Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

8/1/12

ĐÁNH GIÁ CỦA CỰU TRỢ LÝ QUỐC VỤ KHANH MỸ VỀ TÌNH HÌNH BẮC TRIỀU TIÊN THỜI HẬU KIM CHÂNG IN

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt 
 
 Thứ tư, ngày 4/1/2012 
 
TTXVN (Hồng Công 26/12)

Ngày 17/12, nhà lành đạo Bắc Triều Tiên Kim Châng In đột tử, nhưng tới ngày 19/12, Bình Nhưỡng mới công bố thông tin trên. Cả thế giới bị chấn động. Nhân dịp này, Cựu Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc, nguyên trợ lý Quốc vụ khanh Winton Lord đã trả lời phỏng vấn của phóng viên trang tin Đa chiều, phân tích biện pháp xử lý của Mỹ đối với những diễn biến tình hình mới trên bán đảo Triều Tiên hiện nay cũng như khả năng Trung-Mỹ va chạm tại bán đảo này trong tương lai. Ông Winton Lord cho rằng Bắc Triều Tiên hiện nay nếu lựa chọn mô hình Trung Quốc tiến hành mở cửa kinh tế thì tình hình còn tốt hơn Trung Quốc thời Mao Trạch Đông và người dân Bắc Triều Tiên cũng hạnh phúc hơn nhiều.



Theo Đa chiều, năm 1971, ông Lord đã bí mật thăm Trung Quốc cùng với Henry Kissinger trong vai trò trợ lý đặc biệt cho vị cố vấn an ninh quốc gia Mỹ này. Trong khi đảm nhiệm chức trợ lý Quốc vụ khanh phụ trách vấn đề Đông Á và châu Á-Thái Bình Dương dưới thời Tổng thống Bill Clinton, chính Lord là người đã chủ đạo việc Bắc Triều Tiên và Mỹ chính thức ký Hiệp định khung về việc giải quyết vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên mang ý nghĩa lịch sử vào ngày 21/10/1994. Sau khi G. Bush lên nắm quyền, với lý do Bắc Triều Tiên đi ngược lại Hiệp định khung về việc giải quyết vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên, Mỹ đã ngừng việc cung cấp cho Bắc Triều Tiên 500.000 tấn dầu nặng môi năm. Bình Nhưỡng liền tuyên bố dỡ bỏ đông kêt hạt nhân. Cục diện bế tắc trong vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên kéo dài từ đó cho đến nay. Giờ đây, nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Châng In đã qua đời, việc Mỹ ứng phó ra sao với diễn biến tình hình trên bán đảo Triều Tiên, Mỹ có ủng hộ Bắc Triều Tiên đón nhận mô hình phát triển kinh tế của Trung Quốc hoặc có dựa vào sức ảnh hưởng của Bắc Kinh trong vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên hay không đã trở thành tiêu điểm của cuộc phỏng vấn.

Đa chiều: Năm xưa, cựu Tổng thống Clinton từng gửi lời chia buồn tới người dân Bắc Triều Tiên khi nhà lãnh đạo nước này, ông Kim Nhật Thành, mất (1994). Lần này, tại sao Tổng thống Mỹ Barack Obama không làm như vậy?

Lord: Lôgích đằng sau cách làm khi xưa của chúng tôi là đàm phán đang tiến hành và chúng tôi muốn bắn đi tín hiệu hy vọng đàm phán tiếp tục được thúc đẩy. Nhưng với tình hình hiện nay, chúng tôi sẽ không làm như vậy. Không phải là Kim Châng In tồi tệ hơn cha của ông ta, kỳ thực hai người họ đều như nhau. Mấy năm trước, Bắc Triều Tiên đã rũ bỏ cam kết, tiến hành hù đọa bắt chẹt. Không cần nói cũng biết tình hình nhân quyền của Bắc Triều Tiên rất đáng sợ, e rằng còn là tồi tệ nhất thế giới. Đối với con người có thành tích tồi tệ như vậy, nếu chúng tôi có bất cứ dấu hiệu nào chia buồn với cái chết của ông ta đều sẽ là một sai lầm. Cũng có thể sử dụng cách nói tế nhị để biểu thị như “suy nghĩ của chúng tôi giống với người dân Bắc Triều Tiên”. Ngoại trưởng Hillary nói: “Chúng tôi quan tâm sâu sắc tới đời sống của người dân Bắc Triều Tiên” là xác đáng. Nhân dân Bắc Triều Tiên có thể rất đỗi vui mừng, có thế khăng định là họ rất đỗi vui mừng, vì nhà lãnh đạo này đã chết. Cho nên, chúng tôi không muốn biểu thị sự đồng tình với việc nhân dân Bắc Triều Tiên mất đi nhà lãnh đạo như vậy, chúc phúc cho một nhà lãnh đạo đáng sợ khẳng định sẽ làm sai lệch cách nhìn nhận của rất nhiều người dân Bắc Triều Tiên.

Đa chiều: Nếu Tống thống Obama không gửi đi một bức điện chia buồn tương tự, liệu Bắc Triều Tiên sẽ nhìn nhận việc này bằng con mắt tiêu cực hay không?

Lord: Quan điểm của anh hợp lý. Đây cũng chính là lý do tại sao tôi nói Mỹ không nên đưa ra bất cứ hành vi khiêu khích nào. Chí ít, chúng tôi không nên có hành vi khiêu khích, không nên đưa ra tuyên bố mang tính sỉ nhục, không nên tiến hành diễn tập quân sự gây hấn trừ phi nhận được tin tình báo chứng minh điều đó là cần thiết. Chúng tôi cũng không nên có hành vi loại bỏ mọi khả năng cơ hội trước. Theo tôi, như vậy là đủ. Bất cứ một câu nói nào giống như chia buồn đều có thể đối mặt với rủi ro bị hiểu nhầm, đương nhiên sẽ gây sóng gió lớn ở Mỹ.

Đa chiều: Cân nhắc này có liên quan tới nhân tố bầu cử hay không?

Lord: Không chỉ là ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa, phái trung gian hay phái ôn hòa đều cho rằng chúng tôi không thể chia buồn với cái chết của một người đáng sợ như vậy. Tôi cho rằng đây là quan điểm hợp lý. Theo tôi, Bắc Triều Tiên sẽ hành động xuất phát từ lợi ích và tính toán của chính họ, phán đoán xem kế hoạch của chúng tôi có phù hợp với lợi ích của họ hay không. Tôi cảm thấy chỉ cần chúng tôi không có hành vi khiêu khích và tiêu cực là đủ. Tôi sẽ không đi xa hơn. Bất cứ một sự đồng cảm nào với Kim Châng In ở Mỹ hiện nay đều là “rủi ro chính trị’’. Mở rộng lòng với thái độ thận trọng và kiềm chế, nhưng không được đưa ra lời chia buồn giả dối tích cực hơn.

Đa chiều: Ông có nhìn nhận gì về khả năng Bắc Triều Tiên triển khai cái cách theo “mô hình Trung Quốc” trong tương lai?

Lord: Nhiều năm lại đây, Trung Quốc luôn hối thúc Bắc Triều Tiên cải cách. Nhưng điều làm Trung Quốc thất vọng là Bắc Triều Tiên dường như không đi theo “mô hình Trung Quốc”. Kinh tế Bắc Triều Tiên là một thảm họa, nếu Bắc Triều Tiên lựa chọn mô hình Trung Quốc, nhân dân Bắc Triều Tiên sẽ hạnh phúc hơn nhiều. Nguyên do chủ yếu mà Bắc Triều Tiên không tiến hành cải cách là gia tộc họ Kim giữ quyền lãnh đạo ở nước này không muốn nới lỏng quyền kiểm soát chính trị. Nếu lựa chọn kinh tế thị trường tự do, rất nhiều nhà đầu tư và công ty kinh doanh nước ngoài sẽ tiến vào Bắc Triều Tiên, cộng thêm sự phát triển của phong trào xã hội hóa truyền thông, gia tộc họ Kim sẽ mất dần quyền kiểm soát chính trị. Việc dùng viện trợ và đầu tư để hướng Bắc Triều Tiên nói chuyện đạo lý trong đàm phán đã bị Kim Châng In cho là thuốc độc. Chúng tôi còn phải xem con trai của ông ta (Kim Châng Un) nói gì. Điều họ quan tâm nhiều hơn là bảo vệ năng lực kiểm soát chính trị chứ không phải là nâng cao mức sống của người dân trong nước. Họ sẽ tiêu tiền phục vụ cho quân sự và vũ khí hạt nhân trong khi hàng trăm hàng nghìn người dân vẫn đang chết đói.

Tôi khâm phục thành tựu Trung Quốc đã đạt được, tôi biết rằng Trung Quốc đang đứng trước những thách thức lớn, hơn ai hết, các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiểu rõ điều này. Họ biết mình cũng có hạn và giữ thái độ khiêm tốn. Khi thức dậy vào buổi sáng, điều mà Chủ tịch Hồ Cẩm Đào lo lắng hơn cả là các vấn đề kinh tế và xã hội trong nước, chứ không phải là tình hình thế giới. Cái mà Trung Quốc không muốn nhất chính là mạo hiểm ở nước ngoài. Trung Quốc chỉ hy vọng láng giềng thân thiện hữu hảo, chí ít tới nay là vậy. Do đó, họ có thể giải quyết vấn đề trong nước. Trên thực tế, (mô hình Trung Quốc) là cái tốt đẹp nhất có thể nhìn thấy trước. Bắc Triều Tiên sẽ không có tự do chính trị kiểu phương Tây, cũng không áp dụng chủ nghĩa tư bản phương Tây. Điều có khả năng thực hiện nhất là thực hiện nền kinh tế hỗn hợp giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, dựa theo mô hình Trung Quốc nới lỏng kinh tế Bắc Triều Tiên, việc này tốt hơn thời kỳ Mao Trạch Đông, cũng tốt hơn cho Bắc Triều Tiên hiện nay.

Tôi cho rằng mô hình Trung Quốc trong thời gian ngắn sẽ có hiệu quả, nhưng về lâu dài, một xã hội tự do thông tin hơn, có tính pháp chế hơn và mở cửa hơn sẽ đạt hiệu quả nhiều hơn. Nhưng trong giai đoạn ngắn điều này sẽ ‘không xảy ra ở Bắc Triều Tiên. Tôi hy vọng có ngày không chỉ là Bắc Triều Tiên, Trung Quốc cũng sẽ mở cửa hơn, minh bạch hơn.

Đa chiều: Chiến tranh Triều Tiên là gánh nặng lịch sử của hai nước Trung-Mỹ, năm đó, vì Bắc Triều Tiên, hai nước đã trả giá lớn. Hiện nay, khi đối mặt với cuộc khủng hoảng chính trị mới, liệu ông có lo rằng những phán đoán sai lầm trong quá trình hành động của Trung Quốc và Mỹ sẽ dẫn tới việc hai nước một lần nữa lại xung đột với nhau?

Lord: Ở đây có hai vấn đề, một là cục diện hiện nay, Bắc Triều Tiên không có bất ổn định quy mô lớn cũng không có thống nhất. Rủi ro kỳ thực tồn tại vì Trung Quốc và Bắc Triều Tiên về danh nghĩa có quan hệ đồng minh, hơn nữa, Trung Quốc còn ủng hộ Bắc Triều Tiên về mặt chính trị, kinh tế và ngoại giao. Nhưng quan hệ giữa quân đội Trung Quốc và quân đội Bắc Triều Tiên lại không rõ ràng. Mỹ đã xây dựng quan hệ vững chắc với Hàn Quốc và Nhật Bản. Rủi ro nổ ra xung đột giữa hai miền Triều Tiên luôn tồn tại, Trung Quốc và Mỹ có thể bị cuốn vào, đây là điều mà chúng tôi không hy vọng nhìn thấy nhất. Do đó, rủi ro lớn nhất là phán đoán sai lầm của Bắc Triều Tiên. Tuy không có ai thông tỏ tình hình nội bộ Bắc Triều Tiên, có tin đồn nói rằng nhà lãnh đạo mới của Bắc Triều Tiên sẽ củng cố địa vị của mình bằng những biểu hiện cứng răn. Căn cứ vào báo cáo có sức thuyết phục thấy rằng về phía Bắc Triều Tiên mà nói, Kim Châng Un chính là người đứng sau tham dự vào sự kiện chìm tàu Cheonan và vụ pháo kích đảo Yeonpyeong nhằm thể hiện rằng mình có khí khái của một trang nam tử có năng lực kiểm soát quân đội. Tôi cho rằng điều này chỉ khiến ông ta mất điểm chứ không phải là tăng điểm. Có người đoán rằng Kim Châng Un có thể sẽ có một số hành động để củng cố địa vị lãnh đạo điều này có thể sẽ rất nguy hiểmNếu Bắc Triều Tiên tiếp tục có bất cứ hành vi nào khiêu khích Hàn Quốc, Hàn Quốc sẽ trả đũa. Sau đó, Bắc Triều Tiên có thể lại đưa ra phản ứng. Tại vùng phụ cận Xơun đã bố trí vũ khí tình hình có thể leo thang nhanh chóng, cuốn Mỹ và Trung Quốc vào. Điều này giải thích tại sao trong khi sẵn sàng cảnh giác quân sự, sách lược tránh khiêu khích rất quan trọng, vì chỉ có như vậy chúng ta mới có thể

ngăn chặn Bắc Triều riên.

Trung Quốc đóng vai trò rất then chốt trong việc này, nếu như hỏi rằng có quốc gia nào có thể ảnh hưởng tới Bắc Triều Tiên, thì đó chính là Trung Quốc. Tôi biết Bắc Triều Tiên kỳ thực không hoàn toàn nghe lời Trung Quốc. Trên rất nhiều phương diện, Bắc Triều Tiên hy vọng phát triển quan hệ tốt đẹp với Mỹ nhằm tránh lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Bắc Triều Tiên không hy vọng bị Trung Quốc nuốt chửng. Cho dù như vậy, Bắc Triều Tiên vẫn nhận được những khoản viện trợ lớn của Trung Quốc, cộng thêm quan hệ sâu xa trong lịch sử và quan hệ trong chiên tranh với nước này. Do vậy, Trung Quốc cần đảm nhiệm vai trò ràng buộc Bắc Triều Tiên, tôi cho rằng Trung Quốc đã làm như vậy dựa trên lợi ích của bản thân.

Tuy nhiên, tôi không cho rằng Trung Quốc đã phát huy toàn lực trong việc gây ảnh hưởng với Bắc Triều Tiên. Nhưng quả thực Trung Quốc đã khiến Bắc Triều Tiên bình tĩnh trở lại trong hai năm qua, đặc biệt là trong sự kiện chìm tàu Cheonan và vụ pháo kích đảo Yeonpyeong. Thái độ của Hàn Quốc rất rõ ràng, nếu như Bắc Triều Tiên tiếp tục khiêu khích, Hàn Quốc sẽ tiến hành phản kích quân sự. Mỹ bảo đảm Trung Quốc biết rõ lập trường này. Vì thế, Trung Quốc cần cùng Bắc Triều Tiên cân nhắc, tránh để Bắc Triều Tiên tiếp tục hành động nếu không sẽ chuốc lấy sự trả đũa. Về phương diện này, tôi cho rằng Trung Quốc sẽ có sự giúp đỡ.

Đa chiều: Mỹ đã nhắc lại việc thực hiện cam kết đối với các đồng minh trong khu vực, ở đây có bao gồm việc tăng quân đồn trú?

Lord: Chí trong trường hợp Bắc Triều Tiên khiêu khích mới cần tới việc này, tôi cho rằng hiện nay mà làm như vậy là sai lầm. Cân bằng quân sự không có sự thay đổi. Trước tiên, chúng tôi sẽ tuân thủ cam kết với đồng minh vì chúng tôi đã có hiệp ước cam kết và việc này cũng là để giữ gìn ổn định. Nếu Mỹ bị nhìn nhận là yếu ớt hoặc thoái lui về mức độ ủng hộ cam kết thì điều đó sẽ không phù hợp với lợi ích của bất cứ quốc gia nào, gồm cả Trung Quốc. Tôi cho rằng ở một mức độ nào đó, Trung Quốc nhận thức được điều này, chi cần cam kết của Mỹ không diễn biến thành ngăn chặn Trung Quốc và chống Trung Quốc. Quan hệ đồng minh giữa Mỹ và Hàn Quốc, Nhật Bản có thể ngăn chặn sự xâm lược của Bắc Triều Tiên, bảo đảm bán đảo Triều Tiên ồn định.

Đa chiều: Nếu bán đảo Triều Tiên xảy ra khủng hoảng, Mỹ sẽ dồn sức tăng lực lượng cho nơi đây không?

Lord: Khẳng định là như vậy. Nhưng Mỹ sẽ không tìm kiếm cơ hội để chứng minh điều này. Chỉ khi Bắc Triều Tiên có khả năng tiến hành đe dọa, chúng tôi mới xem xét làm như vậy. Tiền đề là khi bị khiêu khích chứ không phải là đánh đòn phủ đầu. Chúng tôi hy vọng ổn định được giữ gìn, điều này không chỉ có nghĩa là Bắc Triều Tiên không được khiêu khích, mà còn có nghĩa Mỹ và đồng minh cũng không được chủ động khiêu khích, về cam kết của chúng tôi trong tình hình khủng hoảng, tôi cho rằng nó cũng phù hợp với lợi ích của Trung Quốc, họ biết nếu điểm yếu cúa Bắc Triều Tiên bị lợi dụng sẽ gây ra phiền toái, cũng có thể liên lụy tới Trung Quốc.

Đa chiều: Trung-Mỹ đã thiết lập đường dây nóng về Bắc Triều Tiên để ứng phó với sự kiện bất ngờ hay chưa?ư

Lord: Chưa. Chuyện này sẽ dấn tới một vấn đề khác, đó lả rủi ro hiểu nhầm. Nhiều năm nay, Chính phủ Mỹ liên tục tiếp xúc với lãnh đạo Trung Quốc. Các học giả tham mưu của chúng tôi không ngừng yêu cầu Trung Quôc, phải cùng với Mỹ Hàn Quốc và Nhật Bản, thảo luận sự kiện bất ngờ trên bán đảo Triều Tiên.Giữa Mỹ và Nhật Bản, giữa Mỹ và Hàn Quốc có không ít sự hiệp thương. Tôi không biết Mỹ hoặc các đồng minh của Mỹ đã có bất cứ cuộc thảo luận quan trọng nào với Trung Quốc về việc ứng phó với việc Kim Châng In qua đời hay liên quan tới khả năng xảy ra nội chiến ở Bắc Triều Tiên hoặc thống nhất bán đảo Triều Tiên hay không. Người Trung Quốc tẩy chay một cuộc đàm phán như vậy vì đối với Trung Quốc những chủ đề đó quá nhạy cảm. Nếu có khả năng bị tiết lộ họ sẽ không tiến hành thảo luận về Kim Châng In. Tôi hy vọng người Trung Quốc hiện nay có thể dễ dàng hơn trong việc nói chuyện bình tĩnh với chúng tôi, từ đó tôn trọng “vạch đỏ” của mỗi bên.

Đa chiều: vấn đề nào mà ông lo lắng nhất nhưng đối thoại Trung-Mỹ chưa đề cập tới?

Lord: Chúng tôi đều lo lắng về việc kiểm soát vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Trung Quốc sẽ đưa lực lượng quân sự tới không? Chúng tôi có đưa lực lượng quân sự tới không? Chúng tôi có cần sự can dự của Liên hợp quốc không? Chúng tôi đều cần tiến hành thảo luận. Nếu có hàng tràm hàng nghìn người tị nạn tràn vào vùng đệm, vào biên giới Trung Quốc chúng ta phải làm thế nào? Nếu bán đảo Triều Tiên thống nhất, quân Mỹ sẽ đóng gần sông Áp Lục hay vẫn lưu lại nơi cũ? Hoặc khi đó có còn cần quân Mỹ không? Trung Quốc có thể chấp nhận việc Bắc Triều Tiên bị Hàn Quốc thống nhất, thực hiện chính thể dân chủ hay không? Chúng tôi chưa thảo luận những vấn đề này vì phía Trung Quốc tẩy chay. Tôi hiểu mức độ nhạy cảm của nó, nhưng tôi cho rằng bắt đầu một cuộc thảo luận như vậy là rất cần kíp. Tôi tin chắc rằng Chính phủ Mỹ đã có phương án ứng phó khẩn cấp với các tình huống Bắc Triều Tiên phát động tân công. Nhưng trong bối cảnh chưa rõ lập trường của Trung Quốc, các phương án mang tính khả thi liên quan tới việc thống nhất trên bán đảo Triều Tiên… lại rất khó quy hoạch.

Đa chiều: Ông có cho rằng Kim Châng Un có thể nắm quyền lực đầy đủ, nhất là đổi với quân đội?

Lord: Có hai cách nghĩ, một là Kim Châng In luôn bồi dưỡng con trai mình, đã bố trí những nhân vật trung thành với con trai trong đảng, trong ủy ban quốc phòng và trong hệ thống quan chức đồng thời loại bỏ những người đối lập và con trai của Kim Châng In đã bố trí những người trung thành với gia tộc họ Kim xung quanh mình. Kim Châng Un danh chính ngôn thuận, đã cài cắm người của mình ở các vị trí then chốt, gồm cô mình, cũng chính là em của Kim Châng In và chồng bà này. Kim Châng Un có thể củng cố địa vị của mình và nhận được sự ủng hộ của những người này và có thể nhận được sự giúp đỡ của nhà lãnh đạo quân đội. Kim Châng Un đã được bổ nhiệm làm Chủ tịch ủy ban tang lễ, được chỉ định là người kế tục vĩ đại, tới giờ dường như không có bất cứ dấu hiệu bất ổn định nào, cũng không có ai thách thức. Do đó, có cách nghĩ là không cần phải lo lắng, Kim Châng Un sẽ củng cố được chính quyền của anh ta.

Nhưng cũng có cách nghĩ khác là cha của Kim Châng Un có tới 17 năm chuẩn bị trước khi kế nhiệm. Kim Nhật Thành đã bồi dưỡng Kim Châng In 17 năm. Vài năm trước khi Kim Nhật Thành qua đời, Kim Châng In luôn được sử dụng quyền lực hành chính của cha mình, nên hoàn toàn củng cố được địa vị của mình. Tháng 9/2010, Kim Châng Un mới lần đầu tiên được cho là người có khả năng kế nhiệm, từ đó tới nay có rất ít thời gian (chuẩn bị kế nhiệm). Kim Châng Un mới 28 tuổi, chúng tôi không biết ngày sinh nhật của anh ta, cũng không biết anh ta đã kết hôn chưa. Chúng tôi không cho rằng anh ta đã kết hôn, nhưng chúng tôi cũng không rõ điều này. Thật là lạ lùng. Anh ta trẻ, thiếu kinh nghiệm, không có kinh nghiệm làm bất cứ chuyện gì.

Họ đều cho rằng Kim Châng In có thể sống thọ hơn một chút. Ông ta lâm bệnh rồi, nhưng trước đây lại tồn tại thông tin rằng tình hình sức khỏe của ông ta dần tốt lên. Khi ở Trung Quốc, tôi có nghe một quan chức cấp cao của Trung Quốc vừa trở về sau chuyến thăm Bình Nhưỡng nói sức khỏe Kim Châng In xem ra đã tốt lên nhiều Họ không có sự chuẩn bị tốt. Tôi dự tính còn vài năm. Có người cho rằng quân đội và những thành viên cựu trào trong đảng Lao động Triều Tiên bất mãn với nhân vật kế nhiệm trẻ tuổi này. Trước tiên, mới 27 tuổi anh ta đã trở thành tướng lĩnh có quân hàm cao nhất quân đội, thêm vào đó là việc anh ta là người kế nhiệm không có cơ sở, cho nên Bắc Triều Tiên xẽ xảy ra đấu tranh quyền lực và tâm lý bất mãn. Như vậy rất không ổn định và cục diện sẽ chứa đầy nhân tố chưa rõ ràng.

Tôi đoán rằng sẽ có một thể chế lãnh đạo hỗn hợp ở Bắc Triều Tiên. Kim Châng Un là người kế nhiệm về danh nghĩa và về mặt chế độ, chủ trì những công việc then chốt, gặp gỡ lãnh đạo cao cấp nước ngoài, nhưng đồng thời sẽ có một ban lãnh đạo cầm quyền tập thể, có thể bao gồm những người thân thích của Kim Châng Un, chú rể và co em bố, có thể bao gồm cả người của quân đội, để cùng Kim Châng Un quản trị đất nước. Họ sẽ trưng cầu ý kiến của nhà lãnh đạo danh nghĩa này, nhưng kinh nghiệm cua họ phong phú hơn. Khi Kim Châng Un củng cố địa vị và có kinh nghiệm, họ sẽ vân như vậy vì Kim Châng Un danh chính ngôn thuận. Ngoài vương triều họ Kim, không có ai khác là chính quyền hợp pháp ở Bắc Triều Tiên. Đây là phương thức quản trị đất nước tồi tệ, nhưng là hiện thực ở Bắc Triêu Tiến. Người khác không hy vọng Bắc Triều Tiên xảy ra nội chiến dẫn tới chia cắt do đó họ nguyện ủng hộ nhà lãnh đạo danh nghĩa, xem xem anh ta có thể củng cố được chính quyền hay không, vì không ai có thể thách thức danh nghĩa của Kim Châng Un, đây là suy đoán của tôi, nhưng thiên cơ khó lường. Có thể ngày mai khi tỉnh dậy, chúng ta sẽ nhìn thấy Kim Châng Un bị lật đổ. Nhưng căn cứ theo lẽ thường, chính là những gì tôi vừa nói.

Đa chiều: Chính phủ Mỹ tới nay về mặt công khai giữ thái độ im lặng đối với Bắc Triều Tiên, ông cho rằng qua kênh ngầm, Mỹ cần chuyển

cho Bắc Triều,Tiên thông điệp gì?

Lord: Tôi hy vọng họ thông qua kênh ngầm, trong bối cảnh đã hiệp thương với đồng minh, đặc biệt là Hàn Quốc và Nhật Bản, chuyển cho Bắc Triều Tiên và Trung Quốc thông điệp rằng “cánh cửa tiếp xúc vẫn rộng mở”. Tôi không thể phát ngôn cho chính phủ, nhưng tôi cho rằng chúng tôi nên trực tiếp hoặc thông qua Trung Quốc (liên hệ với Bắc Triều Tiên), chuyển đi thông điệp rằng đàm phán của chúng ta đang đạt được tiến triển, nhưng chúng tôi hiểu (Bắc Triều Tiên) cần có thời gian để ứng phó với tình hình trong nước, tuy nhiên, chúng tôi hy vọng (Bắc Triều Tiên) biết rằng cánh cửa đàm phán vẫn rộng mở. Đương nhiên, trong bôi cảnh đồng minh có thể chấp nhận, tôi có thể xử lý bằng hình thức của riêng mình. Vì Mỹ đang trong thời gian bầu cử, Đảng Cộng hòa sẽ tìm mọi cách để nắm thóp” đối phương.

Đa chiều: Trong nhiệm kỳ thứ hai, cựu Tổng thống Clinton rất quan tâm tới vấn đề Bắc Triều Tiên, thậm chí có kế hoạch thăm Bắc Triều Tiên. Nếu liên nhiệm, ông Obama có làm như vậy không?

Lord: Tôi không loại trừ mọi khả năng, nhưng tôi cho rằng ông Obama đủ thông minh để không đến thăm Bắc Triều Tiên khi mọi sự chưa đạt được nhận thức chung. Tới thăm Bắc Triều Tiên không phải để đàm phán mà để chứng kiến các hiệp định đã đạt được. Nếu Bắc Triều Tiên nói rằng họ sẽ phá hủy tất cả vũ khí hạt nhân, phá hủy tất cả tên lửa, phóng thích tất cả tù chính trị, phá hủy tất cả các trại cải tạo lao động, hòa bình thống nhất, phát huy dân chủ đầy đủ, thì ông Obama có thể thăm Bắc Triều Tiên.

Đa chiều: Mỹ đã có sự tiếp xúc mang tính đột phá với Mianma, tại sao không xem xét tiếp xúc với Bắc Triều Tiên?

Lord: So với Bắc Triều Tiên, Mianma rõ ràng là thiên đường. Bắc Triều Tiên vô cùng tồi tệ, hơn nữa, Bắc Triều Tiên còn có vấn đề vũ khí hạt nhân và tôi không cho rằng Bắc Triều Tiên có ý định từ bỏ nó. Điều đó không có nghĩa không thể thông qua đàm phán để Bắc Triều Tiên đông kết chương trình hạt nhân của họ. Chúng tôi phải kiên trì nguyên tắc buộc Bắc Triều Tiên từ bỏ vũ khí hạt nhân. Tôi không cho rằng việc này sẽ diễn ra rất nhanh. Theo tôi, chỉ có thống nhất bán đảo Triều Tiên thì mới xảy ra khả năng này (Bắc Triều Tiên từ bỏ vũ khí hạt nhân).

Đa chiều: Năm xưa, chính quyền Clinton đã gửi lời chia buồn để chuyển thông điệp, ông cho rằng lần này không phải là cơ hội để tìm kiếm một sự chuyển ngoặt nào đó?

Lord: Tôi vẫn nói khả năng này là cơ hội, nhưng tôi lo là sự việc sẽ trở nên xấu hơn và nguy hiểm hơn. Khả năng này là cơ hội vì nội bộ Bắc Triều Tiên có thể sẽ có sự thảo luận với các ý kiến khác nhau. Đương nhiên, chúng tôi không nên chủ động có hành vi khiêu khích Bắc Triều Tiên, khiến họ mất hết thể diện. Nhưng tới nay, tôi vẫn chưa thấy bất cứ chứng cứ nào cho thấy thời cơ đã đến.

Đa chiều: Ông dùng từ “cơ hội” là vì cựu Tổng thống Clinton đã để lại ấn tượng sâu sắc cho nhà lãnh đạo mới ở Bắc Triều Tiên lúc bấy giờ thông qua một loạt động thái và khi đó Clinton cũng từng chịu sự chỉ trích mạnh mẽ ở Mỹ. Nhưng những động thái đó đã đóng vai trò tích cực đối với Clinton nhiều năm sau khi ông tới Bắc Triều Tiên cứu hai nhà báo Mỹ.

Lord: So với các chính phủ sau này của Mỹ, Bắc Triều Tiên rõ ràng thích Chính quyền Clinton hơn. Tôi cho rằng ảnh hưởng tích cực là việc ký kết hiệp định năm 1994. Có thể tuyên bố chia buồn của Clinton đã để lại ấn tượng tích cực đối với họ, nhưng có thể khẳng định là Chính phủ Mỹ khi đó đã điều chỉnh cách làm và sau này đã làm nên chuyến thăm Bắc Triều Tiên của Ngoại trưởng Albright.

Đa chiều: Tham dự nhiều hạng mục đối thoại phi chính thức Mỹ- Triều vòng hai, vậy ông có kiến nghị chiến lược tích cực hơn nào đối với chính sách “nhẫn nhịn” hiện nay của Chính quyền Obama?

Lord: Cá nhân tôi cho rằng phản ứng của Chính quyền Obama là đúng đắn. Không quá khiêu khích cũng không để mặc cho Bắc Triều Tiên hù dọa bắt chẹt. Thường thì Bắc Triều Tiên nhận được viện trợ xong mới ký hiệp định và kỹ hiệp định rồi lại phá bỏ hiệp định để sau đó yêu cầu nhận được viện trợ lớn hơn mới bắt đầu đàm phán. Vòng luẩn quấn này làm mọi người mệt mỏi rã rời.

Đa chiều: Cuối cùng, nhìn những thay đổi mới nhất ở Bắc Triều Tiên ở góc độ rộng hơn, trong số 3 nước phổ biến vũ khí hạt nhân mới nhất là Bắc Triều Tiên, Pakixtan và Iran, có phải ông vẫn lo nhất là Bắc Triều Tiên?

Lord: Bắc Triều Tiên và Pakixtan vẫn là hai quốc gia nguy hiểm nhất. Iran cũng là mối nguy hiểm tiềm tàng Nếu như tôi phải sắp xếp, đứng ở vị trí đầu tiên sẽ là Bắc Triều Tiên vì nước này có quá nhiều nhân tố không xác định. Tình hình Pakixtan cũng rất gay go, họ chơi trò hai mặt với Mỹ. Tôi cho rằng chúng tôi cần phải cứng rắn hơn một chút. Mọi người đều nói Mỹ không thể chịu được việc họ sụp đổ, nhưng đây là vấn đề khác. Vũ khí hạt nhân kết hợp với việc ủng hộ chủ nghĩa khủng bố ở các nơi trên thế giới, cho dù họ cũng đang tấn công một số tổ chức khủng bố, nhưng các tổ chức khủng bố mà Pakixtan đang ủng hộ lại đe dọa châu Âu và Mỹ. Đây là điều không thể chấp nhận được trong khi Mỹ cung cấp viện trợ cho họ. Bắc Triều Tiên và Pakixtan gây ra tình hình rất nguy hiểm cho Mỹ từ vấn đề vũ khí hạt nhân, chủ nghĩa Hồi giáo cấp tiến tới tinh thần chống Mỹ mạnh mẽ./.

3/1/12

Ấn Độ đã nhận tàu ngầm nguyên tử Nerpa

QĐND Online - Nga và Ấn Độ đã ký biên bản bàn giao chính thức tàu ngầm nguyên tử K-151 Nerpa thuộc lớp 971U Shuka-B theo hợp đồng cho thuê kéo dài 10 năm. Hãng tin Nga Itar-Tass cho biết, lễ ký chính thức vừa được tổ chức tại văn phòng Bộ tư lệnh lực lượng hải quân Nga.

K-151 Nerpa

“Toàn bộ quá trình chạy thử và kiểm tra chất lượng đã hoàn tất. Sau dịp lễ mừng năm mới 2012, kíp thủy thủ đoàn Ấn Độ sẽ được làm quen và đào tạo làm chủ con tàu”, đại diện hải quân Nga cho biết. Dự kiến, tàu ngầm nguyên tử Nerpa sẽ tới Ấn Độ trong khoảng ngày 20-1 tới và được đổi tên là Chakra để phiên chế cho căn cứ hải quân Vishakhapatnam. 

Chakra sẽ là tàu ngầm nguyên tử đầu tiên của hải quân Ấn Độ. Trong biên chế, chiếc tàu ngầm này sẽ được sử dụng để đào tạo nhân sự cho tàu ngầm nguyên tử nội địa Arihant. Ấn Độ đã hạ thủy tàu ngầm Arihant từ năm 2009 và hiện nó vẫn đang trong giai đoạn chạy thử.

Theo đúng kế hoạch, Charka đã phải chuyển giao cho phía Ấn Độ từ năm 2010, nhưng việc này đã bị hoãn lại nhiều lần.

K-151 Nerpa là tàu ngầm nguyên tử thế hệ thứ 3 của Nga. Với tổng lượng choán nước đạt 12.770 tấn, chiếc tàu ngầm này có thể lặn xuống độ sâu 600 m và di chuyển với tốc độ 30 hải lý/giờ. Trang bị cơ bản của Nerpa là tên lửa hành trình, ngư lôi và ngư lôi-tên lửa.

Tuấn Sơn (theo Lenta)

VIỆTNAM LẠI TRỞ MẶT, BẮC KINH KHÔNG CÒN ĐƯỜNG THOÁI LUI Ở NAM HẢI

Mạng Sina

Phùng Thiện Trí

Quốc Thanh dịch
31-12-2011

Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tiến hành chuyến viếng thăm Việt Nam trong thời gian 3 ngày, bắt đầu từ ngày 20, cử chỉ này được dư luận rộng rãi xem là Trung Quốc có ý đồ nỗ lực thêm một bước trong việc phát huy sức ảnh hưởng ở Đông Nam Á, trong bối cảnh đang có tranh chấp lãnh thổ và Mỹ đang tăng cường sức ảnh hưởng ở khu vực này. Sau khi Mỹ áp dụng các biện pháp để tăng cường mối quan hệ giữa các nước lân bang với Trung Quốc ở khu vực này, do lo rằng sức ảnh hưởng của mình sẽ bị yếu đi, nên gần đây Trung Quốc đã tăng cường các hoạt động ngoại giao ở Đông Nam Á, để đạt được các hiệp định hòa bình về tranh chấp lãnh thổ với các nước. Trong chuyến thăm Việt Nam của Tập Cận Bình lần này, ông ta không chỉ tham dự nghi lễ ký kết nhiều văn bản hợp tác giữa hai nước, mà còn đã ký cả một thỏa thuận Trung Quốc cho Việt Nam vay 200 triệu đôla Mỹ.

Nhưng chỉ sau khi Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình về nước được ít ngày, Việt Nam lại bắt đầu gây rắc rối ở Nam Hải (1) Theo tin từ Hoàn cầu Thời báo, ngày 28 tháng 12 năm 2011: Một vài sự thực cho thấy, Việt Nam đang bất chấp Trung Quốc để tiến vào các đảo ở Nam Hải cùng các vùng biển phụ cận có chủ quyền, từng nhiều lần có những lời phát biểu cứng rắn về vấn đề Nam Hải, đồng thời tìm mọi cách để làm mạnh thêm lập trường của Việt Nam. Theo tin từ truyền thông Đài Loan, cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Nguyễn Mạnh Cầm tuyên bố, các quần đảo Nam Sa (2) và Tây Sa (3) xét về mặt lịch sử, và căn cứ theo Luật biển Quốc tế năm 1982, đều “thuộc về lãnh thổ Việt Nam”, “bất luận Trung Quốc có quấy nhiễu ra sao, cũng không thể làm thay đổi được công lý và lịch sử”.

Ông bày tỏ, việc cấp bách hiện nay là “Việt Nam phải để cho người dân trong nước và bạn bè quốc tế hiểu về lịch sử của các quần đảo Nam Sa và Tây Sa, đồng thời ủng hộ cho chủ trương của Việt Nam”. Ông còn tuyên bố, vấn đề Nam Hải phải được giải quyết thông qua đàm phán đa phương. Trung Quốc đưa ra đề nghị đàm phán song phương, nhưng vấn đề Nam Hải “có liên quan đến lợi ích của rất nhiều quốc gia, nhất là vấn đề tự do đi lại”.

Ông bày tỏ, Việt Nam phải áp dụng các biện pháp thiết thực, trong đó quan trọng nhất là giúp cho người dân hiểu biết sâu hơn về lịch sử Nam Hải và quần đảo Tây Sa. Trên cơ sở toàn dân đồng lòng và được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, chúng tôi tin tưởng rằng Việt Nam có thể bảo vệ được “chủ quyền lãnh thổ quốc gia”.

Ngoài ra, ông Dương Trung Quốc, Đại biểu Quốc hội Việt Nam, cũng kiến nghị Quốc hội cần công bố các nghị quyết có liên quan, để thể hiện lập trường của Việt Nam đối với vấn đề Nam Hải, một mặt là để “bảo vệ hòa bình”, mặt khác là để khẳng định vững chắc Việt Nam “có chủ quyền đối với Nam Hải và quần đảo Tây Sa”.

Từ khi bước vào thế kỷ mới đến nay, về vấn đề Nam Hải, Trung Quốc luôn áp dụng biện pháp xoa dịu đối với Việt Nam, đã ban cho Việt Nam một chút ân huệ, để có thể ngăn chặn được những hành vi khiêu khích của Việt Nam ở Nam Hải, từ đó mà phân hóa được sự liên hợp giữa Việt Nam với Philippines, khiến cho Philippines không thể vỗ được bằng một bàn tay ở Nam Hải. Nhưng chính sách xoa dịu của Trung Quốc đối với Việt Nam dường như không có hiệu quả như dự liệu, Việt Nam không hề cảm kích trước ân huệ của Trung Quốc, trái lại, còn gia tăng sự giễu võ giương oai ở Nam Hải.

Ngày 25 tháng trước, Thủ tướng Việt nam Nguyễn Tấn Dũng khi phát biểu trước Quốc hội, đã ngang nhiên phủ nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Nam Hải, hơn nữa còn đòi Trung Quốc trả lại chủ quyền đối với mọi hòn đảo ở Nam Hải, với thái độ ngạo mạn ngang ngược khác thường. Trong chuyến thăm Việt Nam lần này, Phó Chủ tịch Tập Cận Bình đã ký kết nhiều văn bản với Việt Nam, đồng thời còn cho Việt Nam vay tiền, nhưng khi Phó Chủ tịch Tập Cận Bình vừa mới về nước, Việt Nam lại bắt đầu gây chuyện om sòm ở Nam Hải, điều này khiến cho tôi không khỏi nghĩ lại tình hình xảy ra hai tháng trước, ngày 11 tháng 10, Trung Quốc và Việt Nam đã ký kết “Hiệp định về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo việc giải quyết vấn đề Nam Hải giữa hai nước Trung Việt”.

Mặc dù Việt Nam đồng ý giữ sự bình tĩnh và kiềm chế giữa hai bên về vấn đề nam Hải, không áp dụng những hành động làm cho sự tranh chấp phức tạp, lan rộng thêm! Sắp tới hai bên còn phải xúc tiến sự đàm phán về việc phân giới khu vực ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ một cách vững chắc, đồng thời tích cực bàn thảo về vấn đề khai thác chung ở vùng biển này. Tuy nhiên đến ngày hôm sau, Việt Nam đã ký với Ấn Độ Hiệp định Hợp tác Khai thác Tài nguyên Dầu khí ở Nam Hải, rồi tiếp đó Việt Nam lại còn rầm rộ tuyên bố kế hoạch mua sắm vũ khí, hoàn toàn vứt bỏ bản hiệp định đã ký giữa hai nước Trung-Việt ra khỏi đầu, lúc này Việt Nam lại cố tình dùng thủ thuật để tránh cho người ta khỏi nghi ngờ về lập trường chân thực của mình về vấn đề Nam Hải!

Thực ra, Việt Nam luôn áp dụng lập trường nước đôi, hai mặt trong vấn đề Nam Hải. Về vấn đề Nam Hải, Việt Nam đã dựa vào sự ủng hộ của Mỹ, nhưng lại không phải là dựa hoàn toàn, mà giữ tính tự chủ lựa chọn tương đối lớn, biểu hiện: Mỹ vì muốn áp chế và phong tỏa Trung Quốc nên cần có sự phối hợp với Việt Nam về vấn đề Nam Hải, vì thế nên Mỹ đã chi viện quân sự và cho Việt Nam vay tiền, nhằm giúp Việt nam nâng cao thực lực quân sự, từ đó hỗ trợ Việt Nam áp dụng những hành vi khiêu khích Bắc Kinh ở Nam Hải, để đạt tới mục đích Mỹ kiềm chế được Trung Quốc. Nhưng Việt Nam không phối hợp hoàn toàn với chiến lược Nam Hải của Mỹ, mà là, một mặt khiêu khích Trung Quốc ở Nam Hải, mặt khác lại tổ chức đàm phán với Bắc Kinh, từ đó khiến cho kết quả mà Mỹ mong muốn nhìn thấy, bị rơi rụng đi nhiều.

Còn trong cuộc đọ sức với Trung Quốc, một mặt Việt Nam tiến hành đàm phán với Trung Quốc về vấn đề Nam Hải, nhưng lập tức bội tín luôn, vẫn tiếp tục khiêu khích Trung Quốc ở Nam Hải, đồng thời ngày càng tỏ thái độ cứng rắn hơn. Biểu hiện: Trong cả chuyến thăm Việt Nam lần này của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình lẫn chuyến thăm Bắc Kinh vào tháng 10 của Tổng Bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam đều ký kết với Trung Quốc nhiều hiệp định, hơn nữa còn bày tỏ mong muốn đàm phán với Trung Quốc về vấn đề Nam Hải, nhưng chuyến thăm vừa mới kết thúc được ít ngày, Việt Nam đã bội tín, bội nghĩa, dù không ký kết với nước khác hiệp định về Nam Hải, nhưng tiếp tục áp dụng thủ đoạn khiêu khích ở Nam Hải, hoặc mua sắm một lượng lớn vũ khí tiên tiến, dùng vũ lực để bảo vệ những lợi ích đã có được ở Nam Hải.

Việt Nam vừa liên hợp với Philippines, lại vừa chia tách với Philippines về vấn đề Nam Hải. Biểu hiện: Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang từng có chuyến thăm chính thức Philippines trong thời gian 3 ngày, ông tuyên bố với Tổng thống Philippines, Việt nam sẽ ủng hộ và hợp tác chặt chẽ với Philippines cùng các nước ASEAN khác, xúc tiến đề nghị về “Khu vực hòa bình, tự do, hữu nghị và hợp tác” do Philippines đề xuất, ủng hộ việc thực thi bản “Tuyên bố về hành vi giữa các bên ở Nam Hải”. Nhưng trong Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á tổ chức hồi tháng 11, Philippines đưa ra nghị án về tranh chấp ở Nam Hải, nhưng Việt Nam đã không hề ủng hộ Philippines về vấn đề này, từ đó khiến cho âm mưu quốc tế hóa vấn đề Nam Hải của Philippines bị phá sản!

Xét tình hình hiện nay, Việt Nam sẽ không từ bỏ hành vi khiêu khích Trung Quốc, lại càng sẽ không từ bỏ mưu cầu lợi ích đối với Nam hải. Sở dĩ Việt nam có thể sử dụng thủ đoạn lập lờ hai mặt đối với Trung Quốc, Mỹ và Philippines, chính là vì lợi dụng tất cả những lực lượng nào có thể lợi dụng được, để thực hiện tối đa hóa lợi ích của nước mình ở Nam Hải. Cùng với việc thực thi kế hoạch mua sắm vũ khí quy mô lớn, thực lực tổng thể về quân sự của Việt Nam sẽ có sự nhảy vọt về chất trong vòng vài ba năm tới, từ đó mà tăng cường được nguồn vốn cạnh tranh với Trung Quốc ở Nam Hải, nhằm đạt được sự uy hiếp quân sự đối với Trung Quốc, để Trung Quốc không còn dám dễ dàng áp dụng những hành vi quân sự đối với Việt Nam ở Nam Hải, từ đó mà bảo vệ được lâu dài cùng mở rộng lợi ích của Việt Nam ở Nam Hải!

Về vấn đề Nam Hải, không cần phải áp dụng chính sách hữu hảo với nước đã xâm phạm các đảo của Trung Quốc, biện pháp xoa dịu đối với Việt Nam về cơ bản đã không thể ngăn chặn được sự đòi hỏi của Việt Nam về chủ quyền đối với các hòn đảo đang tranh chấp, trái lại còn khiến cho họ có thái độ hai mặt, giành được nhiều lợi ích hơn trong cuộc đọ sức giữa các bên ở Nam Hải, từ đó hợp pháp hóa được các hòn đảo đã chiếm ở Nam Hải, trở thành một bộ phận không thể chia cắt trong lãnh thổ của mình. Trước cách làm của Việt Nam như vậy, Trung Quốc không cần phải suốt ngày hô to “gác tranh chấp, cùng nhau khai thác” nữa, mà cần áp dụng những hành động thực tế hữu hiệu hơn, bởi tất cả những hành động đã làm của Việt nam đủ để thấy họ chỉ muốn biến những hòn đảo tranh chấp ở Nam Hải thành lãnh thổ của mình, mà không hề đếm xỉa gì đến cái gọi là “gác lại tranh chấp, cùng nhau khai thác” của Trung Quốc. Cho nên Trung Quốc cần thay đổi sách lược Nam Hải hiện nay, lấy uy hiếp quân sự và trừng phạt kinh tế làm đàm phán hậu thuẫn, một khi đàm phán không đi đến hiệu quả, thì Trung Quốc hoàn toàn có thể thực thi sự trừng phạt nghiêm khắc.

Nếu như trừng phạt mà vẫn không ngăn chặn được sự khiêu khích của nước khác ở Nam Hải, thì cuối cùng Trung Quốc chỉ còn cách tuốt gươm
, nếu không, các hòn đảo ở Nam Hải, Nam Sa, Tây Sa, sẽ biến thành lãnh thổ của nước khác hoặc sẽ bị xóa khỏi bản đồ cương giới của Trung Quốc, càng làm đau lòng thêm cho người dân Trung Quốc!

Ghi chú:


(1) Tức Biển Đông

(2) Trường Sa

(3) Hoàng Sa

Nguồn: Mạng Sina

Lãnh đạo Việt Nam: Nam Sa thuộc về Việt Nam từ cổ xưa, sẽ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ

1. Thủ tướng Việt Nam giàn giụa nước mắt, nói với Trung Quốc chỉ một câu

31-12-2011
Quốc Thanh dịch

Mười năm gây cuộc chiến tự vệ phản kích đối với Việt Nam, rốt cuộc Trung Quốc đã làm cho Việt Nam chịu bao nhiêu tổn thất? Nghe nói khi chúng ta đánh Việt nam, tất cả công xưởng nhà máy trên đường đều chẳng còn gì. Cơ sở công nghiệp bị phá hủy toàn bộ. Vậy thì, trình độ công nghiệp của Việt Nam trước khi đánh nhau đã ở được trình độ nào?

Rồi còn trong chiến tranh, Việt Nam đã phải chịu bao nhiêu tổn thất? Đến nay đã hơn 30 năm, nền kinh tế Việt nam cũng đã có được bước phát triển dài, vậy liệu năng lực công nghiệp của Việt Nam có thể hoàn toàn hồi phục và có phần tiến bộ được hay không? Hay là nói những tổn thất do lần chiến tranh ấy, cho đến ngày hôm nay, người Việt Nam vẫn còn phải gánh chịu? Khi ấy, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng sau khi đến thị sát Lạng Sơn, đã giàn giụa nước mắt, nói: Người Trung Quốc thật độc ác! Có thể thấy giải phóng quân đã thực hành mệnh lệnh hủy hoại cho bằng sạch. Cái gì lôi được về thì lôi, ngay cả đến cái cột điện khó lôi về được cũng chẳng còn (Những gì của chúng ta vốn chi viện, cái nào thu về được thì thu về. Những gì không xê dịch được hoặc không vận chuyển kịp thì phải phá hủy cho hết).

Xin nói về những gì tôi đã thấy

1. Khi nối lại quan hệ với Việt nam vào khoảng năm 92, 93, từ Côn Minh vẫn còn tàu hỏa đường ray một mét đi Hà Khẩu, khi ấy bên phía Trung Quốc về cơ bản không có dấu tích chiến tranh, nhưng bên phía Việt Nam thì khá thảm hại, ngay cả chiếc cầu lớn vốn có cũng đã bị đổ xuống sông.

2. Cá nhân tôi cảm thấy khái niệm công nghiệp là phù phiếm đối với Việt Nam, không phải mới chỉ có một hai nhà máy là đã có thể được gọi là công nghiệp, xét từ điểm này, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp hoàn toàn.

3. Sau năm 2000, năng lực công nghiệp Việt Nam có phần phát triển, nhưng theo cảm nhận của tôi, chưa thể nói đến nghĩa là “trình độ công nghiệp”, nhưng xét về một ý nghĩa nào đó, nông nghiệp phục hồi từ chiến tranh là rất dễ, ít nhất thì anh cũng rà phá bom mìn xong rồi là có thể trồng lúa ngay được.

4. Tổn thất do chiến tranh không chỉ là vấn đề do cuộc chiến Trung Việt đem lại, 30 năm trước, Việt Nam dường như luôn ở trong các cuộc chiến lớn nhỏ, ít ra cho đến giờ, vấn đề tỉ lệ dân số ở một vài khu vực nào đó đã nảy sinh vì thế.

5. Tính dân tộc của Việt Nam không khiến cho người ta trông đợi lắm, nam giới khá lười biếng, ngược lại, nữ giới lại rất chăm chỉ, điều này có phần giống với các dân tộc thiểu số ở đây và các vùng như Vân Nam…

Việt Nam lại ra mặt với Trung Quốc: Tướng Trung Quốc nói toạc đại kế hoạch chỉ bằng một câu

Tin từ Trung tâm tình hình quân sự Thời báo Hoàn cầu ngày 28 tháng 12 năm 2011: Một vài sự thực cho thấy, Việt Nam đang bất chấp Trung Quốc để tiến vào các đảo ở Nam Hải (1) cùng các vùng biển phụ cận có chủ quyền, từng nhiều lần có những lời phát biểu cứng rắn về vấn đề Nam Hải, đồng thời tìm mọi cách để làm mạnh thêm lập trường của Việt Nam.

Thứ nhất, động cơ của các hành vi Việt Nam rốt cuộc là gì? Mọi hành vi của Việt nam khiến cho vấn đề Nam Hải ngày càng trở nên phức tạp, cho nên đối với Trung Quốc, cần phải có nhiều phương án dự phòng, nhằm ứng đối với tất cả những gì ngày càng phát sinh ở Nam Hải. Theo lời của một người thạo tin không muốn để lộ danh tính, hải quân Trung Quốc sẽ tăng cường đầu tư độ lực vào Nam Hải, sự cứng rắn của Việt Nam đối với Nam Hải chỉ sẽ khiến cho Việt nam rơi vào tình cảnh không đường tháo gỡ.

Cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm tuyên bố, các quần đảo Nam Sa (2) và Tây Sa (3) xét về mặt lịch sử, cùng căn cứ theo Luật biển Quốc tế năm 1982 đều “thuộc về lãnh thổ Việt Nam”, “bất luận Trung Quốc có quấy nhiễu ra sao, thì cũng không thể làm thay đổi được công lý và lịch sử”. Ông bày tỏ, việc cấp bách hiện nay là “Việt Nam phải để cho người dân trong nước và bạn bè quốc tế hiểu được về lịch sử của các quần đảo Nam Sa và Tây Sa, đồng thời ủng hộ chủ trương của Việt Nam”. Cử chỉ này của Việt nam hiển nhiên là để lãnh thổ của mình có được sự đồng nhận thức về mặt quốc tế.

Thực ra, phương án của Việt Nam làm như vậy chẳng qua chính là để có được sự đồng nhận thức từ các quốc gia đồng minh với Mỹ. Nhưng một điều Mỹ sẽ không thể ngờ được là, tất cả những gì Việt Nam làm đối với Trung Quốc nhất định sẽ phải gánh chịu tổn thất to lớn sau này, Trung Quốc không ra uy thì thôi, chứ còn một khi đã ra uy rồi thì hoàn toàn có thể sẽ khiến cho Việt Nam xơi không nổi đòn mà tháo chạy. Người viết cho rằng đối với Việt Nam, biện pháp hữu hiệu chính là phải để cho người dân Việt Nam áp dụng các biện pháp thiết thực, trong đó quan trọng nhất là giúp cho người dân hiểu biết sâu hơn về lịch sử Nam Hải và quần đảo Tây Sa (4). Tránh để cho thế hệ sau tiếp tục gây nguy hại cho khu vực Nam Hải đang tranh chấp này.

Thứ hai, Việt Nam chưa phán đoán được chính xác hình thế phát triển trong tương lai. Thế nhưng Việt Nam đang ngày càng tiến xa trên con đường sai lầm, sau này Trung Quốc chỉ còn cách buộc phải dùng đến vũ lực để hướng Việt Nam về đạo lý. Ngoài ra, ông Dương Trung Quốc, Đại biểu Quốc hội Việt Nam, cũng kiến nghị Quốc hội cần công bố các nghị quyết có liên quan để thể hiện lập trường của Việt Nam đối với vấn đề Nam Hải, một mặt là để “bảo vệ hòa bình”, mặt khác là để khẳng định vững chắc Việt Nam “có chủ quyền đối với Nam Hải và quần đảo Tây Sa”. Sở dĩ Việt Nam có thể làm được như vậy, chủ yếu là vì thấy mấy mục tiêu quan trọng vẫn chưa thực hiện được.

Dưới đây là tin tức có được từ hai tháng qua, tin rằng bạn có thể nhìn ra được một vài đầu mối để thấy rõ tâm lý nóng vội của Việt nam. Ngày 24 tháng 11, Việt Nam dựa vào nguồn thu nhập từ dầu mỏ để tăng chi phí quân sự lên 35%, nhằm làm tăng thêm sức chiến đấu ở Nam Hải; ngày 2 tháng 11, giới chuyên gia cho biết, Việt Nam rất đáng nghi ngờ trong việc thực thi Hiệp định Nam Hải Trung-Việt. Ngày 28 tháng 10, giới phân tích nói, Việt nam đang mở rộng toàn lực các hạm đội để tăng thêm khả năng đáp ứng cho nhu cầu của Nam Hải; ngày 27 tháng 10, Công ty Mỹ tuyên bố đã hợp tác với Việt Nam phát hiện dầu mỏ ở Nam Hải; ngày 27 tháng 10, Việt Nam ủng hộ Philippines đề nghị thiết lập khu vực hòa bình ở Nam Hải. Những lợi ích to lớn nằm đằng sau đó khiến cho Việt Nam phải dám xông vào cuộc mạo hiểm này. Một mặt, Việt Nam triển khai giao lưu với quân Mỹ, mở rộng các biên đội hải quân, nhưng Việt nam là một quốc gia với thực lực như vậy, sẽ không thể đủ để cấu thành năng lực thách thức với Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam đã không tin theo lý lẽ này, mà đã làm xằng bậy, đã dám lao vào mạo hiểm.

Cuối cùng, người viết cho rằng muốn giải quyết được vấn đề Việt Nam, chỉ có một biện pháp, đó chính là trước tiên phải nâng cao trình độ tổng thể về quân sự tự thân, nếu hiện giờ vội vàng khai chiến với Việt Nam thì sẽ trúng mưu kế của Mỹ, bởi suy cho cùng thì Trung Quốc hiện tại, nếu đem so với các nước khác, thực lực kinh tế và thực lực tích lũy vẫn là ở tình trạng đang phát triển. Cuối cùng, người viết đề nghị Việt Nam không nên quá trắng trợn, chơi với lửa thì cuối cùng tất sẽ tự chết thiêu, một vài thiếu tướng hải quân Trung Quốc luôn cảnh báo Việt Nam không nên thiên về tự ý hành động, phải bảo vệ hòa bình, tuy nhiên Việt Nam lại có thái độ giả ngây giả điếc, cho rằng Trung Quốc sẽ khó lòng có thể chịu đựng nổi. Tin rằng Việt Nam sẽ rõ được hàm nghĩa của câu nói này.

———–

Ghi chú:

(1) Tức Biển Đông

(2) Tức Trường Sa

(3) tức Hoàng Sa

(4). Câu này tác giả bài viết chơi xỏ, bằng cách nhắc lại câu nói của cựu Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm ở trên.

Nguồn: Info.51.ca

—————

2. Lãnh đạo Việt Nam: Nam Sa thuộc về Việt Nam từ cổ xưa, sẽ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ

29-12-2011
Quốc Thanh dịch

Bia tưởng niệm của Việt Nam

Theo tin từ “Trung Ương xã” Đài Loan, cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm tuyên bố, các quần đảo Nam Sa (1) và Tây Sa (2) xét về mặt lịch sử, cùng căn cứ theo Luật biển Quốc tế năm 1982, đều “thuộc về lãnh thổ Việt Nam”, “bất luận Trung Quốc có quấy nhiễu ra sao, cũng không thể làm thay đổi được công lý và lịch sử”.

Ông bày tỏ, việc cấp bách hiện nay là “Việt Nam phải để cho người dân trong nước và bạn bè quốc tế hiểu về lịch sử của các quần đảo Nam Sa và Tây Sa, đồng thời ủng hộ cho chủ trương của Việt Nam”. Ông còn tuyên bố, vấn đề Nam Hải (3) phải được giải quyết thông qua đàm phán đa phương. Trung Quốc đưa ra đề nghị đàm phán song phương, nhưng vấn đề Nam Hải “có liên quan đến lợi ích của rất nhiều quốc gia, nhất là vấn đề tự do đi lại”.

Ông bày tỏ, Việt Nam phải áp dụng các biện pháp thiết thực, trong đó quan trọng nhất là giúp cho người dân hiểu biết sâu hơn về lịch sử Nam Hải và quần đảo Tây Sa. Trên cơ sở toàn dân đồng lòng và được sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, chúng tôi tin tưởng rằng Việt Nam có thể bảo vệ được “chủ quyền lãnh thổ quốc gia”.

Ngoài ra, ông Dương Trung Quốc, Đại biểu Quốc hội Việt Nam, cũng kiến nghị Quốc hội cần công bố các nghị quyết có liên quan, để thể hiện lập trường của Việt Nam đối với vấn đề Nam Hải, một mặt là để “bảo vệ hòa bình”, mặt khác là để khẳng định vững chắc Việt Nam “có chủ quyền đối với Nam Hải và quần đảo Tây Sa”.

———–

Ghi chú:

(1) Tức Trường Sa

(2) tức Hoàng Sa

(3) Tức Biển Đông

Nguồn: BBS.TIEXUE.NET

ẤN ĐỘ CẦN KHẲNG ĐỊNH MÌNH TRƯỚC MỘT TRUNG QUỐC KIÊU NGẠO

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 28/12/2011

TTXVN (Niu Đê li 25/12)

Tờ báo “The Pioneer ” của Ấn Độ, số ra gần đây, có đăng bài bình luận của nhà phân tích chính trị hàng đầu nước này, ông G Parthasarathy, cho rằng Ấn Độ không phải là một nước lệ thuộc, sẽ không chịu khuất phục và Làm theo mệnh lệnh của một nước Trung Quốc “hiếu chiến”. Trung Quốc phải nhận thức được điều này và chấp nhận sự thật đó.

Theo ông G Parthasarathy, năm 2012, một thế hệ mới của Trung Quốc, do Phó Chủ tịch nước Tập Cận Bình đứng đầu, được biết đến như là “phe thái tử”, sẽ lên lãnh đạo Trung Quốc. Họ sẽ kế thừa một nước Trung Quốc đã làm thế giới kinh ngạc với sự đột phá trong cải cách nền kinh tế. Tuy nhiên, thế hệ lãnh đạo mới cũng sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức nhằm “dung hòa” sự tương phản giữa một bên là nên kinh tế mở và bên kia là chế độ một đảng cai trị trong một hệ thống chính trị chứa đựng nhiều bất ôn.

Điều đó tồn tại trong một thời đại khi nhân dân ngày càng khao khát có cuộc sống tự do dân chủ. “Triều đại” Hồ cẩm Đào đã được đánh dấu bằng nỗ lực bản năng để kìm nén các khát vọng dân chủ bằng cách dựa vào “Chủ nghĩa Xôvanh” hiếu chiến, phản ảnh những cái mà Liên Xô trước đây từng coi là “Chủ nghĩa Xôvanh đại Hán”. Sức mạnh quân sự đã được phô trương và các tuyên bố đòi chủ quyền lãnh thổ với các nước láng giềng từ Nhật Bản, Việt Nam đến Philíppin và Ấn Độ, đã thể hiện một cách cứng rắn.

Câu hỏi đặt ra là: Thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc có đi theo đường lối này không? Hay thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc sẽ tìm cách đáp ứng các khát vọng dân chủ bằng một cơ chế chính trị minh bạch và cởi mở hơn? Các câu hỏi này đang được giới lãnh đạo các nước trên thế giới quan tâm.

Ngay trước thềm Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), ngày 19/11, tại Bali (inđônêxia), tờ Nhân dân nhật báo, cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Trung Quốc, đăng tuyên bố phản đối các kế hoạch của Ấn Độ tăng cường lực lượng quốc phòng tại khu vực biên giới phía Bắc Ấn Độ và cảnh báo rằng Trung Quốc có “các loại vũ khí dẫn đường chính xác” có thể “dễ dàng” tiêu diệt bất kỳ lực lượng quân sự mới được triển khai nào của Ấn Độ. Bài báo chỉ trích Ấn Độ tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước láng giềng Trung Quốc như Nhật Bản và Việt Nam. Trung Quốc, trên thực tế, đã nói với Ấn Độ rằng trong khi họ có quyền hỗ trợ Pakixtan phát triển vũ khí hạt nhân thế hệ mới sử dụng chất phóng xạ Plutonium thì Ấn Độ không được “thách thức” bằng việc tăng cường quan hệ quốc phòng với các nước láng giềng của Trung Quốc như Nhật Bản và Việt Nam.

Các bài công kích mạnh mẽ của phía Trung Quốc phản đối Ấn Độ vẫn tiếp diễn thậm chí cả sau EAS tại Inđônêxia. Tân Hoa xã, cơ quan truyền thông chính thức của Trung Quốc, ngày 24/11, đã có bài bình luận ý nói Ấn Độ lo sợ trước việc Trung Quốc đã lấy lại được uy tín ở châu Á, Bài báo ám chỉ cuộc xung đột biên giới năm 1962, khi Ấn Độ bị lực lượng quân sự Trung Quốc đánh bại, Bài báo viết một cách vô cớ rằng “lòng ghen tị đôi khi cũng đồng nghĩa với sự tự ti”.

Cách nói khoa trương như vậy của Trung Quốc đã không thể “kiềm chế” được Ấn Độ. Tất cả các nước láng giềng của Trung Quốc phản bác tuyên bố của Bắc Kinh đòi chủ quyền đối với hâu như toàn bộ Biển Đông, khu vực mà họ coi là “lợi ích cốt lõi”. Các sự kiện tại biển Hoa Đông, dọc vùng biển tranh chấp biên giới với Nhật Bản, dẫn tới việc tàu của Nhật Bản bị tàu hải quân Trung Quốc đâm vào, tiếp theo đó là lệnh cấm xuất khẩu đất hiếm của Trung Quốc được áp dụng đối với Nhật Bản. Philíppin cũng chứng kiến việc Trung Quốc sử dụng vũ lực để khẳng định tuyên bố nhận chủ quyền lãnh hải mà trong một số thời điểm, Việt Nam đã từng là đối tượng bị Trung Quôc sử dụng vũ lực trong tranh chấp biên giới. Trung Quốc cũng đã giữ lập trường tương tự trong việc giải quyết tranh chấp trên biển với Hàn Quốc và Đài Loan. Hiện nay, Trung Quốc công khai khoe khoang rằng họ sở hữu tên lửa đạn đạo có thể tấn công các hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ.

Trong khi Trung Quốc khăng khăng nói sẽ giải quyết những bất đông hàng hải với các nước như Việt Nam, Philíppin, Brunây và Malaixia trên cơ sở song phương, Ấn Độ đã tuyên bố tại EAS (Inđônêxia) rằng các vấn đề liên quan đến lãnh hải và tự do hàng hải phải được giải quyết trong khuôn khổ Công ước của Liên Hợp Quốc về luật Biển năm 1982. Khoảng 40% khối lượng hàng hóa buôn bán của Ấn Độ với các nước như Mỹ được vận chuyển qua Biển Đông. Hơn nữa, toàn bộ các hoạt động giao thông thương mại của Ấn Độ với Nhật Bản, Hàn Quốc đều đi qua các khu vực biển mà Trung Quốc nhận chủ quyền và coi là “lợi ích cốt lõi” của họ. Chính vì vậy, trong bối cảnh hiện nay, tại các vùng biển chưa được phân định và các đối tượng tranh giành, nơi mà một bên dường như sẵn sàng sử dụng vũ lực, được xem như yếu tố ngăn cản và trở ngại đối với các hoạt động tự do hàng hải.

EAS cũng chứng kiến một diễn biến khác. Mặc dù Trung Quốc giữ lập trường không thảo luận vấn đề Biển Đông tại hội nghị này, song 5 nước thành viên ASEAN gồm Xinhgapo, Philíppin, Brunây, Việt Nam và Thái Lan cùng với Ấn Độ, Ôxtrâylia và Mỹ đã đưa vấn đề tranh chấp lãnh hải và tự do hàng hải ra thảo luận tại hội nghị. Nga, Indônêxia và 5 thành viên khác đã đề cập một cách chung chung về vấn đề an ninh hàng hải. Chỉ có Mianma và Campuchia tránh nhắc đến vấn đề trên.

Sự bối rối của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo, người được các đại biểu Mỹ tham gia hội nghị mô tả tỏ ra “hơi bực tức lúc đầu” đã có tiếng nói “mềm dẻo hơn”, nhưng không từ bỏ quan điểm cứng rắn của Trung Quốc đòi giải quyết các tranh chấp lãnh hải với từng nước láng giềng trên cơ sở song phương. Tuy nhiên, với việc Mỹ quyết định tham gia tích cực tại hội nghị lần này và tăng cường cam kết an ninh của họ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương bằng cách đồng ý triển khai lực lượng quân đội tại Darwin của Ôxtrâylia, các nước ASEAN hiện tỏ ra hài lòng với việc “sự hung hăng” của Trung Quốc sẽ không phải không bị thách thức.

Mặt khác, Trung Quốc cũng không phải không nhận ra rằng việc Ôxtrâylia quyết định xem xét lại và thay đổi chính sách liên quan đến việc bán urani cho Ấn Độ được công bố trong chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Barack Obama tới Ôxtrâylia. Động thái trên xảy ra sau khi Ngoại trưởng Mỹ, bà Hillary Clinton, đã nêu ra một thuật ngữ mới Ấn Độ-Thái Bình Dương để mô tả khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong cuộc thảo luận song phương chính thức với Ôxtrâylia. Làm tăng thêm các quan ngại của Trung Quốc, điều được phản ánh trên các phương tiện truyền thông Trung Quốc, Tổng thống Obama đã tuyên bố rằng Ngoại trưởng Mỹ sẽ sớm đi thăm Mianma, nước mà Trung Quốc luôn coi là “sân sau” của họ. Điều này thể hiện diễn biến mới tại khu vực khi chế độ mới ở Mianma đang phát tín hiệu muốn thoát khỏi “sự kìm kẹp đến ngạt thở” của Trung Quốc.

Ấn Độ đã đáp trả một cách đích đáng sự “đe dọa” về ngoại giao của Trung Quốc vào ngày 22/11 khi ứng cử viên của Ấn Độ, ông A Gopinathan, đã đánh bại đối thủ Trung Quốc, ông Zhang Yan với tỉ lệ phiếu 106/77 giành vị trí trong cơ quan giám sát chung của Liên hợp quốc. Ông Zhang Yan hiện là đại sứ Trung Quốc tại Ấn Độ được biết đến như một nhân vật kiêu ngạo. Gần đây, ông ta đã quát tháo một phóng viên Ấn Độ khi phóng viên này đề nghị giải thích về việc bản đồ của Trung Quốc vẽ toàn bộ vùng Giamu và Casơmia thuộc lãnh thổ Pakixtan. Một người bạn Trung Quốc của tác giả, người đã gặp ông đại sứ Trung Quốc sau khi ông này đến Ấn Độ đã bị sốc khi vị đại diện ngoại giao này bình luận một cách kiêu ngạo rằng “Các phương tiện truyền thông Ấn Độ phải hiểu rằng họ không thể đối xử với Trung Quốc theo cách này”. Ấn Độ không phải là một nước lệ thuộc của Trung Quốc, sẽ không chịu khuất phục và làm theo mệnh lệnh của Trung Quốc, thưa ngài đại sứ.

Quyết định mời Đạtlai Lạtma phát biểu tại Hội nghị Phật giáo toàn cầu được tổ chức tại Niu Đêli đáng được khen ngợi. Song quyết định tổ chức sự kiện này ở thời điểm trùng với chuyến thăm Niu Đêli của Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc Đới Bỉnh Quổc để đối thoại về vấn đề biên giới là hoàn toàn không thích hợp về mặt ngoại giao. Điều tồi tệ nhất là việc Ấn Độ nhượng bộ trước sức ép của Trung Quốc và việc Tổng thống và Thủ tướng nước này không tham gia hội nghị là “hèn nhát” và tự hạ thấp mình./.

2/1/12

TRƯỜNG SA – HOÀNG SA: LUẬN CỨ VÀ SỰ KIỆN

Chủ quyền biển Đông – đặc biệt là chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa của Việt Nam là vấn đề được nhắc đến nhiều trong thời gian vừa qua.

Bìa sách Hoàng Sa, Trường Sa - Luận cứ và Sự kiện (Đinh Kim Phúc) do NXB Thời Đại ấn hành (12/2011)

Theo Thông tấn xã Việt Nam, ngày 20/10/2009, Bộ Ngoại giao nước ta đã trao công hàm cho Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam phản đối việc nhân viên vũ trang Trung Quốc có những hành động vô nhân đạo đối với ngư dân Việt Nam vào tránh bão tại đảo Phú Lâm (ngư dân Việt Nam thường gọi là đảo Trụ Cẩu), thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đang bị phía Trung Quốc chiếm giữ. Cũng trong quãng thời gian này, ngày 17/10/2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gặp và hội đàm với Thủ tướng Ôn Gia Bảo tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên. Trong cuộc gặp này, Thủ tướng Ôn Gia Bảo khẳng định: “Việt Nam là láng giềng hữu nghị và là đối tác quan trọng của Trung Quốc. Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc luôn coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với Việt Nam”. Đáp lại, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cam kết: “Đảng và Nhà nước Việt Nam sẽ làm hết sức mình để cùng với Trung Quốc xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện theo phương châm “mười sáu chữ và tinh thần bốn tốt”.

Theo thông báo của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN), ngày 26/5/2011, các tàu hải giám Trung Quốc đã vi phạm vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động bình thường của PVN. Tàu hải giám Trung Quốc đã đe dọa tàu Bình Minh 02, cắt cáp thăm dò địa chấn tại lô 148 Thềm lục địa Việt Nam, cách mũi Đại Lãnh (Phú Yên) 120 hải lý. Hoạt động thăm dò của tàu Bình Minh 02 đã diễn ra một cách bình thường từ năm 2010 mà không có tranh chấp nào xảy ra… 

Nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc – tác giả cuốn sách chỉ ra rằng việc nghiên cứu những động thái của Trung Quốc cũng như các nước đang tranh giành chủ quyền ở vùng quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa là một việc làm vô cùng cần thiết; đồng thời với những luận cứ cụ thể, các bản đồ chi tiết về biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa được vẽ bởi các nhà thám hiểm, các nhà hàng hải từ thế kỉ XIX trở về trước – sẽ cung cấp cho bạn đọc những thông tin cơ bản về vấn đề chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa và vùng biển Đông của Việt Nam.

Ngoại giao và chủ quyền lãnh thổ

(Dân Việt) - Năm 2011 là thời điểm đánh dấu Ngoại giao Việt Nam đã vượt qua thời kỳ phủ sóng diện rộng “làm bạn với tất cả các nước”.

Tuần tra trên đảo Sinh Tồn.

Mở rộng đối tác chiến lược

Theo Bộ trưởng Phạm Bình Minh, năm 2011 có ý nghĩa quan trọng, là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ tiến lên Chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung) và Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2011-2015.

Hòa vào dòng chảy chung của thế giới hướng đến thời kỳ tăng trưởng bền vững sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Việt Nam cũng bước vào triển khai chiến lược tăng trưởng mới, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững nhằm đưa đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

Với chủ trương hội nhập quốc tế, Việt Nam tiếp tục triển khai hoạt động ngoại giao toàn diện, mà một trong những định hướng, giải pháp ưu tiên là đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao đa phương thông qua việc phát huy những kết quả đã đạt được trong thời gian qua, tích cực đóng góp thực chất cho các diễn đàn đa phương quốc tế và khu vực quan trọng mà ta là thành viên.
Trong những chuyến thăm cấp cao của lãnh đạo Việt Nam ra nước ngoài và của lãnh đạo thế giới đến Việt Nam trong năm 2011, đều nhấn mạnh đến việc hướng đến mối quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.
Đặc biệt, trong những chuyến thăm cấp cao của lãnh đạo Việt Nam ra nước ngoài và của lãnh đạo thế giới đến Việt Nam trong năm 2011, đều nhấn mạnh đến việc hướng đến mối quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.

Năm qua cũng đánh dấu mốc thời gian Việt Nam và các nước đối tác liên tục tổ chức và nhấn mạnh đến việc hướng đến quan hệ đối tác chiến lược vì tương lai, trong đó có Mỹ, Nhật, Đức, Trung Quốc, EU… Với các nước như Hàn Quốc, Anh đã xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam thì 2 bên không ngừng tăng cường, phát triển hơn nữa mối quan hệ song phương.

Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nêu rõ: Toàn ngành ngoại giao nhận thức rõ trách nhiệm trước đất nước là phải góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tận dụng các nguồn lực từ bên ngoài để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đất nước, nâng cao hơn nữa vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Đối ngoại về Biển Đông

Năm 2011, ngành ngoại giao Việt Nam đã triển khai đàm phán song phương để tìm kiếm giải pháp cho những tranh chấp về các vấn đề liên quan chỉ tới hai nước, và đa phương trên những vấn đề liên quan tới nhiều nước, nhiều bên.
Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh cho rằng, trong tất cả các mối quan hệ, lợi ích dân tộc phải được đặt lên trên hết.
Trong quá trình đàm phán, chúng ta đã thực thi và đề nghị đối tác cùng tuân thủ các cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc (DOC), đồng thời cùng các nước hữu quan sớm soạn thảo Bản Quy tắc ứng xử (COC)...

Việt Nam và Trung Quốc đã ký được Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển. Công tác phân giới cắm mốc giữa ta với Lào và với Campuchia đang được tích cực triển khai thực hiện trên cơ sở những Hiệp định biên giới đã ký kết, góp phần quan trọng xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng.

Bộ Ngoại giao cho hay, chúng ta đã ký thỏa thuận song phương về hợp tác giải quyết vùng chồng lấn trên biển với từng nước Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, tạo thuận lợi cho những chương trình hợp tác rộng lớn hơn ở Biển Đông trong khuôn khổ các nước ASEAN và giữa ASEAN với Trung Quốc.

Đóng vai trò là thành viên tích cực trong khối ASEAN, Việt Nam cùng các nước thành viên đã nỗ lực đàm phán để khối và Trung Quốc đã thông qua Quy tắc Hướng dẫn thực hiện DOC - một bước tiến quan trọng để giải quyết các vấn đề liên quan đến vấn đề về chủ quyền lãnh thổ.

Về vấn đề tranh chấp trên Biển Đông, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố rõ: Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử khẳng định rằng, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta đã làm chủ thực sự hai quần đảo này ít nhất từ thế kỷ 17, khi đó 2 quần đảo này chưa thuộc bất kỳ quốc gia nào. Và trên thực tế, Việt Nam đã làm chủ liên tục 2 quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Lập trường nhất quán của Việt Nam là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Việt Nam chủ trương đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc, Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982 và DOC.

Với quần đảo Trường Sa, chủ trương của Việt Nam là nghiêm túc thực hiện Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982 và DOC và các thỏa thuận đã ký giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo đó, các bên giữ nguyên trạng, không làm phức tạp thêm tình hình, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, Việt Nam nghiêm túc thực hiện và yêu cầu các bên liên quan tuân thủ Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982 và DOC, đảm bảo tự do, trật tự hàng hải, hòa bình và ổn định ở Biển Đông. Đây cũng là mong muốn, là lợi ích của tất cả các bên liên quan, bởi khu vực Biển Đông có dung lượng vận tải chiếm 50-60% tổng lượng hàng hóa trên cung đường từ Đông sang Tây. Lập trường này của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ủng hộ và đó cũng là chính sách đối ngoại trên Biển Đông của Ngoại giao Việt Nam trong năm 2012.

Quang Minh

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất năm 2011

(Dân trí) - Tờ Korea Herald số ra ngày 27/12/2011 đã có bài viết với tựa đề "Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất năm 2011" nói về những đóng góp to lớn của Thủ tướng trong việc đưa Việt Nam thoát khỏi vòng xoáy khủng hoảng.

Dân trí trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết đăng tải trên Korea Herald:

Cuộc khủng hoảng nợ công toàn cầu năm 2011 đã gây ra những quan ngại sâu sắc cho nền kinh tế thế giới. Hạn hán, lụt lội và dịch bệnh do biến đổi khí hậu cùng với những căng thẳng ở Biển Đông và các nguy cơ xung đột mới trên thế giới đã đẩy các nền kinh tế tới những thách thức mới.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

Trong bối cảnh đó, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã thể hiện rõ dấu ấn của mình với tài năng lãnh đạo xuất sắc, chèo lái thành công “con tàu kinh tế Việt Nam” vượt qua “cơn lốc xoáy” bằng các quyết sách linh hoạt, kịp thời, cân đối về kinh tế, tài khóa, tiền tệ và ngoại giao. Kết quả, năm 2011 Việt Nam bước đầu kiểm soát được lạm phát, giữ mức tăng trưởng kinh tế cao và đảm bảo an sinh xã hội.

Đánh giá tổng quan về kinh tế năm 2011, các chuyên gia kinh tế quốc tế của Hàn Quốc cho rằng Việt Nam đã thoát khỏi “cơn lốc xoáy” của sự tăng trưởng chậm.

Ổn định kinh tế vĩ mô, đi đôi với tái cơ cấu nền kinh tế tiếp tục là thông điệp chính được người đứng đầu Chính phủ chuyển tới cộng đồng các nhà đầu tư và các nhà tài trợ quốc tế trong năm 2012.
Tại cuộc họp với các nhà tài trợ CG, Thủ tướng Việt Nam - ông Nguyễn Tấn Dũng đã nhận được sự nhất trí và phản hồi tích cực từ các nhà tài trợ trong việc thực hiện thành công nội dung chủ yếu của Nghị quyết 11 và đã có những hành động quyết đoán trong việc triển khai quyết liệt, có hiệu quả quá trình tái cơ cấu nền kinh tế trong năm 2011; làm bản lề vững chắc để thực hiện các kế hoạch và nhiệm vụ năm 2012 - một năm hứa hẹn đầy thách thức đối với nền kinh tế thế giới và Việt Nam.

Bài báo viết về Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đăng tải trên tờ Korea Herald ngày 27/12

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn được duy trì liên tục, quý sau cao hơn quý trước (GDP quý I/2011 tăng 5,43%, quý II/2011 tăng 5,67%, quý III/2011 tăng 6,11%;), tính chung 9 tháng GDP tăng 5,76% và cả năm mức tăng GDP ước đạt khoảng 6%.

Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thế giới có những biến động lớn, vốn FDI thực hiện của Việt Nam vẫn đạt 2,54 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước và tăng đều qua các tháng (tháng 1 là 420 triệu USD, tháng 2 là 730 triệu USD, tháng 3 là 1,81 tỷ USD, tháng 4 là 2,4 tỷ USD, tháng 5 là 3,6 tỷ USD).

Tính từ đầu năm 2011 đến nay, đã có trên 20 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới tăng thêm 1,08 tỷ USD, chiếm 46,74% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Hàn Quốc đứng ở vị trí thứ 4 với tổng vốn đăng ký cấp mới tăng thêm 193,29 triệu USD, chiếm 8,15% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam. Nhật Bản đứng thứ 5 với tổng vốn đăng ký cấp mới tăng thêm 131 triệu USD, chiếm 5,5% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam.

Mới đây, Tập đoàn Tài chính đầu tư Goldman Sachs (Hoa Kỳ) đã xếp Việt Nam nằm trong nhóm 11 nước (N-11) có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới trong năm 2011, mở ra những cơ hội mới cho các nhà đầu tư và tạo nên những địa chỉ đầu tư quốc tế tốt nhất trong các năm tiếp theo.

Theo cuộc nghiên cứu mới đây của nhóm giáo sư và chuyên gia kinh tế cấp cao của Chính phủ Hàn Quốc về tác động của khủng hoảng nợ công lan rộng và biến đổi khí hậu toàn cầu cũng như tầm ảnh hưởng và khả năng lãnh đạo nền kinh tế của các Thủ tướng trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nước thoát khỏi khủng hoảng nền kinh tế nhanh nhất và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được đánh giá là vị Thủ tướng có ảnh hưởng nhất khu vực châu Á trong việc điều hành thành công nền kinh tế Việt Nam và là người có những quyết định mang tính quyết đoán nhất.

Việt Nam chọn mức tăng GDP 2011 là 5,8-6% trong khi mục tiêu của 2012 là 6%. Duy trì mức tăng trưởng này sẽ giúp Việt Nam ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và đảm bảo an sinh xã hội. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã có những hành động đúng thời điểm, và đã không chọn kịch bản tăng trưởng cao trong giai đoạn hiện nay.

Song song với ổn định kinh tế, Thủ tướng đã kiên định trong điều hành và đưa ra các giải pháp tái cơ cấu nền kinh tế hợp lý, trong đó tập trung vào tái cơ cấu đầu tư, hệ thống tài chính - ngân hàng và khu vực doanh nghiệp Nhà nước. Việt Nam sẽ tiến hành cổ phần hóa hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước với mục tiêu chủ yếu là nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.

Bên cạnh những mục tiêu vĩ mô nói trên, Việt Nam tiếp tục đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội cho người dân. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam hiện ở mức 1.200 USD/năm nhưng khoảng cách giàu nghèo vẫn ở mức cao. Để giải quyết tình trạng này, Ông Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo các bộ, ngành thực hiện chiến lược hành động để đảm bảo việc làm ổn định và bền vững thông qua việc tập trung nâng cao trình độ tiếng Anh và đào tạo nghề với mục tiêu tạo ra trên 1,6 triệu việc làm trong năm 2012 nhằm giữ tỷ lệ thất nghiệp dưới 4%. Cùng với đó, hiện số hộ nghèo trong cả nước đã giảm 2%.

Ông Dũng cũng đã ra quyết định thành lập một nhóm chuyên trách giám sát và thúc đẩy nhanh quá trình giải ngân, sử dụng hiệu quả những sự trợ giúp từ bên ngoài, đặc biệt là ODA.

Trong mắt các nhà đầu tư quốc tế, ông được đánh giá cao bởi luôn có những sáng kiến nhằm thúc đẩy gắn kết với cộng đồng quốc tế nhờ vào bản lĩnh vững vàng và những chính sách nhất quán. Những cam kết vững chắc của ông khiến các nhà đầu tư luôn tin tưởng trong việc đầu tư vào Việt Nam. Ông đã có những đóng góp then chốt trong việc nâng tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế lên tầm cao mới.

Với người dân Việt Nam, ông được đánh giá cao bởi những gì đã làm trong suốt thời gian ông giữ chức Thủ tướng. Ông luôn quan tâm tới những ý kiến đóng góp quý báu của các thế hệ đi trước, luôn tôn trọng và biết cách sử dụng người tài và luôn có các chính sách hỗ trợ để các doanh nghiệp ổn định trong sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó là các chính sách hỗ trợ phát triển công - nông nghiệp và hỗ trợ sinh viên, người nghèo. Ông là biểu tượng của tinh thần dân tộc Việt Nam trong việc kiên quyết bảo vệ độc lập chủ quyền dân tộc trên cơ sở tôn trọng luật pháp Quốc tế và giữ quan hệ ngoại giao tốt với các nước trên thế giới .

Với những gì đã làm cho Việt Nam, ông xứng đáng được bình chọn là nhân vật của năm 2011 - vị Thủ tướng Chính phủ phải đối mặt với rất nhiều thách thức nhưng luôn chứng tỏ được bản lĩnh của mình. Ông xứng đáng được người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế yêu mến. Hà Minh

Theo The Korea Herald (số ngày 27/12/2011)

1/1/12

Su-30 Việt Nam hiệp đồng với lục quân

Mặt đất rung lên, khói bụi mịt mù kèm theo những tiếng nổ lớn sau khi biên đội máy bay Su-30 thuộc Sư đoàn không quân 370 ném 12 quả bom trúng ngay mục tiêu...

(ĐVO) Loạt bom của biên đội Su-30 mở màn cho cuộc diễn tập bắn đạn thật cấp tiểu đoàn được tiến hành sáng 30/12 tại Trường bắn quốc gia khu vực 3 thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai với sự tham dự của nhiều lãnh đạo Cục Quân huấn và Quân đoàn 4.

Trung đoàn 2 thuộc Sư đoàn 9 (Quân đoàn 4), chỉ huy tiểu đoàn 4 và các lực lượng tăng cường thực hành cuộc diễn tập trên. Nhờ công tác tổ chức tốt, điều hành đúng trình tự cùng với sự cố gắng của các chiến sĩ, cuộc diễn tập đã đạt kết quả giỏi, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và vũ khí trang bị.

Thông qua cuộc diễn tập, Quân đoàn 4 đã nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và tổng kết một năm huấn luyện với nhiều thành công.

Dưới đây là một số hình ảnh về cuộc diễn tập:




Mở màn cho cuộc diễn tập là sự xuất hiện máy bay chiến đấu Su-30.


Sau loạt bom của biên đội Su-30, thao trường rung lên với những tiếng nổ vang trời và nhiều cột khói lớn.


Pháo phản lực BM-21 khai hỏa.
 

Pháo phòng không 37mm và 57mm bắn trúng mục tiêu ngay từ loạt đạn đầu.
 

Xe tăng được lệnh tấn công trên hướng chủ yếu. 


Trong thời gian ngắn các xe tăng đã tiêu diệt 3 lô cốt đầu cầu và một mục tiêu xe thiết giáp.


Lực lượng bộ binh nhanh chóng cơ động qua cửa mở.


Thông tin liên lạc luôn được bảo đảm thông suốt với sự hỗ trợ của 2 chiếc xe thông tin vệ tinh Vsat – VCD2. Đây là phương tiện thông tin hiện đại vừa được trang bị cho Quân đoàn.


Các chiến sĩ một tiểu đội pháo phòng không chăm chú theo dõi mục tiêu sau loạt bắn.


Mục tiêu bị tiêu diệt nhanh gọn.


Máy bay trực thăng vũ trang bắn rocket tiêu diệt địch ở điểm cao 102. 
 

Vượt qua mọi khó khăn, các chiến sĩ đã hoàn thành nhiệm vụ.


Lực lượng phòng hóa tiến hành tẩy độc cho xe tăng.


Nhiều đại diện lãnh đạo các đơn vị quân đội và địa phương đã đến chứng kiến cuộc diễn tập.

Theo báo Quân đội Nhân dân

Người chiến sĩ được đặt tên một hòn đảo Trường Sa

Tác giả: MAI THẮNG
Bài đã được xuất bản.: 01/01/2012 06:00 GMT+7

Anh đã ngã xuống, nhưng hòn đảo được bảo vệ, và được đặt tên của anh


Hôm đoàn công tác chúng tôi ra thăm được chia làm hai nhóm để đến với anh em trên cả 2 điểm đảo Phan Vinh A và Phan Vinh B. Khi đặt chân lên cầu cảng, tất cả cán bộ, chiến sĩ đã chờ sẵn trên bờ từ khi nào. Sau những cái bắt tay siết chặt, những lời thăm hỏi thân tình, là khoảng lặng xúc động khi đoàn trưởng công tác kể câu chuyện về sự hi sinh quên mình của liệt sĩ Nguyễn Phan Vinh.

Đất nghèo nuôi những anh hùng

Tôi đã nhiều lần đến Trường Sa, đã đi chân trần trên sỏi đá ở đảo Phan Vinh vào mùa biển lặng tháng tư hàng năm, lần nào cũng không kìm được xúc động, khi được chính các chiến sĩ ở hòn đảo nhỏ này kể câu chuyện về sự hi sinh kiên cường của liệt sĩ Nguyễn Phan Vinh. Chiến sĩ trẻ Trần Văn Quyết, quê ở Đất đỏ Bà Rịa Vũng Tàu nói với chúng tôi: "Chúng em luôn tự hào về Nguyễn Phan Vinh, người thuyền trưởng của Đoàn tàu không số- hòn đảo duy nhất mang tên người anh hùng này, chúng em tự hào về điều đó".

Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Phan Vinh

Anh hùng Trung úy liệt sĩ Nguyễn Phan Vinh sinh năm 1933 tại Điện Nam, Điện Bàn, Quảng Nam, trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Như bao trai làng khác, năm 21 tuổi, Vinh lên đường tòng quân nhập ngũ. Hành trang luôn nung nấu trong tim anh là tình yêu Tổ quốc và lòng căm thù giặc sâu sắc. Ngày lên đường, mẹ anh chỉ nói một câu "Tổ quốc đang cần con, con cứ đi đánh giặc". Lời nói ấy tiếp thêm trong tim anh luồng máu nóng. Tạm biệt xóm làng, Nguyễn Phan Vinh ra đi với lòng yêu quê hương vô hạn. Đó là vào một ngày cuối thu năm 1954.

Sau 9 năm kể từ ngày Nguyễn Phan Vinh lên đường tòng quân nhập ngũ vào quân đội, anh chưa về thăm gia đình lần nào, đầu năm 1963, mẹ anh mất vì bị địch bắt, bà bị đánh đập giã man sau một trận chống càn quân địch. Cùng năm ấy, người anh trai của anh là Nguyễn Đức Lân hi sinh trên chiến trường Quảng Nam. Trận chiến không cân sức giữa tàu 235 với tàu địch ở vùng biển Hòn Hèo (xã Ninh Phước, Ninh Vân, Khánh Hòa) tháng 3-1968, anh và 14 đồng đội đã hi sinh. Cuối năm ấy, bố anh- Ông Nguyễn Đức Mẫn là du kích xã Điện Nam cũng hi sinh trong một trận chống địch càn quét tại xã.

Cũng vào thời điểm ấy, nhiều thanh niên, du kích, người dân ở mảnh đất nghèo khó này đã ngã xuống để bảo vệ dân làng. Nhiều người đã trở thành anh hùng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc.

Anh ngã xuống giữa làn đạn địch

Vào năm 1968, cuộc chiến đấu của nhân dân ta đang ở giai đoạn quyết liệt. Kẻ địch tìm mọi cách ngăn chặn con đường vận chuyển trên biển mà chúng gọi là con đường "cực kỳ nguy hiểm" này. Chúng đã điều động một lực lượng không quân, hải quân Mỹ và quân đội Sài Gòn khá mạnh để chăng lưới bủa vây trên mặt biển, đón bắt những con tàu cảm tử chở vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam. Trên biển, chúng chia thành nhiều tổ, bố trí tàu chiến khắp nơi hòng ngăn chặn tàu của ta. Chúng lắp đặt radar chuyên dụng quét sóng đêm ngày. Trên trời chúng cho máy bay tuần đảo trinh sát, dưới đất chúng cho lính siết chặt canh phòng cẩn mật.

Nhận được mệnh lệnh cấp trên, 11 giờ 30 phút ngày 27-2-1968, tàu 235 xuất phát chở hơn 14 tấn vũ khí vào bến Hòn Hèo dưới sự chỉ huy của Trung úy - thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh. Xác định, đây là chuyến đi cực kỳ nguy hiểm vì địch ráo riết kiểm soát. Hòn Hèo là bến luồng thủy hẹp, nhiều bãi đã ngầm, ngoằn nghoèo, địch bố phòng dầy đặc, đòi hỏi người thuyền trưởng phải có tay nghề lão luyện mới có thể đưa tàu vào bến an toàn. Đảng ủy Lữ đoàn 125 quyết định chọn tàu 235 vượt biển làm nhiệm vụ đặc biệt này. Tàu có 21 cán bộ, chiến sĩ: Chính trị viên Nguyễn Tương, thuyền phó 1: Đoàn Văn Nhi; thuyền phó 2: Võ Tá Tu; máy trưởng: Trương Văn Mùi; thợ máy: Ngô Văn Thứ, Nguyễn Minh Hải, Trần Lộc; thợ điện: Lê Duy Mai; báo vụ: Phạm Trường Nam, Doãn Quang Ruyện; rađa: Trần Thọ Thuyết; thủy thủ: Ngô Văn Dầu, Nguyễn Văn Phong, Hà Minh Thật, Đào Quang Ty; hàng hải: Mai Văn Khung, Lâm Quang Tuyến; y tá: Hoàng Văn Hòa; cơ yếu: Nguyễn Văn Dũng và chiến sĩ thợ máy: Long An.

Trước giờ nhổ neo, chiến sĩ Ngô Văn Dầu bị viêm phổi phải vào viện nên chỉ còn lại 20 người. Đi hai ngày đêm trên vùng biển quốc tế. Chiều tối 29-2, tàu 235 hải trình đến ngang vùng biển Nha Trang thì bị máy bay trinh sát của địch phát hiện, tàu liền chuyển hướng vào bờ. Ngay lập tức, địch huy động 3 tàu chiến: Ngọc Hồi, HQ 12, HQ 617 và 4 tàu khác của duyên đoàn 25 khẩn cấp đến vùng biển Nha Trang với ý định bắt sống tàu 235. Lúc này tàu 235 cách bờ 19 hải lý.

Biết đã bị lộ, Thuyền trưởng Phan Vinh khôn khéo điểu khiển tàu 235 luồn lách qua đội hình tàu địch và đến được bến Ninh Phước lúc 0 giờ 30 phút ngày 1-3-1968. Anh quyết định thực hiện phương án hai, cho thả vũ khí đạn dược xuống nước để quân dân ở bến Hòn Hèo mò vớt sau. Các kiện hàng được bao gói đặc biệt lần lượt thả xuống biển. Lúc đó, chừng 1 giờ 30 phút, 3 tàu loại lớn và 4 tàu loại nhỏ của địch khép chặt vòng vây đuổi ở phía sau, phía trước là núi.

Đảo Phan Vinh vững vàng giữa ngàn khơi

Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh bình tĩnh động viên anh em và cho tàu chạy ven bờ xuôi xuống bến Ninh Vân, vừa chạy, vừa nghi binh nhằm mục đích không cho địch biết vị trí tàu vừa thả vũ khí xuống biển. Tàu địch lập tức đuổi theo, nã đạn dữ dội. Chúng điện cho nhau tất cả đều tắt đèn, tàu nào sáng đèn chứng tỏ đó là tàu Việt Cộng. Cuộc rượt đuổi trên biển diễn ra vô cùng ác liệt. Tàu 235 rơi vào tình thế vô cùng khó khăn, phía trước là núi chắn, phía sau là 7 tàu chiến địch chặn đứng. Dưới ánh đèn pha sáng rực, chúng dùng súng 12,7 ly bắn xối xả vào tàu ta với hi vọng bắt sống. Các loại súng có sức hủy diệt như pháo cối, bắn liên tiếp lên dọc bờ hòng "Việt cộng nhảy xuống biển bơi vào bờ tẩu thoát". Sau đó chúng gọi máy bay đến thả pháo sáng và bắn rốc-két. Trong lửa đạn, Nguyễn Phan Vinh bình tĩnh chỉ huy anh em chiến đấu và điều khiển tàu chạy sát bờ. Các thủy thủ Thật, Phong liên tiếp dùng DKZ và 14 ly 5 bắn về phía tàu địch, một chiếc bốc cháy khiến chúng không dám vào gần.

Cuộc chiến đấu mỗi lúc một ác liệt. Hỏa lực của địch liên tục bắn vào tàu ta. 5 cán bộ, chiến sĩ trên tàu đã hy sinh, 2 người bị thương nặng, 7 người bị thương nhẹ. Thuyền trưởng Phan Vinh cũng bị mảnh đạn xượt qua đầu. Anh tự băng bó vết thương trong buồng lái và động viên mọi người tiếp tục chiến đấu. Ý định của anh là phá vòng vây, vượt ra ngoài khơi cho dễ cơ động, nếu cần, áp sát tàu địch và cho nổ tàu tiêu diệt bọn chúng. Nhưng lúc đó máy tàu hỏng nặng, ý định phá vòng vây không thành.

Nguyễn Phan Vinh đã chỉ huy cho tàu di chuyển vào sát bờ. Lúc đó chừng 2 giờ 20 phút ngày 1-3-1968, khi tàu cách bờ hơn 100m, anh tổ chức đưa người đã hy sinh và bị thương vào bờ, số còn lại được phân công cài kíp nổ, phá tàu. Các chiến sĩ Vinh, Thứ, An cài kíp nổ ở khoang máy, các vị trí khác do chiến sĩ Khung, Thật, Mai đảm nhiệm. Sau khi cài xong kíp nổ, tất cả nhảy xuống nước bơi vào bờ, nhanh chóng triển khai đội hình chiến đấu ở chân núi Bà Nam. Chiến sĩ An được giao nhiệm vụ nếu tàu không nổ phải quay lại kiểm tra các kíp nổ và sẵn sàng hi sinh. 20 phút sau, lúc 2 giờ 40 phút, ngày 1-3-1968, một cột lửa bùng lên, kế đó là tiếng nổ dữ dội, chấn động tới Nha Trang.

Sức công phá của khối thuốc nổ khiến tàu 235 bị đứt làm đôi, một nửa chìm trong nước, một nửa văng lên lưng chừng núi Bà Nam, xã Ninh Vân. Biết "Việt cộng" đang co cụm ở chân núi Bà Nam, địch đã gọi máy bay đến bắn phía ven biển, nhằm dọn đường cho bộ binh bao vây, bắt sống các thủy thủ tàu 235. Số thủy thủ rút lên bờ còn lại 9 người. Địch lập tức đổ quân lùng sục. Thuyền trưởng Vinh và thợ máy Thứ đã chỉ huy anh em kiên cường chống trả, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch. Biết là sẽ hi sinh tại núi Hòn Hèo, nhưng Nguyễn Phan Vinh vẫn bình tĩnh động viên, chỉ huy các chiến sĩ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Một ngày, hai ngày, rồi mười ngày trôi qua, dưới cái nắng như thiêu như đốt, không lương thực, không nước uống, súng không còn đạn, 7 cán bộ chiến sĩ là Vinh, Mai, Thật, Phong, Khung, Tuyến, An đã kiệt sức vì vết thương quá nặng. Anh em cố gắng dìu nhau di chuyển khắp vùng núi Hòn Hèo. Đến ngày thứ 11, chiến sĩ Khung đi tìm nước uống nhưng không trở về, sau này mới biết Khung bị địch bắt. Vậy là còn 6 cán bộ chiến sĩ. Ngày thứ 12, anh em liên lạc được với du kích ở bến.

Noi gương anh quyết tâm giữ đảo

Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh cùng 14 đồng đội đã anh dũng hy sinh trên vùng biển Hòn Hèo. Khi ấy Nguyễn Phan Vinh mới ở tuổi 35. Sự hy sinh của anh đã trở thành bất tử trong lòng những người lính biển và quân dân cả nước.

Tên tuổi Nguyễn Phan Vinh và 14 chiến sĩ hải quân đã hy sinh tại biển Hòn Hèo năm 1968 được lập bia tại đảo Phan Vinh như nhắc nhở thế hệ cán bộ, chiến sĩ hôm nay và mai sau nêu gương sống, chiến đấu và sẵn sàng hy sinh bảo vệ vùng biển, vùng trời của Tổ quốc. Tự hào hòn đảo mang tên người anh hùng, nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ trên đảo Phan Vinh luôn nỗ lực vượt mọi khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ nơi đầu sóng ngọn gió và quyết tâm giữ đảo, dù phải hi sinh đến tính mạng của mình. Hôm đoàn công tác chúng tôi ra thăm được chia làm hai nhóm để đến với anh em trên cả 2 điểm đảo Phan Vinh A và Phan Vinh B. Khi đặt chân lên cầu cảng, tất cả cán bộ, chiến sĩ đã chờ sẵn trên bờ từ khi nào. Sau những cái bắt tay siết chặt, những lời thăm hỏi thân tình, là khoảng lặng xúc động khi đoàn trưởng công tác kể câu chuyện về sự hi sinh quên mình của liệt sĩ Nguyễn Phan Vinh. Tất cả các nữ văn công đều khóc, còn chúng tôi ngậm ngùi chẳng nói nên lời. Tôi còn nhớ như in lời nói của chiến sĩ Nguyễn Hùng Hiền: "Trong gian khổ mới thấy đức hi sinh, trong gian nguy mới hiểu tình đồng đội. Thế hệ chúng tôi biết ơn anh Vinh bao nhiêu, thì càng quyết tâm giữ đảo bấy nhiêu. Phan Vinh luôn là niềm tự hào của những người lính biển".

Đảo Phan Vinh hôm nay xanh tươi bởi trăm loài cỏ cây hoa lá và đời sống bộ đội được cải thiện nhờ có điện từ nguồn năng lượng mặt trời. Dù ở biển, dù ở sông hay lênh đênh trên những con tàu vượt sóng ngàn khơi, cán bộ chiến sĩ đảo Phan Vinh đang ngày đêm vững vàng tay súng bảo vệ từng tấc đảo, sải sóng thiêng liêng của Tổ quốc.

Theo Đại Đoàn Kết
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...