Trung Quốc tự hào là văn minh mà không biết ghi hoạt động của nhà nuớc vào sách sử của mình, nếu hoạt động đó có thật? Tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa với Việt Nam, Trung Quốc đuối lý để chứng minh chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Trung Quốc hô hào tôn trọng luật quốc tế, nhưng không thực hiện. Trung Quốc rất sợ đưa vấn đề tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa với Việt Nam ra Toàn án Quốc tế. Vì Trung Quốc không có cơ sở nào về chứng cứ lịch sử cũng như pháp lý quốc tế.
Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.
Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội
Những lời nói
TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc".
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
(Dân trí) - Phát biểu khai mạc Hội thảo ASEAN-Trung Quốc vào sáng nay 19/6, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Quang Vinh đánh giá Biển Đông vẫn phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro đồng thời nhấn mạnh thực hiện đầy đủ DOC, hướng tới COC là biện pháp xây dựng lòng tin trên Biển Đông.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Quang Vinh. (Nguồn: TTXVN)
Sáng nay 19/6/2013, tại khách sạn Melia Hà Nội đã khai mạc Hội thảo ASEAN – Trung Quốc, với chủ đề ''Tăng cường hợp tác ASEAN-Trung Quốc trong tìm kiếm và cứu hộ đối với người và tàu thuyền đi biển gặp nạn tại Biển Đông'' do Học viện Ngoại giao tổ chức.
Hội thảo là một biện pháp trong Kế hoạch hành động triển khai Quy tắc hướng dẫn thực thi Tuyên bố ứng xử các bên tại Biển Đông (DOC), do các quan chức cao cấp ASEAN và Trung Quốc thông qua tại cuộc họp tháng 1/2012 tại Bắc Kinh. Mục đích của Hội thảo nhằm tìm kiếm các giải pháp thúc đẩy hợp tác giữa ASEAN và Trung Quốc trong việc tìm kiếm và cứu hộ đối với người và tàu thuyền gặp nạn ở Biển Đông, góp phần củng cố môi trường hòa bình, ổn định và trật tự ở Biển Đông, qua đó xây dựng lòng tin giữa ASEAN và Trung Quốc trong bối cảnh các tranh chủ quyền và quyền chủ quyền ở Biển Đông chưa được giải quyết triệt để.
Tham dự hội thảo có gần 40 đại biểu là các quan chức và chuyên gia từ các nước ASEAN, Trung Quốc và các cơ quan chức năng trong những lĩnh vực có liên quan đến tìm kiếm cứu hộ trên biển của Việt Nam.
Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Quang Vinh nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của DOC đối với việc duy trì, hòa bình ổn định chung ở Biển Đông. Ông cho rằng ASEAN và Trung Quốc đã vượt qua một chặng đường dài, với không ít khó khăn, thách thức để đạt được Tuyên bố DOC năm 2002 và gần đây là Tuyên bố kỷ niêm 10 năm DOC (2012). ASEAN cũng đã thông qua Tuyên bố nguyên tắc 6 điểm về Biển Đông (7/2012) và các nước đề đang trong đợi hai bên sớm chinh thức khởi động đàm phán để đạt được Bộ Quy tắc ứng xử COC. Tuyên bố DOC, do vậy, là văn kiện mang tính dấu mốc giữa ASEAN và Trung Quốc, thể hiện cam kết chung đối với việc tôn trọng luật pháp quốc tế, Công ước LHQ về Luật biển, các nguyên tắc về thực hiện kiềm chế, không làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết hòa bình các tranh chấp. Đây là những quy tắc rất thiết yếu được quy định trọng Tuyên bố DOC, song hành với các biện pháp về xây dựng lòng tin.
Thứ trưởng Phạm Quang Vinh nhấn mạnh, thực hiện đầy đủ DOC và cùng nhau sớm hướng tới COC, nhằm bảo đảm hòa bình, an ninh an toàn và tự do hàng hải chính là biện pháp xây dựng lòng tin theo đúng tinh thần và lời văn của Tuyên bố DOC. Đánh giá về Biển Đông, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh cho rằng khu vực vẫn phức tạp và tiềm ẩn những rủi ro. Trong khi đó, cũng không ít các nguyên nhân, cả thiên nhiên, thời tiết, cho đến tự bản thân con người, như bệnh tật hay hỏng hóc tàu thuyền, có thể dẫn đến việc người và tàu thuyền đi biển gặp nạn. Đối tượng gặp nạn là người đi biển, là những người dân thông thường hay các ngư dân.
Thứ trưởng Phạm Quang Vinh cũng nhấn mạnh, vì mục đích nhân đạo, ASEAN và Trung Quốc cần cùng nhau bàn để có chính sách hợp tác và các biện pháp phối hợp tìm kiếm, cứu hộ cần thiết và phù hợp có ý nghĩa cả về mặt nhân đạo và xây dựng lòng tin. Trong khu vực đã có không ít các kinh nghiệm quý về hợp tác song phương hay nhiều bên về lĩnh vực này.
Là quốc gia ven biển, với mong muốn và thiện chí thúc đẩy xây dựng lòng tin và hợp tác khu vực vì hòa bình, ổn định chung ở Biển Đông, Việt Nam đã rất chú trọng thúc đẩy hợp tác khu vực về tìm kiếm và cứu hộ người và tàu thuyền gặp nạn trên biển. Trong năm Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN 2010, Việt Nam đã đề xuất sáng kiến trong lĩnh vực này, và đã được các nước ASEAN hoan nghênh ủng hộ với việc các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đã nhất trí thông qua Tuyên bố ASEAN về Hợp tác Tìm kiếm và Cứu nạn người và tàu thuyền trên biển.
Hội Thảo lần này là việc tiếp tục triển khai ý tưởng trên của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác ASEAN-Trung Quốc, sẽ tập trung thảo luận 3 vấn đề: (1) thực trạng và sự cần thiết xây dựng các biện pháp chung trong hỗ trợ người và tàu thuyền gặp nạn tại Biển Đông; (2) các nhân tố tác động đến việc phối hợp hỗ trợ nhân đạo trong khu vực; (3) các khuyến nghị cụ thể về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tìm kiếm cứu hộ đối với người và tàu thuyền gặp nạn tại Biển Đông. Hội thảo sẽ kết thúc vào ngày mai 20/6/2013. Kết quả hội thảo sẽ được báo cáo lên các Quan chức Cấp cao ASEAN và Trung Quốc xem xét.
(Trả lời báo chí Trung Quốc trước chuyến thăm cấp Nhà nước Trung Quốc từ ngày 19 đến 21/6, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trông đợi sẽ cùng lãnh đạo Trung Quốc trao đổi thẳng thắn, chân thành về vấn đề trên biển, góp phần để quan hệ 2 nước phát triển lành mạnh, ổn định.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trông đợi cùng lãnh đạo Trung Quốc trao đổi thẳng thắn, chân thành về vấn đề trên biển
Trả lời phỏng vấn của các hãng báo chí Trung Quốc thường trú tại Hà Nội
về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc và triển vọng của quan hệ hai nước trong
tương lai, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định: Việt Nam và Trung
Quốc là hai nước láng giềng gần gũi, nhân dân hai nước có truyền thống
hữu nghị lâu đời.
Trong những năm qua, với nỗ lực chung của cả
hai bên, quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung không
ngừng được củng cố và phát triển, góp phần quan trọng vào quá trình
phát triển và đi lên của mỗi nước. Giao lưu chính trị không ngừng được
thúc đẩy, các chuyến thăm, gặp gỡ và trao đổi giữa lãnh đạo hai nước
diễn ra thường xuyên. Hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, du lịch... có
nhiều bước phát triển mới. Hợp tác giữa các bộ, ngành, giao lưu giữa
các địa phương, đoàn thể quần chúng và trong các lĩnh vực văn hoá, thể
thao, nghệ thuật, giáo dục-đào tạo… ngày càng phát triển cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu.
Hiện nay, công cuộc xây dựng và phát triển
của Việt Nam và Trung Quốc đều đang đứng trước những thời cơ mới cũng
như đang gặp phải những thách thức mới. Hơn bao giờ hết, cả hai nước
đều cần môi trường quốc tế và khu vực hòa bình, ổn định để tập trung
phát triển đất nước.
4 việc cần nỗ lực
Để tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai nước đi vào chiều sâu, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho rằng hai nước cần cùng nhau nỗ lực làm tốt 4 việc.
Một là, tăng cường tin cậy chính trị, trong đó quan trọng nhất cần duy trì và đẩy mạnh các hoạt động giao lưu, tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao, cũng như giữa các bộ - ngành, địa phương hai nước. Lãnh đạo cấp cao hai nước cần thường xuyên đi thăm nhau, gặp gỡ, trao đổi với nhiều hình thức linh hoạt, phong phú để kịp thời định hướng về những phương hướng lớn thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước.
Hai là, củng cố và mở rộng cơ sở hợp tác cùng có lợi giữa hai bên trên mọi lĩnh vực, nhất là về kinh tế, thương mại, đầu tư, khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo, du lịch... Hai bên cần tăng cường điều phối chiến lược về phát triển kinh tế, đẩy mạnh hợp tác cùng có lợi trên tất cả các lĩnh vực.
Ba là, không ngừng kế thừa và phát huy tình hữu nghị truyền thống giữa nhân dân hai nước, làm phong phú thêm nội dung giao lưu hợp tác hữu nghị giữa các tầng lớp nhân dân hai nước, nhất là thế hệ trẻ, tăng cường tuyên truyền về công cuộc phát triển mỗi nước cũng như tình hữu nghị Việt-Trung.
Bốn là, xuất phát từ quan hệ láng giềng hữu nghị Việt-Trung, trên cơ sở nhận thức chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước và luật pháp quốc tế, kiên trì thông qua các biện pháp hòa bình, hiệp thương hữu nghị, xử lý thỏa đáng mọi bất đồng và những vấn đề nảy sinh trong quan hệ hai nước, duy trì cục diện ổn định của quan hệ hai nước.
Có thể thấy, hai nước có nhiều tiềm năng, thế mạnh để tăng cường hơn nữa hợp tác trong tương lai - Chủ tịch nước khẳng định.
Thúc đẩy thương mại song phương
Hiện nay, hợp tác hai nước trong lĩnh vực kinh tế-thương mại không ngừng phát triển với kim ngạch song phương đạt trên 40 tỉ USD và mục tiêu tới năm 2015 đạt mức 60 tỉ USD. Trả lời câu hỏi về tiềm năng hợp tác kinh tế-thương mại giữa hai nước, những vấn đề tồn tại và những biện pháp nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế-thương mại nâng lên tầm cao mới, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói:
Hai nước đều coi hợp tác kinh tế-thương mại là bộ phận quan trọng trong tổng thể quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa hai nước. "Tiềm năng hợp tác kinh tế-thương mại giữa hai nước là rất lớn và chúng ta cần cùng nhau khai thác những lợi thế của mỗi nước".
Việt Nam và Trung Quốc là hai thị trường quan trọng của nhau, lượng hàng hóa lưu thông hai nước rất đa dạng và ngày càng tăng. Tuy nhiên, tình trạng nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc hiện nay còn lớn, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng bền vững của thương mại song phương.
Do vậy trong thời gian tới, Chủ tịch nước cho rằng bên cạnh việc thúc đẩy thương mại song phương tăng trưởng ổn định, hai bên cần cùng nhau áp dụng những biện pháp quyết liệt, có hiệu quả để sớm giảm nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc. Mặt khác, đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam thời gian qua vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước.
Cho nên, các ngành chức năng hai nước cần cùng nhau đánh giá kỹ những nguyên nhân cũng như bài học kinh nghiệm về việc tại sao đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam thời gian qua còn khiêm tốn, để từ đó có những biện pháp hiệu quả đẩy mạnh hợp tác đầu tư giữa hai nước trong thời gian tới.
Việt Nam hoan nghênh các dự án đầu tư lớn, mang tính tiêu biểu, với công nghệ hiện đại và thiết bị tiên tiến của Trung Quốc vào Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, chế tạo, công nghiệp phụ trợ... Việt Nam cũng mong muốn đưa thêm nhiều hàng hóa hơn nữa sang Trung Quốc, nhất là trong lĩnh vực nông sản, thủy - hải sản...
Trong thời gian tới, hai nước cần nỗ lực hơn nữa để tìm ra những phương hướng và biện pháp hữu hiệu thúc đẩy hợp tác cùng có lợi, trong đó trước mắt cần thực hiện tốt những thỏa thuận đã ký, nhất là quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế-thương mại Việt-Trung giai đoạn 2012-2016..., nhằm đưa kim ngạch thương mại hai nước phát triển bền vững hơn, cân bằng hơn, góp phần thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung ngày càng phát triển.
Cần trao đổi thẳng thắn, chân thành về vấn đề trên biển
Bên cạnh vấn đề về triển vọng hợp tác nói chung và hợp tác thương mại hai nước, báo chí Trung Quốc hỏi Chủ tịch nước cho biết ý kiến trong việc xử lý và giải quyết những vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Trả lời câu hỏi này, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nói rõ: “Chúng ta đã có nhiều nỗ lực và kinh nghiệm quý báu trong xử lý các vấn đề gay go, phức tạp trong quan hệ hai nước, đáng kể nhất là việc hai nước đã giải quyết xong vấn đề biên giới trên đất liền và phân định Vịnh Bắc Bộ. Cũng trên tinh thần đó, lãnh đạo hai nước đã nhiều lần trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn và đạt nhiều nhận thức chung quan trọng trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông".
Tuy nhiên, có thể khẳng định việc giải quyết vấn đề Biển Đông là hết sức hệ trọng vì liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, đến tâm tư tình cảm thiêng liêng của dân tộc, của người dân.
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho rằng thời gian tới, lãnh đạo cấp cao hai nước cần duy trì trao đổi và đối thoại thường xuyên, từ tầm cao chiến lược và quan hệ hữu nghị hai nước, chỉ đạo và thúc đẩy giải quyết vấn đề Biển Đông bằng biện pháp hòa bình. Có như vậy mới không ảnh hưởng đến quan hệ hữu nghị, tin cậy chính trị hai nước cũng như tình cảm của người dân hai nước.
Chủ tịch nước trông đợi trong chuyến thăm Trung Quốc sắp tới sẽ cùng lãnh đạo Trung Quốc trao đổi thẳng thắn, chân thành, tiếp tục có thêm những giải pháp để giải quyết thỏa đáng những bất đồng trên biển giữa hai nước, góp phần thúc đẩy quan hệ hai Đảng, hai nước phát triển lành mạnh, ổn định lâu dài, đóng góp cho việc duy trì hòa bình, ổn định tại Biển Đông.
Chủ tịch nước khẳng định: “Đối xử nhân đạo với ngư dân, xử lý thoả đáng vấn đề nghề cá phù hợp với quan hệ hữu nghị hai nước cũng là một trong những nhận thức chung quan trọng của lãnh đạo cấp cao hai nước. Tôi đã đi thăm nhiều vùng ven biển của Việt Nam, đã gặp gỡ nhiều ngư dân, họ đều là những người lao động chăm chỉ và còn rất nhiều khó khăn, đời sống gia đình nhiều đời nay chỉ dựa vào nghề đánh bắt cá truyền thống trên Biển Đông. Do vậy, trong thời gian tới chúng ta cần quan tâm đầy đủ đối với ngư dân, giúp họ có cuộc sống ngày càng tốt đẹp, yên ổn và bền vững hơn. Điều này cũng là phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế”. Hai nước cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách và đổi mới
Hiện tại Trung Quốc và Việt Nam đều đang thúc đẩy sự nghiệp cải cách mở cửa và đổi mới, nhân dân Trung Quốc đang phấn đấu để thực hiện “Giấc mơ Trung Hoa”, nhân dân Việt Nam cũng đang nỗ lực thực hiện mục tiêu tới năm 2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Đánh giá về sự phát triển của mỗi nước, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định: Hai nước, hai dân tộc đều có mong muốn là xây dựng đất nước hòa bình, ổn định, thịnh vượng. Công cuộc cải cách, đổi mới vừa qua ở cả Trung Quốc và Việt Nam đã đưa hai nước phát triển mạnh mẽ, mang lại đời sống ngày càng tốt đẹp cho người dân, đóng góp vào sự phát triển và thịnh vượng chung của khu vực và thế giới, mang lại vị thế quốc tế ngày càng cao cho hai nước.
Để tiến xa hơn nữa, Việt Nam cũng như Trung Quốc cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách, đổi mới, nhận diện và vượt qua những thách thức, khó khăn trong phát triển kinh tế-xã hội, như khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, biến đổi khí hậu, môi trường, tăng trưởng bền vững…
Bên cạnh những nỗ lực của mỗi nước, việc hai nước xây dựng được quan hệ hợp tác hữu nghị ngày càng tốt đẹp có ý nghĩa quan trọng, tạo ra những cơ hội cho hai nước cùng phát triển, biến ước mơ, mục tiêu hòa bình, thịnh vượng của mỗi nước trở thành hiện thực. Đảng Cộng sản, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực quyết tâm thực hiện thành công mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.
Hữu nghị, hợp tác cùng phát triển
Nhân dịp sắp sang thăm lại Trung Quốc, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng gửi gắm những thông điệp tới nhân dân Trung Quốc.
Chủ tịch nước khẳng định: “Tình hữu nghị Việt-Trung là tài sản chung vô cùng quý giá của nhân dân hai nước do các thế hệ lãnh đạo tiền bối và nhân dân hai nước dày công vun đắp. Chúng ta đều có trách nhiệm giữ gìn, kế thừa và phát huy".
Chủ tịch nước cho biết trong chuyến thăm Trung Quốc lần này, ông sẽ đến thăm Quảng Châu, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhiều nhà cách mạng tiền bối của Việt Nam đã sinh sống và hoạt động cách mạng. "Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam không bao giờ quên sự giúp đỡ quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay" - Chủ tịch nước nói.
Việt Nam hết sức coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Đảng, Nhà nước và nhân dân Trung Quốc, coi đây là chính sách cơ bản, nhất quán, lâu dài và ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định: "Thực tiễn chứng minh, chỉ có hữu nghị, hợp tác và cùng nhau phát triển trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng có lợi mới là sự lựa chọn duy nhất đúng của quan hệ hai nước, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích chung của nhân dân hai nước".
(GDVN) - Để đối phó với 34 sư đoàn của Quân đội Trung Quốc ở biên giới, Ấn Độ sẽ đẩy nhanh xây dựng đội quân ứng phó trên hai cánh tây và đông.
Máy bay vận tải chiến lược C-17 đầu tiên của Ấn Độ, mua của Mỹ
Ngày 16 tháng 6 , hãng tin Central News Agency (CNA) Đài Loan cho biết, kế hoạch xây dựng "đội quân tấn công Trung Quốc" mới của Ấn Độ vừa được Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Antony ký phê chuẩn, chờ Văn phòng Thủ tướng và Ủy ban an ninh nội các Ấn Độ chính thức phê chuẩn.
Báo Đài Loan cho rằng, sau khi kết thúc chuyến thăm chính thức lần đầu tiên tới Australia và Thái Lan, ngày 6 tháng 6, ông Antony đã ký phê chuẩn kế hoạch xây dựng "đội quân tấn công Trung Quốc".
Theo bài báo, kế hoạch 5 năm lần thứ 20 (2012-1017) của Ấn Độ này sẽ chi khoảng 11 tỷ USD, sẽ tuyển mới gần 90.000 binh sĩ và sĩ quan. Trong đó, theo truyền thông, đội quân miền núi nêu trên sẽ có khoảng 40.000 binh lính.
Trong đó, Lục quân sẽ xây dựng 2 sư đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn thiết giáp ở Ladakh - biên giới đoạn phía tây và Sikkim - biên giới đoạn phía đông, so với bang Uttarakhand ở đoạn giữa, thì triển khai thêm một lữ đoàn bộ binh độc lập.
Được biết, Không quân Ấn Độ sẽ triển khai radar tầm thấp ở dọc "tuyến kiểm soát thực tế" biên giới Ấn-Trung, còn Hải quân thì thiết lập một số radar mới trên các hòn đảo, tăng cường tuyên binh sĩ hải quân.
Lực lượng thiết giáp Lục quân Ấn Độ tổ chức diễn tập
Bài báo cho rằng, Ấn Độ phát hiện Trung Quốc đẩy nhanh xây dựng hạ tầng cơ sở ở Tây Tạng, đồng thời triển khai khoảng 34 sư đoàn (500.000 quân) ở dọc tuyến kiểm soát thực tế, tạo ra mối đe dọa rất lớn cho Ấn Độ.
Trong bối cảnh đó, quyết định xây dựng "đội quân tấn công Trung Quốc" đã được Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh phê chuẩn về nguyên tắc vào năm 2010.
Bài báo chỉ ra, dự kiến vào tháng 7 năm 2013, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Antony sẽ đến thăm Trung Quốc và có cuộc hội đàm với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn, hai bên sẽ trao đổi về thỏa thuận biên phòng mới, không để sự kiện "đối đầu lều vải" xảy ra ở Ladakh trước đó tái diễn.
(GDVN) - “Tại sao chúng ta lại quy định là "sẽ xét"? Tại sao chúng ta quy định chỉ là Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba, phải chăng là xét riêng đối với đối tượng công tác ở hai quần đảo này?” – ĐBQH Nguyễn Hữu Hùng nêu góp ý đóng góp cho dự thảo Luật thi đua khen thưởng sửa đổi.
Đề cập đến hình thức khen thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang tại Khoản 26 và được bổ sung vào Điều 56 của dự án luật thi đua khen thưởng, ĐBQH Nguyễn Hữu Hùng - Tiền Giang thống nhất với quy định về mặt thời gian. Đối với Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng nhất là 20 năm trở lên, hạng nhì từ 15 năm đến dưới 20 năm, hạng ba từ 10 năm đến dưới 15 năm.
Tuy nhiên, theo ĐB Hùng, ở đây có vấn đề là đối với cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong quy định của Khoản 3 này sẽ được xét tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba. Cho đây là bổ sung rất quan trọng để động viên cán bộ, chiến sĩ đã và đang công tác, làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc chúng ta, tuy nhiên theo ông Hùng quy định trong dự thảo chưa chặt chẽ.
“Tại sao chúng ta lại quy định là "sẽ xét"? Tại sao chúng ta quy định chỉ là Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba, phải chăng là xét riêng đối với đối tượng công tác ở hai quần đảo này? Trên thực tế có nhiều cán bộ ra làm nhiệm vụ rồi tiếp tục công tác trong quân chủng rồi về đất liền.
Do đó, tôi đề nghị quy định thời gian công tác ở đảo được tính hệ số 2 để gộp vào thời gian cống hiến chung để xét khen thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang các hạng, không phải chỉ có Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba và quy định thời gian ngắn hơn khi xét tặng huy chương này”.
ĐB Hùng cũng đề cập, trong quân đội, công an còn nhiều lực lượng hoạt động trong môi trường nguy hiểm, khó khăn như cán bộ, chiến sĩ công tác trên tàu hải quân, nay mai ta sẽ có tàu ngầm, rồi lực lượng phi công lái máy bay chiến đấu, lực lượng chiến đấu viên trong binh chủng đặc công… Thời gian cống hiến của họ cần được đánh giá đúng khi xét thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang các hạng.
“Tôi đề nghị nên tách riêng các đối tượng này ra và bổ sung thêm Khoản 3 Điều 56 như sau: "Đối với cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ ở quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, trên tàu hải quân, phi công chiến đấu, chiến đấu viên, đặc công, thời gian cống hiến được tính gấp đôi và được cộng vào thời gian cống hiến chung để xét tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang các hạng".
ĐBQH Hồ Trọng Ngũ - Vĩnh Long thi đua khen thưởng phải đạt cho được ba giá trị là động viên, giáo dục và nêu gương. Nhu cầu muốn được khen thưởng của đại đa số con người trong xã hội, các thành viên trong xã hội là nhu cầu chính đáng, nguyện vọng chính đáng. Tuy nhiên để xác lập sự công bằng theo ĐB là thật khó.
“Tôi cho rằng giá trị công bằng trong thi đua khen thưởng rất khó xác lập, bởi vì giá trị của riêng từng cá nhân rất khác nhau. Những người họ chịu cống hiến, hy sinh và chấp nhận sự hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân hoặc tận tụy với xã hội... thì nhiều khi họ không nghĩ đến sự trả công, không nghĩ đến có được khen thưởng. Chính những người như thế mới đáng được tôn vinh trong xã hội. Trách nhiệm của xã hội phải tìm những người đấy để rồi chúng ta suy tôn họ”.
(GDVN) - Khi được hỏi liệu Philippines có thể viện dẫn Hiệp ước phòng thủ Philippines - Mỹ trong trường hợp Trung Quốc "hung dữ" hơn, Thomas nói: "Bạn biết rằng chúng tôi không thể làm việc với các giả định, nhưng như chúng tôi từng nói, chúng tôi sẽ luôn thực hiện cam kết của mình."
Lễ đón Tư lệnh Hải quân Mỹ tại trại Aguinaldo
Tư lệnh Hải quân Mỹ Ray Mabus đang có chuyến thăm Philippines và thảo luận với các quan chức quân sự hàng đầu nước sở tại xung quanh tranh chấp lãnh hải trên Biển Đông, tờ Malaya Business News ngày 19/6 cho biết.
Ray Mabus đã có buổi làm việc với Bộ trưởng Quốc phòng Voltaire Gazmin, Tổng tham mưu trưởng Emmanuel Bautista và Tư lệnh Hải quân Jose Luis Alano tại trại Aguinaldo, Đại sứ Mỹ tại Philippines Harry Thomas Jr cũng tham dự.
Chuyến công du Philippines của Tư lệnh Hải quân Mỹ diễn ra sau chuyến thăm và làm việc của Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Samuel Locklear với 3 quan chức trên chỉ 11 ngày.
Locklear nói rằng Mỹ không đứng về bên nào trong các bên tranh chấp Biển Đông, nhưng Mỹ vẫn lo ngại về diễn biến trong khu vực, đồng thời nhấn mạnh Washington phản đối mọi hoạt động đơn phương làm thay đổi hiện trạng vùng biển tranh chấp (Biển Đông - Trường Sa).
"Chúng tôi luôn nói về nó (Biển Đông)", Đại sứ Mỹ Thomas cho biết, nhưng không đưa ra chi tiết ngoài việc nhấn mạnh lợi ích hàng hải của Mỹ ở Biển Đông và các bên cần phải tuân thủ quy tắc ứng xử.
Quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam) hiện đang là tâm điểm tranh chấp ở Biển Đông với 5 nước 6 bên, Trung Quốc đã trở nên hung hăng hơn trong tuyên bố "chủ quyền" của mình ở Biển Đông trong những năm qua.
Khi được hỏi liệu Philippines có thể viện dẫn Hiệp ước phòng thủ Philippines - Mỹ trong trường hợp Trung Quốc "hung dữ" hơn, Thomas nói: "Bạn biết rằng chúng tôi không thể làm việc với các giả định, nhưng như chúng tôi từng nói, chúng tôi sẽ luôn thực hiện cam kết của mình."
"Tôi nghĩ rằng không ai muốn chiến tranh, chúng tôi muốn hòa bình", ông Thomas nói thêm.
Đại sứ Mỹ tại Philippines lưu ý rằng Mỹ hiện đang thực hiện hơn 70 chuyến tàu đến Philippines sửa chữa mỗi năm tại cảng Subic.
"Động thái này sẽ bơm nhiều triệu USD vào nền kinh tế Philippines và Mỹ sẽ tiếp tục hỗ trợ", Đại sứ Thomas cho biết thêm.