Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu - Hồi ký. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài liệu - Hồi ký. Hiển thị tất cả bài đăng

8/7/12

BẮC KINH MƯU TOAN GẠT BỎ VẤN ĐỀ BỂN ĐÔNG RA KHỎI HỘI NGHỊ AMM VÀ ARF DIỄN RA TẠI CAMPUCHIA

(Biển Đông.net) - Nhân dân nhật báo, mội tờ báo chính thống của Đảng Cộng sản Trung Quốc số ra ngày 3/7 đã đăng bài “Cảnh giác với âm mưu quấy nhiễu Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN” và đổ lỗi cho Philippin cố tình gây ra tình hình căng thẳng châm ngòi cho việc bùng nổ vấn đề Biển Đông tại diễn đàn Hội nghị AMM sắp diễn ra tại PhnomPenh, thủ đô Cămpuchia sắp tới.


Tiếp theo, để phụ họa cho tờ Nhân dân nhật báo, tờ Đông phương buổi sáng của Trung Quốc cũng phản đối việc đưa vấn đề Biển Đông vào các Hội nghị trong khuôn khổ ASEAN sắp diễn tại diễn tại Cămpuchia từ 8 đến 13/7/2012 trích dẫn lời Người phát ngôn Bộ ngoại giao Trung Quốc Lưu Vi Dân nói rằng “Hội nghị AMM không phải là diễn đàn thích hợp để bàn luận về các vấn đề Biển Đông”. Trong bối cảnh chỉ còn ít ngày nữa sẽ diễn ra Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN (AMM), các hội nghị ngoại trưởng giữa ASEAN với các đối tác và Diễn đàn ngoại trưởng an ninh khu vực (ARF) tại thủ đô PhnomPenh, Cămpuchia. Phải chăng Trung Quốc đang lo sợ trước làn sóng phẫn nộ của các nước ASEAN nói riêng và cả thế giới nói chung về những hành động gây hấn trên Biển Đông của Trung Quốc trong thời gian vừa qua.

Sự hiếu chiến của Trung Quốc ngày càng leo thang kể từ khi Trung Quốc cho lưu hành bản đồ “đường lưỡi bò” ở Liên hợp quốc tháng 5/2009. Trước những hành động ngạo mạn của Trung Quốc ở Biển Đông, vấn đề Biển Đông lần đầu tiên trở thành chủ đề nổi bật tại diễn đàn ARF 17 ở Hà Nội tháng 7/2010 khi mà Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton tham dự Hội nghị ARF tại Hà Nội tuyên bố “Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc đảm bảo tự do hàng hải Biển Đông”. Một năm sau đó, tháng 7/2011, tại Hội nghị ARF 18 Bali, Indonexia bà Ngoại trưởng vẫn giữ nguyên lập trường và cảnh báo “Những sự cố này (chỉ những hành động hung hãn của Trung Quốc) gây nguy hiểm cho an ninh biển, làm leo thang căng thẳng, xói mòn tự do hàng hải và đặt sự rủi ro với thương mại hợp pháp cũng như phát triển kinh tế”. Những chỉ trích trên của Mỹ nhằm phê phán các hành động hiếu chiến của Trung Quốc trên Biển Đông, coi đó là những hành động đe dọa an ninh khu vực.

Bất chấp những phản ứng của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc ngày càng điên cuồng gia tăng các hoạt động gây hấn với hai nước hiện đang có bất đồng sâu sắc với Trung Quốc về chủ quyền tại các quần đảo và vùng biển ở Biển Đông là Việt Nam và Philippin. Năm 2010, tàu chiến Trung Quốc va chạm với tàu của Mỹ ở Biển Đông và Trung Quốc tuyên bố Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. Tháng 3 năm 2011, tàu chiến đã ngăn cản hoạt động của tàu khảo sát của Philippin tại khu vực bãi Cỏ Rong. Chỉ trong vòng 2 tuần lễ cuối tháng 5, đầu tháng 6 năm 2011 Trung Quốc 2 lần cắt cáp của tàu khảo sát địa chấn Việt Nam sâu trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam. Trong thời gian gần đây, Trung Quốc tăng cường bắt giữ uy hiếp tàu cá, ngư dân Việt Nam, thậm chí nổ súng vào tàu cá của ngư dân Việt Nam; từ đầu tháng 4/2012 Trung Quốc chủ động gây ra tranh chấp căng thẳng với Philippin tại khu vực bãi cạn Scarborough; chưa đầy 1 tháng trước hội nghị AMM và ARF 19, Trung Quốc tiến hành thêm những bước leo thang mới như ngày 21-6-2012, Trung Quốc công bố thành lập thành phố Tam Sa với phạm vi quản lý bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam; ngày 23-6-2012, Trung Quốc ngang nghiên mời thầu quốc tế thăm dò ở 9 lô dầu khí nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Điều này một lần nữa đã phơi bày bộ mặt thật của chính quyền Bắc Kinh khi đưa ra các chiêu bài và hành động phi đạo lý, gây bức xúc lớn trong dư luận quốc tế. Biển Đông là nơi đan xen lợi ích của nhiều nước, là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ. Vấn đề Biển Đông đã vượt ra khỏi phạm vi khu vực và theo nhận định của một học giả người Anh, nó đã trở thành vấn đề mang tính toàn cầu. Do vậy, việc cả cộng đồng quốc tế quan tâm theo dõi tình hình và bất bình trước những hành động ngạo mạn coi thường luật pháp quốc tế của Trung Quốc là điều dễ hiểu.

Điều đáng lưu ý là việc Trung Quốc tập trung tăng cường mạnh mẽ cho lực lượng hải quân gần đây cho thấy, không giống như các bên tuyên bố chủ quyền khác ở Biển Đông, Trung Quốc hậu thuẫn tuyên bố chủ quyền của họ bằng sức mạnh quân sự. Báo chí Trung Quốc cũng dẫn lời Thiếu tướng đã nghỉ hưu La Viện khi ông ta kêu gọi Bắc Kinh thành lập khu vực “không phận cảnh giới”, “khu vực phòng không” và triển khai quân đội cấp sư đoàn ở 2 quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Tướng La Viện đề xuất, chiến đấu cơ và chiến hạm Trung Quốc phải thực hiện cái gọi là hoạt động tuần tra cảnh giới không định kỳ trên Biển Đông nhằm ứng phó với hoạt động của quân đội Việt Nam. Trong tuyên bố hôm 28/6, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh cho biết, quân đội nước này đã thành lập các đội tuần tra biển thường xuyên tại Biển Đông. Đầu tháng Bảy, nhật báo “United Daily News” của Đài Loan đưa tin Trung Quốc vừa thành lập một lữ đoàn tên lửa mới ở tỉnh Quảng Đông. Đơn vị này có tên gọi Lữ đoàn Tên lửa Đạn đạo 827. Theo đó, trong số các tên lửa đặt tại căn cứ của lữ đoàn mới này có các tên lửa Đông Phong-21D và Đông Phong-16. Đông Phong-21D là tên lửa đạn đạo diệt hạm, có tầm bắn từ 2.000-3.000 km, có thể bắn trúng mọi mục tiêu đang di chuyển với độ chính xác rất cao. Ngoài việc triển khai tên lửa trên đất liền, Trung Quốc ngày càng mở rộng những hoạt động ngang ngược trên biển; tăng cường diễn tập quân sự, đưa nhiều tàu chiến, tàu ngư chính, tàu hải giám vào hoạt động ở Biển Đông với cái mũ là “tuần tra vùng biển quản hạt của Trung Quốc”.

Những hành động và toan tính của Trung Quốc liên quan tới Biển Đông ngay lập tức vấp phải sự chỉ trích mạnh mẽ của chính giới và dư luận quốc tế. Chủ tịch Hội đồng các tham mưu trưởng liên quân Mỹ, đô đốc Mike Mullen, mới đây trong chuyến thăm Trung Quốc đã lên tiếng cảnh báo rằng các vụ va chạm có thể leo thang trở thành xung đột vũ trang, gây nguy cơ cho hòa bình khu vực. Báo chí Nhật Bản gọi hành động này của Trung Quốc là không đếm xỉa đến luật Biển quốc tế, trong đó có các quy định liên quan đến vấn đề lãnh hải. Theo báo Sankei của Nhật Bản, hành động của Trung Quốc càng khiến cho tình hình khu vực thêm căng thẳng, đi ngược lại chủ trương giải quyết một cách hòa bình các vấn đề chủ quyền. Ngày 24/6/2012, Hãng tin Kyodo của Nhật Bản cảnh báo việc Viện Khoa học Quân đội của Quân đội Giải phóng Trung Quốc vừa công bố một tài liệu nội bộ, trong đó kêu gọi Trung Quốc “củng cố sức mạnh hải quân ở Hoàng Hải, Biển Hoa Nam và Biển Đông”. Trước đó, tờ Sankei Shimbun của Nhật Bản cũng đăng bài chỉ trích việc Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa và coi đây là động thái “Bắc Kinh không tôn trọng luật biển quốc tế và đi ngược với chủ trương giải quyết hòa bình các vấn đề chủ quyền và hành động này càng khiến tình hình khu vực thêm căng thẳng”. Đây là điều đáng báo động bởi Trung Quốc đang đi ngược lại với ý nguyện của cộng đồng thế giới, các nước hữu quan khi tìm mọi cách để độc bá Biển Đông. Do đó, dư luận thế giới và những quốc gia hữu quan đặc biệt là khối ASEAN nếu không liên kết lại để phản đối, lên án, đấu tranh thì thái độ ngạo mạn của Trung Quốc sẽ dẫn tới những sự việc “nằm ngoài kiểm soát”.

ASEAN có vại trò trung tâm ở khu vực, không thể thờ ơ trước những căng thẳng đang diễn ra ở khu vực, do vậy việc ASEAN thảo luận những vấn đề an ninh nóng bỏng đang diễn ra ở Biển Đông là hết sức cần thiết. Cách đây 10 năm (2002), ASEAN và Trung Quốc đã ký kết một văn kiện hết sức quan trọng, đó là bản Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), tạo cơ sở cho việc duy trì hoà bình ổn định ở Biển Đông. Trong bối cảnh tình hình ngày càng leo thang ở Biển Đông thì ASEAN cần phát huy vai trò trong việc kiềm chế những hoạt động quá khích của Trung Quốc ở Biển Đông. Giới quan sát cho rằng giải quyết căng thẳng ở Biển Đông có thể được xem như một phép thử đối với khối ASEAN.

Vậy tại sao Trung Quốc lại né tránh việc đưa vấn đề Biển Đông lên bàn Hội nghị sắp tới với đông đảo sự tham gia của 10 nước ASEAN và 10 bên đối thoại là các nước Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Australia, New Zealand, Canada và EU) và các nước khác. Nếu các hành động của Trung Quốc là “đúng” thì cớ sao Trung Quốc lại lo ngại nó được mang ra mổ xẻ tại Hội nghị khu vực hết sức quan trọng này? Rõ ràng là những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông vừa qua đã vi phạm nghiêm trọng Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), đe dọa hoà bình, ổn định khu vực và an ninh an toàn hàng hải ở Biển Đông.

Với những gì đang diến ra ở Biển Đông cả trên lời nói và hành động thì ai cũng hiểu rõ dã tâm thôn tính Biển Đông bằng mọi giá và coi thường luật pháp cũng như công luận quốc tế của Trung Quốc. Trung Quốc có thể chiêu bài “cá lớn nuốt cá bé” để uy hiếp những nước láng giềng nhỏ, nhưng không thể lừa bịp cả cộng đồng quốc tế. Các nước không thể làm ngơ trước những hành động thô bạo bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc. Do vậy, vấn đề Biển Đông nhất định sẽ trở thành một chủ để nóng bỏng được thảo luận rộng rãi tại các cuộc hội nghị trong khuôn khổ ASEAN từ 8 đến 13/7/2012 tại PhnomPenh, thủ đô Cămpuchia. Những hành động gây hấn của Trung Quốc gần đây nhất định sẽ được mang ra bàn luận tại các hội nghị này. Mưu toan gạt bỏ vấn đề Biển Đông ra khỏi các hội nghị AMM, ARF sắp tới của Bắc Kinh sẽ thất bại. Chúng ta tin rằng, tại Hội nghị ARF 19, nơi hội tụ các ngoại trưởng của các nước lớn khác Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Nga, Úc… sẽ vang lên những phát biểu mạnh mẽ bày tỏ lo ngại trước tình hình căng thẳng leo thang ở Biển Đông và kêu gọi tôn trọng luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982, tôn trọng vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và các lợi ích của các nước ven Biển Đông.

Thành Trần

18/5/12

6 người Philippines sẽ ra bãi đá Scarborough để phản đối Trung Quốc

(BÁO ĐẤT VIỆT) -  Một nhóm người Philippines loan báo kế hoạch dùng tàu ra tận vùng bãi đá ngầm ngoài biển Đông, đang bị Trung Quốc tranh chấp, để khẳng định chủ quyền của Manila.
 
Nicanor Faeldon - Cựu Đại úy thủy quân lục chiến Philippines
 
Trong bối cảnh chính quyền của Tổng thống Aquino đang tìm cách giảm bớt căng thẳng với Bắc Kinh về vấn đề này, câu hỏi đặt ra là, liệu chính quyền Philippines có để cho nhóm người này thực hiện ý định của họ hay không?

Đây là một nhóm gồm 6 người, dẫn đầu là ông Nicanor Faeldon, cựu đại úy Thủy quân lục chiến Philippines, một người nổi tiếng mạnh bạo. Ông từng phải ngồi tù và bị buộc phải giải ngũ sau một mưu toan đảo chính năm 2003 nhưng được đặc xá năm ngoái.

Trong thời gian qua, cựu đại úy Faeldon thường được biết đến qua những lời kêu gọi bất phục tùng dân sự và yêu cầu quân đội Philippines phải công khai minh bạch hơn.

Trả lời hãng AFP, Kit Guerrero, phát ngôn viên của nhóm cho biết là họ sẽ khởi hành vào hôm nay, trực chỉ bãi đá Panatag, tên mà Philippines đặt cho bãi Scarborough. Mục tiêu nhằm: “Phản đối hành vi xâm lăng Philippines của Trung Quốc“.

Theo ông Guerrero, sẽ có ít nhất hai tàu đánh cá chở nhóm của ông Faeldon đến bãi đá này. Họ sẽ ở tại chỗ để câu cá trong ba ngày, nếu không bị cấm. Việc cắm một lá cờ Philippines trên bãi đá cũng được nghĩ tới. Tuy nhiên, theo ông Guerrero, họ không loại trừ khả năng là sẽ bị tàu tuần tra Trung Quốc ngăn chận, thậm chí bắt giữ.

Từ ngày 10/04 đến nay, tàu của Philippines và Trung Quốc đang "gằm ghè" tại khu vực bãi Scarborough, sau khi tàu tuần tra Trung Quốc xông tới ngăn chặn không cho một chiếc tàu Philippines bắt giữ ngư dân của họ. Cả hai bên sau đó đều ban hành lệnh cấm đánh cá của riêng mình xung quanh khu vực tranh chấp có hiệu lực từ ngày hôm 16/5.

Theo giới quan sát, việc ban hành lệnh cấm đó có thể là một biện pháp để cả hai nước xuống thang tranh chấp, do đó, kế hoạch ra bãi đá Scarborough của nhóm người của ông Faeldon có thể làm cho tình hình phức tạp thêm.

Trên vấn đề này, Trung tá Omar Tonsay, phát ngôn viên Hải quân Philippines vào hôm nay nhắc lại rằng lệnh cấm đánh bắt cá do Manila ban hành vẫn có hiệu lực nhưng chính quyền không hề ra lệnh cấm du lịch đến khu vực: “ Quý vị không được quyền câu cá nhưng không bị cấm đến đó“.

Về phần chính quyền Manila, cho đến chiều qua, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Raul Hernandez chưa thấy trả lời câu hỏi của AFP.

>> Lật tẩy mưu đồ của Trung Quốc khi cấm đánh cá trên biển Đông?
Theo RFI

20/3/12

Hoàng Sa – nơi tôi đã sống – Kỳ 1: Quãng đời đặc biệt

Cách đây đúng 38 năm, tháng 1-1974, đúng vào dịp tết, Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc xâm chiếm. Từ đó đến nay, chưa bao giờ quần đảo Hoàng Sa bị lãng quên trong lòng người dân Việt.

Ông Nguyễn Văn Thành - nhân viên thông tin truyền thông trên đảo Hoàng Sa

Và càng không bao giờ bị lãng quên trong ký ức của những người một thời đi giữ Hoàng Sa.

Mời bạn ngược dòng thời gian về thăm lại Hoàng Sa cùng họ – những người đã sống, đã chiến đấu bảo vệ quần đảo. Những hồi ức chân thực, những dòng viết nguệch ngoạc này được rút ra từ Kỷ yếu Hoàng Sa do UBND huyện đảo Hoàng Sa thực hiện và công bố mới đây.

Kỳ 1: Quãng đời đặc biệt

Mãi đến nay, đã gần 40 năm qua mà trong ký ức tôi vẫn còn nhớ như in những kỷ niệm vui buồn tại đảo Hoàng Sa. Bởi đó là quãng đời đặc biệt mà tôi đã từng sống và làm việc. Tôi đã từng sống trên đảo hai đợt, mỗi đợt hơn ba tháng.

Ký ức chuyến ra đảo đầu tiên làm tôi nhớ mãi. Phải thú thật là lúc nhận được lệnh đi đảo Hoàng Sa, tôi cũng lo sợ. Mặc dù trước đó có rất nhiều người đã đi, nhưng lần đầu tiên phải xa vợ con trong thời gian dài và không biết cuộc sống trên đảo thế nào.

Tôi còn nhớ thành phần ra đảo lúc đi khá đông, khoảng hơn 20 người kể cả bốn nhân viên khí tượng. Chúng tôi đến từ những vùng quê khác nhau của VN.

Chúng tôi tập trung tại Hội An, đi mua sắm vật dụng cá nhân cho mình, mua lương thực thực phẩm phục vụ cho đoàn cũng như một số vật nuôi, con giống để ra đảo tăng gia sản xuất như heo, gà, vịt, hạt rau muống, hạt đậu xanh… 

Sau khi chuẩn bị xong, xe đưa chúng tôi ra Đà Nẵng để lên tàu và xuất phát ra đảo từ đó. Khi được lệnh lên tàu và khởi hành, anh em trên tàu mỗi người mỗi tâm trạng. Nhưng rồi ai cũng có cảm giác hân hoan vì lần đầu được lênh đênh trên mặt biển, để khám phá vùng đất thuộc lãnh hải của Tổ quốc mà mình chưa biết.

Theo kinh nghiệm, nếu thời tiết tốt thì thời gian ra đến đảo mất khoảng 21 tiếng. Tàu của chúng tôi khởi hành khoảng 14 giờ hoặc 15 giờ hôm trước thì hôm sau khoảng 10 giờ hoặc 11 giờ đến. Dù thủy triều cao hay thấp thì trong tàu luôn trang bị xuồng cao su để đưa người và vật dụng lên bờ.

Tại đảo có một chiếc cầu, tạm gọi là cầu cảng. Từ đầu cầu vào nhà ở khoảng 400-500m. Nếu nhớ không lầm thì ở phía bên phải của cầu có một chiếc tàu sắt đã gỉ sét. Nghe những người đi trước kể lại, đó là tàu của bà Ngô Đình Nhu ra đảo chở phân chim bị hỏng và bỏ lại.

Khi bước chân lên đảo tôi thấy ở cầu cảng có đường ray (hẹp hơn đường ray tàu hỏa) và năm chiếc xe rùa, không biết ai đã xây dựng và để lại nơi này. Tất cả anh em dùng những chiếc xe rùa này để di chuyển vật dụng, thức ăn, nước uống vào nhà. Hai bên đường vào nhà toàn là đá vôi, cây phốt phát, cây nhàu và một số cây lạ khác.

Nhà chúng tôi ở trên đảo được xây dựng rất kiên cố, bề dài khoảng 30-40m, bề ngang khoảng 20m. Nhà được ngăn thành bốn phòng: phía bên phải có một phòng để dùng làm nhà kho, một phòng cho binh sĩ ở, phía bên trái một phòng dành cho đảo trưởng và lính truyền tin, còn căn phòng rộng nhất dùng để sinh hoạt. Nhà rất kiên cố nhưng tất cả cửa lớn nhỏ đều đã hư hỏng vì thời gian nên mỗi khi có mưa gió rất cực khổ. Phía dưới nền nhà được đúc suốt dùng làm hầm chứa nước để dự trữ.

Phía trên trần nhà cũng đúc bêtông và được đặt hai khẩu súng đại liên 50 li, một khẩu đã hỏng và một khẩu còn dùng được. Tất cả vật dụng cũng như súng ống và đạn dược thì đảo trưởng cho lau chùi sạch sẽ vô dầu mỡ và cất vào kho. Ngoại trừ có ít lựu đạn đảo trưởng cất giữ để đánh bắt cá. Đây thật ra cũng là chủ ý của đảo trưởng, sợ anh em khi có xích mích, nóng giận mà sử dụng thì rất nguy hiểm.

Trước mặt nhà ở khoảng 150m có một nhà thờ Thiên Chúa giáo, trong có treo một cây thánh giá và tượng chúa Giêsu, thường những anh em có đạo hay đến cầu nguyện. Trước nhà thờ khoảng 50m có một cái giếng dùng được, bên cạnh có một cây dừa. Phía sau nhà ở có một con đường mòn nhỏ mà anh em thường ra đi dạo và đánh bắt cá. Phía bên phải có một cái miếu ở trong cũng thờ tự và cạnh bên có những ngôi mộ phần nhiều là vô danh.

Cạnh nhà chúng tôi ở khoảng 50m là nhà ở của anh em quan trắc khí tượng. Chúng tôi rất mến nhau, thường chia sẻ cho nhau những mẻ cá và anh em có gì ngon cũng đem cho chúng tôi.

Ấn tượng nhớ nhất của tôi là lần đầu dạo quanh đảo, khi đến cầu cảng nhìn xuống biển thấy rất nhiều cá bơi lội, tôi vội ném xuống một quả lựu đạn. Sau tiếng nổ, cả một vùng nước chuyển sang một màu đen sì, ba chúng tôi nhảy xuống bơi lặn mãi mà cũng chẳng tìm thấy con cá nào. Lúc đó tôi có phần run sợ, lạnh nổi cả da gà vì rõ ràng cá bung lên mặt nước rất nhiều. Sau này mới rõ đó là đàn mực đang bơi. Mực không có bong bóng nên không chết tức do tiếng nổ gây nên.

Với tôi, cuộc sống trên đảo khá nhàn rỗi. Ngoài giờ ấn định phải điện để liên lạc hằng ngày với tiểu khu Quảng Nam thì tôi, đảo trưởng cũng như những binh sĩ khác thường xuyên đi đánh bắt cá. Việc đánh bắt cá không chỉ để phục vụ các bữa ăn mà còn phơi khô để lúc về đất liền dùng làm quà. Khi đi ra đảo chúng tôi cũng có chuẩn bị lưới đánh cá. Lúc nước biển bắt đầu cạn, chúng tôi dùng lưới giăng ngang mí sóng (khúc cạn gần bờ) rồi từ trong bờ hè nhau đuổi ra là có cá bắt được. Nhưng khi gặp cá nhám thì chúng sẽ xé tung lưới mà đi.

Những lúc nước xuống nhiều thì chúng tôi lội đi bắt ốc gân, nhiều con rất lớn, có thể bằng chiếc nón. Chúng tôi dùng lưỡi lê xẻ ngay tại chỗ, chỉ lấy cái gân (phần của ốc dùng để khép và mở miệng) đem về xẻ ra phơi khô (còn ngon hơn khô mực) để mang về làm quà. Những lúc không làm gì thì chúng tôi tưới cây, những hạt giống mang theo gieo rất tốt, đậu xanh, rau muống, bí đỏ. Có những quả bí chỉ mới trồng khoảng ba tháng mà rất lớn, một người bê rất khó.

Thức ăn trên đảo qua những ngày đầu nào thịt gà, vịt, heo, đến lúc hết thì chỉ cá và rau cỏ trồng. Nhớ những lúc rau muống chưa kịp lên thì dùng cá nấu với lá ớt làm canh. Ban đêm chúng tôi chia từng tốp dạo quanh đảo tìm những con rùa biển (còn gọi là con vích) lên bãi cát để đẻ. Khi bắt được, chúng tôi lật ngửa nó ra để sáng hôm sau xẻ thịt. Thịt của nó rất ngon, cái thì ăn cái thì phơi khô, riêng trứng thì tròng đỏ đổ (chiên) làm chả, không thể luộc được vì tròng trắng của nó không bao giờ chín. Lúc chẳng biết làm gì thì người đánh đàn, kẻ đánh bài ăn thua nhau bằng thuốc lá hoặc khô cá.

Cuộc sống nhàn rỗi trên đảo khiến anh em buồn và nhớ nhà, thỉnh thoảng lại có một binh sĩ khóc suốt cả đêm liền.

Ký ức của tôi chỉ tạm tái hiện phần nào. Bởi lẽ hơn 40 năm rồi tôi không thể diễn tả hết những gì mình đã nhớ trong quãng thời gian sống trên đảo. Tôi mong sao Chính phủ đấu tranh để giành lại quần đảo Hoàng Sa, giành lấy chủ quyền lãnh hải của Tổ quốc.

Nguyễn Văn Thành (Theo tuoitre)

9/11/11

Cùng một chí hướng

TT - Kính gửi cán bộ, chiến sĩ hải quân Trường Sa - Việt Nam!

Chiến sĩ đồn Lũng Cú (Hà Giang) với tờ Tuổi Trẻ Xuân Tân Mão dưới gốc đào cổ thụ chiều 27 Tết Tân Mão - Ảnh: Phụng An

Từ mảnh đất nơi địa đầu cực Bắc của Tổ quốc - biên giới Lũng Cú, Đồng Văn, Hà Giang, chúng tôi những cán bộ, chiến sĩ biên phòng ngày đêm vững tay súng, chắc niềm tin, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc thân yêu. Chúng tôi quyết giữ cho lá cờ 54m2, biểu tượng cho sự đoàn kết của 54 dân tộc, sự quật cường vượt qua mọi bão táp, thể hiện “cột mốc” chủ quyền của đất nước, sự thiêng liêng trên đỉnh núi Rồng mãi tung bay trên nền tự do của dân tộc.

Đã có những hi sinh, gian khổ, mất mát nhưng chúng tôi luôn vững tin vì có điểm tựa rất vững chắc từ lòng dân, từ hậu phương vững chắc và vững tin vì có những cán bộ, chiến sĩ nơi đảo xa chắc tay súng nơi đầu sóng ngọn gió, sẵn sàng đối phó với những tình huống nguy hiểm nhất. Thời bình rồi, mỗi chúng ta ai cũng mong muốn cuộc sống mình hạnh phúc.

Có người nói với tôi hạnh phúc là được ở gần gia đình, được chăm sóc cho “tế bào” hạnh phúc của mình. Chúng tôi nghĩ cũng đúng vì một “tế bào” hạnh phúc thì cũng sẽ góp phần xây dựng một xã hội phồn vinh, thịnh vượng. Nhưng với chúng tôi và những cán bộ chiến sĩ đang ngày đêm bảo vệ vững chắc lãnh thổ của Tổ quốc thì sự hi sinh cho Tổ quốc chính là điều hạnh phúc nhất.

Các đồng chí cán bộ, chiến sĩ thân yêu!

Trên biên cương - nơi đầu sóng, ngọn gió chắc chắn sẽ còn gặp vô vàn điều khó khăn gian khổ nhất, thậm chí có thể còn là sự hi sinh mất mát, nhưng với sự quan tâm, chỉ đạo sâu sắc của Đảng, Nhà nước, sự đùm bọc của nhân dân, sự nỗ lực, đoàn kết, vươn lên của mỗi cán bộ, chiến sĩ tin tưởng rằng chúng ta sẽ cùng thực hiện tốt một chí hướng, đó là giữ vững chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Thân ái. Chào thi đua quyết thắng.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn biên phòng Lũng Cú, Bộ đội biên phòng Hà Giang
(HT 4TK - 241 Đồng Văn, Hà Giang)

2/10/11

Bí mật hải quân nhà Nguyễn - Kỳ cuối: Đội Hoàng Sa và bí mật quân lương

Ngoài các nhiệm vụ được ghi trong chính sử, đội Hoàng Sa của nhà Nguyễn còn có sứ mệnh sang Nhật và Phi Luật Tân (Philippines). Họ ra đảo cùng với bí mật quân lương và mang về những sản vật kỳ diệu…

Mô hình ghe câu (khinh thuyền/lê thuyền) là phương tiện đánh bắt của ngư dân duyên hải Nam Trung Bộ và cũng là phương tiện của đội thủy binh Hoàng Sa kiêm quản Trường Sa dùng đi làm nhiệm vụ - Ảnh: Hiển Cừ


Với kỹ thuật tàu chiến như đã đề cập ở phần trước, việc đi tới đi lui giữa đất liền với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và xa hơn nữa không mấy khó khăn. Ba bộ sách Nguyễn Phúc tộc đế phá tường giải đồ, hai bộ sách bí truyền khác trong hoàng tộc là Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính và Bí mật quân lương và khử uế chiến thuyền của hai vương triều Tây Sơn và Nguyễn Phúc tộc còn cho ta biết thêm nhiều bí mật thú vị về hải quân nhà Nguyễn.

Theo đó thì đội Hoàng Sa còn có nhiệm vụ sang Nhật Bản và Phi Luật Tân. Họ sang Nhật Bản để hợp tác huấn luyện thủy quân, vì quan hệ giữa nước ta với Nhật Bản rất thân thiện sau khi Chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái cho một thương gia Nhật. Các nhà nghiên cứu cần tìm hiểu thêm phương cách tác chiến của thủy quân Nhật trong những trận thủy chiến với nước ngoài có tương đồng gì không với cách tác chiến của thủy quân ta để làm rõ thêm nhiệm vụ của đội Hoàng Sa.

Còn họ sang Phi Luật Tân để làm gì? Ngày nay, dọc ven biển nước ta có trồng nhiều dừa. Dừa không phải là cây bản địa, đó là loại thực vật được di thực từ Phi Luật Tân sang từ thời các Chúa Nguyễn. Việc trồng dừa là theo khuyến nghị của người Nhật. Ngày xưa, trên bờ biển nơi nào có dừa chính là nơi tàu bè có thể cập vào an toàn. Chính đội Hoàng Sa đã mang những cây dừa về trồng dọc bờ biển nước ta.

Về sản vật, chính sử chỉ ghi chung chung là đội này mang về các “hóa vật”. “Hóa vật” đó gồm những gì? Đó là xà cừ, ngọc trai lộ thiên, san hô đen, san hô đỏ, tảo, vỏ hàu 9 lỗ (cửu khổng thạch khuyết minh), ốc vú nàng, chất thơm trong đầu cá nhà táng...

Ốc vú nàng và chất thơm trong đầu cá nhà táng đều là những vị thuốc quý. Ốc vú nàng được cho là có thể chữa được ung thư tụy tạng, cầm máu, chữa sốt không rõ nguyên nhân, các bệnh nhiễm trùng da và rắc rối đường huyết, bệnh phụ khoa... Vỏ ốc phải lấy vỏ từ con ốc tươi mới làm thuốc được. Cá nhà táng là một loại cá voi, chất thơm trong đầu nó được lấy khi cá đã chết hoặc do cá tiết ra trên đảo (Nhà Nguyễn, nhất là từ đời Gia Long về sau, đã cấm triệt để việc săn bắt cá voi). Chất này được ứng dụng rất hữu hiệu trong điều trị bệnh sản phụ và nhi khoa, đặc biệt trong ngừa trị tai biến mạch máu não...

Đội Hoàng Sa ra đảo mỗi năm 6 tháng, họ ăn uống như thế nào? Điều này thuộc bí mật quân lương của nhà Nguyễn. Qua sách Nguyễn Phúc tộc đế phá tường giải đồ ta biết trên mạn thuyền của đội Hoàng Sa có trồng 7 thứ rau: rau muống, rau húng, rau lang, hẹ, hành, tỏi, me đất (đến năm Tự Đức thứ 12 có thêm rau sam bay). Đây là 7 loại rau Trung Quốc không có hoặc một số thứ có nhưng chất lượng không bằng của ta. Hẹ, hành, tỏi thì sách thuốc đã nói nhiều. Còn rau muống thì có tác dụng bổ huyết do có nhiều chất sắt, đây là loại rau di thực từ Nhật Bản sang Việt Nam thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Rau húng cân đối lượng đường trong máu, giúp tuần hoàn tim mạch, điều hòa tiêu hóa, điều hòa hô hấp, điều hòa não, nếu ăn thường xuyên từ nhỏ thì không bị trĩ... Tất cả các loại rau trên đều có tác dụng bảo vệ sức khỏe của quân dân khi ra đảo. Nhưng vì sao những thứ đó được trồng trên thuyền mà không đem trồng trên đảo? Đó là bí mật quân lương.

Họ ăn những loại rau nói trên với cá biển và nước mắm. Tuy nhiên, ăn cá biển thường xuyên sẽ không bảo đảm cho sức khỏe, cho nên lương thực – thực phẩm chính mà đội Hoàng Sa mang theo là thịt thưng và cám gạo (cám gạo, chứ không phải gạo). Các món thịt thưng chính là bí mật quân lương của quân đội nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn, các vua Nguyễn sau này trong các lễ cúng tế tổ tiên bao giờ cũng có món thịt thưng.

Đó là thịt heo hoặc gà, vịt, dê... được ướp với dầu lạc (dầu ép thủ công) và nước ớt, cho muối hột và nước mắm với độ mặn gấp 3 lần so với kho thịt bình thường, cho nước ngập xăm xắp, đun nhỏ lửa cho đến khi khô hết nước. Thịt này cho vào một cái hộp đậy kín, có thể để hàng năm không hỏng. Do để lâu không hỏng nên nó mới dùng làm quân lương.

Thịt thưng ăn vào cân bằng tiêu hóa, ngăn ngừa các bệnh về đường ruột và giá trị dinh dưỡng đạt đến tối ưu trong điều kiện đi xa trên biển. Còn cám gạo thì ngày nay khoa học khẳng định nó là tinh hoa của lúa gạo. Dùng cám gạo thay cho gạo vừa đạt giá trị dinh dưỡng tối đa vừa không chiếm nhiều chỗ chứa khi ra biển đảo. Mỗi thành viên trong đội Hoàng Sa được cấp một cái hộc có nắp ép như cái hộc làm bánh, mỗi bữa ăn cho cám gạo vào hộc, bỏ vài miếng thịt thưng vào giữa, ép lại thành một chiếc bánh. Cộng thêm một ít rau là đủ cho một bữa ăn không thiếu một chất dinh dưỡng nào.

Do không có nhiều nước ngọt, nên ra Hoàng Sa, Trường Sa, người xưa ăn nước mắm chứ không ăn muối. Ăn nước mắm tốt hơn ăn muối, tăng cường sự dẻo dai của thủy binh.

Điều đặc biệt là nước mắm cũng có thể dùng để... giải khát. Trên một tảng đá nghiêng, khi trời nắng lấy nước mắm thoa lên đá phía mặt trời chiếu vào, nước mắm khô sẽ bám vào mặt đá. Đêm xuống, lấy đồ hứng những giọt sương rơi trên đá chảy qua chỗ có thoa nước mắm. Khi khát nước, thấm một ít nước này vào miệng, thứ nước đó đủ cho tuyến giáp trạng điều tiết dịch, không gây ra những cơn phiền khát. Vì vậy, uống ít nước vẫn không thấy khát.

Trên đảo có một thứ rau mà ngày nay không ai nghĩ là ăn được, vì ăn vào sẽ bị say. Đó là rau muống biển. Nhưng ngày xưa, đội Hoàng Sa của chúng ta vẫn ăn được thứ rau này. Sách Nguyễn Phúc tộc dược minh y kính có chỉ rõ y lý của rau muống biển và cách chế biến với nhiều công đoạn phức tạp nhưng có thể thực hiện được trên đảo. Ăn rau muống biển được chế biến đúng cách, phòng tránh được nhiều bệnh thông thường, tăng sự dẻo dai cho cơ thể, đặc biệt nó tránh được những cơn say sóng nặng, bởi vậy mà sách này gọi nó là một vị thuốc mang tên “Cứu mệnh thảo”. Người viết bài đã chế biến rau muống biển theo đúng cách hướng dẫn và đã ăn nó trước khi viết loạt bài này.

Trên đây là những tư liệu mới mẻ. Trong phạm vi một bài báo chúng tôi chỉ giới thiệu sơ qua. Từ một nguồn, đã hé mở biết bao điều kỳ thú. Chắc chắn còn rất nhiều tài liệu đang tản mát trong các gia đình, hy vọng các nhà nghiên cứu tiếp tục khảo sát, thu thập để xác minh, tổng kết.

Hoàng Hải Vân

Bí mật hải quân nhà Nguyễn - Kỳ 2: Bí mật về cấu tạo tàu chiến

“Người Hà Lan... qua thử nghiệm với kết quả tai hại đã nhận ra rằng những loại thuyền ấy (những loại thuyền chèo tay của người An Nam) có thể tấn công và giành được lợi thế trước những chiếc tàu to lớn của họ, mà trước đây với những chiếc tàu ấy họ từng là những kẻ làm bá chủ trên mặt biển” - Giám mục De Rhodes.

Tái hiện thao diễn thủy binh thời Nguyễn tại Festival Huế 2010 - Ảnh: Bùi Ngọc Long


Theo tài liệu bí truyền trong hoàng tộc Nguyễn, tàu hơi nước dù rất hiện đại, nhưng cũng chỉ dùng để vận tải, không dùng làm tàu chiến. Ngay cả các thủy sư người Pháp phục vụ cho hải quân nhà Nguyễn, trong trận hải chiến lừng danh là trận Thị Nại, họ cũng chỉ làm nhiệm vụ tải lương, tức là chỉ đóng vai hậu cần. Bởi vậy mà theo Barrow, trong số 26.800 lính hải quân, chỉ có 1.200 người phục vụ trên các tàu đóng kiểu châu Âu. 

Tàu thuyền chạy bằng buồm cũng vậy. Dù có kết cấu hết sức linh hoạt, vỏ tàu có 3 lớp, tàu lớn tải trọng có thể trên 40 tấn, có 22 khoang, mỗi khoang đều có phao làm bằng thao tằm, có trụ trung tâm điều khiển cột buồm bằng con quay để giữ thăng bằng và bảo đảm quan sát được 4 hướng, dưới chân cột buồm có dàn xạ tiễn bắn tự động để đối phó mỗi khi bị tàu địch tấn công. Tàu buồm này chịu được sóng gió cấp 5. Tuy nhiên, tàu chạy bằng buồm cũng chỉ được dùng làm tàu vận chuyển và... nghi binh mà thôi.

Tàu chiến của nhà Nguyễn toàn bộ làm bằng tre và chỉ dùng mái chèo. Nghe thì tầm thường, nhưng sự vô song chính là ở đó. Tuy dùng bằng mái chèo nhưng có thể lướt sóng với tốc độ nhanh hơn tàu chạy bằng hơi nước, lại linh hoạt hơn và cơ động thiện chiến hơn nhiều. Vì sao vậy?

Để khỏi mang tiếng tự đề cao dân tộc mình, xin hãy nghe “Tây” nói về những chiếc thuyền chiến bé nhỏ của ta đánh thắng hạm đội Hà Lan trước đã. Tường thuật lại trận hải chiến năm 1643, trong cuốn Những người châu Âu ở nước An Nam, Charles B. Maybon, một học giả người Pháp viết:

“Ba tàu dưới sự chỉ huy của Pierre Baeck được phái đi từ Jambee (Sumatra) vào cuối năm 1643. Đến ngang tầm “Bốn mũi” (Quatre Caps), người Hà Lan phải chịu đựng đòn tấn công của chừng 60 thuyền chiến Đàng Trong, mà theo Thực lục là dưới quyền chỉ huy của Thế tử, tức Hiền Vương sau này. Tàu đô đốc, là chiếc nặng nhất và chậm nhất trong số 3 tàu đó, bị bốn thuyền chèo tay đuổi kịp, đánh gãy mất bánh lái, đánh đổ cột buồm và bám vào hai bên mạn tàu; viên thuyền trưởng Hà Lan không hy vọng chạy thoát được nữa, cho châm lửa vào kho thuốc súng và tự đốt cháy tàu. Hai chiếc tàu kia, theo lời của Jean Gobyn, phải rất chật vật mới tìm được một chỗ trú ở đảo Ngọc (Ile de Perles). Theo cha De Rhode, một trong hai tàu ấy do bị người Đàng Trong đuổi đánh đã va phải đá ngầm vỡ tan, còn chiếc kia chạy thoát được...”. (Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm về trận đánh này trong bài Tàu to súng lớn vẫn thua, Thanh Niên số ra ngày 4.8.2011).
Người ta cũng nhầm tưởng hải quân nhà Nguyễn thường dùng vũ khí là đại bác và súng ống phương Tây. Các thủy sư đô đốc nhà Nguyễn hiểu rằng bắn đại bác từ tàu chiến chỉ để thị uy chứ ít chính xác, nên hải quân nhà Nguyễn sử dụng chủ yếu 3 loại vũ khí: súng phun lửa, nỏ liên châu và ống phóng hơi cay. Súng phun lửa có thể sử dụng khi cận chiến cự ly 15m. Nỏ liên châu thì một phát bắn ra 20 mũi tên có thể trúng chính xác ở cự ly trên 100m. Khi xung trận, đầu tàu có thể biến thành đuôi tàu và ngược lại nên cơ động trong mọi tình huống.
Maybon dẫn lời nhà truyền giáo De Rhodes kết luận về trận hải chiến này như sau: “Người Hà Lan... qua thử nghiệm với kết quả tai hại đã nhận ra rằng những loại thuyền ấy (những loại thuyền chèo tay của người An Nam) có thể tấn công và giành được lợi thế trước những chiếc tàu to lớn của họ, mà trước đây với những chiếc tàu ấy họ từng là những kẻ làm bá chủ trên mặt biển”.

Theo tài liệu lưu giữ trong gia đình ông Ưng Viên, tàu chiến (gọi chính xác là thuyền chiến) nhà Nguyễn, loại lớn nhất dài 30m, ngang 12m; loại nhỏ nhất dài 3m, ngang 1,2m. Vỏ tàu có 3 lớp, tất cả làm bằng tre trét bằng dầu rái và vài loại thực vật khác, các khoang tàu cũng có phao làm bằng thao tằm giống như tàu chạy buồm.

Toàn bộ thủy quân chỉ có một soái hạm, dài 50m, ngang 12m. Người phương Tây rất muốn quan sát được chiếc soái hạm này nhưng chưa bao giờ họ nhìn thấy, vì nó có cấu tạo đặc biệt, chỉ xuất hiện trong những tình huống cần thiết, trong điều kiện bình thường nó được tách ra thành những chiếc tàu chiến nhỏ.

Tàu chiến lớn có 12 tay chèo, chia thành 3 cụm, mỗi cụm có 4 tay chèo, 1 cụm bố trí ở mũi tàu, 2 cụm bố trí ở khoảng 1/3 thân tàu tính từ phía sau. Điều thú vị là các tay chèo này không phải dùng mái chèo tác động xuống nước để đẩy thuyền đi như thuyền chèo thông thường mà việc “chèo” này là để làm quay một hệ thống ròng rọc nối liền với các quạt nước, chính những cái quạt nước này vừa nâng tàu lên vừa đẩy tàu đi giống như tàu máy hiện đại nhưng linh hoạt hơn nhiều. Mỗi cụm tuy có 4 tay chèo, nhưng chỉ có 3 quạt nước nối với 3 tay chèo thông qua ròng rọc, tay chèo còn lại có vị trí độc lập, nhiệm vụ của anh ta là điều chỉnh để cân bằng hệ thống, việc của anh ta nhẹ nhàng hơn 3 anh kia, nhưng khi gặp sự cố, một mình anh ta sẽ làm chạy một lúc 3 cái quạt nước, do mái chèo của anh ta gắn với sự chuyển động đồng thời của 3 cái quạt này.

Thuyền mông đồng (hai đáy) khắc trên Chương đỉnh - Nguồn: COVATHUE.COM

Khi 3 cụm chèo đồng thời được nâng lên bởi tay chèo điều chỉnh hệ thống, lập tức tàu chạy lướt trên mặt nước, nghệ thuật lướt này nhờ vào 2 tay chèo số 4 phía sau điều chỉnh cho bánh lái không ghì đuôi tàu xuống, đồng thời giữ thăng bằng khi tàu lướt sóng. Vì vậy mà tàu chiến có thể vượt qua được mọi điều kiện thời tiết, với tốc độ và sự linh hoạt khiến cho đối phương phải kinh ngạc, sợ hãi và tuyệt vọng.

Điều đặc biệt là toàn bộ chất liệu làm tàu chiến không dùng đến sắt thép, kể cả cánh quạt, đinh, chốt, vít. Các liên kết đều dùng mộng, các chốt liên kết làm bằng một loại gỗ tên là gỗ xây cực kỳ bền chắc. Hy vọng từ những tài liệu nói trên kết hợp với các tài liệu khác có thể tìm được, các nhà nghiên cứu và chế tạo có thể tái tạo những chiếc tàu để xác nhận tính năng của nó.

Tàu chiến của hải quân nhà Nguyễn là niềm tự hào của quân dân ta. Khi vua Gia Long đưa thủy quân ra Bắc, lúc đội tàu chiến tiến đến Nam Định, dân chúng nhìn tàu lướt trên sóng đã thán phục gọi là “thần binh”.

Hoàng Hải Vân

       Bí mật hải quân nhà Nguyễn - (Kỳ cuối): Đội Hoàng Sa và bí mật quân lương 

Bí mật hải quân nhà Nguyễn - Kỳ 1: Từ thủy quân đến hải quân

Nhân việc sưu tầm, nghiên cứu những tư liệu liên quan đến việc mở cõi của nhà Nguyễn, chúng tôi có dịp tiếp cận với một số tư liệu được bảo tồn trong hoàng tộc giúp chúng ta có cái nhìn liên kết giữa sức mạnh hải quân nhà Nguyễn với việc thực hiện chủ quyền biển đảo.

Thuyền bọc đồng thời Minh Mệnh được chạm trên Cao đỉnh - Nguồn: Covathue.com


Trước hết, nhà Nguyễn, từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng trở đi, khi đưa dân tộc tiến về phương Nam, mỗi bước chân của tiền nhân không chỉ là đi “mở đất” mà đồng thời còn thực hiện chủ quyền biển đảo. Muốn vậy, nhà Nguyễn phải có một lực lượng hải quân hùng mạnh. Mà muốn có một lực lượng hải quân hùng mạnh thì phải có 3 yếu tố vượt trội: kỹ thuật tàu chiến, vũ khí và quân lương.

Từ một mảnh đất phía sau dãy Hoành Sơn, các Chúa Nguyễn đã không dừng lại ở cái mơ ước “vạn đại dung thân” bé nhỏ cho mình mà còn cùng với dân tộc nhân đôi nước non bờ cõi, phía nam mở nước dài đến mũi Cà Mau, phía đông làm chủ một vùng biển rộng lớn với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ. Vua Gia Long từng nói: “Thủy chiến là sở trường của ta”. 

Thủy chiến vốn là thế mạnh của dân tộc. Nước Đại Việt ta đã dùng thủy chiến để đánh tan những đội quân xâm lược hùng mạnh. Tuy nhiên, những trận đại thắng trên sông Bạch Đằng cùng các trận Chương Dương, Hàm Tử... lừng danh trên thế giới đều là giang chiến. Riêng trận Vân Đồn, nơi Trần Khánh Dư tiêu diệt đội thuyền lương Trương Văn Hổ của quân Nguyên Mông là trận đánh trên biển đầu tiên, nhưng cũng là một trận “duyên chiến”. Đến thời các Chúa Nguyễn, thủy chiến đã được nâng lên một tầm cao mới - hải chiến.

Trận hải chiến đầu tiên được lịch sử ghi nhận là trận do Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần khi ấy còn là thế tử chỉ huy, đánh tan một hạm đội của Hà Lan đến hải phận nước ta “gây hấn” vào năm 1643 (Thanh Niên đã đăng trong bài Tàu to súng lớn vẫn thua, số ra ngày 4.8.2011). Trước đó, vào năm 1585, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên khi ấy còn là một hoàng tử, đã đánh tan một đội tàu chiến 6 chiếc của Nhật Bản (Đại Nam thực lục gọi đây là tàu của “tướng giặc nước Tây dương hiệu là Hiển Quý”, có tài liệu nói đây là tàu Kenki của Nhật Bản) đến cướp bóc vùng ven biển Cửa Việt, nhưng trận này cũng là một trận “duyên chiến”.

Có thể nói Hải quân Việt Nam được khai sinh từ trận đánh thắng đội tàu chiến Hà Lan, vốn là nước có đội tàu chiến hiện đại nhất phương Tây lúc bấy giờ.

Không chỉ đánh thắng tàu chiến Hà Lan và Nhật Bản, hải quân nhà Nguyễn còn đánh thắng tàu chiến Anh sang gây hấn, quét sạch mọi loại giặc biển đến từ Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan... Hệ thống phòng thủ bờ biển được thiết lập dọc theo chiều dài đất nước, không chỉ Phú Quốc, Côn Sơn, Hoàng Sa, Trường Sa mà hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ trên biển đều được tiếp quản, thiết lập chủ quyền và canh phòng cẩn mật, suốt mấy trăm năm không để mất một tấc đảo, một khoảnh nước nào. Trên cơ sở phòng thủ vững chắc, nhà Nguyễn đã thiết lập các tuyến hải hành và mở rộng giao thương với nước ngoài. Tàu thuyền nước ngoài đến tấp nập ở Hội An và các thương cảng; tàu thuyền nước ta cũng cập bến ở nhiều nước Á, Âu. Khiêm cung hòa hiếu nhưng dũng mãnh cương cường, không hại ai nhưng nhất quyết không để ai hại mình, đó là thế đứng vững chắc của nước ta một thời giữa thiên hạ.

Tàu thuyền quân sự và dân sự của nhà Nguyễn gồm 3 loại: tàu thuyền dùng mái chèo, tàu thuyền dùng buồm và tàu bọc đồng chạy hơi nước. Tàu bọc đồng chạy hơi nước có từ thời Vua Gia Long, nói theo ngôn ngữ bây giờ thì nhà Nguyễn đã sớm hiện đại hóa tàu thuyền ngang với thế giới.

J.Barrow trong cuốn Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà 1792-1793 đã ghi lại một bảng thống kê thú vị về quân đội nhà Nguyễn thời Vua Gia Long: Tổng quân số 139.800 người, riêng hải quân có 26.800 người. Barrow còn ghi thêm về việc “hiện đại hóa” hải quân của Gia Long: “Ông đã cho đóng ít nhất 300 pháo thuyền lớn hoặc loại thuyền dùng chèo, 5 thuyền có cột buồm và một chiến hạm đúng theo kiểu tàu châu Âu. Ông cho đưa vào quân đội một hệ thống các chiến thuật hàng hải, và cho những sĩ quan hải quân học cách sử dụng các tín hiệu”.

Nhìn vào những tài liệu đã ghi chép, hầu hết các nhà nghiên cứu đều nhầm tưởng sức mạnh hải quân của nhà Nguyễn chính ở sự “hiện đại hóa” đội tàu theo kiểu châu Âu. Nhưng sự thật không phải vậy. Hiện đại theo cách của người ta thì không bao giờ bằng người ta được, chưa nói đến việc hơn người ta.

Sức mạnh hải quân Nhà Nguyễn nằm ở 3 yếu tố nổi trội nói ở đầu bài: kỹ thuật tàu chiến, vũ khí và quân lương. Cả ba đều là bí mật, không ghi trong sử sách (nếu ghi thì còn gì là bí mật). Chưa ai tìm ra được các tài liệu nói về 3 yếu tố trên, thậm chí cả những hình vẽ và ảnh chụp các tàu chiến nhà Nguyễn cũng không thấy để lại, ngoài một cuốn binh pháp là cuốn Hổ trướng khu cơ của Đào Duy Từ, trong đó có đề cập đến các trận pháp và kỹ thuật thủy chiến nhưng cũng không đề cập đến 3 yếu tố trên.

Rất may là các bí mật này vẫn còn lưu lại trong dòng tộc, được ghi khá tường tận trong một cuốn sách bí truyền: Nguyễn Phúc tộc đế phả tường giải đồ, cuốn sách hiện vẫn còn được lưu giữ trong gia đình ông Nguyễn Phúc Ưng Viên, một hậu duệ của Vua Minh Mệnh (ông Ưng Viên gọi Vua Minh Mệnh bằng ông cố).

Đại Nam thực lục tiền biên có ghi rõ lực lượng thủy binh nước ta thời Chúa Nguyễn Phúc Tần có tới 22.740 quân, bao gồm:

- Cơ Trung hầu 10 thuyền 300 người;
- Nội bộ 60 đội thuyền, hơn 3.280 người;
- 2 cơ Tả trung và Hữu trung, mỗi cơ 14 thuyền, đều hơn 700 người;
- Nội thủy 58 thuyền, 6.410 người;
- Cơ Tả trung kiên 12 thuyền, 600 người;
- Cơ Hữu trung kiên 10 thuyền, 500 người;
- 2 cơ Tả trung bộ và Hữu trung bộ, mỗi cơ 10 thuyền, đều 450 người;
- Cơ Tiền trung bộ 12 đội, mỗi đội 5 thuyền, cộng 2.700 người;
- 4 cơ Tả dực, Hữu dực, Tiền dực, Hậu dực, mỗi cơ 5 thuyền, cộng hơn 1.100 người;
- 4 đội Tiền thủy, Hậu thủy, Tả thủy, Hữu thủy, mỗi đội 5 thuyền, đều hơn 500 người;
- 8 cơ Tả nội bộ, Hữu nội bộ, Tiền nội bộ, Hậu nội bộ, Tả súng, Hữu súng, Tiền súng, Hậu súng, mỗi cơ 6 thuyền, cộng 2.100 người;
- Dinh tả bộ 10 thuyền, cộng hơn 450 người;
- 4 đội Tiền bính, Hậu bính, Tả bính, Hữu bính, mỗi đội 4 thuyền, đều hơn 200 người;
- Cơ Tả thủy 5 thuyền, hơn 200 người.
Hoàng Hải Vân

       Bí mật hải quân nhà Nguyễn - (Kỳ 2): Bí mật về cấu tạo tàu chiến

17/9/11

Nhật ký Trường Sa - Kỳ cuối: Ngọn hải đăng dẫn đường

“Mẹ à, hình như nhà mình có gen hải quân hay sao ấy... Con rất muốn trở thành chiến sĩ hải quân như bố. Con chỉ nghĩ tới hải quân chứ không nghĩ tới ngành nào khác...”.

Ảnh: My Lăng

Trong căn nhà đơn sơ ở một xóm nghèo của Quảng Khê (Quảng Xương, Thanh Hóa), khi nghe đứa con trai mới chớm tuổi 18 thưa chuyện, người mẹ thấy như có đợt sóng lớn vừa đánh ụp xuống ngang người!
"Em biết sự hi sinh của anh quan trọng, quý giá đến nhường nào cho đất nước mình!”

Tâm sự của bà Nguyễn Thị Tần (vợ anh hùng liệt sĩ Vũ Phi Trừ)

Ước nguyện của con

14 năm trôi qua, nỗi đau vẫn âm ỉ trong lòng người phụ nữ ấy, giờ cuộn sóng dữ dội, dâng lên trong mắt... Cô chới với trong sự điềm tĩnh chịu đựng, lặng người nhìn con trai lớn. Nó muốn trở thành chiến sĩ hải quân như bố!

Bố của con cô - thuyền trưởng tàu HQ604, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Phi Trừ - đã vĩnh viễn nằm lại ngoài biển khơi Tổ quốc trong sự kiện ngày 14-3-1988 tại khu vực đảo Gạc Ma.

“Mẹ... - người con trai bối rối nói - Con xin lỗi vì đã làm mẹ khóc. Con biết mẹ lại đang nhớ bố... Ngay từ lúc còn nhỏ, con đã khâm phục và rất tự hào về bố khi nghe mẹ rồi họ hàng, xóm làng kể chuyện. Mỗi lần xem tivi, con cứ ước mình nhanh lớn để được mặc quần áo hải quân. Con nghĩ về nó từng ngày. Bây giờ đã đến lúc con có thể thực hiện ước mơ đó...”.

Một khoảng im lặng đáng sợ sau lời nói, giữa mẹ và con. Rất lâu... Rồi người mẹ nói, giọng nghẹn lại và mắt mờ nước, cố điềm tĩnh: “Con đã nghĩ kỹ chưa? Thật kỹ chưa? Con và cả thằng Khoa nữa, vẫn chưa biết hết khó khăn mà một người lính hải quân phải trải qua như thế nào...”.

“Mẹ ạ... - giọng người con trai quả quyết - Con đã nghe kể và hình dung được những khó khăn, vất vả sẽ gặp, kể cả nguy hiểm, hi sinh. Con còn nhớ rất rõ các chú kể khi tàu bị bắn thủng nhiều chỗ, bố vẫn không bỏ tàu mà vẫn bình tĩnh chỉ huy và bị đạn bắn vào đầu bất tỉnh. Chỉ ít phút sau thì tàu chìm... Con rất thương và khâm phục bố. Bố đã hi sinh cả tính mạng mình để bảo vệ đất nước, bảo vệ cuộc sống cho chúng con. Con sẽ thực hiện tiếp ước nguyện ấy để bố an lòng... Thế hệ của bố, của các chú trước đây gian khổ là vậy mà vẫn chịu được, huống chi bây giờ sướng hơn, có nhiều điều kiện hơn mà trẻ như con lại sợ”.

Đêm ấy người mẹ thức trắng!

Nỗi lòng của mẹ

“Anh có linh thiêng hãy phù hộ cho ba mẹ con em... Khi nghe thằng Đăng quyết tâm như vậy, em chỉ biết khóc chứ không dám ngăn con nữa. Nhưng em rất lo. Em đã mất anh rồi, biển cả sóng gió không ai nói trước được... Nhỡ con có chuyện gì... Ngày anh đi, thằng Đăng mới 4 tuổi, thằng Khoa mới 15 tháng. Lúc đó nó còn nhỏ quá, đã biết chết là gì đâu, thấy mẹ khóc thì ôm mẹ khóc theo.

Lúc đầu em chỉ thấy mình thiệt thòi, mất mát vì nỗi đau quá lớn. Em không nghĩ đến những điều to tát. Dần về sau, em biết sự hi sinh của anh quan trọng, quý giá đến nhường nào cho đất nước mình. Lúc hai con còn nhỏ, cả bây giờ, em vẫn luôn kể về anh. Em rất tự hào về anh và truyền niềm tự hào ấy sang hai con. Vậy bây giờ làm sao em có thể làm điều ngược lại là ngăn cản niềm tự hào ấy, làm sao bảo con đừng đi, đừng sống vì lý tưởng, đừng chọn con đường nhiều gian khổ và quá nhiều xa cách...

Chúng mình cưới nhau sáu năm, sống chung với nhau chưa được bảy tháng. Số lần anh về phép chưa quá một bàn tay. Một năm anh mới gửi được ba, bốn lá thư về cho vợ. Anh đi Trường Sa, sóng gió biền biệt, cách trở. Cứ nhận được thư em mới thấy an tâm. Mỗi lần anh về, quà bộ đội chỉ là ký đường, vỏ ốc, vỏ sò, san hô, chùm chôm chôm miền Nam...

Lần nào về anh cũng tranh làm hết mọi việc: nhổ mạ, tát nước, cắt cói, dệt chiếu... để em được nhẹ chân nhẹ tay. Đợt cuối cùng anh về phép, thằng Khoa mới 13 tháng nhưng đã cai sữa. Em đi chợ hơn 1 giờ trưa mới về, em dặn ở nhà bố con cứ ăn cơm trước. Nhưng anh nấu xong cho hai đứa ăn no là lại ẵm thằng Khoa đi quanh xóm đợi em về ăn cùng.

Anh sợ em lo lắng nên giấu biệt những gian truân nơi biển cả. Có lần trên đường ra đảo gặp bão số 6, thuyền của anh thả neo nhưng cứ chao qua nghiêng lại như muốn lật úp xuống biển! Có lần anh đang giám sát việc cẩu hàng, vừa nhìn lên phía cần cẩu thì cẩu hàng bị đứt cáp, rớt ngay xuống trước mặt, sát ngay mũi bàn chân! Có lần tàu mắc cạn ở bãi cát. Sau này một người đi cùng với anh về kể: có lần tàu lạc không tìm được đảo, quay về gần vào bờ rồi lại trở ra, mất mấy tháng mới đến được đảo. Anh chỉ kể những chuyện vui, lạ: đảo nào có nhiều chim, anh em được cải thiện bữa ăn; rồi chuyện cá heo xúm lại đẩy tàu, nhảy rượt trên mui tàu...

Chuyến anh về phép cuối cùng, vừa phép thưởng vừa phép tiêu chuẩn phải gần ba tháng. Vậy mà mới ở chưa được hai tháng, đơn vị báo đi công tác gấp, anh đi ngay. Đêm cuối cùng, vợ chồng mình thức tới sáng trắng nói chuyện. Anh toàn nói về những chuyện vui tương lai. Anh bảo mấy chuyến sau về có tiền sẽ mua cho em cái máy xát gạo để em đỡ vất vả. Anh hứa sẽ xây nhà cho mấy mẹ con ở cho đàng hoàng...”.

Nhưng đó là đêm cuối cùng thuyền trưởng Vũ Phi Trừ ở nhà. Lời hứa mua cho vợ chiếc máy xát gạo, xây một ngôi nhà đàng hoàng đã theo người sĩ quan hải quân chìm dưới đáy biển sâu thẳm ở thềm lục địa Tổ quốc...

Nguyện làm ngọn hải đăng

Người con trai 18 tuổi rạng ngời trong bộ trang phục hải quân mới tinh khôi vẫy tay chào mẹ. Người mẹ không dám tiễn con lên xã, đứng ôm cột ngoài hiên, nhìn theo dáng con mà khóc. Người mẹ ấy là bà Nguyễn Thị Tần, vợ liệt sĩ, anh hùng Vũ Phi Trừ. Người con trai trong sáng mai ấy là Vũ Xuân Đăng (sinh năm 1983), hiện là chiến sĩ tàu Trường Sa 16.

Đang bảo vệ quân khí ở Lữ đoàn 125 hải quân, Đăng xin đi biển. Đến nay, anh đã tham gia nhiều chuyến tàu chở nguyên vật liệu phục vụ việc xây dựng nhà cửa, trường học, các công trình công cộng ở các đảo của Việt Nam.

“Khi tôi đi chuyến công tác đầu tiên, tôi biết mẹ lo nhiều hơn mừng. Mừng vì con thực hiện được ước mơ của mình. Lo vì biển cả dông bão khôn lường, nhiều nguy hiểm, căng thẳng... Mẹ lo nhưng không dám nói tôi biết, nhất là mỗi khi đài báo gió lớn, bão về. Tôi nghĩ biển cả mênh mông, chỗ nào cũng có bố đi theo phù hộ, che chở cho mình. Tôi muốn ra biển, đi tiếp con đường mà bố đã đi; được một lần đến vùng biển mà bố và các chú hi sinh để được thắp nén nhang cho bố và các chú. Tôi muốn bố nhìn thấy mặt con trai mình giống bố như thế nào, xem nó trưởng thành và chững chạc trong bộ quân phục hải quân mà bố từng mặc như thế nào...”.

Từ đảo Song Tử Tây một trưa cuối tháng 6-2011, Xuân Đăng tâm sự qua điện thoại với âm hưởng lộng gió Trường Sa.

Tên đầu tiên của Đăng là Vũ Hải Đăng, cái tên mang bao gửi gắm của anh hùng, liệt sĩ Vũ Phi Trừ: con trai mình sẽ tỏa sáng, là chỗ dựa, là niềm tin, là tia hi vọng cho những người đi biển.

MY LĂNG

Nhật ký Trường Sa - Kỳ 9: Lá cờ của cha, lá đơn của con

Trong trận hải chiến giữ chủ quyền Trường Sa ngày 14-3-1988, trung úy, anh hùng Trần Văn Phương đã ngã xuống khi đang ôm trong tay lá cờ chủ quyền.

Thủy đứng trước tấm ảnh chân dung của cha - anh hùng Trần Văn Phương, trong phòng truyền thống Lữ đoàn 146 - Ảnh: Viễn Sự

Ngày hi sinh, người anh hùng 23 tuổi ấy vẫn chưa kịp biết ở quê nhà xóm Đơn Sa, xã Quảng Phú (Quảng Trạch, Quảng Bình) người vợ hiền của mình đang mang thai cô con gái Trần Thị Thủy. Và càng không thể nghĩ 22 năm sau cũng chính trên vùng biển anh đã ngã xuống, một lá đơn xin vào quân ngũ đã được viết từ chính núm ruột mà anh chưa một lần biết mặt. 

Trùng phùng trên biển Sinh Tồn

Trung úy, anh hùng Trần Văn Phương nhập ngũ năm 1983. Ngày 11-3-1988 anh được điều ra đảo Gạc Ma trên con tàu HQ 604 làm nhiệm vụ.

Ngày 6-1-1989, liệt sĩ Trần Văn Phương đã được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Con tàu HQ 936 ra thăm Trường Sa cuối tháng 4-2010 như bao chuyến hải trình ra Trường Sa khác được ghi nhật ký hải trình rất đều đặn. Nhưng có một cuộc trùng phùng lặng lẽ, gần như không thành viên nào trên tàu nhìn thấy khi tàu đi qua biển Sinh Tồn đã không được ghi lại trong nhật ký hải trình.

Đó là khoảnh khắc tàu ngang qua tam giác Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao, khi mọi người trên tàu đang háo hức dõi mắt hướng về đảo Sinh Tồn nơi tàu sắp cập bến thì trên boong tàu cao nhất cô văn thư của UBND huyện Trường Sa Trần Thị Thủy lại dõi mắt về hướng nơi cha mình đã hi sinh trong cuộc chiến giữ chủ quyền 22 năm trước.

Lúc đó trời đã gần trưa, nắng chói chang trên boong tàu, sóng dập nghiêng ngả nhưng Thủy đứng như câm lặng, vịn chặt vào lan can tàu, không chớp mắt nhìn về Gạc Ma còn cách tàu vài hải lý. Ngày bố hi sinh, Thủy chỉ mới là hình hài hai tháng tuổi trong bụng mẹ. Nhưng tất cả ký ức từ lời kể của đồng đội, từ những cuốn sách viết về bố mà Thủy đọc đều ùa về trong thời khắc này.

Đó là câu chuyện mà các chú trong Lữ đoàn 146 mỗi dịp về thăm hai mẹ con kể lại rằng bố Phương là người giữ lá cờ, đã hi sinh đầu tiên khi hứng trọn loạt đạn của kẻ thù... Lá cờ ấy sau khi bố Phương hi sinh đã tiếp tục được chiến sĩ Nguyễn Văn Lanh tiếp sức giành lại, rồi nhiều đồng đội khác của bố ôm chặt nhưng cũng không thoát khỏi lưỡi lê và làn đạn hung bạo của kẻ thù.

Những phút giây hồi tưởng ngay tại vùng biển cha mình ngã xuống làm nước mắt Thủy ràn rụa. Nhờ sóng điện thoại từ đảo Sinh Tồn, Thủy gọi điện về cho mẹ ở Quảng Bình. Từ đầu dây bên kia, sau tiếng nấc của Thủy: “Mẹ ơi! Con đến nơi bố nằm rồi...” thì mẹ Thủy - cô giáo mầm non Mai Thị Hoa - chỉ biết nghẹn ngào không cất nổi lời nào. Và cũng như con gái, trong thời khắc ấy ký ức về người chồng, về những tháng ngày ngắn ngủi trước khi anh Phương ra Trường Sa lại ùa về.

Ký ức ấy có bức thư cuối cùng được gửi từ Cam Ranh vào cuối tháng 2-1988, viết vội vàng trên một mặt giấy kẻ ngang với lời nhắn: “Đợt này anh đi công tác gấp, chưa biết khi nào về. Địa chỉ chưa rõ ràng nên em đừng viết thư hồi âm...”. Bức thư như một điềm báo, khi trước đó anh Phương đã theo tàu ra Trường Sa, nhưng vì sóng dữ phải quay lại bờ để kịp ghi cho vợ những dòng chữ thân yêu cuối cùng.

Mãi nhiều tháng sau, lá thư cuối cùng của anh Trần Văn Phương mới về đến xóm Đơn Sa, cùng ngày với tấm giấy báo tử... Ký ức ấy còn là giây phút đau đớn nhận tin chồng hi sinh. Đó là một buổi trưa rét cuối mùa, cô giáo Mai Thị Hoa trên đường đi dạy ở lớp mẫu giáo về thì nghe trên loa phóng thanh bản tin thời sự của Đài Tiếng nói Việt Nam tường thuật về sự kiện CQ-88. Và khi đọc đến tên những người lính ngã xuống có trung úy Trần Văn Phương ở xã Quảng Phú thì cô Hoa ngã quỵ.

Khi những ký ức của gia đình anh hùng Trần Văn Phương vừa kịp trùng phùng trên vùng biển Sinh Tồn sau 22 năm thì cũng là lúc tàu HQ 936 cập cảng đảo Sinh Tồn. Từ boong tàu cô gái Trần Thị Thủy lại lặng lẽ giấu nước mắt trở về buồng. Và khi mọi người đang hối hả lên xuồng trung chuyển vào đảo thì Thủy ở lại tàu, bất chấp những con sóng nghiêng ngả, Thủy nắn nót từng nét chữ trên mặt giấy A4, viết đơn xin vào quân ngũ.

Lá đơn vượt cấp
Lá đơn của Thủy sau nhiều lần nhờ các chị phóng viên cùng buồng chỉnh sửa đã được đưa thẳng lên buồng chỉ huy tàu HQ 936, gửi trực tiếp cho chuẩn đô đốc Nguyễn Văn Ninh - phó tư lệnh Quân chủng Hải quân - vào 8g tối 24-4-2010. Đó có lẽ là lá đơn đặc biệt nhất mà trong những năm tháng quản lý binh nghiệp chuẩn đô đốc Nguyễn Văn Ninh nhận được.

Một lá đơn không theo đường quân bưu, được gửi ngoài giờ hành chính, ngay trên vùng biển Trường Sa. Và nếu đúng quy định lá đơn ấy sẽ bị từ chối ngay vì đã gửi vượt cấp, thay vì phải được gửi từ cấp lữ đoàn chứ không phải gửi trực tiếp cho lãnh đạo quân chủng. Nhưng tất thảy những điều ấy đã không làm chuẩn đô đốc Nguyễn Văn Ninh cảm thấy phiền lòng. Ngay trong đêm ấy ông đã ký tắt và phê chuẩn vào lá đơn của Thủy, yêu cầu Lữ đoàn 146 (Đoàn Trường Sa) - Vùng 4 Hải quân tiếp nhận Thủy vào lữ đoàn công tác.

Cho đến giờ chuẩn đô đốc Nguyễn Văn Ninh có thể vẫn chưa được Thủy kể về giây phút trùng phùng lặng lẽ trên boong tàu 936 - thời khắc đã thôi thúc Thủy viết lá đơn vượt cấp gửi đến ông. Nhưng hành trình của con gái người đồng đội Trần Văn Phương tìm cách để ra với Trường Sa đã đủ để ông cảm động và quyết định.

Hành trình ra với Trường Sa ấy không phải chỉ mới bắt đầu trên chuyến tàu HQ 936, mà mong muốn được công tác tại Trường Sa đã ấp ủ trong Thủy từ ngày còn đi học. Năm 2008, khi đang học năm cuối Đại học Quảng Bình, Thủy đã vào Cam Ranh tìm gặp các chú lãnh đạo Lữ đoàn 146 bày tỏ nguyện vọng muốn được làm việc tại lữ đoàn của bố Phương năm xưa.

Và nhờ sự giúp đỡ của đại tá Nguyễn Đức Vượng - chính ủy Lữ đoàn 146 (nay là phó chính ủy Vùng 4 Hải quân), Thủy đã được vào làm ở bộ phận thống kê UBND huyện Trường Sa khi vừa ra trường. Nhưng chừng đó vẫn chưa làm Thủy thỏa lòng vì chỉ được công tác ở bộ phận dân sự. Chỉ đến sau giây phút ngang qua bãi đá Gạc Ma nơi bố Phương và các đồng đội đã ngã xuống để giữ chủ quyền Trường Sa, Thủy mới quyết định viết lá đơn vượt cấp.

Bây giờ thì Thủy đã là nhân viên bộ phận văn thư Lữ đoàn 146 gần một năm, chỉ vài tháng nữa là đủ thâm niên để được chuyển thành quân nhân chuyên nghiệp. Hành trình đến với Trường Sa sắp sửa tới đích. Nhưng Thủy nói cái đích sắp sửa ấy chỉ kết thúc một chặng tiếp nối từ hành trình của bố Phương. Phía trước Thủy là Trường Sa, là quãng đời binh nghiệp tiếp nối từ lá cờ của bố.

NGUYỄN VIỄN SỰ
____________________

Nguồn: Tuổi trẻ
Nhật ký Trường Sa - Kỳ cuối: Ngọn hải đăng dẫn đường

Nhật ký Trường Sa - Kỳ 8: Tình đồng đội

Cuối tháng 5-1988, những trận dông bão lăm le tràn vào biển Đông cũng là lúc trung tá Phạm Văn Hưng quay lại Cô Lin, trở lại với con tàu HQ 505. Anh chỉ huy một đội tám chiến sĩ hải quân thay cho đội mười người của đại tá, thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đã kiên cường bám trụ trên con tàu“thành đồng Tổ quốc” ở Cô Lin suốt gần ba tháng.

Thuyền trưởng Vũ Huy Lễ (thứ hai hàng đầu từ trái qua) cùng đồng đội - Ảnh tư liệu

Ký ức hào hùng

Cùng trở lại với trung tá Hưng trong chuyến thay ca đặc biệt này còn có hai chiến sĩ Hoàng Tất Thắng và Lê Đức Thắng. Năm chiến sĩ hải quân còn lại được điều động từ đảo Sinh Tồn sang. Đến giờ 23 năm đã trôi qua, nhưng trung tá Hưng vẫn nhớ cảm giác xúc động khi chiếc thuyền máy trung chuyển chở anh trở lại con tàu HQ 505 đang nằm sừng sững trên đảo chìm Cô Lin. Những dấu vết đạn pháo vẫn còn hằn rõ trên con tàu đã bạc màu vì sóng gió đại dương. Nhưng xúc động nhất là lá cờ Tổ quốc thiêng liêng mà anh và đồng đội đã chiến đấu để giữ vững vẫn phần phật tung bay giữa biển trời xanh biếc, như sự khẳng định chủ quyền của Tổ quốc không thể lay chuyển...

Lúc chia tay những đồng đội mới ra thay ca, đại tá, thuyền trưởng Vũ Huy Lễ siết chặt tay từng người ở lại. Ông nhắn nhủ: “Tổ quốc là trên hết. Chiến sĩ còn thì đảo còn. Bằng mọi giá phải giữ vững được chủ quyền của Tổ quốc”. Trung tá Phạm Văn Hưng thay mặt tám chiến sĩ mới ra thay ca rưng rưng hứa sẵn sàng bảo vệ tàu HQ 505 và Cô Lin đến người cuối cùng. Lúc chuẩn bị xuống xuồng máy để trung chuyển lên tàu về đất liền, nhiều chiến sĩ trong đội mười người của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ vẫn tình nguyện được ở lại để tiếp tục bảo vệ tàu, bảo vệ đảo cùng đồng đội mới ra.

Biển Đông, cuối tháng 5, mưa bão đầu mùa đã tràn về. Đội của trung tá Phạm Văn Hưng vẫn ở trên con tàu HQ 505 vì công trình trên đảo chưa được xây dựng. Mỗi khi dông bão ập đến, con tàu cứ nảy lên rồi vặn vẹo răng rắc như chực gãy đến nơi. Có nhiều lúc trung tá Hưng đã cùng anh em chuẩn bị sẵn sàng cho tình huống tàu bị đánh vỡ. Họ lấy những vạt giường trên tàu néo vào phao cứu sinh như một chiếc bè, rồi chuẩn bị lương khô, nước uống và vũ khí, để trong tình huống xấu nhất vẫn có thể bám trụ bảo vệ được đảo Cô Lin.

Mưa xuống, tình trạng nước ngọt không có trên đảo san hô chìm được cải thiện phần nào. Các chiến sĩ lấy tất cả vật dụng gì có thể trữ nước được để hứng nước mưa trên boong tàu. Đó cũng là lúc hiếm hoi các chiến sĩ được tắm thoải mái, mà có lính trẻ đã đùa tếu phòng tắm của mình... rộng cả đại dương, còn vòi sen lớn bằng bầu trời. Gạo trên tàu vẫn còn nhưng rau xanh là thứ chỉ có thể mơ ước. Chiến sĩ xin xuống tàu bắt cá. Họ soi đèn tìm những chú cá kẹt trong các vũng san hô khi thủy triều rút. Trong đó, Võ Minh là người lớn tuổi nhất trong tám anh em. Anh quê Quảng Ngãi, có nhiều kinh nghiệm bắt cá. Thi thoảng cải thiện được bữa ăn tươi, chiến sĩ trẻ trêu đùa đặt biệt danh từng người theo các loại cá là Thắng “chình”, Minh “hồng”. Riêng Hưng được anh em đặt tên là Hưng “Cô Lin”.

Đảo Cô Lin hôm nay - Ảnh: L.Đ.D.

Nhiệm vụ vẫn tiếp diễn

Ở trên tàu HQ 505 suốt từ cuối tháng 5 đến tháng 8, ngày nào đội của trung tá Hưng cũng luyện tập chiến đấu. Hỏa lực pháo trên tàu đã bị hư hỏng sau trận hải chiến ngày 14-3. Các chiến sĩ tập luyện chủ yếu bằng súng hỏa lực của bộ binh như DKZ, B40, B41 để chống xâm nhập tàu, đổ bộ lên đảo. Và họ tập cả với lưỡi lê súng AK để sẵn sàng cho tình huống phải hi sinh đến người cuối cùng. Nhiều trận cuồng phong dữ dội ập đến, biển Đông dậy sóng, nhưng lá cờ Tổ quốc trên đảo Cô Lin chưa một giây phút nào vắng bóng. Tất cả trái tim tám người lính đều hiểu sâu sắc rằng lá quốc kỳ chính là hình ảnh chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, và họ sẵn sàng chiến đấu đến giọt máu cuối cùng để giương cao ngọn cờ này...

Về sau, công binh ra xây dựng một nhà gỗ “cao cẳng” trên đảo Cô Lin, rồi kiên cố hóa bằng công trình bêtông. Tàu HQ 505 mang nhiều vết thương đạn pháo được kéo về đất liền và bị gãy vỡ trên đường đi. Những chiến sĩ đã kiên cường ở lại bảo vệ tàu, giữ gìn chủ quyền đất nước tiếp tục đi các đảo làm nhiệm vụ người lính hải quân với Tổ quốc. Trung tá Phạm Văn Hưng về đi học và tiếp tục xuống tàu đảm trách các nhiệm vụ thuyền phó, rồi thuyền trưởng của lực lượng hải quân VN. Anh từng đạt nhiều kỷ lục đi biển như 237 ngày đêm trên biển trong năm 2009. Chính con tàu do anh chỉ huy đã nhiều lần xông pha bão tố cứu sống chiến sĩ gặp nạn trên nhà giàn, ngư dân, thủy thủ bị đắm tàu.

Gần đây là tháng 5-2010, tàu HQ 957 do trung tá Hưng làm thuyền trưởng đã cứu sống chín thủy thủ Malaysia, Indonesia, Myanmar trên tàu Atlantic bị cướp biển tấn công ở vùng biển Malacca. Bè họ trôi dạt nhiều ngày trên biển và được tàu HQ 957 ở gần đảo Tốc Tan, Trường Sa cứu sống. Chín người nước ngoài đói rét được hải quân Việt Nam tặng áo mặc, cơm ăn và đưa về nước. Khi chia tay, họ đã nắn nót những chữ cảm ơn lên quyển sổ của tàu để tỏ lòng tri ân đến những người lính biển VN.

QUỐC VIỆT
____________________
Trong trận hải chiến giữ chủ quyền Trường Sa ngày 14-3-1988, trung úy anh hùng Trần Văn Phương đã ngã xuống bãi đá Gạc Ma khi đang ôm trong tay lá cờ chủ quyền. 22 năm sau cũng chính trên vùng biển anh đã ngã xuống, một lá đơn xin vào quân ngũ đã được viết từ chính người con gái của anh...

Nguồn: Tuổi trẻ

Kỳ tới: Nhật ký Trường Sa - Kỳ 8:Lá cờ của cha, lá đơn của con

11/9/11

Nhật ký Trường Sa - Kỳ 7: Bảo vệ ngọn cờ

Đây là những khoảnh khắc được ghi lại từ sự kiện ngày 14-3-1988, tàu hải quân 505 thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ngọn cờ chủ quyền trên đảo Cô Lin.

Tàu HQ 505 trên đường làm nhiệm vụ ở Trường Sa - Ảnh tư liệu

Công sự nổi kiên cường

“Trải sóng gió thử thách, nhưng ngọn cờ chủ quyền của Tổ quốc trên đảo Cô Lin vẫn sừng sững tung bay. Mười người trên tàu thay phiên nhau canh gác, bảo vệ ngọn cờ. Đó là nhiệm vụ lớn nhất của chúng tôi. Từ vị trí cao trên tàu có thể quan sát toàn vùng biển này, mỗi chiến sĩ trực một giờ và cứ thế nối tiếp nhau suốt ngày đêm” - thuyền trưởng tàu HQ 505 Vũ Huy Lễ kể thêm rằng sóng gió Trường Sa rất dữ dội, làm cờ mau phai bạc và sờn rách.

Trước lúc tàu HQ 505 xuất bến, thuyền trưởng Lễ đã chuẩn bị sẵn nhiều lá cờ để mang theo hình ảnh Tổ quốc ra biển.

Thời gian bảo vệ tàu và bãi san hô Cô Lin, anh em cứ ít ngày lại lên đảo thay lá cờ để đảm bảo hình ảnh quốc kỳ Việt Nam luôn nguyên vẹn. Ngoài hai lá cờ ở đảo, trên tàu HQ 505 còn có một ngọn cờ Tổ quốc khác tung bay.

Những lần có tàu từ đất liền ra tiếp tế cũng mang thêm cờ ra cho anh em để dự phòng thay thế cờ sờn rách. Chính những hình ảnh thiêng liêng này đã làm ấm lòng chiến sĩ ở cách xa đất liền.

Suốt nhiều ngày, tàu đối phương cứ lảng vảng quanh bãi san hô Cô Lin. Nhưng thuyền trưởng Lễ và chín anh em bảo vệ tàu không hề nao núng. Họ đồng lòng sẵn sàng chiến đấu đến cùng để giữ vững ngọn cờ Tổ quốc. Có chiến sĩ đã xúc động tâm sự với đồng đội rằng nếu mình hi sinh thì hãy lấy cờ Tổ quốc bọc thi hài để hương hồn mình tiếp tục canh giữ non sông đất nước!

Tuy không ai nói ra lời, nhưng tất cả đều hiểu rằng mỗi chiến sĩ đang ngày đêm ôm súng bám trụ trên vùng biển này cũng chính là bia chủ quyền bằng xương máu của Tổ quốc. Chiến sĩ còn thì chủ quyền còn và cờ Tổ quốc sẽ đứng vững.

Từ ngày ủi bãi san hô Cô Lin 14-3-1988, con tàu HQ 505 đã trở thành một công sự thép kiên cường giữ biển. Nó nguyên là một chiếc tàu vận tải đổ bộ của Mỹ chuyển lại cho quân đội Sài Gòn.

Được đóng từ năm 1942, rộng 18m, dài gần 100m, nó có tải trọng trên 1.000 tấn. Đây là con tàu khá lớn nhưng được thiết kế để hải vận và đổ bộ nên không được trang bị hỏa lực đủ mạnh như chiến hạm. Từ năm 1975, con tàu này đã được nâng cấp, sửa chữa lại nhiều hạng mục để trở thành tàu vận tải Trường Sa.

Trước ngày 14-3 lịch sử, tàu HQ 505 đã thực hiện nhiều hải trình chở chiến sĩ và vật liệu ra xây dựng các công trình trên quần đảo Trường Sa. Ngoài ra, tàu còn tham gia các chuyến đi biển ngược xuôi Bắc - Nam để vận chuyển lương thực thời kỳ kinh tế khó khăn.

Trong ký ức của thuyền trưởng Lễ vẫn còn nhớ rõ sau trận hải chiến ngày 14-3-1988, những vết thương do đạn pháo của đối phương và mưa nắng, sóng gió đại dương đã làm vỏ tàu chuyển sang màu nâu đỏ. Hệ thống điện và một số bộ phận bị cháy hỏng trên tàu vẫn còn bốc mùi khen khét. Điện bị mất hoàn toàn. Mười người ở lại với tàu chỉ sử dụng được một bóng đèn nhỏ phát sáng bằng bình ăcquy. Khi ăcquy hết điện, họ sử dụng chính máy xuồng vận tải nhỏ trang bị trên tàu để sạc lại điện. Lúc đầu, tàu có hai chiếc xuồng này, nhưng một chiếc đã bị hỏng trong sáng 14-3-1988 nên chỉ còn lại một chiếc có thể sử dụng được. Đây là phương tiện di chuyển duy nhất của anh em trên tàu.

“Hệ thống liên lạc xa của tàu chúng tôi bị hỏng, anh em ở lại tàu chỉ có một phương tiện liên lạc tầm ngắn với đảo Sinh Tồn ở gần đó. Mọi người bám trụ cùng tàu HQ 505 phải tự chủ hoàn toàn cuộc sống giữa biển”. Thuyền trưởng Lễ kể cứ đầu giờ sáng, anh em lên tập thể dục trên boong để gìn giữ sức khỏe, rồi tiếp tục huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Chính những hình ảnh này đã khiến các tàu lảng vảng xung quanh quan sát thấy có phần kiêng dè...

Ngày đêm và Tổ quốc

Khi ủi bãi, bảo vệ Cô Lin, két nước trên tàu HQ 505 chỉ còn khoảng 60 khối nước. Anh em phải dè sẻn từng giọt nước, vì khoảng thời gian tháng 3, tháng 4 vẫn còn rất ít mưa ở Trường Sa. Buổi sáng, mỗi người được một ít nước để rửa mặt. Sau giờ huấn luyện buổi chiều họ mới được sử dụng hai chậu nước 5 lít để tắm qua và lau lại bằng khăn. Anh em thường phải tắm trước bằng nước biển, sau đó mới giội qua chút nước ngọt ít ỏi này để cơ thể bớt ngứa ngáy.

Mỗi ngày thường chỉ có chiến sĩ đứng gác là mặc quân phục chỉnh tề, còn những người khác đều mặc quần áo ngắn để hạn chế phải sử dụng nước tắm giặt.

Khẩu phần ăn trên tàu chủ yếu là đồ hộp khô khan. Thi thoảng biển lặng êm, thuyền trưởng Lễ mới cử anh em đi xuồng máy sang đảo Sinh Tồn gần đó để tiếp thêm gạo và rau khô. Anh em vẫn thường tếu táo với nhau khi nào về lại đất liền sẽ chỉ ăn “tiệc cao lương mỹ vị” là canh mồng tơi và rau muống xào, ngọn khoai lang luộc trừ cơm để bù lại những ngày quay quắt thèm nhớ rau xanh trên tàu.

Thuyền trưởng Lễ nhớ lại: “Những đêm thủy triều hạ, chiến sĩ trẻ xin phép tôi xuống bãi san hô Cô Lin đâm cá. Có hôm tay không cũng bắt được cá đang mắc cạn, vùng vẫy trong vũng san hô. Ngoài cải thiện được bữa ăn tươi, anh em chiến sĩ cũng thêm niềm vui khuây khỏa nỗi nhớ nhà. Tuy nhiên, cũng có hôm anh em ăn phải loại cá hồng, cá chình có độc tố. Chiến sĩ ngộ độc nặng bị sốt cao, đau nhức nằm rên hừ hừ ở góc tàu, nhưng khi có báo động chiến đấu lại cố nén đau, bò lên ụ súng...”.

Do khoang tàu bị trúng đạn, cháy khét và mất điện nên mười anh em ở lại bảo vệ tàu ăn nghỉ luôn trên mặt boong. Đây cũng chính là vị trí thuận lợi nhất để quan sát và có thể nhanh chóng sẵn sàng chiến đấu. Cứ năm anh em ngủ dưới một gầm bệ pháo 40 ly đã bị hỏng trong ngày 14-3-1988. Họ giăng bạt trên bệ pháo để giảm bớt cái nóng như thiêu đốt của mùa nắng ở Trường Sa. Và những tấm bạt này cũng đánh lừa các tàu đối phương đang lảng vảng gần đó tưởng rằng các khẩu pháo vẫn còn tác xạ được.

Những đêm thao thức khó ngủ, anh em nằm tâm sự với nhau chuyện đời lính và kỷ niệm ở quê nhà. Thuyền trưởng Lễ là người lớn tuổi trong anh em và đã có gia đình nên hay được các chiến sĩ trẻ bắt kể chuyện nhà.

Quê ở Thái Bình, ông lập gia đình từ năm 1975, mỗi năm chỉ loáng thoáng gần vợ được ít ngày. Những buổi hiếm hoi được gặp nhau, vợ ông hay tâm sự chồng cứ yên lòng ra đi, việc nhà để bà gánh vác. Chính tấm lòng người vợ đã giúp ông vững bước xông pha lên đường vì Tổ quốc.

QUỐC VIỆT
----------------------------------------------
Sau gần ba tháng bám trụ Cô Lin, đội mười người của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ được thay bằng đội chín anh em khác do chính trung úy Phạm Văn Hưng, đội trưởng pháo có mặt trên tàu HQ 505 trong trận chiến ngày 14-3-1988, chỉ huy. Và ngọn cờ Tổ quốc vẫn tiếp tục tung bay ...



Đón đọc Nhật ký Trường Sa - Kỳ 8: Tình đồng đội

Nhật ký Trường Sa - Kỳ 6: Nhật ký ở đảo Phan Vinh

Trích nhật ký của chiến sĩ hải quân Trịnh Ngọc Linh, sinh năm 1977, quê xã Vân Sơn, huyện Triệu Sơn (Thanh Hóa) hiện công tác tại Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Thanh Hóa - từng có một thời gian dài công tác ở Trường Sa.

Trịnh Ngọc Linh (giữa) cùng đồng đội tại đảo đá lớn B thuộc quần đảo Trường Sa - Ảnh: Trà Giang

Bài học lịch sử đầu tiên

Đảo chìm Phan Vinh B, 10-1-2005. Sau bốn ngày lênh đênh trên biển, mình cũng đã gần đến được đảo Phan Vinh B. Trước khi ra đảo, mình chưa hình dung đảo sẽ như thế nào. Lần đầu tận mắt nhìn thấy đảo như một bãi san hô nổi trên mặt nước, trên đó là những hầm công sự, vọng gác, nơi ăn ngủ của các chiến sĩ.

Mình đã thấy khỏe hơn, không còn say sóng nữa. Buổi sáng, tàu chạy từ đảo Phan Vinh B sang Sinh Tồn rồi ghé đảo Len Đao và dừng lại ngay vị trí xảy ra chiến sự năm 1988 làm chìm tàu vận tải và nhiều cán bộ, chiến sĩ đã hi sinh. Đồng chí trưởng tàu cho toàn bộ cán bộ, chiến sĩ trên tàu quân phục chỉnh tề làm lễ tưởng niệm các chiến sĩ đã hi sinh.

Mình cảm thấy xúc động bởi nhiều đồng đội hi sinh khi ấy có lẽ chỉ bằng tuổi mình bây giờ với bao ước mơ, hoài bão và dự định cho tương lai...

Phan Vinh 23-1. Sáng nay thủy triều xuống thấp, toàn bộ đảo đã nổi lên khỏi mặt nước, đây là thời điểm lý tưởng để đi bắt cá bò; loại cá có hai cạnh sắc nhọn phần đuôi như dao cạo, đeo bao tay rồi nhưng nếu cầm không chắc sẽ bị cắt đứt bao tay.

Lần đầu tiên mình được đi biển bắt cá. Mặc dù đã biết bơi từ nhỏ, nhưng mọi người nói ở biển có nhiều cái khó lường lắm, không như bơi hồ nên không thể chủ quan, phải làm quen dần dần. Trong đội đi đánh cá có anh Tấn là người có nhiều kinh nghiệm. Anh đã ở Trường Sa được năm năm, mọi người nói anh là “mắt thần” của đảo. Nhìn từ xa anh đã biết đàn cá đang ăn và thả lưới chính xác.

Không những thế, không cần rađa anh cũng nhận dạng tương đối chính xác các mục tiêu trên biển. Hôm nay chỉ đuổi bốn đàn mà được gần 200 con cá bò. Mỗi con bằng bàn tay xòe, nặng chừng 1,2-1,5kg, năm người thay nhau kéo cá về mà cũng mệt đừ. Mình chưa quen nên đi vào chỗ san hô cành, bị xước mấy chỗ ở chân.

Chừng này cá, cả đảo chắc ăn một tuần không hết vì không phải ngày nào cũng đi biển được mà còn phải huấn luyện, và quan trọng hơn nữa là không đi biển khỏi phải tắm để tiết kiệm nước ngọt. Bắt đầu vào mùa khô rồi nên 2-3 tuần mới được tắm một lần và mỗi lần tắm chỉ được một xô nước khoảng 10 lít, tắm cũng phải biết cách nên chừng đó nước mới đủ.

Tết đảo

Đảo Phan Vinh B - 30 tết. Hôm nay mới thật sự có không khí tết cổ truyền, sáng nay đảo gói bánh chưng, bánh giò chuẩn bị ăn tết. Tất cả mọi người đều phấn khởi, mỗi người mỗi việc nhưng vẫn phải cảnh giác canh giữ đảo nên vị trí gác không thể bỏ trống. Sống ở đảo lâu nên anh em có kinh nghiệm.

Những chiếc lá dong được chuyển từ đất liền ra từ hơn nửa tháng trước, nếu để nguyên sẽ bị mục nên anh em chọn những lá đẹp buộc vào ống nhựa tròn để khô tự nhiên. Hôm nay đem luộc lại nên lá rất dai, có điều bánh chưng sẽ không được xanh. Nhưng với người lính đảo như vậy là quá tốt rồi. Những chiếc bánh chưng vuông vắn, mâm ngũ quả và cành mai nhân tạo được ghép từ những vỏ sò, ốc sẽ vơi đi nỗi nhớ nhà.

Trưa nay, bữa cơm tất niên vui và ấm cúng, đảo nhộn nhịp hơn khi đón một số ngư dân Quảng Ngãi đánh cá không kịp về quê ăn tết ghé vào thăm và chúc tết cán bộ, chiến sĩ trên đảo. Những ngư dân vì mưu sinh, giữa biển khơi gặp những ngày sóng lớn nên không thể về đất liền, anh em trên đảo rất vui khi tiếp khách vào những thời điểm như thế này.

Mặc dù đang thiếu nước ngọt, nhưng anh em cũng đã giúp đỡ ngư dân 200 lít, lương thực và bánh kẹo để họ đón tết. Cũng nhờ vậy, anh em đã nhờ các ngư dân khi nào về đất liền gửi thư để báo cho gia đình biết về sức khỏe cũng như tinh thần đón tết tại đảo.

Đêm giao thừa: Vậy là đã bước sang năm 2005, âm lịch. Hôm nay, đảo tổ chức văn nghệ hái hoa dân chủ, do anh đảo phó văn nghệ phụ trách nên rất vui. Anh khéo kết hợp các chủ đề tình yêu, cuộc sống và công tác sẵn sàng chiến đấu của người lính Trường Sa khiến không khí trên đảo vui nhộn, đầm ấm, đoàn kết, cởi mở và gần gũi. Mình chúc anh em trên đảo mãi mãi đoàn kết như bây giờ, cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ vùng trời, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Đêm giao thừa về khuya, trên vọng gác hai chiến sĩ vẫn nghiêm trang dõi mắt về biển xa, số còn lại đã chìm vào giấc ngủ. Tiếng sóng biển như vẫn ầm ào vỗ vào bờ kè của đảo. Mình không ngủ được vì nhớ nhà nên muốn lưu lại một chút gì đó để nhớ mãi kỷ niệm về cái tết đầu tiên giữa biển trời Trường Sa.

Phải nói rằng người lính đảo có bản lĩnh, nghị lực kiên cường, xác định rõ nhiệm vụ nên dù có những lúc nhớ về gia đình, người thân nhưng đều gác qua một bên để đón giao thừa thật ấm cúng, vui vẻ. Mồng 1 và mồng 2 tết, đảo tiếp tục tổ chức các trò chơi như ném vòng cổ chai, ném bóng bàn vào chậu và thích nhất là chương trình “Ai là triệu phú” phiên bản Phan Vinh B do anh đảo phó chính trị mô phỏng, vận dụng từ chương trình của đài truyền hình Việt Nam (VTV3).

Sau nửa ngày kiểm tra, chúc tết và chứng nhận công tác bàn giao, chỉ huy của đảo, chiều nay tàu đã rời Phan Vinh để sang đảo Tốc Tan. Giờ đây, mình mới có thời gian nghỉ ngơi và quan sát mọi việc trên đảo. Cảm giác chóng mặt khiến mình nhìn vật gì cũng lắc lư, chao đảo. Mọi người nói đó là say đất phải 2-3 ngày mới hết.

Mỗi lần tàu đất liền ra như tiếp thêm sinh khí cho những người lính đảo. Sáu tháng nay mọi người mới biết được thông tin về gia đình, người thân. Nghe mọi người cười nói, thông báo thông tin từ đất liền ra, mình cảm thấy vui và phấn chấn. Nhưng vui nhất có lẽ là anh Đảm (y sĩ) nhận được tin vợ sinh con trai đầu lòng bốn tháng rồi, lại có cả ảnh của cháu nữa. Ngày anh ra đảo, chị mới mang bầu tháng thứ 6.

Chiều nay anh em trên đảo chuẩn bị bữa cơm giao lưu và chào đón các chiến sĩ mới từ đất liền ra. Những con cá bò to bằng bàn tay xòe được bắt từ biển nhốt sẵn trong lồng đem ra luộc chín đãi khách. Còn mọi người ở đảo thích nhất món cà muối và bí xanh luộc vì thời gian này biển động, hơi biển mặn theo gió tạt lên đảo nên rất hiếm rau xanh, đã lâu rồi mọi người không được ăn một bữa rau xanh thoải mái.

Không khí ấm cúng của bữa cơm đầu tiên kết hợp với khí hậu mát mẻ của biển cả làm mình có cảm giác ấm cúng như một gia đình. Anh em đã ở lâu trên đảo nhiệt tình giúp anh em mới ra sắp xếp tư trang, chỗ ngủ nghỉ. Tối nay mình lại tự nhận trực gác tăng ca để mọi người mới ra được nghỉ ngơi lấy lại sức. Với những con người như thế này, chắc chắn sẽ xây dựng được một “gia đình Phan Vinh B” đoàn kết, đầm ấm, hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

TRỊNH NGỌC LINH (Trà Giang lược trích)
_______________________

Những khoảnh khắc được ghi lại từ sự kiện hải chiến ngày 14-3-1988, tàu hải quân 505 thực hiện nhiệm vụ bảo vệ ngọn cờ chủ quyền trên đảo Cô Lin.

Nhật ký Trường Sa - Kỳ 5: Thư từ đại dương

Đây là thư anh Hoàng Văn Quân - trung đội phó Đại đội 4, Tiểu đoàn 886 (Trung đoàn công binh 83) - gửi cho vợ là chị Nguyễn Thị Hoa Dung, hiện đang sống tại Đà Nẵng. Tuổi Trẻ xin lược trích một phần những bức thư mang đầy cảm xúc về Trường Sa này.

Chị Hoa Dung và con gái Lan Anh - Ảnh: My Lăng

Đảo Sơn Ca, ngày 26-3-2005. Lại một tuần trăng nữa rồi... Mới ngày nào đó thôi thế mà giờ đây đã xa nhau đến cả trăm núi ngàn sông và cả đại dương nữa. Có phải trên đời này ông trời luôn bắt mọi người yêu nhau phải xa nhau để thử thách cuộc sống, thử thách tình yêu?... Nơi đại dương thân thương nếu cho anh một điều ước nhỏ nhoi, anh sẽ gửi những hình ảnh đẹp nhất ở nơi này về người anh yêu thương. Em hãy tưởng tượng biển đảo về chiều đẹp đến nhường nào. Những con sóng nối đuôi nhau xô vào bãi cát dài tạo nên những hình ảnh tuyệt đẹp khi hoàng hôn xuống. “Cuối tầm nhìn trời nước gặp nhau”. Lúc đó mặt biển trở thành một màu hồng rực rỡ...

“... Em chỉ nghe bài hát “yêu nhau mấy núi cũng leo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua” chứ chưa nghe “yêu nhau vượt biển muôn trùng sóng xô”. Vậy mà anh bắt tình yêu của em dành cho anh là như vậy đó. Liệu có phải tất cả những người yêu nhau trên thế gian này đều phải khổ như chúng mình không anh? Yêu anh, em đã vượt qua bao sóng gió của biển cả để được ở bên anh... Yêu nhau, chúng ta phải đi trên con đường gập ghềnh đầy sỏi đá. Giờ đến được với nhau rồi lại phải xa nhau. Dù cuộc sống có khổ cực đến đâu, em sẽ luôn luôn ở bên anh, động viên anh. Dù vật chất có thiếu thốn một chút song tình cảm, tình yêu chúng mình dành cho nhau không bao giờ thiếu, cho dù bây giờ chúng ta phải sống cách xa nhau hàng ngàn kilômet...

(trích thư chị Hoa Dung gửi anh Quân ngày 26-5-2005)

Cuộc sống nơi này vẫn bình thường. Ngày cũng như đêm quanh quẩn trên hòn đảo chỉ có mấy trăm mét vuông. Ăn uống thì đồ hộp với rau khô. Sinh hoạt thiếu thốn cả về văn hóa, tinh thần. Cũng may là còn có tivi xem nhưng chỉ đến 9g là phải tắt rồi. Báo chí thì ít. Còn về tắm rửa toàn dùng nước mặn, mỗi ngày một người ba lít nước ngọt mà thôi... Trăng đầu tuần không đủ sáng để viết thư đêm nên mỗi nét chữ mỗi đường. Em đừng cười và nói anh cẩu thả nghe.

Ngày 29-5-2005. Đêm nay cũng như bao đêm khác qua đi trên đảo vắng. Sự bắt đầu của biển chỉ là tiếng sóng. Và kết thúc cũng là tiếng sóng. Thư anh viết cho em cũng vậy. Bắt đầu là tình yêu dành gửi cho em và kết thúc cũng là tình yêu anh dành cho em... Anh chỉ biết vùi đầu vào công việc để vơi đi phần nào nỗi nhớ về em. Thư viết cho em anh gửi vào Quảng Nam không biết em có nhận được không? Anh gửi sáu lá cùng một lúc.

Từ ngày ra đảo đến nay anh đã viết cho em rất nhiều rồi nhưng anh chưa gửi được vì không biết em ở Đà Nẵng hay Tam Kỳ. Biển đảo xa xôi nên mỗi cánh thư về với đất liền thật là gian nan... Đến hôm nay anh cũng không nhận được thư em. Quả thực anh rất giận em nhưng lo cho em nhiều hơn. Vì không biết em bây giờ ra sao. Sức khỏe. Công việc. Bao nhiêu là câu hỏi luôn dồn nén trái tim anh...

Mong rằng chuyến thăm nhà của anh Việt lần này sẽ giúp chúng ta nối dài đường dây yêu thương, để anh được gửi tình yêu nơi đầu sóng ngọn gió về với em. Trong tình yêu của chúng ta mang cả hơi mặn của biển đó em ạ... Thời gian ghi thư rất ít vì công việc nhiều quá nên không phải anh không viết thư mà là không đủ thời gian để viết. Thành ra nhiều lá thư được viết trong rất nhiều ngày.

Hôm qua có anh bạn làm đầy tháng cho con. Cả đảo ngồi chúc mừng mà chẳng có cái gì cả. Chỉ là bữa cơm như thường ngày thôi nhưng ý nghĩa vô cùng. Anh mong ngày đó cũng sớm đến với chúng mình...

Ngày 2-6-2005. Đảo mùa này nắng và nóng lắm em ạ, mà anh thì không chịu được nắng nên đen lắm. Anh sợ lúc về con lại bảo bố ở Quảng Ninh về thì buồn cười lắm. Tháng 6 là tháng trọng điểm của công việc nên vất vả lắm. Ăn uống thiếu rau xanh nên sức khỏe có phần giảm. Ở ngoài này anh em đông vui nên cũng đỡ nhớ nhà. Ngoài những giây phút vui cùng anh em, còn lại là những khoảng thời gian nỗi nhớ cứ vây kín tâm hồn anh. Nhiều lúc anh muốn gào thét tên em giữa đêm tối mong xua đi phần nào nỗi nhớ... Trong đêm tối anh vẫn gọi thầm tên em hàng trăm lần. Không biết ở nơi đó em có nghe được tiếng vọng của con tim anh không? Mà ở nơi này anh vẫn luôn nghe em gọi anh trong những giấc mơ của anh...

Chiều ngày 2-6-2005. Đảo Sơn Ca mùa này trời chợt nắng chợt mưa. Thỉnh thoảng anh đi đánh cá được nhiều lắm. Cá to 3-4kg về luộc với nước me chua chấm mắm ăn với cơm. Em thấy có sướng không? Mỗi lần như thế anh lại phải ăn luôn cả phần em... Anh còn bắt được cả tôm hùm to ơi là to. Em đã được ăn tôm hùm bao giờ chưa? Ước gì những lúc này có em bên cạnh thì hạnh phúc nhường nào... Đảo anh mùa này trời chợt mưa chợt nắng/nên nỗi nhớ cứ nghiêng về một phía/Không có em anh giả làm con gái/một đầu anh đuổi bắt một đầu em. Em sẽ nói rằng Trường Sa xa lắm anh ơi/em đi hoài mà không tới/Không xa đâu em vì Trường Sa luôn bên anh mà/vẫn gần bên em đó...

... Sao thời gian này đêm nào cũng thấy hai mẹ con cả. Thấy chở em đi sinh. Anh mong về sớm hơn một chút để kịp đón con trong ngày trọng đại đó...

Ngày 3-3-2006. Chiều nay tụi anh đi làm về sớm thế là ra biển ngắm. Sải những bước dài trên cát mà lòng anh luôn nghĩ về em. Anh luôn hứa với lòng mình một ngày nào đó sẽ đưa em đi trên những dải cát dài của biển để được ngắm biển, để được ngồi bên nhau dưới cái nắng chiều của biển, để được ngắm hoàng hôn của biển. Những suy nghĩ đó làm anh thật hạnh phúc biết bao...

Đêm đảo xa, 25-4-2006. Thời tiết ngoài này bây giờ nóng lắm, trưa cũng như tối. Cứ nằm là mồ hôi ướt đẫm. Quạt mà vẫn không ngủ nổi. Cuộc sống tuy vất vả vô cùng nhưng anh cũng như mọi người luôn thoải mái vì ở nơi đầu sóng ngọn gió, nơi tiền tiêu của Tổ quốc, dù cuộc sống có khắc nghiệt một chút nhưng vẫn vững lòng bởi nơi đất liền đã có người vợ đẹp đảm đang, yêu thương, có con ngoan khỏe mạnh. Đó là hạnh phúc nhất đời người!

Lan Anh con thương nhớ của bố... Con có nhớ bố không? Bố đang thức đêm để tâm sự với hai mẹ con đây này... Sau này con lớn lên bố sẽ kể cho con nghe về cuộc sống vất vả của người lính, về biển đảo, vẻ đẹp của biển hiền hòa, thơ mộng và cả giận dữ, bão tố nữa con ạ. Hai mẹ con yêu thương nhiều của bố. Sắp đến giờ tắt điện rồi. Ngoài này dùng điện máy nổ nên anh đành dừng bút...

MY LĂNG thực hiện
__________

“Đêm giao thừa về khuya, trên vọng gác, hai chiến sĩ vẫn nghiêm trang dõi mắt về biển xa, số còn lại đã chìm vào giấc ngủ. Tiếng sóng biển như vẫn ầm ào vỗ vào bờ kè của đảo...”. Đó là những dòng nhật ký mô tả về cái tết ở Trường Sa.

Nguồn: Tuổi trẻ Online 

Nhật ký Trường Sa - Kỳ 4: “Nhật ký đảo” bằng ảnh

Trở về từ Trường Sa, thạc sĩ - bác sĩ Nguyễn Hà Ngọc (khoa ngoại chấn thương chỉnh hình Bệnh viện 175) mang theo bộ “nhật ký” bằng ảnh thật đồ sộ, với gần 7.000 bức. “Đó là cuộc sống đời thường, gian lao nhưng đầy sáng tạo của người lính giữa trùng khơi” - bác sĩ Ngọc nói.





Giá võng; phao đánh cá làm hộp đựng bàn chải; bốn chiếc quạt hỏng ráp lại thành một chiếc quạt...”cổ”; ly uống trà “làm nhiệm vụ” thay nắp phích...- Ảnh: Nguyễn Hà Ngọc

Vòng đời cây mướp
“Người ta đã thống kê hằng năm ở Trường Sa có tới 131 ngày gió mạnh từ cấp 6 trở lên và lượng mưa trung bình cũng rất lớn, trên 2.500mm. Phải chăng vì yếu tố thời tiết khắc nghiệt đó mà người Pháp còn gọi Trường Sa là đảo Bão Tố!” - bác sĩ Nguyễn Hà Ngọc mở đầu câu chuyện.

Thiên nhiên quá khắc nghiệt, muốn trồng được một cây người ta phải nâng niu, chăm sóc nó còn hơn chăm sóc một đứa trẻ từ lúc mới sinh. Chẳng hạn như cây mướp. Đầu tiên là khâu gieo hạt. Mọi người tận dụng keo, hũ đựng thức ăn, thùng chứa nhiên liệu và cả thùng đạn để làm chậu, gieo hạt: sáng bê ra cho cây tắm nắng, trưa đem cất vào bóng râm, tránh cái nóng gay gắt ngoài trời. Đợi khi cây cứng cáp mới đem ra gieo xuống các hốc đất đã chuẩn bị sẵn trên nền sỏi đá, rồi mọi người chia nhau chăm tưới mỗi ngày.

Cây ra hoa phải chọn ngày tốt ít nắng, ít gió cho “thụ phấn”. Bác sĩ Ngọc kể hồi mới ra đảo anh đã rất ngạc nhiên khi thấy người lính phải úp từng hoa đực lên hoa cái. Thì ra ở đất liền ong bướm làm việc ấy, còn ở đảo hiếm có ong bướm, côn trùng nào sống được nên phải nhờ tới bàn tay con người.

“Có lần chúng tôi mất hơn hai tháng gieo trồng, hi vọng một mùa mướp trúng đậm để “kế hoạch ăn rau” của anh em được cải thiện, nhân đó sẽ làm một bộ ảnh về dòng đời của cây mướp trên đảo. Rủi thay, cây trồng mới hơn tháng, gặp một trận “gió muối” mang hơi mặn tràn về, cả giàn mướp khô héo quăn queo.

Công trình coi như đổ biển!”, bác sĩ Ngọc nhớ lại. Không ghi tròn được vòng đời một cây mướp, nhưng lần đó anh đã có bộ ảnh sống động về hiện tượng thời tiết này: Những vạt rau muống cháy lá, cả một vườn chuối, vườn đu đủ mới bữa trước xanh um, bữa sau chỉ còn trơ lại thân cây!

Ngày qua ngày, với chiếc máy ảnh du lịch bỏ túi, xong công việc ở trạm xá Nguyễn Hà Ngọc lại lặng thầm ghi lại vòng đời của từng loài cây trái trên đảo. Ngọc nói trong quá trình chụp ảnh anh đã phát hiện hoa bàng vuông - loài cây được nhiều người xem như biểu tượng cho sức sống ở đảo - chỉ nở bung rạng ngời nhất vào ban đêm.

Để có trọn bộ ảnh về hoa bàng từ lúc đâm chồi, hé nụ đến lúc hoa nở bung viên mãn, nhiều đêm Ngọc đã theo dõi chu trình hoa nở, canh giờ giấc, rồi nhờ một đồng nghiệp dùng đèn pin rọi vào hoa để có ánh sáng cho anh bấm máy.

400 ngày và 7.000 bức ảnh

Bác sĩ Nguyễn Hà Ngọc chụp ảnh một cách tự nhiên. Nói đúng hơn là anh “viết” nhật ký bằng ảnh. Từ khi rời đất liền ra đảo (tháng 4-2010) đến lúc lên tàu trở về (tháng 5-2011), hầu như tuần nào anh cũng có vài trăm bức ảnh ghi lại những sự kiện đáng nhớ trong cuộc sống, sinh hoạt ở Trường Sa. Gộp lại, với gần 400 ngày công tác tại đảo, bác sĩ Ngọc đã hoàn chỉnh bộ tổng tập ảnh gần 7.000 bức.

Số ảnh này được anh chia theo từng chủ đề lớn như: chăm sóc sức khỏe người dân; đồ dùng sinh hoạt hằng ngày; dụng cụ lao động sản xuất; thực vật, động vật trên đảo... Tất cả được lưu trữ cẩn thận trong laptop và ổ cứng di động.

“Ở đây mọi thứ đều được tái chế để sử dụng, hầu như không thứ gì phải bỏ đi sau lần sử dụng đầu tiên, bởi anh em ai cũng hiểu đưa được một món đồ dùng từ đất liền ra đảo là cả một kỳ công” - bác sĩ Ngọc vừa nói vừa cho tôi xem những bộ ảnh “thể hiện tinh thần tiết kiệm và sáng tạo” của người Trường Sa: từ cái chậu trồng cây, thau rửa mặt, hứng nước mưa, thúng ấp trứng gà cho tới bộ dụng cụ hốt rác khá hoàn chỉnh, có hẳn tay cầm đều được tạo ra từ nửa dưới của chiếc thùng đựng nhiên liệu.

Chiếc đèn bàn ngộ nghĩnh có thể mở ra xếp vào, không tán phát ánh sáng, làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của người xung quanh được làm từ ba thứ: ống tuýp nước, bản lề cửa đã hỏng và chiếc mũ cối. Rồi chiếc quạt gió như đồ cổ, chân đế màu xanh, cánh quạt màu đỏ, ốp thân quạt lại màu vàng, được lắp ghép từ bốn chiếc quạt đã hỏng những bộ phận khác nhau. Ấn tượng nhất là cái giá võng được đóng từ nhánh cây bàng vuông, mảnh ván côppha, kiện hàng...

“Ở đảo mọi người rất thèm có được cái giá võng để dễ dàng di chuyển, tránh mưa gió thất thường, cho nên thứ gì có thể đóng được là anh em đều tận dụng để làm. Trông lắp ghép buồn cười vậy nhưng quý lắm, cả đảo có chừng 5-6 cái thôi, anh em thay nhau mà nằm” - bác sĩ Ngọc kể.

Bộ sưu tập của bác sĩ Ngọc còn “kể” nhiều chuyện rất đời thường, mà anh nói chỉ muốn giữ làm kỷ niệm cho riêng mình. Tỉ như chuyện một người lính đang tăng gia sản xuất, để lộ chiếc quần đã giãn dây lưng, sắp tuột tới nơi. Chuyện mấy anh em bộ phận này tiếp khách bộ phận khác bằng bộ ly, bình chắp vá: phích nước sôi và bình trà không nắp, mọi người dùng cốc đậy lên để giữ nhiệt. Ly uống nước thì không đủ dùng, phải bổ sung bằng mấy lon thịt hộp đã khui. Xa hơn một chút trong góc bếp là con dao đã gãy cán gỗ, anh em lấy ống nước bằng sắt hàn nối vào dùng tạm...

Điều lạ, ít thấy anh chụp cảnh Trường Sa hiện đại với những tuôcbin điện gió quay tít và những mảng khối kiến trúc kiên cố, hiện đại rực sáng lung linh giữa mênh mông trời biển khi đêm đến. Bác sĩ Ngọc lý giải: trong gian khó mới thấu hết tình người và anh muốn giữ cho riêng mình một Trường Sa như thế!

TẤN ĐỨC
___________________

... Anh luôn hứa với lòng mình một ngày nào đó sẽ đưa em đi trên những dải cát dài, để được ngồi bên nhau dưới cái nắng chiều, để được ngắm hoàng hôn của biển. Những suy nghĩ đó làm anh thật hạnh phúc biết bao...

Nguồn: Tuổi trẻ Online 

Nhật ký Trường Sa - Kỳ 3: Ký ức pôngtông

“Hồi đó ra đảo chúng tôi thường ở một tăng (18 tháng), có người ở hai tăng mới được về phép. Còn tôi trải qua bốn cái tết liên tục ngoài đảo, từ lúc là trung úy (năm 1988) cho tới khi về bờ (năm 1991) thì sắp lên đại úy. Cả năm trời không có tàu ra thăm” - trung tá Phạm Hùng Vĩ, khi ấy là trưởng pôngtông (một loại sà lan được neo cạnh các bãi san hô) chốt giữ đảo Đá Đông từ tháng 8-1988, kể.

Pôngtông (bìa phải) cạnh nhà lắp ghép tường xây đá chẻ và nhà mái vòm ở Trường Sa - Ảnh tư liệu

Tết sớm

Thứ kết nối duy nhất với đất liền là đài Vec 206 của Liên Xô buộc vào ăngten cột trên “sân thượng” pôngtông. Pin hết lại trút ra, đổ nước muối vào phơi nắng đến tối rồi nghe tiếp. Trước tết năm 1989 nửa tháng, pôngtông DL10 mới có tàu ra cấp một con heo và ít kẹo, mứt ăn tết sớm.

Giao thừa, anh em quây quần bên chiếc đài Vec nghe Chủ tịch nước chúc tết. Nhưng sóng yếu quá, nghe tiếng được tiếng mất. Rồi mọi người thi nhau kể chuyện về quê hương mình, gia đình mình, cả những ước mơ và cùng nhau phá lên cười.

Anh Vĩ nhớ lại những giây phút buồn nhất và cũng lãng mạn nhất: “Cứ trời quang là anh em lên nóc pôngtông ngó qua đảo Trường Sa Đông. Tôi ngồi nhìn về hướng bắc, cố hình dung xa xa tận đường chân trời đó là đất liền. Bao nhiêu nỗi nhớ dành hết cho nhà, cho lũy tre, cho làng xóm, cho hình ảnh những người nông dân trên bờ đê đường làng...”.

Mỗi lần tàu ra chỉ cập đảo mấy tiếng, viết thư không kịp. Anh em buồn quá, nhớ nhà quá cứ viết sẵn thư nhưng không được đề ngày. Phần tái bút nhiều khi dài gấp mấy lần phần thư vì trong thời gian chờ tàu ra lâu quá. Có người gửi một lúc 12 lá thư.

Hồi ấy không có phong bì. Tem thư thì hiếm lắm. Bộ đội tự làm phong bì. Tem thì dặn người nào thân thân: “Nhớ dán giúp cái tem, tôi cho ông ốc nón, cá khô”. “Có người anh em, bố mẹ mất nhưng phải gần năm sau mới nhận được thư người nhà báo” - anh Vĩ khẽ lắc đầu khi nhớ lại quãng thời gian quá nhiều gian khổ ấy. Người chỉ huy ngày ấy chùng giọng khi kể về cô em gái mất hồi tháng 1-1990 nhưng đến cuối năm 1991 anh mới biết tin...

Giữa bốn bề là sóng nước, cách giải trí thông dụng nhất của anh em là đi bắt tôm bắt cá khi thủy triều xuống. “Ngày đó Trường Sa tôm cá nhiều vô kể - anh Vĩ nói - Cá bơi sát mép đảo. Tôm hùm một con 5-6kg, râu dài cả sải tay. Ăn nhiều quá cũng chán, anh em bỏ hết phần thịt, lấy phần vỏ tôm phơi khô làm quà cho tàu ra. Nước lên thì ngồi ngay trên pôngtông câu cá. Tha hồ băm làm chả, rán, luộc, nấu. Sau này anh em chế ra cối giã cá, xay gạo, làm bánh cuốn, chả cá, làm bún...”.

Thương đồng đội ở các đảo khác ăn uống kham khổ quá, nhiều bữa 3g sáng trưởng pôngtông Vĩ đã dậy, khi thì làm bún, khi thì làm bánh cuốn, chả cá... rồi gọi điện thoại để anh em tới hoặc chèo xuồng bơi qua quãng đường dài 3-5 tiếng mang đến cho anh em ở các điểm đảo.

Những người ở “nhà” giữ đảo

Ở trên pôngtông một thời gian, anh Hoàng Văn Thạo lên nhà cao cẳng - cách anh em vẫn gọi vui về thế hệ nhà gỗ năm 1988 ở Trường Sa - của đảo Đá Lớn nhận nhiệm vụ làm đảo phó chính trị. Nhà rộng chừng 30m2, lợp mái tôn. Sàn ghép gỗ. Các phòng không có vách ngăn. Chỉ khi nhân viên cơ yếu làm việc, anh em dùng miếng vải lau súng làm vách ngăn.

“Giường” là sàn gỗ. Tối, anh em trải chiếu nằm chung. Sóng và gió lay nhà rung từng phút. Quần áo anh em bị nước biển làm mục rất nhanh, dù mỗi người đã có thêm hai bộ “quần áo chống rách”. Rách chỗ nào cứ túm lại vá chằng vá đụp.

“Hồi đó không có điện thoại, thư từ cũng khó khăn vì một năm may ra mới có tàu ra một lần. 15 người mà 14 người có thư là một người kia sẽ bỏ ăn, ngồi một góc, mặt buồn hiu. Ai hỏi tới là khóc ngay. Có người đọc thư nhiều tới mức nhàu cả lá thư, bợt nhòa cả chữ”, anh Thạo kể. Có những tờ báo chưa đọc đã bị cắt lủng những miếng vuông hay hình chữ nhật rất cẩn thận. Sau này mới biết đó là hình ảnh những cô gái xinh tươi bị một vài anh chàng láu cá cắt giấu mất trong balô.

Năm 1989, anh em mới được cấp hai băng nhạc Bảo Yến và một máy cassette Philips. Mỗi lần máy hết điện, mọi người phải thay nhau quay gamônô mới có điện nghe tiếp. Cái thời còn đầy rẫy thiếu thốn, anh em chia sẻ cho nhau nghe từng băng nhạc. Một điểm đảo nghe 20-25 ngày rồi chuyển băng cho các điểm đảo khác nghe. Quanh đi quẩn lại chỉ có hai cái băng, anh em nghe cho đến lúc băng nhão nát mới thôi.

Ngày đó đi từ điểm này qua điểm kia trên một đảo hoặc từ đảo này qua đảo khác chỉ có xuồng cao su. Nhưng rồi xuồng cao su cũng bị sụt hơi hoặc bị thủng do va vào đá san hô nhiều lần. Ngoài đảo không có bơm. Thế là người chuyển băng phải đi bộ. Chỉ cần lương khô, bình tông nước và một que sắt làm gậy chống.

“Ớn nhất là đạp trúng san hô non. Nó giòn như bánh tráng, thụt xuống là chân tay bị cắt tơi tả. Đi từ đầu đến cuối đảo mất ba tiếng, còn từ điểm nọ qua điểm kia mất hai tiếng! Phải lựa lúc thủy triều cạn ban ngày mới được đi. Lúc đi nước rút xuống còn lấp xấp ngang đùi, đi một nửa đường thì nước cạn tới cổ chân. Tới nơi chuyển băng cho anh em thì nước đã lên tới đùi, phải ở lại”, anh Thạo kể.

“Còn pôngtông là còn đảo!”

Cũng trong năm 1989 ở đảo Đá Đông, anh Thạo và đồng đội đã chứng kiến cơn bão kinh hoàng nhất trong đời binh nghiệp. Bão và triều cường dồn dập ập đến. Mọi người khuân đá san hô vào các ngăn của pôngtông để đánh chìm nó xuống bãi san hô gần mép đảo.

Nhưng giữa cơn cuồng phong của đại dương, pôngtông mỏng manh như một hạt nước mưa. Anh em đứng trên nhà lâu bền (thế hệ đầu) lo lắng nhìn pôngtông vật lộn giữa mù mịt sóng nước. Chỉ huy đảo gọi qua điện tín: Anh em cố gắng bảo nhau chống chọi đến cùng, đoàn kết giữ vững niềm tin.

Đáp lại là giọng của trưởng pôngtông rất điềm tĩnh và dứt khoát: “Anh em trên đảo cứ yên tâm, còn pôngtông là còn đảo. Kể cả trôi ra biển chúng tôi cũng quyết giữ pôngtông!”.

Khi pôngtông trôi cách đảo 50m thì anh em trên pôngtông không bắt được sóng nữa. Gió bão và sóng bão cắt đứt đường truyền tín hiệu. Một đợt sóng dữ cùng với gió đẩy pôngtông trôi ra tận mép xanh (cách đảo 150m). Pôngtông cứ mờ mờ ảo ảo trôi xa dần, xa dần, cho đến lúc anh em trong đảo không thể nhìn thấy cả cái hình ảnh mờ ảo ấy được nữa.

Giữa những phút giây chết chóc, căng thẳng và ảm đạm đó, ngoài biển vang lên tiếng súng AK bắn chào vĩnh biệt! Trong đảo lặng đi...

Gần ba tiếng sau bão tan. Cả đảo rưng rưng nhìn ra phía biển xa rồi ánh mắt rực lên niềm sung sướng ngỡ ngàng... Pôngtông vẫn bập bềnh giữa nền trời và biển. Gần 180 phút căng thẳng tột độ và vật lộn với sóng, gió, bão, khoảnh khắc mà mọi người cứ ngỡ hãy sống những giây phút cuối vì Tổ quốc thì đột ngột triều cường rút. Gió nhẹ. Sóng dịu. Bão tan! Trên nhà lâu bền, anh em chạy túa ra reo hò, ôm nhau bật khóc.

MY LĂNG

--------------------------------------------------
Sau một năm công tác ở Trường Sa, tài sản lớn nhất mà một bác sĩ mang về là 7.000 bức ảnh. Cuộc sống ở đảo xa được anh lưu lại bằng những khoảnh khắc ánh sáng đầy hiện thực...

Nguồn: Tuổi trẻ Online 
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...