Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"
Hiển thị các bài đăng có nhãn chứng cứ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chứng cứ. Hiển thị tất cả bài đăng

4/4/13

Một người Việt gốc Hoa: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam

(GDVN) - "Tôi không ghét người Trung Hoa mà cũng không thù người Việt, tôi mong muốn được sống tại nơi mà tôi lớn lên một cách hòa bình và chung tay góp sức xây dựng quê hương tổ quốc..."

LTS: Tâm sự này được đăng tải đã lâu trên một diễn đàn mạng xã hội nhưng chưa được biết đến rộng rãi. Nhân việc Trung Quốc leo thang gây hấn trên vùng chủ quyền biển đảo Việt Nam, GDVN xin trích đăng lại tâm sự này để nhiều người Trung Quốc thấy rằng: Lẽ phải bao giờ cũng chỉ có một.


Mấy ngày nay xôn xao về việc tranh chấp Việt Nam và Trung Hoa về Hoàng Sa… Với vai trò là một người Hoa sinh sống tại Việt Nam tôi tự cảm thấy điều đó là phi lý và không công bằng, chúng tôi sống hòa bình, sống chan hòa không hề có sự đối xử ngược đãi Việt – Hoa, đừng cất cớ một cách vô tội vạ vì như thế sẽ làm chính chúng ta bị ô nhục như một thời kỳ Cách mạng văn hóa…

Bạn là người Việt nhưng tôi là người Việt gốc Hoa. Tôi đang sống ở đất Việt, tôi đang ăn ở nước Việt….

Tôi không ghét người Trung Hoa mà cũng không thù người Việt, tôi mong muốn được sống tại nơi mà tôi lớn lên một cách hòa bình và chung tay góp sức xây dựng quê hương tổ quốc.

Việt Nam là cứ mỗi sáng nhìn trên báo để cảm nhận sự hạnh phúc quê hương hướng về Hoàng Sa và Trường Sa hôm nay nhiệt độ bao nhiêu? Nhưng qui chiếu nhìn lại, tôi không đồng tình cách cư xử của Trung Hoa...

Tôi cảm thấy rất nực cười và hơi bị hổ thẹn bản thân vì mình là người Hoa, bản thân sinh sống và làm việc tại Tp HCM, hàng ngày tôi đi làm, vui chơi ấy thế không hề gặp sự trở ngại về dân tộc và sự phân biệt đối xử Việt – Hoa.

Đất nước chúng tôi thống nhất một dải bằng sự chiến đấu kiên cường, giành lại từ sự chiếm đóng của 1000 năm tàn bạo, 100 năm tàn ác và 30 năm chiến tranh. Không gì hơn, chúng tôi cộng đồng những người dân Việt Nam, mong mỏi sự hòa bình và chung sống lẫn nhau trên tinh thần tôn trọng... 54 dân tộc là 54 sợi chỉ anh em được gắn kết bên nhau để đưa đất nước tiến lên tươi sáng, mãi mãi vẫn giữ một lời thề: trung thành quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Việt Nam là một, 54 dân tộc Việt Nam là một, và Việt Hoa cũng là một cộng đồng chung sống hòa bình.

Anh mạnh anh dùng áp lực để khống chế nhưng không thể che nổi miệng đời, anh có thể sử dụng nhiều vũ lực áp đảo Việt Nam chúng tôi nhưng không thể lấp đi sự ô nhục của chính mình là sự ăn cướp…

Cùng nắm tay nhau Việt Hoa một kề, đừng cách ly dân tộc, đừng tách biệt Việt Hoa, cùng nhau đấu tranh vì lẽ phải bởi vì dù chúng tôi là dân tộc nào đi nữa thì chúng tôi vẫn là một người con Việt Nam, sống chết vì một Việt Nam độc lập và hùng cường.

Các thanh niên Việt Nam, dù bạn là người Hoa hay người Việt các bạn đều sống trên một mảnh đất hình chữ S cong cong, có hai quần đảo Hoàng Sa thân yêu và Trường Sa yêu quí, hãy hành động có lý trí và sáng suốt vì tổ quốc, mỗi ngày nhìn về Hoàng Sa cũng hun đúc cho tinh thần yêu nước vực dậy, mỗi ngày hãy tự nghĩ rằng Trường Sa là của Việt Nam càng tăng thêm tinh thần cho các chiến sĩ…

Chúng tôi yêu Việt Nam – Trường Sa của Việt Nam – Hoàng Sa của Việt Nam.

Just/(một người Việt gốc Hoa)

15/3/13

Tại sao Trung Quốc đánh chiếm các đảo của Việt Nam vào tháng 3.1988?

(TNO) Từ đầu năm 1988, Trung Quốc đã sử dụng một lực lượng lớn hải quân gồm nhiều tàu chiến chiếm đóng một loạt đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Đảo Gạc Ma đã bị quân Trung Quốc đánh chiếm vào ngày 14.3.1988 - Ảnh: D.Đ.Minh

Cao trào của hành động xâm lược này diễn ra vào ngày 14.3.1988 khi biên đội gồm 6 tàu chiến, trong đó có 3 tàu hộ vệ có trang bị tên lửa và pháo 100 mm, của Trung Quốc đã bắn chìm và cháy 3 tàu vận tải của Việt Nam tại bãi đá ngầm Gạc Ma trong cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.

Trong vụ thảm sát này, 64 binh sĩ Việt Nam đã anh dũng hy sinh. Sau đó Trung Quốc còn ngăn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu những người bị thương, bị nạn.

Điều phải lưu ý là đây là lần đầu tiên người Trung Quốc (lục địa) đặt chân đến Trường Sa. Trước đó, với tư cách quan phương, Trung Quốc chưa bao giờ có mặt ở vùng biển này.

Tàu HQ505 đã lao lên bãi ngầm ở đảo Cô Lin cắm cờ khẳng định chủ quyền Tổ quốc vào ngày 14.3.1988 - Ảnh: tư liệu


Đã một phần tư thế kỷ trôi qua, từ sự kiện 14.3.1988, có những điều cần phải nói rõ như sau:

Đầu tiên, ngay sau ngày 14.3.1988, thông qua hệ thống tuyên truyền khổng lồ của mình, Trung Quốc đã ngang nhiên bịa đặt trắng trợn với dư luận trong nước và quốc tế rằng: Các tàu Trung Quốc đang thả neo để yểm trợ cho tàu chở đoàn các nhà khoa học Liên Hiệp Quốc (LHQ) đi khảo sát khoa học tại Trường Sa thì bị các tàu chiến của Việt Nam tấn công. Vì thế hải quân Trung Quốc bắt buộc phải đánh trả tự vệ!

Sau đó thông qua người phát ngôn của Tổng thư ký, LHQ đã nói rõ: không hề có tàu của LHQ tổ chức khảo sát khoa học ở Trường Sa vào 3.1988!

Rõ là “cháy nhà ra mặt chuột” và chính quyền Trung Quốc đã “lấy thúng úp voi”, đã “lấy thịt đè người” lại còn muốn lấy tay che mặt trời!

Đã không có tàu khảo sát khoa học của LHQ thì chắc chắn không có việc tàu chiến Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc. Điều mà nhiều người đều biết đó là chuyện “ngậm máu phun người” là sở trường của các nhà cầm quyền Trung Quốc.

Trước đó, năm 1962 Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới với Ấn Độ và chiếm của Ấn Độ hàng nghìn km2 nhưng lại vu cáo Ấn Độ xâm lược Trung Quốc. Năm 1979, Trung Quốc tiếp tục đem 60 vạn quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Bắc. Sự việc rõ ràng như vậy nhưng cũng được họ tuyên truyền là “phản kích tự vệ quân Việt Nam xâm lược”!


Lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh ngày 14.3.1988 tại Cam Ranh (Khánh Hòa) - Ảnh: tư liệu

Thứ hai, có một câu hỏi cần đặt ra là, tại sao Trung Quốc lại tiến hành đánh chiếm các đảo của Việt Nam tại Trường Sa vào tháng 3.1988?

Cuối 1987 đầu 1988 là thời kỳ Việt Nam rơi xuống điểm thấp nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Tình hình trong nước chồng chất khó khăn: kinh tế đình đốn, đời sống của đại đa số người dân cực kỳ vất vả.

Cũng trong thời điểm đó, Liên Xô cũng bắt đầu lâm vào khủng hoảng chính trị - xã hội. Bắc Kinh cúi mình trước Washington, tự nhận là “NATO phương Đông” để nhận được nguồn tài chính và công nghệ, kỹ thuật từ Mỹ và phương Tây để phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa. Trong bối cảnh ấy, Trung Quốc cũng đã câu kết với Mỹ và hầu hết các nước trong khu vực (trừ Lào và Campuchia) siết chặt vòng bao vây, cấm vận đối với Việt Nam.

Lợi dụng tình thế khó khăn đó của Việt Nam, Trung Quốc đánh chiếm một số đảo của Việt Nam tại Trường Sa phục vụ cho ý đồ lâu dài.

Trung Quốc cũng là bậc thầy trong việc lợi dụng thời điểm. Mặc dù đã đưa lực lượng ra Trường Sa và có những hoạt động đe dọa từ đầu năm 1988, nhưng thời điểm được Trung Quốc lựa chọn nổ súng rơi đúng vào 14.3.1988 cũng là thời điểm lễ tang Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng được tổ chức tại Hà Nội! Một khi họ đã có dã tâm thì chuyện “tang gia bối rối” lại trở thành điều có thể lợi dụng được!

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc - Ảnh: Chiến sĩ canh gác trên đảo Len Đao (quần đảo Trường Sa) - Ảnh: D.Đ.Minh


Câu chuyện xảy ra ngày 14.3.1988 tại Trường Sa đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Sự hy sinh của những người lính Việt Nam 25 năm trước là một lời nhắc nhở tới 90 triệu người đồng bào hôm nay, trước hết là những người có trọng trách với dân tộc, không bao giờ được quên 3 điều:

Một là, lòng tin phải được đặt đúng chỗ. Đối với Trung Quốc, điều quan trọng không phải là lời nói mà là hành động. Các đấng quân vương Trung Hoa từ xưa đến nay và từ nay về sau đều là những bậc thầy về nghệ thuật “nói một đàng làm một nẻo”. Tin vào những điều mà giới lãnh đạo cấp cao ở Bắc Kinh nói không khác gì chuyện “gửi trứng cho ác”!

Hai là, cần phải hiểu về con đường mà Trung Quốc lựa chọn. Những toan tính và hành động của Trung Quốc liệu có phải là một quốc gia cộng sản đồng chí như họ từng miêu tả hay thực tế là chính sách dân tộc nước lớn vị kỷ?

Việc vô cớ đem quân đánh chiếm các đảo của một quốc gia láng giềng, bất kể quốc gia đó phát triển theo đường lối nào cũng là đi ngược lại những nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế và phản bội đối với chủ nghĩa Marx - Lênin mà Trung Quốc từng sử dụng như một chiêu bài.

Láng giềng là vĩnh viễn và không bao giờ thay đổi, trừ phi có một trận siêu động đất đẩy hai quốc gia ra xa nhau!

Việt Nam cần và mong muốn có một mối quan hệ hữu nghị, ổn định, lâu dài với Trung Quốc. Tuy nhiên quan hệ ấy cần được đặt trong sự tôn trọng lẫn nhau về nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề “bất biến” là chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc. Không tỉnh táo nhận thức được điều này, lệ thuộc vào những yếu tố “ứng vạn biến” như “mười sáu chữ”, “bốn tốt” có thể dẫn đến những bước đi sai lầm mang lại hậu quả lớn cho quốc gia, dân tộc!

Chúng ta đã có được bài học đắt giá khi rơi vào cảnh bị cô lập trên trường quốc tế từ 1979-1990. Bài học ấy cùng với sự kiện 14.3.1988 mách bảo chúng ta rằng bị cô lập không đồng nghĩa với có độc lập, mà ngược lại, bị cô lập sẽ dẫn đến thảm họa, thậm chí mất cả độc lập và chủ quyền quốc gia.

Các nhà sử học Việt Nam chân chính và những người Việt có lương tâm trong sáng sẽ còn mất nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, mổ xẻ, soi xét sự kiện 14.3.1988 một cách khách quan để rút ra bài học bổ ích cho những người Việt hiện nay và các thế hệ mai sau.

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thuộc sở hữu riêng của riêng ai. Nó là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc.

Liêm Thạch

19/2/13

Báo Mỹ khẳng định “Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam”

(Báo Giáo dục Việt Nam) - Tạp chí Christian Science Monitor của Mỹ mới đây có dòng chữ khẳng định “Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam”.

Anh Trần Đình Thắng đang có trong tay bộ sưu tập quý khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam

Thời gian qua, một số tờ báo Mỹ đã nói về tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Trung Quốc và các nước châu Á. Tuy nhiên, bài viết vừa qua trên Christian Science Monitor - tờ báo khá lớn, thuộc thể loại báo chính trị, phát hành cả ở Mỹ và quốc tế - là bài đầu tiên ở Mỹ có dòng chữ khẳng định “Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam”, mặc dù đó là lời phát biểu của cá nhân anh Trần Đình Thắng. 

Anh Trần Đình Thắng là một Việt kiều Mỹ sống cùng bố mẹ ở West Hartford, bang Connecticut. Gia đình anh sang Mỹ từ năm 1991. Sau khi tốt nghiệp ngành cơ khí ở đại học Uconn, Trần Thắng tiếp tục lấy bằng thứ hai về quản lý và kỹ thuật, rồi anh làm việc cho công ty Electric Boat. Hiện Thắng là kỹ sư của công ty Prat & Whitney, một nhà sản xuất linh kiện máy bay.

Theo thông tin cho biết, hiện anh Thắng có trong tay 150 tấm bản đồ và ba tập bản đồ cổ Trung Quốc, trong đó chỉ ra rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chưa bao giờ là một phần của Trung Quốc như nước này tuyên bố, mà thực ra là thuộc về Việt Nam.

Các chuyên gia về biển Đông nói rằng, nếu các tranh chấp biển đảo được đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế, bộ sưu tập bản đồ của Trần Thắng có thể được dùng làm bằng chứng lịch sử để phản bác các đòi hỏi của Trung Quốc. “Là người Việt, tôi có nghĩa vụ giữ gìn đất nước”, Trần Thắng nói. Anh bảo rằng anh luôn mong muốn biến những suy nghĩ của mình thành hành động.

Lao động

13/1/13

Cận cảnh 150 bản đồ chủ quyền biển đảo vừa về đến Việt Nam

(Thethaovanhoa.vn) - Ngày 8/1, Viện phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng tổ chức họp báo công bố mở thùng bản đồ và atlas do anh Trần Thắng từ Mỹ gửi về đợt 2.

Bản đồ 56 dân tộc Trung Hoa in năm 1980, không có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
 
150 bản đồ - chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Đợt 2 này gồm có 43 bản đồ lãnh thổ Trung Quốc, bản đồ chỉ ra Hoàng Sa thuộc Việt Nam và 1 sách atlas Trung Hoa bưu chính dư đồ 1919 do Bộ Giao Thông Trung Hoa Dân Quốc phát hành tại Nam Kinh. Đây là sách atlas đầu tiên do nhà nước Trung Hoa phát hành với số lượng nhỏ. Sách được rao bán trên mạng Ebay với giá 9.000 USD. Sách nằm tại Ba Lan, anh Trần Thắng trả giá còn 5.000USD.

Như vậy, đến thời điểm này, 150 bản đồ và 3 tập atlas khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã về đến Việt Nam an toàn. Trong đó, có 110 bản đồ gốc và 40 bản đồ tái bản, gồm:

- 80 bản đồ do phương Tây in từ năm 1626 đến năm 1980 xác nhận lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam. “Quan trọng nhất là 2 bản đồ in năm 1980: Bản đồ dầu khí của Trung Quốc và Bản đồ về 56 dân tộc Trung Hoa, cả hai bản đồ này không thấy chỉ ra Trung Quốc có Hoàng Sa và Trường Sa. Điều đó chứng tỏ, đến tận thời điểm năm 1980, mới chỉ cách đây có hơn 30 năm, trên bản đồ của Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa”, tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn - Viện phó Viện phát triển kinh tế- xã hội Đà Nẵng - phân tích.

- 50 bản đồ thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa nằm sát lãnh thổ Việt Nam

- 10 bản đồ hàng hải thể hiện Hoàng Sa và Trường San ằm trong vùng lãnh hải của ViệtNam

- 10 bản đồ tổng thể châu Á và Đông Nam Á có thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong vùng lãnh hải của Việt Nam.

3 sách alats Trung Quốc không có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

3 tập atlas gồm Trung Quốc địa đồ 1908, Trung hoa bưu chính dư đồ 1933 và Trung hoa bưu chính dư đồ 1919. Atlas of the Chinese Empire - Trung Hoa địa đồ, xuất bản năm 1908, bằng tiếng Anh. Atlas này gồm 1 bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và 22 bản đồ vẽ các tỉnh của Trung Quốc. Các bản đồ đều có kích thước 31cm x 41cm. Đây là atlas chính thức, được in lần đầu tại Trung Quốc với số lượng in giới hạn, do The China Inland Mission, có trụ sở ở Thượng Hải (Trung Quốc), London (Anh), Philadenphia (Hoa Kỳ), Toronto (Canada) và Melburn (Australia), biên soạn và phát hành với sự giúp của Tổng cục Bưu chính của nhà Thanh Triều và sự trợ giúp kỹ thuật của một người Anh tên là Edward Stanford. Anh Trần Thắng tặng cho Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng tập atlas này và 1 tập Trung Hoa bưu chính dư đồ 1919.

Atlas Postal de Chine - Trung Hoa bưu chính dư đồ - Postal Atlas of China, cũng do Tổng cục Bưu chính, thuộc Bộ Giao thông của Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh vào năm 1933. Atlas này in bằng 3 thứ tiếng: Trung - Anh - Pháp, gồm 1 bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và 29 bản đồ vẽ các tỉnh của Trung Quốc. Các bản đồ trong atlas này đều có kích thước 61cm x 71 cm. Tấm bản đồ số 23 trong atlas này là bản đồ Quảng Đông, bao gồm cả đảo Hải Nam, nhưng do hạn chế kích thước nên không thể in đảo Hải Nam trên bản đồ này. Vì thế, người ta đã in thêm đảo Hải Nam vào góc trái của tấm bản đồ số 23 này. Atlas này được chuyển cho UBND huyện Hoàng Sa.

Về Đà Nẵng trong đợt 2 này là Atlas Postal de Chine - Trung Hoa bưu chính dư đồ - Postal Atlas of China, do Tổng cục Bưu chính, thuộc Bộ Giao thông của Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh năm 1919, cũng được in bằng 3 thứ tiếng: Trung - Anh - Pháp, gồm 1 bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và 46 bản đồ vẽ các tỉnh của Trung Quố, đều có kích thước 61cm x 71 cm.

Các atlas này là sản phẩm của chương trình thiết lập bản đồ bưu chính do nhà Thanh vạch ra vào năm 1906 và được chính phủ Trung Hoa dân quốc kế tục vào các năm sau đó. Các bản đồ được lập chi tiết ở từng tỉnh, thể hiện rõ các con đường vận chuyển thư từ, công văn trong các tỉnh, thành của Trung Quốc. Nơi nào không thuộc Trung Quốc thì không được thể hiện trong các bản đồ trong atlas. Vì thế mà cương giới cực Nam của Trung Quốc trong các sách atlas này luôn chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam, mà không đả động gì đến Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Điều này chứng tỏ rằng cho đến khi nhà Thanh phát hành atlas này vào năm 1908 và sau này chính quyền Trung Hoa dân quốc tái bản các sách atlas này vào các năm 1919 và 1933, thì hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vẫn nằm ngoài cái gọi là “chủ quyền lịch sử” phi pháp của Trung Quốc.

150 bản đồ và 3 sách atlas sẽ được đem ra triển lãm trong thời gian sớm nhất để người dân có điều kiện trực tiếp chiêm ngưỡng.

Dưới đây là hình ảnh những bản đồ và atlas thể hiện chủ quyền biển đảo của Việt Nam mà Thethaovanhoa.vn ghi lại được:

Điểm cực nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam

Cuốn Atlas of the Chinese Empire - Trung Hoa địa đồ, xuất bản năm 1908

Các lãnh đạo đang bóc từng lớp giấy bọc bên ngoài bản đồ trong sự hồi hộp của mọi người

Cuốn atlas về đợt 2, Atlas Postal de Chine - Trung Hoa bưu chính dư đồ- Postal Atlas of China, 1919

Hồng Thúy

12/1/13

Triển lãm tư liệu khẳng định chủ quyền Hoàng Sa

(Thanh Niên Online) - UBND TP.Đà Nẵng vừa thống nhất về chủ trương cho UBND H.Hoàng Sa, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Đà Nẵng và Hội Khoa học lịch sử Đà Nẵng tổ chức triển lãm tư liệu và nghiên cứu khẳng định chủ quyền về Hoàng Sa.

Một trong số bản đồ do ông Trần Thắng hiến tặng - Ảnh: Vũ Phương Thảo

Đây là nội dung được thông báo tại lễ tiếp nhận 43 bản đồ và 1 atlas mang tên Trung Hoa bưu chính dư đồ thể hiện rõ lãnh thổ Trung Quốc không có Hoàng Sa và Trường Sa, do ông Trần Thắng, Chủ tịch Hội Văn hóa giáo dục VN tại Mỹ hiến tặng sáng 8.1. Tính đến nay, trong tổng số 150 bản đồ và 3 atlas mà ông Thắng hiến tặng có 110 bản đồ gốc và 40 bản đồ tái bản; trong đó xác nhận cương vực lãnh thổ cực nam của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam, thể hiện Hoàng Sa và Trường Sa nằm sát lãnh thổ Việt Nam, nằm trong vùng biển của Việt Nam.

Cả 3 tập atlas nói trên đều là văn kiện chính thức do chính quyền nhà Thanh rồi Trung Hoa dân quốc xuất bản hoặc bảo trợ xuất bản vào các năm 1908, 1919 và 1933.

Vũ Phương Thảo

12/8/12

Việt Nam ghi dấu ấn đậm nét nhất trên biển Đông

(Vietnam+) - Theo Tiến sĩ Trục, nhiều học giả nhận xét quan điểm của Việt Nam có giá trị hơn cả so với các nước tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông.

Cả đời nghiên cứu về chủ quyền lãnh thổ, khi về hưu, Tiến sĩ Trần Công Trục (nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ) bỏ nhiều thời gian và tâm huyết để làm chủ biên cuốn sách “Dấu ấn Việt Nam trên biển Đông.” Ngay sau khi giới thiệu, cuốn sách này đã nhận được sự quan tâm của đông đảo công chúng.

Với phong cách giản dị, Tiến sĩ Trần Công Trục dành cho phóng viên Vietnam+ cuộc trò chuyện cởi mở về cuốn sách mới của ông.

- Có thể nói “Dấu ấn Việt Nam trên biển Đông” là một cuốn sách có giá trị thực tiễn cao, đặc biệt là trong việc tuyên truyền về chủ quyền biển đảo. “Cơ duyên” nào khiến ông trở thành chủ biên cuốn sách này?

Tiến sĩ Trần Công Trục: "Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa." (Ảnh: TH/Vietnam+)

Tiến sĩ Trần Công Trục: Cách đây khoảng hai năm, đại diện Nhà Xuất bản Thông tin Truyền thông có đến nhờ tôi đọc và góp ý cho tập bản thảo tập hợp nhiều công trình nghiên cứu của nhiều học giả liên quan đến vấn đề Biển Đông.

Xem kỹ tập bản thảo, tôi thấy các công trình này chủ yếu nói về vấn đề lịch sử, về Hoàng Sa và Trường Sa chứ không nói kỹ về tất cả các vùng biển. Sau khi đưa ra ý kiến, bên Nhà Xuất bản có đề nghị tôi làm chủ biên cho cuốn sách này.

Thú thật, ban đầu cũng ái ngại lắm. Nhiều người trong gia đình, bạn bè khi thấy tôi viết sách, trả lời phỏng vấn trên báo về vấn đề biển đảo thì can ngăn bởi đó là vấn đề phức tạp, trong khi tôi đã hưu rồi…

Thế nhưng tôi lại nghĩ, gần 30 năm gắn bó với công việc biên giới, hải đảo, tôi từng đến nhiều nơi và nhận thấy nhận thức, tư duy của người dân, thậm chí cả những người ở Trường Sa về vấn đề biển đảo cũng còn nhiều hạn chế.

Đó chính là lý do tôi nhận lời làm chủ biên cuốn sách cũng như trả lời phỏng vấn của truyền thông với mong muốn góp một phần công sức để tuyên truyền về biển đảo cho đông đảo tầng lớp nhân dân. Bởi chỉ khi hiểu rõ, người lính mới chắc tay súng, ngư dân mới vững tay chèo… để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

- Cuốn sách này ông hoàn thành trong bao lâu?

Tiến sĩ Trần Công Trục: Bên Nhà Xuất bản có gửi cho tôi một số tư liệu, sau đó tôi phải cân nhắc xem xét, bổ sung bằng kinh nghiệm của mình cũng như tham khảo từ đồng nghiệp. Trong vòng khoảng một năm thì cuốn sách hoàn thành, nhưng thực tế thì nó là sự đúc kết của hơn 30 năm nghiên cứu biển đảo.

Cuốn sách này có rất nhiều tư liệu tốt, kể cả của các cơ quan quản lý chứ không phải ý kiến chủ quan của người viết nên có thể coi đó là một tập hợp các tài liệu cần thiết về vấn đề chủ quyền biển đảo.

- Theo ông, cuốn sách này có vai trò như thế nào khi nó được “chào đời” trong bối cảnh dư luận cả nước đang dõi theo tình hình Biển Đông?

Tiến sĩ Trần Công Trục: Khi làm cuốn sách tôi không nghĩ để xuất bản trong thời điểm nào. Tuy nhiên, khi ra đời ở thời điểm này thì cuốn sách đã hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng.

Cái giá trị của cuốn sách chính là minh họa rõ hơn về chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Trong cuốn sách, chúng tôi đã làm rõ việc hình thành và xác lập các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, cũng như quy chế pháp lý của các vùng biển đó.

Hiện nay, để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, nhiều người cho rằng cần phải dựa vào Công ước luật biển 1982, nhưng theo tôi thì không đủ bởi Công ước này chỉ đưa ra các nguyên tắc để giải quyết các tranh chấp đối với các vùng biển chồng lấn. Còn tranh chấp quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là loại tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, thì vấn đề ở đây không phải là Công ước luật biển nữa mà phải theo nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế có liên quan đến quyền thụ đắc lãnh thổ quốc gia mà hiện nay những bên tranh chấp đã vận dụng để bảo vệ cho yêu sách của mình.

Tôi lấy ví dụ Trung Quốc nói rằng họ có chủ quyền lịch sử đối với Tây Sa, Nam Sa, Đông Sa và Trung Sa trong Biển Đông vì người Trung Quốc đã từng đến đây phát hiện ra, đã khai phá, đặt tên… từ hàng nghìn năm nay. Và, cũng với quan điểm đó thì biên giới biển “đường lưỡi bò” cũng được hình thành trên cơ sở chủ quyền lịch sử của Trung Quốc.

Còn Việt Nam thì theo nguyên tắc “quyền chiếm hữu thật sự thực sự” đã được luật pháp và thực tiễn thừa nhận, áp dụng rộng rãi trong việc giải quyết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ từ trước cho đến ngày nay… Trong khi đó, Philippines hay Malaysia thì quần đảo Trường Sa với họ là phạm vi lãnh thổ kế cận theo khoảng cách địa lý.

Theo nhận xét của nhiều học giả thì quan điểm mà Việt Nam đưa ra là có giá trị hơn cả, có dấu ấn đậm nét nhất trên Biển Đông.

Cuốn sách “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” đã đề cập, phân tích tất cả các nguyên tắc pháp lý mà quốc tế đã áp dụng để biết được quốc gia nào có cơ sở pháp lý nhất trong vấn đề tranh chấp ở Hoàng Sa và Trường Sa.

- Ông có kế hoạch gì sau khi cuốn sách đã thành công?

Tiến sĩ Trần Công Trục: Tôi cũng được biết Nhà Xuất bản đang có kế hoạch dịch cuốn sách ra tiếng Anh và tiếng Trung để cho bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn và có cái nhìn khách quan nhất về vấn đề Biển Đông. Và nếu cuốn sách được ấn bản điện tử, phổ biến trên các trang Internet thì càng tốt.

Về phần mình, tôi sẽ vẫn tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu về chủ quyền biển đảo trong điều kiện cho phép. Ngoài ra, tôi sẽ tiếp tục góp sức cho công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin kiến thức về biển đảo tới đông đảo công chúng, trong đó có việc giúp cho các cơ quan truyền thông và đặc biệt là các cơ sở giáo dục, đào tạo… những kiến thức cần thiết về Biển Đảo với tất cả tâm huyết của mình.

- Xin cảm ơn Tiến sĩ!

Theo Yên Thủy-Nguyễn Tâm

31/7/12

Thêm 7 bản đồ của Nhật chỉ rõ cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam

(Báo Giáo dục Việt Nam) - Bên cạnh 8 bản đồ của Trung Quốc khẳng định đảo Hải Nam là cực nam của đất nước này, Ths. Chử Đình Phúc (Viện Trung Quốc, thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam) đã cung cấp thêm 7 bản đồ khác của Nhật Bản có cùng nội dung trên. 
 
 
Bản đồ “Nhị kinh thập bát tỉnh tổng đồ” trong sách "Thanh nhị kinh thập bát tỉnh cương vực toàn đồ" của tác giả Đông Điều Văn Tả Vệ Môn do Nhật Bản Gia Vĩnh tam niên khắc bản năm 1850

 “Quảng Đông toàn đồ” trong sách "Thanh nhị kinh thập bát tỉnh cương vực toàn đồ" của tác giả Đông Điều Văn Tả Vệ Môn do Nhật Bản Gia Vĩnh tam niên khắc bản năm 1850.
 
 
“Đại Thanh quốc toàn đồ” trong sách “Đại Thanh đế quốc phân tỉnh tinh đồ” của tác giả Y Điền Hùng Phủ,  do Nhà xuất bản Đông Kinh (Tokyo), Phú Sơn Phòng thư cục tháng 5/ 1907 (tức năm Nhật Bản Minh Trị tứ thập niên ngũ nguyệt).
 

 Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam là đảo Hải Nam trong sách “Đại Thanh đế quốc phân tỉnh tinh đồ”.


Bản đồ "Thanh quốc đại địa đồ Cánh mạng (Tân Hợi) động loạn địa điểm chú". Bản đồ này do Đại Bản (Osaka) Nhật Bản Tinh Bản ấn loát hợp tư hội xã phát hành năm 1912 (tức Minh Trị tứ thập tứ niên). Hiện nay bản đồ đang được lưu trữ tại Thư viện Đại học California tại Berkeley (Hoa Kỳ).
 
 
Phóng to hình vị trí đảo Hải Nam ở cuối bản đồ "Thanh quốc đại địa đồ Cánh mạng (Tân Hợi) động loạn địa điểm chú". 
 
 
Bản đồ “Đại lục hình thế đồ” trong sách “Trung Quốc địa đồ sách” xuất bản năm 1939 của tác giả Tùng Điền Thọ Nam cũng xác định cực Nam Trung Quốc đến hết đảo Hải Nam. 
 
 
Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam là đảo Hải Nam trong sách “Trung Quốc địa đồ sách” của tác giả Tùng Điền Thọ Nam được xuất bản năm 1939. 
 
Thảo Lăng

Nhiều bản đồ khẳng định TQ không có Hoàng Sa, Trường Sa

(Báo Giáo dục Việt Nam) - Cực nam lãnh thổ Trung Quốc dừng lại tại Nhai Châu (tận cùng của đảo Hải Nam) ở 18 độ 21 phút 36 giây vĩ bắc. Hoàng dư toàn lãm đồ, công trình do chính hoàng đế Khang Hi thứ 58 chủ trì, hoàn thành năm 1719, ghi rõ.

Tiến sĩ Mai Hồng giải thích cho người xem nội dung chữ Hán cổ trên bản đồ của Trung Quốc năm 1904 mà ông đã hiến tặng Bảo tàng Lịch sử quốc gia sáng 25-7 - Ảnh: Việt Dũng

Là người thống kê, thu thập (bao gồm bản gốc, ảnh minh họa, phó bản...) hơn 180 địa đồ (bản đồ), trong đó có khoảng 50 tấm địa đồ chứng minh chủ quyền biển đảo Việt Nam, nhà nghiên cứu Hán - Nôm Phạm Hoàng Quân chia sẻ: Địa đồ hành chính toàn Trung Quốc được soạn vẽ hoàn chỉnh bắt đầu từ thời Tống. Chúng được khắc trên các phiến đá lớn, loại được soạn vẽ trên lụa, giấy hoặc in trên giấy còn lại đến nay được biết bắt đầu từ triều Minh, nhiều nhất là thời nhà Thanh.
"Chúng ta phải đặc biệt phân biệt địa đồ hành chính Trung Hoa và địa đồ hành chính thế giới, tuy hai loại này cùng do người Trung Quốc thực hiện nhưng ý nghĩa khác nhau rất xa. Mức độ ưu tiên trong nghiên cứu dĩ nhiên nằm ở loại nội dung thứ nhất - địa đồ hành chính Trung Hoa, vì chúng thể hiện rõ quan điểm của các triều đại đối với đất đai cương giới mà nhà nước phong kiến Trung Hoa quản lý"
Nhà nghiên cứu Hán - Nôm Phạm Hoàng Quân
* Cụ thể một số tấm địa đồ hành chính Trung Hoa trong đó người Trung Quốc không hề nhận Trường Sa, Hoàng Sa là của họ như thế nào, thưa ông?
- Trong thời nhà Thanh, đa số các bức địa đồ hành chính Trung Hoa thể hiện đúng phạm vi cương vực Trung Hoa. Ngoài bức Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ, còn rất nhiều bức khác như Hoàng dư toàn lãm đồ 1719, Khang Hi thứ 58. Công trình này do chính hoàng đế Khang Hi chủ trì, các giáo sĩ Joachim Bouvet (Bạch Tấn), Petrus Pierre Jartoux (Đỗ Đức Mỹ), Jean Baptiste Regis (Lôi Hiếu Tư), Xavier Ehrenbert Fridelli (Phí Ẩn)... thực địa trắc hội và tư vấn. Địa đồ này được in khắc bản đồng, một màu, song ngữ Hán - Mãn. Họ quan trắc thực địa, ứng dụng kỹ thuật xác định điểm thiên văn ba góc, trắc lượng kinh vĩ độ toàn quốc 641 điểm, tại Quảng Đông 37 điểm, cực nam lãnh thổ Trung Quốc dừng lại tại Nhai Châu (tận cùng của đảo Hải Nam) ở 18 độ 21 phút 36 giây vĩ bắc.

Bắt đầu từ năm 1708, đến năm 1718 họ hoàn thành các bản vẽ. Từ bản vẽ này hình thành ba bản khắc: bản đồng 41 mảnh tiếp hợp, mỗi mảnh 52,5 x 77cm (năm 1719 chế xong); bản gỗ 32 mảnh phân theo tỉnh và khu vực (1719); bản gỗ 227 phiến thu nhỏ, phân tỉnh, phủ. Năm Ung Chính thứ 6 (1728) đưa vào tùng thư Cổ kim đồ thư tập thành (cuốn 101), đây là bản thu nhỏ của Hoàng dư toàn lãm đồ.

Hoàng dư toàn lãm đồ là bức địa đồ đặc biệt quan trọng, là cơ sở nền tảng về tọa độ kinh vĩ cho hầu hết các địa đồ hành chính về sau, kể cả bức Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ 1904.

* Sở hữu những tấm bản đồ có giá trị lịch sử và pháp lý, theo ông, điều chúng ta cần chú ý là gì?

- Khi phân biệt một cách rõ ràng, chúng ta sẽ thấy rõ các kiểu lý giải gượng ép về một số địa đồ cổ của học giới Trung Quốc hiện nay, họ chỉ dựa vào hoặc đưa ra các bản đồ hành chính thế giới. Dĩ nhiên họ sẽ có vẽ và tiêu danh các đảo, cụm đảo trên biển Đông, nhưng việc này không có ý nghĩa xác lập chủ quyền của nhà nước Trung Hoa.

Mặt khác, khi phân biệt một cách rõ ràng, học giới Việt Nam sẽ thuận tiện khi cho các thông tin và trưng dẫn một cách chính xác trong việc sử dụng địa đồ cổ Trung Quốc vào các lập luận.

Cuối cùng, chúng ta sẽ thấy rằng suốt quá trình lịch sử, việc soạn vẽ địa đồ của các cơ quan công quyền, các học giả và các nhà du hành người Trung Hoa không có biểu hiện chiếm hữu các đảo, quần đảo trên biển Đông Việt Nam và biển Đông Nam Á.

Tiến sĩ Mai Hồng (trái) bàn giao tấm bản đồ cho đại diện Bảo tàng Lịch sử quốc gia sáng 25-7 - 
Ảnh: Việt Dũng

Cần công bố các bản đồ thể hiện chủ quyền quốc gia

Sáng 25-7, lễ tiếp nhận tấm bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ (NXB Thượng Hải 1904), chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc Trung Quốc, đã diễn ra tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia, số 1 Tràng Tiền, Hà Nội.

Tấm bản đồ này được TS Mai Hồng trao lại cho bảo tàng nhằm lưu giữ, bảo quản cẩn trọng, phục vụ nghiên cứu khoa học, đồng thời giới thiệu tới đông đảo công chúng trong nước và quốc tế.

Xúc động trước sự quan tâm của đông đảo người dân, TS Mai Hồng chia sẻ mong mỏi nhiều đơn vị như Bộ Ngoại giao, các đơn vị chủ chốt thuộc ngành hàng hải sẽ quan tâm hơn tới việc tuyên truyền, công bố các tấm bản đồ quan trọng, thể hiện chủ quyền quốc gia trên các website thuộc bộ hoặc dịch giới thiệu ra quốc tế. Tấm bản đồ hiện được trưng bày tại phòng trưng bày chuyên đề của bảo tàng.

Cứ liệu lịch sử quan trọng
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu:
Người dân cần biết những tri thức về chủ quyền
Tấm bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ có giá trị địa lý lịch sử. Bản đồ này được vẽ dưới thời nhà Thanh bằng kỹ thuật sử dụng hệ tọa độ kinh tuyến, vĩ tuyến của châu Âu.
Điểm đặc biệt của Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ là những địa danh Trung Quốc được ghi bằng chữ Hán, nhưng có xen vào những chỗ quan trọng được ghi bằng chữ Pháp. Chẳng hạn, giới hạn cực nam của biển Trung Quốc trên bản đồ này có ghi dòng chữ “Mer de Chine” (biển Trung Quốc) từ đảo Hải Nam trở lên phía trên. Đây cũng chính là giới hạn cuối cùng của biển Trung Quốc về phía nam.
Cùng loại với tấm bản đồ này, tôi có hơn một chục tấm bản đồ Trung Quốc được thực hiện trong nhiều thời kỳ, có bức từ thế kỷ 16, đều thể hiện cương vực của Trung Quốc về phía nam chỉ đến đảo Hải Nam.
Ý nguyện của tôi là trong tranh chấp chủ quyền biển đảo hiện nay nên giữ nguyên tắc “công lý và hòa bình”. Còn những tư liệu thể hiện rõ ràng chủ quyền của Việt Nam trong lịch sử thì nên dần dần đưa vào sách giáo khoa. Hiện nay học sinh đã kém về môn lịch sử, môn địa lý lịch sử lại càng kém.
Trong tranh chấp quốc tế, những bản đồ chính thống như Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ có giá trị quan trọng, khi mình đưa ra thì nó góp phần chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.

Ông Dương Trung Quốc - Ảnh: V.Dũng

Có mặt trong buổi lễ bàn giao bản đồ cổ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ, nhà sử học Dương Trung Quốc khẳng định: “Bản đồ được xem là một trong những tư liệu lịch sử, cho nên việc sưu tập bản đồ hết sức cần thiết trong công tác nghiên cứu nói chung, trong đó có những vấn đề liên quan đến chủ quyền.

Chúng ta biết rằng việc xây dựng được một tấm bản đồ chẳng hạn như bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ mang tính khoa học cao, do vậy cũng có tính thuyết phục cao”.

* Bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ đã góp thêm cứ liệu lịch sử hữu ích và chắc chắn còn nhiều cứ liệu có liên quan khác mà chúng ta chưa biết?


- Ngành bản đồ học đã phát triển từ rất lâu tại nhiều quốc gia trên thế giới. Ngay Việt Nam chúng ta đều biết Đại Nam nhất thống toàn đồ vẽ năm 1834 đã có Hoàng Sa, Vạn lý Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, có thể với phương pháp vẽ tưởng như rất đơn giản nhưng lại rất rõ về chủ quyền.

Vị trí địa lý Việt Nam là khớp nối giữa hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, nằm trên một con đường hàng hải rất huyết mạch của thế giới, cho nên chúng ta phải quan tâm không những đến bản đồ của Việt Nam hay của Trung Quốc, mà còn là bản đồ của nhiều cường quốc về hàng hải khác khi thể hiện nội dung có liên quan. Có thể họ vẽ bản đồ không đề cập trực tiếp đến vấn đề chủ quyền, nhưng dẫu sao có những yếu tố mà qua đó chúng ta có thể nhận dạng được về vị trí địa lý của không gian biển đảo, của lãnh thổ quốc gia.

Còn về phía Trung Quốc, tôi tin đây là quốc gia mạnh về thư tịch học, những bản đồ của họ nằm rải rác rất nhiều hay được lưu trữ tại thư viện bản địa và nhiều nước trên thế giới. Tôi nghĩ ngay thư viện của ta cũng có, đặc biệt là kho lưu trữ của Thư viện Học viện Viễn Đông Bác Cổ, với những nguồn tư liệu được xây dựng từ cuối thế kỷ 19-20. Vấn đề là chúng ta đã khai thác được hết hoặc tập trung khai thác nhiều những tư liệu đang có chưa.

* Là một nhà sử học, ông cho rằng những chứng cứ học thuật như tấm bản đồ vừa được tìm thấy có ý nghĩa thế nào về mặt pháp lý?

- Cần thấy rằng việc đầu tư một cách bài bản cho việc sưu tập bản đồ không chỉ liên quan đến đấu tranh chủ quyền mà cả việc nhìn ra biển cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Về mặt pháp lý, theo nhận thức của tôi, biển là không gian rất đặc thù, khác với việc hoạch định đường biên giới ở đất liền. Hơn nữa, đường biên giới biển bên cạnh việc liên quan đến chủ quyền quốc gia còn liên quan đến quyền tự do hàng hải.

Việt Nam đã hiện diện ở biển Đông rất lâu rồi thì cuộc đấu tranh phân định chủ quyền phải dựa trên nhiều cơ sở: những cam kết quốc tế như công ước luật biển năm 1982 và những chứng cứ lịch sử, những tài liệu thư tịch trong đó có cả bản đồ.

Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã:
Nên đưa ra thế giới toàn bộ hồ sơ chủ quyền của VN
Việc đưa ra tấm bản đồ cổ có xuất xứ Trung Quốc trong lúc này có giá trị thông tin rất cao, khiến mọi người quan tâm, đặc biệt kể cả phía Trung Quốc.
Phải nói với bất cứ tài liệu cổ nào của Trung Quốc từ chính sử, dã sử, địa dư, bản đồ đều dễ dàng chứng minh được rằng Paracel tức Hoàng Sa hay Cát Vàng của Việt Nam mà Trung Quốc gọi là Tây Sa hay Xisha không hề thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc.
Riêng về bản đồ cổ của Trung Quốc thì đã rất nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam như TS Nguyễn Quang Ngọc từng phát hiện tại kho bản đồ ở Úc rất nhiều bản đồ cổ.
Luận án tiến sĩ của tôi (Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa) đã kể trong phụ lục hơn 10 bản đồ cổ của Trung Quốc vẽ cực nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam như: Dư địa đồ đời Nguyên vẽ lại thu nhỏ trong sách Quảng dư đồ năm 1561, Thiên hạ nhất thống chí đồ trong Đại Minh nhất thống chí năm 1461, Hoàng Minh đại nhất thống tổng đồ trong Hoàng Minh chức phương địa đồ năm 1635, Hoàng triều nhất thống dư địa tổng đồ năm 1894, Quảng Đông tỉnh đồ trong Quảng Đông dư địa toàn đồ năm 1897...
Tôi rất vui mừng khi biết thêm thông tin về một trong hàng trăm bằng chứng về Trung Quốc không hề có chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa. Tôi đề nghị phải thật quan tâm việc đưa ra thế giới toàn bộ hồ sơ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa theo đúng pháp lý quốc tế về chiếm hữu thật sự mang tính nhà nước các hải đảo.

Lam Điền/V.V.Thành/Nga Linh/Tuổi trẻ

Công bố thêm 8 bản đồ Trung Quốc không có Trường Sa, Hoàng Sa

( Báo Giáo dục Việt Nam) - 8 bản đồ được xuất bản trong nhiều năm (từ 1905 đến 1926) của Trung Quốc chỉ rõ đảo Hải Nam là cực nam của Trung Quốc. Các bản đồ này được sưu tầm từ nhiều cuốn sách cổ, kho dữ liệu điện tử... của Trung Quốc và Đài Loan, bởi Ths. Chử Đình Phúc (Viện Trung Quốc, Viện Khoa học xã hội Việt Nam). 
 
 
“Đại Thanh đế quốc” trong sách “Thanh đại địa đồ tập”, Thanh Quang Tự tam thập nhất niên (1905), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán biên ấn xuất bản,vẽ cực Nam Trung Quốc đến hết Hải Nam.
 
 
Bản đồ “Đại Thanh đế quốc”  trong sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, năm 1908 (tức Tuyên Thống nguyên niên, Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành .
 
 
 Bản đồ tỉnh Quảng Đông với cực Nam là đảo Hải Nam, trong sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ”, năm 1908 (tức Tuyên Thống nguyên niên ), Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành.
 
“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ”, trong sách “Trung Hoa tân hình thế nhất lãm đồ”của hai tác giả Thượng Ngu và Đồ Tư Thông do Thượng Hải Thế giới dư địa học xã phát hành năm 1926. Bản đồ vẽ cực Nam Trung Quốc đến tỉnh Hải Nam.
 
 
 Bìa cuốn sách “Trung Hoa tân hình thế nhất lãm đồ” của hai tác giả Thượng Ngu và Đồ Tư Thông, Thượng Hải do Thế giới dư địa học xã phát hành năm 1926.
 
 
“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” trong sách “Trung Hoa Dân quốc phân tỉnh địa đồ sách” xuất bản năm 1933.
 
 
“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ” trong sách “Trung Hoa Dân quốc nhị thập tứ niên (1935) toàn quốc tỉnh khu”. Bản đồ chỉ rõ cực Nam Trung Quốc đến hết đảo Hải Nam.
 
 
“Trung Hoa Dân quốc toàn đồ”, trong sách “Tối tân Trung Hoa hình thế nhất lãm đồ ” in năm 1935.
 
 
Bìa cuốn sách “Đại Thanh đế quốc toàn đồ” là cuốn sách chứa rất nhiều bản đồ của Nhà Thanh. Trong đó xác định đảo Hải Nam là cực nam của Trung Hoa. Sách in năm 1908 (tức Tuyên Thống nguyên niên), do Thượng Hải Thương vụ ấn thư quán phát hành.
 
 
Bìa cuốn sách “Tối tân Trung Hoa hình thế nhất lãm đồ” in năm 1935.
 
Thảo Lăng

Trung Quốc bối rối trước bản đồ cổ của Việt Nam

(Báo Giáo dục Việt Nam) - Thông tin về bản đồ đời nhà Thanh không có Hoàng Sa, Trường Sa thu hút sự chú ý của dư luận Trung Quốc. Chính quyền im lặng nhưng cư dân mạng bàn luận rất sôi nổi.

Bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ do nhà Thanh xuất bản năm 1905.
 
Mấy ngày qua, trên các diễn đàn mạng Trung Quốc liên tục nổ ra tranh luận về Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ do nhà Thanh xuất bản năm 1905. Như nhiều báo Việt Nam đưa tin, tấm bản đồ thể hiện rõ biên giới phía Nam Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam là hết.

Đây là bằng chứng không thể chối cãi, có giá trị lịch sử, pháp lý để phản bác các tuyên bố sai trái lâu nay của Trung Quốc về 2 quần đảo của Việt Nam. Mới đây, tấm bản đồ vừa được TS Mai Hồng, nguyên Trưởng phòng Tư liệu Viện Hán Nôm, trao tặng cho Bảo tàng Lịch sử quốc gia.

Sau đó, hàng loạt cơ quan truyền thông Trung Quốc, lớn có Đài Phượng Hoàng, mạng tin Sina, nhỏ có báo mạng Stockstar, mạng Tân Lãng, đều đăng lại thông tin về Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ. Theo thống kê, bản tin kèm video của Đài Phượng Hoàng và Sina tường thuật quang cảnh buổi lễ trao tặng nói trên đã thu hút gần nửa triệu lượt xem chỉ sau 2 ngày. Các báo đài này còn giới thiệu tỉ mỉ về tấm bản đồ cũng như dẫn lời TS Mai Hồng và các chuyên gia, học giả Việt Nam về giá trị, ý nghĩa của nó. Trong bản tin, Stockstar dùng cả tên Hoàng Sa và Trường Sa thay vì những cách gọi ngụy xưng Tây Sa, Nam Sa.

Đến nay, chính quyền và giới học giả Trung Quốc vẫn im lặng về vấn đề trên nhưng các cư dân mạng nước này bàn luận rất sôi nổi. Một số người Trung Quốc thừa nhận rằng với nội dung bản đồ như vậy thì đúng là Trường Sa, Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Một số khác vẫn còn ngờ vực và đề nghị tìm kiếm thêm các bản đồ cũ hơn nữa của Trung Quốc để đối chiếu. Tuy nhiên cũng có một bộ phận ngạo mạn thách thức: “Trên thế giới này có ai dám cùng Trung Quốc chơi lịch sử nào?”. Một số khác cho rằng việc Việt Nam đòi chứng minh chủ quyền bằng bản đồ là “ngụy tạo bắt chước những gì Hàn Quốc từng làm đối với tranh chấp đảo đá Ieodo/Tô Nham Tiêu”… 
 
Bản tin về bản đồ Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ trên Đài Phượng Hoàng.

Đủ cách “đầu độc”


Sở dĩ vẫn còn những ý kiến mù quáng phản bác một bằng chứng rõ ràng như Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ là do chính quyền Trung Quốc trong một thời gian dài đã tiêm nhiễm dư luận về “chủ quyền không thể chối cãi” ở biển Đông. Điều này được học giả Lý Lệnh Hoa, chuyên viên Trung tâm thông tin hải dương Trung Quốc, nhiều lần chỉ rõ khi khẳng định giáo trình và truyền thông khiến người dân hiểu sai về chủ quyền ở biển Đông.

Ngoài tài liệu ngụy tạo, tuyên bố của nhà nước, phát biểu của các học giả, nước này còn tuyên truyền thông qua những phương tiện thu hút rất đông thanh niên, cư dân mạng thiếu hiểu biết như tiểu thuyết trên mạng, trò chơi trực tuyến… Trong đó có tiểu thuyết Chiến tranh biển Đông Trung - Việt của tác giả giấu mặt có nickname Văn Võ 428 đăng trên Readnovel.com và được nhiều diễn đàn khác lấy lại. Hồi tháng 6, Trung Quốc lợi dụng trò chơi trực tuyến World of Tanks để kêu gọi “liên hiệp hành động Nam Hải, bảo vệ chủ quyền” tại biển Đông, quyên tiền của người chơi để tặng cho binh lính đang chiếm đóng phi pháp ở Hoàng Sa và một số đảo thuộc Trường Sa.

Bên cạnh đó, Trung Quốc còn tung ra trò chơi Bảo vệ đảo Điếu Ngư để kích động về tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư với Nhật Bản. Lời lẽ trong đó vô cùng hung hăng, hiếu chiến khi quảng cáo là người chơi sẽ “tận hưởng cảm giác tiêu diệt lũ quỷ Nhật xâm lược”.
Lập trang web Tam Sa sai trái
Bất chấp những phản đối gay gắt của quốc tế về việc thành lập phi pháp cái gọi là TP.Tam Sa, Trung Quốc còn leo thang trắng trợn trong việc lập ra vô số trang web thông tin riêng về Tam Sa như Sansha.hinews.cn (thuộc Tập đoàn nhật báo Hải Nam), Hq.xinhuanet.com/sansha (thuộc Tân Hoa xã).
Với hình ảnh đảo Phú Lâm, nằm trong quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, làm hình nền trang chủ, trang Tam Sa của Tân Hoa xã có nhiều mục như: tin nóng, văn hóa, du lịch, cuộc sống, quan sát, quan điểm, phỏng vấn chuyên đề… Đây là nơi những thông tin tuyên truyền sai trái, những hành động phi pháp của Trung Quốc được phát tán, càng khiến người dân nước này bị “đầu độc” về vấn đề biển Đông.
Tokyo đăng quảng cáo về đảo tranh chấp
Chính quyền thủ đô Tokyo của Nhật Bản vừa tìm ra một kênh mới để quảng bá, tuyên truyền cho chủ quyền đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đang tranh chấp với Trung Quốc: quảng cáo. Ngày 27/7, giới chức cho đăng quảng cáo chiếm 2/3 trang trên tờ báo nổi tiếng Wall Street Journal của Mỹ với tựa To the American people from Tokyo, Japan (tạm dịch: Gửi đến người Mỹ từ Tokyo, Nhật Bản).
Trong đó, nội dung cho rằng Trung Quốc đang gia tăng áp lực ở Senkaku/Điếu Ngư và cảnh báo “Mỹ mất cả Thái Bình Dương nếu không ủng hộ các quốc gia châu Á ứng phó Trung Quốc”. Bài quảng cáo cũng kêu gọi Mỹ ủng hộ kế hoạch của chính quyền Tokyo mua lại 4 đảo thuộc Senkaku/Điếu Ngư. Hồi tháng 4, Thị trưởng Tokyo Shintaro Ishihara lập quỹ góp tiền mua đảo và tính đến đầu tháng 7, quỹ này đã thu được 16,3 triệu USD, theo AFP. Bắc Kinh chưa có phản ứng về bài quảng cáo trên Wall Street Journal.
Theo Thanh Niên

27/7/12

Bản đồ cổ phương Tây khẳng định Hoàng Sa của Việt Nam

(VnExpress.net) - Những tấm bản đồ cổ của phương Tây góp phần minh chứng từ hơn 5 thế kỷ trước, Việt Nam đã xác lập chủ quyền quốc gia trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

An Nam đại quốc họa đồ do Giám mục Taberd vẽ năm 1838.  

Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng vừa hoàn thành đề tài Font tư liệu về chủ quyền Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng). Tiến sĩ Sơn cho hay, không chỉ các bản đồ cổ Việt Nam, Trung Quốc mà rất nhiều bản đồ cổ của phương Tây đều khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.

Một trong những thành công lớn của nhóm nghiên cứu là sưu tầm được 56 tấm bản đồ phương Tây của font tư liệu này. Các bản đồ này được vẽ rất sớm, như: Bản đồ do Livro da Marinharia FM Pinnto vẽ năm 1560, bản đồ do Gerard Mercator (1512 - 1594) vẽ có niên đại vào nửa sau thế kỷ 16... cho đến những bản đồ được vẽ vào cuối thế kỷ 19 như bản đồ do Stielers Handatla vẽ năm 1891...

Tất cả đều thể hiện bằng hình vẽ hoặc bằng chữ viết vị trí của quần đảo Hoàng Sa (bao gồm cả quần đảo Trường Sa) trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới các tên gọi như Cauchi, Cochi, Cochinchina, Cochinchine... (tùy theo ngôn ngữ của từng nước phương Tây).

Trên một số bản đồ, địa danh Hoàng Sa còn được thể hiện hoặc ghi chú rất đặc biệt. Chẳng hạn, bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613 thể hiện quần đảo Frael (Hoàng Sa), bao gồm tất cả các đảo của Việt Nam từ nam vịnh Bắc Bộ cho đến hết vùng biển phía nam của Việt Nam, trừ Pulo Condor (Côn Đảo) và Pulo Cici (đảo Phú Quốc) được vẽ riêng.

Trong bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1645, quần đảo Frael (Hoàng Sa) được vẽ nối liền với các đảo Pulo Secca de Mare (Cù Lao Thu, tức đảo Phú Quý), Pulo Cambir (Cù Lao Xanh), Pullo Canton (Cù Lao Ré, tức đảo Lý Sơn), thành một chuỗi đảo liên hoàn thuộc lãnh thổ Cochinchina (Đàng Trong)....

Đặc biệt, tấm bản đồ mang tên An Nam đại quốc họa đồ, viết bằng 3 thứ ngôn ngữ Hán, Quốc ngữ và Latin, do Giám mục Jean Louis Taberd vẽ năm 1838, có ghi hàng chữ Paracel seu Cát Vàng (nghĩa là Paracel hoặc là Cát Vàng) khẳng định chủ quyền Việt Nam.

Cũng chính Giám mục Taberd trong bài viết in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal vào năm 1837 cũng khẳng định Paracels, hay Pracel, tức là Hoàng Sa - Cồn Vàng, thuộc về Cochinchina (Giao Chỉ gần China, chỉ tên nước ta), tiến sĩ Sơn phân tích.

Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, chuyên gia hàng đầu về bản đồ cổ Việt Nam, hiện sưu tập được 30 bản đồ cổ của phương Tây, có niên đại từ năm 1489 đến năm 1697, có thể hiện hình vẽ và địa danh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. 

Đặc biệt từ tấm bản đồ thứ 4 từ năm 1507 đều có ghi vẽ đất nước ta với biển Đông và quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa. Tùy theo cách phát âm của mỗi tác giả vẽ bản đồ mà ghi tên nước ta. Có bản đồ ghi Cauchi tức Giao Chỉ, hoặc các dạng tự khác như Cochi, Cachi, Cachu, Cochin đều biểu hiện nguyên âm Giao Chỉ.

Theo tiến sĩ Sơn, 56 bản đồ cổ phương Tây này được sưu tầm có niên đại trải dài hơn 3 thế kỷ. Điều này chứng tỏ từ thế kỷ 16, nhiều người phương Tây đã biết đến vùng biển đảo Hoàng Sa và ghi nhận quần đảo này là một phần lãnh thổ của Việt Nam (mà bấy giờ họ gọi là Cochinchine, Cochinchina, Annam…). 

"Chủ quyền này đã được các nhà bản đồ học, các nhà hàng hải, nhà phát kiến địa lý... phương Tây thừa nhận và ghi dấu lên những tấm bản đồ địa lý và bản đồ hàng hải của họ. Vì thế, những tấm bản đồ này là những tư liệu quý, góp phần khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa), mà hiện nay đang có một số quốc gia trong khu vực tranh chấp chủ quyền", ông Sơn nói. 

Theo tiến sĩ Sơn, nhiều tấm bản đồ cổ phương Tây đang được lưu giữ tại các thư viện công và bộ sưu tập tư nhân ở châu Âu và châu Mỹ. Trong đó phần lớn bản đồ mà nhóm nghiên cứu đề tài sưu tầm đều là bản đồ scan trực tiếp từ bản đồ gốc được đồng nghiệp là ông Trần Thắng, Chủ tịch Viện Văn hóa giáo dục Việt Nam (IVCE) tại Mỹ, đến các thư viện tại Mỹ để tìm kiếm, xin phép scan.

Qua ông Thắng, tiến sĩ Sơn vừa có thêm nhiều tấm bản đồ cổ của phương Tây xuất bản trước và sau khi chính quyền Trung Quốc có những tuyên bố bất hợp pháp về chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào năm 1909.

Trong số này có bản đồ China do Adam và Charles Black vẽ cho bộ sách The Encyclopaedia Britannica, do Nhà xuất bản Edinburgh ấn hành năm 1876, bản đồ China, ấn hành năm 1883, bản đồ China and Japan, ấn hành năm 1896; bản đồ Siam and the Malay Archipelago do The Times Atlas (London, Anh) xuất bản năm 1896, bản đồ Route map showing from St. Petersburg to Guft of Tongking, ấn hành năm 1900...

"Điểm giống nhau giữa các bản đồ này là phần lãnh thổ Trung Quốc được tô khác màu hoặc được giới hạn bằng những đường kẻ đậm nét để phân biệt với lãnh thổ các nước láng giềng của Trung Quốc, luôn chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam. Khẳng định Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa", tiến sĩ Sơn nhấn mạnh.

Tiền phong

18/7/12

Phát hiện tấm bản đồ cổ của Trung Quốc chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa không thuộc lãnh thổ Trung Quốc

ANTĐ - Tiến sỹ Mai Hồng nguyên là Trưởng phòng Tư liệu thư viện của Viện Hán Nôm, hiện ông đang là Giám đốc trung tâm nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam. Hơn 30 năm gắn bó với công tác lưu trữ, Tiến sỹ Mai Hồng đã sưu tập được rất nhiều tư liệu quý và có giá trị lịch sử cũng như giá trị thực tiễn cao. Trong số này, ông đặc biệt chú ý tới một bức bản đồ cổ có tên gọi “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” có xuất xứ từ Trung Quốc…


“Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” (Toàn bộ bản đồ địa lý của đất nước) là tập bản đồ Trung Quốc xuất bản tại Thượng Hải năm 1905 và tái bản năm 1910. Đây là một trong những tập bản đồ Trung Quốc được vẽ và ấn hành vào cuối triều Thanh, phản ánh nhận thức đương thời của người Trung Quốc, quan chức, học giả đối với cương giới, lãnh thổ Trung Quốc thời điểm đó.

Điều đáng chú ý là: Trên bản đồ toàn quốc và bản đồ tỉnh Quảng Đông chỉ vẽ đến đảo Hải Nam. Đảo Hải Nam trên bản đồ là điểm cực Nam lãnh thổ Trung Quốc và bản đồ tỉnh Quảng Đông, chứng minh các quần đảo ở Biển Đông nằm ngoài lãnh thổ Trung Quốc.

Tấm “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” được in màu khá đẹp gồm 35 miếng ghép bằng giấy bồi dán trên mặt vải bố, trong đó mỗi miếng ghép có kích cỡ khoảng 20x30cm. Nói về cơ duyên có được tấm bản đồ này, Tiến sỹ Mai Hồng cho biết: “Khoảng thời gian cuối những năm 1970 thế kỷ trước, lúc này đang công tác tại Viện Hán Nôm và được cố Giáo sư Phạm Huy Thông giao cho việc trông coi kho sách cổ, trong một lần có một cụ ông ở Phú Xuyên (Hà Tây cũ) gánh sách lên bán cho Viện, trong hành trang cá nhân của ông có đem theo tập “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ”, biết tôi là người yêu thích sưu tập các văn tự cổ, ông lão đã bán tấm địa đồ này cho tôi…”. Sau khi có được tấm bản đồ ông Hồng đã cất giữ trong kho tư liệu của mình. Đến năm 2002, ông Hồng về hưu và cũng dần quên mất sự có mặt của tấm bàn đồ. Tình cờ trong một lần gần đây sắp xếp lại kho tư liệu ông mới tìm lại được tấm bản đồ quý này.

Phía trên của “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” có một văn bản bằng Hán tự cổ có nội dung đại ý rằng từ đời xưa người Hán đã có các tấm bản đồ nhưng không được rõ ràng, chính xác và không rõ ngọn nguồn. Đến đời Khang Hy thứ 47 Thánh tổ nhân hoàng đế đã sai phái 2 giáo sỹ người nước ngoài làm ra tấm “Vạn lý thành đồ” trong vòng hơn 1 năm. Sau khi các tỉnh đã duyệt quy mô như đã định trên bản đồ, đến năm Tân Mão đời Khang Hy thứ 50 các giáo sỹ đã tập trung ở Kinh đô cùng nhau vẽ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” gồm 13 tỉnh của Trung Quốc, trong đó có nói rõ “Chỗ nào bị tàn khuyết thì bổ sung, chỗ nào nhầm lẫn thì sửa lại cho đúng, khiến cho nó được rõ ràng như trong lòng bàn tay…”.

Nếu nhìn vào “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” có thể thấy đại đồ thể hiện cương vực Trung Quốc xưa (có giá trị như bản đồ hành chính Trung Quốc ngày nay), đó là cơ sở pháp lý để xác định chủ quyền cương vực quốc gia. Song trên tấm “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” điểm cực Nam của Trung Quốc chỉ dừng lại ở địa giới của đảo Hải Nam ngày nay mà không hề có sự xuất hiện các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa ở Biển Đông.

Ngược về quá khứ, có thể thấy Trung Quốc là nơi có truyền thống lâu đời về sử học nói chung và địa đồ nói riêng. Với những tấm địa đồ vẽ những địa phương nhỏ đã xuất hiện và có niên đại từ rất sớm (năm 229 trước Công nguyên phát hiện 7 bức Bãi thả ngựa sông Thiên Thủy có niên đại thời Chiến Quốc). Song địa đồ được xem là thể hiện cương vực quốc gia hoàn chỉnh sớm nhất xuất hiện vào năm 1121 (đời Tống) và được khắc trên đá có tên gọi Cử vực thú lệnh đồ. Giới hạn cương vực nhà Tống trong Cửu vực thú lệnh đồ về phía Nam đến Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam ngày nay). Theo các nhà nghiên cứu, các địa đồ sau này trải qua các đời Nguyên, Minh như Quảng dư đồ (hoàn thành năm 1541, khắc in năm 1555), Hoàng triều chức phương địa đồ (khắc in năm 1636)… là những địa đồ hành chính toàn quốc, được thực hiện theo chủ trương của chính quyền Trung ương các đời. Những địa đồ này thực hiện dưới sự ảnh hưởng của kỹ thuật vẽ địa đồ phương Tây, tuy nhiên điểm cực Nam của Trung Quốc trong cương vực tổng thể vẫn không vượt quá Quỳnh Châu.

Theo Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Hà thuộc Trung tâm Bảo tồn khu di tích Cổ Loa, Thành cổ Hà Nội, “Hoàng Triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” được ấn hành vào năm 1905 và tái bản năm 1910. Trước đó trên các bản đồ của Việt Nam như Hồng Đức bản đồ, trong các ghi chép của Lê Quý Đôn trong “Phủ biên tạp lục”…chủ quyền đã thuộc về Việt Nam. Điều này đã được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, luật pháp chứng minh. Trao đổi với chúng tôi, Tiến sỹ Mai Hồng cho biết, tấm “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” là tấm bản đồ do người Trung Quốc xây dựng và ấn hành thời gian đầu thế kỷ XX, do vậy bên cạnh giá trị về mặt lịch sử nó còn là cơ sở giúp các học giả Việt Nam trong các nghiên cứu chủ quyền quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa hoặc các nghiên cứu chung về Biển Đông. Vì vậy ông sẵn sàng hiến tặng tài liệu quý này cho các cơ quan chức năng có trách nhiệm để phục vụ vào mục đích chung.

Duy Minh

5/5/12

TRUNG QUỐC: HÃY ĐỌC KỸ SỬ CHÍ ĐỂ KHỎI NÓI CÀN RẰNG ĐẢO BẠCH LONG VĨ KHÔNG THUỘC CHỦ QUYỀN VIỆT NAM


Văn chương +

[Bài viết nhằm nhắc nhở một vài người Hoa (China), hãy đọc kỹ sử chí nước họ; để khỏi nói càn rằng đảo Bạch Long Long Vĩ không thuộc chủ quyền Việt Nam.]
Hai bộ sách trong Tứ Khố Toàn Thư có tên Lãnh Ngoại Ðại Ðáp (嶺 外 代 答) và Ðông Tây Dương Khảo (東 西 洋考 )đề cập nhiều lần đến Giao Chỉ dương tức biển Giao Chỉ
Lãnh Ngoại Ðại Ðáp do Chu Khứ Phi soạn. Khứ Phi người đất Vĩnh Gia, đậu Tiến sĩ năm  Long Hưng thứ 1 [1193]; từng giữ chức Thông phán tại Quế Lâm, Quảng Tây. Vì làm quan lâu năm tại đây, nên có nhiều bạn hữu hỏi thăm về lịch sử địa lý phong tục vùng này; số người muốn biết rất đông, phải trả lời phát mệt, nên ông viết bộ sách thay thế,  sách nhan đề  Lãnh Ngoại Ðại đáp có nghĩa là “ thay lời giải đáp về vùng đất Lãnh Ngoại ”, sách gồm 10 quyển.
Qua nhan đề sách, cần phân biệt các từ ngữ “lãnh” và “sơn”. Sơn là núi thuần túy, lãnh là núi có đường đi qua; ví như tại nước ta thì các núi tại đèo Cả, đèo Ngang đều có thể gọi là lãnh. Tuy nhiên Chu Khứ Phi xét trên thực tế cho rằng Ngũ Lãnh là 5 con đường chính vào đất Lãnh Ngoại, có thể qua núi, có thể không:
- Từ đất Ðinh thuộc Phúc Kiến vào Tuần Mai, Quảng Ðông; là đường thứ nhất.
- Từ Nam An, Giang Tây vượt qua Ðại Dữu vào Nam Hùng, Quảng Ðông; đường thứ hai.
- Từ đất Lâm thuộc Hồ Nam vào đất Liên; đường thứ ba.
- Từ đất Ðạo vào đất Hạ, Quảng Tây, là đường thứ tư.
- Từ đất Toàn vào Tĩnh Giang, là đường thứ năm.
Còn Lãnh Ngoại tại đâu? Tức lãnh thổ nước Nam Việt thời nhà Triệu; bằng cớ được thấy qua thư của Hán Văn đế gửi cho Nam Việt vương Triệu Ðà vào năm Hán Văn đế thứ nhất [ _179 ], do Sứ thần Lục Giả trao tay cho Triệu Ðà, có đoạn như sau:
“…..Nay lấy đất của Vương không đủ lớn thêm được, lấy của cải của Vương cũng không đủ giàu thêm được, thôi thì từ Ngũ Lãnh trở về nam do Vương tự trị. Tuy nhiên với danh hiệu Ðế mà Vương tự xưng; như vậy có hai Ðế cùng tồn tại, lại không còn sứ giả đi lại, tức là tranh chấp. Nếu tranh dành mà không biết nhường nhịn, bậc quân tử không ai làm như vậy. Mong rằng sẽ cùng Vương bỏ sai lầm cũ , để hai nước thông sứ như cũ. Bởi vậy Trẫm sai Lục Giả mang dụ cáo Vương, Vương hãy nhận lấy, đừng đánh phá thêm nữa ….”(1)
Xét về lai lịch vùng đất này, Chu Khứ Phi xác nhận trước đó đã bị bị Tần Thủy Hoàng thôn tính [_214 ]:
“ Từ khi Hoàng đế nhà Tần thôn tính thiên hạ, xẻ núi làm đường, lược định Dương Việt, đặt ra Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận.” (2)
Ðến đời Hán Vũ đế [_111] xâm lăng nước Nam Việt của nhà Triệu, tiện thể chiếm đảo Hải Nam; chia tất cả thành 9 quận:
“Hán Vũ đế bình Nam Việt chia đất Quế Lâm của nhà Tần thành 2 quận: Uất Lâm và Thượng Ngô;chia Tượng quận thành 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam;[Nam Hải được giữ tên cũ]cắt phần đất thừa của Nam Hải và Tượng quận lập quận Hợp Phố;từ đất Từ Văn vượt biển chiếm đảo Hải Nam chia thành 2 quận: Chu Nhai và Ðam Nhĩ. (3)”
Như chúng ta đã biết 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thuộc đất Ðại Việt cũ, Cửu Chân là Thanh Hóa, Giao Chỉ tại phía bắc Cửu Chân tương đương với Bắc Việt ngày nay, tức từ tỉnh Ninh Bình lên phía bắc cho đến biên giới Trung Quốc; vậy biển Giao Chỉ, hay Giao Chỉ dương còn có thể gọi là biển Bắc Việt.
Chu Khứ Phi xác nhận Giao Chỉ dương, tại phía tây đảo Hải Nam, ông mô tả như sau:

 Ba dòng nước xoáy
Bốn quận phía tây nam đảo Hải Nam có biển lớn gọi là Giao Chỉ dương. Tại biển có 3 dòng nước xoáy, nước phun lên chía thành 3 dòng; dòng thứ nhất chảy về phía nam dẫn đến biển thuộc các nước Phiên (4); dòng thứ 2 chảy lên phía bắc qua vùng biển Quảng Ðông, Phúc Kiến, Chiết Giang; dòng thứ 3 chảy vào nơi mù mịt không bờ gọi là Ðông Ðại Dương. Tàu thuyền đi về hướng nam phải qua ba dòng nước xoáy, nếu gặp một chút xíu gió thì vượt được,nếu vào chổ hiểm đó mà không có gió  thuyền không ra được, ắt phải vỡ chìm trong ba dòng nước xoáy. Nghe truyền rằng biển lớn phía đông  có  Trường Sa Thạch Ðường (5) rộng vạn dặm, nước thủy triều (6) thi triển đẩy vào chốn cửu u (7). Trước kia đã có thuyền bị bão phía tây thổi, trôi dạt đến biển lớn phía đông này , nghe tiếng ba đào chấn nộ hung hãn, trong khoảng khắc gặp gió lớn thuận chiều nên may thoát được .
Bản đồ Google chỉ vùng biển Giao Chỉ

Phiên âm và chú thích bản đồ Google:
Beihai: Bắc Hải thị, thuộc phủ Liêm Châu đời Thanh.
Changgiang lizu: Xương Giang Lê tộc, thuộc phủ Quỳnh Châu thời Thanh
Dongxing: Ðông Hưng, thuộc phủ Liêm Châu thời Thanh.
Fangchenggang: Phòng Thành thị, thuộc phủ Liêm Châu thời Thanh.
Hepo: huyện Hợp Phố, thuộc phủ Liêm Châu thời Thanh.
Lezhou: phủ Lôi Châu thời Thanh.
Lingao: huyện Lâm Cao thuộc phủ Quỳnh Châu [Hải Nam]
Xuwen: huyện Từ Văn, thuộc phủ Lôi Châu
Nhìn lên bản đồ Google, vị trí  biển Giao Chỉ hoặc Giao Chỉ dương, về phía Việt Nam gồm duyên hải các tỉnh Ninh Bình, Nam Ðịnh, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh. Về phía Trung Quốc, Giao Chỉ dương nằm ngoài vùng biển thuộc 3 phủ của Trung Quốc, đó là: Liêm Châu, Lôi Châu, và Quỳnh Châu. Căn cứ bản đồ và những điều mô tả trong Trù Hải Ðồ Biên (籌 海 圖 編 )của Hồ Tôn Hiến thời Gia Tĩnh triều Minh, và Khâm Ðịnh Ðại Thanh Nhất Thống Chí (欽定大清一統志 )thời Càn Long nhà Thanh, thấy được vùng duyên hải 3 phủ như sau:
- Vùng biển phủ Liêm Châu, từ tây sang đông bắt đầu từ biên giới Việt nam cho đến giáp giới phủ Lôi Châu, có các đơn vị hành chánh hiện nay như Ðông Hưng thị [Dongxing], Phòng Thành cảng thị [Fangchenggang] , Khâm châu thị [Quinzhou], huyện Hợp Phố [Hepu], Bắc Hải thị [Beihai] . Bờ biển dài khoảng 150 km,  đảo ngoài xa như Ô Lôi cách bờ biển khoảng 90 km.
- Vùng biển phủ Lôi Châu,phía tây giáp với biển Giao Chỉ. Bờ biển dài khoảng 150 km, hiện nay có các đơn vị hành chánh như Lôi Châu thị [Leizhou], huyện Từ Văn [Xuwen];  đảo xa phải kể đến Khốn Châu, cách bờ khoảng 60 km.
- Vùng biển phía tây phủ Quỳnh Châu [Hải Nam] giáp với biển Giao Chỉ. Bờ biển dài khoảng 300 Km, hiện nay có các đơn vị hành chánh như: huyện Lâm Cao [Lingao], Ðam Châu thị [Danzhou], cảng Xương Hóa [Changjang Lizu],Tam Á thị [Sanya].
Có thể nói rằng ngoại trừ phần lãnh hải 3 phủ nêu trên, phần còn lại là biển Giao Chỉ, bề ngang từ tây sang đông trên 200 km. Nay xét đến đảo Bạch Long Vĩ tại tọa độ địa dư 20.08 bắc 107.44 đông, chỉ cách bờ biển Hải Phòng chưa đến 100 km, ắt phải nằm trong biển Giao Chỉ, tức thuộc lãnh hải Việt Nam.
Hãy nhìn lại bản đồ Trung Quốc và vùng Ðông Nam Á; từ các tỉnh Chiết Giang, Phúc Kiến, và phía bắc Quảng Ðông, thủy trình ngắn nhất đến các nước Ðông Nam Á như Chiêm Thành, Chân Lạp, Trảo Oa (8) vv… phải theo hướng nam, tức phía đông đảo Hải Nam. Nhưng trên thực tế họ  tránh quần đảo Hoàng Sa, với sự hãi hùng như tác gỉả Lãnh Ngoại Ðại Ðáp đã mô tả “Nghe truyền rằng biển lớn phía đông  có  Trường Sa Thạch Ðường  rộng vạn dặm, nước thủy triều  thi triển đẩy vào chốn cửu u . Trước kia đã có thuyền bị bão phía tây thổi, trôi dạt đến  biển lớn phía đông này , nghe tiếng ba đào chấn nộ hung hãn, trong khoảng khắc gặp gió lớn thuận chiều,  nên may thoát được ”; nên đã chọn một hải trình xa hơn, hải trình này men theo hướng đông tây, luồn qua eo biển giửa phủ Lôi Châu và Hải Nam, đến biển Giao Chỉ, rồi tiếp tục theo hướng nam đến các nước Ðông Nam Á.
Cũng qua đoạn văn trích dẫn, thấy được sự thiếu đứng đắn của các nhà nghiên cứu Trung Quốc khi đề cập đến yếu tố lịch sử của quần đảo Hoàng Sa. Họ thường nêu tên tác phẩm Lãnh Ngoại Ðại Ðáp của Chu Khứ Phi, với Trường Sa Thạch Ðường, như là một bằng cớ về đời Tống đã làm chủ đảo này! Nhưng họ không dám nêu trọn văn bản, để biết rằng tác giả Chu Khứ Phi tự nhận rằng chỉ “truyền văn” [ nghe nói, rumor] chứ không có bằng chứng ; và kẻ thực sự đến được chỗ đó chỉ là người trên chiếc thuyền bị trôi dạt, may mà thoát được thân! Nói một cách khác, từ đời Thanh trở về trước chỉ có một vài thuyền Trung Quốc bị gió trôi dạt, và một ít dân nghèo làm nghề đánh cá mạo hiểm đến quần đảo Hoàng Sa mà thôi.
Như đã đề cập tại phần mở đầu, Ðông Tây Dương Khảo của Trưởng Biến thời nhà Minh, cũng đề cập nhiều lần đến biển Giao Chỉ. Phần lớn tư liệu trong bộ sách này thiên về thực dụng, cung cấp các tài liệu hàng hành [navigation] cho các thuyền Trung Quốc dưới thời nhà Minh hàng hải đến các nước vùng đông nam Á. Trương Biến cho biết trên mỗi thuyền phải có một châu sư [navigator] căn cứ vào tài liệu nêu trên, để hướng dẫn thuyền đi đúng hải trình. Tài liệu cung cấp 3 yếu tố căn bản, buộc các châu sư phải lưu ý:
- Phương hướng: trên thuyền có chỉ nam châm [指南針, compass], lẽ dĩ nhiên không dùng độ như ngày nay, nhưng nếu chịu khó tìm hiểu cũng có thể đổi [decode] ra được; ví như hướng đơn Hợi=330 độ; hướng Nhâm Tý=352.5 độ.
- Khoảng cách: không tính bằng dặm, mà tính bằng canh; một ngày một đêm có 10 canh.
- Ðộ sâu: không tính bằng thước mà tính bằng sải tay. Ðây cũng thiên về thực dụng, lúc thủy thủ dòng dây từ thuyền xuống đáy biển, khi kéo dây lên dùng sải tay đo đếm dễ dàng, mỗi sải tay khoảng 1.6 m.
Nhờ tài liệu nêu trên, nên chúng ta biết rằng thương thuyền Trung Quốc, cùng các thuyền chở sứ giả thời nhà Minh, đến vùng đông nam Á, đều chuẩn bị khởi hành tại biển Giao Chỉ, rồi men theo bờ biển An Nam, Chiêm Thành; có thể ghé qua một vài địa điểm thuận tiện như Thanh Hóa, Hội An, Qui Nhơn để buôn bán, tìm nguồn cung cấp về thực phẩm và nước ngọt. Hầu như họ chưa bao giờ ra đến cái gọi là vùng biển lưỡi bò chữ u, mà Trung Quốc hiện nay lớn tiếng rêu rao để đòi chủ quyền! Ðặc biệt các tàu thuyền đi xuống vùng Mã Lai, Singapore, Nam Dương hiện nay, đều ghé đất Linh Sơn thuộc nước Chiêm Thành cũ, một địa điểm tại tỉnh Phú Yên hiện nay, để từ đó ra khỏi mũi Ðại Lãnh gần vũng Rô. Nơi này không còn bị núi che khuất; có thể  hướng chỉ nam châm thẳng đến đảo Côn Lôn, đảo có núi cao dễ nhận biết; để từ đó lại dùng chỉ nam châm dẫn đến nước muốn đến. Mọi chi tiết về hàng hành từ Trung Quốc đến các nước Ðông Nam Á xin hẹn trình bày chi tiết qua bài viết khác./.

HỒ BẠCH THẢO

___________________

Chú thích
1.Xem Triệu Ðà và nước Nam Việt, Hồ Bạch Thảo, Diễn Ðàn Forum, ngày 29/5/2009
2.Lãnh Ngoại Ðại Ðáp, quyển 1, trang 12.
3.Lãnh Ngoại Ðại Ðạp, quyển 1, trang 12-13.
4.Nước Phiên: Trung Quốc xưa chỉ các nước thuộc vùng đông nam Á, như An Nam, Chiêm Thành, Tiêm La, Tam Phật Tề vv…
5. Người Trung Quốc xưa gọi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là Vạn Lý Trường Sa Thạch Ðường; vì tại đó có bãi cát rộng, đảo vây biển thành ao nước có đá san hô bao quanh như thạch đường [thạch đường có nghĩa là ao xung quanh bằng đá].
6. Nguyên văn “vĩ Lư” chỉ thủy triều; điển lấy từ bài Thu Thủy của Trang Tử như sau: “Thiên hạ chi thủy,mạc bất ư hải, vạn xuyên qui chi, bất tri hà thời chỉ nhi bất doanh; vĩ lư tiết chi, bất tri hà thời dĩ nhi bất hư” ; ý nói trong thiên hạ không đâu nhiều nước bằng biển; vạn sông chảy vào không biết đến bao giờ thì dừng, thủy triều thi triển không biết lúc nào dứt.
7.Cửu u: nơi tối tăm mờ mịt, như đi vào âm phủ.
8. Trảo Oa:Java.

25/4/12

Gặp Hoàng Sa ở Lý Sơn - Kỳ 4: Bằng chứng đây!

(Thanh niên Online) - Hoàng Sa là lãnh thổ của Việt Nam, điều đó là bất biến. Nếu có ai đó hỏi “bằng chứng đâu?”, xin thưa: “Nó đây, “sổ đỏ” của Hoàng Sa đây!”.

Trao Tờ lệnh cho Bộ Ngoại giao - Ảnh: Trần Đăng

“Sổ đỏ” đó chính là Tờ lệnh điều quân ra Hoàng Sa có từ thời Minh Mạng được dòng họ Đặng ở thôn Đồng Hộ xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn gìn giữ từ năm 1834 đến năm 2009, đúng 175 năm. Có thể xem đây là “bằng chứng” sống động nhất về chủ quyền của nước ta tại Hoàng Sa.

Bằng cách nào mà dòng họ Đặng giữ được báu vật ấy một cách nguyên vẹn trong điều kiện có quá nhiều đổi thay của thời cuộc suốt 175 năm qua cũng như sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi vùng đất này? Đó là câu chuyện đậm chất truyền kỳ mà sự cẩn trọng, chỉn chu của người giữ nó không thôi chưa đủ, cần phải có một ý thức rất cao về lòng yêu nước, yêu Hoàng Sa thì mới thực hiện được.

Lần giở trước đèn

Trên đường ra Chùa Hang, di tích văn hóa cấp quốc gia của Lý Sơn, trước khi gặp biển, rẽ trái theo con đường làng một quãng ngắn là gặp nhà thờ họ Đặng ở thôn Đồng Hộ. Đó là gian nhà ngói khiêm nhường nhưng ấm cúng, nép mình dưới hàng cây cổ thụ sum suê lá xanh và rực đỏ hoa giấy mùa này. Họ Đặng không phải là tộc họ lớn ở Lý Sơn, song có một nhân vật của dòng họ này đã thành “giai thoại” của làng. Đó là Đặng Văn Siểm, người đời sau ví ông như con kình ngư của biển khơi. Cũng nghe “đồn đoán” vậy thôi chứ chẳng có tài liệu nào đề cập đến nhân vật này. Cho đến mùa hè năm 2009, khi thấy Đặng Văn Siểm được nêu tên trong “Tờ lệnh”, lại được giao làm đà công thì dòng họ Đặng mới biết thêm về tổ tiên mình. 

Ông Đặng Tôn, trưởng tộc họ Đặng, là người chăm sóc hương hỏa đồng thời cũng là người duy nhất được dòng họ giao cho chìa khóa giữ chiếc rương có đựng “tài liệu quý”. Chữ Hán của ông Tôn chỉ đủ nhận mặt nhất nhị tam tứ ngũ nên ông chẳng biết gì về nội dung của các tài liệu toàn chữ Hán được cha ông trao lại đang để trong chiếc rương nọ. Theo di chúc của tổ tiên, họ Đặng quy định phải 20 năm mới được mở chiếc rương một lần. Chủ yếu là xem thử có mối mọt hao khuyết gì không để còn khắc phục. Năm 2004, ông Đặng Tôn mất, em trai ông là Đặng Lên được phép “kế tục” anh trai. Ông Lên nhớ lại: “Tôi được biết là chiếc rương kia đã được mở vào các năm 1939, 1959, 1979, 1999, đúng như quy ước của dòng họ. Lẽ ra đến năm 2019 thì mới được mở nhưng năm 2009, chỉ 10 năm sau lần mở cuối cùng, tôi xin phép dòng tộc được mở rương”. Hỏi ông Lên vì sao lại “phá lệ”? Ông nghiêm trang nói: “Hình như có ai đó mách bảo rằng, chiếc rương ấy đang mang trong lòng nó một sứ mệnh nên tôi quyết định xin phép được mở ra. Và đúng là như thế”.

Kể từ năm 2005, ngư dân Lý Sơn liên tục bị Trung Quốc bắt bớ và đòi tiền chuộc mỗi khi họ ra Hoàng Sa đánh cá, với lý do là vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Nghe giọng điệu ấy, ông Lên tức lắm. Linh cảm đã mách bảo với ông rằng, tài liệu trong chiếc rương kia có thể giúp được gì chăng trong việc khẳng định chủ quyền của nước ta tại Hoàng Sa. Và rồi ông quyết định sắm một lễ cúng để “xin phép” tiên linh mở rương nhân lệ cúng xuân tháng 4.2009. Đó không phải là lần đầu tiên ông Lên chứng kiến mở chiếc rương nhưng việc “lần giở” báu vật của tiền nhân lần này, lòng ông rộn lên nỗi niềm khó tả! Gần như tập tài liệu vẫn còn nguyên nếp gấp, còn thơm mùi mực, như thể ông bà dòng họ Đặng cất chúng vào rương vừa mới hôm qua. Ông sai đứa cháu sao chụp toàn bộ tài liệu nọ và tìm người dịch giúp. Bản dịch cho biết đó là Tờ lệnh điều động binh phu ra Hoàng Sa năm 1834, trong đó, ông Đặng Văn Siểm được giao làm đà công! Dòng họ Đặng rồi cả đảo Lý Sơn, rồi tỉnh Quảng Ngãi và cả nước như sôi lên với tài liệu này.

Ý thức của dòng tộc

Ông Đặng Lên nói: “Một lần nữa tôi biết ơn tiền nhân dòng họ Đặng đã giữ được báu vật này cho đất nước. Phải rất có ý thức thì mới giữ được, vì suốt 300 năm qua, bao lớp trai làng trên đảo Lý Sơn ra Hoàng Sa, có rất nhiều tờ lệnh điều động nhưng chỉ giữ được có mỗi một tờ này. Ông cha chúng tôi đã để tài liệu ấy vào chiếc rương bằng gỗ tra bể, một loại danh mộc gần như thất truyền ở Lý Sơn này”. Cũng theo ông Lên, nếu để Tờ lệnh vào chiếc rương bằng loại gỗ khác, e có khi đã hỏng lâu rồi. Tra bể là loại gỗ chống mối mọt và giữ được độ ẩm cao, bảo vệ được lớp giấy dó và chữ viết trên đó còn nguyên vẹn.

Nghe phát hiện “sổ đỏ” cho Hoàng Sa, nhiều cuộc điện thoại “trong bóng đêm” đã tới tấp gọi về nhà ông Lên và xin mua với giá 2 tỉ đồng. Ông Lên đã chối từ và cấp báo sự việc trên với tỉnh Quảng Ngãi. Lập tức một tiểu đội cảnh sát cơ động được cấp tốc điều ra đảo để giữ Tờ lệnh và đợi ngày chuyển vào đất liền để giao cho Bộ Ngoại giao. Lần đầu tiên dân Lý Sơn mới nhìn thấy sắc phục của cảnh sát cơ động trên đảo, không phải để “trấn áp tội phạm” hay xử lý “nóng” các vụ đâm chém mà là để bảo vệ Tờ lệnh. Thế mới biết, giá trị và ý nghĩa của Tờ lệnh như thế nào.

Trước ngày đưa Tờ lệnh vào đất liền để hiến cho Nhà nước, dòng họ Đặng lại có một đêm mất ngủ. Các bà, các cô, các chị trong làng đã tề tựu về đây để cùng với con cháu họ Đặng “cúng cơm” xin ông bà cho phép được hiến báu vật ấy cho quốc gia. Trên mâm cỗ cúng ông bà hôm ấy, người ta lại thấy bày ra những món ăn quen thuộc dành cho lính Hoàng Sa thuở trước. Này là bánh nổ - một loại lương khô khá đặc thù của Quảng Ngãi, nọ là bánh thuẩn, kia là bánh ít lá gai… Đây là những loại bánh dùng làm lương khô, có thể để lâu ngày trên thuyền đi biển mà không sợ hỏng. Cách thức làm những thứ bánh đó được những người đàn bà trên đảo Lý Sơn gìn giữ hết đời này sang đời khác. Gìn giữ và “truyền đời” các loại bánh đó cho con cháu như lưu ký những kỷ niệm của tổ tiên và cũng là hâm nóng Hoàng Sa, là gieo vào lòng thế hệ trẻ hôm nay để chúng biết rằng hiện vẫn còn một góc trời của Tổ quốc nơi Hoàng Sa đang nằm trong tay kẻ khác.

Đáp lại sự hiến dâng đó của dòng họ Đặng, mới đây, đại diện Bộ Ngoại giao đã về tận Lý Sơn để trao cho tộc họ Đặng tấm bằng khen của Bộ. Thay mặt dòng tộc, ông Đặng Lên cảm ơn sự quan tâm đó đồng thời kiến nghị, nên làm cách nào đó để cho Tờ lệnh được “cựa quậy”, được phát huy tác dụng về giá trị của nó trong việc đòi lại chủ quyền đối với Hoàng Sa chứ không nên biến nó thành một thứ “hàng mẫu” trưng bày trong viện bảo tàng.

Tờ lệnh là bằng chứng về chủ quyền tại Hoàng Sa là điều không bàn cãi nữa. Nhưng, với thế hệ hậu bối của dân Lý Sơn, họ có một “tờ lệnh” khác cho riêng mình mà không cần bất cứ một ấn chỉ nào. Đó là tấm lòng của con cháu đối với Hoàng Sa, để mỗi khi nổ máy rời bến tàu, các mũi thuyền lại hướng về quần đảo ấy, bất chấp những tai ương đang chờ đón họ.

Trần Đăng - Đỗ Hùng - Hiển Cừ
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...