HỒNG KÔNG – Hoa Kỳ đã bị suy yếu trầm trọng vì vướng vào hai cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan và hệ quả là đã bỏ ngỏ tầm quan trọng chiến lược của vùng Đông Á. Nhưng hai động thái mới đây của Washington – những cuộc tập trận trên biển chung với Nam Hàn và cuộc chiến bảo vệ mạnh mẽ trên mặt ngoại giao đối với quyền thông thương tự do trên Biển Đông – đã chứng tỏ Hoa Kỳ bắt đầu quan tâm trở lại quyền lợi an ninh của mình ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Cả hai động thái này đã được tiếp nhận hoan nghênh rộng rãi trong vùng, ngoại trừ Trung Quốc.
Những cuộc diễn tập quân sự với Nam Hàn tuần rồi nhắc nhở Trung Quốc rằng Hoa Kỳ và đồng minh của họ vẫn còn giữ thế mạnh áp đảo về hải quân trong vùng. Đồng thời, tại Hội nghị Diễn đàn khu vực ASEAN tổ chức ở Hà Nội tháng rồi, mà đã qui tụ các Bộ trưởng Ngoại giao của 10 quốc gia Đông Nam Á, Trung Quốc và Hoa Kỳ cùng với những giới chức khác, Việt Nam đã thành công kết hợp với Hoa Kỳ để cùng đưa vấn đề Biển Đông trở lại bàn nghị sự trong những hội nghị quốc tế. Sự kiện này đã chọc giận Bắc Kinh, quốc gia khăng khăng đòi giải quyết những tranh chấp trên vùng biển này theo thể thức song phương giữa chính họ với riêng từng quốc gia tranh chấp khác, đồng thời tái khẳng định tuyên bố họ có chủ quyền đối với toàn bộ vùng biển này.
Theo lẽ tự nhiên, Bắc Kinh phẫn nộ trước việc can thiệp của bất ky cường quốc xa xôi nào vào trong khu vực nơi mà ảnh hưởng của nó nếu không bị can thiệp sẽ không gặp thách thức nào. Nhưng sự lớn mạnh về quân sự của Trung Quốc và áp lực ngày càng gia tăng mà Trung Quốc áp đặt lên những quốc gia lân bang trong khu vực Biển Đông – bằng việc đe dọa những công ty dầu lửa nên ngừng khai thác tại vùng biển ngoài khơi Việt Nam là một điển hình – đã làm dấy lên nhiều phẫn nộ. Mặc dù một vài quốc gia vẫn còn e dè không lên tiếng vì sợ làm phật lòng Trung Quốc, đại đa số nay đã bày tỏ mối lo ngại với sự lấn lướt dần dần của bá quyền Trung Quốc hơn là với hành động đế quốc của Hoa Kỳ. Trên tất cả, nhiều người tin rằng Bắc Kinh có tham vọng khẳng định một “Học thuyết Monroe” để loại trừ những cường quốc ngoài khu vực ra khỏi Đông Á.
Không phải tất cả các nhà quan sát đều đồng ý cho rằng Washington và Seoul đã khôn khéo trong phản ứng khi kết hợp phô trương sức mạnh để đáp trả lại vụ tàu chiến Cheonan của Nam hàn bị đánh chìm – mà thủ phạm hầu như chắc chắn là Bắc Hàn. Tại Nam Hàn những ý kiến vẫn còn chia rẽ sâu sắc trong việc chọn lựa phương cách như thế nào để đương đầu tốt nhất với Bình Nhưỡng – với lời lẽ cứng rắn và tăng cường cấm vận, hoặc tảng lờ đi những khiêu khích của nó, hoặc thử gắng tái tục lại chương trình danh nghĩa tình anh em xuyên Hàn.
Những cuộc tập trận chung trên biển đã khiến Trung Quốc thấy khó chịu và đã tăng cường mối cam kết của họ với Bắc Hàn. Nhưng sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với Bình Nhưỡng trong vụ tàu chìm Cheonan, vượt qua vấn đề hàng đầu là Bắc Hàn tiếp tục phát triển tên lửa và nguyên tử, đã khiến cho nhiều người Nam Hàn tỏ ra cảnh giác hơn với Trung Quốc. Mối quan hệ được hâm nóng một thời nay đã nguội lạnh và nhiều người Nam Hàn bây giờ tỏ ra lo ngại trước thực tế đang trở nên lệ thuộc quá nhiều vào giao thương với Trung Quốc. Viêc Trung Quốc ủng hộ Bình Nhưỡng cũng làm xấu đi hình ảnh của Trung quốc trong mắt các nước Đông Nam Á, nơi thủ đô các nước có quan hệ gắn bó gần gủi với Seoul.
Hoa Kỳ, qua việc tuyên bố tại Hội nghị ở Hà nộị rằng Hoa Kỳ có quyền lợi tự do thông thương trên Biển Đông và đòi giải quyết mọi tranh chấp theo đúng luật lệ quốc tế, đã mạnh mẽ tự đặt mình đứng cùng một tuyến với Việt Nam, Philippines, Malaysia và các quốc gia khác có hưởng quyền lợi từ kết quả giải quyết. Mặc dù Trung Quốc sở hữu chỉ 1 phần 5 đường bờ biển , Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ các đảo và quần đảo, mọi nguồn tài nguyên và quyền thông thương. Bắc Kinh đã tăng cường củng cố tuyên bố của mình với phiên bản lịch sử lấy Trung Quốc làm trung tâm và không thèm đếm xỉa gì đến một thực tế rằng những thủy thủ thuộc chủng tộc người Malay, những tổ tiên của người Mã lai, Inđô, Philipin và Chăm của Việt Nam ngày nay đã kiểm soát toàn bộ mọi hoạt động giao thương trên vùng biển này hàng thế kỷ trước người Trung Quốc.
Việt Nam mới đây đã tỏ rõ quyết tâm hơn những quốc gia tranh chấp khác – Malaysia, Philippiné và Brunei – trong việc phản bác chống lại Bắc Kinh, tăng cường bảo vệ biển đảo của mình và đặt mua sáu tàu ngầm của Nga. Sức mạnh của Hoa Kỳ cộng với quyết tâm của Việt Nam đã khiến những quốc gia tranh chấp khác sẵn sàng ủng hộ việc quốc tế hóa vấn đề tranh chấp hơn là, giống như Philippines, bị lôi cuốn vào những cuộc đối thoại song phương và những hợp tác cùng khai thác dầu với Trung Quốc.
Hiệp hội các nước Đông Nam Á đã chứng tỏ là một phương tiện kém cỏi trong việc ấn chứng tuyên bố của Hiệp hội bởi vì chỉ một nửa hội viên của nó có quan tâm liên đới đến vấn đề. Cũng như không quốc gia tranh chấp nào tỏ rõ quyết tâm để cùng thỏa hiệp và chứng tỏ cho Trung Quốc thấy họ là một mặt trận đoàn kết. Nhưng Hội nghị Hà Nội một lần nữa đưa vấn đề ra trước chú ý của quốc tế và nhắc nhở Nhật Bản, LB Nga cùng những quốc gia khác rằng không một quốc gia nào thấy hứng thú chứng kiến Bắc Kinh nắm quyền kiểm soát toàn bộ vùng Biển Đông tối hệ trọng về mặt chiến lược này.
Theo lẽ tự nhiên, Bắc Kinh phẫn nộ trước việc can thiệp của bất ky cường quốc xa xôi nào vào trong khu vực nơi mà ảnh hưởng của nó nếu không bị can thiệp sẽ không gặp thách thức nào. Nhưng sự lớn mạnh về quân sự của Trung Quốc và áp lực ngày càng gia tăng mà Trung Quốc áp đặt lên những quốc gia lân bang trong khu vực Biển Đông – bằng việc đe dọa những công ty dầu lửa nên ngừng khai thác tại vùng biển ngoài khơi Việt Nam là một điển hình – đã làm dấy lên nhiều phẫn nộ. Mặc dù một vài quốc gia vẫn còn e dè không lên tiếng vì sợ làm phật lòng Trung Quốc, đại đa số nay đã bày tỏ mối lo ngại với sự lấn lướt dần dần của bá quyền Trung Quốc hơn là với hành động đế quốc của Hoa Kỳ. Trên tất cả, nhiều người tin rằng Bắc Kinh có tham vọng khẳng định một “Học thuyết Monroe” để loại trừ những cường quốc ngoài khu vực ra khỏi Đông Á.
Không phải tất cả các nhà quan sát đều đồng ý cho rằng Washington và Seoul đã khôn khéo trong phản ứng khi kết hợp phô trương sức mạnh để đáp trả lại vụ tàu chiến Cheonan của Nam hàn bị đánh chìm – mà thủ phạm hầu như chắc chắn là Bắc Hàn. Tại Nam Hàn những ý kiến vẫn còn chia rẽ sâu sắc trong việc chọn lựa phương cách như thế nào để đương đầu tốt nhất với Bình Nhưỡng – với lời lẽ cứng rắn và tăng cường cấm vận, hoặc tảng lờ đi những khiêu khích của nó, hoặc thử gắng tái tục lại chương trình danh nghĩa tình anh em xuyên Hàn.
Những cuộc tập trận chung trên biển đã khiến Trung Quốc thấy khó chịu và đã tăng cường mối cam kết của họ với Bắc Hàn. Nhưng sự ủng hộ của Bắc Kinh đối với Bình Nhưỡng trong vụ tàu chìm Cheonan, vượt qua vấn đề hàng đầu là Bắc Hàn tiếp tục phát triển tên lửa và nguyên tử, đã khiến cho nhiều người Nam Hàn tỏ ra cảnh giác hơn với Trung Quốc. Mối quan hệ được hâm nóng một thời nay đã nguội lạnh và nhiều người Nam Hàn bây giờ tỏ ra lo ngại trước thực tế đang trở nên lệ thuộc quá nhiều vào giao thương với Trung Quốc. Viêc Trung Quốc ủng hộ Bình Nhưỡng cũng làm xấu đi hình ảnh của Trung quốc trong mắt các nước Đông Nam Á, nơi thủ đô các nước có quan hệ gắn bó gần gủi với Seoul.
Hoa Kỳ, qua việc tuyên bố tại Hội nghị ở Hà nộị rằng Hoa Kỳ có quyền lợi tự do thông thương trên Biển Đông và đòi giải quyết mọi tranh chấp theo đúng luật lệ quốc tế, đã mạnh mẽ tự đặt mình đứng cùng một tuyến với Việt Nam, Philippines, Malaysia và các quốc gia khác có hưởng quyền lợi từ kết quả giải quyết. Mặc dù Trung Quốc sở hữu chỉ 1 phần 5 đường bờ biển , Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ các đảo và quần đảo, mọi nguồn tài nguyên và quyền thông thương. Bắc Kinh đã tăng cường củng cố tuyên bố của mình với phiên bản lịch sử lấy Trung Quốc làm trung tâm và không thèm đếm xỉa gì đến một thực tế rằng những thủy thủ thuộc chủng tộc người Malay, những tổ tiên của người Mã lai, Inđô, Philipin và Chăm của Việt Nam ngày nay đã kiểm soát toàn bộ mọi hoạt động giao thương trên vùng biển này hàng thế kỷ trước người Trung Quốc.
Việt Nam mới đây đã tỏ rõ quyết tâm hơn những quốc gia tranh chấp khác – Malaysia, Philippiné và Brunei – trong việc phản bác chống lại Bắc Kinh, tăng cường bảo vệ biển đảo của mình và đặt mua sáu tàu ngầm của Nga. Sức mạnh của Hoa Kỳ cộng với quyết tâm của Việt Nam đã khiến những quốc gia tranh chấp khác sẵn sàng ủng hộ việc quốc tế hóa vấn đề tranh chấp hơn là, giống như Philippines, bị lôi cuốn vào những cuộc đối thoại song phương và những hợp tác cùng khai thác dầu với Trung Quốc.
Hiệp hội các nước Đông Nam Á đã chứng tỏ là một phương tiện kém cỏi trong việc ấn chứng tuyên bố của Hiệp hội bởi vì chỉ một nửa hội viên của nó có quan tâm liên đới đến vấn đề. Cũng như không quốc gia tranh chấp nào tỏ rõ quyết tâm để cùng thỏa hiệp và chứng tỏ cho Trung Quốc thấy họ là một mặt trận đoàn kết. Nhưng Hội nghị Hà Nội một lần nữa đưa vấn đề ra trước chú ý của quốc tế và nhắc nhở Nhật Bản, LB Nga cùng những quốc gia khác rằng không một quốc gia nào thấy hứng thú chứng kiến Bắc Kinh nắm quyền kiểm soát toàn bộ vùng Biển Đông tối hệ trọng về mặt chiến lược này.
Hồ Kim Sơn dịch




















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét