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội tiếp.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Nguyễn Thanh Sơn cũng có buổi tiếp xúc với đoàn.
Trước ngày tiếp ông Ánh, ông Sơn cho báo chí biết ông sẵn sàng nói chuyện thẳng thắn với vị nghị sĩ gốc Việt.
"Tôi sẵn sàng trao đổi thắng thắn các vấn đề cùng quan tâm và còn có bất đồng", ông Sơn được mạng VietnamNam Net trích lời.

Tường thuật về buổi gặp, báo Việt Nam đưa tin ông Nguyễn Thanh Sơn “muốn hạ nghị sĩ Cao trở lại thăm Việt Nam, có những nhìn nhận thực tế, để tiếp tục trao đổi.”

Dân biểu Joseph Cao Quang Ánh: "Nguyện vọng của tôi nhiều lúc không song hành với đường lối của chính phủ Việt Nam, tôi hy vọng chúng ta tiếp tục làm việc với nhau"
“Lãnh đạo Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài mong muốn ông Cao hợp tác trong chuyến đi của người đứng đầu Ủy ban Việt Kiều đến Mỹ để gặp gỡ, đối thoại với bà con kiều bào,” tin của VietnamNam Net đưa. 

Hy vọng
Ông Joseph Cao, trong khi đó “hy vọng hai chính phủ Việt Nam và Mỹ sẽ tiếp tục làm việc với nhau.”
“Mặc dù có nhiều lúc chúng ta sẽ bất đồng ý kiến trong nhiều vấn đề, điều đó không có nghĩa là chúng ta không thể tiếp tục làm việc cùng nhau,” ông Cao được trích lời trong cuộc phỏng vấn từ Hà Nội.
“Có nhiều nguyện vọng của tôi nhiều lúc không song hành với đường hướng của chính phủ Việt Nam nhưng tôi hy vọng chúng ta có thể tiếp tục làm việc với nhau.”

Trong các cuộc phỏng vấn với báo chí hải ngoại trước đây dân biểu Cao Quang Ánh gọi chủ đề tự do tôn giáo, nhân quyền tại Việt Nam là những điều mà cử tri người Mỹ gốc Việt muốn ông phải lưu ý trong nhiệm kỳ nghị sĩ của mình.
Tháng Tư năm nay ông Ánh đứng tên chung trong dự luật yêu cầu đưa Việt Nam vào lại danh sách các nước cần quan tâm về vi pham nhân quyền và các quyền căn bản khác (CPC).

Trong chuyến thăm Việt Nam lần này, ông Ánh gọi bất đồng ý kiến là “sự tự nhiên.” Mục đích chính theo ông, là “hãy làm việc cùng nhau vì mục triêu phát triển của đất nước và người dân.”
Trước đây dân biểu Cao Quang Ánh từng thăm Việt Nam hai lần, 1994 và 2001. Có lúc ông muốn thăm Việt Nam dưới tư cách dân biểu, để quan sát đời sống người dân và “nói chuyện về giáo sứ Thái Hà.

 Theo BBC Tiếng Việt

Quốc hội Việt Nam biến chuyển

Khi các nhà lập pháp cộng sản của Việt Nam bác bỏ dự án trị giá 56 tỷ USD xây đường sắt cao tốc gây nhiều tranh cãi của chính phủ hồi tuần trước, nhiều người Việt khen ngợi họ như những người đại diện dũng cảm cho nhân dân.


Các nhà quan sát khác, dù coi sự kiện bỏ phiếu phản đối là đáng kể, nhưng không nhanh chóng coi đó là bước tiến dân chủ.
Trong một quyết định khá hiếm hoi hôm thứ Bảy, quốc hội Việt Nam không thông qua dự án đường sắt cao tốc Hà Nội - Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu chính phủ nghiên cứu thêm các giải pháp giao thông.
"Theo những gì tôi biết, việc quốc hội bỏ phiếu bác dự thảo tàu cao tốc là lần đầu tiên cơ quan này trả lại một dự án quan trọng của chính phủ," lời GS Ben Kerkvliet, chuyên gia Việt Nam học nghỉ hưu từ Đại học quốc gia Úc.
"Họ đã bước qua một ngưỡng quan trọng trong việc phát triển cơ quan chính trị quốc gia."

GS Ben Kerkvliet: "Họ đã bước qua một ngưỡng quan trọng trong việc phát triển cơ quan chính trị quốc gia."
Một số người Việt Nam nói các đại biểu - hơn 90̀̀% là đảng viên cộng sản - đã thể hiện họ thực sự hành động vì lợi ích của nhân dân.
Độc giả gửi ý kiến lên trang mạng báo VietnamNet khen ngợi các nhà lập pháp là "dũng cảm" và "đại diện xứng đáng".
"Nhiều người Việt Nam hào hứng quá mức" về kết quả biểu quyết, theo ông Lê Đăng Doanh, một cựu cố vấn kinh tế cho chính phủ.
"Họ tin rằng đây là vụ việc chưa từng có và có thể tạo ra tiền lệ cho hoạt động của quốc hội trong tương lai."
Họ lầm, ông Doanh tin vậy.
Ông khen ngợi các đại biểu là "can đảm" và quyết định của họ là quan trọng, nhưng bản thân dự án đường sắt là vụ việc rất hiếm hoi mà bộ chính trị - cơ quan quyền lực nhất Việt Nam - không ủng hộ.
"Đó là lý do tại sao quốc hội được tự do biểu quyết," ông Doanh giải thích.
Việt Nam là nước chỉ có duy nhất một đảng lãnh đạo và những ai đòi đa đảng đều bị bỏ tù.

'Mạo hiểm kinh tế'
Hầu hết 500 đại biểu quốc hội là đảng viên cộng sản, và nếu bộ chính trị ra nghị quyết thì họ sẽ phải thi hành, ông Doanh giải thích.
"Điều dĩ nhiên là bộ chính trị cẩn thận" với dự án này, ông Doanh nói, bản thân ông là người kêu gọi "khẩn cấp" bác bỏ dự án tàu cao tốc.

 "Đây thực sự là một ảnh hưởng tâm lý mạnh"

"Đây không phải là dự án mà tất cả các lãnh đạo cao cấp nhất đều ủng hộ," theo ông David Koh, chuyên gia cao cấp tại Việt nghiên cứu Đông nam Á ở Singapore.
Theo kế hoạch của chính phủ, tuyến đường sẽ trải dài 1.570km và nối hai thành phố lớn của Việt Nam với tốc độ 300km/h.
Kế hoạch đó dự kiến sẽ khánh thành đường sắt vào năm 2035 với chi phí lên đến khoảng 60% tổng thu nhập quốc dân.
"Các đại biểu quốc hội đã tháo bỏ đất nước khỏi một mạo hiểm kinh tế lớn", đại biểu quốc hội Nguyễn Minh Thuyết nói với AFP.
Ông nhận được các cú điện thoại và tin nhắn ủng hộ sau cuộc biểu quyết, mà theo ông đã thể hiện xu hướng "dân chủ hơn" trong hàng ngũ các đại biểu.
Giới quan sát nói quốc hội trong những năm qua ngày càng có thêm vai trò trong việc điều hành đất nước, có thêm tiếng nói trong các vấn đề lớn, và thậm chí bác bỏ các bổ nhiệm bộ trưởng.

Tiến bộ dân chủ?
Đây có vẻ là lần đầu tiên, dù vậy, các nhà lập pháp bác bỏ một dự án kinh tế quan trọng của chính phủ, ông Thuyết nói.
Bài học là "thực sự có rất nhiều chỗ" để người ta tác động vào một số vấn đề nhất định, dù không phải các vấn đề như là tranh chấp biển với Trung Quốc, theo ông Koh.
"Tiến bộ dân chủ? Tôi không biết chúng ta có thể đưa lập luận xa đến như vậy hay không," ông nói.
Tổ chức Việt Tân có trụ sở ở Hoa Kỳ, bị chính phủ Hà Nội coi là "khủng bố" nói quyết định bỏ phiếu ở quốc hội là kết quả của sức ép công cộng.
Họ nói vụ việc cho thấy tầm quan trọng của việc đẩy mạnh tự do phát biểu và tự do Internet ở Việt Nam, mà hiện đang bị cáo buộc có thêm quan điểm cứng rắn đối với các trang Internet nhạy cảm về chính trị.
"Dân blogger và giới trí thức đã có nhiều tuyên bố mạnh bất thường trên mạng" phản đối dự án đường sắt, theo Việt Tân.
Nhà kinh tế Lê Đăng Doanh thì nói dân chúng bây giờ tin rằng quốc hội lắng nghe quan điểm của họ.
"Đây thực sự là một ảnh hưởng tâm lý mạnh," ông nói.

Theo BBC Tiếng Việt

TQ trao viện trợ quân sự cho Campuchia

Trung Quốc vừa chuyển giao 257 xe tải quân sự trị giá nhiều triệu đôla Mỹ cho Campuchia, trong khi Hoàng gia nước này thăm Việt Nam.

Loạt xe quân sự này nằm trong gói viện trợ quân trang quân dụng trị giá 100 triệu Nhân dân tệ (tương đương 14 triệu đôla Mỹ) mà Bắc Kinh cam kết cho Phnom Penh mà "không đi kèm điều kiện" gì từ hồi tháng Năm.

Truyền thông Campuchia cho hay trong số 257 xe có "200 xe tải, hai xe chở tăng, 30 xe quân sự loại nhỏ, 20 xe cứu thương quân y,và năm xe sửa chữa lưu động."

 Thủ tướng Hun Sen được cho là đang xích lại gần Trung Quốc


Ngoài số xe mà mục tiêu là để "phục vụ nhu cầu vận tải của quân đội Campuchia", Trung Quốc còn tặng thêm 50.000 bộ quân phục.
Trung Quốc đã hào phóng quyết định tặng xe và quân trang cho Campuchia trong cuộc gặp giữa Thủ tướng Campuchia Hun Sen và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào bên lề Expo Thượng Hải vào tháng trước.

Lễ trao xe tải được tiến hành tại căn cứ không quân Phnom Penh vào thứ Tư tuần rồi.
Báo chí hai bên trích lời cố vấn riêng của ông Hun Sen, Sri Thamrong, bày tỏ sự biết ơn của Campuchia trước các trợ giúp kinh tế và quân sự mà Bắc Kinh dành cho chính phủ Campuchia trong thời gian gần đây.

Ông Sri Thamrong nói: "Viện trợ của Trung Quốc không chỉ giúp Campuchia phát triển kinh tế, mà quan trọng hơn cả, sẽ giúp chúng tôi củng cố chủ quyền và độc lập của Campuchia."
Một ngày sau lễ trao viện trợ, Trung Quốc và Campuchia cũng ký biên bản ghi nhớ ( MOU) về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực cầu đường và xây dựng cơ sở hạ tầng.

Tới nay, Trung Quốc đã giúp xây dựng ba chiếc cầu và 1.500 km đường xá cho Campuchia, tổng trị giá tới gần 1 tỷ đôla.

Quan hệ khu vực

Loạt xe cam-nhông mà Trung Quốc tặng Campuchia được tin là để thay cho viện trợ quân sự mà Hoa Kỳ đã hứa cấp cho Campuchia nhưng sau đình chỉ để phản đối việc Phnom Penh trục xuất 20 người tỵ nạn Uighur  (1) (2) (3) (4) (5) (6) từ Trung Quốc hồi tháng 12 năm ngoái, nhân chuyến thăm của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Các bình luận gia nói Campuchia đang muốn bồi đắp quan hệ với Trung Quốc, vốn không giống các quốc gia phương Tây ở chỗ không hề chỉ trích Campuchia về tệ tham nhũng, thiếu dân chủ hay yếu kém về nhân quyền.
Cũng có ý kiến cho rằng Phnom Penh đang xích lại gần Bắc Kinh mà dần xa rời đồng minh lâu năm là Hà Nội.

Việt Nam đã can thiệp quân sự lật đổ chính quyền Pol Pot năm 1978, lập nên chính phủ do đảng Nhân dân Campuchia cầm đầu.
Thế nhưng gần đây, có tin nói chính phủ của Thủ tướng Hun Sen đã có một số chính sách khiến Hà Nội quan ngại, thí dụ ngừng ủng hộ việc đề cập chủ đề Biển Đông tại các cuộc họp Asean, gây khó cho nỗ lực quốc tế hóa chủ đề này của Việt Nam.

Một điều đáng chú ý là hoạt động viện trợ quân sự của Trung Quốc cho Campuchia diễn ra đúng lúc Quốc vương Campuchia Norodom Sihamoni cùng Cựu Quốc vương Norodom Sihanouk và Hoàng thái hậu thăm viếng Việt Nam.
Truyền thông Việt Nam chỉ nói hai bên cam kết tiếp tục thúc đẩy quan hệ truyền thống và sự tin cậy lâu bền.

Theo BBC Tiếng Việt

Đối thoại quốc phòng Việt-Ấn

Việt Nam và Ấn Độ vừa tiến hành đối thoại về chiến lược quốc phòng lần thứ năm tại New Delhi.

Được biết cuộc họp diễn ra trong ba ngày từ 23/06- 25/06.
Báo Việt Nam cho hay "hai bên đã trao đổi các vấn đề hợp tác quốc phòng trong thời gian vừa qua, đồng thời đề xuất phương hướng hợp tác trong thời gian tới".

 Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh là trưởng đoàn Việt Nam

Đoàn đại diện Bộ Quốc phòng Việt Nam do Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng, làm trưởng đoàn.
Đoàn Ấn độ do Thứ trưởng Bradeep Kumar làm trưởng đoàn.

Hai bên đã trao đổi về các vấn đề an ninh-quốc phòng cùng quan tâm, đặc biệt nhấn mạnh chương trình nghị sự cũng như cơ chế hợp tác trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN+, sẽ tổ chức lần đầu tại Hà Nội vào tháng 10 tới.

Lần đầu tiên các nước Asean cùng 8 đối tác khu vực sẽ có cuộc họp bộ trưởng quốc phòng ADMM+, dự kiến sẽ khai mạc ngày 12/10/2010 tại Hà Nội. Việt Nam muốn đề cập chủ đề Biển Đông tại cuộc họp này.

Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ A.K Anthony được dẫn lời nói "vui lòng" nhận lời mời tham dự ADMM+.

Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Robert Gates cũng nói ông sẽ tới Hà Nội vào tháng 10 để tham dự cuộc họp. Hiện Trung Quốc còn chưa xác nhận có tới hay không, nhưng các nguồn tin của BBC nói cường quốc châu Á này "không thể đứng ngoài một hoạt động khu vực quan trọng" như vậy.

Đối tác tiềm năng
Gần đây, Ấn Độ nổi lên như một đối tác tiềm năng của Việt Nam trong lĩnh vực quân sự-quốc phòng.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đã có chuyến thăm chính thức Ấn Độ hồi tháng 12/2009.

Tiếp theo đó, hai tàu hải quân Ấn Độ là khu trục hạm INS Ranjit và hộ tống hạm INS Kulish đã thăm Hải Phòng bốn ngày từ 30/05 tới 02/06.
Lần trước, hồi tháng 4/2009, hai khu trục hạm INS Mumbai và INS Ranveer cũng đã cập cảng Hải Phòng.

Đầu năm nay, Việt Nam cử đại diện tham gia diễn tập hải quân Milan-2010 do Ấn Độ tổ chức với các bài tập chống khủng bố tại các khu vực duyên hải và hải đảo.

Quân đội hai bên đã có cơ chế đối thoại thường xuyên và giới chuyên gia đánh giá rằng trong những năm gần đây, quan hệ quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ đang được phát triển không ngừng.

Ấn Độ được trông đợi sẽ huấn luyện thủy thủ đoàn cho các tàu ngầm mà Việt Nam đặt mua từ Nga trong tương lai.

Theo BBC Tiếng Việt

23/6/10

Từ một quyết định sáng suốt của Quốc hội, nghĩ về vai trò của nền báo chí cách mạng Việt Nam

Phạm Quốc Phong
 
Với nhiều tầng lớp nhân dân, ngày 19.06.2010 là một ngày lịch sử. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam chính thức bấm nút bác bỏ một siêu dự án gây nhiều lo ngại trên phạm vi toàn xã hội của Chính phủ.


Tin vui lan đi nhanh chóng khắp cả nước.
Niềm vui, sự tin tưởng lạc quan từ mọi tầng lớp nhân dân hướng đến sự lãnh đạo của Đảng, sự sáng suốt và quả cảm của Quốc hội.
Trong giờ khắc vui sướng, tin tưởng ấy, chắc chắn hàng triệu người dân Việt Nam đã nghĩ đến những ĐBQH tiêu biểu như Nguyễn Minh Thuyết,  Nguyễn Văn Thuận, Dương Trung Quốc và rất nhiều những đại biểu chân chính khác của Quốc hội, đã dũng cảm đứng về phía nhân dân, bấm nút bác bỏ dự án ĐSCT của Chính phủ. Nhiều người dân và độc giả đọc báo cũng nhớ đến các nhà khoa học, nhà tri thức như Lê Đăng Doanh, Trần Văn Thọ, Trần Đình Bá, Vũ Minh Khương v.v. và biết bao những nhà khoa học, nhà trí thức khác, với những nghiên cứu, những ý kiến tâm huyết sâu sắc, công phu và vô cùng thuyết phục được viết và đăng không mệt mỏi trên hầu hết các báo…

Và một lần nữa, trong niềm vui lớn này, chúng ta khẳng định công đầu của báo chí đã luôn cố gắng không ngưng nghỉ, đầy trách nhiệm và dũng khí khi liên tục đăng tải những ý kiến xác đáng, chân thành, thẳng thắn và thuyết phục của nhân dân, làm nhịp cầu nối quan trọng giữa nhân dân và các nhà hoạt động chuyên môn, hoạt động chính trị, các đại biểu của dân để dẫn đến quyết định sáng suốt và kịp thời của Quốc hội.
Thành công chung đó, có thể xem như một món quà lớn mà Báo chí dành tặng cho Nhân dân nhân ngày kỷ niệm năm nay của mình – 21.06. 2010.

Từ những cảm xúc tràn đầy ấy, xin được mạnh dạn viết ra đây một vài dòng suy nghĩ nhân sự kiện lịch sử này.

Báo chí Cách mạng Việt nam có lẽ chưa bao giờ có vị thế cao như  hiện nay trong xã hội.
Các sự kiện dồn dập gần đây cho thấy, là nhịp cầu kết nối hầu hết toàn bộ mọi nguồn thông tin của tất cả các lĩnh vực trong đời sống, báo chí thực sự là diễn đàn, là tai mắt, là tiếng nói của nhân dân, góp phần to lớn thực hiện nhiệm vụ vận hành, thúc đẩy đất nước phát triển.

Qua báo chí, mọi tầng lớp, mọi đối tượng xã hội được chắp nối ý tưởng cùng nhau, sát cánh bên nhau, chia sẻ những khó khăn vật chất, tinh thần, nối dài ý chí, nguyện vọng và trí tuệ tạo thành những lực lượng xã hội đáng kể, có sức mạnh và vai trò không thể phủ nhận thể hiện trong hầu hết những sự kiện trọng đại của đất nước.
Trong bối cảnh xã hội có nhiều chuyển biến phức tạp hiện nay, vai trò của báo chí ngày càng thể hiện sâu sắc và mạnh mẽ. Vai trò đó, có thể kể đến qua việc phân tích một vài khía cạnh sau đây:

Đồng thuận xã hội và mối quan hệ với lợi ích nhóm
Từ hệ thống chính trị hiện hành, chúng ta đã quen tai khi nghe đến cụm từ “đồng thuận xã hội” của một vài vị lãnh đạo khi nói về một chủ trương nào đó được đưa ra một cách vội vã, sơ sài và những hiệu quả dường như mới chỉ phục vụ một số nhóm lợi ích nào đó chứ chưa phục vụ cho lợi ích chung của toàn xã hội.

Ấy thế mà từ vị trí của mình, các nhà lãnh đạo đó lại luôn luôn rao giảng về sự đồng thuận một cách rất tự nhiên, như thể đó là một mệnh lệnh buộc toàn bộ xã hội phải thực hiện trong sự đồng thuận tuyệt đối.

“ Đấu tranh là động lực của phát triển”, nguyên lý cốt lõi trong ý thức hệ CNXH được Marx gửi gắm lại cho giai cấp vô sản toàn thế giới dường như bây giờ lại trở nên xa lạ ở một đất nước XHCN đang mở cửa hội nhập như nước ta, và nhất là với các nhà lãnh đạo của hệ thống chính trị XHCN đó?
Đấu tranh mang lại sự đồng thuận thể hiện qua những kết quả đúng đắn và phù hợp với quy luật phát triển của xã hội.

Bài học về Đại hội VI của Đảng và 20 năm đổi mới vừa qua hiểu theo một cách khác chính là biết coi trọng, thúc đẩy và tôn vinh sự đấu tranh để tiếp cận và giành lấy chân lý, giải phóng con người, giải phóng sức lao động, sức sáng tạo của nhân dân ra khỏi gông cùm của chân lý tuyệt đối từ lãnh đạo, ra khỏi những nguyên tắc, lập trường tư tưởng khô cứng giáo điều, coi thường, phớt lờ các quy luật khách quan của xã hội.

Một xã hội mở, hội nhập thế giới một cách hoàn chỉnh, với đầy đủ tính chất của một thực thể sống, tồn tại, vận động và phát triển khách quan, hoàn toàn không có tính chất tuyến tính và đồng dạng tuyệt đối như bản chất của chế độ chính trị và hệ thống công quyền đơn nhất, một chiều mà bản thân nó đang vận hành bằng những nguyên tắc khô cứng, khuôn sáo và giáo điều từ trên xuống.

Bởi vậy, sẽ không bao giờ có chuyện những chiến lược, những quyết sách chỉ có lợi cho một vài người hay nhóm người lại có thể có được sự đồng thuận của toàn xã hội, và càng không thể, khi chỉ thực hiện việc tưởng như cố đồng thuận bằng một vài lời rao giảng, chỉ đạo hòng làm át đi tiếng nói của dư luận xã hội như nhiều khi đã xảy ra với các “quyết sách lớn” khác.

Do đó, lối áp đặt “cơ học” thuần túy, với cách tư duy siêu hình, máy móc và sai lầm căn bản trong nhiều vị trí lãnh đạo hiện nay, hơn bao giờ hết, cần phải sớm được chấn chỉnh, sửa đổi và dẹp bỏ.
Dư luận xã hội đang đặt câu hỏi: Có vẻ như sự áp đặt “cơ học” và những khẩu hiệu đồng thuận “vô nguyên tắc” như đã nói ở trên, là nơi trú ngụ lý tưởng cho các nhóm lợi ích khiến chúng ngang nhiên xuất hiện ngày càng nhiều, càng lớn và thậm chí trở đã thành các nhóm siêu lợi ích?

Và thật nguy hại khi chúng còn hiện hữu ngay trong lời phát ngôn trước quần chúng nhân dân, trước cơ quan quyền lực cao nhất là Quốc hội, của một vài người trên cương vị lãnh đạo rất cao mà người ta trước kia không thể ngờ tới thì nay đã là chuyện có thể đoán trước và hoàn toàn dễ hiểu.
Có lẽ, chúng ta buộc phải thừa nhận, cái gọi là lợi ích nhóm đó không chỉ là “nhóm” mà nó thực sự đã là một Lực lượng xã hội.

Ở các quốc gia tham nhũng vào bậc nhất trên thế giới, lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân của khu vực siêu quyền lực lớn đến nỗi chúng ta có thể ví chúng như căn bệnh ung thư, mà về mặt bản chất, hệ thống các tế bào ung thư đó nuốt chửng hầu như gần hết nguồn dinh dưỡng của cơ thể người bệnh, làm cho người bệnh kiệt quệ và chết dần trong sự đau đớn khủng khiếp.

Rõ ràng, cách nhóm lợi ích đó – lực lượng xã hội được ví như hệ thống các tế bào ung thư, trước khi được phát hiện và kết luận là quá muộn – là lực lượng xã hội cần phải đánh đổ.
Chúng ta buộc phải nhận thức thấu đáo về chúng và đánh đổ chúng, trước khi chúng tước đoạt không chỉ phần lớn của cải vật chất trong xã hội, mà cả quyền lực chính trị của nhân dân, nằm phía sau sự thao túng mọi mặt trên cơ sở đã nắm đa số tư liệu sản xuất trong xã hội bao gồm đất đai, tài nguyên, khoáng sản, cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, lợi dụng vỏ bọc hoàn hảo là sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể…

“Cuộc đấu tranh giai cấp mới” này về bản chất không nằm ngoài những gì mà Đảng và những Bậc lão thành kỳ cựu, khai quốc công thần của Đảng cảnh báo: “Chệch hướng Xã hội chủ nghĩa, quay lại Chủ nghĩa tư bản hoang dã thế kỷ XVIII, XIX dưới sự tiếp tay của tha hóa quyền lực, tha hóa nhân tố lãnh đạo”.
Còn Marx vĩ đại của chúng ta đã nói gì ?
“Đánh đổ một lực lượng xã hội, không gì khác, phải là chính bằng một lực lượng xã hội khác…”.
Vậy lực lượng xã hội cần này ở đâu? Gồm những gì? Ai tập hợp?

Báo chí trong vai trò hạt nhân đoàn kết xã hội
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.
Với báo chí, chúng ta hiểu lời dạy này của Người như thế nào?
Trước những chuyển biến lớn, xã hội luôn có những dự cảm thiên tài của mình. Những dự cảm đó đồng dạng và có tính chất tương tự cao độ, rõ nét trong đại bộ phận quần chúng nhân dân, nhất là trong đội ngũ ưu tú dẫn đầu, mà bản thân bộ phận này hầu hết là những người không tham gia sâu vào hệ thống công quyền và bộ máy chính trị và nhất là những lợi ích bất hợp pháp của nó.

Họ là những nhà trí trức, nhà khoa học, nhà kinh tế, nhà hoạt động xã hội, những người làm công tác chuyên môn trong tất cả các cách ngành, các lĩnh vực, không phân biệt độ tuổi, tôn giáo, nghề nghiệp.
Họ nhạy bén với những thay đổi của xã hội còn bởi một lẽ khác: Họ cũng chính là bà con, người thân thích của đại bộ phận quần chúng nhân dân lao động nghèo khổ, đối tượng “chịu nhiều thiệt thòi, điêu đứng nhất” trước những chính sách sai lầm vô tình hay chủ ý của các nhà hoạch định và đội ngũ thực hiện.

Trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay họ còn nhạy bén hơn nữa khi họ là đối tượng chính tiếp xúc với những tiến bộ to lớn của nhân loại, chứng kiến và cảm thụ sự vượt trội của thế giới bên ngoài khi so sánh với những hạn chế, bất cập và đau khổ còn rất rất nhiều trên đất nước của họ, trong cuộc sống của những người lao động khốn khổ là bà con ruột thịt của họ.

Trước mỗi một vấn đề lớn của đất nước, những dự cảm đó lớn dần lên và trở thành những ý kiến chính thức được tiếp nhận từ vô số những nguồn khác nhau trong khắp các tầng lớp, các đối tượng nhân dân trên phạm vi toàn xã hội.
Vượt lên trên sự truyền đạt bằng lời nói, bằng trao đổi và tranh luận trực tiếp ở mọi nơi, mọi thời điểm của xã hội, bằng cách này hay cách khác, con đường này hay con đường khác, tri thức của nhân dân được lĩnh hội và tập hợp lại bởi các nhà trí thức, các nhà chuyên môn, các nhà hoạt động xã hội, và các cá nhân tâm huyết – yêu nước thương dân,  không chỉ bằng tri thức khoa học và kinh nghiệm thực tiễn chuyên ngành của họ.

Dù trực tiếp hay gián tiếp, đa phần nguồn tri thức xã hội này được chuyển tới báo chí qua nhiều con đường và cách thức khác nhau, dưới những tình cảm và thái độ khác nhau mà những tình cảm và thái độ chỉ là hình thức, còn bản chất và giá trị tri thức mới là nội dung của những ý kiến ấy.
Là hạt nhân đoàn kết xã hội, và với chức năng tiếp thu những hiểu hiện của xã hội dưới mọi hình thức và trạng thái thể hiện, báo chí không cần thiết làm công việc phê phán dư luận nhân dân phải thể hiện thế nào là đúng mực.

Ý chí xã hội cần được báo chí truyền tải chính là toàn bộ những phản ánh tích cực trở lại của đại bộ phận nhân dân, thể hiện qua các mong muốn, nguyện vọng, các ý kiến đấu tranh cho lẽ phải, bảo vệ và xây dựng pháp luật, luân lý cuộc sống, tham gia góp ý cho các chính sách của nhà nước.
Những yếu tố này biểu hiện dưới nhiều góc độ khác nhau, từ phản ánh hết sức giản đơn, mộc mạc, cho đến những phản biện mạnh mẽ, sâu sắc, thậm chí gay gắt. Mà đa phần, nơi mà những ý kiến này đặt vào đó chính là những hành vi chưa đúng, chưa tốt của chính quyền, hoặc của các bộ phận xã hội khác.

Nhiệm vụ báo chí, không chỉ là phản ánh nguyên trạng và chân thực nhất những phản ứng của xã hội, mà còn phải biết chắt lọc, phát triển và tiếp tục truyền bá những tri thức của xã hội đó lên các tầng cao hơn, ở phạm vi rộng hơn cho mọi đối tượng xã hội khác, mà trong đó, hệ thống chính trị chỉ là một đối tượng.
Về bản chất, đó chính là quá trình đoàn kết và chuyển hóa dư luận xã hội, ý chí xã hội, tri thức xã hội dưới hình thức biểu hiện rời rạc trở thành lực lượng xã hội đồng nhất, mạnh mẽ và có sự kết tinh cao, phong phú, sâu sắc và toàn diện.

Lực lượng trí tuệ xã hội này từ chỗ là các quyết tâm, các nhận thức và tâm huyết được đoàn kết và tập hợp bởi báo chí sẽ chuyển hóa và hấp thụ ngược trở lại xã hội trên cả phương diện chủ động lẫn thụ động, với quy mô rộng khắp và sau đó dần chuyển thành lực lượng xã hội về mặt con người.

Do vậy, báo chí, chính là hạt nhân tập hợp, đoàn kết, hình thành nên lực lượng xã hội tiến bộ trước mỗi một sự kiện lớn có tính chất trọng đại của đất nước theo hình thức:
Đoàn kết nhận thức – Đoàn kết ý chí – Đoàn kết con người – Đoàn kết lực lượng xã hội.
Vũ khí của lực lượng xã hội này chính là tri thức khoa học, nền tảng pháp luật và luân lý, đạo đức xã hội. Không gian để nhân dân, và các tầng lớp tri thức tiến bộ, lực lượng xã hội tiến bộ tiến hành xây dựng thế trận của mình chính là không gian báo chí, truyền thông đại chúng, internet v.v.
Đây là điểm tựa, là lực lượng xã hội to lớn tiếp sức cho phần tích cực còn lại trong hệ thống chính trị để tự thân nó, cũng đóng vai trò đối trọng, đề kháng trước những tấn công của các nhóm lợi ích và các lực lượng xã hội xấu có sự tiếp tay của yếu tố lãnh đạo tha hóa, biến chất.
Quyết định sáng suốt, kịp thời có tính chất lịch sử của Quốc hội vừa qua là một minh chứng rõ rệt cho khẳng định này.

Báo chí với các nhà lãnh đạo
Các nhà lãnh đạo chân chính sẽ luôn biết cách chân thành với báo chí.
Họ không coi báo chí là kẻ phá bĩnh đáng ghét, mà ngược lại, với họ báo chí là những người đồng đội trung thành, thẳng thắn và hữu ích cho công việc của chính họ: Xây dựng và phát triển xã hội.
Báo chí giúp cho họ nhìn cách nhìn khác so với những gì mà đội ngũ tham mưu, trợ lý trùng trùng điệp điệp của mình báo cáo và đề xuất.

Bí thư Thành ủy Hà nội  Phạm Quang Nghị là một nhà lãnh đạo được nhiều người dân yêu quý, kính trọng qua sự kiện ông lỡ lời khi nói về sự “ỷ lại” của nhân dân vào Nhà nước trong đợt lũ lịch sử năm 2008.
Ông xin lỗi báo chí và nhân dân ngay lập tức, sau khi nhờ báo chí, ông hiểu ra rằng mình đã quá “cả tin“ trước những gì thư ký, trợ lý và cấp dưới báo cáo lại…

Qua đó chúng ta thấy, ông là một nhà lãnh đạo thẳng thắn, chân thành, một người Bạn thực sự của báo chí. Và chắc chắn trong hệ thống chính trị hiện nay, báo chí còn có không ít những nhà lãnh đạo, những người bạn như thế.
Thông qua hoạt động của mình, báo chí cần chủ động tìm đến các nhà lãnh đạo đó, làm bạn với họ, giúp cho họ đối thoại với nhân dân và trí thức, tìm ra cách thức giải quyết các vấn đề của xã hội ở trạng thái chân thực, khách quan và bản chất nhất của sự đồng thuận.

Thông qua phản ảnh của báo chí, các nhà lãnh đạo cũng sẽ biết được các ý kiến tham mưu của đội ngũ trợ lý có chất lượng ra sao, các cơ quan thừa hành của mình làm việc như thế nào.
Họ có thương dân không? Có kính trọng nhân dân không? Có đúng là đầy tớ của nhân dân không? Họ có xứng đáng đi những chiếc xe đắt tiền, ngồi những phòng làm việc sang trọng từ tiền thuế mồ hôi xương máu của nhân dân hay không?

Và từ đó các nhà lãnh đạo sẽ biết cách để thực hiện công tác lãnh đạo của mình sao cho hiệu quả, phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước được tốt nhất.
Có nhiều người, khi đứng trước những dự án, những quyết định kỳ quặc, của các nhà lãnh đạo khiến cả xã hội bàng hoàng, lo ngại và phản đối, họ đặt câu hỏi: Không hiểu thế giới quan và nhận thức và quan điểm giai cấp, quan điểm chính trị của các nhà lãnh đạo được hình thành từ đâu?

Xin được tạm trả lời ở đây như sau:
Những nền tảng căn bản hình thành nên tố chất của các nhà lãnh đạo là được hình thành liên tục trong quá trình giáo dục, học tập và rèn luyện qua môi trường đào tạo, làm việc và thăng tiến trước đây của họ.
Đó là nền tảng cơ sở.
Nhưng còn để vận hành xã hội trong công việc hàng ngày, họ cần gì?

Đứng trước mỗi chiến lược, mỗi quyết sách lớn của xã hội, của đất nước, họ cần lập trường giai cấp, cần nhận thức chính trị phù hợp và những tri thức căn bản để thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, mà nội dung chính của việc lãnh đạo này là cùng với đội ngũ của mình trình bày các chiến lược, kế hoạch với xã hội một cách minh bạch nhất, trung thực nhất, cũng như đưa ra các quyết định cuối cùng chuẩn xác nhất cho các chiến lược ấy, sau khi đã tiếp thu nghiêm túc những phản hồi của xã hội.

Xét cho cùng, lập trường giai cấp, nhận thức chính trị và tri thức cụ thể của các nhà lãnh đạo cùng thái độ của họ trong cả quá trình tại nhiệm và nhất là trước các chiến lược lớn liên quan đến triệu triệu sinh mạng người dân không chỉ phụ thuộc vào tố chất của riêng họ hoặc các ý kiến tham mưu của các cơ quan thuộc cấp mà còn được bổ sung, bồi đắp và đối chứng thông qua một nguồn vô cùng quan trọng khác đó là ý chí và tri thức xã hội mà được kết tinh, chuyển hóa từ báo chí tới họ hàng ngày, hàng giờ.

Qua không gian báo chí, các nhà lãnh đạo có thể đắm mình suy ngẫm và hoàn thiện những quyết sách của mình bằng việc tiếp thu tri thức xã hội, ý chí và nguyện vọng xã hội dưới các dạng khác nhau đã được hun đúc và kết tinh một cách phong phú, bản chất, tự nhiên và chân thực nhất.

Những yếu tố này trở thành chất liệu cực kỳ quan trọng cho tư duy của các nhà lãnh đạo, nhất là ở góc độ bổ sung những khiếm khuyết mà đội ngũ trợ lý tham mưu trùng trùng điệp điệp đặt trong các tác động phức tạp của lợi ích bên trong, bên ngoài hệ thống, trong sự ngột ngạt của các quy định chính trị và thể chế không dễ gì có thể thoát ra để có thể nhìn nhận toàn diện và chân thực.

Từ những chất liệu quý báu đó, các nhận thức và quan điểm chính trị của các nhà lãnh đạo được bổ khuyết, hoàn thiện và chuyển hóa vào các chiến lược, sách lược, vào các sinh hoạt  chính trị trong thể chế và hệ thống cũng như công tác lãnh đạo điều hành hàng ngày.
Tất cả những điều đó góp phần quan trọng,  tác động to lớn tới chính sách, các định chế luật pháp, dẫn hướng và chi phối sự vận hành xã hội.

Vậy báo chí hiện nay cần những gì?
Trong bối cảnh đất nước phải gồng mình vượt qua những trở ngại và thách thức nội tại to lớn để phát triển hội nhập với thế giới như hiện nay, góp sức mình vào công cuộc vĩ đại và đầy gian nan đó, báo chí cần những gì? Xin tạm đặt ra đây một vài yếu tố căn bản.

Thứ nhất, đó là Bản lĩnh tri thức để tiếp thu, khái quát phát triển và truyền tải hữu hiệu nguồn tri thức xã hội vô cùng dồi dào, phong phú một cách đầy đủ nhất, trung thực nhất. Để xứng đáng là lực lượng tiên phong của nhân dân, đi đầu trong cuộc chiến đấu chống lại những cái cũ kỹ, hư hỏng, tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi cho xã hội.

Thứ hai, đó là Bản lĩnh nghề nghiệp để tự bảo vệ mình trước những khó khăn, đe dọa và vững bước trên con đường của mình, với sứ mệnh cao cả là mặt trận vô cùng quan trọng của nhân dân trong việc tham gia xây dựng xã hội, làm chủ xã hội.

Thứ ba, đó là Bản lĩnh đạo đức để tự loại bỏ và đấu tranh với chính những tồn tại của mình, để có sức đề kháng chống lại những lợi ích luôn tác động, lôi cuốn hòng mua chuộc đạo đức tác nghiệp chân chính.

Thứ tư, đó là Bản lĩnh giai cấp để bảo vệ vững chắc đặc tính cách mạng của mình, thực sự là chỗ dựa tin cậy của đại bộ phận quần chúng nhân dân lao động, đấu tranh cho quyền lợi của họ trước những xâm lấn không ngừng của các lực lượng xã hội tiêu cực khác, bảo vệ sự trong sạch của Đảng, bảo vệ nhân dân, xây dựng xã hội.

Một số tờ báo là tấm gương điển hình cần nhân rộng
Mới chỉ vẻn vẹn trong vài năm gần đây, nhiều tờ báo, đặc biệt là báo điện tử đã có sự phát triển vượt bậc, có uy tín rộng khắp trong xã hội và có hàng chục triệu lượt người truy cập hàng ngày.
Trên những diễn đàn quan trọng của các tờ báo đó, có thể thấy sự tiến bộ vượt bậc cả về lượng và về chất. Điều này được biểu hiện rõ rệt nhất ở các vấn đề chính trị, kinh tế, thời sự vĩ mô có chất lượng vượt trội, với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, các chính trị gia, các nhà quản lý, hoạt động xã hội trong và ngoài nước giàu uy tín.

Đặc biệt, có những báo còn thể hiện được tầm vóc đáng nể khi thu hút được cả các nhà lãnh đạo là nguyên thủ quốc gia, các học giả uy tín tầm cỡ thế giới tham gia vào thảo luận các vấn đề của mình đề xuất.
Trước mỗi vấn đề lớn của xã hội, báo chí nói chung và các tờ báo tiên phong đó nói riêng đã đoàn kết hữu hiệu và tập hợp quanh mình một dư luận mạnh mẽ của nhân nhân ở khắp mọi tầng lớp, giai cấp và đối tượng không phân biệt tuổi tác, trình độ hay tôn giáo, và từ đó xác lập được một lực lựợng xã hội có uy tín và tầm ảnh hưởng to lớn ở các phương diện khác nhau: Dư luận – Nhận thức – Hành động.

Lực lượng xã hội này đã góp phần không nhỏ vào việc phản biện, đóng góp tri thức xã hội và nhà nước tạo sự đồng thuận và hiệu quả to lớn trong việc giải quyết các vấn đề phức tạp, nhiều hạn chế của các cơ quan nhà nước.
Chính lực lượng xã hội này, ở một góc độ khác lại là lực lượng vô hình bảo vệ hữu hiệu các nhà báo, các cơ quan báo chí trước những thăng trầm, sóng gió của cuộc đấu tranh khốc liệt nhằm xây dựng xã hội tốt đẹp, tiến bộ hơn.

Đoàn kết chân thành, tận tụy với ý chí – nguyện vọng tha thiết, mạnh mẽ của nhân dân.
Đoàn kết nguồn tri thức to lớn và khát vọng mãnh liệt từ xã hội chính là con đường dẫn đến thành công, đại thành công theo tư tưởng Bác Hồ đã dạy.
Trong từng trường hợp của mình, các tờ báo có vai trò tiên phong hiện nay có sách lược đúng đắn và căn bản đã thực hiện thắng lợi những sách lược ấy.

Nhân dân kỳ vọng vào những pháo đài vững chãi đó và mong ước nền báo chí cách mạng Việt Nam sẽ có nhiều pháo đài kiên cố, vững chắc hơn nữa đóng vai trò hạt nhân tiêu biểu cho sức mạnh và đóng góp của báo chí trên con đường chấn hưng dân tộc, phát triển đất nước dân chủ, văn minh, giàu mạnh và không ngừng phát triển.

Nhân dân sẽ song hành và sát cánh cùng báo chí.
Quần chúng sẽ bảo vệ báo chí.
Báo chí cách mạng Việt nam, vững bước tiến lên!
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...