ThS. Lê Tiến Công - Đại học Phan Châu Trinh, Quảng Nam
Tham luận này được phổ biến tại HỘI THẢO QUỐC TẾ VIỆT NAM HỌC LẦN THỨ BA “Việt Nam: Hội nhập và Phát triển”
Đặt vấn đề
Trong định hướng phát triển vùng của
Chính phủ giai đoạn 2001-2010, khu vực biển và hải đảo được xác định:
“tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển. Phát triển tổng hợp kinh tế
biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng
để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác. Xây dựng căn
cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát
triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển”1. Điều đó cho thấy vị thế
quan trọng của biển, đảo trong chiến lược phát triển kinh tế và an ninh
quốc phòng.
Trong lịch sử dân tộc, biển luôn có một
vị thế quan trọng đối các triều đại phong kiến, điều đó thể hiện rõ
trong các hoạt động kinh tế và an ninh quốc phòng. Vào thời Nguyễn, nhận
thức về vị thế của biển và mối lo ngại về việc có thể bị tấn công từ
phía biển nên các vua Nguyễn ngoài việc bố phòng cẩn mật tại bờ biển thì
việc thực thi chủ quyền trên biển cũng thường xuyên được tiến hành bằng
nhiều hoạt động cụ thể, đáng chú ý là công tác tuần tra và kiểm soát
vùng biển. Như lời dụ của vua Gia Long: “Côn Lôn, Phú Quốc, Thị Nại, Cù
Mông trẫm cùng với các tướng sĩ các ngươi đã trăm trận đánh vất vả mới
có ngày nay. Lúc yên đừng quên lúc nguy. Đó thực là đạo giữ nước yên
dân”2.
1. Công tác tuần tra vùng biển
Tuần tra là hoạt động quan trọng trong
bảo vệ, thực thi chủ quyền vùng biển, thể hiện qua các hoạt động tuần
tra, kiểm soát giữ yên vùng biển. Với việc tổ chức, trang bị và huấn
luyện quân thủy theo hướng thủy quân biển, nhà Nguyễn có điều kiện để
thực hiện tuần tra, gìn giữ vùng biển dài rộng.
Cái lợi của tuần tra mặt biển được vua
Minh Mạng chỉ rõ: “đi tuần phòng ven bể, một là để thao luyện cách lái
thuyền cho quen thiện dòng nước, một là để tập đánh dưới nước, biết rõ
đường bể, khiến cho bọn giặc bể nghe tin không dám gây sự. Thế có phải
là một việc mà được ba điều lợi không”3. Một trong những cái lợi trực
tiếp là bảo vệ vận tải biển, vốn được sử dụng rất nhiều trong việc vận
chuyển sản vật và vật liệu ở các địa phương về kinh đô. Tháng 8-1810,
vua Gia Long định lại 4 điều về việc vận tải biển, trong đó có nói:
“việc vận tải cứ mỗi năm một lần, thượng tuần tháng Tư thì ra biển. Quan
sở tại trước ngày ra khơi, tư ngay cho các trấn thủ các địa phương,
ngày đêm đi tuần ở biển; thuyền chở đi qua, có cần giúp đỡ gì, tức thì
chiếu cố và khám làm chứng, đem việc tâu lên”3.
Việc tuần tra, kiểm soát vùng biển nói
chung được giao cho đội quân chính qui, song ở các địa phương thường
được giao quyền chủ động. Các tỉnh lấy dân địa phương (dân ngoại tịch)
rồi lập thành các đội tuần tra, như tháng 7-1803, “lấy Cai cơ Võ Văn Phú
làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập đội Hoàng Sa. Sai
thuộc nội Cai cơ Võ Văn Đức quản giữ ba đạo Cần Giờ, Vũng Tàu và Đồng
Tranh”. Võ Văn Đức tâu rằng: “Cần Giờ trước có quân ba đội Bình Hải, gần
đây trốn đi gần hết. Xin hạ lệnh cho Cai đội Tiền thủy là Bùi Văn Hạnh
mộ dân ngoại tịch lập làm đội Bình Hải cho lệ theo để sai khiến”. Vua y
cho 4. Bản dụ thời Minh Mạng qui định “các tỉnh có hải phận, đều đóng
hai, ba chiếc thuyền nhanh nhẹ, và sai nhân dân các đảo sửa chữa thuyền
đánh cá, liệu cấp khí giới để đi tuần thám”5. Rõ ràng quân địa phương
đóng vai trò quan trọng, là “tai mắt” của triều đình trong việc nắm bắt
thông tin, tuần thám trên biển.
Dưới thời Nguyễn, cướp biển người Hoa
hoạt động nhiều trên vùng biển Việt Nam. Chúng là mối lo ngại thường
xuyên trên biển đối với thuyền buôn và cũng là thách thức đối với chính
quyền. Thuyền cướp biển thường “dị dạng”, lẫn lộn với thuyền buôn và
thuyền đánh cá, để phân biệt thuyền cướp biển với thuyền buôn, thuyền
của nhà nước (thuyền tuần tiễu, thuyền công sai), Minh Mạng năm thứ 9
(1828) qui định việc thấy “thuyền giặc” thì treo cờ bắn súng để phân
biệt, “nếu không có cờ, tức là thuyền của giặc, phải nhanh chóng đuổi,
đánh, không được lầm lỡ”6. Cũng có khi vì phần thưởng mà cố tình bắn
giết tàu buôn như sự kiện đáng tiếc dưới thời Tự Đức. Trước đó, năm
1829, “trấn Bình Hoà bắt được 6 chiếc thuyền dị dạng của nước Thanh. Xét
ra không có hình trạng phạm pháp rõ ràng, đều tha cho về nơi cũ. Nhưng
bảo trước mặt cho bọn ấy rằng: từ nay về sau không được qua hải phận mà
đi lại trên mặt bể. Nếu dám trái lệnh phạm cấm, lại bắt được lần nữa,
thì ắt theo luật lệ “đậu trên bể” mà trị tội nặng không tha”7.
Để việc nhìn ngắm trên biển được chính
xác, năm 1829 vua Minh Mạng ban chỉ dụ phân cấp kính thiên lý cho các
tỉnh có vùng biển, đồn biển và thuyền tuần tiễu bởi “vùng biển mênh
mông, chỉ có kính thiên lý có thể trông xa được”8. Thuyền tuần biển với
nhiều loại, như các loại chuyên dụng của nhà nước hay thuyền của địa
phương, thậm chí có khi dùng thuyền đánh cá nên công hiệu thấp, năm
1838, vua cho làm thuyền khỏa đồng (bọc đồng) để đi tuần, “thuyền ấy dài
4 trượng, 4 thước, 1 tấc, ngang 1 trượng, 4 tấc, có sàn ngồi để đánh
nhau. Các tỉnh dọc theo bờ bể thời làm theo hình dáng thuyền “đại dịch”,
mỗi tỉnh 2 chiếc mà tỉnh nào mặt bể rộng mông mênh thời làm ba bốn
chiếc đều gọi là thuyền “tuần dương”9.
Năm 1834, Minh Mạng tiếp tục ban dụ:
“các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát ở các địa phương ven biển, đều
nên xét các đảo ở hải phận trong hạt hiện có dân cư, thì điều sức cho
dân ở tỉnh ấy đem thuyền đánh cá nhanh chóng sửa chữa, cho được nhanh
nhẹn. Nơi dân số nhiều thì làm 2, 3 chiếc. Mỗi chiếc có thể ngồi được
trên dưới 20 người. Về phí tổn sửa chữa hết bao nhiêu, thì nhà nước cấp
tiền. Lại liệu cấp cho dáo dài, súng trường, thuốc đạn, giao cho dân ấy
nhận lĩnh, để dùng đi tuần thám. Khi gặp giặc biển, thì một mặt cùng
nhau chống đánh, một mặt chạy báo, cho khỏi bị chậm trễ không kịp
việc”10.
Minh Mạng ban dụ: “Từ Quảng Trị trở ra
Bắc, từ Quảng Nam trở vào Nam đều nhanh chóng phái 3, 4 chiếc thuyền
binh theo hạt biển đi tuần xét. Một khi gặp thuyền dị dạng của nước
Thanh, hoặc trong thuyền hiện có súng ống, khí giới, cho đến đồ vật hàng
năm bị cướp, và tình hình đáng ngờ, nguyên do phức tạp, thì lập tức
giải trình về trấn ấy. Một mặt tâu lên, một mặt xét rõ, xử tội nặng thêm
bậc, tâu lên. Những thuyền binh được phái đi, cũng nên hết lòng dạy bảo
nghiêm ngặt, không được nhân việc mượn cớ quấy rối thuyền buôn”11.
Công tác tuần tra được tiến hành theo
chu kỳ nhất định, tùy thuộc vào thời gian có nhiều thuyền buôn và thuyền
công sai đi lại nhiều hay ít. Như bản dụ năm 1835: “mỗi khi mùa hè đến
kỳ vận tải thì do Đề đốc Thừa Thiên liệu đem theo biền binh thuộc phủ và
đem theo biền binh ở đồn biển cùng ra biển, căn cứ theo hải phận qua
lại cùng tuần thám bảo vệ. Nếu kỳ nào đoàn thuyền đi vận tải số nhiều,
thì cho tư bộ sức thêm thuyền binh, cùng đi do thám. . . Những thuyền
binh hàng năm phái đi, cho cứ vào tháng 3 bắt đầu, tháng 7 thì thôi.
Điều này ghi làm lệ”12. Binh thuyền phái đi cũng luân phiên thay đổi 3
tháng một lần bởi “phái đi lâu ngày, có phần nhọc mệt, nay chuẩn cho các
viên quản vệ đang tại ngũ ở nguyên mà quản suất, còn các viên quản suất
dư dả cho đến quân lính, cứ 3 tháng phải chiếu số thay đổi, để cho kẻ
làm người nghỉ được đồng đều”13. Tuy nhiên cũng tùy theo từng điều kiện
cụ thể mà có thể tiến hành sớm hoặc muộn hơn có khi tháng Giêng, tháng
Hai đã phải tiến hành tuần thám như bản dụ năm 1838 cho biết: “trước đây
trẫm đã giáng lời dụ hàng năm binh thuyền đi tuần ngoài bể, cứ tháng
Hai ra đi. Nay tháng Giêng trời đã sáng tỏ mà đường đi thuận tiện, chính
là thời kỳ thuyền buôn đi về, thời nên phái đi tuần tiễu ngay để yên
vùng bể”14. Đặc biệt ở các vùng biển có nhiều hải tặc thì không kể mùa
nào bởi “tấn thủ sở tại vốn có trách nhiệm tuần phòng”. . .15.
Về cách thức tác chiến và trang bị vũ
khí, năm 1835, ban dụ: “thuyền của giặc ấy phần nhiều là nhanh nhẹn,
chạy giỏi. Chiến đấu với nó, nếu là hơi xa, thì phải dùng đại bác, chỉ
định vào mái chèo, bánh lái của thuyền giặc mà bắn tan, gần thì dùng câu
liêm giật đứt giây buộc lái, làm cho thuyền đổ nghiêng không chạy được,
thì tự khắc bị ta bắt được… Vậy truyền chỉ cho các địa phương ven biển
miền trong, miền ngoài, phàm có thuyền binh đi tuần biển đánh giặc, cũng
đều theo như thế mà làm 16.
Thuyền cướp biển thường đi thành đoàn,
có tổ chức và được trang bị khá tốt, có khi chống lại thuyền tuần tra.
Như năm 1836, tỉnh Khánh Hoà tâu rằng: “thuyền đi tuần gặp 1 chiếc
thuyền giặc, 2 bên màu đen, hai má trước mũi màu đỏ, sau lái và ván giữa
2 bên vẽ hình đầu rồng, lại có 2 lỗ châu mai, đều đặt đại bác, dám bắn
súng chống cự với thuyền của quan quân”. Minh Mạng liền cho phái nhiều
binh thuyền và “thông sức cho thuyền binh ở kinh và ngoài các tỉnh phái
đi đều lưu tâm tìm bắt ở các đảo”17.
Đối với các địa phương quan trọng như
Thừa Thiên và Quảng Nam, Minh Mạng năm thứ 17 (1836), ban dụ: “điều phái
binh thuyền ngày đêm lưu tâm đi tuần thám. Nếu có giặc biển lẻn lút nổi
lên, thì một mặt đuổi bắt, một mặt chạy báo cho quan địa phương, lập
tức phi sớ vào tâu, để tiện bằng cứ vào đấy, mà điều khiển. Còn như một
khoản đi tuần, đồn biển Thuận An và các đồn biển giáp hạt với nhau, lên
liệu định chương trình thế nào, cho bộ Binh bàn kỹ tâu lên 18. Bộ Binh
bàn định, cho rằng: “đồn biển Thuận An ở Thừa Thiên và các đồn biển Tư
Hiền, Chu Mãi, cảnh Dương ở phía nam đến đồn biển Đà Nẵng ở Quảng Nam;
từ đồn biển Thuận An đến đồn biển Việt Yên ở Quảng Trị ở phía bắc, cộng 6
đồn biển. Trừ đồn biển Thuận An hiện tại biền binh 143 tên, đồn biển Tư
Hiền hiện tại dân lệ thuộc 64 tên, đủ để sai phái ra, còn lại 2 đồn Chu
Mãi, Cảnh Dương nguyên số ít ỏi, vốn dân lệ thuộc dồn cộng được 9 tên,
đồn biển Đà Nẵng 3 tên, đồn biển Việt Yên 17 tên, xin cho địa phương ấy
liệu trích dân quen thuộc nghề dưới nước ở các đồn biển xung quanh, cộng
với số dân nguyên lệ thuộc của các đồn biển, cho vừa đủ số, mỗi đồn
biển 50 tên. Và miễn việc sai phái vặt cả năm, cho bọn ấy được theo vào
đồn biển đó, chuyên sức đi tuần thám.
Về số tàu thuyền cần dùng, thì mỗi đồn
biển cần 2 chiếc thuyền Ô, 3 chiếc thuyền nhanh, nhẹ chia chạy lần lượt
đi tuần thám. Các đồn biển ấy đều căn cứ vào số binh dân, phu thuyền
hiện tại mà chia làm hai toán, mỗi toán một chiếc thuyền Ô, 15 tên binh
phu; súng ống, khí giới đem theo, một chiếc thuyền nhanh nhẹ, 15 tên
binh phu. Ra biển xét theo hải phận của đồn biển mình: trở vào phía nam
giáp với đồn biển nào, trở ra phía bắc giáp với đồn biển nào, qua lại
tuần tra, đủ một ngày đêm trở lại đồn biển. Toán khác tuần tra, như thế
luân chuyển thay đổi nhau, cốt được liên tục. Phàm đến nơi giáp giới, là
nơi người đi tuần biển của hai đồn biển giặp nhau thì hai bên nên biên
ký có nhau làm bằng, để phòng khi tra xét. Lại lồng đèn ở thuyền Ô đều
viết to hai chữ tên đồn biển, ban đêm treo lên làm hiệu. Ở hải phận đồn
biển nào trong khi du tuần, gặp giặc biển hoặc quả là thuyền dị dạng,
cần phải vây bắt, thì bắn 3 tiếng đại bác, ban đêm thì bắn 5 chiếc pháo
thăng thiên làm hiệu. Thuyền Ô liền khẩn cấp tiến lên chặn bắt, thuyền
nhanh nhẹ lập tức theo sự thuận tiện, tới báo cho quan địa phương làm
bằng. Một mặt phái thêm thuyền binh đuổi bắt, một mặt chuyển báo cho các
đồn biển giáp giới đều lập tức khẩn cấp hội lại cùng đánh. Đồn biển nào
đi tuần sơ suất, không đến đầu đến cuối, không có chữ biên ký nơi giáp
giới và gián đoạn không liên tục, hoặc đến nỗi bọn giặc được nhân sơ hở
lén lút nổi lên, hoặc đụng gặp thuyền giặc mà không lập tức chạy báo, để
đến nỗi chậm trễ lỡ việc cùng là đã phát tin báo hiệu, mà đồn biển ở
giáp giới không lập tức đến hội, thì đều cho địa phương ấy tâu hạch
nghiêm ngặt, sẽ trị tội theo mức nặng.
Lại người đi tuần biển của các đồn biển
giặp nhau thì trong giấy biên ký nên ghi rõ những chữ; ngày tháng, giờ
nào, đến đâu, nơi giáp giới hoặc cuối nơi giáp giới gặp thuyền đi tuần
của đồn biển nào? Đến cuối mỗi tháng, viên đồn biển ấy đem tất cả những
giấy biên từng ngày đóng thành một tập là bao nhiêu tờ, bẩm lên, do quan
địa phương trình nộp. Quan địa phương sẽ xét trong tháng, trừ ngày nào
đúng là có gió mưa, không thể đi được, còn những ngày nếu có đồn biển
nào, ngày nào không biên ký, không liên tục với nhau, thì lập tức tra
xét. Còn nếu cứ theo mức bình thường, liên tục không gián đoạn, thì cứ
mỗi tháng 3 kỳ, tư vào bộ để lưu trữ 19.
Với những qui định tuần thám trên cho
thấy sự chặt chẽ của nó. Vua Minh Mạng cho rằng: “theo lời bàn thì ngày
đêm luôn luôn đi lại như dệt cửi trên mặt biển xông pha sóng gió, thật
là đòi hỏi người ta làm điều rất khó, lòng trẫm thực là không nỡ. Nhưng
bờ biển là nơi quan trọng, không thể không chú ý. Vậy cho chuẩn định:
hàng năm những tháng từ mùa Xuân đến mùa Thu, chính là khi thuyền công
đi vận tải và thuyền buôn qua lại, thì cho theo như lời bàn mà làm. Còn
không phải những tháng ấy, thì cho những viên đồn biển trích lấy 1, 2
chiếc thuyền của dân đánh cá, số phu hoặc trên dưới 5, 3 người, đủ dùng
để kéo buồm, bẻ lái cũng được. Trừ ngày nào nhân có gió mưa đi ra không
tiện, còn mỗi ngày ra cửa đi lại tuần tra, cốt cho được đều đến những
nơi giáp giới. Khi gặp việc quan trọng, khẩn cấp thì lập tức chạy báo,
để cho việc tuần phòng ngoài bể được nghiêm. Quan địa phương ấy cần phải
thường nhắc rõ, không được để cho lâu ngày sinh ra trễ nãi, thì phạm
lỗi không nhỏ. Còn những điều khác thì cho y theo lời bàn”20. Xét ra nhà
nước đã có nhiều cố gắng trong tuần tra kiểm soát vùng biển nhưng vẫn
gần như bất lực với nạn cướp biển. Nguyên nhân của tình trạng trên được
thừa nhận là: “Riêng một dải bờ biển kéo dài, gần đây có giặc biển lẻn
lút nổi lên, cướp bóc người buôn. Không phải kể một lần mà đủ, đã luôn
luôn nghiêm sức cho bọn bộ biền do Kinh phái, tỉnh phái, phải lưu tâm
bắt dò. Nhưng nhiều lần căn cứ vào tin báo về sự trạng đánh dẹp, thì chỉ
có báo là: khi đến gặp giặc, bắn chết 1, 2 tên và cướp lại thuyền buôn
mà thôi. Chưa bắt được bọn giặc kết án, nên nó còn dám lảng vảng đi đánh
cướp. Xét về nguyên do, đều là vì các viên đi tuần thám e ngại sóng
gió, dù có đi dò bắt, rốt cuộc cũng là không có thực dụng. Lại một lẽ
nữa là nếu thuyền công phái đi là loại thuyền bọc đồng nhiều dây, thì
bọn giặc trông thấy ắt trốn xa từ trước. Nếu phái thuyền hiệu chữ Bình,
chữ Định thì chất thuyền qúa nặng, không thể chạy nhanh chóng bắt giặc
được. Các thuyền Ô, Lê lại qúa bé nhỏ, chỉ lợi đánh ở sông, đường biển
sóng gió gặp giặc không đuổi được đến cùng. Nay cho bộ Binh bàn bạc,
đóng thuyền đi tuần, về qui cách không cần lớn quá như thuyền hiệu, cũng
không nhỏ qúa như thuyền Ô, thuyền Lê. Cốt cho vừa phải giữa hai loại
ấy, lại được nhanh nhẹ tiện lợi, khiến cho sức thuyền có thể giúp cho
sức binh. Nếu gặp giặc thì có thể ra biển đuổi cho đến cùng, kỳ bắt được
mới thôi. Rồi đem kiểu mẫu trình vua xem, để đợi chỉ tuân làm. Hai
khoản kể trên trách cứ vào hai bộ. Nếu chương trình ban ra mà có điều
không chu đáo, đến nỗi bộ biền còn được mượn cớ đun đẩy, không chịu hết
lòng bắt giặc, thì cứ bộ Binh mà hỏi tội. Nếu đóng thuyền đi tuần đem
thí nghiệm mà không được nhanh nhẹ, tiện lợi thì cứ bộ Công mà hỏi tội.
Nếu chương trình đã rõ ràng, kiểu thuyền đã tiện lợi, mà các viên tỉnh
không biết sắm sửa khí giới cho thuyền binh, đôn đốc nghiêm ngặt các
viên biền binh phái đi, để rút cuộc không có công trạng thực tế, thì cứ
quan địa phương mà hỏi tội. Nếu quan địa phương đã sắm sửa dụng cụ chiến
đấu cho thuyền quân đầy đủ, tất cả bọn bộ biền phái đi cũng đã dạy bảo
dặn dò, mà bọn bộ biền vẫn e ngại khó nhọc, tuần thám bất lực, gặp giặc
vẫn không bắt được, thì rõ ràng là hèn kém, dù trăm miệng cũng không
chối được. Quân pháp nhà nước rất nghiêm. Đến khi ấy trẫm chỉ giữ pháp
luật mà làm việc, dứt khoát không rộng giảm nhẹ một chút nào”.
Sau đó bộ Binh nghiên cứu, được vua Minh
Mạng chuẩn y: “Bình Thuận trở ra bắc đến các đồn biển ở ven biển Quảng
Yên, phàm những nơi hai đồn biển tiếp giáp nhau thì đều dựng cột mốc
trên bờ biển, ghi rõ phía nam thì thuộc về đồn biển này, phía bắc thì
thuộc đồn biển kia. Lại nơi hải phận hai tỉnh tiếp giáp nhau cũng nên
hội đồng ra cột mốc rõ ràng, hàng năm cứ tháng giữa xuân đến tháng giữa
thu, thuyền đi tuần của Kinh phái, tỉnh phái đều nên trước kỳ chuẩn bị
các hạng súng qúa sơn, thần công và súng trường, cùng thuốc đạn, giáo
dài, mác sắt, câu liêm, ống phun lửa, cầu đinh lửa, pháo thăng thiên,
cho đến quả đá, kim từ thạch, phàm tất cả dụng cụ thủy chiến. Lại đem
theo một chiếc kính Thiên lý để phòng khi đi thuyền nhìn ngắm. Bộ biền
Kinh phái thì được lĩnh 3, 4 tháng lương thực. Bộ biền tỉnh phái cũng
được lĩnh 1, 2 tháng lương thực, đều tùy tiện chia tải để đủ quan dùng.
Thuyền đi tuần của các đồn biển thì xét theo hải phận của các đồn biển
mà qua lại tuần thám. Mỗi khi đi tuần phải qua chỗ cột mốc giáp nhau mới
được trở về. Thuyền đi tuần của tỉnh phái, thì xét theo hải phận của
tỉnh mà tuần thám. Khi đi thuyền thì phía nam cần phải đến chỗ cây cột
mốc ghi địa giới tỉnh, phía bắc cũng cần đến chỗ cây cột mốc ghi địa
giới tỉnh, tổ chức qua lại, chắp nỗi những quãng thuyền di tuần của các
đồn biển mà đôn đốc họ. Nếu thuyền đi tuần ở hải phận đồn biển nào mà sơ
suất bỏ trỗng, thì lập tức bẩm tỉnh nghiêm hạch để trừng phạt. Thuyền
đi tuần do Kinh phái thì có hai đoàn Nam và Bắc. Mỗi đoàn phái đi đến 4,
5 chiếc, chia làm 2 chuyến, mỗi chuyến cách nhau 3, 5 ngày, đại khái
chuyến trước đến giữa hải phận, thì chuyến sau mới từ đầu hải phận ra
đi, chuyến sau đến giữa hải phận thì chuyến trước mới từ cuối hải phận
trở lại. Lần lược qua lại trong khoảng thuyền đi tuần của hải phận tỉnh
và hải phận các đồn biển mà đôn đốc tất cả. Đi qua tỉnh mà không thấy
thuyền tuần tra của tỉnh, thì lập tức báo cho tỉnh để tham hạch trừng
phạt. Thuyền đi tuần của Kinh phái, tỉnh phái, ngày nào hiện đi qua hải
phận của đồn biển nào, đều phải lấy chữ biên ký của đồn biển ấy để phòng
khi tra xét. Trừ những ngày sóng gió thuyền không thể đi được, còn các
thuyền ấy đều phải đi chóng về chóng, không được tự tiện chần chừ đỗ lại
ở chỗ nào. Khiến cho trên mặt biển thuyền đi tuần của Kinh phái, tỉnh
phái, liên tục theo nhau. Nếu gặp thuyền giặc thì lập tức đuổi bắt. Ban
ngày thì bắn 3 phát đại bác, ban đêm cũng bắn 3 phát đại bác và bắn 5
chiếc pháo thăng thiên làm hiệu. Phàm xa gần nghe thấy thì lập tức khẩn
cấp tiếp viện. Nếu thuyền giặc nhân gió bỏ chạy thì lấy thuyền nhanh nhẹ
mà đuổi theo”21.
Các vua Nguyễn đặc biệt quan tâm tới
việc vây bắt bằng được thuyền cướp biển để trị tội. Qui định: “Nếu bắt
được thuyền giặc hạng lớn như lần ấy đã gặp thì định thưởng 1000 quan
tiền. Nếu bắt được thuyền hạng kém thì cho thưởng 500 quan tiền để chia
đều, tỏ sự khuyến khích. Nếu là thuyền buôn chở đầy hàng hóa đi buôn
bán, thì không được mượn cớ quấy nhiễu, sẽ can tội nặng22. Ngược lại nếu
để giặc biển tiếp tục quấy phá, đánh cướp thì sẽ trị tội rất nặng.
Chúng ta dễ nhận thấy điều đó ở cuối mỗi chỉ dụ ban ra: “Không được xem
là đã có thuyền binh mà có chút đun đẩy. Nếu một khi có giặc biển lẻn
lút nổi lên, thì lập tức đem bộ biền của tỉnh ấy phái đi theo mức nặng
mà trị tội”. Tuy nhiên trên thực tế, chống cướp biển gặp nhiều khó khăn
nên việc xét tội cũng không phải dễ, bởi “giặc nổi lên trên mặt biển, số
lần có nhiều ít không giống nhau, mà tình hình các viên biền đi tuần
thám gặp giặc cũng khác”23.
Về sau bộ Binh bàn định, được chuẩn y:
“hải phận nào giặc nổi lên một lần mà viên tấn thủ và bộ biền hoặc sơ
suất không nghe biết, hoặc là xét bắt không nhanh, để đến nỗi bọn giặc
chạy thoát được thì đem viên thủ ngự ở hải phận sở tại giáng 4 cấp; quản
vệ, quản cơ do tỉnh phái đều giáng 2 cấp, suất đội đều giáng 1 cấp. Nếu
đi tại đấy không có quản vệ, quản cơ, mà suất đội là người chuyên trách
thì điều giáng 2 cấp. Còn như thuyền binh Kinh phái đi qua ở hạt ấy mà
không biết đánh dẹp thì quản vệ cũng đều giáng 2 cấp, suất đội đều giáng
1 cấp. Nếu đã đi qua hạt khác, mà đối với nơi giặc cướp xảy ra, tính về
đường biển xa cách, không thể nhìn ngó đến được thì được miễn bàn. Nếu
xét ra có chậm trễ ở chỗ nào mà đến nỗi tuần phòng sơ hở thì lập tức trị
về tội chậm trễ. Lại như Đề đốc, Phủ doãn, Phủ thừa ở Thừa Thiên, Tổng
đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát lãnh binh ở các tỉnh ai là người ra biển
đi tuần xét, mà có giặc nổi lên thì đều giáng 2 cấp. Còn các viên ở lỵ
sở cũng đều giáng 1 cấp để tỏ sự phận biệt. Nếu giặc nổi lên ở hải phận
hai đồn biển tiếp giáp nhau, thì xét về hai viên tấn thủ đều giáng 2
cấp, bộ biền do tỉnh phái đi cũng đều giáng 2 cấp. Viên tỉnh lại đều
được nghĩ xử giảm một bậc. Các viên nhân đáng giáng cấp kể trên, đều cho
lưu chức. Nếu lại có giặc nổi lên, chồng chất đến 2 lần hoặc 3, 4 lần
thì một lần đều theo như thế mà xử trí. Ai có cấp kỷ (có thành tích đã
được cấp kỷ lục) thì cho được xét trừ. Nếu không có cấp kỷ để khả dĩ trừ
được mà kê hết số cấp bị giáng qúa nhiều thì nghi giáng lưu chức để xem
công hiệu ngày sau. Đợi khi xong việc tuần thám, có thực trạng cố gắng
hay không, lại sẽ tâu rõ để làm việc. Những khoản xử trị trên đây là chỉ
về người sơ suất, lười biếng mà nói. Nếu có người ngay khi giặc nổi lên
mà hết lòng đuổi bắt, cũng không bắt được bọn giặc kết án, nhưng cũng
cứu được thuyền buôn không bị mất gì thì cũng miễn bàn. Nếu thấy giặc mà
không chịu đuổi đến cùng, tìm nơi ẩn nấp, và lại có ý thụt lùi, cùng là
các khoản nặng về làm lầm lỡ quân cơ, đến khi xét ra sự trạng thế nào
thì lập tức theo luật nghị xử [4, 433-434].
Thiệu Trị năm đầu (1841), ban dụ: “một
khoản đi tuần biển, trước đã dụ cho Trấn thủ các sở phía nam, phía bắc
và các tỉnh phái cho thuyền binh qua lại tuần thám rồi. Nay căn cứ Nghệ
An tâu báo, hải phận cửa Quèn thuộc hạt ấy lại có giặc người Thanh nhân
sơ hở lẻn lút nổi lên. Thật là quái gở. Nên phái thuyền chiến lập tức đi
lùng bắt, cho hết giặc biển. . . trước tiên bắt lấy thuyền giặc kết án,
để chờ thưởng hậu. Lại chiếu theo đường biển từ Nam Định đến Quảng Nam,
Quảng Ngãi, qua lại tra xét cho hết giặc biển. Nếu tìm bắt bất lực, để
cho bọn giặc ấy lại được đậu trên biển gây việc, thì dứt khoát khó chối
được lỗi nặng. Những quan binh phái đi lần này, xét từ Quản vệ trở xuống
đều cho thưởng 1 tháng tiền lương. Còn như dự chi tiền lương lĩnh tiếp,
cho chiếu theo lệ trước mà làm”24.
Thiệu Trị Năm thứ 2 (1842), dụ rằng:
“nay khí trời quang tạnh, đường biển thuận tiện, chính là thời tiết
thuyền buôn qua lại, nên phải liệu phái thuyền binh đi tuần thám cho
nghiêm vùng biển. . . Lại truyền chỉ cho Thừa Thiên đến Bình Thuận, và
phía bắc đến tỉnh Quảng Yên, cũng theo chương trình đó, nghiêm sức cho
các tấn thủ trong hạt đều phái thuyền binh đi tuần biển, chiếu theo hải
phận, làm việc cho đúng đắn, không được nói suông theo lối cũ, đợi đến
thời tiết mưa lụt đều sẽ rút về. Những quan binh được phái đi đều thưởng
cho nửa tháng tiền lương”25.
Có sự liên kết cùng bắt bọn cướp biển,
như bản tâu của Tuần phủ Quảng Ngãi năm 1839: “giặc biển trước đậu ở đảo
Chiêm, hiện đã chạy trốn. Nay lại chuyển đến đảo Nam Châm ở tỉnh Quảng
Ngãi, lảng vảng trên mặt biển (theo lệnh) đã đôn đốc các thuyền Kinh
phái, tỉnh phái chạy đi hội quân cùng đánh. Chính cơ hội này hợp nhiều
binh lực, thì tin chắc bọn giặc ắt phải bị bắt. Vậy cho bộ phi tư cho
các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Ngãi phái thuyền ở đồn
biển đón báo cho các viên biền ngồi ở chiến hạm Viên Uy, Thanh Dương, An
Dương, Tỉnh Dương đương tiến về Kinh, phàm khi gặp bọn giặc thì ra sức
đánh dẹp, đến thẳng đảo Nam Châm thuộc tỉnh Quảng Ngãi, hội quân cùng
đánh, tập hợp bao vây, cốt đem bọn giặc biển bắt hết, bắn hết, kết liễu
vụ án, để giúp người đi buôn ngoài biển và mặt biển được yên ổn 26. Lại
ban dụ rằng: “Xét ra ngày trước hơn 20 chiếc thuyền giặc chợt đến đảo ấy
gây việc, một khi bị chiếc thuyền lớn Thanh Loan đuổi đánh, bắn phá
thuyền giặc ấy lật chìm 2 cái, bọn còn lại theo chiều gió chạy trốn. Nay
còn dám nhân sơ hở trở lại như thế, cần phải phái thuyền binh hội lại
cùng đánh. . . lập tức đem bọn giặc ấy đánh giết thật dữ”27.
Tự Đức năm đầu (1848) ban dụ rằng: “nay
khí trời quang tạnh, đường biển thuận tiện, chính là thời tiết thuyền
buôn qua lại. Nên phái thuyền binh đi tuần thám, cho nghiêm vùng biển…
tất cả đều sửa sang thuyền binh, nhận lĩnh khí giới, thuốc đạn, ống phun
lửa, vũ khí chiến đấu và kính Thiên lý, đầy đủ. Cho đến đầu tuần tháng 2
từ cửa Thuận An nhân gió ra khơi. Phàm tất cả công việc tuần tra như
thoi dệt, cốt mong cho giặc biển yên lặng… Những biền binh Kinh phái
thưởng cho tiền lương nửa tháng. Công việc dự chi lĩnh tiếp thì cho đều
theo lệ trước mà làm”28. Hai năm sau, ông lại ban dụ: “Một dải đường
biển của các hạt từ Quảng Nam trở về phía nam đến tỉnh Biên Hoà cũng khá
rộng. Gần đây giặc người Thanh phần nhiều lảng vảng trên mặt biển, nhân
sơ hở lẻn lút nổi lên, thường gây ngang trở cho thuyền buôn. Cần phải
phái nhiều thuyền binh đi tuần thám, lần lượt đã phái 3 chiếc thuyền
đồng Điện Phi, An Hải, Điềm Dương chia đường theo từng hạt mà tuần
phòng… Lại truyền chỉ cho Quảng Nam phái nhiều thuyền binh, xét theo hạt
mình mà lưu tâm tuần thám. Phàm gặp thuyền dị dạng của người Thanh lảng
vảng ở ngoài biển, thì lập tức dũng cảm đuổi theo, trong ngoài vây bắt.
Nếu đem thuyền giặc ấy đánh giết không để sót, hoặc bắt chém kết án,
thì ắt có thưởng hậu. Nếu coi thường rồi cứ đậu yên, nói suông cho xong
việc để cho bọn giặc ấy lại đậu trên biển lẻn lút nổi lên thì ắt trị tội
nặng không tha”29.
Ngoài kiểm soát thuyền buôn, thuyền đánh
cá và tiễu trừ giặc biển thì một hoạt động đáng chú ý là chú trọng vào
đối tượng tàu thuyền nước ngoài, đặc biệt là những tàu có quốc tịch
phương Tây như Pháp, Anh. Năm 1830, qui định ở trấn Đà Nẵng: “các thuyền
nước ngoài như thuyền của nước Pháp, nước Anh đến đậu ở trấn ấy, thì
phải báo trước. Cấm nhân dân ở trấn và nhân dân ở địa phương ấy không
được tự tiện riêng tây đi lại dắt díu với họ hoặc đến nỗi gây ra sự
việc”30.
Một trong những nguyên nhân tuần tra kém
hiệu quả được nhận định qua lời dụ năm 1838, “gần đây giặc bể thường
cướp các thuyền buôn đều bởi bọn người đi tuần tiễu sợ hãi sóng gió mà
không dám ra xa, để bọn giặc tàu tung hoành cướp chán rồi đi, hơn nữa
thuyền nhà vua phái đi như chiếc thuyền khỏa đồng (bọc đồng) và các
thuyền hiệu chữ Bình chữ Định đều lớn mà nặng không đi được nhanh, chiếc
thuyền Ô, Lê thời lại qúa thấp nhỏ gặp giặc không tiện đuổi xa, vùng bể
không được yên tĩnh cũng bởi nguyên nhân kể trên 31. Từ đó, với mong
muốn dẹp yên giặc biển, vua Minh Mạng chuẩn: “cho bộ Binh châm chước bàn
định, việc tuần tiễu ở ngoài bể nên như thế nào thời định rõ chương
trình. Lại chuẩn cho Công bộ suy tính để đóng các thuyền đi tuần như thế
nào cho được nhẹ nhàng thuận tiện”. Sau, bộ Binh tâu lên: “từ tỉnh Bình
Thuận trở sang đàng bắc tới tỉnh Quảng Yên, những chỗ cửa bể đã có đồn
canh đều theo địa phận tuần phòng, còn những nơi hai cửa bể có đồn canh
mà hai tỉnh giáp nhau đều do quan tỉnh theo trên bờ để dựng nêu viết rõ
phía nam thuộc cửa bể này, phía bắc thuộc cửa bể kia. Chỗ hai tỉnh giáp
nhau cũng hội đồng cắm nêu để làm dấu, hàng năm giữa mùa Xuân đến giữa
mùa Thu thuyền đi tuần do Kinh đô phái đi đều dự bị chiến cụ và kính
Thiên lý. Những thuyền đi tuần ở các cửa bể có đồn canh thời theo địa
phận tuần tiễu. Những thuyền đi tuần ở tỉnh phái đi thời cứ hải phận ở
tỉnh mình mà đi lại đốc suất. Thuyền đi tuần ở Kinh phải phân hai để
luân phiên đi lại, khiến cho nơi hải phận đều liên lạc với nhau.
Một khi gặp thuyền giặc thời tiến lên để
đuổi bắt, thuyền giặc chạy thời đem chiếc thuyền kiểu mới nhẹ nhàng để
đuổi. Nếu im sóng lặng gió thời đem thuyền Ô- lê hay thuyền khinh khoái
để đuổi. Đến thời kỳ đi tuần ngoài bể, thời các địa phương dọc theo bờ
bể phải chiểu trong hạt mình những đạo nào bãi nào trước đây giặc người
nước Thanh thường ẩn nấp, thời cho lính đi trước để đóng giữ hay là vát
lấy chiếc thuyền “đại dịch” để lính chở đi, mà mang theo khí giới giả
trang là thuyền buôn tùy chỗ đóng lại, khiến thuyền giặc nhận nhầm là
thuyền buôn mà đến ăn cướp, thời lập tức xông ra nã bắt như thế thì giặc
bể có thể yên được”32.
Tóm lại công tác tuần tra được tiến hành
thường xuyên và liên tục trên biển. Cũng không câu nệ là thuyền nhà
nước hay của địa phương, quân chính qui hay dân thường đều sung vào việc
tuần tra nếu thấy có hiệu quả; “các viên lần này phái đi tuần thám, nếu
có người nhà hoặc thuộc binh, thủ hạ, người nào khỏe mạnh, dũng cảm,
bắn giỏi đều nên đem theo để giúp việc sai khiến và chiểu theo lệ lương
của binh đinh”33. Và thật không khó để tìm những dẫn chứng về điều này
bởi nó là điều hiển nhiên. Sách Thực lục, Hội điển của nhà Nguyễn có rất nhiều những thông tin tuần tra mà chúng ta có thể tham khảo 34.
2. Kiểm soát tàu thuyền ra vào cửa biển
Với một bờ biển rộng dài thì việc kiểm
soát tàu thuyền ra vào là hoạt động quan trọng, thường xuyên dưới triều
Nguyễn. Thuyền công, thuyền tư, thuyền trong nước và thuyền nước ngoài
đều phải quan tâm kiểm soát không ngoài mục đích an ninh và kinh tế.
Các cơ quan có liên quan như ty Hành
nhân, Tào chính và nha Thương bạc ngoài việc chuyên môn còn có chức năng
“quản chế ngoại thương”. Tháng 12-1835, Minh Mạng sai “cấp đồ nhung
phục cho quan Quảng Thủy để dùng mặc khi có sai phái và xét hỏi các tàu
buôn ngoại quốc”35. Việc quy định tàu phương Tây chỉ được đến buôn bán ở
Đà Nẵng, không được lập cơ sở buôn bán trên đất liền cũng không ngoài
mục đích là để dễ bề kiểm soát vùng biển.
Tàu phương Tây đến cảng biển Việt Nam
luôn được dành sự quan tâm đặc biệt. Năm Minh Mạng 18 (1837), ban dụ
rằng: “trấn Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam là nơi bờ bể quan trọng ở gần
Kinh kỳ, tàu thuyền nước ngoài qua lại, quan hệ không phải là nhỏ. Vậy
chuẩn định: từ nay phàm tàu thuyền nước ngoài bất kỳ đến khu trấn Đà
Nẵng mà đậu nhờ, thì không kể là dấu hiệu nước nào và là kiểu thuyền gì,
viên trấn thủ trấn ấy phải tự đến hỏi rõ tình hình. Nếu là việc quan
trọng, thì lập tức làm tờ tâu do đường trạm phi ngựa dâng lên, hoặc do
lệ tối khẩn phát trạm đưa vào tâu. Còn các công việc tầm thường, cũng
lập tức kể đủ duyên do tư vào bộ để chuyển tâu, khiến trẫm sớm được biết
hết tình trạng, điều ấy rất là quan trọng. Cần phải hết sức cẩn
thận”36.
Ngoài Đà Nẵng là nơi đón tiếp tàu phương
Tây, để đề phòng tàu phương Tây có thể đến cửa biển khác khó đối phó,
tháng 5 năm 1835, Minh Mạng truyền dụ cho các tỉnh Quảng Nam, Bình Định,
Khánh Hoà, Bình Thuận, Biên Hoà, Gia Định: “từ nay phàm các thuyền của
Tây dương đến đỗ ở trấn phận nào thì viên trấn thủ ở cửa biển ấy đem
thông ngôn hoặc người nhà Thanh biết tiếng Tây dương đến tại chỗ xét hỏi
lý do đến và xem xét hình dáng, màu sơn, cờ hiệu, số người ở trong
thuyền nhiều hay ít, thuyền đó là thuyền buôn hay thuyền chiến. Nhất
nhất ghi rõ, lập tức báo tỉnh. Nếu thuyền buôn thì theo lệ thường mà làm
(tức bảo đến Đà Nẵng- Tg); nếu là tàu chiến thì một mặt phi tấu, một
mặt sai phái binh thuyền canh phòng nghiêm ngặt ở trấn phận và phi tư
cho tỉnh láng giềng phòng bị. Thuyền ấy đi ngày nào, hoặc vẫn đóng lại
làm việc gì, cũng cho phép tiếp tục tâu lên để biết rõ tình trạng”37.
Đề phòng kiểm soát, ngăn chặn sự gian
trá, trà trộn, năm Minh Mạng thứ 11 (1830), qui định: “Từ nay về sau,
phàm [tàu nước ngoài] đến buôn ở các địa phương, phải có hàng hóa mới
cho vào cảng, không cho nói ỷ vào việc đưa thuyền không đến đón khách để
ngăn tình tệ gian trá. Ai trái lệnh thì nghiêm trị không tha”38.
Tháng 12 năm 1835 Minh Mạng qui định
chặt chẽ việc kiểm soát tàu thuyền phương Tây như: “khi đến đậu phải xét
hỏi trong tàu có bao nhiêu người, đăng ký rõ ràng, bẩm lên thượng ty,
mới cho lên bờ, mua bán với các cửa hàng chợ búa gần đó, nhưng phải
nghiêm việc phòng bị, không cho ở tản mát nhà dân, mua bán xong rồi lại
điểm đủ số người, đuổi ra biển không cho một người ở lại”39.
Thiệu Trị năm thứ 5 (1845), qui định chi
tiết về kiểm soát tàu thuyền nước ngoài đến cảng biển Việt Nam như sau:
“Thuyền các nước ngoài đến có chạy vào khu trấn, thì trước khi sắp đến
hải phận trấn này, phải kéo cờ hiệu lên để tiện ghi nhận. Khi thuyền
nước ngoài mới vào trấn đậu lại, tiếp được viên trấn thủ uỷ người đến
gạn hỏi, thì phải đem ý kiến tới đấy đáp lại rõ ràng. Nếu có bắn súng
mừng thì đài trên thành cũng bắn 3 phát đáp lại. Sau khi thuyền nước
ngoài đậu lại, nếu chỉ lấy củi lấy nước thì cho vào lấy ở nơi gần bờ,
lấy củi thì phải lấy ở núi Trà Sơn, gánh nước thì phải gánh ở chợ Hàn.
Không được di tản vào làng xóm. Một hai ngày lấy xong thì chở đi, không
được ở lâu để gây việc. Thuyền nước ngoài nếu muốn lên chợ ở trên bờ,
tìm mua thức ăn thì cũng không cấm, nhưng chỉ cho đi trong số 10 người.
Không được đi quá nhiều và không được mang theo binh khí, súng trường,
lên bờ để bắn càn. Thuyền nước ngoài đến đậu lại để buôn bán, thì khi
báo cáo hàng hóa, phải đem cả số người đáp theo trong thuyền và các số
súng ống, khí giới là bao nhiêu, khai bẩm minh bạch, do viên tấn thủ
kiểm điểm đích thực, ghi chép rõ ràng, kể rõ nguyên do chuyển bẩm và cho
lên bờ tùy nơi gần tiện chợ mà buôn bán. Xong việc, lại kiểm soát kỹ
lưỡng rồi cho về thuyền. Không được ngầm ở lại trong nhà mọi người. Nếu
ai trái lệnh thì lập tức bắt giữ, chiểu theo luật “kẻ nước ngoài vào
cõi” mà xử tội chém đầu. Còn người cho bọn ấy ngần ở, thì cũng xét tội
như kẻ phạm pháp kia. Những thuyền con đi theo thuyền lớn, nếu nhân có
việc mà chạy đến thì chỉ cho đến chỗ bến nơi tấn thủ mà thôi, không được
vượt qua.
Thuyền nước ngoài đến đậu ở cửa trấn
không được đi lại riêng với người ta, ngầm thông tin tức và không được
cho người ta đến thuyền, để đến nỗi gây ra chuyện”40.
Đối với tàu thuyền trong nước, việc qua
lại nơi đò ải, cửa biển, nhà Nguyễn có qui định cụ thể. Ở đây chúng tôi
chỉ lược trích những thông tin chủ yếu:
Minh Mạng năm thứ 20 (1839), qui định:
“Hai cửa ải Hải Vân, Quảng Bình là nơi quan trọng, gần Kinh kỳ. Từ trước
đến nay đặt người trấn thủ, kiểm soát rất nghiêm. Nhưng kẻ trốn tránh
hoặc có đi thuyền qua lối khác, đến nỗi cửa ải không thể kiểm soát vào
đâu được.
Xét Quảng Bình từ bến đò thôn Động Hải,
chuyển ra cửa biển Nhật Lệ, do đường biển vào cửa biển Linh Giang, Quảng
Nam từ bến đò Thanh Khê do đường biển đến thẳng bến đò trạm Thừa Phúc
phủ Thừa Thiên, hai bến đò ấy vốn không đi qua cửa ải và đồn biển. Từ
trước vốn không đặt bến đò ở đấy, chỉ là chủ thuyền xoay kiếm nhiều lợi,
mà hành khách cũng cẩu thả tránh sự khó nhọc, đến nỗi kẻ giam manh nhân
thế mà được lẻn qua nơi ấy. Nay đều cấm chỉ. Vẫn do hai đồn biển Hải
Vân, Nhật Lệ xét hỏi nghiêm ngặt”41.
Tháng 10 năm 1835, vì quan tỉnh tâu báo
chậm nên Minh Mạng qui định: “Từ nay, phàm thuyền nước ngoài đến ở vụng
Trà Sơn, nếu là thuyền chiến hoặc có sự tình gì khác thì chuẩn cho viên
coi tấn phận Đà Nẵng lập tức một mặt tâu lên, một mặt báo tỉnh. Quan
tỉnh lại căn cứ vào tin báo, tiếp tục tâu trình. Còn thuyền buôn đến đỗ
thì viên coi trấn phận phải hỏi rõ, rồi tâu lên và đệ trình lên cả cái
đơn kê hàng hóa ở trong thuyền. Quan tỉnh chỉ căn cứ theo tờ báo cáo của
trấn phận mà tư lên bộ để lưu chuyển, không cần phải tâu”42.
Những hoạt động kiểm soát tàu thuyền ra
vào cửa biển chính là việc trực tiếp tiếp cận để xét hỏi tàu thuyền lúc
cập cảng để tùy nghi xử lý, như tháng 12-1836, tàu binh nước Pháp vào
đậu tại hòn Mỏ Diều thuộc tỉnh Quảng Nam. Khiến người ra hỏi, họ trả lời
rằng: “tàu ở thành Tu Lông, đức quốc trưởng khiến đi thao diễn đàng
biển đã hơn 1 năm; nay từ Mã Cao trở về, xin ở lại một vài ngày để lấy
củi”. Qua ngày mai, bắn một phát súng lớn rồi chạy đi”43.
Tấu ngày 30-7-1848: Tổng đốc Quảng Nam –
Quảng Ngãi Nguyễn Lương Nhàn, khâm phái Tôn Thất Thường báo cáo về việc
xét hỏi chiếc thuyền buôn của người Pháp tên là Y Đóa chở hàng tới xin
bán ở Đà Nẵng 44.
Tấu ngày 6-2-1849, bộ Lễ báo cáo về
việc, “ngày 31-1 thuyền Pháp vào Đà Nẵng – Quảng Nam, lấy cớ là để tìm
kiếm nạn nhân và xin cấp giấy tờ. Quan chức tỉnh đó đã sai Lê Chính Thuỳ
và Cai đội Vũ Dũng mang giấy tờ đến cho thuyền ấy, Vũ Dũng đã tự tiện
một mình xuống thuyền, nói chuyện với thuyền trưởng và xin sách đạo. Lê
Chính Thuỳ phải trách mắng, ngăn cản mới trả lại sách đạo nhưng Vũ Dũng
lại ngầm lấy 15 lá cờ của Pháp. Cai đội Vũ Dũng trước đã can tội ngầm
theo đạo Gia tô, nay lại coi thường luật pháp, tự do giáo thiệp với
người Âu. Xin giao Vũ Dũng cho bộ Binh tra hỏi và xét xử”45.
Trên thực tế hoạt động kiểm soát cũng
không tránh khỏi những hạn chế. Có khi quan phụ trách không tâu báo một
tàu Pháp vào tránh gió, người phụ trách bị phạt: “lúc ấy tàu Pháp bị
gió, ghé vào tránh gió rồi đi không có ý gì. Sao đã cho người ra hỏi lý
do rồi mà không tâu lên, chỉ nói qua loa cho xong việc?. Tên Nguyễn Đức
Chung làm việc sơ lược, phạt bổng 3 tháng để răn tội” (tấu ngày
3-7-1841) 46 [1, Thiệu Trị, tập 6, 76]
Châu bản cho biết, ngày 27-6-1838, Lãnh
binh Quảng Nam và Thủ ngự Đà Nẵng Trương Hữu Xuân tâu: “sáng nay có tàu
ngoại quốc đỗ tại hòn Mỏ Diều ở ngoài biển, Trương Hữu Xuân và thơ lại
Nguyễn Chiêm Lượng ra xét. Khi có quân binh dụng đầy đủ tại thuyền. Ra
hỏi thì không có thông ngôn nên không hiểu tiếng nói. Xét thì đó là
thuyền binh, thấy cờ như thuyền của nước Phú Lãng Sa (Pháp), có ba cột
buồm, mỗi cột 4 tầng, có chừa cửa súng 52 lỗ. Thuyền dài ước 13 trượng
(khoảng 52m), rộng ước 3 trượng, súng đại bác 52 khẩu, súng độ kim 8
khẩu, súng điểu thương 400 cây, gươm đao 100 cây, số người hơn 400.
Trong kho, đồ đạc không kiểm được”47.
Ngay lập tức Minh Mạng cử Đào Trí Phú và
Lý Văn Phức vào Đà Nẵng xét, phái đoàn này có báo cáo: “Tuân dụ tới Đà
Nẵng thương thuyết với thuyền Phú Lãng Sa nhưng chủ thuyền tên Lập Lạc
nói đi các nước để thao diễn, không phải đi về quốc sự. Thuyền chỉ đậu
lại vài ngày để mua củi, nước, thực phẩm và sửa dây buồm. Chúng tôi có
mời lên công quán nhưng họ không lên vì không phải đi việc công, cho nên
không dám lên. Phái viên hỏi sao đổi hiệu cờ, chủ thuyền cho biết đã
đổi từ lâu, nhiều nước đã biết và xin vài ngày nữa sẽ ra đi”48. Vào thời
Thiệu Trị, cũng xảy ra trường hợp tương tự, khi thuyền Pháp nhổ neo ra
đi, thủ ngự còn mang lính đi thuyền theo dõi để đề phòng: “Trước đây
đinh thuyền Phú Lãng Sa đậu tại dương phần cù lao Mỏ Diều cửa Đà Nẵng.
Tôi đã dâng sớ tâu lên. Hôm nay vào khoảng giờ Tỵ, thuyền ấy nhổ neo ra
khơi, tôi liền sức Thủ ngự Võ Văn Hóa đem lính lệ đi thuyền theo dõi để
đề phòng. Thấy thuyền ấy theo chiều gió đông thẳng ra khơi, đi xa không
thấy bóng buồm” (tấu ngày 17-2-1843).
Thời Tự Đức cũng lại như vậy. Bản tấu
ngày 19-1-1849 cho biết, “Tuần phủ Bình Định Lê Nguyên Trung báo cáo về
việc một chiếc tàu thủy chạy bằng động cơ của một nước Tây Âu vào đậu ở
hải phận thuộc cửa biển Thị Nại ngày 18-1. Vì không có thông ngôn nên
không hỏi han gì được, khi thông ngôn tới trời đã qúa tối nên lại không
tiện đến hỏi. Tới giờ Tuất chiếc tàu đó đã nhổ neo chạy đi rồi. Do đó
không biết được chiếc tàu đó là của nước nào, trên tàu có bao nhiêu
người”49. Những sự việc trên cho thấy Minh Mạng, Thiệu Trị rồi Tự Đức đã
rất quan tâm nhưng cũng cho thấy các thiếu sót: không có thông ngôn túc
trực, không biết người Pháp đã thay đổi cờ “từ lâu”, không giám xét hỏi
khi trời đã tối, thậm chí họ đến rồi đi mà trấn thủ không biết thông
tin gì khác.
Kết luận
1. Là triều đại cuối cùng trong lịch sử
phong kiến Việt Nam, triều Nguyễn đã kế thừa những tri thức, kinh nghiệm
xây dựng và bảo vệ đất nước của các triều đại trước để xây dựng một
quốc gia thống nhất, vững mạnh có vị trí trong khu vực. Đặc biệt, khi
những cuộc thăm dò của thực dân phương Tây núp dưới danh nghĩa thương
mại và truyền giáo ngày một nhiều, lộ rõ ý đồ xâm lược, thì nhu cầu bảo
vệ quốc gia từ phía biển được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết. Trước
yêu cầu và hoàn cảnh lịch sử mới, triều Nguyễn đã nhận thấy cần phải bảo
vệ quốc gia không chỉ ở biên giới mà còn phải chú trọng nhiều trong
phòng thủ vùng biển, đặc biệt là vùng biển miền Trung, nơi có kinh đô và
nhiều cửa biển, địa hình phức tạp, giữ một vị trí quan trọng trên đường
hàng hải quốc tế.
2. Với mong muốn giữ yên mặt biển, việc
tuần biển rất được quan tâm, thể hiện qua rất nhiều chỉ dụ, phân phái
rất nhiều binh thuyền thường xuyên tuần thám mặt biển đến khi nào “trông
vào không thấy bờ”; tuần tra liên tục “khiến cho trên mặt biển thuyền
đi tuần của Kinh phái, tỉnh phái, liên tục theo nhau. Nếu gặp thuyền
giặc thì lập tức đuổi bắt”… Tuy nhiên tuần tra phát hiện giặc biển thì
rất nhiều mà việc đánh dẹp thì không phải bao giờ cũng thu được kết quả
tốt đẹp, thậm chí nhiều lúc thể hiện sự bất lực trước một lực lượng cướp
biển vừa nhiều, có tổ chức và có phần táo tợn. Để quản lý đất nước có
vùng biển dài rộng, lại nhiều cửa biển, nhà Nguyễn đã có nhiều qui định
để kiểm soát tàu thuyền ra vào, đặc biệt vào thời đại phải thường xuyên
tiếp xúc với các tàu thuyền nước ngoài, nhà Nguyễn đã rất lưu ý đến
những tàu phương Tây. Những hoạt động ấy đã góp phần lớn vào việc nắm
bắt thông tin, đảo bảo an ninh, quốc phòng và thu thuế.
3. Thay đổi cái nhìn truyền thống và
hướng tới việc chú trọng bảo vệ quốc gia là phòng thủ vùng biển, các vua
nhà Nguyễn đã thi hành nhiều biện pháp bảo vệ thường xuyên trên vùng
biển nói chung và ở miền Trung nói riêng. Tuy còn những hạn chế nhất
định song những biện pháp đó đương thời phát huy tác dụng không nhỏ.
Nghiên cứu về việc tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển, cụ thể là
công tác tuần tra, kiểm soát vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn rõ
ràng mang nhiều ý nghĩa thực tiễn: thấy được những gì mà triều đại phong
kiến này đã làm trong việc bảo vệ vùng biển, đó cũng là góp phần phục
vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Châu bản Triều Nguyễn (mục lục), Bản thảo viết tay, Triều
Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (đến năm 1857), 122 tập, Tư liệu đề tài
khoa học cấp nhà nước KX-ĐL: 94-16.
2. Cao Xuân Dục tuyển tập, Tập 1, Quốc triều sử toát yếu, Bản dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2002.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.
4. Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Bản dịch, in lần thứ 2, Tập 5, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2005.
5. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 1, Bản dịch của Viện Sử học, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2002.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 4, Bản dịch của Viện Sử học, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, 2004.
7. Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, Tập 3, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1994.
8. Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2005
–
Chú thích:
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2001, tr.182
2 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 1, Bản dịch của Viện Sử họcNxb Giáo Dục, H.2002, tr.811
3 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 4, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo dục, H.2004., tr.310
4 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Bản dịch, Tập 5, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2005, tr.795
5 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 1, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Giáo dục, H.2002, tr.566
6 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.427
7 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.425
8 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.417 6 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.425-426
9 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2005, tr.269
10 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.426
11 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.426
12 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.427
13 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.310
14 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.266
15 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.435
16 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.427
17 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.432-433
18 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.427-428
19 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.428
20 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.428
21 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.432
22 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.432-433
23 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.433
24 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.435-436
25 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.446
26 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.437
27 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.437
28 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.437-438
29 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.438
30 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.417
31 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.267
32 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.268
33 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.435
34 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.417-439
35 Cao Xuân Dục tuyển tập, Tập 1, Quốc triều sử toát yếu, Bản dịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 2002, tr.256
36 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.417-418
37 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.770
38 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.417
39 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.838
40 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.418-419
41 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Tập 5, tr.421
42 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.796
43 Cao Xuân Dục tuyển tập, Tập 1, Quốc triều sử toát yếu, tr.265.
44 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.16
45 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.21
46 Châu bản Triều Nguyễn (mục lục), Bản thảo viết tay, Triều
Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (đến năm 1857), 122 tập, Tư liệu đề tài
khoa học cấp nhà nước KX-ĐL: 94-16. Thiệu Trị, tập 25, 30
47 Châu bản Triều Nguyễn (mục lục), Bản thảo viết tay, Triều
Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (đến năm 1857), 122 tập, Tư liệu đề tài
khoa học cấp nhà nước KX-ĐL: 94-16, Minh Mạng, tập 64, 30
48 Châu bản Triều Nguyễn (mục lục), Bản thảo viết tay, Triều
Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (đến năm 1857), 122 tập, Tư liệu đề tài
khoa học cấp nhà nước KX-ĐL: 94-16, Minh Mạng, tập 71, 106
49 Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Châu bản triều Tự Đức, (1848 – 1883), tr.20




















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét