Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

20/11/11

Hợp Tung và Liên Hoành ở Ðông Nam Á

Các quốc gia trong vùng Ðông Nam Á có thể dự vào hai liên minh thương mại. Mỗi nước có thể chọn một; hoặc tham gia cả hai tùy cơ hội tạo thêm lợi thế cho mình. 

Thứ nhất là khối mậu dịch tự do gọi là “ASEAN Cộng Ba” (ASEAN Plus Three) mà ba nước ngoài khối ASEAN là Trung Quốc, Nhật Bản và Nam Hàn; trong đó Trung Quốc đóng vai chủ động. Thứ hai là một tập hợp do Mỹ mới đề nghị đặt tên là Hợp Tác Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership, TPP). Vì các nước trong khối ASEAN+3 chạy theo chiều dọc, ven bờ Thái Bình Dương cho nên tạm gọi là Hợp Tung; còn khối TPP chạy từ Ðông sang Tây băng ngang Thái Bình Dương cho nên tạm gọi là Liên Hoành.

Liên Hoành và Hợp Tung là chiến lược của Tô Tần và Trương Nghi, từ hơn 2300 năm trước đây. Một bên là kế hoạch liên kết các nước chư hầu để chống lại nước Tần; bên kia là kế hoạch chia rẽ bằng cách mời các nước chư hầu cộng tác lẻ với nước Tần, từng nước một.

Thời nay, hai chiến lược Hợp Tung và Liên Hoành không mang tính chất quân sự như thời Chiến Quốc. Các quốc gia trong vùng Ðông Nam Á không lo phải lâm chiến, hoặc với Trung Quốc, hoặc với Mỹ. Mà chính hai nước lớn đóng vai chủ động đó họ cũng không thấy có lý do nào để gây chiến với nhau, ít nhất trong một vài thế hệ nữa.

Cuộc tranh giành ảnh hưởng trên thế giới bây giờ thường đặt trên căn bản kinh tế; mà trong đời sống kinh tế thì mọi người cũng như mọi quốc gia tham dự “cuộc đấu” đều phải vừa cạnh tranh vừa cộng tác; phải chọn người cộng tác cũng như chọn người để cạnh tranh. Cho nên việc lựa chọn giữa hai kế Hợp Tung và Liên Hoành ngày nay phức tạp hơn thời Chiến Quốc rất nhiều. ASEAN+3 và TPP đều là những liên minh hoàn toàn chú trọng và thương mại; nếu sau này có mang thêm mặt chính trị và quân sự thì đó chỉ là những hệ quả do thời thế đưa đẩy mà thôi. Nhưng cuối cùng, căn bản của cuộc cạnh tranh sẽ là hai quan niệm, hai mô thức tổ chức đời sống kinh tế trên thế giới.

Kế Hợp Tung ASEAN+3 đã được thai nghén từ hơn mười năm trước, khi Trung Quốc đề nghị ký hiệp ước mậu dịch tự do với cả 10 nước trong khối ASEAN. Năm 2010, hiệp ước trên bắt đầu thi hành; từ đó hàng hóa trao đổi giữa Trung Quốc và các nước ASEAN được miễn thuế hoặc giảm thuế quan đến mức thấp nhất so với các nước khác. Sau đó Nam Hàn và Nhật Bản được mời tham dự, ASEAN+3 thành tên gọi quen thuộc mặc dù đã có thêm ba nước Australia, New Zealand và Ấn Ðộ ký hiệp ước mậu dịch tự do với các nước ASEAN.

Trong thời gian đó, nước Mỹ đã bỏ quên vùng Ðông Nam Á trong hàng chục năm, để chú trọng đến vùng Trung Ðông, với hai cuộc chiến tranh ở Afghanistan và Iraq. Mỹ chỉ ký hiệp ước mậu dịch tự do với một nước Ðông Nam Á duy nhất là Singapore. Tổng Thống Barack Obama đã hướng về Á Châu nhiều hơn. Năm 2010, các bộ trưởng Quốc Phòng và Ngoại Giao Mỹ đều nói vùng biển Ðông Nam Á liên quan mật thiết với quyền lợi nước Mỹ. Năm nay, Quốc Hội Mỹ đã thông qua hiệp ước tự do mậu dịch với Nam Hàn. Khi nào Quốc Hội Nam Hàn phê chuẩn hiệp ước trên, họ đương nhiên tham gia mạng lưới Thái Bình Dương do Mỹ mới đề nghị. Các nước Á Ðông từ nay có một thực đơn gồm hai liên minh thương mại: ASEAN+3 và TPP. Họ có thể tham dự cả hai không cần phải chọn một. Nhưng chúng ta cần biết hai liên minh đó tính chất khác nhau thế nào, để tùy cơ ứng biến.

Kế hoạch Liên Hoành, Hợp Tác Thái Bình Dương (TPP) cố ý mở rộng ra ngoài khối ASEAN sang tận Bắc Mỹ và Châu Mỹ La Tinh. Ở bờ Tây Thái Bình Dương các nước Australia, Brunei, Malaysia, New Zealand, Singapore và Việt Nam hưởng ứng; ở bờ Ðông Thái Bình Dương là Chile, Peru. Các nước Nhật, Nam Hàn, Canada và Mexico cũng tỏ ý muốn vào; khi ông Obama ngỏ ý chào mời. Ðặc biệt, ông Obama đã tảng lờ không mời Trung Quốc tham dự khi gặp riêng Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào. Vì hiện nay Bắc Kinh vẫn chưa tôn trọng các “luật chơi” thương mại quốc tế, trong cuộc chơi mậu dịch tự do.

Năm ngoái bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đã nói ở Singapore và bộ trưởng Ngoại Giao lại nói ở Hà Nội về sự chuyển hướng của chính phủ Mỹ, quay trở lại vùng Ðông Nam Á. Nhưng đó chỉ là những lời tuyên bố tổng quát. Khi khối Hợp Tác Thái Bình Dương (TPP) thành hình, Mỹ mới thật sự đặt chân trở lại Á Châu, qua các hiệp ước cụ thể về trao đổi thương mại tự do. Kinh tế sẽ đóng vai trò nối liền các quốc gia, thay vì các liên minh quân sự.

Ông Obama mới tuyên bố ở Honolulu, “Nước Mỹ là một cường quốc Thái Bình Dương, và chúng tôi sẽ ở lại đó.” Kế hoạch TPP sẽ ràng buộc Mỹ vào các nước Thái Bình Dương qua các thỏa ước thương mại tự do. Những ràng buộc đó có thể chặt chẽ và bền bỉ hơn các hiệp ước liên minh quân sự, được bảo vệ bằng các quyền lợi kinh tế cụ thể. Và nước Mỹ sẽ có lợi thế vì họ có kinh nghiệm rất nhiều trong việc thi hành các luật lệ đặt trên căn bản tự do mậu dịch.

Kế Liên Hoành TPP là một thử thách mới cho các nước trong vùng Ðông Nam Á. Hiện nay họ đang tham dự khối ASEAN+3, kế Hợp Tung của Trung Quốc; nhưng họ cũng sẵn sàng có mặt trong tập hợp TPP do Mỹ đề xướng. Họ sẽ phải thấy có hai phương cách hợp tác và cạnh tranh khác kinh tế nhau: Một là mô hình thị trường tự do mà nước Mỹ vẫn theo đuổi; hai là phương pháp tập trung hoạch định và chỉ huy mà tới nay Trung Cộng vẫn thi hành.

Các nước Á Châu, vùng Ðông Nam Á và đặc biệt là Việt Nam sẽ được lựa chọn giữa hai mô thức đó trong hàng chục năm sắp tới để phát triển kinh tế. Khi nhìn thấy lợi ích của thị trường tự do, một số nước sẽ hành động quả quyết và nhanh chóng, gặt hái được những thành quả cụ thể. Những nước rụt rè chậm chạp sẽ thấy mình bị bỏ rơi lại đằng sau, sẽ phải quyết định thay đổi nhanh hơn. Cho tới khi chính Trung Quốc sẽ phải thay đổi.

Hiện nay ASEAN+3 là một liên minh còn lỏng lẻo, mặc dù nhờ thuế quan giảm xuống Trung Quốc đã trở thành bạn hàng lớn nhất của các nước Ðông Nam Á. Tính chất lỏng lẻo hiện ra rõ nhất là chưa xác định rõ các luật lệ và thủ tục trong nhiều giao dịch. Nhiều vấn đề bị Trung Quốc đã bỏ qua không bàn; không quyết định chung nào giữa các nước Ðông Nam Á và Trung Quốc trong rất nhiều lãnh vực. Khi chỉ chú trọng đến việc giảm bớt thuế quan, Trung Quốc đang lợi dụng tình trạng lỏng lẻo trên các lãnh vực khác để hưởng lợi.

Chủ ý của Trung Quốc khi liên kết với khối ASEAN không nhắm vào kinh tế, thương mại; mà cốt gây ảnh hưởng địa lý chính trị. Cho nên họ bỏ qua các vấn đề khó đồng ý với nhau. Khối ASEAN+3 vẫn chưa thỏa thuận chính thức trên rất nhiều vấn đề có thể gây tranh cãi. Nhưng khi không thỏa thuận đặt ra những luật lệ rõ ràng thì một nước có trọng lượng kinh tế lớn nhất là Trung Quốc sẽ tha hồ lạm dụng tình trạng mập mờ để thủ lợi. Thí dụ như các luật lệ về đầu tư từ nước này sang nước khác không rõ ràng; những luật lệ thủ tục về đấu thầu khi các công ty nước này muốn cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cho chính quyền nước khác; vấn đề tác quyền, còn gọi là quyền sở hữu tri thức; các luật lệ về lao động; cũng như các vấn đề về môi trường sống, chưa có thỏa thuận nào cụ thể.

Chính tình trạng luật lệ mơ hồ trong kế Hợp Tung ASEAN+3 đã giúp các công ty Trung Quốc đến khai thác khoáng sản và lâm sản ở Miến Ðiện, Lào, hay Việt Nam, có khi nhân dịp đó mở thêm khách sạn, song bài; đã đem công nhân Trung Hoa đến các nước này làm việc mà không xin phép; dự đấu thầu cung cấp trong các công trình xây dựng, khai thác mỏ hoặc nhà máy điện ở các nước kinh tế yếu hơn. Khi có những bất đồng ý kiến hoặc xung đột trong các vấn đề trên, nước mạnh sẽ lấn áp nước yếu mà không có những thủ tục phân giải cũng không có những trọng tài để xử coi ai phải ai trái. Ðây là một cuộc chơi không công bằng, vì Trung Quốc sẽ “đánh lẻ” từng nước một, và họ sẽ giữ thế “mạnh vì gạo, bạo vì tiền.”

Ngược lại, mạng lưới TPP làm theo lối Mỹ và được các nước đã phát triển như Nhật Bản, Nam Hàn, Canada, cho tới Mexico, Chile ủng hộ, sẽ sử dụng các thủ tục và luật lệ quốc tế có sẵn, rõ ràng, minh bạch và ràng buộc chặt chẽ hơn trong việc giao thương. Khi tham dự vào kế Liên Hoành với Mỹ, các quốc gia không những được bảo đảm mọi giao dịch đều theo những luật lệ ràng buộc công khai và có các thủ tục tài phán rõ ràng khi tranh chấp xẩy ra. Ðó là cách làm ăn theo lối kinh tế tư bản đã được thí nghiệm trong mấy trăm năm nay, và càng ngày càng được mài giũa, sửa sang cho hợp lý và công bằng hơn.

Các nước Ðông Nam Á và Việt Nam sẽ đứng trước hai mô thức thương mại quốc tế để lựa chọn. Trong thời gian sắp tới, tốt nhất là các nước này hạ thấp tầm quan trọng của các vấn đề liên minh chính trị hay quân sự, ngay trong việc mua vũ khí hay hợp tác thao diễn quân đội. Cả cùng Ðông Nam Á và Việt Nam hãy quay về hướng khác, đẩy mạnh các giao ước thương mại trong kế Liên Hoành. Khi các liên hệ và ràng buộc mới phát triển, chính Trung Quốc sẽ phải thay đổi kế Hợp Tung của họ để sống chung minh bạch và công khai cùng các nước khác. Ðó là con đường tốt nhất không những cho các nước Ðông Nam Á mà còn cho cả kinh tế hoàn cầu.

17/9/11

Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương - quan ngại và hy vọng

Đại diện các nước Hoa Kỳ, Australia, New Zealand, Việt Nam, Malaysia, Singapore, Brunei, Chile và Peru hiện đang có mặt tại Chicago, Hoa Kỳ để tham dự vòng hội đàm thứ 8 nhằm thành lập Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Xuất khẩu và nhập khẩu là một trong những yếu tố chính quyết định sự thịnh suy của một nền kinh tế. (ABC)


Trước đó, các viên chức thương mại hàng đầu thuộc chín nước TPP đã đồng ý rằng họ sẽ cố gắng để đạt được “những nét phác họa có tính tổng quát” cho hiệp ước trước giữa tháng 11.

Đây cũng là lúc Tổng thống Barack Obama sẽ tham dự hội nghị thượng đỉnh hàng năm của diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) ở Honolulu, Hoa Kỳ, trong hai ngày 12 và 13/11/2011.

Mặc dù thời hạn giữa tháng 11 đã gần tới nhưng Hoa Kỳ vẫn chưa đưa ra được quan điểm rõ ràng trong bản thảo hiệp ước TTP về vấn đề bảo vệ quyền của người công nhân hoặc kiềm chế quyền lực của các công ty xí nghiệp quốc doanh.

Ngoài ra, chính quyền Mỹ cũng chưa đưa ra đề nghị về những mặt hàng có tính ‘nhạy cảm’ như giày dép và sữa. Đây vốn là những mặt hàng mà các nhà sản xuất nội địa Mỹ quan ngại liên quan đến vấn đề nhập khẩu.

Các nhà sản xuất Hoa Kỳ trong lĩnh vực hàng dệt may, cừu, bò và đường hiện cũng rất lo lắng vì thỏa hiệp sẽ hủy bỏ các khoản thuế và các rào cản thương mại khác. Một khi những rào cản thương mại này được bãi bỏ, các nhà sản xuất Mỹ sẽ phải cạnh tranh nhiều hơn với hàng hóa nhập khẩu.

Tám nước tham gia hiệp ước TPP hợp lại có thể trở thành đối tác thương mại lớn thứ năm của Hoa Kỳ.

Hy vọng và quan ngại

Nhà Trắng hy vọng TTP sẽ giúp tạo thêm công việc cho người dân Mỹ dựa vào việc xuất khẩu thêm nhiều hàng hóa và dịch vụ.

Ngoài ra, Washington cũng kỳ vọng một khi TTP được ký, nó sẽ giúp cho các công ty Mỹ có thêm sức cạnh tranh trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, những người chỉ trích TTP cho rằng hiệp ước này sẽ lại càng khiến dân Mỹ mất việc do nguồn việc bị chuyển ra nước ngoài.

TTP đòi hỏi các quốc gia tham gia hiệp ước phải chấp thuận các nguyên tắc pháp lý, đồng thời thực hành 5 nguyên tắc căn bản: tự do lập hội, quyền thương lượng tập thể, cấm cưỡng bách lao động, hủy bỏ lao động trẻ em và cấm mọi hình thức kỳ thị trong công việc.

Ngoài ra, thỏa thuận cũng cho phép sử dụng việc trừng phạt thương mại để bắt buộc các nước tham gia ký kết phải thi hành những điều khoản lao động. Và đây là điều các quốc gia Việt Nam, Malaysia và Brunei có thể quan ngại.

Ngoài ra, các dân biểu nghị sĩ thuộc đảng Dân chủ tại Hoa Kỳ kêu gọi Tổng thống Obama sử dụng thỏa thuận ký hôm 10/5 như hình mẫu cho các cuộc hội đàm TTP. Tuy nhiên, khi được hỏi nếu các điều khoản lao động của TTP mạnh hơn hoặc yếu hơn thỏa thuận 10/5 thì phản ứng của Hoa Kỳ sẽ như thế nào. Đại diện từ Hoa Kỳ từ chối bình luận về vấn đề này.

Chính quyền Mỹ cũng đang thảo luận việc đệ trình đề nghị liên quan tới vấn đề lao động tại vòng họp tới ở Peru. Đây có thể là lần cuối cùng các nhà thương thuyết gặp nhau trước khi cuộc họp APEC bắt đầu vào giữa tháng 11.

Hoa Kỳ cũng sẽ đề nghị ‘tạo sân chơi bình đẳng’ giữa các công ty tư và công ty quốc doanh.

Khi hoạt động tại các thị trường ở nước ngoài, các công ty Hoa Kỳ hiện ngày càng lo ngại việc họ phải cạnh tranh với các công ty quốc doanh ở nước sở tại.

Các công ty Mỹ muốn TTP bảo đảm rằng các công ty quốc doanh không được hưởng ‘lợi thế’ do việc chính quyền nước sở tại hậu thuẫn từ ‘hậu trường’ qua các biện pháp ‘bảo hộ’ và nhiều ‘khoản ưu đãi’ khác mà các công ty tư nhân Mỹ không có.

Một hiệp ước TTP mạnh sẽ tạo rất nhiều áp lực lên các công ty quốc doanh Trung Quốc một khi nước này gia nhập. Các viên chức Mỹ cho rằng trong tương lai Trung Quốc sẽ có thể tham gia vào TTP. 
 
Nguồn:  Reuters

11/9/11

Vì sao Việt Nam rớt hạng năng lực cạnh tranh?

Nhiều chuyên gia nhận định việc Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) vừa đánh rớt 6 hạng năng lực cạnh tranh của VN so với năm 2010 (xếp 65 trên tổng số 142 quốc gia) xuất phát chủ yếu từ điều hành chính sách.

Theo nhiều chuyên gia, chính sách tiền tệ gặp rất nhiều vấn đề trong thời gian qua - ảnh: D.Đ.M

Lỗi hệ thống


TS Lê Đăng Doanh cho rằng việc sự kiện nói trên là chỉ dấu đáng lo ngại. “Điều này cho thấy mức độ cải cách của VN không theo kịp mức độ cải cách của các nước và theo tôi, sẽ giúp cho Chính phủ xác định được những ưu tiên đổi mới, thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế”, ông Doanh phát biểu.

Những tồn tại mà báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu đề cập đến VN gồm thâm hụt ngân sách, cơ sở hạ tầng không bắt kịp tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, đặc biệt giao thông đường bộ và cảng biển… đã được cảnh báo từ nhiều năm qua nhưng không được cải thiện.

Ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia kinh tế cao cấp, cũng bày tỏ quan ngại trước các đánh giá không mấy tích cực của WEF về năng lực cạnh tranh của VN. “Các nhà đầu tư nước ngoài đang nhìn vào địa điểm đầu tư VN, nếu có hệ số tín nhiệm cao thì tốt, còn không sẽ rất thận trọng. Các vấn đề như cơ sở hạ tầng giao thông bế tắc; sản phẩm làm từ nhà máy đưa ra cảng gặp vô vàn khó khăn… chưa được xử lý. Đó chính là rào cản cho sự phát triển do đầu tư không đúng chỗ và quản lý không tốt đầu tư công”, ông Thành nhận định.

Theo các chuyên gia kinh tế, môi trường đầu tư VN ngày càng cải thiện, nhưng các chính sách để thúc đẩy thay đổi mạnh mẽ hơn nữa vẫn chưa quyết liệt. Do đó, các tồn tại cũ thường được duy trì dài lâu, không được giải quyết dứt điểm, cản trở sự phát triển chung.
Hậu quả của việc can thiệp không đúng đã khiến thị trường nóng lạnh thất thường và nền kinh tế sẽ phát triển không bền vững. Nguyên nhân do khách quan từ suy giảm kinh tế thế giới, nhưng phần lớn là chủ quan vì ảnh hưởng từ tư duy điều hành ở quá khứ 

Luật sư Trần Hữu Huỳnh
Ví dụ về điều hành chính sách không hợp lý, ông Thành cho biết: Hồi năm 2008 khi đối mặt với kinh tế thế giới suy giảm, Nhà nước đã quyết định bù lãi suất 4% cho doanh nghiệp (DN). Đây là một quyết định có phần vô lý và đã tác động xấu đến tận bây giờ. “Tôi chưa từng thấy nước nào đã đem ngân sách để trả cho ngân hàng nhằm kéo lãi suất cho vay xuống. Ngoài ra ai vay, ai hội đủ điều kiện để vay, dòng tiền hướng vào lĩnh vực nào… cũng không rõ ràng. Một khoản tín dụng lớn đã được tung ra và tạo ra lạm phát, chảy qua lĩnh vực phi sản xuất, bất động sản. Ngay lập tức tăng trưởng bất động sản khủng khiếp, đẩy giá cả lên cao.

Từ sai lầm này đã dẫn tới nhiều hậu quả khác và kéo dài, thực tế chúng ta đang mắc vào lạm phát từ chính sách trước đấy. Bên cạnh đó, việc quản lý đầu tư công không chặt chẽ đã đẩy vào nền kinh tế một khoản tài chính không tốt cũng tạo ra lạm phát”, ông Thành phân tích.

TS Doanh cho rằng, các tồn tại ở VN rõ ràng bất cứ nhà quản lý nào cũng nhận thấy, nhưng không giải quyết được là có lỗi trong hệ thống.

Chính sách tình huống

Luật sư Trần Hữu Huỳnh, Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp VN (VCCI), nhận định: Nhìn lại thời gian qua, các can thiệp vào thị trường mang tính hành chính quá nhiều, mà không theo các định chế cơ bản. “Điển hình là việc cấp vốn cho đầu tư công và điều hành DN nhà nước. Đáng lý ra chỉ hỗ trợ vào những khiếm khuyết của thị trường chứ không phải can thiệp vào nó. Hậu quả của việc đầu tư dàn trải, lãng phí là lạm phát cao, khiến khả năng cạnh tranh trở nên kém cỏi.

Các chính sách can thiệp vào thị trường giá cả gần đây cũng vậy. Chẳng hạn bán hàng bình ổn giá nên được xem xét lại, một khoản tiền 400 - 500 tỉ đồng ném vào thị trường cực lớn như TP.HCM, Hà Nội thì liệu có đóng được vai trò bình ổn hay không?”, ông Huỳnh đặt câu hỏi.

Lạm phát đã tác động rất lớn đến môi trường đầu tư, kinh doanh của VN, làm mất lợi thế cạnh tranh. Thử hỏi các chi phí đầu vào để làm ra sản phẩm ở VN đều tăng cao, trong khi chi phí đầu ra quốc tế không thay đổi nhiều thì làm sao cạnh tranh của sản phẩm không hạn chế được? Trong bối cảnh không bình thường hiện nay, các chính sách điều hành kinh tế trở nên cập rập, dùng nhiều biện pháp hành chính, thiếu công khai minh bạch và khó dự báo trước.

TS Lê Đăng Doanh
Chính sách điều hành khó dự báo

Theo luật sư Huỳnh, chính sách nhà nước nên can thiệp vào thị trường đúng lúc, đúng liều lượng vì thực ra nguồn lực có hạn. Cần triệt để hơn trong việc xử lý các vấn đề gây bức xúc của đầu tư công, chi tiêu công; cải cách mạnh mẽ DN nhà nước và tạo điều kiện tối đa cho mọi thành phần kinh tế, để họ kết nối với thị trường quốc tế và trở thành một bộ phận của kinh tế thế giới. Nếu không quyết liệt với các vấn đề trên, thì các phúc lợi xã hội sẽ giảm xuống bởi nguồn lực đã tập trung cho chỗ khác. “Hậu quả của việc can thiệp không đúng đã khiến thị trường nóng lạnh thất thường và nền kinh tế sẽ phát triển không bền vững. Nguyên nhân do khách quan từ suy giảm kinh tế thế giới, nhưng phần lớn là chủ quan vì ảnh hưởng từ tư duy điều hành ở quá khứ”, ông Huỳnh phân tích.

TS Hoàng Thọ Xuân, nguyên Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công thương), cho biết gần đây trong lĩnh vực thương mại có nhiều chính sách xử lý tình huống được cơ quan quản lý đưa ra. Đặc biệt để đối phó với nạn nhập siêu, các chính sách đã khiến nhiều DN không kịp trở tay.

Một số chính sách áp dụng vào thực tế nhưng không tìm hiểu kỹ nguồn căn của vấn đề, thành ra gây tác động khó lường. Chẳng hạn, lạm phát ở ta chủ yếu do chi phí đẩy, chứ chưa chắc là do nhiều tiền, tăng dư nợ tín dụng… Vì thế, nếu cứ thắt chặt tiền tệ, tài chính thì không đi đúng vào nguồn gốc của lạm phát nên hàng hóa sẽ càng ngày càng ít, thì làm sao có giá rẻ được? Chính sách thị trường không tập trung vào những bộ phận làm ra của cải vật chất cho xã hội, thì khó có phát triển bền vững.

“Quan điểm của tôi là, các chính sách của ta có tính chữa cháy nhiều quá. Nguyên nhân có thể xuất phát từ bối cảnh nhiều biến động, các chính sách ngắn hạn ra đời nhưng lại không có sự chuyển tiếp sang dài hạn”, ông Xuân bình luận.

Theo ông Xuân, chính sách kinh tế nên chú trọng đến các thành phần làm ra của cải cho xã hội. Các DN cần có chính sách riêng, ở đó họ có những ngân hàng được phân định rõ vai trò hỗ trợ cho DN phát triển. Tương tự, nếu xác định phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, vấn đề mà chúng ta nói đến rất nhiều năm qua nhưng không làm được, thì phải đi từ gốc, chọn ra những phân ngành như dệt may, điện tử, cơ khí… để xây dựng chiến lược, quy hoạch, định hướng. “Từ đó mới đề ra chính sách chung, nhưng ở ta lại làm ngược, chính sách chung trước rồi mới đến các vấn đề khác là không đúng”, ông Xuân phát biểu.

N.Trần Tâm
 

14/8/11

Nợ của Trung Quốc khiến Châu Á lo ngại

1. Nợ của Trung Quốc khiến Châu Á lo ngại

Sen Lam

Liệu có phải phản ứng của các thị trường Châu Á trước tình trạng suy giảm của Mỹ rất đáng ngại không, hay còn có nguyên nhân thật sự cho lo ngại này? Richard Martin, một trong những chuyên gia hàng đầu về kinh tế Châu Á, nói rằng nợ của Trung Quốc cũng có thể là một mối lo.


Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của Mỹ với con số hơn 3.000 tỉ đô-la. (Karen Bleier: AFP)

Thị trường chứng khoán Úc đang theo đà sụt giảm mạnh tại các thị trường chứng khoán chính ở Trung Quốc. Lần đầu tiên trong vòng hai năm, các thị trường này giảm xuống dưới 4.000 điểm. Cả chỉ số Thượng Hải lẫn chỉ số Hang Seng ở Hong Kong đều giảm 3,5%.

Chỉ số Nikkei ở Tokyo cũng sụt giảm mạnh hơn và các thị trường Châu Á giao dịch với sự theo dõi sát sao tình hình ở Hoa Kỳ.

Phóng viên Sen Lam của Đài Úc đã có cuộc phỏng vấn với chuyên gia Richard Martin về tình hình nợ của Trung Quốc, nước hiện đang là ‘chủ nợ’ lớn nhất thế giới:

Ông Martin: “Hoa Kỳ vẫn là nền kinh tế lớn nhất thế giới, và mặc dù nền kinh tế này không tăng trưởng nhanh trong nhiều năm rồi nhưng nó vẫn là một thị trường xuất khẩu quan trọng với nhiều nước Châu Á. Cho nên các nước này lo lắng về khả năng ‘hồi sinh’ sau suy giảm. Liệu điều này có dẫn tới một nước Mỹ còn suy yếu hơn nữa hay không và nếu đúng vậy thì toàn bộ khu vực sản xuất phục vụ xuất khẩu của Châu Á sẽ giảm sút. Dĩ nhiên còn có khả năng thứ hai nữa, tức là nhiều nước Châu Á, đặc biệt ở Bắc Á, có dự trữ ngoại hối lớn. Trung Quốc hiện đứng đầu, nhưng còn có cả Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore. Và họ nắm rất nhiều dự trữ ngoại hối bằng đồng đô-la Mỹ, có lẽ dưới dạng trái phiếu ngân hàng, và họ không muốn thấy tình trạng sụt giảm”.

PV: “Thực tế, qua kênh truyền thông chính thức của mình, Trung Quốc trách các nước phương Tây đã đẩy sự phục hồi toàn cầu vào thế rủi ro khi phớt lờ trách nhiệm của họ. Liệu lời trách móc đó có phải xuất phát từ thực tế Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của Mỹ với con số hơn 3.000 tỉ đô-la hay không và trên thực tế, Trung Quốc lo lắng đến mức nào?”


Ông Martin: “Trung Quốc rất lo lắng và đang chuyển tiền vì điều này! Vấn đề duy nhất là không biết đưa số tiền đó đi đâu. Đó là mấu chốt của vấn đề. Trung Quốc biết làm gì với số tiền hơn 3.000 tỉ đô-la dự trữ ngoại hối? Có quá nhiều câu hỏi lớn sẽ được nêu ra ở Trung Quốc về việc này, nhất là trong chính sách kinh tế. Tại sao bối cảnh chính sách của họ lại được sắp xếp theo phương thức tạo ra một khoản thặng dư thương mại lớn như vậy? Và đó là nguồn thu chính cho số dự trữ ngoại hối khổng lồ mà họ đã có. Họ đang thu được một khoản thặng dư thương mại rất lớn”.

“Xin lưu ý rằng, Châu Á đã từng chứng kiến một trong những thị trường lớn của mình bị suy giảm. Trong nhiều thập kỷ, Nhật Bản luôn được xếp hạng 3 chữ A nhưng vào đầu năm 2001, nước này bị Standard & Poors, Fitch and Moody's cho xuống hạng. Còn bây giờ, Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ hai ở Châu Á, chỉ sau Trung Quốc, và cũng là nơi nắm giữ số tiền tiết kiệm rất lớn, ở dưới hạng 3-A hẳn ba cấp. Và còn có thể tiếp tục xuống hạng nữa”.

“Điều cuối cùng mà chúng ta cần quan tâm là do các vấn đề ở Hoa Kỳ, thị trường Nhật Bản thực sự đang chật vật và Châu Âu cũng vậy.

Nhưng lại có câu hỏi là điều gì đang diễn ra ở Trung Quốc? Và báo giới không còn chú ý đến vấn đề này, trong vài tuần qua. Dĩ nhiên là có những vấn đề lớn đang nổi lên ở Trung Quốc và có thể đây là những vấn đề mà tất cả mọi người bắt đầu quan tâm, trong quý tới”.

PV: “Liệu điều này có bao gồm cả mức nợ của chính phủ Trung Quốc không?”


Ông Martin: “Chắc chắn như vậy. Chúng ta có ‘mối quan hệ tam giác' về nợ tại thị trường đó. Một trong những đỉnh tam giác là bất động sản, thực tế là lĩnh vực xây dựng nói chung chứ không chỉ là nhà ở hay bất động sản thương mại. Đó là hạ tầng. Người ta đã xây dựng rất nhiều cơ sở hạ tầng, không chỉ là tàu hỏa cao tốc mà còn cả mạng lưới đường sắt đô thị, đường bộ, cầu, sân bay và nhiều thứ khác! Ngân sách cho việc này lấy từ đâu? Thường thì chính quyền địa phương rót vốn nhưng chính quyền địa phương là đỉnh thứ hai của tam giác nên không có ý định tích lũy nợ dài hạn. Nhưng chính những phương tiện đầu tư đặc biệt mới làm tăng khoản nợ này”.

“Trong vài tháng qua, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã tìm cách nghiên cứu xem khoản nợ này lớn chừng nào, ở cấp chính quyền địa phương. Và nếu đúng là chính quyền địa phương có nợ thì nợ đó là từ đâu? Nợ từ các ngân hàng nhà nước – tức là đỉnh thứ ba của tam giác. Và mức ước tính là tổng khoản nợ này chiếm khoảng 30 đến 40% GDP, có nghĩa là bản thân Trung Quốc cũng có vấn đề nợ công rất lớn gắn liền với thị trường bất động sản”.

“Người ta sẽ bắt tay giải quyết vấn đề này trong vòng vài tháng tới, thực tế có khi còn sớm hơn. Và chúng ta sẽ phải quan sát xem các thị trường toàn cầu phản ứng như thế nào, bởi vì ngay lúc này, Trung Quốc là cỗ máy kéo cả nền kinh tế toàn cầu. Một khi có những điều chỉnh đó thì trước mắt chúng ta sẽ là những thời điểm rất thú vị”. 
Nguồn:  Asia advised to watch China's debt, not US downgrade 

2. Âu-Mỹ khủng hoảng nợ, Châu Á vững bước phát triển

Trong khi Châu Âu và Hoa Kỳ vật lộn với cả núi nợ nần thì các cường quốc kinh tế mới ở Châu Á vẫn tiếp tục phát triển.

[title]
Kinh tế và thương mại thế giới đang tiến dần đến một hệ thống sử dụng nhiều loại tiền tệ thay vì chỉ dựa vào đồng đô-la Mỹ. (ABC)

Đến cuối năm nay, Indonesia sẽ chủ trì Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á, sự kiện được Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) hy vọng sẽ trở thành một diễn đàn để kiểm soát các cơ hội kinh tế cũng như căng thẳng chiến lược trong khu vực.

Phóng viên Jim Middleton của Đài Úc đã phỏng vấn Bộ trưởng Thương mại Indonesia Mari Pangestu về những diễn biến gần đây trong cuộc khủng hoảng nợ ở Châu Âu và Hoa Kỳ.

Bộ trưởng Mari Pangestu: "Tôi nghĩ tất cả các quốc gia trên thế giới đều lo lắng bởi vì cho dù muốn hay không thì khủng hoảng kinh tế tại Châu Âu và Hoa Kỳ cũng sẽ ảnh hưởng đến kinh tế thế giới. Có thể sẽ có hiện tượng suy giảm nhẹ tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các vấn đề ở khu vực sử dụng đồng euro. Có thể tăng trưởng kinh tế của thế giới sẽ giảm nhẹ và điều này cũng có thể khiến việc huy động vốn bị mất ổn định. Nhưng hy vọng rằng với sự tăng trưởng bền vững ở Châu Á cũng như tăng trưởng trong nước, Indonesia vẫn có thể kiểm soát được tình hình".

PV: Nhưng mặt khác, liệu có khả năng mức tăng trưởng chậm hơn tại các nước phát triển sẽ đem lại một số lợi ích trong việc giảm bớt nhu cầu, dẫn tới giá cả năng lượng và thực phẩm thấp hơn trên quy mô toàn cầu, và dĩ nhiên như thế cũng sẽ làm lợi cho Indonesia? 

Bộ trưởng Mari Pangestu:: "Chắc chắn là như vậy. Tôi nghĩ rằng lạm phát sẽ giảm bớt và sức ép đối với giá cả như giá thực phẩm và năng lượng cũng sẽ giảm, không chỉ với Indonesia mà cả với những quốc gia còn lại ở Châu Á".

PV: Đã từ lâu, các nước phát triển vẫn từng khuyên các nước đang phát triển cần phải giữ ổn định hệ thống ngân hàng. Chính Hoa Kỳ đã từng ‘kê đơn bốc thuốc’ cho Indonesia và cho nước này những ‘liều thuốc rất mạnh và rất đắng’ vào cuối thập niên 1990. Liệu có phải giờ là thời điểm Hoa Kỳ và Châu Âu cần có những hành động để vượt qua chính những bài học của họ? 

Bộ trưởng Mari Pangestu:: "Chắc chắn là có những giai đoạn Hoa Kỳ và Châu Âu đều có tỉ lệ GDP vượt mức 100 hoặc cao hơn nữa. Ở Châu Á nói chung, ví dụ Indonesia, tỉ lệ GDP khoảng 26% còn Trung Quốc là 20%. Vì thế, tôi nghĩ chúng tôi đã học được bài học lớn và may mắn là chúng tôi đang duy trì những chính sách tài chính hợp lý. Thêm một điều nữa là rõ ràng chúng tôi có khu vực ngân hàng rất vững vàng. Đây là hai thành tố chính mà chúng tôi học được từ cuộc khủng hoảng tài chính những năm 1997-98 và giờ chúng tôi duy trì nó. Đồng thời cần hỗ trợ quản trị tốt hơn, cả trong nước, trong khu vực và ở tầm quốc tế. Tại các phiên thảo luận của nhóm G20, vẫn cần trả lời câu hỏi rằng những nền kinh tế mới nổi, hiện là một bộ phận rất quan trọng của nên kinh tế thế giới, có thể tham gia nhiều hơn nữa vào quá trình quản trị toàn cầu đối với một thiết chế tài chính đa phương cũng như trong cách điều phối thị trường tài chính thế giới như thế nào".

PV: Bà nhận định gì về Trung Quốc, nước hiện có dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới, đặc biệt trong vài trò thay thế đồng đô-la Mỹ? 

Bộ trưởng Mari Pangestu:: "Tôi không nghĩ chúng ta có thể chuyển từ một đồng tiền có giá này sang một đồng tiền có giá khác. Tôi nghĩ những gì đang diễn ra trên thực tế và đã được thảo luận tại G20 chính là một hệ thống dự trữ bằng nhiều loại tiền bởi vì chỉ có như vậy mới phản ánh đúng vai trò ngày càng lớn của các nền kinh tế mới nổi trong thương mại và kinh tế thế giới. Chúng ta sẽ tiến tới một hệ thống dự trữ bằng nhiều đồng tiền. Hội nghị G20 và Thượng đỉnh Đông Á đều đã thảo luận đến một kế hoạch cải tổ trong hợp tác tài chính và hợp tác thương mại".

"Về mặt thương mại, cần phải thảo luận xem thương mại giữa Indonesia và Trung Quốc, giữa Malaysia và Trung Quốc như thế nào để thực hiện các giao dịch thương mại trực tiếp bằng đồng tiền của chính các quốc gia này thay vì trung chuyển qua đồng đô-la Mỹ. Tức là trực tiếp giữ đồng rupiah và đồng nhân dân tệ thay vì phải chuyển đổi từ nhân dân tệ sang đô-la, rồi mới chuyển thành rupiah. Đây thực sự là cách duy nhất để tiến tới một hệ thống dự trữ toàn cầu bằng nhiều đồng tiền. Một khi thực hiện được các giao dịch thương mại trực tiếp bằng các loại tiền khác nhau thay vì phải chuyển đổi qua đồng đô-la Mỹ, sẽ rất có lợi. Giữa các quốc gia Đông Á đã có chuyển đổi song phương, và giữa các ngân hàng trung ương, chẳng hạn các ngân hàng trung ương của Malaysia, Indonesia và Trung Quốc, đã có cơ chế thanh toán trực tiếp giữa đồng rupiah hay giữa đồng ringgit và đồng nhân dân tệ. Việc này vẫn còn đang tiến triển nhưng nó không có nghĩa là đây là một giải pháp thay thế cho các cơ chế và biện pháp tiền tệ và tài chính hiện nay mà chỉ là sự bổ sung cho những gì đang tồn tại".

PV: Xin bà cho biết ưu tiên quan trọng nhất là gì trong hội nghị các bộ trưởng kinh tế lần này? 

Bộ trưởng Mari Pangestu:: "Tôi nghĩ chúng tôi có vài ưu tiên. Ưu tiên đầu tiên rõ ràng là bảo đảm rằng chúng tôi đi đúng đường trong mục tiêu thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2015. Chúng tôi đang ở một ngã ba đường rất quan trọng, nơi mà nếu xét đến tình hình kinh tế thế giới hiện tại, thực sự đã đến lúc phải củng cố hoặc thậm chí là thúc đẩy hợp tác khu vực bởi vì chúng tôi đang phải đối diện với rất nhiều rủi ro. Chúng tôi phải xích lại gần nhau hơn và bảo đảm rằng tăng trưởng được duy trì bền vững tại ASEAN cũng như rộng ra là cả Đông Á".

3. G20 nhóm họp khẩn cấp giải quyết biến động kinh tế 
 
Không riêng gì tình hình kinh tế khó khăn tại Việt Nam mà những tin tức kinh tế tài chính nóng bỏng gần đây nhất cho thấy cả thế giới có thể đang đứng bên bờ vực của cơn khủng hoảng mới. Vì sao vậy?

* Bản tin đăng lần đầu ngày 8/8 và cập nhật ngày 9/9

Hai sự kiện mới nhất: tình hình tài chính của nhiều nước Châu Âu trở nên tồi tệ và việc Standard & Poors hạ điểm tín dụng của Hoa Kỳ đã cho thấy cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu mới có thể xảy ra.

Những tin tức mới nhất hôm nay (9/9) cho hay Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama bảo vệ mức tín dụng của Hoa Kỳ bất chấp thị trường chứng khoán nước này giảm kỷ lục kể từ chín tháng qua.

Chỉ số Dow Jones giảm xuống dưới mức 11.000 lần đầu tiên tính từ tháng 11/2010.

Dù vậy, Tổng thống Barack Obama phát biểu cho rằng: “Không có gì đáng bận tâm với những gì mà một số cơ quan có thể đánh giá. Chúng tôi (Hoa Kỳ) đã luôn và sẽ luôn luôn ở mức độ tín dụng AAA”.

Tổng thống Hoa Kỳ cho hay vấn đề ‘nợ ngập đầu’ của Hoa Kỳ sẽ được giải quyết nếu hai Đảng Dân chủ và Cộng hòa đoàn kết tìm giải pháp cân bằng để giảm bớt thâm hụt ngân sách.

Châu Âu: các nhà đầu tư ‘kinh hoàng’
 Trong lĩnh vực kinh tế tài chính toàn cầu, một trong những vấn đề lớn hiện nay là mức độ nợ nần của Ý và Tây Ban Nha đã bắt đầu khiến các nhà đầu tư ‘kinh hoàng’.

Giới đầu tư lo ngại hiệu ứng dây chuyền từng diễn ra ở Hy Lạp, Bồ Đào Nha và Ireland có thể lan sang các nền kinh tế khác. Nếu điều này xảy ra, thế giới sẽ lâm vào tình trạng khủng hoảng tài chính vì kinh tế của những quốc gia vừa đề cập lớn hơn kinh tế của nhiều nước khác rất nhiều.

Từ vài ngày qua, đã có nhiều dấu hiệu rõ rêt cho thấy thị trường chứng khoán của nhiều nước đã biến động và lãi suất đã tăng cao.

Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB-European Central Bank) nay quyết định khởi sự mua các cổ phiếu của Ý và Tây Ban Nha. Điều này có tác dụng trấn an mọi người rằng ít nhất nay cũng có người muốn mua cổ phiếu.

Tuy nhiên, việc mua vào các cổ phiếu cũng khiến người ta đặt dấu hỏi về tác dụng về lâu về dài của việc này. Người ta tự hỏi làm thế nào ECB có thể cứ tiếp tục mua vào những cổ phiếu và liệu chính sách mua như vậy có thực sự giúp giải quyết vấn đề hay chăng?

Thế giới bàn biện pháp cứu nguy
 Hôm qua, Chủ Nhật 7/8, nhóm G20 đã nhóm phiên họp khẩn cấp để thảo luận về các giải pháp nhằm giải quyết tình trạng biến động trong lĩnh vực tài chính hiện nay.

Cuộc họp diễn ra sau khi lần đầu tiên trong lịch sử Standard & Poor’s (S&P) , tức một trong những hãng đánh giá mức độ khả tín tín dụng hàng đầu của thế giới, đã giảm mức độ khả tín của Hoa Kỳ.

Hôm thứ Sáu 5/8, S&P đã hạ mức đánh giá AAA mà hãng này dành cho Hoa Kỳ xuống còn AA+.

Hãng này cho biết các chính trị gia Mỹ ngày càng trở nên bất lực không giải quyết thỏa đáng mức độ nợ nần và mức thâm thủng tài chính.

Các viên chức tài chính Hàn Quốc cho biết hôm Chủ Nhật 7/8, thứ trưởng tài chính các nước G20 đã thực hiện cuộc họp qua đường điện thoại viễn liên để thảo luận tình hình tài chính thế giới hiện nay.

Thứ trưởng tài chính Hàn Quốc Yim Jong Yong cho biết các tham dự viên đã thực hiện các cuộc “đối thoại nghiêm chỉnh” để bàn về các nỗ lực nhằm kiềm chế sự rối loạn sau khi S&P thông báo hạ mức điểm tín dụng của Hoa Kỳ và sau khi các khoản nợ nần của nhiều nước được loan báo.

Thứ trưởng Yong cho hay các vấn đề hiện nay sẽ không đưa thế giới tới bờ vực khủng hoảng tài chính.

Trước đó, Bộ trưởng Tài chính Hàn Quốc Choi Jong Ku cho hay niềm tin của Hàn Quốc đối với tình hình tài chính của Mỹ vẫn không suy suyển mặc dù S&P hạ giảm mức độ tín dụng.

Trong khi đó một viên chức tài chính không nêu tên cho hay các nước thuộc G20 đang xem xét việc cùng cam kết thực hiện các nỗ lực nhằm giải quyết tình hình tài chính toàn cầu.

Tại cuộc họp G20, Hoa Kỳ tuyên bố hai cơ quan đánh giá tín dụng khác cam kết giữ nguyên mức đánh giá tín dụng của Mỹ.

Trung Quốc chỉ trích Hoa Kỳ
 Trung Quốc, nước hiện giữ số cổ phiếu trị giá hơn 1.000 tỷ đô-la của chính phủ Hoa Kỳ, đang kêu gọi thành lập tổ chức giám sát độc lập đồng đô-la Mỹ. Bắc Kinh cũng lập lại quan điểm cho rằng thế giới cần một hệ thống dự trữ tiền tệ toàn cầu mới thay cho đồng đô-la.

Vẫn theo Bắc Kinh, Hoa Kỳ cần thiết lập nguyên tắc cơ bản là người ta phải “học để sống trong khuôn khổ các điều kiện mà mình có”.

Trung Quốc cho biết điểm uy tín tín dụng Hoa Kỳ có nguy cơ bị thấp thêm nữa nếu nước này không cắt giảm “khoản chi tiêu khổng lồ dành cho quân sự” và tránh đừng để chi phí an sinh xã hội tăng cao.
Trong bài bình luận do Tân Hoa Xã loan tải, Trung Quốc cũng lên tiếng chỉ trích Hoa Kỳ về ‘hội chứng’ mà Bắc Kinh gọi là “nghiện vay nợ”.

Còn trong cuộc trả lời phỏng vấn Đài Úc ngày 8/8, Giáo sư Shi Yinhong - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ tại Đại học Renmin (Trung Quốc) - cho hay ông “không ngạc nhiên” khi chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần bày tỏ công khai việc quan ngại “tài sản quốc gia Trung Quốc sẽ thất thoát lớn nếu Chính phủ Hoa Kỳ không chịu trách nhiệm về về chính sách tài chính, tiền tệ của nước này”.

Giáo sư Shi cũng nhận định rằng: “Toàn thế giới, bao gồm cả Trung Quốc, hy vọng rằng Hoa Kỳ có thể thúc đẩy nền kinh tế riêng của họ bởi điều này không chỉ tốt cho Hoa Kỳ mà còn cho các nước khác”.

Giờ đây, chính phủ và các nhà đầu tư Trung Quốc “đang rất thận trọng” trong việc đầu tư nguồn vốn vào Hoa Kỳ và cả những quốc gia khác mặc dù, theo Giáo sư Shi, nền kinh tế toàn cầu có thể sẽ góp phần làm cho quá trình đầu tư của Trung Quốc đối với các khu vực (đặc biệt là Châu Á) nhanh hơn.

Đông Nam Á: lo lắng hay tự tin? 
 Những tin tức bất lợi về tình hình kinh tế toàn cầu dường như tác động đến các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á theo rất nhiều chiều hướng khác nhau.

Phái viên Helen Brown của Đài Úc ở Jakarta (Indonesia) cho hay Chính phủ Indonesia tin tưởng rằng thế giới có thể “chịu đựng” được cuộc khủng hoảng tài chính.

Trong khi đó, đầu tư nước ngoài đã tăng lên đáng kể ở Miến Điện trong vài năm gần đây với nguồn vốn chủ yếu là đến từ các quốc gia láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc. Các dự án lớn chủ yếu nằm trong lĩnh vực năng lượng, khai thác mỏ và xây dựng các đập thủy điện.

Tại Việt Nam, nạn lạm phát là nỗi lo lớn nhất của chính phủ lẫn người dân nước này. Giá vàng, giá thực phẩm leo thang chóng mặt. Lãi suất ngân hàng tăng cao để kiềm chế lạm phát song lại làm nền kinh tế bị khan hiếm nguồn vốn.

Tin cho hay trong cuộc Hội thảo về đầu tư tổ chức ở Hà Nội mới đây, các chuyên gia trong và ngoài nước Việt Nam đã dự báo tình hình kinh tế trong những tháng cuối năm ở Việt Nam phụ thuộc vào việc ổn định các chỉ số kinh tế.

Việt Nam, theo các chuyên gia, khó có những đợt bơm tiền mạnh để kích thích nền kinh tế như trước đây.

Úc trước biến động tài chính
 Trong những ngày qua, Bộ trưởng Ngân khố Úc Wayne Swan đã liên tục tiếp xúc và thảo luận với các bộ trưởng và viên chức tài chính hàng đầu thế giới để tìm cách giải quyết những biến động tài chính hiện nay.

Ông Swan cho hay tình hình tài chính tại các nước Châu Âu và Hoa Kỷ khiến nhiều người quan ngại trong khi Úc và nhiều nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương khá vững. Ông cho rằng các nước phải chung tay góp sức để giải quyết và nâng đỡ nhau trong cơn ‘ngặt nghèo’ này.

Ông cũng cho biết hiện hãy còn quá sớm để có thể cho rằng thế giới hiện đang lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính cấp độ 2.

Mới hôm qua, Chủ nhật 7/8, IMF công bố phúc trình cho thấy về cơ bản, nền kinh tế Úc đang ở trong giai đoạn vững mạnh với các khoản nợ công thấp, lượng đầu tư cao và các định chế tài chính vững chắc.

Ông dự báo ngân sách Úc trong tài khóa 2012-2013 sẽ thặng dư. Tuy nhiên ông Swan cũng cảnh báo, nếu khủng hoảng xảy ra, Úc cũng có thể bị ảnh hưởng.

Trong khi đó, Thủ tướng Úc Julia Gillard tuyên bố mặc dù Úc vẫn có thể bị tác động nếu kinh tế toàn cầu lâm vào tình trạng suy thoái song dân chúng Úc cần vững tin vào sức mạnh kinh tế nước nhà và vào mức độ tín dụng AAA mà kinh tế nước này đạt được.

4. Kinh tế thế giới chao đảo tạo cơ hội cho Châu Á

Tiến sĩ Iwan Azis, chuyên gia kinh tế cao cấp của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), nhận định rằng sự bất ổn của kinh tế toàn cầu cùng với tương lai ảm đạm về tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Châu Âu và Mỹ sẽ thúc đẩy dòng vốn đổ vào khu vực Châu Á.

[title]
Thị trường chứng khoán New York, Mỹ. (ABC)

Thách thức với Châu Á
 Tiến sĩ Iwan Azis dự đoán thị trường tài chính toàn cầu, đặc biệt là Mỹ và Châu Âu, sẽ đi xuống và điều này sẽ làm giảm cầu hàng hóa từ Châu Á. Đây là những khó khăn và thách thức đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Châu Á.

Một ví dụ điển hình là Thái Lan. Trong bối cảnh hiện nay, các doanh nghiệp xuất khẩu Thái Lan phải nỗ lực hết sức để giải quyết vấn đề nan giải về số lượng lẫn giá cả hàng hóa được xuất đi nước ngoài.

Một trong những nguyên nhân khiến các doanh nghiệp xuất khẩu Châu Á ‘điêu đứng’ là do đồng tiền của các nước trong khu vực gia tăng giá trị khi một số nền kinh tế lớn như Mỹ và Châu Âu có dấu hiệu suy thoái.
Ấn Độ, một trong những nền kinh tế lớn nhất tại Châu Á, cũng không nằm ngoài vòng xoáy chung. Sự thành công vượt bậc của các tập đoàn lớn ở Ấn Độ trong thời gian qua đồng nghĩa với việc nước này dễ bị ảnh hưởng hơn bởi sự sụt giảm hiện nay của thị trường chứng khoán thế giới.

Trong vài ngày qua, các doanh nghiệp Ấn Độ vốn xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Mỹ đã ồ ạt bán tháo cổ phiếu để giảm lỗ, bất chấp mọi nỗ lực của chính phủ Mỹ trong việc trấn an các nhà đầu tư nước ngoài.

Ông Jaganadham Thunuguntla, trưởng nhóm chuyên gia chiến lược, đồng thời là người đứng đầu bộ phận nghiên cứu tại Công ty Chứng khoán SMC Global, New Delhi (Ấn Độ), lo ngại rằng cuộc suy thoái kinh tế lần này sẽ còn tồi tệ hơn năm 2008.

Theo ông, ngay từ khi những tin tức không mấy tốt đẹp về kinh tế Mỹ và Châu Âu chưa được công bố thì mức tăng trưởng GDP của Ấn Độ đã giảm xuống, từ 9%/năm xuống còn 7%/năm. Do đó, những thông tin về sự suy thoái của kinh tế Mỹ hiện nay thực sự làm lung lay niềm tin của các doanh nghiệp Ấn Độ bởi rất nhiều doanh nghiệp lớn trong số này có liên hệ chặt chẽ về mặt kinh tế với các đối tác Mỹ. Thậm chí nguồn thu từ việc đầu tư ở nước ngoài của các công ty này chiếm tới hơn 50% tổng doanh thu.

Ông Thunuguntla cũng nhận định, trong bối cảnh các nhà đầu tư trên thế giới đang tìm cách rút vốn, nếu tình hình kinh tế Mỹ trở nên tồi tệ hơn thì sẽ có tác động tiêu cực hơn tới Ấn Độ.

Trước câu hỏi về vai trò của sức mua nội địa đối với kinh tế Ấn Độ và liệu nó có giúp giảm thiểu tác động của suy giảm kinh tế toàn cầu hay không, ông Thunuguntla cho biết trước đây, sức mua nội địa của Ấn Độ rất lớn và khi suy thoái kinh tế diễn ra năm 2008, đây chính là yếu tố hậu thuẫn cho kinh tế nước này. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, sức mua nội địa đang dần giảm xuống, vì vậy, kinh tế Ấn Độ có thể bị ảnh hưởng nhiều hơn so với năm 2008.

Mở ra cơ hội
Theo Tiến sĩ Azis, ưu tiên hàng đầu với các nước Châu Âu và Mỹ hiện nay là bình ổn thị trường nhằm giảm thiếu những tác động tiêu cực của việc suy giảm tài sản (vốn đầu tư, lợi nhuận...).

“Tôi cho rằng Châu Âu và Mỹ sẽ cho phép giảm nguồn tài sản. Tuy nhiên, nếu sự suy giảm quá nhanh chóng thì các nước này cũng không thể cầm cự được bởi nó có thể phá vỡ thị trường tài chính”, ông nói.

Vì vậy, Châu Âu và Mỹ sẽ phải cân đối tốc độ suy giảm của thị trường tài chính và cho phép nền kinh tế thực hiện các chức năng của mình.

Nhận định về kinh tế Châu Á trong bối cảnh hiện nay, Tiến sĩ Narongchai Akrasanee, cựu Bộ trưởng Thương mại Thái Lan, Chủ tịch Ngân hàng Xuất-Nhập khẩu Thái Lan, cho biết kể từ năm 2007, các nước Châu Á đã bớt phụ thuộc hơn vào thị trường Châu Âu. Đây là một trong những lý do khiến cho Châu Á có thể nhanh chóng phục hồi kinh tế sau cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu vào năm 2009. Mặc dù hiện nay, thị trường tài chính Châu Á vẫn hoạt động rất hiệu quả và bền vững, nhưng Châu Á vẫn cần tìm ra giải pháp để duy trì sự ổn định lâu dài vốn đã được duy trì từ năm 2008.

Ông Akrasanee cũng bày tỏ lạc quan về viễn cảnh kinh tế Châu Á trong tương lai. Quan điểm của ông Akrasanee là hoàn toàn có cơ sở. Ngân hàng ADB mới đưa ra một báo cáo cho biết Châu Á sẽ tiếp tục tăng trưởng với tốc độ trên 7% trong năm 2011-2012. Còn ông Thunuguntla cũng dự báo Ấn Độ sẽ tăng trưởng ở mức 7-7.5%/năm nếu như kinh tế Mỹ và Châu Âu không rơi vào khủng hoảng trầm trọng.



Nguồn: ABC | ABC International | Radio Australia

23/4/11

Trung Quốc bất an sau khi Mỹ bị hạ xếp hạng tín dụng

Trung Quốc, chủ nợ lớn nhất của Mỹ, đang tỏ ra lo lắng sau khi hãng xếp hạng tín dụng hàng đầu thế giới Standard & Poor’s hạ xếp hạng tín dụng của Mỹ hôm 18/4. 
Ảnh: Daryl Cagle

Trung Quốc vẫn luôn yêu cầu Mỹ đảm bảo an toàn cho các tài sản bằng USD. Hôm 19/4, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hong Lei cho biết, Trung Quốc hy vọng chính quyền Mỹ sẽ áp dụng những biện pháp và chính sách có trách nhiệm để bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư.

Sự an toàn của các tài sản bằng đồng USD không chỉ là mối quan tâm thường xuyên của chính phủ Trung Quốc mà còn là mối quan tâm của các nhà kinh tế. Hiện tại, phần lớn trong khoản dự trữ ngoại hối 3.000 tỷ USD của Trung Quốc là trái phiếu Mỹ. Đến tháng 2/2011, Trung Quốc vẫn là người mua lớn nhất các chứng khoán và trái phiếu Mỹ.

Đầu tháng 11 năm ngoái, khi chính phủ Mỹ công bố gói nới lỏng định lượng mới (QE2), cơ quan xếp hạng tín dụng Dagong Global của Trung Quốc đã hạ xếp hạng tín dụng của Mỹ từ mức AA xuống A+ cùng đánh giá tiêu cực về khả năng trả nợ của nước này.

Chủ tịch Dagong, ông Guan Jianzhong cho biết, ông không ngạc nhiên khi S&P’s cắt giảm triển vọng tín nhiệm của Mỹ. Ông cho rằng, các nền tảng cơ bản của kinh tế Mỹ không vững chắc, bên cạnh đó thâm hụt của Mỹ không ngừng mở rộng và doanh thu tài chính suy giảm.

Theo ông Guan, hành động của S&Ps có thể là một cảnh báo đối với chính quyền Mỹ về thâm hụt liên bang khổng lồ, thay vì mức vay nợ nước ngoài.

Hiện tại, xếp hạng tín dụng của Mỹ đang ở mức AAA, tuy nhiên, thứ hạng này có thể sẽ bị cắt giảm trong vòng hai năm nếu các nhà hoạch định chính sách Mỹ thất bại trong việc giải quyết thâm hụt ngân sách và các khoản nợ.

Ông Guan cảnh báo, Trung Quốc đang nắm giữ các tài sản bằng USD có rủi ro.

Cùng lúc, cơ quan xếp hạng tín dụng hàng đầu Moody’s cũng cảnh báo về nguy cơ nợ của Mỹ.

Ông Steve Hess, chuyên viên tín dụng cao cấp của hãng Moody’s cho biết, áp lực nợ và tài chính tăng khả năng thay đổi triển vọng thanh toán nợ của Mỹ trong vòng 2 năm tới.

Ông Lu Zhengwei, nhà kinh tế trưởng tại ngân hàng Industrial Bank cho rằng, khả năng trả nợ của Mỹ sẽ tốt hơn một khi nền kinh tế Mỹ phục hồi nhanh hơn so với dự kiến.

Ông Lu kêu gọi chính phủ Trung Quốc thúc giục chính quyền Mỹ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ, cũng như sự phát triển của hệ thống tài chính và kinh tế toàn cầu.

Các nhà kinh tế cho rằng, Trung Quốc nên chú ý tới sự phát triển của các điều kiện tín dụng Mỹ và đa dạng hóa đầu tư vào quỹ dự trữ ngoại hối khổng lồ của mình.

Tháng 3/2011, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã ở mức 3.000 tỷ USD, vượt quá nhu cầu “hợp lý” của đất nước.

(Theo China Daily)

19/3/11

Thế giới cần gấp 1 cơ cấu phát triển quốc tế mới

Ngày 11/3, hội nghị các quan chức cấp cao hàng năm của Hội đồng Kinh tế xã hội Liên hợp quốc (ECOSOC), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD), đã nhất trí cho rằng sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu bùng phát năm 2008, thế giới cần khẩn cấp một cơ cấu phát triển quốc tế mới.
 
 Thị trường chứng khoán New York. (Ảnh minh họa. AFP/TTXVN)

Hội nghị nhấn mạnh cơ cấu phát triển quốc tế mới sẽ thổi luồng sinh khí vào nền kinh tế toàn cầu đang phục hồi không đồng đều và mong manh, đồng thời sẽ đóng vai trò quan trọng nhằm đảo ngược xu thế suy thoái hiện nay của nền kinh tế thế giới.

Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon khẳng định cộng đồng thế giới phải đối phó một cách kiên quyết và hiệu quả với những thách thức này thông qua một tiến trình phát triển công bằng và bền vững. Ông kêu gọi tăng cường các quan hệ đối tác phát triển, đặc biệt nhằm thực hiện thành công các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ vào năm 2015.

Tiến trình phát triển mới này cần một hệ thống buôn bán mở, đầu tư lớn hơn để tạo nhiều việc làm, an ninh lương thực, y tế, năng lượng sạch, cơ cấu hạ tầng tiên tiến cũng như sự tiếp cận lớn hơn của người dân đến các dịch vụ y tế thiết yếu và công nghệ, thích nghi với biến đổi khí hậu. Tiến trình phát triển trên cũng cần hệ thống Liên hợp quốc hiệu quả hơn, có hiệu lực cao hơn và đại diện rộng rãi hơn.

Chủ đề của hội nghị ECOSOC, WTO, WB, IMF và UNCTAD năm nay là “Cố kết, phối hợp và hợp tác về tài trợ phát triển” nhằm thúc đẩy quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển đã được xác lập tại Hội nghị quốc tế về tài trợ phát triển tại Monterrey, Mexico năm 2002 và Hội nghị Doha (Qatar) năm 2008.

Những cuộc đối thoại tương tác tại hội nghị lần này nhằm đổi mới cơ chế phát triển, trong đó tập trung vào các vấn đề viện trợ buôn bán, giảm nợ cho các nước chậm phát triển nhất, hợp tác phát triển, buôn bán, dòng vốn, không gian chính sách và các chế độ dự phòng cho các nước thu nhập thấp và trung bình.

Chủ tịch ECOSOC Lazarous Kapambwe nhấn mạnh cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu mới đây đã làm bộc lộ rõ những điểm yếu của hệ thống quản trị kinh tế toàn cầu. Liên hợp quốc phải can dự lớn hơn cùng với những đối tác kinh tế chủ chốt khác như Nhóm các nền kinh tế phát triển và mới nổi (G-20), đồng thời tất cả các nước cũng cần thực hiện nghiêm túc những cam kết về tài trợ phát triển đã đạt được tại các Hội nghị Monterrey và Doha.

Hợp tác Nam-Nam cũng là đòn bẩy giữa các nước thu nhập thấp và trung bình để tăng cường buôn bán khu vực và thúc đẩy công nghiệp hóa ở những nước này.

Tương lai buôn bán bền vững và mạnh mẽ của các nước chậm phát triển nhất cần được xác lập theo hai định hướng là chính sách thương mại, mở cửa thị trường và hòa nhập hiệu quả vào hệ thống buôn bán đa phương./.

(TTXVN/Vietnam+)

15/2/11

IMF nói gì khi Việt Nam chỉnh tỷ giá !

IMF cho rằng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, lên mức trên 9% là một động thái tích cực trong việc từng bước làm bình thường hóa chức năng của thị trường ngoại tệ; từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thị trường ngoại tệ chính thức và không chính thức; từng bước tạo sự linh hoạt hơn trong cơ chế điều hành tỷ giá.


Ông Benedict Bingham, Trưởng đại diện IMF tại Việt Nam đã tuyên bố như vậy khi được yêu cầu bình luận về việc điều chỉnh tỷ giá của Việt Nam.

Ông Benedict Bingham nêu rõ, Chính phủ Việt Nam đã khá thành công trong việc giải quyết các vấn đề nổi cộm của kinh tế vĩ mô thông qua việc điều chỉnh chính sách. Và biện pháp điều chỉnh tỷ giá ngày 11/2 cũng là một phần thể hiện điều đó.

Tuy nhiên, nếu nói việc điều chỉnh tỷ giá lần này có thể giải quyết được triệt để các vấn đề liên quan đến tiền đồng, liên quan đến cơ chế tỷ giá ngoại tệ, cái mà đã gây áp lực khá mạnh lên thị trường trong cả năm qua, thì chưa đủ.Mà vấn nạn hệ lụy của nguy cơ lạm phát, biện pháp điều chỉnh tỷ giá lần này chỉ là biện pháp tình thế và chúng ta cần phải nhìn lại vấn đề điều hành chính sách kinh tế vĩ mô ra sao ?

Để làm được điều đó, Chính phủ Việt Nam cần phải có một chính sách tài khóa đồng bộ, để giải quyết các vấn đề kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp tới Việt Nam đồng, đó là vấn đề nợ công, là vấn đề sức khỏe của các doanh nghiệp nhà nước, là vấn đề lạm phát.

Phải khẳng định lại rằng động thái điều chỉnh tỷ giá ngày 11/2 là bước giải quyết tình thế khá tích cực, song cũng mới chỉ là một phần của cả gói giải pháp đồng bộ khác cần làm trong thời gian tới…

Theo Ông Benedict Bingham, lâu nay tỷ giá chính thức và không chính thức chênh nhau đến 8-9%. Thế nên việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tăng tỷ giá bình quân liên ngân hàng ở mức 9,3% như vừa qua là hợp lý. Nhỏ hơn mới là bất hợp lý.Nhưng vấn đề điều chỉnh giá thị trường tự do ra sao? Cần phải có biện pháp cụ thể!

Tính thời điểm của động thái nâng tỷ giá không cần bàn nhiều. Hy vọng rằng đây sẽ là động thái đầu tiên của Chính phủ Việt Nam nhằm hỗ trợ các động thái tiếp theo trong gói giải pháp giải quyết các vấn đề kinh tế vĩ mô, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam.

Đối với Ngân hàng Nhà nước, người dân vẫn rất kỳ vọng vào các động thái tiếp theo như vấn đề về lãi suất, lạm phát...

Ông Benedict Bingham cho rằng, có thể có một vài luồng tiền nào đó từ nước ngoài đang chờ cơ hội ngay khi Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tỷ giá, sẽ vào Việt Nam. Tuy nhiên, về cơ bản mà nói thì các luồng vốn nước ngoài vẫn còn muốn chờ đợi chính sách kinh tế vĩ mô sẽ được thực thi như thế nào trong thời gian tới, chứ không phải chỉ là việc điều chỉnh tỷ giá.

Nếu kinh tế vĩ mô được ổn định, môi trường đầu tư Việt Nam chắc chắn sẽ được nâng cao hơn nữa, và lúc đó đương nhiên luồng tiền từ nước ngoài sẽ chảy mạnh vào Việt Nam.

Ông Benedict Bingham nhấn mạnh, việc điều chỉnh tỷ giá thôi chưa đủ. Đi kèm với đó phải là một gói giải pháp đồng bộ khác. Ví dụ như giải pháp về chính sách tiền tệ, giải pháp về chính sách tài khóa. Hiện thị trường đang rất trông ngóng về việc Ngân hàng Nhà nước sẽ đối phó như thế nào với vấn đề lạm phát; Chính phủ sẽ giải quyết thế nào với vấn đề nợ công, thâm hụt ngân sách.

Nhà đầu tư nước ngoài họ cũng hiểu rằng thâm hụt ngân sách là khá lớn, họ cũng hiểu lý do tại sao, và vấn đề bây giờ họ cần phải biết là khi nào thì nó sẽ được giải quyết để giảm xuống.

Bài học khủng hoảng nợ công tại châu Âu chúng ta đều biết. Thế cho nên, cùng với những điều chỉnh chính sách tiền tệ với những tín hiệu được đưa ra rõ ràng từ Ngân hàng Nhà nước nhằm đối phó với lạm phát thì Bộ Tài chính cũng cần phải có những chính sách tài khóa rõ ràng nhằm đối phó với vấn đề nợ công.

Cả hai điều này kết hợp lại là yếu tố vô cùng quan trọng khiến cho Việt Nam thành công trong việc bình ổn thị trường ngoại tệ, cơ chế tỷ giá sẽ được ổn định. Từ đó sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài.
(Theo Tamnhin.net)

22/12/10

Việt Nam phải từng bước thoát ly khỏi tính phụ thuộc về kinh tế với Trung Quốc.

Xác lập tinh thần Nguyễn Trãi trong quan hệ kinh tế Việt – Trung

Trong thời đại ngày nay, về phương diện phát triển kinh tế, khí phách Nguyễn Trãi được thể hiện ở quan hệ ngoại thương hàng ngang giữa hai nước Việt Trung. Việt Nam phải từng bước thoát ly khỏi tính chất bắc nam trong quan hệ mậu dịch với Trung Quốc.

 
Từ khoảng năm 2000 cán cân thương mại của Việt Nam ngày càng nhập siêu. Quy mô nhập siêu lớn đến nỗi gây bất ổn trong kinh tế vĩ mô từ năm 2007. Một trong mấy nguyên nhân chính của hiện tượng nhập siêu này có thể thấy trong cơ cấu xuất nhập khẩu của Việt Nam đối với Trung Quốc.

Quyết tâm thay đổi cơ cấu này không những cải thiện được cán cân thương mại bất quân bình trầm trọng hiện nay mà còn là con đường để Việt Nam phát triển, tiến lên ngang hàng với trình độ phát triển của nước láng giềng phương bắc.

Tính chất “Bắc – Nam” trong quan hệ kinh tế Việt Trung


Từ thập niên 1950, một tiêu điểm nổi lên trong quan hệ kinh tế quốc tế là vấn đề Bắc – Nam. Các nước phát triển hầu hết là ở bắc bán cầu, các nước chậm tiến ở phía nam. Vấn đề ở chỗ là khoảng cách phát triển giữa Bắc và Nam ngày càng mở rộng. Làm sao để các nước phía Nam phát triển nhanh, thu hẹp khoảng cách với các nước phía Bắc là quan tâm chung của cộng đồng thế giới trong hơn nửa thế kỷ qua.

Sự cách biệt kinh tế giữa các nước phía Bắc với các nước phía Nam phản ảnh rõ nét trong quan hệ ngoại thương. Các nước phía Bắc xuất khẩu hàng công nghiệp còn các nước phía Nam xuất khẩu nguyên liệu, các hàng nông, lâm, thuỷ sản ở dạng thô hoặc sơ chế.

Quan hệ buôn bán giữa Bắc với Nam với đặc tính như vậy còn được gọi là ngoại thương theo hàng dọc (vertical trade). Do đó, quá trình thu hẹp khoảng cách phát triển để giải quyết vấn đề Bắc Nam cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của các nước phía Nam để các nước nầy ngày càng xuất khẩu hàng công nghiệp sang phía Bắc, chuyển từ ngoại thương hàng dọc sang ngoại thương hàng ngang (horizontal trade).

Trong khoảng 35 năm qua, một số nước ở phía Nam đã làm được một kỳ tích là nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển với phía Bắc, thay đổi hẳn quan hệ ngoại thương từ hàng dọc sang hàng ngang với các nước phía Bắc.

Hiện tượng này diễn ra ngoạn mục nhất là tại các nước Đông Bắc Á và Đông Nam Á, gọi chung là Đông Á. Tại đây, ngoài Nhật Bản, một nước vừa thuộc phía Bắc vừa là nước nghèo tài nguyên thiên nhiên, hầu hết các nước Đông Á khác cho đến thập niên 1970 điển hình là những nước ở phía Nam mà quan hệ của họ với Nhật, Mỹ và các nước phía Bắc khác mang nặng tính chất ngoại thương hàng dọc.

Chẳng hạn, mới gần 30 năm trước đây, vào năm 1980, cơ cấu xuất khẩu của các nước ASEAN còn nghiêng về các mặt hàng nguyên liệu và nông lâm thuỷ sản: Tỉ lệ của các mặt hàng này trong tổng xuất khẩu của Thái Lan và Phi-li-pin còn chiếm tới 60%, Malaysia 70% và Indonesia hơn 90%. Nhưng chưa đầy 20 năm sau, vào năm 1999, các tỉ lệ đó chỉ còn 23% tại Thái Lan, 18% tại Malayxia, 7% tại Phi-li-pin và 47% tại Indônêxia. Hiện nay các nước này đã trở thành những nước xuất khẩu hàng công nghiệp đáng kể trên thế giới.

Quan hệ Nhật Bản và Trung Quốc mới 20 năm trước đây còn là quan hệ Bắc – Nam. Trước năm 1990, hàng nguyên liệu và các sản phẩm nông lâm thuỷ sản còn chiếm trên 50% tổng nhập khẩu từ Trung Quốc vào thị trường Nhật Bản. Tuy nhiên tỉ lệ này giảm nhanh trong thập niên 1990, còn 23% vào năm 1995 và chỉ còn 17% vào năm 2000.

Nói khác đi, hiện nay hàng công nghiệp chiếm tới hơn 80% tổng xuất khẩu của Trung Quốc vào thị trường Nhật (trong tổng xuất khẩu của Trung Quốc ra tất cả thị trường thế giới, tỉ lệ của hàng công nghiệp hiện nay đã tăng lên trên 90%).

Có thể nói trong một thời gian ngắn, Trung Quốc đã thành công trong việc chuyển đổi quan hệ ngoại thương với một nước công nghiệp tiên tiến có quá trình phát triển hơn 100 năm và là một nước vốn phụ thuộc vào tài nguyên của các nước phía Nam.

Bây giờ chúng ta xét quan hệ ngoại thương hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc. Có ba đặc tính đáng chú ý:

Thứ nhất, Việt Nam ngày càng nhập siêu với Trung Quốc. Kim ngạch nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc tăng từ khoảng 200 triệu USD năm 2001 lên 1,4 tỉ năm 2003, gần 7 tỉ năm 2007 và độ 11 tỉ USD năm 2008. Năm 2008, nhập siêu với Trung Quốc chiếm tới 60% tổng nhập siêu của Việt Nam đối với toàn thế giới. Do đó, cải thiện quan hệ ngoại thuơng với Trung Quốc là biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng mất quân bình trầm trọng hiện nay trong cán cân thương mại quốc tế của Việt Nam.

Thứ hai, so với quy mô ngoại thương giữa hai nước Việt – Trung, kim ngạch nhập siêu nói trên cũng quá lớn, lớn một cách dị thường. Chẳng hạn vào năm 2008, Việt Nam xuất sang Trung Quốc 4,3 tỉ trong khi nhập từ Trung Quốc tới 15,1 tỉ USD. Nhập khẩu lớn gấp 4 lần xuất khẩu và nhập siêu lên tới mức bằng 3 lần kim ngạch xuất khẩu. Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc tăng rất chậm, từ năm 2001 đến 2008 chỉ tăng 3 lần (từ 1,4 tỉ tăng lên 4,3 tỉ USD), trong khi nhập khẩu từ Trung Quốc vào Việt Nam tăng ồ ạt, từ 1,6 tỉ lên 15,1 tỉ trong cùng thời gian.

Ngoài ra, mậu dịch ở biên giới chưa được quản lý chặt chẽ. Nhiều điều tra sơ bộ cho thấy hàng lậu nhập từ Trung Quốc rất nhiều. Nếu mậu dịch biên giới được phản ảnh, có lẽ kim ngạch nhập siêu của Việt Nam đối với Trung Quốc còn lớn hơn nhiều.

Thứ ba, quan sát mặt cơ cấu ta thấy nổi cộm lên tính chất bắc nam trong quan hệ ngoại thương giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trung Quốc chủ yếu xuất khẩu hàng công nghiệp sang Việt Nam trong khi Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc sản phẩm thô hoặc sơ chế khai thác từ các quặng mỏ. Năm 2007, riêng dầu thô, than đá đã chiếm gần 40% tổng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc và nếu kể thêm cao su, gỗ, rau quả, trà, cà phê và những sản phẩm thô sơ khác, tỉ lệ đó lên tới 80%. Hàng công nghiệp chỉ chiếm độ 20%.

Cơ cấu ngoại thương Việt Trung như vừa thấy gợi ta nhiều suy nghĩ. Đây là một quan hệ ngoại thương Bắc – Nam điển hình, một quan hệ mậu dịch hàng dọc thường thấy giữa một nước tiên tiến và một nước chậm phát triển.

Cần xác lập tinh thần Nguyễn Trãi

Phân tích ở trên cho thấy vấn đề của Việt Nam hiện nay là phải làm sao tiến lên giai đoạn phân công hàng ngang trong quan hệ ngoại thương với Trung Quốc.

Nói khác đi, Việt Nam phải sản xuất ngày càng nhiều các mặt hàng công nghiệp đủ sức cạnh tranh để thay thế nhập khẩu từ Trung Quốc và thâm nhập được vào thị truờng rộng lớn này. Có như vậy mới thoát khỏi tính chất Bắc – Nam hiện nay và cải thiện được cán cân mậu dịch.

Về chiến lược và biện pháp cụ thể liên quan đến việc phát triển công nghiệp Việt Nam, tôi đã có dịp trình bày trong cuốn sách xuất bản vài năm trước đây (Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hoá Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2005, NXB Trẻ tái bản năm 2006).

Ở đây tôi muốn kết nối kết quả phân tích này với một vấn đề thời sự đang được chú ý ở Việt Nam. Gần đây, dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên đã được chính phủ quyết định tiến hành khai thác thí điểm. Nhìn từ góc độ gìn giữ môi trường, hiệu quả kinh tế và sự phát triển bền vững ở Tây Nguyên, nhiều nhà nghiên cứu, nhà văn hoá, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và cựu Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã có ý kiến không đồng tình với việc khai thác này.

Theo tôi, dự án bô-xít Tây Nguyên, sau giai đoạn thí điểm, nếu thực hiện trên quy mô lớn sẽ bất lợi cho con đường phát triển của Việt Nam. Không kể đến những điểm đã được các nhà nghiên cứu, nhà văn hoá bàn đến, việc khai thác tài nguyên để xuất khẩu không phải là chính sách khôn ngoan.

Xưa nay những nước phát triển được đều là những nước biết dùng tài nguyên chứ không phải biết khai thác và xuất khẩu tài nguyên. Khôn ngoan nhất (như Nhật hoặc Hàn Quốc) là khai thác hoặc mua nguyên liệu ở nước ngoài mang về nước mình chế biến thành những sản phẩm công nghiệp có giá trị. Các sản phẩm dùng nhiều tài nguyên càng về hạ nguồn càng có giá trị tăng thêm cao nên những nước đó phát triển nhanh. Chí ít là khai thác và chế biến tài nguyên, dùng ngay tại nước mình để sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp có giá trị tăng thêm cao (như kinh nghiệm của Mỹ và nhiều nước Tây Âu).

Dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên còn có một đặc tính nữa là trong quá trình khai thác có sự tham gia của các công ty Trung Quốc và sản phẩm bô xít khai thác ra sẽ được bán sang Trung Quốc. Như vậy thì dự án này sẽ làm mạnh thêm tính chất Bắc – Nam trong quan hệ ngoại thương giữa hai nước, một khuynh hướng hoàn toàn bất lợi cho Việt Nam.

Sau khi thắng giặc Minh, giành lại chủ quyền cho đất nước, trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi nhấn mạnh thực thể độc lập, hiên ngang của nước Đại Việt, một đất nước đã sánh vai được với cường quốc phương bắc:

Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương…

Trong thời đại ngày nay, về phương diện phát triển kinh tế, khí phách Nguyễn Trãi được thể hiện ở quan hệ ngoại thương hàng ngang giữa hai nước Việt Trung. Việt Nam phải từng bước thoát ly khỏi tính chất bắc nam trong quan hệ mậu dịch với Trung Quốc.

Cũng theo Nguyễn Trãi, so với Trung Quốc, nước Đại Việt trước đây “tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, mà hào kiệt không bao giờ thiếu”. Rất mong Việt Nam ngày nay cũng không thiếu “hào kiệt”.

Nguồn: GS Trần Văn Thọ, vef.vn

7/5/10

Doanh nhân nước ngoài tin tưởng vào triển vọng làm kinh tế tại Việt Nam

Theo bảng chỉ số Trade Confidence Index do Ngân Hàng Anh Quốc HSBC công bố hôm qua, đo lường mức độ tin tưởng vào triển vọng công cuộc kinh doanh của giới doanh nhân quốc tế tại 17 quốc gia và lãnh thổ, Việt Nam đứng hàng thứ ba trong bảng xếp hạng tổng quát.

Việt Nam thu hút được sự tin tưởng của doanh nhân nước ngoài (DR)

Vị trí kể trên cho thấy là Việt Nam được xem là nơi làm ăn có sức hấp dẫn cao, được nước ngoài tin tưởng. Theo bản chỉ số tin tưởng của ngân hàng HSBC, trên một thang điểm từ 0 đến 200, Việt Nam được 132 điểm, tăng 22 điểm so với lần thăm dò trước, chỉ thua Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất, đứng đầu với 134 điếm, và Ấn Độ hạng nhì với 133 điếm.
Chỉ số tin tưởng của Việt Nam tuy nhiên cao hơn rất nhiều so với các nền kinh tế đi sau, như Hồng Kông hay Singapore (111 điểm), hai trung tâm kinh doanh lớn tại Châu Á được HSBC nghiên cứu. Ngoài các quốc gia kể trên, Chỉ số Tin Tưởng của HSBC còn bao gồm một số nền kinh tế khác như Indonesia, Trung Quốc, Brazil, Mêhicô, Hoa Kỳ, Đức, Anh Quốc, hay Ả Rập Xê Út.
Kết quả ghi nhận trong cuộc thăm dò mà HSBC công bố hôm qua, cũng trùng hợp với một bản chỉ số khác vừa được Công ty tham vấn kinh doanh quốc tế A.T. Kearney thực hiện gần đây. Trong bảng Chỉ Số Tin Tưởng năm 2010 của giới Đầu Tư Trực Tiếp Nước Ngoài, (FDI Confidence Index), Việt Nam đứng thứ 12 trong số hơn 80 quốc gia được giới đầu tư quốc tế tin tưởng nhất.
Dù đi sau Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Brazil, Đức và Ba Lan, vốn nằm trong danh sách 5 điểm đầu tư được ưa chuộng nhất, Việt Nam vẫn đứng đầu danh sách các nước Đông Nam Á, theo sau là Indonesia (thứ 19), Malaysia (thứ 20) và Singapore (thứ 24). Riêng Thái Lan và Philippines thì đã bị loại khỏi Top 25 trong bảng chỉ số năm 2010 này.
Bản chỉ số của Công Ty A.T. Kearney rất có uy tín vì các công ty tập đoàn tham gia vào cuộc điều tra chiếm hơn 2.000 tỷ đô la lợi tức làm ra mỗi năm trên thế giới.
Sau cùng, riêng tại châu Á, chỉ số tin tưởng trong giới tiêu thụ tại Việt Nam cũng được đánh giá khả quan, căn cứ vào một cuộc thăm dò khác do Công ty Nghiên Cứu Thị Trường InsightAsia của Singapore thực hiện. Theo nhật báo trên mạng Malaysia The Star, thì trong quý 1 năm 2010 này, chỉ số tin tưởng của người tiêu thụ Việt Nam đạt mức 132 điểm, đứng sau Singapore, nhưng trên Trung Quốc, Malaysia hay là Indonesia, Thái Lan. Thông thường chỉ số tin tưởng của người tiêu thụ ở mức cao khi các điều kiện kinh tế khả quan lên.

Trọng Nghĩa 
(Theo RFI Tiếng Việt)

29/4/10

Việt Nam tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Trung Quốc

(CAO) Ngày 27 - 4 tại thành phố Nam Kinh, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đến dự và phát biểu tại Diễn đàn Hợp tác Kinh tế thương mại Việt Nam - Trung Quốc. Tham dự Diễn đàn có gần 500 doanh nghiệp hai nước hoạt động trong các lĩnh vực đầu tư, thương mại, tài chính, bất động sản, điện lực, than,  dịch vụ, du lịch, sản xuất và chế biến khoáng sản, sản xuất, lắp ráp ô tô, đóng tàu...Diễn đàn do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc phối hợp với Sở Thương mại và Uỷ ban Xúc tiến Mậu dịch Quốc tế tỉnh Giang Tô tổ chức.

Phát biểu tại Diễn đàn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ: Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước không ngừng phát triển tốt đẹp. Thương mại hai chiều Việt Nam - Trung Quốc tăng nhanh với tốc độ trung bình trên 30%/năm trong 10 năm qua và đạt 21 tỷ USD trong năm 2009. Tính đến cuối tháng 3 năm nay, Trung Quốc đã có trên 700 dự án đang hoạt động tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký gần 3 tỷ USD, chưa kể đầu tư của Hongkong và Ma Cao. 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại diễn đàn

Thủ tướng nhấn mạnh, kết quả này vẫn chưa tương xứng với mối quan hệ chính trị và hợp tác hữu nghị tốt đẹp, với tiềm năng và lợi thế cũng như mong muốn của Chính phủ và nhân dân hai nước, trong đó quan hệ thương mại và đầu tư giữa Giang Tô và Việt Nam vẫn còn ở mức khiêm tốn đạt khoảng 2,2 tỷ USD trong năm 2009; tổng vốn đầu tư các dự án của doanh nghiệp Việt Nam và tỉnh Giang tô tại mỗi nước đến nay cũng chưa đến 80 triệu USD.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nêu rõ: Việt Nam đánh giá cao tiềm năng, lợi thế cũng như khả năng hợp tác với tỉnh Giang Tô và đề nghị hai bên tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác mạnh mẽ hơn nữa, nhất là kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch giáo dục đào tạo và văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc nói chung cũng như giữa Việt Nam và Giang Tô nói riêng ngày càng gắn bó, hợp tác ngày càng thiết thực hiệu quả đem lại lợi ích thiết thực cho cả hai bên. 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: 2010 là Năm Khu vực tự do thương mại ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) chính thức thực hiện với cam kết giảm thuế mạnh với Trung Quốc và các nước ASEAN. Theo đó, hàng loạt mặt hàng sẽ có thuế nhập khẩu từ 0 – 5%, bao gồm cả các dòng sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp. Chính vì vậy, doanh nghiệp hai bên cần tranh thủ tận dụng cơ hội này để đẩy mạnh hơn nữa hợp tác cả về thương mại, đầu tư, liên doanh sản xuất; một mặt mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp hai bên, mặt khác đóng góp vào sự thịnh vượng chung của hai nước.
Quang cảnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế thương mại Việt Nam - Trung Quốc

Sau khi khái quát một số nét chính về tiềm năng và cơ hội đầu tư, phát triển thương mại tại Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi các doanh nghiệp Trung Quốc nói chung, doanh nghiệp tỉnh Giang Tô, thành phố Nam Kinh nói riêng tăng cường mở rộng hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam; đồng thời cam kết tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam.

Ngay tại Diễn đàn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng Tỉnh trưởng tỉnh Giang Tô La Chí Quân đã chứng kiến Tổng cục Du lịch Việt Nam và Cục Đu lịch Giang Tô ký Bản ghi nhớ hợp tác về du lịch; Vụ Thị trường châu Á-Thái Bình Dương, Bộ Công thương ký Bản ghi nhớ thiết lập cơ chế hợp tác trao đổi, cung cấp thông tin thương mại định kỳ với Sở Thương mại tỉnh Giang Tô; UBND tỉnh Đồng Nai ký thỏa thuận tăng cường giao lưu và hợp tác với Chính quyền nhân dân tỉnh Giang Tô; VCCI ký thỏa thuận hợp tác với Ủy ban Xúc tiến Thương mại Quốc tế tỉnh Giang tô và hợp đồng nguyên tắc hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy phát điện giữa doanh nghiệp hai nước. Đây là những khuôn khổ pháp lý thuận lợi, tạo thêm động lực mới thúc đẩy quan hệ và hợp tác giữa 2 bên trong thời gian tới. 

Thứ ba, 27/04/2010 20:24
(Báo Công An TP Hồ Chí Minh)


Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...