(BÁO ĐẤT VIỆT) - Cách thức leo thang mà phía Trung Quốc thường xuyên sử dụng là biến vùng biển không có tranh chấp, thuộc chủ quyền của các quốc gia khác thành vùng có tranh chấp, rồi dần dần tìm cách xâm chiếm.
Những sự kiện diễn ra liên tiếp trong vòng chưa đầy hai tháng qua trên Biển Đông có thể cho thấy rằng Chính phủ Trung Quốc đang muốn leo thang ảnh hưởng của mình ở khu vực Biển Đông. Động thái leo thang của phía Trung Quốc làm tình hình Biển Đông đang căng thẳng càng trở nên “dậy sóng”.
Các hành động leo thang thể hiện rõ ý đồ của Trung Quốc là từng bước “thâu tóm”, tiến tới độc chiếm Biển Đông, hiện thực hóa “đường lưỡi bò” phi lý mà nước này đưa ra. Cách thức leo thang mà phía Trung Quốc thường xuyên sử dụng là biến vùng biển không có tranh chấp, thuộc chủ quyền của các quốc gia khác thành vùng có tranh chấp, rồi dần dần tìm cách xâm chiếm.
Thông qua các hành động đơn phương gây hấn với một số nước có chủ quyền trên Biển Đông, Trung Quốc mong muốn tạo ra những xung đột để biến các vùng biển này thành vùng tranh chấp. Mở màn cho chiến thuật này là tranh chấp với Philippines quanh bãi cạn Scarborough hồi tháng 4/2012. Căng thẳng kéo dài nhiều tuần lễ sau đó và cho đến nay vẫn chưa có một giải pháp nào có thể giải quyết tranh chấp.
Cuối tháng 6/2012, Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) ngang nhiên mời thầu quốc tế 9 lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa Việt Nam. Các nhà phân tích cho rằng, hành động trên của Trung Quốc không phải để trông chờ một công ty dầu khí nào đó dám nhận thầu, mà nhằm mục đích lập lờ xóa nhòa ranh giới EEZ được quy định trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS), qua đó biến vùng biển không tranh chấp, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam, thành vùng tranh chấp.
Đỉnh điểm của ý đồ trên là việc Trung Quốc ra quyết định thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” bao gồm gần như toàn bộ Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Sau đó, ngày 21/7, Trung Quốc ngang nhiên tổ chức bầu cử bộ máy hành chính cho cái gọi là “thành phố Tam Sa”, đặt trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trung Quốc còn ra quyết định cho quân đồn trú tại các đảo mà nước này chiếm giữ trái phép của cái gọi là “thành phố Tam Sa”.

Trung Quốc ngang ngược xua tàu cá đánh bắt trái phép ở Biển Đông, thực hiện ý đồ biến vùng biển không có tranh chấp thành có tranh chấp.
Tiếp sau đó, sau khi lệnh cấm đánh bắt cá phi lý và vô giá trị mà Trung Quốc đưa ra trên Biển Đông kết thúc, nước này đã cho khoảng 23.000 tàu cá tràn xuống đánh bắt cá tại nhiều vùng biển trên Biển Đông, trong đó có những vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, gần hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Thời gian gần đây, tàu cá Trung Quốc tràn vào Biển Đông ngày càng nhiều, thậm chí còn tiến gần đến các đảo thuộc các tỉnh miền Trung nước ta chỉ vài chục hải lý. Trung tá Lê Trọng Phổ, chủ nhiệm chính trị Cảnh sát biển vùng 2, khẳng định: “Việc tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng biển miền Trung là có thật, nhất là từ sau khi Trung Quốc bỏ lệnh cấm biển do họ tự đặt ra vào đầu tháng 8 này. Các tàu cá Trung Quốc đã đi sâu vào vùng biển gần đảo Lý Sơn từ 30 – 45 hải lý, với lượng tàu mỗi đợt xâm nhập từ 18 – 30 chiếc”.
Nói về nguy cơ này, Thiếu tướng Lê Văn Cương cho rằng: “Đây chưa phải là con số cuối cùng về tàu cá Trung Quốc mà chỉ là những con số mở đầu. Những chiếc tàu cá với tải trọng lên đến 3.000 tấn của Trung Quốc sẽ tràn ngập trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam để chứng tỏ sự hiện diện thường xuyên, đông đảo của Trung Quốc ở biển Đông, mặc nhiên biến vùng biển Việt Nam thành vùng tranh chấp để từ đó biến thành vùng biển của mình. Trung Quốc đang dần hiện thực hóa quyền chủ quyền, quyền tài phán phi lý của họ ở “đường lưỡi bò” mà họ tự nghĩ ra với ý đồ rõ ràng”.
Các hành động leo thang ngang ngược, đơn phương nhưng dai dẳng và “ngày càng hung hăng” của Trung Quốc trên Biển Đông khiến cộng đồng quốc tế hết sức lo ngại và công khai chỉ trích, phản đối nước này. Sách trắng quốc phòng Nhật Bản 2012 đã lần đầu tiên dành tới hơn 20 trang trên tổng số 488 trang để nói về “mối lo ngại” Trung Quốc, bày tỏ quan ngại của Nhật Bản về việc Trung Quốc “tự coi Biển Đông là của mình. Trước đó, Tokyo chỉ dùng từ “quan tâm” khi đề cập đến các hoạt động của quân đội Trung Quốc.
Giới chức và học giả nhiều nước, đặc biệt là Mỹ, thường xuyên ra tuyên bố phản đối các hành động làm gia tăng căng thẳng trên Biển Đông của Trung Quốc. Thượng viện Mỹ đã chính thức thông qua Nghị quyết mang số hiệu S.Res.524 về tình hình Biển Đông nhằm thể hiện phản ứng trước những động thái mới đây của Trung Quốc. Nghị quyết này gồm cả 3 điểm với nội dung lên án các hành động đơn phương gần đây của Trung Quốc và khẳng định những bước đi này trái với những nguyên tắc đã được thỏa thuận liên quan đến việc giải quyết tranh chấp và cản trở biện pháp hòa bình giải quyền tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.
Trước các hành động gây leo thang căng thẳng liên tiếp của Trung Quốc trên Biển Đông nhằm thực hiện ý đồ biến các vùng biển không có tranh chấp thành vùng tranh chấp, giới học giả đã lên tiếng thúc giục làm rõ các vùng tranh chấp trên vùng biển chiến lược này.
Phân tích trên Eurasiareview ngày 8/8, nhà nghiên cứu Robert Beckman, giám đốc trung tâm Luật Quốc tế, Đại học quốc gia Singapore, nhận định: “Khi chúng ta theo dõi các hành động và phản ứng của các nước gây căng thẳng ở biển Đông, nó thường không tuân theo luật quốc tế, và tất cả chỉ là trò chơi của chính trị vũ lực”. Một trong những nguồn cơn gây nên căng thẳng ở biển Đông là có những yêu sách quá tham vọng và không tuân theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982 của Trung Quốc.
Theo đó, để ngăn chặn ý đồ biến các vùng biển không có tranh chấp thành có tranh chấp của Trung Quốc, các nước có liên quan ở Biển Đông, trong đó có Việt Nam, cần đưa ra các yêu sách phù hợp với UNCLOS năm 1982.
Ông Robert Beckman cho rằng UNCLOS năm 1982 có vai trò quan trọng cơ bản đối với việc giải quyết những tranh chấp Biển Đông: “UNCLOS năm 1982 mang lại một khuôn khổ pháp lý chi tiết về các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia, liên quan đến mục đích sử dụng các đại dương. Tất cả các quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông (Trung Quốc, Brunei, Malaysia, Philippines và Việt Nam) đều tham gia Công ước LHQ về Luật biển và đương nhiên bị ràng buộc bởi các quy định của UNCLOS về pháp lý”.
Một khi phân biệt được vùng không có tranh chấp và vùng có tranh chấp ở biển Đông, thì Công ước 1982 có thể buộc các nước có liên quan thực hiện thỏa thuận tạm thời về hiện trạng của tình hình ở biển Đông. Theo đó, UNCLOS qui định trong thời kỳ chuyển tiếp, các nước không được hành động đơn phương ở các khu vực biển chồng chéo vì điều này sẽ gây nguy hiểm hoặc cản trở việc đạt được một thỏa thuận cuối cùng về phân định ranh giới biển.
Duy Minh





















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét