Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lý luận và thực tiễn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lý luận và thực tiễn. Hiển thị tất cả bài đăng

4/4/13

Tướng Lê Mã Lương bàn về ba “kế sách” để Việt Nam mạnh lên ở Biển Đông

(GDVN) - "Nếu chúng ta càng kiềm chế, càng bị lùi bước và các tàu của Trung Quốc càng lấn tới thì nguy cơ mất đảo của chúng ta rất cao. Chúng ta đủ sức để gỡ được tình thế này. Vấn đề là chúng ta có kiên quyết làm hay không, thể hiện thái độ cứng rắn hay không? Tại sao các nước làm được mà tại sao chúng ta không làm được khi lực lượng hải quân của chúng ta không phải là yếu?", tướng Lê Mã Lương đặt ra câu hỏi.

Không bao giờ Trung Quốc dừng tham vọng làm bá chủ Biển Đông

Là một vị tướng trải qua nhiều trận đấu ác liệt, trong 6 năm đã 3 lần bị thường liên tiếp nhưng ông vẫn cố gắng luyện tập, rèn luyện sức khoẻ để ra trận. Thời bình, ông vẫn luôn trăn trở về các vấn đề của đất nước. Ông là anh hùng Lê Mã Lương. Cùng với những câu hỏi về lá thư của học sinh lớp 4 gửi lãnh đạo Trung Quốc, anh hùng Lê Mã Lương còn bàn về những "kế sách" để Việt Nam có thể mạnh lên ở Biển Đông.

Cabin tàu QNg 96382 bị tàu Trung Quốc bắn cháy rụi ngày 20/3 (Ảnh: báo Người lao động)

Trước những hành động của TQ trên Biển Đông trong thời gian vừa qua, tướng Lê Mã Lương cho hay ông không bất ngờ trước hành động bắn cháy cabin tàu cá của Việt Nam vừa qua và xua đuổi cũng như gây thiệt hại cho các tàu cá của Việt Nam trước đó. “Trên Biển Đông, Trung Quốc càng ngày càng lấn tới. Thực chất của hành động vừa qua là nằm chuỗi hành động của Trung Quốc suốt từ năm 1974 đến nay với các nước trong khu vực Biển Đông, đặc biệt là với Việt Nam.

Trong những ngày qua, trong thời gian tôi đi công tác mấy tỉnh phía Bắc, tôi có nói với những người đồng đội của tôi là: “Với Trung Quốc, đã từng chạm trán với quân Giải phóng Trung Quốc trong những ngày bảo vệ biên giới nên chúng ta đều rất hiểu. Bản chất của giới cầm quyền Trung Quốc là tận dụng những điều kiện, cơ hội, sự yếu đuối của các nước láng giềng để đưa ra những yêu sách dù nó cực kỳ vô lý để tạo ra sức ép. Diễn biến trên Biển Đông cho thấy điều này rất rõ.

Trung Quốc không những dùng những tàu được trang bị vũ khí bộ binh mà còn dùng cả những tàu chiến bao vây gây sức ép và trên không, máy bay chiến đấu, trực thăng quần đảo trên cả những đảo chìm và cả một số đảo khác của Việt Nam. Và không bao giờ Trung Quốc dừng tham vọng làm bá chủ Biển Đông. Đó là điều hết sức phi lý trong quan hệ quốc tế, là kiểu dùng sức mạnh để uy hiếp các nước láng giềng.

Những người đồng đội của tôi mới nói rằng: “Nhìn sang Philippin có vậy không khi Trung Quốc có những vi phạm chủ quyền của họ? Họ đã thể thiện tình cảm của mình một cách nhất quán trong việc bảo vệ từng tấc đất của họ. Họ đã có những hành động và thái độ rất rạch ròi”.

Hành động bắn cháy tàu cá của Việt Nam vừa qua phải bị lên án mạnh mẽ

Theo tướng Lương, quan hệ quốc tế hiện nay rất phức tạp và đan xen vì mỗi nước có quyền lợi dân tộc riêng. Tuy nhiên, nếu cứ nhường nhịn Trung Quốc như thế này thì chúng ta ngày càng rơi vào thế bị động, ảnh hưởng đến tâm lý người Việt Nam ở bất kỳ lứa tuổi nào.

Hành động bắn cháy tàu cá của Việt Nam vừa qua phải bị lên án mạnh mẽ. Và nếu chúng ta càng kiềm chế, càng bị lùi bước và các tàu của Trung Quốc càng lấn tới thì nguy cơ mất đảo của chúng ta rất cao. Chúng ta đủ sức để gỡ được tình thế này. Về mặt chiến thuật chúng ta làm được. Vấn đề là chúng ta có kiên quyết làm hay không, thể hiện thái độ cứng rắn hay không? Tại sao các nước làm được mà tại sao chúng ta không làm được khi lực lượng hải quân của chúng ta không phải là yếu?



Thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Theo tướng Lê Mã Lương, diễn biến Biển Đông có lúc cao trào, có lúc lắng dịu nhưng lắng dịu là để rồi tạo ra xung đột mà nguyên nhân không xuất phát từ Việt Nam. Chúng ta có hàng vạn tàu đánh cá dù hiện đại, dù thô sơ những vẫn ra biển đánh cá mưu sinh và trực tiếp khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa.

Để bảo vệ những ngư dân không còn bị xua đuổi và bị gây thiệt hại trên vùng biển chủ quyền của mình, tướng Lương “hiến kế”: “Một là Nhà nước phải bảo vệ sự yên lành, các phương tiện và đảm bảo cuộc sống của những ngư dân.

Thứ hai là Nhà nước phải thành lập những đơn vị, tổ hợp, tập đoàn đánh cá có trang bị những vũ khí thô sơ và phương tiện thông tin để bảo vệ mình chứ không để gây hấn với ai. Những ngư dân còn đóng vai trò là những dân quân bảo vệ biển đảo của tổ quốc Thứ ba là Quân đội nhân dân trực tiếp là Hải quân vừa thực hiện nhiệm vụ bảo vệ biển đảo Tổ quốc vừa gắn bó chặt chẽ với các tập đoàn đánh cá. Khi đó sức mạnh của Hải quân được nhân lên vì dó là sức mạnh tổng hợp giữa dân quân tự vệ với Hải quân".

Anh hùng Lê Mã Lương cho hay: "Nếu có tàu vi phạm thì các tàu đó bao vậy một cách hoà bình để nhắc nhở tàu vi phạm ra khỏi vùng chủ quyền. Với đối phương thì phải có lực lượng áp đảo thì đối phương mới lùi bước với một thái độ bớt hung hăng hiếu chiến.

Ngoài ra, được biết hiện một số tàu và đảo của chúng ta đã được trang bị camera để quay lại sự vi phạm chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông. Đó là những thước tư liệu vô cùng quý giá, làm căn cứ để tuyên truyền chủ quyền của chúng ta ra quốc tế. Và việc này cần phải được tăng cường hơn nữa".

Hồng Chính Quang

Một người Việt gốc Hoa: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam

(GDVN) - "Tôi không ghét người Trung Hoa mà cũng không thù người Việt, tôi mong muốn được sống tại nơi mà tôi lớn lên một cách hòa bình và chung tay góp sức xây dựng quê hương tổ quốc..."

LTS: Tâm sự này được đăng tải đã lâu trên một diễn đàn mạng xã hội nhưng chưa được biết đến rộng rãi. Nhân việc Trung Quốc leo thang gây hấn trên vùng chủ quyền biển đảo Việt Nam, GDVN xin trích đăng lại tâm sự này để nhiều người Trung Quốc thấy rằng: Lẽ phải bao giờ cũng chỉ có một.


Mấy ngày nay xôn xao về việc tranh chấp Việt Nam và Trung Hoa về Hoàng Sa… Với vai trò là một người Hoa sinh sống tại Việt Nam tôi tự cảm thấy điều đó là phi lý và không công bằng, chúng tôi sống hòa bình, sống chan hòa không hề có sự đối xử ngược đãi Việt – Hoa, đừng cất cớ một cách vô tội vạ vì như thế sẽ làm chính chúng ta bị ô nhục như một thời kỳ Cách mạng văn hóa…

Bạn là người Việt nhưng tôi là người Việt gốc Hoa. Tôi đang sống ở đất Việt, tôi đang ăn ở nước Việt….

Tôi không ghét người Trung Hoa mà cũng không thù người Việt, tôi mong muốn được sống tại nơi mà tôi lớn lên một cách hòa bình và chung tay góp sức xây dựng quê hương tổ quốc.

Việt Nam là cứ mỗi sáng nhìn trên báo để cảm nhận sự hạnh phúc quê hương hướng về Hoàng Sa và Trường Sa hôm nay nhiệt độ bao nhiêu? Nhưng qui chiếu nhìn lại, tôi không đồng tình cách cư xử của Trung Hoa...

Tôi cảm thấy rất nực cười và hơi bị hổ thẹn bản thân vì mình là người Hoa, bản thân sinh sống và làm việc tại Tp HCM, hàng ngày tôi đi làm, vui chơi ấy thế không hề gặp sự trở ngại về dân tộc và sự phân biệt đối xử Việt – Hoa.

Đất nước chúng tôi thống nhất một dải bằng sự chiến đấu kiên cường, giành lại từ sự chiếm đóng của 1000 năm tàn bạo, 100 năm tàn ác và 30 năm chiến tranh. Không gì hơn, chúng tôi cộng đồng những người dân Việt Nam, mong mỏi sự hòa bình và chung sống lẫn nhau trên tinh thần tôn trọng... 54 dân tộc là 54 sợi chỉ anh em được gắn kết bên nhau để đưa đất nước tiến lên tươi sáng, mãi mãi vẫn giữ một lời thề: trung thành quyết tử cho tổ quốc quyết sinh. Việt Nam là một, 54 dân tộc Việt Nam là một, và Việt Hoa cũng là một cộng đồng chung sống hòa bình.

Anh mạnh anh dùng áp lực để khống chế nhưng không thể che nổi miệng đời, anh có thể sử dụng nhiều vũ lực áp đảo Việt Nam chúng tôi nhưng không thể lấp đi sự ô nhục của chính mình là sự ăn cướp…

Cùng nắm tay nhau Việt Hoa một kề, đừng cách ly dân tộc, đừng tách biệt Việt Hoa, cùng nhau đấu tranh vì lẽ phải bởi vì dù chúng tôi là dân tộc nào đi nữa thì chúng tôi vẫn là một người con Việt Nam, sống chết vì một Việt Nam độc lập và hùng cường.

Các thanh niên Việt Nam, dù bạn là người Hoa hay người Việt các bạn đều sống trên một mảnh đất hình chữ S cong cong, có hai quần đảo Hoàng Sa thân yêu và Trường Sa yêu quí, hãy hành động có lý trí và sáng suốt vì tổ quốc, mỗi ngày nhìn về Hoàng Sa cũng hun đúc cho tinh thần yêu nước vực dậy, mỗi ngày hãy tự nghĩ rằng Trường Sa là của Việt Nam càng tăng thêm tinh thần cho các chiến sĩ…

Chúng tôi yêu Việt Nam – Trường Sa của Việt Nam – Hoàng Sa của Việt Nam.

Just/(một người Việt gốc Hoa)

15/3/13

Việt Nam cần thành lập ngay lực lượng giám sát biển

(Báo Giáo dục Việt Nam ) - Đây là đề xuất của các nhà nghiên cứu thuộc Quỹ Nghiên cứu biển Đông gồm các ông Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Đức Hùng và Dư Văn Toán.

Trước việc Trung Quốc (Trung Quốc) liên tục xua tàu hải giám và ngư dân ra biển Đông vào các vùng tuyên bố chủ quyền của nhiều nước, các nhà nghiên cứu thuộc Quỹ Nghiên cứu biển Đông gồm các ông Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Đức Hùng và Dư Văn Toán cho rằng, Việt Nam (Việt Nam) cần có ngay một lực lượng giám sát biển để có thể ngăn chặn âm mưu gặm nhấm, lan rộng vùng hoạt động của các tàu thuyền Trung Quốc.

Tàu cá Trung Quốc thường tổ chức thành các biên đội kéo ra quần đảo Trường Sa đánh bắt, thăm dò trái phép và do thám...

- Việc Trung Quốc liên tục xua tàu tuần tra dưới danh nghĩa “tàu hải giám” ra biển Đông của Việt Nam trong những ngày này nhằm mục đích gì?

- Việc làm của Trung Quốc trong giai đoạn hiện nay đã khác xưa, họ chấp nhận có thể có xung đột tàu dân sự. Các tàu của Cục Hải dương Trung Quốc đều công bố hải trình của mình trên mạng thông tin hàng hải toàn cầu, nhằm chứng minh sự hoạt động của Trung Quốc trên các tọa độ biển ngoài quy ước quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 82). Ngoài ra, chúng ta có thể hiểu những việc làm nói trên còn nhằm tăng cường hoạt động kiểm soát và có thể thêm cả hoạt động tình báo, để có cơ hội là có thể tấn công chiếm các đảo đá trên biển Đông.

- Trung Quốc luôn núp dưới danh nghĩa là tàu phi quân sự để độc chiếm biển Đông, Việt Nam sẽ phải sử dụng lực lượng nào để đối phó?

- Trung Quốc đã không còn núp bóng nữa, mà hoạt động xâm chiếm công khai trên biển Đông. Tàu họ có mã số, có vệ tinh hàng hải, tọa độ đường đi lại công khai... Việt Nam nên nhanh chóng lập một lực lượng giám sát biển tổng hợp lấy nòng cốt từ Cục Kiểm ngư, Cảnh sát biển...

Ngoài việc thành lập lực lượng tàu giám sát biển tổng hợp như trên, Việt Nam cần nhanh chóng phổ biến bản đồ đường ranh giới trên biển, tỏ rõ quan điểm của Việt Nam về việc phân chia biển Đông theo UNCLOS 82. Việc này rất quan trọng, vì có thể làm cơ sở để xử lý các tàu Trung Quốc và tàu nước ngoài xâm phạm các vùng biển của Việt Nam. Cần phải bám chặt vào các điều khoản về quyền tài phán của tàu thuyền trên các vùng biển theo UNCLOS 82 và các công ước, luật quốc tế khác.

Các tàu hải giám Trung Quốc tuy là tàu quân sự trá hình dân sự, nhưng vẫn thuộc các tàu thuyền đặc biệt khi hoạt động trong các vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, vẫn phải tuân theo quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển đó. Đây là những cơ sở để Việt Nam có thể đuổi các tàu thuyền hải giám của Trung Quốc khi chúng hoạt động trên các vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Việt Nam có bờ biển dài và khoảng cách theo chiều ngang ra các vùng biển ngắn, có thể kết hợp sử dụng lực lượng tàu giám sát với máy bay trực thăng hoặc máy bay quân sự. Đặc biệt, máy bay trực thăng có thể thường trực trên các đảo dọc bờ biển để có thể nhanh chóng thực hiện việc xua đuổi tàu thuyền xâm phạm kịp thời. Việc bố trí các sân bay trực thăng trên đảo có thể giảm bớt thời gian tiếp cận tới các vùng biển xa và có thể kịp thời tiếp tế nhiên liệu cho các máy bay khác...

- Là những nhà nghiên cứu tình hình trên biển Đông, Quỹ Nghiên cứu biển Đông có dự đoán gì đối với những bước đi tiếp theo của Trung Quốc?

- Vùng hoạt động phi pháp của các tàu Trung Quốc rồi sẽ lan tỏa đến các vùng biển gần Việt Nam cùng các tàu cá, và họ sẽ cố tình để xảy ra những va chạm theo chiến thuật “lấy thịt đè người” nhằm đe dọa, với mục đích để các ngư dân Việt Nam không dám ra khơi và Trung Quốc độc chiếm vùng biển này.

Ngoài việc trên, Trung Quốc còn muốn dương oai sức mạnh đội tàu biển của họ, đồng thời vẫn tiếp tục chiến lược gặm nhấm và hợp pháp hóa “đường lưỡi bò” bằng các hoạt động ngụy tuyên truyền mà lâu nay họ vẫn thực hiện đối với chúng ta.

Trung Bảo/Lao Động

26/8/12

Các nước ven Biển Đông cần tuân thủ UNCLOS

(BÁO ĐẤT VIỆT) - Theo giáo sư Robert Beckman, một trong những nguyên nhân gây căng thẳng ở Biển Đông là những yêu sách thái quá và không tuân theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982.

Giáo sư Robert Beckman - giám đốc Trung tâm Luật quốc tế và giáo sư thỉnh giảng của Đại học Quốc gia Singapore.

Trong một bài viết đăng trên mạng Eurasia Review ngày 8/8, Giáo sư Robert Beckman - giám đốc Trung tâm Luật quốc tế và giáo sư thỉnh giảng của Đại học Quốc gia Singapore - cho rằng nếu tuyên bố chủ quyền biển phù hợp với UNCLOS, các bên hữu quan sẽ làm rõ được các khu vực chồng chéo. Điều này sẽ mở ra giai đoạn đàm phán nhằm đạt được những thỏa thuận sơ bộ về hợp tác phát triển.

Tầm quan trọng của UNCLOS

Theo Giáo sư Robert Beckman, khi theo dõi một loạt các hành động và phản ứng của các quốc gia đang gây căng thẳng gia tăng ở Biển Đông, người ta thấy rõ chúng thường không tuân thủ luật pháp quốc tế và đôi khi bị ảnh hưởng bởi “trò chơi chính trị”. Trong khi đó, Công ước LHQ về Luật biển (UNCLOS) năm 1982 lại có tầm quan trọng cơ bản đối với việc giải quyết những tranh chấp Biển Đông vì ba lý do.


Thứ nhất, UNCLOS mang lại một khuôn khổ pháp lý chi tiết về các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia, liên quan đến mục đích sử dụng các đại dương. Tất cả các quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông (Trung Quốc, Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam) đều tham gia Công ước LHQ về Luật biển và đương nhiên bị ràng buộc bởi các quy định của UNCLOS về pháp lý.

Thứ hai, UNCLOS quy định một quốc gia ven biển có lãnh hải rộng 12 hải lý tính từ bờ biển của nước đó. Lãnh hải là vùng biển ven bờ nằm giữa vùng nội thủy và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia (vùng đặc quyền kinh tế). Chủ quyền của quốc gia đối với vùng lãnh hải không phải là tuyệt đối như đối với các vùng nước nội thủy, do có sự thừa nhận quyền qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài. Đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc lãnh hải, quốc gia ven biển có toàn quyền định đoạt. Theo UNCLOS, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) là vùng biển mở rộng của các quốc gia ven biển hay của quốc gia quần đảo, nằm bên ngoài và tiếp giáp với lãnh hải. Vùng biển này có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở, ngoại trừ những chỗ mà các điểm tạo ra đó gần với các quốc gia khác. Trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia sở hữu có đặc quyền khai thác và sử dụng các tài nguyên biển. Nó là một trong các vùng mà quốc gia có quyền chủ quyền.

Thứ ba, UNCLOS quy định các vùng biển mà các quốc gia ven biển tuyên bố chủ quyền, tính từ đường bờ biển và các cấu hình địa lý khác. Thềm lục địa là vành đai mở rộng của mỗi lục địa, vốn là vùng đất liền trong các thời kỳ băng hà còn hiện nay là các vùng biển tương đối nông và các vịnh. Chiều rộng của thềm lục địa dao động cách đáng kể: thềm lục địa lớn nhất là thềm lục địa Siberia ở Bắc Băng Dương kéo dài tới 1.500 km. Biển Đông cũng nằm trên một khu vực mở rộng khác của thềm lục địa, nối liền các đảo Borneo, Sumatra và Java với châu Á đại lục.

Tuyên bố chủ quyền biển như thế nào?

Vậy làm thế nào để các nước có thể làm rõ tuyên bố chủ quyền trên biển?

Một trong những nguyên nhân chính gây căng thẳng ở Biển Đông là tuyên bố chủ quyền biển của các nước hữu quan còn mơ hồ hoặc không hoàn toàn phù hợp với quy định của UNCLOS.

Nếu các bên tuyên bố chủ quyền biển tuân thủ các quyền và nghĩa vụ theo những qui định của UNCLOS, đó sẽ là một điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết những tranh chấp ở Biển Đông. Có ba loại biện pháp mà các bên tuyên bố chủ quyền biển cần áp dụng.

Thứ nhất, các quốc gia tuyên bố quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng 200 hải lý tính từ bờ biển lục địa (hoặc từ các đảo chính như trong trường hợp Phlippines) nên đưa ra thông báo chính thức về giới hạn ngoài cùng của EEZ bằng cách xuất bản các hải đồ hoặc danh sách các tọa độ địa lý theo quy định của UNCLOS 1982. Nếu chưa làm điều đó, các nước tuyên bố chủ quyền cần xác định ranh giới ngoài cùng của EEZ, thông qua việc xác định tọa độ cụ thể của chúng theo yêu cầu của UNCLOS. Ngoài ra, nếu tính lãnh hải và EEZ từ đường thẳng cơ sở dọc theo bờ biển, các quốc gia cần thông báo công khai về đường cơ sở này, thông qua việc thông báo những tọa độ theo yêu cầu của UNCLOS.

Thứ hai, các nước tuyên bố chủ quyền cần xác định tên và vị trí của các đảo mà họ tuyên bố chủ quyền. Điều này là quan trọng bởi vì các nước chỉ có thể tuyên bố chủ quyền trên vùng biển xung quanh một hòn đảo theo đúng định nghĩa của nó. Một hòn đảo được định nghĩa là “một vùng đất được cấu thành một cách tự nhiên, được nước bao quanh và nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều dâng cao”. Hầu hết các cấu trúc địa lý trong Biển Đông là các rạn san hô, bãi cát ngầm không phải là “một vùng đất được hình thành tự nhiên, được nước bao quanh và nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều dâng cao”. Một công trình nghiên cứu kết luận rằng chưa đầy 25% của khoảng 170 cấu trúc địa lý trong quần đảo Trường Sa đáp ứng định nghĩa của một hòn đảo.

Thứ ba, nếu các nước tuyên bố chủ quyền của bất kỳ hòn đảo nào có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng, họ nên xác định vị trí của hòn đảo này và đưa ra thông báo về vùng đặc quyền kinh tế của nó bằng cách xuất bản các hải đồ và danh sách các tọa độ địa lý chính thức về ranh giới các vùng đó, tuân theo UNCLOS 1982. Điều này là quan trọng bởi vì hầu hết các đảo ở Biển Đông là các đảo nhỏ, không người ở. Theo UNCLOS, “các bãi đá không có người cư trú hoặc tự thân không có các hoạt động kinh tế” thì không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.

Hợp tác trong khu vực có tuyên bố chồng chéo

Nếu áp dụng các biện pháp nêu trên, các quốc gia sẽ tuyên bố chủ quyền phù hợp với UNCLOS và các vùng biển chồng chéo có thể được xác định. Một khi các vùng biển chồng chéo đã được xác định, UNCLOS yêu cầu các nước liên quan tiến hành các dàn xếp tạm thời, trong khi chờ thỏa thuận cuối cùng về việc phân định ranh giới biển. Dàn xếp tạm thời có thể bao gồm các thỏa thuận cùng nhau phát triển thủy sản hoặc các nguồn tài nguyên dầu khí.

Hơn nữa, UNCLOS cũng qui định trong thời kỳ chuyển tiếp, các nước không được hành động đơn phương ở các khu vực biển chồng chéo vì điều này sẽ gây nguy hiểm hoặc cản trở việc đạt được một thỏa thuận cuối cùng về phân định ranh giới biển.

Điều này cũng phù hợp nguyên tắc 6 điểm trong Tuyên bố của các ngoại trưởng ASEAN ngày 20/7/2012, trong đó khẳng định sự cam kết của các nước thành viên ASEAN về việc hoàn toàn tôn trọng các nguyên tắc chung được công nhận của Luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS.

Minh Bích (theo Eurasia Review)

12/8/12

Học giả Philippines: "Quả đấm thép" chống Trung Quốc chiếm Biển Đông

(GDVN) - Có nhiều lý do để nghi ngờ sự chân thành của Bắc Kinh khi nước này miệng nói rằng ngoại giao là công cụ ưu tiên hàng đầu của Trung Quốc trong nỗ lực giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, nhưng vẫn liên tiếp đưa ra những hành động hung hăng không ngừng

Trong khi Trung Quốc liên tục leo thang gây căng thẳng trên Biển Đông thì trên mặt trận truyền thông, báo chí Trung Quốc cũng đồng loạt “nhả đạn” bắn loạn xạ, hết chỉ trích Mỹ lại đến chụp mũ, đổ tội cho các bên liên quan.

Ảnh chụp màn hình bài phân tích "Quả đấm thép" của nhà bình luận Art Villasanta người Philippines đăng trên tờ The Philippines Inquirer ngày 8/8

Quan sát những động thái leo thang cũng như thái độ trịch thượng, kẻ cả của Bắc Kinh và phản ứng của các bên liên quan, công luận quốc tế về Biển Đông, nhà bình luận kỳ cựu Art Villasanta đã có bài viết “Quả đấm thép” (The Iron Fist) đăng trên tờ The Philippines Inquirer ngày 8/8.

Bài viết phân tích một góc độ khác – giải pháp ngăn chặn Trung Quốc độc chiếm Biển Đông thành ao nhà thông qua việc kêu gọi các bên liên quan đoàn kết chặt chẽ. Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả bài phân tích này nhằm cung cấp thêm một góc nhìn đa chiều, góp phần vạch trần âm mưu của Bắc Kinh độc chiếm Biển Đông cũng như thông tin tuyên truyền bóp méo sự thật của báo chí Trung Quốc. Bài viết phản ánh quan điểm riêng của tác giả, nhà bình luận Art Villasanta.

Điều Philippines cần làm bây giờ là dẫn đầu các nỗ lực xây dựng một liên minh quân sự chống lại sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông với các nước Brunei, Malaysia, Đài Loan và Việt Nam - nhà phân tích Art Villasanta của tờ Philippine Daily Inquirer nhận định.


Trung Quốc liên tục tăng cường sức mạnh, các hoạt động quân sự trên Biển Đông trong những năm qua, kết hợp với các động thái leo thang căng thẳng gần đây, các bên liên quan không khỏi lo ngại

Loạt sự kiện cực kỳ đáng báo động được khơi mào bởi Trung Quốc trong 2 tháng qua là một nguyên nhân đáng thuyết phục để các bên liên quan có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông tin rằng họ cũng là nạn nhân tiềm năng của các hành động gây hấn không ngừng của Trung Quốc trên Biển Đông.

Manila và các bên liên quan nên sớm nhận ra rằng liên minh là lựa chọn khả thi duy nhất để ngăn Trung Quốc theo đuổi "chủ nghĩa đế quốc mới" và giúp các nước này thoát khỏi nguy cơ tuột mất Biển Đông vào tay Bắc Kinh.

Khi đơn độc, không ai trong số các bên có khả năng chống lại sự bành trướng của Trung Quốc. Nhưng nếu đoàn kết lại, sức mạnh của tập thể sẽ đủ để ngăn chặn sự bành trướng của Bắc Kinh trên Biển Đông.

Có thể hình dung rằng điều này như 5 ngón tay trên một bàn tay. Một ngón rất dễ bị tổn thương, dù là với áp lực rất nhỏ. Nhưng một khi nắm lại, 5 ngón tay sẽ thành một "quả đấm thép" với sức mạnh có thể gây đau đớn cho bất kỳ kẻ thù nào.

Ngay cả hoạt động đánh cá cũng bị Trung Quốc lợi dụng biến thành thủ đoạn phục vụ âm mưu độc chiếm Biển Đông, mỗi lần ra khơi là một đội hùng hậu, tổ chức chặt chẽ, hậu cần kỹ thuật đảm bảo, có phóng viên đi cùng quay phim chụp ảnh tuyên truyền bóp méo sự thực, có tàu Hải giám hoặc Ngư chính hộ tống

Nắm đấm này một khi được hỗ trợ của Nhật Bản và Ấn Độ (2 quốc gia láng giềng mà Trung Quốc cũng đã biến thành kẻ thù của mình vì các tranh chấp lãnh thổ) nó sẽ giống như một cục sắt được tra thêm cán để biến thành một chiếc rìu lớn.
Cân bằng sức mạnh hải quân


Sử dụng chiến thuật "quả đấm thép" trong hải quân sẽ giúp các nước có thể đối phó lại với Trung Quốc và đưa cả hai bên trở lại thế cân bằng với nhau.

Cùng hợp tác, các bên liên quan sẽ tập hợp được khoảng 50 tàu chiến (gồm cả tàu khu trục, tàu hộ tống) và 8 tàu ngầm. Số lượng tàu này sẽ còn tăng mạnh hơn nữa vào năm 2020.

Với lợi thế này, các nước trong khu vực có thể đối phó với Hạm đội Nam Hải của quân đội Trung Quốc trong bất kỳ cuộc xung đột nào trên Biển Đông. Được biết, Hạm đội Nam Hải có khoảng 30 tàu khu trục và 8 tàu ngầm diesel-điện hiện đang đồn trú tại căn cứ ở thành phố Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông.

Khi xảy ra biến cố, Trung Quốc có thể huy động sức mạnh của Hạm đội Đông Hải (có nhiệm vụ kiềm chế Đài Loan) để bổ sung sức mạnh cho Hạm đội Nam Hải. Nhưng sự hiện diện của Hải quân Đài Loan sẽ ngăn Trung Quốc thực hiện hoạt động hỗ trợ này.

Tàu ngầm tấn công USS North Carolina bất ngờ xuất hiện tại cảng Subic gần bãi cạn Scarborough giữa lúc căng thẳng Philippines - Trung Quốc đang tăng cao

Nếu cùng hợp tác với nhau, sức mạnh của các bên tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông trước Trung Quốc sẽ tăng lên đáng kể. Và điều duy nhất còn thiếu nữa chỉ là một biện pháp đáng tin cậy để có thể gây thiệt hại lớn hơn cho quân đội Trung Quốc.

Một kẻ bắt nạt sẽ không thể hung hăng nếu nó biết kẻ mà mình phải đối mặt có thể đánh bại nó. Thực tế này có thể buộc Bắc Kinh giảm các hành động khiêu khích. Và bất kỳ sự do dự nào của Trung Quốc cũng là một cơ hội đem lại chiến thắng cho các nước đồng minh trong cuộc đấu tranh giành chủ quyền trên Biển Đông. Tuy nhiên, lưu ý rằng, điều này chỉ có được khi các nước cùng hợp tác tạo thành "nắm đấm sắt".

Củng cố sức mạnh Hải quân

Năm 2011, Việt Nam đã nhận tàu khu trục nhỏ lớp Gepard 3.9 thứ hai đặt mua của Nga. Đây là tàu khu trục tiên tiến nhất trong số 5 nước và ngang tàu khu trục tàng hình La Fayette mà Đài Loan mua của Mỹ. Việt Nam cũng đang chờ nhận lô hàng 6 tàu ngầm lớp Kilo đặt mua của Nga. Các vũ khí mới, do Nga sản xuất, có thể giúp Việt Nam tăng sự tự tin trước Trung Quốc trên Biển Đông - Art Villasanta nhận định..

Trong khi đó, Malaysia va Đài Loan cũng nhận ra các giá trị to lớn của tàu ngầm và tàu chiến hiện đại trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia của mình trên Biển Đông.

Tàu tuần dương tên lửa lớp Kuang Hua VI - Đài Loan

Ba năm trước, Malaysia đã nhận 2 tàu ngầm Scorpene do Pháp chế tạo. Những tàu ngầm tiên tiến này được trang bị ngư lôi hạng nặng Blackshark và tên lửa chống hạm Exocet SM-39.

Đài Loan cũng bổ sung thêm 4 tàu ngầm, 22 tàu chiến và 4 tàu khu trục. Ngoài ra, Hải quân Đài Loan còn đóng 30 tàu tuần tra tên lửa lớp Kuang Hua VI.

Hải quân Brunei cũng có tàu hộ tống có trang bị tên lửa và tàu tuần tra tốc độ cao.

Trong khi đó, Hải quân Philippines đang ngày càng được gia tăng sức mạnh sau quyết định đầu tư mạnh mẽ cho Quốc phòng của Tổng thống Benigno Aquino II.

Một tàu khu trục nhỏ lớp Hamilton thứ 2 sẽ sớm được biên chế trong lực lượng Hải quân trong năm nay và một chiếc BRP Gregorio del Pilar và 1 tàu khu trục nhỏ nữa vào năm tới. Tàu khu trục lớp Hamilton dự kiến sẽ được trang bị tên lửa và hệ thống vũ khí chống máy bay.

Tàu khu trục lớp Maestrale Hải quân Philippines vừa mua của Ý.

Nhưng tin đáng mừng nhất là Philippines sẽ có 2 tàu khu trục do Ý sản xuất được trang bị tên lửa hạm đối hạm và đất đối không. Đây sẽ là những tàu chiến hiện đại nhất của Hải quân nước này.

Mặc dù số lượng có thể ít ỏi và khả năng chiến đấu có thể kém hơn, nhưng Manila hy vọng rằng với sự hỗ trợ của Mỹ và quyết định triển khai 60% sức mạnh Hải quân tới Thái Bình Dương của Washington sẽ khiến Trung Quốc phải chùn bước.

Trung Quốc, tuy nhiên, đã thể hiện sự cứng rắn trong tuyên bố đòi bá quyền trên Biển Đông của mình. Và có nhiều lý do để nghi ngờ sự chân thành của Bắc Kinh khi nước này miệng nói rằng ngoại giao là công cụ ưu tiên hàng đầu của Trung Quốc trong nỗ lực giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, nhưng vẫn liên tiếp đưa ra những hành động hung hăng không ngừng gần đây.

Chỉ có một "quả đấm thép" mới có thể buộc Trung Quốc từ bỏ tham vọng của mình. Và các nước "liên minh" có thể học hỏi điều đó từ những sự kiện lịch sử gần đây.

Nguyễn Hường

Làm rõ vùng tranh chấp ở Biển Đông

(BÁO ĐẤT VIỆT) - Cách thức leo thang mà phía Trung Quốc thường xuyên sử dụng là biến vùng biển không có tranh chấp, thuộc chủ quyền của các quốc gia khác thành vùng có tranh chấp, rồi dần dần tìm cách xâm chiếm. 
 

Những sự kiện diễn ra liên tiếp trong vòng chưa đầy hai tháng qua trên Biển Đông có thể cho thấy rằng Chính phủ Trung Quốc đang muốn leo thang ảnh hưởng của mình ở khu vực Biển Đông. Động thái leo thang của phía Trung Quốc làm tình hình Biển Đông đang căng thẳng càng trở nên “dậy sóng”.

Các hành động leo thang thể hiện rõ ý đồ của Trung Quốc là từng bước “thâu tóm”, tiến tới độc chiếm Biển Đông, hiện thực hóa “đường lưỡi bò” phi lý mà nước này đưa ra. Cách thức leo thang mà phía Trung Quốc thường xuyên sử dụng là biến vùng biển không có tranh chấp, thuộc chủ quyền của các quốc gia khác thành vùng có tranh chấp, rồi dần dần tìm cách xâm chiếm.

Thông qua các hành động đơn phương gây hấn với một số nước có chủ quyền trên Biển Đông, Trung Quốc mong muốn tạo ra những xung đột để biến các vùng biển này thành vùng tranh chấp. Mở màn cho chiến thuật này là tranh chấp với Philippines quanh bãi cạn Scarborough hồi tháng 4/2012. Căng thẳng kéo dài nhiều tuần lễ sau đó và cho đến nay vẫn chưa có một giải pháp nào có thể giải quyết tranh chấp.

Cuối tháng 6/2012, Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) ngang nhiên mời thầu quốc tế 9 lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa Việt Nam. Các nhà phân tích cho rằng, hành động trên của Trung Quốc không phải để trông chờ một công ty dầu khí nào đó dám nhận thầu, mà nhằm mục đích lập lờ xóa nhòa ranh giới EEZ được quy định trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), qua đó biến vùng biển không tranh chấp, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam, thành vùng tranh chấp.

Đỉnh điểm của ý đồ trên là việc Trung Quốc ra quyết định thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” bao gồm gần như toàn bộ Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Sau đó, ngày 21/7, Trung Quốc ngang nhiên tổ chức bầu cử bộ máy hành chính cho cái gọi là “thành phố Tam Sa”, đặt trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trung Quốc còn ra quyết định cho quân đồn trú tại các đảo mà nước này chiếm giữ trái phép của cái gọi là “thành phố Tam Sa”.

Trung Quốc ngang ngược xua tàu cá đánh bắt trái phép ở Biển Đông, thực hiện ý đồ biến vùng biển không có tranh chấp thành có tranh chấp.

Tiếp sau đó, sau khi lệnh cấm đánh bắt cá phi lý và vô giá trị mà Trung Quốc đưa ra trên Biển Đông kết thúc, nước này đã cho khoảng 23.000 tàu cá tràn xuống đánh bắt cá tại nhiều vùng biển trên Biển Đông, trong đó có những vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, gần hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Thời gian gần đây, tàu cá Trung Quốc tràn vào Biển Đông ngày càng nhiều, thậm chí còn tiến gần đến các đảo thuộc các tỉnh miền Trung nước ta chỉ vài chục hải lý. Trung tá Lê Trọng Phổ, chủ nhiệm chính trị Cảnh sát biển vùng 2, khẳng định: “Việc tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng biển miền Trung là có thật, nhất là từ sau khi Trung Quốc bỏ lệnh cấm biển do họ tự đặt ra vào đầu tháng 8 này. Các tàu cá Trung Quốc đã đi sâu vào vùng biển gần đảo Lý Sơn từ 30 – 45 hải lý, với lượng tàu mỗi đợt xâm nhập từ 18 – 30 chiếc”.

Nói về nguy cơ này, Thiếu tướng Lê Văn Cương cho rằng: “Đây chưa phải là con số cuối cùng về tàu cá Trung Quốc mà chỉ là những con số mở đầu. Những chiếc tàu cá với tải trọng lên đến 3.000 tấn của Trung Quốc sẽ tràn ngập trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam để chứng tỏ sự hiện diện thường xuyên, đông đảo của Trung Quốc ở biển Đông, mặc nhiên biến vùng biển Việt Nam thành vùng tranh chấp để từ đó biến thành vùng biển của mình. Trung Quốc đang dần hiện thực hóa quyền chủ quyền, quyền tài phán phi lý của họ ở “đường lưỡi bò” mà họ tự nghĩ ra với ý đồ rõ ràng”.

Các hành động leo thang ngang ngược, đơn phương nhưng dai dẳng và “ngày càng hung hăng” của Trung Quốc trên Biển Đông khiến cộng đồng quốc tế hết sức lo ngại và công khai chỉ trích, phản đối nước này. Sách trắng quốc phòng Nhật Bản 2012 đã lần đầu tiên dành tới hơn 20 trang trên tổng số 488 trang để nói về “mối lo ngại” Trung Quốc, bày tỏ quan ngại của Nhật Bản về việc Trung Quốc “tự coi Biển Đông là của mình. Trước đó, Tokyo chỉ dùng từ “quan tâm” khi đề cập đến các hoạt động của quân đội Trung Quốc.

Giới chức và học giả nhiều nước, đặc biệt là Mỹ, thường xuyên ra tuyên bố phản đối các hành động làm gia tăng căng thẳng trên Biển Đông của Trung Quốc. Thượng viện Mỹ đã chính thức thông qua Nghị quyết mang số hiệu S.Res.524 về tình hình Biển Đông nhằm thể hiện phản ứng trước những động thái mới đây của Trung Quốc. Nghị quyết này gồm cả 3 điểm với nội dung lên án các hành động đơn phương gần đây của Trung Quốc và khẳng định những bước đi này trái với những nguyên tắc đã được thỏa thuận liên quan đến việc giải quyết tranh chấp và cản trở biện pháp hòa bình giải quyền tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

Trước các hành động gây leo thang căng thẳng liên tiếp của Trung Quốc trên Biển Đông nhằm thực hiện ý đồ biến các vùng biển không có tranh chấp thành vùng tranh chấp, giới học giả đã lên tiếng thúc giục làm rõ các vùng tranh chấp trên vùng biển chiến lược này.

Phân tích trên Eurasiareview ngày 8/8, nhà nghiên cứu Robert Beckman, giám đốc trung tâm Luật Quốc tế, Đại học quốc gia Singapore, nhận định: “Khi chúng ta theo dõi các hành động và phản ứng của các nước gây căng thẳng ở biển Đông, nó thường không tuân theo luật quốc tế, và tất cả chỉ là trò chơi của chính trị vũ lực”. Một trong những nguồn cơn gây nên căng thẳng ở biển Đông là có những yêu sách quá tham vọng và không tuân theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982 của Trung Quốc.

Theo đó, để ngăn chặn ý đồ biến các vùng biển không có tranh chấp thành có tranh chấp của Trung Quốc, các nước có liên quan ở Biển Đông, trong đó có Việt Nam, cần đưa ra các yêu sách phù hợp với UNCLOS năm 1982.

Ông Robert Beckman cho rằng UNCLOS năm 1982 có vai trò quan trọng cơ bản đối với việc giải quyết những tranh chấp Biển Đông: “UNCLOS năm 1982 mang lại một khuôn khổ pháp lý chi tiết về các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia, liên quan đến mục đích sử dụng các đại dương. Tất cả các quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông (Trung Quốc, Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam) đều tham gia Công ước LHQ về Luật biển và đương nhiên bị ràng buộc bởi các quy định của UNCLOS về pháp lý”.

Một khi phân biệt được vùng không có tranh chấp và vùng có tranh chấp ở biển Đông, thì Công ước 1982 có thể buộc các nước có liên quan thực hiện thỏa thuận tạm thời về hiện trạng của tình hình ở biển Đông. Theo đó, UNCLOS qui định trong thời kỳ chuyển tiếp, các nước không được hành động đơn phương ở các khu vực biển chồng chéo vì điều này sẽ gây nguy hiểm hoặc cản trở việc đạt được một thỏa thuận cuối cùng về phân định ranh giới biển.

Duy Minh

31/7/12

Sử dụng đòn gì để chống lại Trung Quốc?

Trước hàng loạt hành động khiêu khích đầy mưu mô, xảo quyệt của Trung Quốc trong những ngày qua trên Hoàng Sa và Trường Sa, người dân Việt Nam ai cũng sốt ruột sôi sục ý chí đuổi kẻ xâm lược về nước. Có người bày tỏ ý kiến phải đánh Trung Quốc, có người trông chờ sự can thiệp của quốc tế, có người tạo áp lực để nhà nước ta có hành động thiết thực, có người ủng hộ quan điểm giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình…Thế nhưng, Việt Nam sẽ sử dụng chiến lược nào để Trung Quốc mãi mãi từ bỏ hành vi xâm chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của đất nước Việt Nam?

Đòn đánh của Việt Nam là sử dụng sức mạnh của cộng đồng quốc tế thông qua hội nghị như ASEAN

Giáo sư De Castro thuộc Đại học De La Salle Philippines: “Các tàu Trung Quốc sẽ tìm cách quấy rối, gây khó dễ để tìm cách khiêu khích phía Việt Nam và Philippines phản ứng trước. Và khi đó, họ chỉ chờ chúng ta bắn phát súng đầu tiên là hùng hổ trấn áp và tuyên bố là họ chỉ tự vệ” cho thấy Trung Quốc thực hiện chiến lược của mình không chỉ thâm độc mà còn khôn ngoan. Một mặt ra vẻ hùng hậu, ngang tàn mặt khác tạo ra cái lý “trót lọt”, “vừa ăn cướp vừa la làng”. Từ đó ngôn thuận phao tin trên toàn thế giới. Đối phó với phù thủy áo trắng, giỏi biện minh thích bịa chuyện như Trung Quốc đòi hỏi Việt Nam phải khéo léo nếu không sập bẫy vào âm mưu do Trung Quốc bày ra.

Trên thực tế, luật pháp quốc tế công nhận 2 đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của đất nước Việt Nam và chính bản đồ của Trung Quốc cũng công nhận đều đó. Vậy tại sao Trung Quốc vẫn ngoan cố khiêu khích, lâm le ồ ạt thực hiện vũ lực trên đảo Hoàng Sa và Trường Sa?

Bản đồ khẳng định Trung Quốc không có Hoàng Sa, Trường Sa

Hiện Trung Quốc đang yếu lý lẽ trên chính trường quốc tế nên không dại gì gây chiến tranh với Việt Nam và Philippines ngay thời điểm này. Bởi vì nếu xả súng lúc này chỉ làm Trung Quốc thâm hụt ngân sách, tổn thất về kinh tế và mất đi vị trí đứng thứ 2 thứ giới. Hiện Trung Quốc đang chơi chiêu bài giương đông kích tây, bề mặt vung tay với Việt Nam nhưng đòn đánh mà Trung Quốc đang hướng đến là Mỹ. Nếu không có cái nhìn sáng suốt thì Việt Nam vô tình tạo cái cớ cho Trung Quốc bắt chẹt, lấn lướt.

Những ngày qua, dễ nhìn thấy Việt Nam chiến đấu với Trung Quốc trên bàn đàm phán, sử dụng luật quốc tế để bày tỏ sự xâm phạm phi pháp, ngang ngược của láng giềng hiếu chiến. Tại sao Việt Nam không chiến đấu trực diện với Trung Quốc bằng vũ lực? Vì nếu sử dụng vũ lực thì Việt Nam không khác nào lấy trứng chọi đá. Việt Nam có nhiều thứ để mất hơn Trung Quốc, thế yếu hơn Trung Quốc, và tiềm lực quân sự, nhất là không quân và hải quân có thể tác chiến trên biển kém xa.

Việt Nam đang tránh chiến tranh chứ không phải sợ chết, sợ đánh. Việt Nam luôn trong tư thế cầm thủ và sẵn sàng ra đòn bất cứ lúc nào nhưng phải đúng lúc, đúng huyệt. Việc Trung Quốc tạo áp lực với Việt Nam, tung tin thất thiệt cũng là tự tạo áp lực cho mình, lộ rõ bộ mặt xấu với bạn bè thế giới đặc biệt là học giả Trung Quốc đang bày tỏ sự không ủng hộ chính quyền Trung Quốc đi xâm lược phi nghĩa Việt Nam.

Có thể nói, Việt Nam kiên quyết giải quyết các vấn đề bất đồng thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Không hung hăng, nhưng Việt Nam dùng lý lẽ, thời thế từng bước buộc Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán song phương và đa phương.

Chiêu Việt Nam sử dụng “đánh nhưng không đánh, không đánh mà lại đánh”. Hiện tại Việt Nam không sử dụng đòn đánh trực diện với Trung Quốc nhưng dần làm cho Trung Quốc “còi cọc” các kế hoạch xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Và việc Trung Quốc phải chịu ngồi vào bàn đàm phán để giải quyết tranh chấp theo luật quốc tế là chuyện sớm muộn, nếu như Trung Quốc không muốn cả thế giới cô lập và từ chối mọi sự hợp tác, phát triển. Đòn đánh của Việt Nam là sử dụng sức mạnh của cộng đồng quốc tế, luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp.

Chiến thắng Ngọc Hồi là sự thể hiện sức mạnh tổng hợp của Việt nam

Về mặt quân sự thì chiêu của Việt Nam là đưa địch đến chỗ yếu, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, lấy yếu chống mạnh, nhằm tiêu diệt, tiêu hao sinh lực địch, từng bước làm thay đổi cục diện, trong điều kiện Việt Nam yếu hơn đối thủ.

Sức mạnh của Việt nam là sức mạnh tổng hợp, không đơn thuần là sự so sánh tương quan lực lượng. Bài học của cha ông ta với các chiến công hiển hách: Triều Lý: 10 vạn quân thắng 30 vạn quân Tống, Triều Lý đã thực hiện “Tiên phát chế nhân”; Triều Trần: 15 vạn thắng 60 vạn Nguyên Mông với chiêu “Lấy đoản binh, chế trường trận”; Triều Lê: 10 vạn thắng 80 vạn quân Minh với chiêu “Vây thành, diệt viện”; Quang Trung: 10 vạn thắng 29 vạn quân Thanh với chiêu “đánh bất ngờ”.

Việt Nam đã và đang hiện đại hóa lực lượng Hải quân, Không quân để có thể tung “cú đánh” đúng lúc, đúng huyệt

Việt Nam không cần diễu võ dương oai sức mạnh quân sự, mà âm thầm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc trên Biển, kiên cố hóa các đảo, hiện đại hóa lực lượng Hải quân, Không quân, chăm lo cho đời sống nhân dân trên các đảo, củng cố chứng cứ lịch sử vững chắc… để có thể tung “cú đánh” đúng lúc, đúng huyệt khi cần thiết như các thế hệ cha ông người Việt từng làm.

Thanh Thủy

27/7/12

“Đường lưỡi bò là cái cùm lớn tròng vào cổ Trung Quốc”

(TNO) Một nhà nghiên cứu tên tuổi trên thế giới nhận định rằng đường lưỡi bò phi lý của Trung Quốc tại biển Đông là "cái cùm lớn tròng vào cổ Trung Quốc".

Đảo Trường Sa Lớn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam - Ảnh: Đào Ngọc Thạch

Theo bài báo đăng trên tờ Straits Times hôm nay (27.7), ông Mahbubani - Hiệu trưởng trường Chính sách công Lý Quang Diệu thuộc đại học Quốc gia Singapore Kishore, nói rằng Trung Quốc đang phạm phải những sai lầm nghiêm trọng về địa chính trị.

Một trong những sai lầm lớn của Trung Quốc đã được thể hiện tại hội nghị ASEAN ở Campuchia trong tháng này, khi gây áp lực lên nước chủ nhà khiến ASEAN lần đầu tiên trong lịch sử không thể thông qua được thông cáo chung, theo ông Mahbubani, người mà tạp chí Foreign Policy xếp vào danh sách 100 nhà tư tưởng hàng đầu thế giới.

Một sai lầm đáng chú ý nữa là việc đưa ra yêu sách đường lưỡi bò phi lý tại biển Đông. Theo ông Mahbubani, đường lưỡi bò (còn gọi là đường chín đoạn) mà Trung Quốc vẽ tại biển Đông chỉ là một cái “cùm địa chính trị lớn tròng vào cổ Trung Quốc”.

Việc Trung Quốc đưa ra yêu sách về đường lưỡi bò trong công hàm gửi Liên Hiệp Quốc vào năm 2009 được ông Mahbubani đánh giá là một hành động dại dột.

“Với việc đệ trình đường chín đoạn lên Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc đã lâm vào một tình thế không thể thắng, bởi rất khó có thể bảo vệ bản đồ này theo luật pháp quốc tế”, ông Mahbubani viết trên tờ Straits Times.

Sơn Duân

25/7/12

Sự hoang tưởng của Trung Quốc về chủ quyền ở Biển Đông

(Báo Đất Việt) - Yêu sách hết sức phi lý của Trung Quốc trên Biển Đông cùng luận điệu tuyên truyền ngụy tạo chứng cứ đang khiến nhiều người liên tưởng đến câu nói nổi tiếng của Joseph Goebbels, Bộ trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc xã.

Bản đồ Trung Quốc 1904 không có Hoàng Sa, Trường Sa

Goebbels nói rằng: “Nếu nói dối đủ to và cứ tiếp tục lặp đi lặp lại lời dối trá của mình, quần chúng rồi sẽ tin vào lời dối đó”. Đó là thủ thuật nói dối đúng lúc, nói dối nhiều lần với tham vọng bá quyền độc chiếm Biển Đông. Diễn biến phức tạp trên Biển Đông cùng bản chất ngụy tạo chứng cứ thô thiển về chủ quyền lãnh thổ theo kiểu “biến không thành có”, biến vùng không tranh chấp trở thành vùng tranh chấp của Trung Quốc đang làm cho nhu cầu của chính người dân Trung Quốc muốn hiểu rõ sự thật lịch sử trở nên bức thiết. Lịch sử Trung Quốc hiển nhiên khẳng định lãnh thổ quốc gia này không hề có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam).

Lãnh thổ Trung Quốc qua các triều đại được ghi dấu bằng các bản đồ như “Hoàng triều dư địa toàn đồ” (1728-1729), “Hoàng triều nhất thống dư địa toàn đồ” (1894), và “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” xuất bản năm 1904 của Trung Quốc được công bố thời nhà Thanh (do Nhà xuất bản Thượng Hải in năm 1904) là những chứng cứ lịch sử không thể chối cãi, khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa hoàn toàn không thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Nhiều chứng cứ, trong đó có các bản đồ của chính Nhà nước Trung Quốc công bố với cả thế giới thể hiện rõ ràng cực nam lãnh thổ của quốc gia này chỉ đến đảo Hải Nam. Cũng như sử sách của Trung Quốc đã khẳng định rõ cực nam của Trung Quốc là núi Nhai (Nhai Sơn hay Thiên Nhai Sơn) nằm phía nam Nhai Châu (đảo Hải Nam ngày nay) ở vị trí 18030’ vĩ độ Bắc. Những chứng cứ lịch sử như vậy không thể xóa bỏ, không thể bị bóp méo nhằm mục đích thực hiện yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý trên Biển Đông. Trong khi đó, ít nhất từ thời Chúa Nguyễn, Việt Nam đã thực thi chủ quyền thường xuyên và ổn định ở Hoàng Sa và Trường Sa. Cùng với bản đồ, còn nhiều chứng cứ lịch sử khác khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Bản đồ Trung Quốc 1904 không có Hoàng Sa, Trường Sa

Thế nhưng, với yêu sách hoang đường của Trung Quốc trên Biển Đông thời gian qua người dân Trung Quốc chỉ được tiếp cận những chứng cứ ngụy tạo do chính quyền Trung Quốc cố tình đưa ra. Người dân Trung Quốc không có điều kiện để biết rõ thực chất các chứng cứ lịch sử – khẳng định chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Giới trí thức tiến bộ ngay tại Trung Quốc cũng đã phải lên tiếng về chủ quyền ngụy tạo “biến không thành có” của Trung Quốc đối với Hoàng Sa và Trường Sa, với cả “đường lưỡi bò” phi lý chiếm gần trọn Biển Đông. Tuy nhiên những tiếng nói trung thực đúng đắn ấy ngay “trong lòng Trung Quốc” vẫn bị trùm phủ bởi luận điệu ngụy biện về chủ quyền qua các kênh truyền thông ở Trung Quốc. Sự tưởng tượng về chủ quyền trên Biển Đông của Trung Quốc thậm chí còn lọt vào các trang sách giáo khoa giảng dạy ở trường học và nhiều tài liệu khác. Sự nói dối động trời nếu được lặp đi lặp lại vẫn sẽ có người tin.

Câu chuyện nỗi tiếng “Tăng Sâm giết người” thời Xuân Thu với sự lặp đi lặp lại những thông tin giả dối đã khiến mẹ của Tăng Sâm tin con mình phạm tội tày đình – dường như đang được tái lập trong kỹ thuật truyền thông của Trung Quốc về chủ quyền hoang đường trên Biển Đông. Trung Quốc bị nhiều quốc gia phản đối khi chính thức đưa ra yêu sách “đường lưỡi bò” bằng Công hàm CML/17/2009 được gửi lên Liên Hợp Quốc ngày 7-5-2009 nhưng Trung Quốc không nêu được cơ sở pháp lý chặt chẽ nào. Vậy nhưng, quốc gia này vẫn ngông nghênh triển khai các hoạt động gọi là “chấp pháp trên biển” trong phạm vi “đường lưỡi bò” phi lý. Trung Quốc đã không ngần ngại gửi các đoàn đến các nước để thuyết trình với những chứng cứ ngụy tạo về chủ quyền với biển Đông, với Hoàng Sa và Trường Sa. Bằng cách ấy, Trung Quốc đang cố tình làm cho dư luận lầm tưởng Trung Quốc có quyền đối với vùng biển mà Trung Quốc đã tuyên bố, nhằm đánh lừa cộng đồng quốc tế thừa nhận sự tồn tại của “đường lưỡi bò”. Các dữ liệu ngụy tạo thất thiệt của Trung Quốc đã được kỹ thuật truyền thông tại quốc gia này gieo vào lòng tin của người dân Trung Quốc về chủ quyền tưởng tượng của họ trên Biển Đông mà mới nhất là cái gọi là “thành phố Tam Sa” được thành lập. Luận điệu nói dối đã phát huy hữu hiệu, những viên đạn truyền thông đã bắn vào tâm tưởng người dân Trung Quốc khiến cho nhiều người trong số họ ngộ nhận rằng Việt Nam “xâm chiếm” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trước sự ngụy tạo chứng cứ tuyên truyền sai trái của Trung Quốc, cộng đồng thế giới rất cần được tiếp cận các tài liệu về sự thật lịch sử và những căn cứ pháp lý khẳng định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Dù Việt Nam luôn kiên trì với đường lối hòa bình, hành xử phù hợp với pháp luật quốc tế, không sử dụng vũ lực, nhưng cần tăng cường hoạt động chấp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Thiết nghĩ, chân lý sẽ soi sáng khi các vụ việc Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, công khai, khách quan tại Tòa Trọng tài Quốc tế, để cộng đồng quốc tế thấy rõ chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo (ĐVO)

29/5/12

TNS Mỹ John McCain nói về giải quyết tranh chấp ở Biển Đông

(VOV) - Việc đàm phán để đi đến một hiệp định chia sẻ những nguồn tài nguyên lớn sẽ giúp giảm căng thẳng trong khu vực.

Thượng nghị sỹ (TNS) John McCain, một chính khách và từng là ứng cử viên Tổng thống Mỹ của Đảng Cộng hòa cho rằng, Trung Quốc cần ngồi lại đàm phán chung với các nước hiện có tranh chấp ở Biển Đông.

Khu vực bãi cạn Scarborough- nơi đang xảy ra tranh chấp chủ quyền giữa Philippines và Trung Quốc 
(Ảnh: QQ)

Phóng viên Đài TNVN thường trú tại Mỹ phỏng vấn TNS John McCain về vấn đề này.

PV: Thưa TNS, thời gian gần đây căng thẳng liên tục gia tăng tại khu vực Biển Đông. Nhiều nước, trong đó có Việt Nam cho rằng, việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đường lưỡi bò là vô lý. Theo ông, tại sao trong 2 năm qua, Trung Quốc lại đẩy mạnh đòi chủ quyền ở Biển Đông và ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

TNS John McCain: Trung Quốc đang trở thành một cường quốc kinh tế, do vậy nước này đang cần rất nhiều nguyên liệu thô, trong đó có dầu mỏ. Trung Quốc thấy rằng, có một trữ lượng dầu mỏ rất lớn tại khu vực Biển Đông. Đây là một nhân tố quan trọng để giúp Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng.

Trong thời gian qua, Trung Quốc đã tuyên bố đường 9 đoạn. Họ cho rằng khu vực Biển Đông là thuộc về lãnh thổ của Trung Quốc. Đó là một tuyên bố không đúng sự thật. Khu vực Biển Đông là khu vực lãnh hải quốc tế. Chính vì thế mà tất cả chúng ta đều mong muốn có sự thương lượng hòa bình giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực để giải quyết tranh chấp này một cách hòa bình.

Thời gian gần đây, trong khu vực đã diễn ra xung đột, căng thẳng tăng lên. Những căng thẳng đó cần phải được loại bỏ và đàm phán chính là câu trả lời cho vấn đề này.

Thượng nghị sĩ John McCain (giữa) nói chuyện với sinh viên Học viện Ngoại giao tại Hà Nội trong chuyến thăm Việt Nam tháng 4/2010 (Ảnh: Tuổi trẻ)

PV: Cộng đồng quốc tế, đặc biệt là ASEAN cần phải làm gì để giúp giải quyết vấn đề tranh chấp ở Biển Đông? Việt Nam cũng như các nước có tranh chấp khác cần làm gì để duy trì hòa bình và an ninh trong khu vực?

TNS John McCain: Các nước ASEAN cần phải thúc giục Trung Quốc tiến hành đàm phán như Khối này đã từng làm trong thời gian qua. ASEAN cũng cần thúc giục Trung Quốc đàm phán chung với các nước. Tại các cuộc họp của ASEAN, từng nước thành viên trong Khối đã chủ động phê phán Trung Quốc vì không thực hiện công việc này. Tôi không cho rằng, Trung Quốc mong muốn xung đột hoặc đẩy căng thẳng lên cao, nhưng tôi tin rằng Trung Quốc không hành động theo cách nhằm hướng đến một giải pháp hòa bình hơn.

Như tôi đã nói, Trung Quốc cần phải đàm phán các nước trong khu vực như Philippines, Việt Nam, Indonesia và các nước khác có lợi ích trong khu vực cũng như các nước quan tâm đến việc giảm thiểu căng thẳng trong khu vực. Theo tôi, những cuộc đàm phán đó sẽ rất có hiệu quả.

Chiến lược của Trung Quốc hiện nay là sẽ đàm phán với từng nước một, nhưng tôi cho rằng đó không phải là cách đàm phán mà các nước nên tiến hành, mà các nước cần thực hiện theo hướng đàm phán chung cho dù cơ hội thành công là rất ít.

PV: Theo ông, với chiến lược quay trở lại châu Á của chính quyền Tổng thống Obama, Mỹ sẽ làm gì để giúp ổn định tình hình và duy trì hòa bình, an ninh trong khu vực?

TNS John McCain: Mỹ không tin rằng sẽ có xung đột với Trung Quốc. Bản thân tôi không tin rằng sẽ có xung đột với Trung Quốc. Chúng tôi có các đồng minh mạnh trong khu vực và tiến hành hợp tác trên các lĩnh vực như kinh tế, chính trị cũng như quân sự.

Hiện Mỹ có căn cứ quân sự tại Australia. Tôi mong muốn được chứng kiến những hợp tác quân sự theo kiểu đó với các nước khác trong khu vực châu Á. Trong trường hợp đó, Mỹ và các lực lượng của nước chủ nhà có thể tiến hành diễn tập chung để đào tạo chứ không phải để đe dọa Trung Quốc.

PV: Thưa TNS, Trung Quốc nên làm gì để giải quyết vấn đề ở Biển Đông?

TNS John McCain: Tôi cho rằng, bước đầu tiên mà Trung Quốc nên làm là thực hiện theo khuyến nghị của ASEAN cũng như tất cả các nước trong khu vực. Trung Quốc cần ngồi vào bàn đàm phán với các nước có tuyên bố chủ quyền với những tài sản ở khu vực Biển Đông để đi đến một hiệp định chia sẻ những nguồn tài nguyên lớn đó và như thế sẽ giúp giảm căng thẳng trong khu vực.

Tất nhiên sẽ vẫn còn xảy ra những căng thẳng khi kinh tế phát triển nhưng Mỹ sẽ đóng một vai trò hòa bình trong khu vực. Tôi tin rằng, giữa Mỹ và Trung Quốc không thích thú gì xung đột với nhau và tôi cũng cho rằng, các nước khác ở trong khu vực cũng như vậy. Bởi vì khi căng thẳng xảy ra sẽ cũng không mang lại lợi ích gì cho các nước. Mặc dù lúc này, lúc khác vẫn xảy ra xung đột, nhưng tôi cho rằng ASEAN là một tổ chức tốt để các nước phối hợp với nhau giải quyết hiệu quả các vấn đề liên quan đến Trung Quốc.

PV: Ông đánh giá như thế nào về quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề tranh chấp tại khu vực Biển Đông trong thời gian qua?

TNS John McCain: Tôi biết rằng, đây không phải là lần đầu tiên trong lịch sử căng thẳng diễn ra giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhưng tôi tin rằng Việt Nam cam kết và rất mong muốn đạt được một giải pháp mang tính hòa bình về vấn đề này. Việt Nam đã đạt được những tăng trưởng kinh tế to lớn trong 20 năm qua, chúng ta đều không muốn điều gì ngăn cản đà tăng trưởng này. Nếu căng thẳng trong khu vực bị đẩy lên cao sẽ gây hại cho tốc độ tăng trưởng trong khu vực.

Theo tôi, Việt Nam là một quốc gia mạnh về quân sự. Tôi tin rằng, Việt Nam đã đóng một vai trò tuyệt vời, có tính xây dựng cao đối với diễn đàn ASEAN và các diễn đàn thế giới khác. Tôi hy vọng rằng, Mỹ và Việt Nam sẽ hợp tác nhiều hơn nữa trong lĩnh vực quân sự này.

PV: Mỹ đã làm gì để góp phần giải quyết tranh chấp đó và ông sẽ làm gì để giúp giải quyết tranh chấp ở khu vực Biển Đông?

TNS John McCain: Tôi cho rằng, chính quyền Mỹ và Tổng thống Obama hiện nay đã chuyến hướng tập trung sang khu vực châu Á vì Mỹ nhận ra rằng kinh tế thế giới giờ đây là ở châu Á -Thái Bình Dương chứ không phải ở châu Âu như trước đây.

Mỹ cũng thừa nhận rằng, Trung Quốc hiện là một siêu cường trên thế giới. Mỹ có những mối quan hệ với các nước ở châu Á và cần vun đắp mối quan hệ đó. Tôi tin rằng, Mỹ cũng như Việt Nam không có ý định tạo ra căng thẳng. Những nỗ lực của chúng tôi là làm giảm căng thẳng và với những đồng minh tốt về kinh tế, chính trị và quân sự. Chúng ta có thể đạt được mục tiêu giảm những căng thẳng trong khu vực.

PV: Xin cảm ơn Thượng nghị sỹ!./.

Minh Hiển/từ Washington

28/5/12

Phỏng vấn ông Trần Công Trục: Trung Quốc đánh lạc hướng để độc chiếm tài nguyên Biển Đông

(Phụ nữ & Đời sống) -  “Trung Quốc ý thức được rằng, nếu dùng hải quân đánh chiếm một số vị trí, chắc chắn sẽ khiến các nước trong khu vực và trên thế giới phản ứng rất mạnh mẽ. Cả thế giới sẽ không thể ngồi yên khi ý đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc được hiện thực hóa bằng vũ lực” – Ý kiến của TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ.

TS Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ


Bước tiến nhằm “độc chiếm tài nguyên Biển Đông”?

PV: - Vụ đụng độ giữa Trung Quốc và Phillipines ở khu vực bãi cạn Scarborough chính thức bắt đầu cho những căng thẳng trên Biển Đông năm nay. So với mọi năm, Trung Quốc nhắm vào Phillipines, thay vì Việt Nam, theo ông, có phải ngẫu nhiên mà Trung Quốc chọn cách hành xử như vậy?

Trần Công Trục:
- Theo tôi, việc Trung Quốc nhằm vào bãi cạn Scarborough của Phillipines là một sự tính toán có thâm ý, có ý đồ rất sâu sắc, nằm trong những chiến lược bài bản của họ.

Ở đây, tôi xin không phân tích về phép thử phản ứng Mỹ của Trung Quốc vì đã có rất nhiều chuyên gia đề cập tới vấn đề này.

Tôi chỉ phân tích về mặt địa chất và địa lý của bãi cạn Scarborough, một lý do quan trọng khiến Trung Quốc nhằm vào mục tiêu này.

Bãi cạn Scarborough được Trung Quốc coi là một bộ phận của quần đảo Trung Sa - một trong 4 quần đảo ở Biển Đông được Trung Quốc tuyên bố thuộc chủ quyền của mình gồm: Tây Sa, Đông Sa, Trung Sa và Nam Sa - theo cách gọi của Trung Quốc).

Thực chất, nơi mà Trung Quốc gọi là quần đảo Trung Sa cũng là một bãi ngầm, phương Tây gọi là bãi ngầm san hô Macclesfield (Macclesfield Bank).

Theo Công ước về Luật Biển của Liên Hợp Quốc UNCLOS 1982 (phần 8, điều 121), bãi cạn Scarborough không phải là quần đảo, cũng không phải là đảo. Đó là bãi cạn san hô ngầm dưới biển, mang đặc trưng của vòng đai san hô của Thái Bình Dương, nằm ở giữa bãi Macclesfield và đảo Luzon (Phillipines), cách đảo Luzon khoảng 130 hải lý.

Vì thế, chỉ có thể coi đây là một bộ phận của thềm lục địa của quốc gia liên quan, tương tự như các bãi cạn thuộc thềm lục địa của Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Brunei, Philippinnes.

Động vào Scarborough chứng tỏ Trung Quốc muốn gộp Scarborough vào cái gọi là quần đảo Trung Sa (phương Tây gọi là bãi Macclesfield).

Nếu lần này Trung Quốc thành công, tiền lệ Scarborough sẽ tạo cơ sở cho Trung Quốc tiến hành thêm những bước mới, mở rộng phạm vi của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mà họ tự nhận họ có quyền thuộc chủ quyền do sự mở rộng các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia của Trung Quốc.

Những vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa riêng có của các nước sẽ đối mặt với bước đi của Trung Quốc.

PV:- Những căng thẳng ở khu vực bãi cạn Scarborough vẫn đang tiếp diễn với nhiều động thái có vẻ rất cương quyết của Phillipines và Trung Quốc. Theo ông, liệu có khả năng xảy ra xung đột như năm 1974 hay 1988?

Ông Trần Công Trục:- Trước hết, ngoài lợi ích cốt lõi về mặt hàng hải trên Biển Đông, Mỹ còn là đồng minh thân cận của Phillipines, đã ký kết với nước này Hiệp ước Hợp tác phòng thủ năm 1951.

Mỹ đã không làm ngơ trước những căng thẳng ở Scarborough, thể hiện bằng cả phản ứng ngoại giao và hành động thực tế (đưa tàu ngầm tới khu vực bãi cạn Scarborough).

Nếu thực sự xảy ra xung đột vũ trang, Mỹ có trực tiếp tham gia không đang là câu hỏi nhưng Trung Quốc vẫn phải e dè về điểm này.

Mặt khác, theo tôi, Trung Quốc ý thức được rằng, nếu dùng hải quân đánh chiếm một số vị trí, chắc chắn sẽ khiến các nước trong khu vực và trên thế giới phản ứng rất mạnh mẽ. Cả thế gới sẽ không thể ngồi yên khi ý đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc được hiện thực hóa bằng vũ lực.

“Đánh lạc hướng” dư luận thế giới

"Họ đặt Phillipines vào thế lựa chọn, hoặc là Trung Quốc hoặc là không ai cả, vì nếu xảy ra những tranh chấp như vậy, các công ty nước ngoài sẽ ngại hợp tác."
TS Trần Công Trục

PV:- Cố tình đẩy cao căng thẳng ở Scarborough, Trung Quốc nhằm vào mục đích gì?

Ông Trần Công Trục:- Thực chất, họ nhằm vào mục tiêu kinh tế, biến khu vực vốn không có tranh chấp lãnh thổ thành khu vực tranh chấp.

Trong lập luận mơ hồ rằng, bãi cạn Scarborough là một bộ phận của Trung Sa (bãi Macclesfield), Trung Quốc có chủ quyền, họ muốn kéo Phillipines vào đàm phán song phương, để được cùng khai thác, cùng thăm dò tài nguyên khoáng sản ở xung quanh khu vực này.

Họ đặt Phillipines vào thế lựa chọn, hoặc là Trung Quốc hoặc là không ai cả, vì nếu xảy ra những tranh chấp như vậy, các công ty nước ngoài sẽ ngại hợp tác (Exxon Mobiles đã phải rút lui).

Đối với các nước trong khu vực và trên thế giới, dường như giải quyết tranh chấp theo cách như vậy cũng hợp lý, hợp tình, nhất là khi Trung Quốc vẫn luôn tuyên bố tự do hàng hải ở khu vực Biển Đông khiến quyền lợi của họ chưa bị ảnh hưởng trực tiếp. Có thể nói, Trung Quốc muốn “đánh lạc hướng” dư luận thể giới để thực hiện ý đồ chiếm tài nguyên Biển Đông.

Sau Phillipines là Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Brunei
"Các nước không trực tiếp bị ảnh hưởng bởi sự tranh giành chủ quyền của Trung Quốc cũng không thể yên ổn khi căng thẳng và an ninh khu vực không được đảm bảo. Tôi chắc rằng, các nước ASEAN, những nước có liên quan chặt chẽ tới lợi ích và hiểu quá rõ bước đi của Trung Quốc sẽ sớm có tiếng nói đồng tình chung."

TS Trần Công Trục
PV:- Trước các hành động phạm luật quốc tế của Trung Quốc, chẳng hạn vụ Scarborough,Việt Nam luôn bày tỏ sự phản đối đúng luật pháp quốc tế. Liệu đó có phải là do “truyền thống hòa hiếu của dân tộc Việt”? Ông đánh giá như thế nào về những ý kiến cho rằng, Việt Nam cần thể hiện thái độ một cách kiên quyết và mạnh mẽ hơn?

Ông Trần Công Trục:- Mọi phản ứng ngoại giao giữa các quốc gia cũng phải tính toán rất nhiều yếu tố, cân nhắc các mối quan hệ rất nhiều mặt. Theo tôi, dư luận phải chia sẻ và thông cảm với điều đó.

Dù sao, trong các sự kiện đã xảy ra, Việt Nam cũng đã có những tuyên bố về mặt nguyên tắc: các bên phải đàm phán hòa bình và tôn trọng các thỏa thuận đã ký kết như UNCLOS 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông DOC 2002.

Tất nhiên, hi vọng Việt Nam có những tiếng nói mạnh mẽ, cụ thể và sâu sắc hơn cũng là nguyện vọng chính đáng của người dân. Đó là những nguyện vọng xuất phát từ lòng yêu nước, từ lợi ích quốc gia, dân tộc. Những người lãnh đạo hẳn sẽ quan tâm tới nguyện vọng này để có những bước đi cần thiết và phù hợp.

PV:- Ông bình luận thế nào về sự im lặng của Malaysia, Indonesia, Brunei… ? Bởi dù muốn hay không, nếu Trung Quốc thành công, như một vết dầu loang, các nước này sẽ phải đối diện với tham vọng của Trung Quốc.

Ông Trần Công Trục:- Như tôi đã nói từ đầu, trước mỗi sự phản ứng, nhất là đối với Trung Quốc, các nước đều tính toán lợi ích hoặc là trực tiếp hoặc là lâu dài. Nhưng tôi tin rằng, không phải họ im lặng vì họ không biết đến nguy cơ đó.

Mục tiêu của Trung Quốc là nhằm tới lợi ích kinh tế trên các vùng thềm lục địa, các vùng đặc quyền kinh tế trong phạm vi đường lưỡi bò phi lý, đụng chạm tới lợi ích kinh tế của các nước trong khu vực. Chẳng ai có thể ngồi yên khi lợi ích kinh tế của mình bị xâm phạm.

Các nước không trực tiếp bị ảnh hưởng bởi sự tranh giành chủ quyền của Trung Quốc cũng không thể yên ổn khi căng thẳng và an ninh khu vực không được đảm bảo. ASEAN đã đạt được Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông DOC, đang hướng tới mục tiêu thông qua Bộ quy tắc ứng xử COC trong năm 2012.

Tôi chắc rằng, các nước ASEAN, những nước có liên quan chặt chẽ tới lợi ích và hiểu quá rõ bước đi của Trung Quốc sẽ sớm có tiếng nói đồng tình chung.

PV:- Theo ông, ASEAN sẽ có vai trò như thế nào trong thuyết phục Trung Quốc từ bỏ tham vọng “đường lưỡi bò” một cách hòa bình?

Ông Trần Công Trục:- Vấn đề là làm sao đó để ngăn cản được bước phát triển gây ảnh hưởng tới lợi ích chính đáng của các quốc gia, đặc biệt về mặt kinh tế.

Theo tôi, hi vọng ASEAN trở thành một lực lượng thuyết phục Trung Quốc chỉ nhằm tới mục tiêu các nước có liên quan có thể đàm phán công khai, thẳng thắn, giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình.

Theo tôi, để thuyết phục Trung Quốc từ bỏ ý đồ độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc là rất khó, nếu không muốn nói là không thể.

Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta đừng nhìn hoặc buông xuôi. Lịch sử của Việt Nam cũng như nhân loại đã chứng minh, có những điều tưởng chừng như không thể vẫn trở thành điều có thể.

Trong câu chuyện Biển Đông hôm nay, điều đó phụ thuộc vào ý chí, quyết tâm của mỗi người dân, vào bản lĩnh và sự đoàn kết của mỗi quốc gia trong khu vực.

Hoàng Hạnh (Thực hiện)

7/5/12

Điều gì gây xung đột ở biển Đông?

Tác giả: Bhaskar Roy
Người dịch: Dương Lệ Chi

Hầu như trọn tháng 4 là cuộc tranh chấp trên biển Đông ở các khu vực thuộc quần đảo Trường Sa giữa Trung Quốc và Philippines đã leo thang tới mức độ chưa từng thấy. 

Philippines biểu tình phản đối Trung Quốc. Photo: timawa.net

Quần đảo Trường Sa có hơn 550 rạn san hô, các bãi cạn, đảo nhỏ và bãi đá ngập nước, chứa một lượng dầu khí lớn nhất thế giới, đang có 5 quốc gia ven biển đòi chủ quyền.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền biển đảo trong toàn bộ khu vực, trong khi các nước khác chỉ tuyên bố một phần. Trung Quốc đánh giá lượng dầu ở đó có thể cung cấp nhiên liệu mà họ cần trong 60 năm.

Lý do rõ ràng nhất nằm ở đây. Một đất nước đói năng lượng, nhập khẩu dầu khí của Trung Quốc đang gia tăng với tốc độ chóng mặt nhằm hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế của đất nước. Hiện Trung Quốc nhập khẩu hơn 60% nhu cầu năng lượng, chủ yếu từ vùng Vịnh, Iran và một số nước châu Phi. Các nước có liên quan khác cũng có nhu cầu tương tự.

Biển Đông (nguyên văn: Biển Hoa Nam) có tầm quan trọng chiến lược then chốt. Đây là tuyến đường biển thương mại bận rộn nhất trong khu vực. Là trung tâm hoạt động kinh tế toàn cầu, nếu đóng các tuyến đường biển thì nền kinh tế có thể thất bại và cũng sẽ ảnh hưởng đến châu Âu và Mỹ. Vì vậy, việc đòi chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông quả là mối quan ngại lớn.

Tại hội nghị ASEAN ở Hà Nội hồi tháng 7 năm 2010, các quan chức Trung Quốc đã đề nghị bà Hillary Clinton, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, rằng Mỹ chấp nhận Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc. Điều này có nghĩa là Trung Quốc có thể sử dụng sức mạnh quân sự một cách hợp pháp để thực thi chủ quyền trên toàn bộ vùng biển và kiểm soát lưu thông trên biển. Ngoại trưởng Clinton đã bác bỏ điều đó và nói rằng lập trường trung lập về biển là mối quan tâm quốc gia của Mỹ.

Chủ quyền trên biển Đông thực chất là mắc xích trong chiến lược biển đảo nhằm chi phối khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền trên các đảo Điếu Ngư (Senkaku), và đã đụng độ với các tàu của Nhật trong khu vực. Những hòn đảo trên biển Hoa Đông này do Nhật Bản kiểm soát. Chủ quyền trên đảo Điếu Ngư sẽ cho phép kiểm soát toàn bộ vòng cung ở bờ biển phía đông Trung Quốc và thậm chí mở rộng đến chuỗi đảo thứ hai. Dĩ nhiên, điều này gồm cả Đài Loan, mặc dù vấn đề này còn phức tạp hơn nhiều.

Năm ngoái, một tàu đánh cá Trung Quốc đâm vào một tàu khảo sát Việt Nam phá hủy cáp thăm dò. Xung đột giữa Trung Quốc và Philippines xảy ra gần đây, khi máy bay tuần tra của Philippines phát hiện tàu đánh cá của Trung Quốc ở bãi cạn Scarborough hôm 8 tháng 4. Tàu Philippines đã được gửi tới để ngăn cản các tàu Trung Quốc đánh bắt cá bất hợp pháp trong vùng biển Philippines, nhưng các tàu Trung Quốc đã tới để can thiệp. Sau khi xung đột kéo dài, cả hai bên đều rút lui.

Philippines tuyên bố chủ quyền trên bãi cạn Scarborough. Nước này đã xây ngọn hải đăng trên đó. Nhưng Trung Quốc cũng tuyên bố bãi cạn này là của họ, mặc dù nó nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.

Sự việc này càng trầm trọng hơn khi Mỹ và Philippines tập trận quân sự giữa tháng 4, gồm có bài tập lấy lại đảo bị lực lượng đối phương chiếm đóng. Hoa Kỳ và Philippines có một thỏa thuận quân sự, và hai bên đang đàm phán về việc nâng cao quan hệ đồng minh này hơn nữa, vạch ra các điều kiện rõ ràng như khi nào thì Hoa Kỳ có thể can thiệp quân sự, bảo vệ Manila.

Trung Quốc cũng chú ý tới mối quan hệ quân sự mới, đang phát triển giữa Mỹ và Việt Nam, hai nước này là kẻ thù cũ, dường như đang bắt tay với nhau để đối phó với Trung Quốc. Cuộc tập trận hải quân gần đây giữa hai nước đã làm Bắc Kinh vô cùng bối rối. Việt Nam và Trung Quốc có nhiều tranh chấp lãnh thổ lớn, không chỉ liên quan đến quần đảo Trường Sa, mà còn ở quần đảo Hoàng Sa, đã bị Trung Quốc chiếm đóng khi Mỹ rút khỏi Việt Nam. Mỹ có thể ngăn chặn điều này, nhưng mối quan tâm chiến lược lúc đó đã khác.

Trung Quốc đã phản ứng mạnh, chống lại cuộc tập trận quân sự giữa Mỹ và Philippines trên các báo có thẩm quyền viết về quân sự ở Trung Quốc, tờ Nhật báo Quân đội Giải phóng (LAD) hôm 21 tháng 4 đã cảnh báo rằng, tập trận quân sự đã thổi bùng nguy cơ đối đầu vũ trang về tranh chấp ở biển Đông. Hoàn Cầu Thời báo và Nhân dân Nhật báo hôm 26 tháng 4 cũng cảnh báo rằng, sẽ sai lầm nếu nghĩ Trung Quốc không dám trả đũa (quân sự) trước Đại hội Đảng lần thứ 18 vào tháng 10 năm nay.

Báo China Daily bằng tiếng Anh, hôm 26 tháng 4 cũng giữ sự lựa chọn quân sự, nhưng Thứ trưởng Ngoại giao Thôi Thiên Khải sẽ giải thích lập trường của Trung Quốc với Mỹ trong Đối thoại Chiến lược và Kinh tế, diễn ra vào ngày 3 và 4 tháng 5 tại Bắc Kinh. Thiếu tướng La Nguyên (Luo Yuan), người nổi tiếng cứng rắn, hôm 27 tháng 4 đã nói thẳng rằng, Trung Quốc sẽ không ngần ngại sử dụng hành động quân sự nếu Philippines sử dụng các phương tiện quân sự để ngăn cản quyền của họ. Tuyên bố của ông ta trên China.org.cn, có thể không phải là quan điểm của Bắc Kinh, nhưng nó phản ánh một tư duy quân sự.

Một điểm cần lưu ý ở đây là lập trường hiếu chiến đó do Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) dẫn đầu, tiếp theo là các cơ quan truyền thông chính trị, nhưng Bộ Ngoại giao Trung Quốc đang cố gắng làm dịu tình hình. Các tin tức gần đây cho thấy, tiếng nói của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc lấn át cả tiếng nói của Bộ Ngoại giao, nơi quan tâm đến các vấn đề lãnh thổ và chiến lược. Chuyên gia quân sự phương Tây nghiên cứu về Trung Quốc như ông Richard D. Fisher đã chỉ ra rằng, sự phô trương tên lửa đạn đạo “KN-08″ gắn trên xe phóng 16 bánh (TEL) của Bắc Triều Tiên hôm 15 tháng 4, có nguồn gốc từ Trung Quốc. Nó được xác định là sản phẩm của Tập đoàn Công nghệ Khoa học Vũ trụ Trung Quốc (CASIC), hay Tập đoàn Sanjiang Space Wanshan Special Vehicle.

Một báo cáo gần đây của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Mỹ (CRS) về việc phát triển của Trung Quốc, chỉ ra tường tận các chứng cứ về sự phát triển quân sự của Trung Quốc tới Bắc Triều Tiên, Pakistan và Iran.

Sự kiện chính trị gần đây liên quan đến ông Bạc Hy Lai, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Trùng Khánh cho thấy mọi thứ không được trôi chảy ở Trung Quốc. Trong khi ông Bạc và vợ ông là bà Cốc Khai Lai bị bắt để điều tra không những tội tham nhũng và giết người, mà còn có kế hoạch lật đổ các lãnh đạo hàng đầu. Ảnh hưởng của Bạc thậm chí lan khắp quân đội, điều mà các nhà chức trách đang cố gắng kiểm soát.

Ông Bạc đã bị loại khỏi mọi chức vụ, nhưng phải mất thời gian để thấy, ông đã được che chở ở những nơi quan trọng. Không lẽ chỉ có một mình ông Bạc Hy Lai ở nước này thôi sao? Hay còn có nhiều ông như ông Bạc nhưng kém quyền hơn ông ta?

Một bài báo điều tra của ông John Garnaut đăng trên Tạp chí Foreign Policy ngày 12 tháng 4 đã tiết lộ các sự kiện tham nhũng gây sốc, mối quan hệ ma quỷ, và những mưu chước của các chính trị gia ở các cấp độ cao hơn trong quân đội. Vì vậy, hoàn toàn có khả năng các cấp cao trong quân đội Trung Quốc đe dọa trật tự phát triển chính trị. Các giao dịch vũ khí thì sinh lợi và các tác động là có thật. Có lẽ đó là một trong những lý do mà giới lãnh đạo chính trị, đứng đầu là Hồ Cẩm Đào bị buộc hỗ trợ chế độ Bắc Triều Tiên và bỏ qua tất cả các sự vi phạm của họ và đe dọa các nước láng giềng.

Sau Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, không có nhà lãnh đạo chính trị nào có đủ uy tín để kiểm soát Quân đội Trung Quốc. Giang Trạch Dân về cơ bản đã mua chuộc các lãnh đạo quân đội Trung Quốc bằng cách hào phóng cho thăng chức, càng về cuối nhiệm kỳ, ông đã đạt được một số quyền kiểm soát. Nhưng bằng cách giữ chức chủ tịch Quân ủy Trung ương hai năm sau khi nghỉ hưu khỏi các chức vụ chính trị, ông ta đã làm suy yếu người kế vị mình, ông Hồ Cẩm Đào.

Những tay diều hâu ở Trung Quốc, đặc biệt là trong các nhóm chiến lược và quân đội, đã vứt bỏ câu châm ngôn của Đặng Tiểu Bình “ẩn mình chờ thời”. Nhấn mạnh rằng Trung Quốc bây giờ đã đủ mạnh cả về kinh tế lẫn quân sự đủ để thách thức các nước trong khu vực và trên toàn cầu. Trong khi yếu hơn so với Mỹ, sự tấn công của họ là để phủ nhận sự tham gia của Mỹ trong khu vực.

Họ xem Hoa Kỳ là kẻ phá hoại chính trong sự thống trị của Trung Quốc trong khu vực. Sự chuyển hướng mới của Hoa Kỳ sang châu Á do Tổng thống Barack Obama đề ra vào tháng 1 năm nay, đã gây xáo trộn quan điểm chiến lược quân sự của Bắc Kinh. Có thể lưu ý rằng, hồi cuối năm ngoái, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã thành lập Cục Quy hoạch Chiến lược (SPD) sẽ tương tác với các bộ dân sự để thống nhất chính sách. Đây là một sự phát triển nguy hiểm.

Quân đội hỗ trợ cách tiếp cận trong các tranh chấp lãnh thổ trên biển Đông và điều đó đối với Nhật Bản, có thể gây tốn kém nhiều cho Trung Quốc. Điều này đã thúc đẩy Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc xem lại đánh giá của họ về mối đe dọa Trung Quốc. Trung Quốc đã hối thúc ASEAN cân nhắc cách tiếp cận đa phương về các vấn đề lãnh thổ với Trung Quốc.

Tiếc thay, chính Trung Quốc đã tạo ra những thách thức này cho chính họ. Khó có thể thay đổi trật tự hiện có bằng súng ống. Chúng ta hãy chờ xem lãnh đạo sắp tới, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường giành lại quyền hành thực sự trong Đảng thế nào.

Hải quân Trung Quốc đang tăng cường tuần tra trên biển Đông. Họ sẽ xuất bản một bản đồ mới về biển, để tiếp tục củng cố thêm các tuyên bố chủ quyền của họ, do bản đồ với đường chín đoạn hiện tại cho thấy không có đủ lý lẽ từ chính các chuyên gia Trung Quốc, và quân đội Trung Quốc có khả năng chọn cuộc tấn công ngắn chống lại Philippines và làm suy yếu nước này. Sau khi nghiên cứu cuộc chiến Falkland, cuộc không kích của Israel vào cơ sở hạt nhân Osirak của I-rắc, và cuộc tấn công đầu tiên vào I-rắc, các nhà chiến lược quân sự Trung Quốc đã kết luận rằng, một cuộc chiến tranh quyết định và thần tốc có thể tránh sự can thiệp của quốc tế. Nguồn: SAAG

5/5/12

TRUNG QUỐC: HÃY ĐỌC KỸ SỬ CHÍ ĐỂ KHỎI NÓI CÀN RẰNG ĐẢO BẠCH LONG VĨ KHÔNG THUỘC CHỦ QUYỀN VIỆT NAM


Văn chương +

[Bài viết nhằm nhắc nhở một vài người Hoa (China), hãy đọc kỹ sử chí nước họ; để khỏi nói càn rằng đảo Bạch Long Long Vĩ không thuộc chủ quyền Việt Nam.]
Hai bộ sách trong Tứ Khố Toàn Thư có tên Lãnh Ngoại Ðại Ðáp (嶺 外 代 答) và Ðông Tây Dương Khảo (東 西 洋考 )đề cập nhiều lần đến Giao Chỉ dương tức biển Giao Chỉ
Lãnh Ngoại Ðại Ðáp do Chu Khứ Phi soạn. Khứ Phi người đất Vĩnh Gia, đậu Tiến sĩ năm  Long Hưng thứ 1 [1193]; từng giữ chức Thông phán tại Quế Lâm, Quảng Tây. Vì làm quan lâu năm tại đây, nên có nhiều bạn hữu hỏi thăm về lịch sử địa lý phong tục vùng này; số người muốn biết rất đông, phải trả lời phát mệt, nên ông viết bộ sách thay thế,  sách nhan đề  Lãnh Ngoại Ðại đáp có nghĩa là “ thay lời giải đáp về vùng đất Lãnh Ngoại ”, sách gồm 10 quyển.
Qua nhan đề sách, cần phân biệt các từ ngữ “lãnh” và “sơn”. Sơn là núi thuần túy, lãnh là núi có đường đi qua; ví như tại nước ta thì các núi tại đèo Cả, đèo Ngang đều có thể gọi là lãnh. Tuy nhiên Chu Khứ Phi xét trên thực tế cho rằng Ngũ Lãnh là 5 con đường chính vào đất Lãnh Ngoại, có thể qua núi, có thể không:
- Từ đất Ðinh thuộc Phúc Kiến vào Tuần Mai, Quảng Ðông; là đường thứ nhất.
- Từ Nam An, Giang Tây vượt qua Ðại Dữu vào Nam Hùng, Quảng Ðông; đường thứ hai.
- Từ đất Lâm thuộc Hồ Nam vào đất Liên; đường thứ ba.
- Từ đất Ðạo vào đất Hạ, Quảng Tây, là đường thứ tư.
- Từ đất Toàn vào Tĩnh Giang, là đường thứ năm.
Còn Lãnh Ngoại tại đâu? Tức lãnh thổ nước Nam Việt thời nhà Triệu; bằng cớ được thấy qua thư của Hán Văn đế gửi cho Nam Việt vương Triệu Ðà vào năm Hán Văn đế thứ nhất [ _179 ], do Sứ thần Lục Giả trao tay cho Triệu Ðà, có đoạn như sau:
“…..Nay lấy đất của Vương không đủ lớn thêm được, lấy của cải của Vương cũng không đủ giàu thêm được, thôi thì từ Ngũ Lãnh trở về nam do Vương tự trị. Tuy nhiên với danh hiệu Ðế mà Vương tự xưng; như vậy có hai Ðế cùng tồn tại, lại không còn sứ giả đi lại, tức là tranh chấp. Nếu tranh dành mà không biết nhường nhịn, bậc quân tử không ai làm như vậy. Mong rằng sẽ cùng Vương bỏ sai lầm cũ , để hai nước thông sứ như cũ. Bởi vậy Trẫm sai Lục Giả mang dụ cáo Vương, Vương hãy nhận lấy, đừng đánh phá thêm nữa ….”(1)
Xét về lai lịch vùng đất này, Chu Khứ Phi xác nhận trước đó đã bị bị Tần Thủy Hoàng thôn tính [_214 ]:
“ Từ khi Hoàng đế nhà Tần thôn tính thiên hạ, xẻ núi làm đường, lược định Dương Việt, đặt ra Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận.” (2)
Ðến đời Hán Vũ đế [_111] xâm lăng nước Nam Việt của nhà Triệu, tiện thể chiếm đảo Hải Nam; chia tất cả thành 9 quận:
“Hán Vũ đế bình Nam Việt chia đất Quế Lâm của nhà Tần thành 2 quận: Uất Lâm và Thượng Ngô;chia Tượng quận thành 3 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam;[Nam Hải được giữ tên cũ]cắt phần đất thừa của Nam Hải và Tượng quận lập quận Hợp Phố;từ đất Từ Văn vượt biển chiếm đảo Hải Nam chia thành 2 quận: Chu Nhai và Ðam Nhĩ. (3)”
Như chúng ta đã biết 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam thuộc đất Ðại Việt cũ, Cửu Chân là Thanh Hóa, Giao Chỉ tại phía bắc Cửu Chân tương đương với Bắc Việt ngày nay, tức từ tỉnh Ninh Bình lên phía bắc cho đến biên giới Trung Quốc; vậy biển Giao Chỉ, hay Giao Chỉ dương còn có thể gọi là biển Bắc Việt.
Chu Khứ Phi xác nhận Giao Chỉ dương, tại phía tây đảo Hải Nam, ông mô tả như sau:

 Ba dòng nước xoáy
Bốn quận phía tây nam đảo Hải Nam có biển lớn gọi là Giao Chỉ dương. Tại biển có 3 dòng nước xoáy, nước phun lên chía thành 3 dòng; dòng thứ nhất chảy về phía nam dẫn đến biển thuộc các nước Phiên (4); dòng thứ 2 chảy lên phía bắc qua vùng biển Quảng Ðông, Phúc Kiến, Chiết Giang; dòng thứ 3 chảy vào nơi mù mịt không bờ gọi là Ðông Ðại Dương. Tàu thuyền đi về hướng nam phải qua ba dòng nước xoáy, nếu gặp một chút xíu gió thì vượt được,nếu vào chổ hiểm đó mà không có gió  thuyền không ra được, ắt phải vỡ chìm trong ba dòng nước xoáy. Nghe truyền rằng biển lớn phía đông  có  Trường Sa Thạch Ðường (5) rộng vạn dặm, nước thủy triều (6) thi triển đẩy vào chốn cửu u (7). Trước kia đã có thuyền bị bão phía tây thổi, trôi dạt đến biển lớn phía đông này , nghe tiếng ba đào chấn nộ hung hãn, trong khoảng khắc gặp gió lớn thuận chiều nên may thoát được .
Bản đồ Google chỉ vùng biển Giao Chỉ

Phiên âm và chú thích bản đồ Google:
Beihai: Bắc Hải thị, thuộc phủ Liêm Châu đời Thanh.
Changgiang lizu: Xương Giang Lê tộc, thuộc phủ Quỳnh Châu thời Thanh
Dongxing: Ðông Hưng, thuộc phủ Liêm Châu thời Thanh.
Fangchenggang: Phòng Thành thị, thuộc phủ Liêm Châu thời Thanh.
Hepo: huyện Hợp Phố, thuộc phủ Liêm Châu thời Thanh.
Lezhou: phủ Lôi Châu thời Thanh.
Lingao: huyện Lâm Cao thuộc phủ Quỳnh Châu [Hải Nam]
Xuwen: huyện Từ Văn, thuộc phủ Lôi Châu
Nhìn lên bản đồ Google, vị trí  biển Giao Chỉ hoặc Giao Chỉ dương, về phía Việt Nam gồm duyên hải các tỉnh Ninh Bình, Nam Ðịnh, Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh. Về phía Trung Quốc, Giao Chỉ dương nằm ngoài vùng biển thuộc 3 phủ của Trung Quốc, đó là: Liêm Châu, Lôi Châu, và Quỳnh Châu. Căn cứ bản đồ và những điều mô tả trong Trù Hải Ðồ Biên (籌 海 圖 編 )của Hồ Tôn Hiến thời Gia Tĩnh triều Minh, và Khâm Ðịnh Ðại Thanh Nhất Thống Chí (欽定大清一統志 )thời Càn Long nhà Thanh, thấy được vùng duyên hải 3 phủ như sau:
- Vùng biển phủ Liêm Châu, từ tây sang đông bắt đầu từ biên giới Việt nam cho đến giáp giới phủ Lôi Châu, có các đơn vị hành chánh hiện nay như Ðông Hưng thị [Dongxing], Phòng Thành cảng thị [Fangchenggang] , Khâm châu thị [Quinzhou], huyện Hợp Phố [Hepu], Bắc Hải thị [Beihai] . Bờ biển dài khoảng 150 km,  đảo ngoài xa như Ô Lôi cách bờ biển khoảng 90 km.
- Vùng biển phủ Lôi Châu,phía tây giáp với biển Giao Chỉ. Bờ biển dài khoảng 150 km, hiện nay có các đơn vị hành chánh như Lôi Châu thị [Leizhou], huyện Từ Văn [Xuwen];  đảo xa phải kể đến Khốn Châu, cách bờ khoảng 60 km.
- Vùng biển phía tây phủ Quỳnh Châu [Hải Nam] giáp với biển Giao Chỉ. Bờ biển dài khoảng 300 Km, hiện nay có các đơn vị hành chánh như: huyện Lâm Cao [Lingao], Ðam Châu thị [Danzhou], cảng Xương Hóa [Changjang Lizu],Tam Á thị [Sanya].
Có thể nói rằng ngoại trừ phần lãnh hải 3 phủ nêu trên, phần còn lại là biển Giao Chỉ, bề ngang từ tây sang đông trên 200 km. Nay xét đến đảo Bạch Long Vĩ tại tọa độ địa dư 20.08 bắc 107.44 đông, chỉ cách bờ biển Hải Phòng chưa đến 100 km, ắt phải nằm trong biển Giao Chỉ, tức thuộc lãnh hải Việt Nam.
Hãy nhìn lại bản đồ Trung Quốc và vùng Ðông Nam Á; từ các tỉnh Chiết Giang, Phúc Kiến, và phía bắc Quảng Ðông, thủy trình ngắn nhất đến các nước Ðông Nam Á như Chiêm Thành, Chân Lạp, Trảo Oa (8) vv… phải theo hướng nam, tức phía đông đảo Hải Nam. Nhưng trên thực tế họ  tránh quần đảo Hoàng Sa, với sự hãi hùng như tác gỉả Lãnh Ngoại Ðại Ðáp đã mô tả “Nghe truyền rằng biển lớn phía đông  có  Trường Sa Thạch Ðường  rộng vạn dặm, nước thủy triều  thi triển đẩy vào chốn cửu u . Trước kia đã có thuyền bị bão phía tây thổi, trôi dạt đến  biển lớn phía đông này , nghe tiếng ba đào chấn nộ hung hãn, trong khoảng khắc gặp gió lớn thuận chiều,  nên may thoát được ”; nên đã chọn một hải trình xa hơn, hải trình này men theo hướng đông tây, luồn qua eo biển giửa phủ Lôi Châu và Hải Nam, đến biển Giao Chỉ, rồi tiếp tục theo hướng nam đến các nước Ðông Nam Á.
Cũng qua đoạn văn trích dẫn, thấy được sự thiếu đứng đắn của các nhà nghiên cứu Trung Quốc khi đề cập đến yếu tố lịch sử của quần đảo Hoàng Sa. Họ thường nêu tên tác phẩm Lãnh Ngoại Ðại Ðáp của Chu Khứ Phi, với Trường Sa Thạch Ðường, như là một bằng cớ về đời Tống đã làm chủ đảo này! Nhưng họ không dám nêu trọn văn bản, để biết rằng tác giả Chu Khứ Phi tự nhận rằng chỉ “truyền văn” [ nghe nói, rumor] chứ không có bằng chứng ; và kẻ thực sự đến được chỗ đó chỉ là người trên chiếc thuyền bị trôi dạt, may mà thoát được thân! Nói một cách khác, từ đời Thanh trở về trước chỉ có một vài thuyền Trung Quốc bị gió trôi dạt, và một ít dân nghèo làm nghề đánh cá mạo hiểm đến quần đảo Hoàng Sa mà thôi.
Như đã đề cập tại phần mở đầu, Ðông Tây Dương Khảo của Trưởng Biến thời nhà Minh, cũng đề cập nhiều lần đến biển Giao Chỉ. Phần lớn tư liệu trong bộ sách này thiên về thực dụng, cung cấp các tài liệu hàng hành [navigation] cho các thuyền Trung Quốc dưới thời nhà Minh hàng hải đến các nước vùng đông nam Á. Trương Biến cho biết trên mỗi thuyền phải có một châu sư [navigator] căn cứ vào tài liệu nêu trên, để hướng dẫn thuyền đi đúng hải trình. Tài liệu cung cấp 3 yếu tố căn bản, buộc các châu sư phải lưu ý:
- Phương hướng: trên thuyền có chỉ nam châm [指南針, compass], lẽ dĩ nhiên không dùng độ như ngày nay, nhưng nếu chịu khó tìm hiểu cũng có thể đổi [decode] ra được; ví như hướng đơn Hợi=330 độ; hướng Nhâm Tý=352.5 độ.
- Khoảng cách: không tính bằng dặm, mà tính bằng canh; một ngày một đêm có 10 canh.
- Ðộ sâu: không tính bằng thước mà tính bằng sải tay. Ðây cũng thiên về thực dụng, lúc thủy thủ dòng dây từ thuyền xuống đáy biển, khi kéo dây lên dùng sải tay đo đếm dễ dàng, mỗi sải tay khoảng 1.6 m.
Nhờ tài liệu nêu trên, nên chúng ta biết rằng thương thuyền Trung Quốc, cùng các thuyền chở sứ giả thời nhà Minh, đến vùng đông nam Á, đều chuẩn bị khởi hành tại biển Giao Chỉ, rồi men theo bờ biển An Nam, Chiêm Thành; có thể ghé qua một vài địa điểm thuận tiện như Thanh Hóa, Hội An, Qui Nhơn để buôn bán, tìm nguồn cung cấp về thực phẩm và nước ngọt. Hầu như họ chưa bao giờ ra đến cái gọi là vùng biển lưỡi bò chữ u, mà Trung Quốc hiện nay lớn tiếng rêu rao để đòi chủ quyền! Ðặc biệt các tàu thuyền đi xuống vùng Mã Lai, Singapore, Nam Dương hiện nay, đều ghé đất Linh Sơn thuộc nước Chiêm Thành cũ, một địa điểm tại tỉnh Phú Yên hiện nay, để từ đó ra khỏi mũi Ðại Lãnh gần vũng Rô. Nơi này không còn bị núi che khuất; có thể  hướng chỉ nam châm thẳng đến đảo Côn Lôn, đảo có núi cao dễ nhận biết; để từ đó lại dùng chỉ nam châm dẫn đến nước muốn đến. Mọi chi tiết về hàng hành từ Trung Quốc đến các nước Ðông Nam Á xin hẹn trình bày chi tiết qua bài viết khác./.

HỒ BẠCH THẢO

___________________

Chú thích
1.Xem Triệu Ðà và nước Nam Việt, Hồ Bạch Thảo, Diễn Ðàn Forum, ngày 29/5/2009
2.Lãnh Ngoại Ðại Ðáp, quyển 1, trang 12.
3.Lãnh Ngoại Ðại Ðạp, quyển 1, trang 12-13.
4.Nước Phiên: Trung Quốc xưa chỉ các nước thuộc vùng đông nam Á, như An Nam, Chiêm Thành, Tiêm La, Tam Phật Tề vv…
5. Người Trung Quốc xưa gọi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là Vạn Lý Trường Sa Thạch Ðường; vì tại đó có bãi cát rộng, đảo vây biển thành ao nước có đá san hô bao quanh như thạch đường [thạch đường có nghĩa là ao xung quanh bằng đá].
6. Nguyên văn “vĩ Lư” chỉ thủy triều; điển lấy từ bài Thu Thủy của Trang Tử như sau: “Thiên hạ chi thủy,mạc bất ư hải, vạn xuyên qui chi, bất tri hà thời chỉ nhi bất doanh; vĩ lư tiết chi, bất tri hà thời dĩ nhi bất hư” ; ý nói trong thiên hạ không đâu nhiều nước bằng biển; vạn sông chảy vào không biết đến bao giờ thì dừng, thủy triều thi triển không biết lúc nào dứt.
7.Cửu u: nơi tối tăm mờ mịt, như đi vào âm phủ.
8. Trảo Oa:Java.
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...