Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

2/3/11

Nga chuẩn bị đặt thêm hàng loạt tên lửa sát Nhật Bản

Nga sẽ triển khai tên lửa hành trình diệt hạm và nhiều hệ thống phòng không khác trên quần đảo Kuril, trong đó có bốn hòn đảo mà Nhật tuyên bố là thuộc về họ.

Tên lửa Yakhont có chiều dài 8,9 m, đường kính 0,71 m, với tổng khối lượng 3.000 kg. Ảnh minh họa.

Bộ Tổng tham mưu quân đội Nga hôm qua khẳng định, Moscow sẽ bố trí tại Kuril các tên lửa diệt hạm Yakhont và hệ thống phòng không Tor-M2.

Các hệ thống tên lửa này có thể được triển khai trên cả hai đảo Etorofu và Kunashiri, hai trong bốn hòn đảo Nhật có tuyên bố chủ quyền.

Nếu kế hoạch của Nga được thực sự triển khai, nó sẽ giúp Nga “che phủ” được một phần của đảo cực Bắc của Nhật Bản là Hokkaido.

Với hệ thống Tor-M2 có thể phóng đồng thời bốn tên lửa vào bốn mục tiêu khác nhau, sức mạnh phòng không của Nga tại Kuril sẽ tăng lên đáng kể.

Ngoài Tor-M2 và Yakhont, Nga còn có dự định triển khai tới đảo Etorofu trực thăng Mi28, siêu máy bay có thể mang cả tên lửa chống tăng.

Chưa dừng lại, Bộ Tổng tham mưu Nga còn có tể bố trí tại đây hệ thống tên lửa phòng không S-400 nhằm bảo vệ họ trước các cuộc tấn công có thể xảy ra. Đây là hệ thống tên lửa phòng không thế hệ mới do cục thiết kế Almaz nghiên cứu chế tạo, có tầm hoạt động 400km tiêu diệt các mục tiêu: máy bay (kể cả các loại phi cơ tàng hình), tên lửa hành trình, tên lửa đạn đạo.

Có khả năng Nga sẽ triển khai S-400 Triumf tới Nam Kuril.

Những kế hoạch trên hiện được trình lên Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov chờ phê duyệt và diễn ra trong bối cảnh Tổng thống Nga Dmitry Medvedev vừa khẳng định tăng cường hiện diện tại Kuril, coi đây là khu vực mang tính chiến lược của Nga.

Phát biểu trong cuộc họp ở Tokyo hôm 8/2, Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan gọi chuyến viếng thăm của ông Medvedev tới quần đảo Kuril tháng 11/2010 là “sự xúc phạm không thể tha thứ” và đã làm cho Moscow phản ứng dữ dội.
Yakhont (NATO đặt tên SS-N-26). Loại tên lửa này được thiết kế vào năm 1985, tại cục thiết kế NPO Mashinostroyeniye, là một trong những thế hệ tên lửa đối hạm hiện đại phát triển từ các thiết kế cũ hơn như P-120 Malakhit, P-270 Moskit và P-700 Granit.

Tên lửa Yakhont có chiều dài 8,9 m, đường kính 0,71 m, với tổng khối lượng 3.000 kg. Nó được thiết kế bốn cánh delta ở giữa thân và bốn cánh nhỏ hơn ở đuôi để kiểm soát đường bay.
(Theo Japan Times, Defence Talk)

Mỹ đưa quân áp sát Libya

Mỹ và các nước phương Tây đang cân nhắc biện pháp can thiệp quân sự nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng ở Libya.
Mỹ đang điều tàu sân bay USS Enterprise (trái) và tàu đổ bộ USS Kearsarge (phải) vào Địa Trung Hải, gần Libya - Ảnh: Reuters

Bộ Quốc phòng Mỹ cho hay đang tích cực triển khai các lực lượng hải quân và không quân tới gần Libya. AFP hôm qua dẫn thông báo của Lầu Năm Góc viết động thái này nhằm đạt được “sự linh hoạt ngay khi các quyết định được đưa ra”. Trên thực tế, quân đội Mỹ đã có sự hiện diện đáng kể từ trước tại khu vực gần Libya. Hạm đội 6 của Mỹ đặt đại bản doanh tại Ý trong khi một căn cứ máy bay của hải quân nước này cũng nằm trên đảo Sicily, miền nam Ý, chỉ cách Libya chưa đến một giờ bay.

Washington không nói rõ thiết bị quân sự nào sẽ được triển khai, nhưng theo tờ Telegraph hôm qua, Lầu Năm Góc được cho là đang điều tàu sân bay USS Enterprise từ Hồng Hải vào Địa Trung Hải. Ngoài ra, tàu tấn công đổ bộ USS Kearsage với một phi đội trực thăng và 2.000 lính thủy quân lục chiến cũng được triển khai lần này.

Tờ Financial Times thì dẫn lời Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố rằng Mỹ “không loại trừ lựa chọn nào” để buộc chính quyền của nhà lãnh đạo Muammar Gaddafi chấm dứt “đàn áp người dân Libya”. Tuy nhiên, bà Clinton cũng nói việc triển khai lực lượng nói trên không phải là dấu hiệu cho thấy một hành động quân sự gần kề.

Trong khi đó, Telegraph dẫn lời Thủ tướng Anh David Cameron tuyên bố nước này không loại trừ khả năng sử dụng quân sự để buộc ông Gaddafi ra đi. Nhà lãnh đạo Anh nói nước này và và các đồng minh đang xem xét thiết lập vùng cấm bay ở quốc gia Bắc Phi và sẽ triển khai máy bay chiến đấu tuần tra và bắn hạ những máy bay Libya tấn công người biểu tình. Theo đó, nếu vùng cấm bay được áp dụng, Anh sẽ huy động các máy bay Tornado và Typhoon từ căn cứ Akrotiri trên đảo Síp. Pháp cũng tuyên bố sẽ hỗ trợ một chiến dịch can thiệp bằng quân sự với các đối tác trong NATO.

Tuy nhiên, Financial Times dẫn lời giới quan sát đánh giá việc vận động LHQ phê chuẩn lập vùng cấm bay có thể gặp khó khăn do Nga và Trung Quốc vẫn nghi ngại việc can thiệp quân sự vào Libya. Một số nhà ngoại giao thì đề xuất vùng cấm bay có thể do một liên minh các nước không thuộc NATO kiểm soát.

Ngoài ra, Mỹ vừa phong tỏa ít nhất 31 tỉ USD của chính quyền Libya trong khi Anh đóng băng 1 tỉ bảng tài sản của gia đình ông Gaddafi. Đến nay, nhà lãnh đạo Libya chưa tỏ dấu hiệu sẽ ra đi. Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo kỳ cựu Christiane Amanpour của ABC News tại Tripoli, ông Gaddafi tiếp tục cáo buộc al-Qaeda kích động bạo loạn và liên tục khẳng định: “Tất cả nhân dân Libya yêu mến tôi và họ thà chết để bảo vệ tôi”.

Chỉ sau 12 giờ kể từ khi Mỹ cho biết sẽ triển khai tàu chiến và không lực áp sát biên giới Libya, ông Gaddafi đã điều các lực lượng đến cố thủ vùng biên giới phía Tây của nước này, đoạn giáp Tunisia, trong nỗ lực kháng cự lại sức ép quân sự của phương Tây. Reuters dẫn lời các phóng viên ở Tunisia cho hay họ thấy nhiều xe thiết giáp được dàn bên kia biên giới, còn binh lính được trang bị súng AK.

Trùng Quang 
Nguồn: Thanhnien online

Lính Hàn Quốc được phép phản công không cần lệnh

Bộ trưởng Quốc phòng Hàn Quốc hôm qua ra lệnh binh sĩ phải hành động ngay lập tức nếu bị CHDCND Triều Tiên tấn công mà không cần chờ lệnh. “Đừng hỏi có nên bắn hay không. Hành động trước báo cáo sau”, Yonhap dẫn lời ông Kim nói với binh sĩ đóng tại biên giới với miền Bắc.

Tàu sân bay USS Ronald Reagan sẽ tham gia tập trận Hàn-Mỹ - Ảnh: Reuters

Chỉ đạo trên được đưa ra giữa lúc Bình Nhưỡng dọa tiến hành chiến tranh tổng lực nhằm đáp trả cuộc tập trận Hàn-Mỹ đang diễn ra. Tờ Chosun Ilbo dẫn nguồn tin chính phủ cho hay Mỹ sẽ đưa tàu sân bay USS Ronald Reagan và một số tàu khu trục tới Hàn Quốc vào giữa tháng 3 để tham gia tập trận, dự kiến kéo dài tới 30.4.

Cũng hôm qua, Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak tuyên bố sẵn sàng đối thoại với miền Bắc. Trong lần phát biểu này, ông Lee không cảnh báo sẽ đáp trả mạnh tay các hành động khiêu khích của miền Bắc như trước đó. Theo Yonhap, đây là một dấu hiệu cho thấy Seoul nghiêm túc trong nỗ lực giảm căng thẳng liên Triều.

Trong một diễn biến khác, tờ Sankei của Nhật hôm qua đưa tin đại tướng Kim Jong-un, con trai út của lãnh đạo CHDCND Triều Tiên Kim Jong-il, có thể sẽ thăm Trung Quốc vào khoảng 14.3.

Văn Khoa 
Nguồn: Thanhnien online

1/3/11

Việt Nam sẽ ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ

Phát biểu tại phiên cấp cao khóa họp lần thứ 16 Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, chiều 28/2 tại Geneva, Thụy Sĩ, Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cho biết Việt Nam sẽ ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2013-2016. 
 
Toàn cảnh một phiên họp của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. (Nguồn: .un.org)

Trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN tại Geneva về mục đích của việc ứng cử này, ông Phạm Bình Minh cho biết Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm đảm bảo tất cả mọi người dân đều được hưởng các quyền con người. Vì vậy, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an ninh xã hội, xóa đói giảm nghèo, giáo dục, y tế, việc làm, tạo cơ sở vững chắc cho việc thụ hưởng các quyền con người ở Việt Nam.

Những thành tựu này đã được Việt Nam nêu lên trong báo cáo kiểm điểm định kỳ tại Hội đồng Nhân quyền năm 2009. Cũng tại kỳ kiểm điểm này, nhiều nước đã đưa ra kiến nghị muốn chia sẻ kinh nghiệm của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người, họ đánh giá đây là điểm mạnh của Việt Nam.

Chính sách nhất quán của Việt Nam là phấn đấu cùng cộng đồng quốc tế thúc đẩy việc hưởng thụ và bảo vệ nhân quyền cho nhân dân các nước. Chính vì vậy, Việt Nam cần tham gia làm thành viên của Hội đồng Nhân quyền để cùng các nước thực hiện quyền con người, cùng chia sẻ những kinh nghiệm thành công của Việt Nam. Đây cũng chính là thực hiện chính sách đối ngoại tích cực, chủ động hội nhập quốc tế mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 11 đề ra.

Đánh giá vai trò của Hội đồng Nhân quyền thời gian qua, Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cho rằng từ khi được thành lập vào năm 2006, Hội đồng Nhân quyền bước đầu đã đáp ứng được mong mỏi của các nước khi thành lập tổ chức này. Có thể nói trong 5 năm qua, Hội đồng Nhân quyền đã thúc đẩy theo hướng đó.

Ông Phạm Bình Minh cho biết thêm Hội đồng Nhân quyền ra đời thay thế cho Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc. Một trong những thiếu sót của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc là chính trị hóa các vấn đề quyền con người.

Hội đồng Nhân quyền được thành lập với mong muốn không chính trị hóa những vấn đề nhân quyền, trên cơ sở để các nước thông qua Hội đồng Nhân quyền cùng nhau thúc đẩy và bảo đảm quyền của người dân được thụ hưởng các quyền con người.

Trong 5 năm qua, Hội đồng Nhân quyền đã đáp ứng được mong mỏi của các nước, đó là thúc đẩy và đảm bảo thực hiện quyền con người trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và chính trị.

Hội đồng Nhân quyền cũng là diễn đàn để các nước cùng nhau trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm. Một trong những cơ chế mà Hội đồng Nhân quyền đưa ra đó là kiểm điểm định kỳ của tất cả các nước thành viên. Họ đều có trách nhiệm kiểm điểm việc thực hiện quyền con người tại nước mình. Đây cũng là thực hiện sự bình đẳng giữa tất cả các quốc gia.

Theo ông Phạm Bình Minh, Hội đồng Nhân quyền cũng đã thúc đẩy sự hợp tác giữa các nước. Các quốc gia đều mong muốn các cơ chế của Liên hợp quốc là cơ chế tạo ra sự hợp tác giữa các nước trên những lĩnh vực cùng quan tâm./.

(Theo TTXVN/Vietnam+)

Vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa: Hoan nghênh bản đồ trực tuyến!

“Tôi rất hoan nghênh việc công bố website chính thức về bản đồ trực tuyến Việt Nam. Tôi sẵn sàng chia sẻ không điều kiện tất cả tài liệu tôi đã nghiên cứu, đồng ý cho dịch chúng ra các thứ tiếng để quảng bá rộng rãi về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa trong nước và ngoài nước”.

TS Nguyễn Nhã đã hơn 50 năm nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa.

“Cũng vào khoảng thời gian này năm ngoái, Hội Địa lý Quốc gia Mỹ đã công bố những bản đồ chưa đúng sự thật về chủ quyền Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị ghi chú trong ngoặc China.

Sự kiện xảy ra trên tưởng như không tốt cho Việt Nam, song thật sự đã đem lại nhiều ích lợi vì dường như từ những bài học như thế, Việt Nam biết rút kinh nghiệm”.

TS Nguyễn Nhã, tác giả luận án “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” đã có cuộc trao đổi với PV Bee sau khi biết tin Việt Nam sẽ sớm có trang web chính thống quảng bá thông tin bản đồ.

Trang web bản đồ trực tuyến nên có tiếng Anh và Trung Quốc

Cuối cùng, việc xây dựng một trang web chính thống quảng bá thông tin bản đồ của Việt Nam đã sắp thành hiện thực. Ông nghĩ thế nào về sự kiện này?


Tôi rất hoan nghênh việc công bố website chính thức về bản đồ trực tuyến Việt Nam. Theo tôi, ngoài những tư liệu bản đồ, nên công bố cả những tư liệu lịch sử chứng minh chủ quyền của Việt Nam với những khu vực như quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng nên có phiên bản tiếng nước ngoài, trước mắt là tiếng Anh và tiếng Trung Quốc, để các cá nhân, tổ chức nước ngoài đọc và hiểu quan điểm chính thống về lãnh thổ của Việt Nam.

Sở dĩ Việt Nam vẫn hiên ngang tồn tại với thời gian bởi như GS Trần Văn Giàu đã viết chìa khóa lịch sử Việt Nam qua các thời đại là chủ nghĩa yêu nước!

Hoàng Sa – Trường Sa trong Biển Đông là yết hầu của Việt Nam. Tôi đã từng nói dù phải mất 1000 năm, như trước đây chúng ta vẫn đợi, vẫn kiên trì đấu tranh để Hoàng Sa Trường Sa vĩnh viễn là của Việt Nam.

GS Trần Văn Giàu từng nói rằng thời đại điện tử hiện nay không phải chờ lâu như trước nữa. Tôi cũng tin như vậy. Bản đồ trực tuyến là việc đáng làm và đáng mừng trong lộ trình đó.

Là một người nhiều năm nghiên cứu và thu thập tư liệu về vấn đề chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa, ông có sẵn sàng chia sẻ những tư liệu đó lên trang web bản đồ trực tuyến sắp tới, nếu được yêu cầu?

Tất nhiên. Tôi sẵn sàng chia sẻ không điều kiện tất cả những tài liệu mà tôi có. Tôi cũng đồng ý nếu ai đó muốn dịch những tài liệu đó sang các thứ tiếng để quảng bá rộng rãi về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa tới những người quan tâm ở các nước trên thế giới.

Như tôi đã phát biểu việc nghiên cứu về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của tôi, với tính cách một nhà nghiên cứu là con đường đi tìm sự thật và với tính cách một công dân là một cống hiến vô điều kiện cho Đất nước tôi.

Hoàng Sa và Trường Sa trước hết là vấn đề học thuật

Những tư liệu ông thu thập được về Hoàng Sa và Trường Sa cũng có nhiều bản đồ. Vậy bản đồ nào đáng chú ý nhất?
Có rất nhiều bản đồ của Phương Tây trong thế kỷ 18 nhất là ở thế kỷ 19. Trong đó, đáng chú ý là bản đồ AN NAM ĐẠI QUỐC HỌA ĐỒ in năm 1838 của giám mục Taberd để trong cuốn Tự điển Latino-Anamiticum, dài 80, 5cm ngang 44cm in loại giấy thường để in họa đồ.

Nhan đề bản đồ này in bằng ba thứ tiếng: Hán, chữ quốc ngữ, chữ Latinh. Đặc biệt bản đồ vẽ các dấu chấm các đảo đề Paracel seu Cát Vàng ngay tọa độ hiện nay (Seu tiếng Latinh có nghĩa hay là), khoảng vĩ tuyến 17 o và kinh tuyến hơn 110 o.

Bản đồ ghi rõ tọa độ chứ không như các bản đồ cổ ở Phương Đông không vẽ tọa độ, làm các học giả Trung Quốc tưởng Cát Vàng hay Hoàng Sa của Việt Nam là những đảo ở ven bờ.

Vì nhận ra tính chất rất quan trọng của bản đồ này nên khi in Tập San Sử Địa số 29 (tháng 1/3/1975), đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa năm 1975, tôi đã cho in hàng ngàn tấm bản đồ y cỡ và đã tặng cho nhiều cơ quan.

Ông nghĩ sao nếu có ý kiến rằng, người làm sử cũng có lỗi trong việc thiếu quảng bá rộng rãi những tư liệu lịch sử chứng minh chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa và Trường Sa? Bởi những người làm sử là những người nắm giữ nhiều tư liệu nhất…

Đây trước hết là vấn đề học thuật. Các nhà sử học đã ghi lại những sự kiện về sự xác lập chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhiều nhà sử học nổi tiếng nhất của Việt Nam như Lê Quý Đôn thế kỷ 18, Phan Huy Chú, thế kỷ 19 và ngay những chính sử như Đại Nam Thực Lục Tiền biên, Chính Biên, Quốc Triều Chính Biên Toát yếu, Đại Nam Hội Điển Sự Lệ… đã ghi nhận sự kiện xác lập chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Suốt thế kỷ 20 không thiếu những nhà sử học trong đó có tôi đã bỏ ra nhiều công sức tập hợp các tư liệu, chứng cứ về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Chúng tôi đã nói về những tài liệu này nhiều trên báo chí trong nước.

Song phải nhìn nhận là những tư liệu này chưa được quảng bá rộng rãi, nhất là ở ngoài nước. Giới sử học cũng có trách nhiệm trong việc này, nhưng theo tôi không hẳn lỗi ở họ.

Tách bạch học thuật với ngoại giao

Ý ông là…?


Vấn đề chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa đang là vấn đề tranh chấp giữa các nước trong đó có Trung Quốc, nên dĩ nhiên đó là vấn đề ngoại giao quốc gia. Nhưng cần phân biệt rõ ngoại giao với học thuật.

Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa trước hết là vấn đề học thuật. Vì thế, việc thảo luận trong giới học thuật, giới nghiên cứu là bình thường.

Những cuộc hội thảo về Biển Đông được Học viện Ngoại giao tổ chức trong hai năm gần đây chứng tỏ, giới học thuật đang ngày càng bàn bạc về vấn đề này một cách rộng rãi hơn.

Hoàng Hạnh (thực hiện)
Nguồn: http://bee.net.vn

Hội thảo tập huấn với chủ đề: “Nghiên cứu hòa bình và xung đột trong quan hệ quốc tế"

Với sự tài trợ của Quỹ Ford, Khoa Quan hệ Quốc tế (Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, ĐHQG Thành phố HCM) phối hợp cùng Học viện Ngoại giao và Khoa Quốc tế học (Trường Đại học Khoa học Xã hội&Nhân văn, ĐHQG Hà Nội) tổ chức hội thảo tập huấn với chủ đề: “Nghiên cứu hòa bình và xung đột trong quan hệ quốc tế” tại Thành phố Đà Nẵng. 
 

Hội thảo tập huấn quy tụ hơn 30 giảng viên chuyên ngành Quan hệ quốc tế của các trường đại học trong nước.

Sự có mặt của 2 Giáo sư Kalevi J. Holsti và Oliver P. Richmond, là những chuyên gia nghiên cứu hàng đầu về xung đột quốc tế với những nội dung lý thú:

- Những vấn đề làm nảy sinh chiến tranh.

- Bản chất, nguyên nhân của xung đột và vai trò của các cách tiếp cận đối với việc chấm dứt xung đột.

- Lý thuyết về xung đột vũ trang.

- Hoạt động kiến tạo hòa bình và ngoại giao trong chiến tranh lạnh.

- Những vấn đề làm nảy sinh chiến tranh.

- Các cuộc xung đột sắc tộc-Dân tộc, Chủ quyền và lãnh thổ trong môi trường hậu chiến tranh lạnh.

- Giải thích sự suy giảm của chiến tranh giữa các quốc gia.

- Các cách tiếp cận giải quyết xung đột trên lý thuyết và trong thực tiển.

- Đảo ngược quan điểm của Rousseau: Bốn cuộc cách mạng trong việc sử dụng vũ lực.

- Kiến tạo hòa bình và các chiến dịch hòa bình của LHQ

Qua hai ngày hội thảo, hai Giáo Sư Kalevi J. Holsti và Oliver P. Richmond đã đem đến những kiến thức thiết thực cho việc nghiên cứu và dạy-học đối với ngành Quan hệ quốc tế tại Việt Nam.

Quỹ Ford bắt đầu mở văn phòng đầu tiên của mình và hoạt động tại VN không lâu sau khi Hiệp định Paris được ký kết. Một trong những khoản viện trợ trong những năm 1970 là dành cho nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và hoạt động nhân đạo, bằng nhiều cách khác nhau, là những vấn đề được coi là quan trọng sau chiến tranh, bắt đầu bằng việc hỗ trợ một cuộc hội thảo về tác động của chất độc da cam được tổ chức tại Đại học Harvard năm 1973. Sau năm 1975, quỹ Ford tiếp tục hỗ trợ nghiên cứu về khoa học xã hội và các hoạt động nhân đạo, viện trợ cho cá nhân và các học viện ở VN từ các văn phòng của mình ở Bangkok và Jakarta năm 1992. Quỹ Ford nhận được giấy phép mở văn phòng tại Hà Nội vào tháng 10.1996. Từ đây, quỹ Ford bắt đầu các khoản viện trợ cho các học viện ở VN và các cá nhân một cách trực tiếp.
 Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc

Đối thoại Mỹ - Việt về tự do thông tin

Trả lời báo chí trong chuyến thăm Việt Nam, Trợ lý Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ chuyên về nhân quyền khẳng định quan điểm ủng hộ tự do Internet nhưng muốn Việt Nam là đối tác lâu dài. 
TS Daniel Baer nói chuyện với sinh viên tại Hà Nội - Hình của Bộ Ngoại giao Mỹ

Trong tài liệu công bố hôm 27/2, sau chuyến thăm trước đó của ông Daniel Baer, Trợ lý Thứ trưởng phụ trách về dân chủ, nhân quyền và lao động của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, phía Mỹ nhắc rằng “ngăn chặn trang web như Facebook không làm người ta thay đổi quan điểm chính trị”.

Ông Baer đã trả lời báo chí, xác nhận ông gặp gỡ các quan chức Bộ Ngoại giao và Bộ Thông tin – Truyền thông của Việt Nam.

Ngoài ra, ông cũng có buổi tiếp xúc với sinh viên tại Hà Nội.

Nói với báo chí, ông nhắc đến nỗ lực làm rõ với phía chính quyền Việt Nam rằng tự do Internet là một nguyên tắc Hoa Kỳ luôn ủng hộ:

“Điều chúng tôi muốn nêu rõ ở đây là ngăn chặn trang như Facebook không chỉ là chuyện ngăn sự phát biểu tự do, và ngăn cản phát biểu chính trị cũng không thay đổi được ý kiến chính trị,”

Câu hỏi được phóng viên đưa ra trong bối cảnh có tin nói Facebook và một số trang mạng xã hội bị chặn ở Việt Nam thời kỳ trước Đại hội Đảng hồi tháng 1.

Ông Daniel Baer nói tiếp: “Vì thế, ngăn chặn một trang web không chỉ là ngăn chặn quan điểm chính trị mà còn là chuyện ngăn chặn một nơi để người ta gặp gỡ, hợp tác về ý tưởng kinh doanh, và cũng là ngăn cản nơi trao đổi tự do giúp tạo dựng ra các nhà lãnh đạo kinh tế thuộc thế hệ sau.”
Tự do Internet ở đây không phải vì lợi ích kinh doanh của Hoa Kỳ, mà vì tương lai của Việt Nam và mong muốn của chúng tôi muốn có đối tác lâu bền với Việt Nam
Tiến sĩ Daniel Baer
'Vì tương lai của Việt Nam'

Ông Baer cũng xác nhận ông và các quan chức Mỹ đã từng nêu nhiều lần trường hợp của Linh mục bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Lý:

“Chúng tôi đã công khai hoan nghênh và ghi nhận quyết định [của Việt Nam] hồi năm ngoái thả Cha Lý vì lý do y tế, và chúng tôi tiếp tục kêu gọi thả ông vô điều kiện.”

Trước câu hỏi liệu chuyến đi trong tháng 2 vừa qua của ông có liên quan gì đến chuyện đặt hay không Việt Nam vào danh sách các nước Hoa Kỳ quan tâm đặc biệt vì thiếu vắng tự do tôn giáo (CPC), ông Baer nói một cách ngoại giao rằng “Các vấn đề về tự do tôn giáo tiếp tục là một phần của cuộc đối thoại với chính phủ ở Việt Nam” mà Hoa Kỳ đang làm.

Nhưng ông tiết lộ rằng ngay sáng hôm đó, ông đã “Nêu ra chủ đề này trong cuộc họp với Bộ Ngoại giao Việt Nam”.

Nhìn chung, ông cho rằng các cuộc nói chuyện với quan chức chính phủ Việt Nam là “thân mật, thẳng thắn và hiệu quả”.

Nhắc lại quan điểm về tự do Internet mà Ngoại trưởng Hillary Clinton đã nêu trước đó, ông Baer cũng nói rằng “để tư tưởng, ý tưởng được trao đổi tự do” là điều hoàn toàn nằm trong quyền lợi lâu dài của Việt Nam.

“Chúng tôi nêu ra rằng tự do Internet ở đây không phải vì lợi ích kinh doanh của Hoa Kỳ, mà vì tương lai của Việt Nam và mong muốn của chúng tôi muốn có đối tác lâu bền với Việt Nam.”

Ông Baer xác nhận hôm 23/2 tại Hà Nội rằng chuyến đi của ông tiếp nối các chuyến thăm đến Việt Nam của Thứ trưởng Michael Posner từ Văn phòng Dân chủ, Nhân quyền và Lao động hồi tháng 12, và Ngoại trưởng Hillary Clinton trong năm 2010.

Tiến sĩ Baer, người gốc Colorado, lên nhậm chức ở Bộ Ngoại giao Mỹ tháng 11/2009 sau khi đã giảng dạy tại Georgetown University và nghiên cứu tại ĐH Harvard.

Là người quan tâm đến tự do Internet, ông Baer cũng dự và phát biểu tại hội thảo quốc tế về tự do trên mạng ở Budapest hồi tháng 9/2010.

Có vẻ như các chuyến thăm sang Hà Ṇôi cho thấy Washington tiếp tục chủ trương liên kết, thuyết phục Hà Nội khi nói đến tự do thông tin, nhất là thông tin qua mạng Internet.

(Theo BBC Tiếng Việt)

Trung Quốc sắp cho thuê đảo

Theo giới phân tích, đây có thể là một động thái chiến lược của Bắc Kinh nhằm mở rộng đặc khu kinh tế ở biển Đông. Do đó, bằng cách phát triển các đảo gần duyên hải, mục tiêu của Bắc Kinh mở rộng thêm vùng đặc quyền kinh tế trên biển.
 
Giới chức Trung Quốc đang xúc tiến cho thuê một số đảo đầu tiên sau khi nước này thông qua luật cho phép cá nhân hoặc công ty thuê các đảo không có người ở hồi năm ngoái.

Người nước ngoài sắp được thuê đảo tại Chiết Giang - Ảnh: China Daily 

Truyền thông Trung Quốc dẫn lời nhà chức trách cho hay các đảo nằm ngoài 4 thành phố của tỉnh Chiết Giang sẽ được cho thuê trước tiên vì thích hợp để khai hoang và gần đất liền. Tỉnh này có 3.000 đảo nhỏ, cù lao với diện tích từ 500 - 1.000m2. Theo BBC hôm qua, hiện chưa có giá thuê cụ thể và Bắc Kinh sẽ sớm ấn định mức giá tùy theo điều kiện của các hòn đảo. Giới chức Chiết Giang cho biết không giới hạn đối tượng thuê đảo, kể cả người nước ngoài, với điều kiện họ phải tuân thủ pháp luật và các quy định về môi trường.

BBC dẫn lời giới quan sát đánh giá có thể Trung Quốc khuyến khích khai hoang các hòn đảo vì lý do lãnh thổ. Nước này đang tranh chấp với các nước láng giềng về chủ quyền đối với một số đảo ở biển Đông và biển Hoa Đông. Do đó, bằng cách phát triển các đảo gần duyên hải, mục tiêu củaBắc Kinh mở rộng thêm vùng đặc quyền kinh tế trên biển.

(Theo Thanhnien online)

WikiLeaks lo ngại về vũ khí hạt nhân của Trung Quốc

Philip Dorling
Ngày 28-2-2011

Theo báo cáo, các quan chức hàng đầu Trung Quốc muốn đuổi kịp kho vũ khí hạt nhân của Mỹ. Các quan chức hàng đầu Trung Quốc vừa tuyên bố rằng không thể có giới hạn nào đối với hoạt động mở rộng kho vũ khí hạt nhân của Bắc Kinh. Họ tuyên bố như vậy trong bối cảnh cả khu vực lo sợ rằng kho hạt nhân của Trung Quốc rồi sẽ ngang bằng Mỹ, và gây những hậu quả nghiêm trọng cho thế cân bằng chiến lược ở châu Á. 
 

Những bản ghi âm các cuộc bàn bạc bí mật về quốc phòng giữa Mỹ và Trung Quốc, được rò rỉ đến tay WikiLeaks và chuyển tới Asia Sentinel, tiết lộ việc các nhà ngoại giao Mỹ đã liên tiếp thất bại khi thuyết phục siêu cường đang lên ở châu Á kia minh bạch hơn về hạt nhân; và giới quan chức Trung Quốc cũng đã thừa nhận riêng rằng họ rất khao khát lợi thế quân sự, niềm khao khát ấy càng củng cố thêm sự bí mật.

Theo những điện tín ngoại giao của Mỹ, hồi tháng 6 năm 2008, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Trung tướng Mã Hiểu Thiên (Ma Xiaotian), có nói với các quan chức quốc phòng và ngoại giao Mỹ rằng, sự phát triển của lực lượng hạt nhân Trung Hoa là một “thực tế bắt buộc” và “không thể có giới hạn nào cho tiến bộ kỹ thuật”.

Trung tướng Mã phản đối việc Mỹ kêu gọi Trung Quốc tiết lộ quy mô năng lực hạt nhân. Ông tuyên bố một cách trắng trợn là “(Trung Quốc) Không thể thay đổi đường lối làm kinh doanh của hàng thập kỷ nay để mà minh bạch hóa như mô hình Mỹ được”.

Mặc dù đã từng tuyên bố trong một cuộc thảo luận sâu hơn, vào tháng 7 năm 2009, rằng sức mạnh hạt nhân của Bắc Kinh “về bản chất luôn nhằm tự vệ, và Trung Quốc không bao giờ bước chân vào một cuộc chạy đua vũ trang nào”, ông Mã cũng thừa nhận: “Thẳng thắn mà nói, có những khía cạnh trong chương trình hạt nhân của Trung Quốc cũng không được minh bạch lắm”. Tuy nhiên để tối đa hóa hiệu quả của lực lượng hạt nhân, ông Mã nói đi nói lại rằng “Trung Quốc phải hạn chế sự minh bạch khi đề cập đến các cơ sở hạt nhân, bản chất của hệ thống vũ khí, và cơ cấu lực lượng của mình”.

Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Hà Á Phi (He Yafei) cũng phát biểu tương tự với quan chức Mỹ vào tháng 6 năm 2008 rằng minh bạch về hạt nhân là “một vấn đề nhạy cảm” và “bây giờ không phải lúc Trung Quốc cho mọi người biết chúng tôi đang có gì trong tay”. Ông nói thêm, sẽ có “một sự mở rộng tự nhiên và tất yếu” sức mạnh quân sự của Trung Quốc, và Trung Quốc “không thể chấp nhận để những nước khác hạn chế năng lực của mình”.

Các điện tín rò rỉ khác tiết lộ, Nhật Bản rất sợ kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc cuối cùng sẽ vươn lên ngang bằng với Mỹ. Tokyo đã yêu cầu Washington duy trì năng lực hạt nhân thật mạnh mẽ để ngăn cản một nước Trung Hoa “ngày càng liều lĩnh” khỏi “làm điều gì đó ngu ngốc”.

Trong các cuộc thảo luận cấp cao nhất về chính sách hạt nhân, tháng 6/2009, quan chức cao cấp thuộc Bộ Quốc phòng Nhật Bản nói với đại diện phía Mỹ là Tokyo đánh giá Trung Quốc “đang nhanh chóng phát triển năng lực hạt nhân vượt khỏi mức độ “tương đối tầm thường” hồi thập niên 80 và 90 của thế kỷ trước, và đang cố gắng đạt trình độ ngang bằng Nga và Mỹ”.

“Trung Quốc đang thể hiện sự tự tin mới vào năng lực quân sự của họ, và đang phô diễn rất rõ ràng sức mạnh của họ trong khu vực, đặc biệt liên quan đến quần đảo Senkaku của Nhật Bản” – Giám đốc Chương trình Hợp tác Quốc phòng Nhật-Mỹ Kiyoshi Serizawa nói với các nhà ngoại giao Mỹ. Serizawa cảnh báo, Trung Quốc “đang tiến hành từng bước một khúc dạo đầu, tiến tới ra yêu sách chủ quyền đối với quần đảo”.

Tương tự, một quan chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại giao Nhật Bản cảnh báo rằng cần phải xem xét chương trình hạt nhân “phức tạp” của Trung Quốc trong bối cảnh Trung Quốc đang tiến hành nhiều hoạt động khác, như việc thử nghiệm phản vệ tinh năm 2007, tấn công trên mạng (hack), và tăng cường sức mạnh hải quân.

Điều phối viên cao cấp của Hiệp ước An ninh Nhật-Mỹ Yusuke Arai nói: “Nếu Trung Quốc thấy Mỹ gặp khó khăn khi tiếp cận khu vực này, chắc chắn họ sẽ “làm điều gì đó ngu ngốc”.

Trong một cuộc trao đổi độc lập với các nhà ngoại giao Mỹ, quan chức cấp cao của Bộ Quốc phòng Nhật Bản bày tỏ lo ngại rằng ý định đàm phán với Nga của chính quyền Obama, về việc cắt giảm mạnh lực lượng hạt nhân, có thể sẽ kích thích Trung Quốc đẩy mạnh chương trình hạt nhân của họ.

Giám đốc Văn phòng Chính sách Quốc phòng Nhật Bản – Tướng Nobushige Takamizawa – tuyên bố những bình luận của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates về chuyện Mỹ và Nga cần phải giảm bớt quy mô hạt nhân “tạo cảm giác là Mỹ coi sức mạnh hạt nhân Trung Quốc là nhỏ bé đến mức không cần phải hứa hẹn sẽ dừng chương trình lại, do đó “khuyến khích” Trung Quốc tiếp tục tăng cường vũ khí hạt nhân”. Ông Robert Gates đã phát biểu như vậy trong Hội nghị Thượng đỉnh An ninh châu Á tại Viện Nghiên cứu An ninh Quốc tế, tổ chức năm 2009 (gọi là Đối thoại Shangri-La).

Tướng Takamizawa khẳng định: “Trước việc Nhật liên tục đề nghị Trung Quốc cắt giảm vũ khí hạt nhân, Trung Quốc và các thành viên khác trong Đối thoại Shangri-La hẳn đã hiểu những bình luận của Bộ trưởng Gates như là dấu hiệu của một khoảng cách về vị thế giữa Mỹ và Nhật Bản. Tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, đã tỏ ra vui mừng một cách rất chân thật trước những bình luận ấy của Bộ trưởng Gates”.

Cũng trong cuộc thảo luận đó, một quan chức quốc phòng cao cấp khác của Nhật Bản cảnh báo rằng mặc dù Trung Quốc từ lâu đã tuyên bố quan điểm về chương trình vũ khí hạt nhân là “không ra tay trước”, nhưng “chẳng chuyên gia hạt nhân nào tin đó là sự thật”.

Bộ Ngoại giao Nhật Bản cũng nhấn mạnh điều mà chính phủ Nhật coi là những đặc điểm “đáng ao ước” của năng lực tấn công bằng hạt nhân của Mỹ: “linh hoạt – tin cậy – mau chóng – có tính phân biệt và lựa chọn – tàng hình và cũng có thể hiện hình – đủ để ngăn cản người khác”.

Quan chức của cả Mỹ và Nhật Bản đều nhất trí rằng bản chất không minh bạch của chương trình hạt nhân Trung Quốc là rất phức tạp, và phía Nhật Bản nhấn mạnh: hợp tác chặt chẽ Mỹ-Nhật là “quan trọng sống còn” trước bất cứ quyết định nào của Mỹ nhằm “cắt giảm mạnh” những cuộc đối thoại với Nga về vũ khí hạt nhân.

Tòa Đại sứ Mỹ ở Tokyo báo cáo với Washington: “Nhật Bản về căn bản hoan nghênh việc Mỹ và Nga cắt giảm vũ khí hạt nhân, nhưng hai chính phủ cần ý thức được về hoạt động mở rộng và hiện đại hóa năng lực hạt nhân của Trung Quốc”. Tòa Đại sứ này cho biết thêm rằng quan chức Nhật Bản đã nhấn mạnh “nền tảng an ninh quốc gia của Nhật phụ thuộc vào mức độ đáng tin cậy của chính sách ngăn chặn mở rộng (extended deterrence) của phía Mỹ”.

Tiếp sau việc chính quyền Obama ban hành bản “Đánh giá sức mạnh hạt nhân” vào đầu năm ngoái, Mỹ và Nga đã ký một thỏa thuận mới – Hiệp ước Hạn chế Vũ khí Chiến lược – vào ngày 8/4/2010, theo đó Washington và Moscow nhất trí cắt giảm một nửa quy mô kho vũ khí hạt nhân xuống còn 1.550 đầu vũ khí hạt nhân, trong vòng 7 năm tới.

Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế ước tính Trung Quốc hiện có tới 90 tên lửa đạn đạo xuyên lục địa – gồm 66 tên lửa đạn đạo hạt nhân trên đất liền (land-based ICBMs) và 24 tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (submarine launched ballistic missiles) – cùng với hơn 400 tên lửa tầm trung hướng vào Đài Loan và Nhật Bản. Những con số ước đoán tương tự được công bố trong báo cáo 2010 của Bộ Quốc phòng Mỹ gửi Quốc hội, về sức mạnh quân sự Trung Quốc – mặc dù người ta cũng đã tính là số tên lửa tầm ngắn và tầm trung sẵn sàng nhằm hướng Đài Loan và Nhật Bản có thể vượt hơn 1.500. Theo các tin tức trên báo chí, tình báo Mỹ dự đoán rằng cho đến giữa những năm 2020, Trung Quốc có thể tăng hơn 100% (hơn gấp đôi) số đầu đạn tên lửa có khả năng đe dọa Mỹ.

Do vấn đề có độ nhạy cảm lớn, chính phủ Mỹ và Nhật Bản thống nhất là sẽ không công bố công khai bất kỳ chi tiết nào trong các cuộc thảo luận tháng 6/2009 về hạt nhân.

Những điện tín ngoại giao Mỹ bị rò rỉ khác tiết lộ, Bắc Kinh đã có một số đảm bảo về độ an toàn và an ninh của hạt nhân, với việc chỉ huy chương trình tên lửa truyền thống và hạt nhân chiến lược, tư lệnh Quân đoàn Pháo binh số 2 của Trung Quốc, tướng Tĩnh Chí Viễn (Jing Zhiyuan), nói với một phái đoàn quốc hội Mỹ vào tháng 8/2007 rằng việc khai hỏa một vũ khí hạt nhân mà không được phép, hoặc bất ngờ, là “hoàn toàn không thể được”.

Tướng Tĩnh giải thích, vũ khí hạt nhân của Trung Quốc được giám sát nghiêm ngặt và đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Ông nêu một ví dụ của cá nhân là ngay cả trên cương vị tư lệnh Quân đoàn Pháo binh số 2, ông cũng phải xin phép mới có thể tiếp cận các cơ sở khai hỏa vũ khí, và phải có nhân viên tháp tùng.

Được hỏi về hàng trăm tên lửa đạn đạo truyền thống mà Trung Quốc đã triển khai dọc bờ biển phía đông nam với Đài Loan, tướng Tĩnh khẳng định lập trường lâu nay của Trung Quốc là Đài Loan là một phần của Trung Quốc, và khẳng định “việc triển khai những tên lửa truyền thống này không nhằm vào “những người Đài Loan yêu nước của chúng tôi” hay các nước khác. Những tên lửa ấy nhằm vào các lực lượng đòi độc lập”.

Một bản khác của bài viết này được đăng trên Melbourne Age và Sydney Morning Herald.


Người dịch: Đan Thanh

Trong cuộc “đánh trả tự vệ” Việt Nam năm 1979: Vì sao không chia cắt Việt Nam, thương vong khi rút về lớn hơn khi tấn công?

Dương Danh Dy (lược dịch)

Nhà nghiên cứu Trung Quốc Dương Danh Dy vừa lược dịch bài viết mới nhất của Trung  Quốc phân tích về những bài học rút ra từ cuộc tấn công đại quy mô trên toàn tuyến biên giới để xâm lăng Việt Nam, trong cái mà họ gọi là “Đánh trả tự vệ” (Tự vệ phản kích).
Bài báo này thực sự là một bản tuyên bố hùng hồn, phơi bày cái bộ mặt đạo đức giả của Trung Quốc phủ nhung với những lời ngon ngọt “Bốn tốt” và “Mười sáu chữ vàng”.

Chúng ta thấy gì qua bài viết này?
Trước hết, chúng ta thấy mức độ lươn lẹo của bọn đế quốc Trung Cộng đã vượt xa tất cả các đế quốc đàn anh trong lịch sử thế giới và tất cả các triều đại phong kiến Đại Hán trong lịch sử Trung Hoa. Tất cả các đế quốc đàn anh và các triều đại phong kiến Đại Hán đều tuyên bố công khai trước thế giới về các cuộc chinh phạt của họ. Còn bọn đế quốc Trung  Quốc thì luôn luôn cao giọng bù lu bù loa, cào … “mồm” ăn vạ, là họ “đánh trả Việt Nam” là để tự vệ. Thật là hết sức hài hước: Việt Nam là một đất nước quá nhỏ bé, lúc nào cũng cố gắng cầu hòa bên cạnh tên đế quốc Trung Cộng đứng lừng lững như ông hộ pháp trước cổng chùa. Việt Nam đâu dám lấn chiếm đất đai của họ?
Ngược lại chính họ, chính những tên đế quốc Đại Hán thuộc đủ các triều đại, đều tham ăn tục uống, đã có cả lịch sử ngàn năm xâm lăng Việt Nam, đã hàng ngày hàng giờ lấn chiếm từng tấc đất và biển đảo của Việt Nam bằng những thủ đoạn từ trắng trợn đến đê hèn nhất, đã xúi giục Pôn Pốt đánh phá, tàn sát dân lành suốt vùng biên giới với Việt Nam, buộc Việt Nam phải đánh trả cho chúng đại bại, hơn nữa chính Trung Quốc cũng nhân dịp này đã “tạo cớ” cho quân đội Việt nam tiêu diệt một chính phủ cộng sản diệt chủng tàn bạo nhất trên thế giới này.
Từ trước đến nay, người Việt Nam vẫn tin Đặng Tiểu Bình nói thật, rằng Trung Quốc “chỉ muốn” … “Dạy một bài học cho Việt Nam”, về tội Việt Nam đã tiễu trừ tên tay sai Pôn Pốt của Trung Quốc… Thì ra không phải vậy. Bài báo này đã nói toẹt ý đồ sâu xa của Trung Quốc đó là Trung Quốc muốn chiếm đóng Việt Nam, muốn chia cắt lâu dài Việt Nam để trị, muốn thiết lập một thuộc quốc Việt Nam, hoặc chí ít là một miền Bắc Việt Nam tay sai của Trung Quốc… Nhưng, cũng qua bài báo, bọn Trung Quốc cũng đã đau đớn nhìn nhận, cuộc chinh phạt Việt Nam lần này đã bị quân đội Việt Nam đánh cho đại bại, và chính chúng đã bị nhân dân Việt Nam phỉ nhổ và góp phần cùng với quân đội đánh cho chúng những đòn ô nhục ê chề.
Chúng ta không thể kể hết những thủ đoạn tinh vi của bọn đế quốc Đại Hán cộng sản trong suốt những năm vừa qua, từ trắng trợn tấn công biển đảo của Việt Nam, đến lén lút di chuyển cột mốc, lẳng lặng kéo dài đầu mối đường sắt của Trung Quốc qua biên giới khi “giúp” Việt Nam phục hồi đường sắt sau chiến tranh, đến “mượn” đất chôn mồ mả bố mẹ ông cha của chúng, rồi tuyên bố xanh rờn: “Mộ Hán Tặc ở đâu, đất của Hán Tặc ở đó”…
Đương nhiên, người Việt Nam không thể nào kể hết những thủ đoạn kinh doanh bẩn thỉu nhằm triệt phá kinh tế của Việt Nam, như mua rễ hồi để triệt phá rừng hồi, mua móng trâu để tiêu diệt sức kéo của nông dân nghèo, mua chè chặt xô phơi vàng để nông dân triệt phá đồi chè v.v., và xuất sang Việt Nam những sản phẩm độc hại, nhằm làm suy yếu sinh lực và nòi giống Việt Nam.
Thế mà, thật là nực cười, khi chúng ta đọc được những lời sau đây của bọn đạo đức giả Trung Cộng: “Khi quân đội chúng ta (Hán tặc) gần gũi và yêu mến dân chúng Việt Nam”, … Trời ơi, những ai đã chứng kiến cái thời Trung Quốc kéo quân sang định xâm chiếm Việt Nam dưới chiêu bài giúp Việt Nam “làm đường” phục vụ chiến tranh, thì đều rõ chúng đã “yêu mến dân chúng Việt Nam” đến mức độ nào (!)… Đến khi người Việt Nam nhận ra bộ mặt xâm lăng bẩn thỉu của chúng, Hồ Chí Minh đã khéo léo cảm ơn Trung Quốc để mời chúng về nước, thì bọn quân đội ấy đã “yêu mến dân chúng Việt Nam” đến mức đập phá hết mọi đồ ăn thức dùng ở những nơi chúng chiếm đóng… Những thứ như bể nước, thùng tôn, … không đập phá được thì chúng hùa nhau tụt quần xả ra những thứ không thể thối tha hơn được để tỏ lòng “yêu mến dân chúng Việt Nam”… Nhưng cũng thú vị là, chỉ ngay vài dòng sau đó, tác giả bài báo đã không thể không thừa nhận: “Dân chúng Việt Nam thù địch Trung Quốc…” (đi xâm lược nước người mà lại muốn người yêu mến mình, khôi hài đến thế là hết cỡ), và đã … “tìm cớ hạ thủ quân đội Trung Quốc, và số quân đội Trung Quốc bị hy sinh bởi phương thức này không thể đếm được…”. Và tác giả bài báo phải ôm hận thốt ra một lời thảm hại: “Có đau thương không?”
Đúng, thừa nhận “Dân chúng Việt Nam thù địch Trung Quốc [xâm lược]”, đó là lời cảnh báo đối với bọn xâm lăng Đại Hán. Luận điệu “Bốn tốt” và “Mười sáu chữ vàng” mà các nhà lãnh đạo Trung Cộng đang rêu rao chỉ là giả hiệu. Dân chúng Việt Nam đã không u mê với những lời đường mật của đế quốc Trung Quốc.
Chúng ta hãy nghe những lời tuyên bố không úp mở trong bài báo: “Sau khi dựng nên một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc rồi sẽ vũ trang, viện trợ và ủng hộ nó giải phóng toàn Việt Nam, hoặc nhân đó chia ra Nam Bắc để trị, chia cắt Việt Nam thành hai nuớc”.
Chúng ta phải thành thật cảm ơn tác giả bài báo. Họ đã tự lột cái mặt nạ giả nhân giả nghĩa bạn bè đồng chí. Họ đã giúp chúng ta nhìn thẳng vào cái mặt nạ ý thức hệ cộng sản để xâm lăng nước ta. Họ đã khoét sâu cái mặt nạ cộng sản, kích động một số người nhân danh ý thức hệ cộng sản mà họ đang cố lợi dụng để ly gián dân tộc ta, để làm tan rã cộng đồng dân tộc Việt Nam, và cuối cùng là để họ trục lợi trong cái mộng bá quyền xâm lăng của họ.
Bài báo có một gợi ý rất hay cho người Việt Nam chúng ta: Có lẽ đã đến lúc người Việt Nam phải thanh toán món nợ ân oán giang hồ “Trung Quốc giúp Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc”, mà thực chất là tâng bốc Việt Nam làm tiền đồn bảo vệ chủ nghĩa cộng sản ở phía nam Trung Quốc, tạo ra một Việt Nam thân cộng sản Đại Hán, một Việt Nam “thuộc quốc” của Trung Quốc , một Việt Nam con bài đô-mi-nô của Trung Quốc trên con đường bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán cộng sản xuống các quốc gia Đông Nam Á.
Trả lời bài báo này, tôi muốn nhắn nhủ các nhà lãnh đạo Trung Quốc: Từ trong lịch sử, nhân dân Việt Nam luôn mong muốn một quan hệ hòa hảo với Trung Quốc, bản thân tôi vẫn luôn có những người bạn thân thiết và thầy học khả kính người Trung Quốc, nhưng không bao giờ người Việt khuất phục trước chủ nghĩa xâm lăng Đại Hán, dù đó nhân danh cái gì, kể cả khi chúng đeo cái mặt nạ anh em đồng chí cùng ý thức hệ.
Có đôi lần tôi được ngồi với một vị sĩ quan rất cao cấp đang tại chức trong quân đội và một vị sĩ quan cũng rất cao cấp đang tại chức trong ngành an ninh. Tôi nói đến sự lo ngại bọn xâm lăng đang đội lốt anh em đồng chí, lo ngại một số vị nào đó vì ngây thơ bảo vệ ý thức hệ anh em đồng chí mà mất cảnh giác trước nguy cơ xâm lược của bọn Hán Tặc, thì cả hai vị sĩ quan cao cấp đáng kính này đã trấn an tôi như sau: “Anh cần nhớ rằng, bất cứ giờ khắc nào, khi Tổ Quốc Việt Nam lâm nguy, thì quân đội và các chiến sĩ an ninh sẽ chiến đấu đến cùng để bảo vệ đất nước này”.
Tôi giật mình. Đúng, lịch sử đã chứng tỏ, dù Tổ Quốc ta tồn tại dưới bất kỷ thể chế nào, dù đó là thời phong kiến hàng nghìn năm bị giặc Tàu đô hộ, hay thời Việt Nam Cộng hòa bị tấn công vùng biển đảo Hoàng Sa, hoặc thời nay bị quân xâm lăng cộng sản tấn công toàn diện từ biên giới Tây Nam đến toàn tuyến biên giới phía Bắc, người Việt Nam không bao giờ khuất phục.
Cảm ơn nhà nghiên cứu Dương Danh Dy về bản lược dịch bài báo tuyệt vời này và xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Vũ Cao Đàm
 Năm 1979, trong trận đánh trả tự vệ Việt Nam, quân đội Trung Quốc với thế nhanh chóng tấn công, quân Việt từng buớc tan rã, quân đội Trung Quốc nhắm thẳng Hà Nội. Sau đó Trung Quốc tuyên bố trận đánh đã đạt mục đích, tự rút quân về nước.

Lâu nay chúng ta luôn tuyên truyền và miêu tả rằng chúng ta đã thắng lợi và Việt Nam đã thất bại, nhưng cùng với thời gian những văn kiện của chính quyền và tư liệu của Việt Nam cho thấy, cuộc chiến này không lạc quan như tuyên truyền trước đây, trong đó có nhiều bài học nặng nề đau đớn khiến chúng ta không thể không phản tỉnh một cách sâu sắc.

Thứ nhất, kỷ luật quân sự nghiêm túc đã làm quân ta phải trả giá trầm trọng.

“Ba kỷ luật lớn, tám điều chú ý” mà quân đội ta giữ nghiêm đã phát huy tác dụng lớn trong cuộc nội chiến Quốc, Cộng là vì qua đó đã thể hiện được chính nghĩa, công bằng của quân đội ta, thế nhưng khi chúng ta vào Việt Nam đánh quân đội và chính quyền Việt Nam mà vẫn thực hiện “ba kỷ luật lớn tám điều chú ý” là tự trói chân trói tay mình lại, hy vọng dùng những cái đó để tranh thủ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân Việt Nam thì chẳng khác gì đàn gảy tai trâu, tự chuốc lấy nhục. Nhân dân Việt Nam không phải là công dân Trung Quốc, làm sao họ có thể gần gũi quân đội nước ngoài đánh vào đất nước họ? Khi quân đội chúng ta gần gũi và yêu mến dân chúng Việt Nam, dân chúng Việt Nam thù địch Trung Quốc và quân đội Việt Nam ở lẫn trong đó sẽ tìm cớ hạ độc thủ quân đội Trung Quốc, và số quân đội Trung Quốc bị hy sinh bởi phương thức này không thể đếm được, có đau thưong không?

Chiến tranh là chiến tranh, nhất là chiến tranh giữa các quốc gia, anh không thể hy vọng nhân dân nước khác đánh trống khua chiêng hoan nghênh anh xâm chiếm ngưòi ta, đó chẳng qua chỉ là trò bịt tai đi ăn cắp chuông, tự lừa dối mình và lừa dối người.

Thứ hai, không quân phát triển trì trệ, lạc hậu không có sức công kích.

Đánh trả tự vệ Việt Nam cực kỳ ác liệt, khi bộ đội mặt đất khó tiến công về phia trước, lục quân mong mỏi nhất là có sự chi viện mạnh mẽ của không quân, thế nhưng trong lúc mỏi mắt mong chờ, không quân Trung Quốc vẫn im lặng. Trong khi đó không quân Việt Nam đã khiêu chiến trước nhưng trước số lượng máy bay Trung Quốc đông gấp nhiều lần chúng đã bỏ chạy, ta bắn tên lửa đuổi theo nhưng không trúng. Có bắn rơi máy bay địch nhưng là công của bộ đội mặt đất.

Vì sao không quân Trung Quốc lại quẫn bách như thế? Một mặt không quân chúng ta thiếu thiết bị định vị, không có nó tên lửa không thể bắn trúng mục tiêu. Một mặt là do ảnh hưởng của cách mạng văn hóa lâu dài, không quân không bay đủ giờ bay huấn luyện, khi huấn luyện lại giảm các tiết mục bay khó… cho nên không có phi công giỏi

Thứ ba, hải quân Biển Đông lúc đó còn chưa phát triển.

Cuộc chiến hoàn toàn diễn ra trên lục địa Việt Nam. Đánh Việt Nam vừa để dạy bài học, vừa thu hồi lãnh thổ bị chiếm, vùng gần biên giới trên bộ bị Việt Nam chiếm giữ đã thu hồi hết, cớ làm sao không thu hồi các đảo, bãi trên Biển Đông bị Việt Nam chiếm giữ? Chẳng lẽ lo rằng chiến sự sẽ leo thang vô hạn ư? Chẳng phải là hai nước đã đánh nhau toàn diện rồi ư? Chẳng lẽ đó không phải là đảo, bãi của ta? Thế mà chẳng phải là chúng ta vẫn luôn kêu gào rằng đó là lãnh thổ thần thánh không thể xâm phạm của mình?

Điều giải thích duy nhất là hải quân của chúng ta chưa đủ, không chỉ chưa đủ để đánh lùi hải quân Việt Nam chiếm giữ đảo bãi của ta mà còn khó có thể đóng giữ ở đó, đánh lùi được kẻ địch tới xâm phạm. Điều khiến người ta lấy làm tiếc là các đảo bãi trên Biển Đông dưòng như đã bị các nước láng giềng xung quanh chia nhau chiếm hết rồi. Cho đến nay hải quân của chúng ta vẫn chưa dùng tới sức đã có của mình để giải phòng và bảo vệ các đảo, bãi thiêng liêng đó.

Thứ tư, sức ép bên ngoài thúc giục rút quân, tổn thất trầm trọng.

Khi quân đội ta đã tiến gần Hà Nội, dưới sức ép của thế lực quốc tế đứng đầu là Liên Xô, chúng ta không chỉ tuyên bố đình chỉ tấn công, mà còn công khai tuyên bố lập tức rút quân. Nhà đương cục Việt Nam đang lúc kinh hồn hoảng sợ đã lập tức tuyên bố phản công toàn tuyến, quân đội Trung Quốc đang ở thế vừa công vừa thủ nên so với lúc tấn công đã bị thưong vong nặng nề.

Đó là một sai lầm chính trị và quân sự to lớn, trước khi rút quân đã tuyên bố rút sẽ khiến kẻ thù dễ dàng có thời gian và không gian chuẩn bị phản kích. Địch có chuẩn bị còn ta thì không, địch thong dong mà chúng ta vội vã, không bị thương vong lớn mới là chuyện lạ.

Thứ năm, chia cắt Việt Nam để mất thời cơ tốt.

Đánh Việt Nam chúng ta chỉ muốn dạy cho nhà đương cục Việt Nam một chút, nên quân gần đến Hà Nội đã vội vàng rút quân. Cho dù chúng ta đã đánh vào vùng đất hiểm của Việt Nam, đã là xâm lược rồi sao còn cố sống cố chết giữ lấy cái mặt nạ chính nghĩa, tự cho mình là những đấu sĩ chính nghĩa. Quân đội đã tới gần Hà Nội, một nửa Việt Nam đã ở trong tay chúng ta, giả sử chúng ta không muốn tiếp tục tiến nữa để hoàn toàn tiêu diệt nhà đương cục Việt Nam, thì cũng nên gây dựng một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc. Sau khi dựng nên một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc rồi sẽ vũ trang, viện trợ và ủng hộ nó giải phóng toàn Việt Nam, hoặc nhân đó chia ra Nam Bắc để trị, chia cắt Việt Nam thành hai nuớc.

Một khi điều đó xảy ra, một chính quyền Việt Nam thân Trung Quốc, hoặc một chính quyền Bắc Việt Nam thân Trung Quốc sẽ trở thành láng giềng hữu hảo của Trung Quốc, không chỉ một lần đến tay, có thể giải quyết xong vấn đề lãnh thổ và chủ quyền của Việt Nam mà còn có thể từ một cú đánh, đập tan hành vi bá quyền của Việt Nam tại Đông Nam Á. Đáng tiếc là chúng ta đã không có tính toán đó, không có chiến lược đó, nói làm gì đến chuyện có sự chuẩn bị trước.

Đánh trả tự vệ đã hơn ba mươi năm rồi, cục diện quốc tế đã mấy lần bãi biển nương dâu, bộ mặt Trung Quốc cũng mấy lần đổi mới, Trung Quốc không còn là Trung Quốc ngày xưa nữa.

Thế nhưng cần tổng kết quá khứ, để nghênh đón tưong lai. Từ trong sai lầm lịch sử chúng ta phải tìm ra trí tuệ mới…, xây dựng quốc phòng hùng mạnh, xây dựng một nước Trung Hoa quật khởi và hưng thịnh

Nguồn: China.com ngày 20/2/2011 (Võng thưọng đàm binh: đối Việt phản kích chi cảm: vi hà bất chi giải Việt Nam, tán thoái tỷ tấn công thương vong đa)
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...