(Tamnhin.net) - Có một điều rõ ràng rằng đã có nhiều thay đổi ở Đông Nam Á kể từ sau cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong suốt 25 năm qua, Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn. Năm 2007, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của cộng đồng kinh tế toàn cầu thông qua tư cách hội viên trong Tổ chức Thương mại Thế giới.
Mười điều bạn chưa biết về sự tăng trưởng của Việt Nam
Giới thiệu tác giả:
Marco Breu Giám đốc Điều hành Văn phòng Đại diện McKinsey & Company tại Hà Nội.
Richard Dobbs giám đốc của McKinsey có trụ sở tại Seoul và là giám đốc Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey – bộ phận nghiên cứu kinh doanh và kinh tế của McKinsey. Có một điều rõ ràng rằng đã có nhiều thay đổi ở Đông Nam Á kể từ sau cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong suốt 25 năm qua, Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn. Năm 2007, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của cộng đồng kinh tế toàn cầu thông qua tư cách hội viên trong Tổ chức Thương mại Thế giới. Việt Nam đã trở thành một cục nam châm thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài và đang phát triển nhanh chóng từ một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp trở thành nước có nền kinh tế sản xuất và kinh doanh dịch vụ có giá trị cao hơn. Nhưng nếu Việt Nam muốn duy trì sự tăng trưởng đáng chú ý này, quốc gia này cần phải tăng năng suất lao động trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ trong những năm tới.
Dưới đây là 10 điều đáng chú ý trong báo cáo của Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey với tiêu đề “Duy trì tăng trưởng của Việt Nam: Thách thức năng suất” có thể làm bạn ngạc nhiên.
1. Việt Nam phát triển nhanh hơn bất kỳ nền kinh tế Châu Á nào khác và xếp thứ 2 sau Trung Quốc
Việt Nam – một đất nước từng bị chiến tranh tàn phá – hiện đang là một trong số những nền kinh tế thành công của Châu Á trong suốt ¼ thế kỷ vừa qua. Từ khi đảng Cộng Sản bắt đầu những cải cách với tên gọi “Đổi mới” trong năm 1986, Việt Nam đã giảm dần những rào cản thương mại, dòng vốn và mở cửa nền kinh tế đối với các doanh nghiệp tư nhân. Trong suốt thời kỳ này, kinh tế Việt Nam đã mở rộng nhanh hơn bất kỳ nền kinh tế ở Châu Á nào khác, ngoại trừ Trung Quốc, với tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm là 5.3%. Sự tăng trưởng này vẫn tiếp tục khi Việt Nam phải đối mặt với sự khủng hoảng tài chính tại Châu Á trong những năm 90 và sự suy thoái của nền kinh tế toàn cầu trong những năm gần đây (kinh tế Việt Nam tăng trưởng 7% mỗi năm trong giai đoạn 2005 – 2010). Đây là một kỷ lục hoành tráng đáng tự hào so với các nền kinh tế Châu Á khác.
2. Việt Nam đang thoát ra khỏi phạm vi những cánh đồng lúa
Trong 10 năm qua, sự đóng góp của lao động nông nghiệp trong tổng số lao động quốc gia đã giảm 13% trong khi số lao động trong ngành công nghiệp đã tăng 9.6% và trong khối dịch vụ là 3.4%. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ đã góp phần mạnh mẽ vào quá trình mở rộng kinh tế của Việt Nam do những sự khác biệt lớn về năng suất giữa các lĩnh vực này. Kết quả là thị phần của nông nghiệp trong GDP đã giảm 6.7% trong khi thị phần công nghiệp tăng 7.2% trong suốt 10 năm qua.
3. Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu hạt tiêu, hạt điều, lúa gạo và cà phê hàng đầu thế giới
Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hạt tiêu với 116.000 tấn gia vị trong năm 2010, và là nước dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực xuất khẩu hạt điều trong 4 năm liên tiếp. Quốc gia này cũng là nước xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới về lúa gạo, sau Thái Lan và đứng thứ hai sau Brazil về xuất khẩu cà phê – tăng gần gấp ba lần so với 4 năm trước đó. Việt Nam cũng xếp thứ 5 trên thế giới trong sản xuất trà và xếp thứ 6 về xuất khẩu hải sản như cá tra, tôm, mực và cá ngừ.
4. Việt Nam không phải là “Trung Quốc +1”
Chi phí lao động gia tăng ở Trung Quốc đã thúc đẩy một số nhà máy chuyển hướng sản xuất sang Việt Nam – nơi có nguồn lao động giá rẻ dồi dào. Xu hướng này đã thúc đẩy các cuộc thảo luận giữa các giám đốc điều hành về việc Việt Nam sẽ trở thành nền tảng tiếp theo của Châu Á đối với sản xuất xuất khẩu – là một phiên bản nhỏ hơn của Trung Quốc – hay Trung Quốc +1.
Nhưng Việt Nam khác Trung Quốc ở hai điểm. Thứ nhất, kinh tế Việt Nam đang được thúc đẩy nhiều hơn trong lĩnh vực tiêu dùng cá nhân so với Trung Quốc. Mức tiêu dùng của hộ gia đình chiếm 65% GDP của Việt Nam – một mức đóng góp cao bất thường tại Châu Á. Trong khi đó tại Trung Quốc, mức độ tiêu thụ này chỉ chiếm 36% GDP.
Thứ hai, trong khi sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc được thúc đẩy do sản xuất xuất khẩu và mức độ vốn đầu tư đặc biệt cao thì kinh tế Việt Nam lại cân bằng hơn giữa sản xuất và dịch vụ - với mỗi ngành chiếm khoảng 40% GDP. Trong 5 năm qua, sản lượng ngành công nghiệp (bao gồm xây dựng, sản xuất, khai thác mỏ và các tiện ích khác) và ngành dịch vụ đã tăng trưởng với tốc độ so sánh hàng năm là 8%.
5. Việt Nam có sức hấp dẫn mạnh đối với đầu tư nước ngoài
Việt Nam nằm trong hầu hết các danh sách về các thị trường mới nổi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Các cuộc khảo sát do Bộ Thương mại và Đầu tư Anh và Tổ chức Tình báo Kinh tế đã liên tục xếp Việt Nam là thị trường mới nổi nhất thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sau bộ tứ BRIC – Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc. Những nguồn đăng ký FDI vào Việt Nam đã tăng từ 3.2 tỷ USD năm 2003 lên 71.7 tỷ USD năm 2008 trước khi giảm xuống 21.5 tỷ USD do sự suy thoái toàn cầu năm 2009.
6. Việt Nam có cơ sở hạ tầng đướng xá tiên tiến hơn Philipin và Thái Lan
Việt Nam đã bắt đầu có những đầu tư đáng kể về cơ sở hạ tầng. Nhiều khách du lịch đến Việt Nam vẫn xem hệ thống đường xá của quốc gia này là khá cơ bản. Nhưng trong giai đoạn phát triển kinh tế, Việt Nam đã bổ sung thêm vấn đề cơ sở hạ tầng đường bộ. Năm 2009, mật độ đường xá tại Việt Nam là 0.78 km/m2 – cao hơn mật độ đường xá tại Philipin hoặc Thái Lan (cả hai nền kinh tế đều phát triển hơn Việt Nam). Cũng trong năm này, mạng lưới điện đã bao phủ được hơn 96% toàn đất nước. Các cảng chứa hàng như Dung Quất và Cái Mép và các sân bay như ở Đà Nẵng – miền trung Việt Nam và Cần Thơ – khu vực sông Mê Kông đã được cải thiện kết nối với các nơi khác trên thế giới.
7. Thế hệ trẻ của Việt Nam ngày càng được tiếp cận với CNTT nhiều hơn
Mười điều bạn chưa biết về sự tăng trưởng của Việt Nam
Giới thiệu tác giả:
Marco Breu Giám đốc Điều hành Văn phòng Đại diện McKinsey & Company tại Hà Nội.
Richard Dobbs giám đốc của McKinsey có trụ sở tại Seoul và là giám đốc Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey – bộ phận nghiên cứu kinh doanh và kinh tế của McKinsey. Có một điều rõ ràng rằng đã có nhiều thay đổi ở Đông Nam Á kể từ sau cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong suốt 25 năm qua, Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn. Năm 2007, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của cộng đồng kinh tế toàn cầu thông qua tư cách hội viên trong Tổ chức Thương mại Thế giới. Việt Nam đã trở thành một cục nam châm thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài và đang phát triển nhanh chóng từ một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp trở thành nước có nền kinh tế sản xuất và kinh doanh dịch vụ có giá trị cao hơn. Nhưng nếu Việt Nam muốn duy trì sự tăng trưởng đáng chú ý này, quốc gia này cần phải tăng năng suất lao động trong các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ trong những năm tới.
Dưới đây là 10 điều đáng chú ý trong báo cáo của Viện nghiên cứu toàn cầu McKinsey với tiêu đề “Duy trì tăng trưởng của Việt Nam: Thách thức năng suất” có thể làm bạn ngạc nhiên.
1. Việt Nam phát triển nhanh hơn bất kỳ nền kinh tế Châu Á nào khác và xếp thứ 2 sau Trung Quốc

Việt Nam – một đất nước từng bị chiến tranh tàn phá – hiện đang là một trong số những nền kinh tế thành công của Châu Á trong suốt ¼ thế kỷ vừa qua. Từ khi đảng Cộng Sản bắt đầu những cải cách với tên gọi “Đổi mới” trong năm 1986, Việt Nam đã giảm dần những rào cản thương mại, dòng vốn và mở cửa nền kinh tế đối với các doanh nghiệp tư nhân. Trong suốt thời kỳ này, kinh tế Việt Nam đã mở rộng nhanh hơn bất kỳ nền kinh tế ở Châu Á nào khác, ngoại trừ Trung Quốc, với tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm là 5.3%. Sự tăng trưởng này vẫn tiếp tục khi Việt Nam phải đối mặt với sự khủng hoảng tài chính tại Châu Á trong những năm 90 và sự suy thoái của nền kinh tế toàn cầu trong những năm gần đây (kinh tế Việt Nam tăng trưởng 7% mỗi năm trong giai đoạn 2005 – 2010). Đây là một kỷ lục hoành tráng đáng tự hào so với các nền kinh tế Châu Á khác.
2. Việt Nam đang thoát ra khỏi phạm vi những cánh đồng lúa
Kinh tế Việt Nam không còn xoay quanh nền nông nghiệp nữa. Trên thực tế, sự đóng góp của khu vực nông nghiệp đối với GDP của đất nước đã giảm xuống một nửa từ 40% xuống còn 20% chỉ trong vòng 15 năm – môt sự thay đổi nhanh lẹ hơn mà chúng ta đã chứng kiến trong các nền kinh tế châu Á khác. Tại Trung Quốc, sự chuyển đổi này kéo dài 29 năm và đối với Ấn Độ là 41 năm.
Trong 10 năm qua, sự đóng góp của lao động nông nghiệp trong tổng số lao động quốc gia đã giảm 13% trong khi số lao động trong ngành công nghiệp đã tăng 9.6% và trong khối dịch vụ là 3.4%. Sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ đã góp phần mạnh mẽ vào quá trình mở rộng kinh tế của Việt Nam do những sự khác biệt lớn về năng suất giữa các lĩnh vực này. Kết quả là thị phần của nông nghiệp trong GDP đã giảm 6.7% trong khi thị phần công nghiệp tăng 7.2% trong suốt 10 năm qua.
3. Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu hạt tiêu, hạt điều, lúa gạo và cà phê hàng đầu thế giới

Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hạt tiêu với 116.000 tấn gia vị trong năm 2010, và là nước dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực xuất khẩu hạt điều trong 4 năm liên tiếp. Quốc gia này cũng là nước xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới về lúa gạo, sau Thái Lan và đứng thứ hai sau Brazil về xuất khẩu cà phê – tăng gần gấp ba lần so với 4 năm trước đó. Việt Nam cũng xếp thứ 5 trên thế giới trong sản xuất trà và xếp thứ 6 về xuất khẩu hải sản như cá tra, tôm, mực và cá ngừ.
4. Việt Nam không phải là “Trung Quốc +1”
Chi phí lao động gia tăng ở Trung Quốc đã thúc đẩy một số nhà máy chuyển hướng sản xuất sang Việt Nam – nơi có nguồn lao động giá rẻ dồi dào. Xu hướng này đã thúc đẩy các cuộc thảo luận giữa các giám đốc điều hành về việc Việt Nam sẽ trở thành nền tảng tiếp theo của Châu Á đối với sản xuất xuất khẩu – là một phiên bản nhỏ hơn của Trung Quốc – hay Trung Quốc +1.

Nhưng Việt Nam khác Trung Quốc ở hai điểm. Thứ nhất, kinh tế Việt Nam đang được thúc đẩy nhiều hơn trong lĩnh vực tiêu dùng cá nhân so với Trung Quốc. Mức tiêu dùng của hộ gia đình chiếm 65% GDP của Việt Nam – một mức đóng góp cao bất thường tại Châu Á. Trong khi đó tại Trung Quốc, mức độ tiêu thụ này chỉ chiếm 36% GDP.
Thứ hai, trong khi sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc được thúc đẩy do sản xuất xuất khẩu và mức độ vốn đầu tư đặc biệt cao thì kinh tế Việt Nam lại cân bằng hơn giữa sản xuất và dịch vụ - với mỗi ngành chiếm khoảng 40% GDP. Trong 5 năm qua, sản lượng ngành công nghiệp (bao gồm xây dựng, sản xuất, khai thác mỏ và các tiện ích khác) và ngành dịch vụ đã tăng trưởng với tốc độ so sánh hàng năm là 8%.
5. Việt Nam có sức hấp dẫn mạnh đối với đầu tư nước ngoài

Việt Nam nằm trong hầu hết các danh sách về các thị trường mới nổi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Các cuộc khảo sát do Bộ Thương mại và Đầu tư Anh và Tổ chức Tình báo Kinh tế đã liên tục xếp Việt Nam là thị trường mới nổi nhất thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) sau bộ tứ BRIC – Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc. Những nguồn đăng ký FDI vào Việt Nam đã tăng từ 3.2 tỷ USD năm 2003 lên 71.7 tỷ USD năm 2008 trước khi giảm xuống 21.5 tỷ USD do sự suy thoái toàn cầu năm 2009.
6. Việt Nam có cơ sở hạ tầng đướng xá tiên tiến hơn Philipin và Thái Lan

Việt Nam đã bắt đầu có những đầu tư đáng kể về cơ sở hạ tầng. Nhiều khách du lịch đến Việt Nam vẫn xem hệ thống đường xá của quốc gia này là khá cơ bản. Nhưng trong giai đoạn phát triển kinh tế, Việt Nam đã bổ sung thêm vấn đề cơ sở hạ tầng đường bộ. Năm 2009, mật độ đường xá tại Việt Nam là 0.78 km/m2 – cao hơn mật độ đường xá tại Philipin hoặc Thái Lan (cả hai nền kinh tế đều phát triển hơn Việt Nam). Cũng trong năm này, mạng lưới điện đã bao phủ được hơn 96% toàn đất nước. Các cảng chứa hàng như Dung Quất và Cái Mép và các sân bay như ở Đà Nẵng – miền trung Việt Nam và Cần Thơ – khu vực sông Mê Kông đã được cải thiện kết nối với các nơi khác trên thế giới.
7. Thế hệ trẻ của Việt Nam ngày càng được tiếp cận với CNTT nhiều hơn
Dân số Việt Nam là dân số trẻ, được đào tạo tốt và đang ngày càng được tiếp cận với CNTT nhiều hơn. Số lượng thuê bao di động ở Việt Nam đã tăng gần 70% từ năm 2000 – 2010 so với con số dưới 10% mỗi năm tại Mỹ trong cùng thập kỷ đó. Cuối năm 2010, Việt Nam đã có 170 triệu thuê bao điện thoại, trong đó có 154 triệu thuê bao di động.
Quá trình tiếp cận Internet tại Việt Nam với mức độ 31% vẫn thấp hơn nhiều so với các nước Châu Á khác như Malaysia (55%) và Đài Loan (72%). Nhưng tốc độ này đang thay đổi nhanh chóng. Số lượng thuê bao băng thông rộng tại Việt Nam đã tăng từ 0.5 triệu năm 2006 lên gần 3.8 triệu năm 2010 – cùng năm lượng đăng ký sử dụng 3G đạt kỷ lục 7.7 triệu người. Hiện tại, 94% người sử dụng Internet ở Việt Nam truy cập tin tức trực tuyến. Hơn 40% trong số này truy cập web mỗi ngày.
8. Việt Nam đang dần dẫn đầu trong số các quốc gia thực hiện dịch vụ gia công phần mềm ở nước ngoài
Việt Nam hiện đang thuê 100.000 người làm việc trong lĩnh vực gia công phần mềm ở nước ngoài – nhóm ngành tạo ra doanh thu hàng năm hơn 1.5 tỷ USD. Một số tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng đã thành lập các cơ sở tại Việt Nam như Hewlett-Packard, IBM và Panasonic. Trên thực tế, Việt Nam có tiềm năng trở thành 1 trong 10 địa điểm hàng đầu trên thế giới về lĩnh vực này do số lương sinh viên trẻ tốt nghiệp khá lớn (có khoảng 257.000 sinh viên ra trường mỗi năm) với mức lương tương đối thấp. Một lập trình viên phần mềm tại Việt Nam có thể được thuê làm việc với mức lương thấp hơn 60% lương của một lập trình viên làm việc tại Trung Quốc trong khi các đại lý xử lý dữ liệu và xử lý tiếng nói tại Việt Nam chỉ có giá thấp hơn 50% so với những đối tác tương tự như vậy tại Trung Quốc.
9. Các ngân hàng Việt Nam cho vay với tốc độ nhanh hơn so với các ngân hàng ở Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN
Tổng số các khoản cho vay ngân hàng tại Việt Nam đã tăng 33% mỗi năm trong suốt thập kỷ qua – tốc độ tăng trưởng mạnh hơn so với Trung Quốc, Ấn Độ hay bất cứ một nước ASEAN nào khác. Cuối năm 2010, giá trị của khoản cho vay nổi bật ước tính đạt 120% GDP, so sánh với 22% năm 2000. Mặc dù điều này có thể là bằng chứng cho sự năng động mới trong nền kinh tế Việt Nam, vấn đề lo ngại là sự gia tăng liên kết của các khoản nợ xấu có thể gây ra quá trình suy kiệt nền kinh tế tại Việt Nam và buộc chính phủ phải can thiệp vào các lĩnh vực tài chính nhằm bảo vệ những người gửi tiền, hệ thống ngân hàng và người nộp thuế.
10. Cổ tức nhân khẩu học của Việt Nam đáng báo động
Quá trình tiếp cận Internet tại Việt Nam với mức độ 31% vẫn thấp hơn nhiều so với các nước Châu Á khác như Malaysia (55%) và Đài Loan (72%). Nhưng tốc độ này đang thay đổi nhanh chóng. Số lượng thuê bao băng thông rộng tại Việt Nam đã tăng từ 0.5 triệu năm 2006 lên gần 3.8 triệu năm 2010 – cùng năm lượng đăng ký sử dụng 3G đạt kỷ lục 7.7 triệu người. Hiện tại, 94% người sử dụng Internet ở Việt Nam truy cập tin tức trực tuyến. Hơn 40% trong số này truy cập web mỗi ngày.
8. Việt Nam đang dần dẫn đầu trong số các quốc gia thực hiện dịch vụ gia công phần mềm ở nước ngoài

Việt Nam hiện đang thuê 100.000 người làm việc trong lĩnh vực gia công phần mềm ở nước ngoài – nhóm ngành tạo ra doanh thu hàng năm hơn 1.5 tỷ USD. Một số tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng đã thành lập các cơ sở tại Việt Nam như Hewlett-Packard, IBM và Panasonic. Trên thực tế, Việt Nam có tiềm năng trở thành 1 trong 10 địa điểm hàng đầu trên thế giới về lĩnh vực này do số lương sinh viên trẻ tốt nghiệp khá lớn (có khoảng 257.000 sinh viên ra trường mỗi năm) với mức lương tương đối thấp. Một lập trình viên phần mềm tại Việt Nam có thể được thuê làm việc với mức lương thấp hơn 60% lương của một lập trình viên làm việc tại Trung Quốc trong khi các đại lý xử lý dữ liệu và xử lý tiếng nói tại Việt Nam chỉ có giá thấp hơn 50% so với những đối tác tương tự như vậy tại Trung Quốc.
9. Các ngân hàng Việt Nam cho vay với tốc độ nhanh hơn so với các ngân hàng ở Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN

Tổng số các khoản cho vay ngân hàng tại Việt Nam đã tăng 33% mỗi năm trong suốt thập kỷ qua – tốc độ tăng trưởng mạnh hơn so với Trung Quốc, Ấn Độ hay bất cứ một nước ASEAN nào khác. Cuối năm 2010, giá trị của khoản cho vay nổi bật ước tính đạt 120% GDP, so sánh với 22% năm 2000. Mặc dù điều này có thể là bằng chứng cho sự năng động mới trong nền kinh tế Việt Nam, vấn đề lo ngại là sự gia tăng liên kết của các khoản nợ xấu có thể gây ra quá trình suy kiệt nền kinh tế tại Việt Nam và buộc chính phủ phải can thiệp vào các lĩnh vực tài chính nhằm bảo vệ những người gửi tiền, hệ thống ngân hàng và người nộp thuế.
10. Cổ tức nhân khẩu học của Việt Nam đáng báo động
Từ năm 2005 – 2010, có sự mở rộng lực lượng lao động trẻ và sự thay đổi nhanh chóng trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 2/3 tăng trưởng của Việt Nam. Số 1/3 còn lại xuất phát từ việc năng suất được nâng cao. Nhưng bây giờ, cả hai sự thúc đẩy này đang suy yếu dần. Các thống kê chính thức dự báo rằng sự phát triển lực lượng lao động sẽ giảm xuống 0.6%/năm trong thập kỷ tới, so sánh với tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm 2.8% trong giai đoạn 2000 – 2010.
Do đó, những sự cải thiện năng suất cần phải đón lấy cơ hội mong manh này nếu Việt nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cũ. Chính xác hơn, sự tăng trưởng năng suất lao động trong nhóm ngành sản xuất và dịch vụ cần phải tăng tốc lên 50%, từ 4.1% lên 6.4% hàng năm nếu nền kinh tế muốn đáp ứng được mục tiêu của chính phủ là tăng trưởng 7 – 8% mỗi năm đến năm 2020. Nếu năng suất này không đạt được, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam sẽ giảm xuống 4.5 – 5% mỗi năm.
Tác giả MARCO BREU, RICHARD DOBBS
Chúc Linh
Theo Foreign Policy
Do đó, những sự cải thiện năng suất cần phải đón lấy cơ hội mong manh này nếu Việt nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cũ. Chính xác hơn, sự tăng trưởng năng suất lao động trong nhóm ngành sản xuất và dịch vụ cần phải tăng tốc lên 50%, từ 4.1% lên 6.4% hàng năm nếu nền kinh tế muốn đáp ứng được mục tiêu của chính phủ là tăng trưởng 7 – 8% mỗi năm đến năm 2020. Nếu năng suất này không đạt được, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam sẽ giảm xuống 4.5 – 5% mỗi năm.
* * *
Việt Nam có nhiều thế mạnh nội tại: lực lượng lao động trẻ, dồi dào nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự ổn định chính trị, Nếu Việt Nam hành động dứt khoát ngăn chặn những rủi ro ngắn hạn và theo đuổi chương trình nghị sự tăng trưởng năng suất hàng đầu, đất nước này có thể bước vào làm sóng thứ hai của sự tăng trưởng và thịnh vượng. Tác giả MARCO BREU, RICHARD DOBBS
Chúc Linh
Theo Foreign Policy




















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét