Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

28/6/11

"Về đất nước Trung Hoa" của Henry Kissinger

Ông quan về hưu đang nhìn tương lai của Trung Quốc ở ngay trong chính quá khứ cổ xưa của đất nước này.

Christopher Buckley
Ngày 27 tháng 6 năm 2011

Hay: Kissinger chia sẻ những điều chỉ mình ông được biết và từ đó đưa ra một cách lý giải về đất nước Trung Hoa từ góc độ lịch sử và triết học.

Dở: Đây không phải là loại sách để đọc giải trí trong kỳ đi nghỉ trên bãi biển.

Điều quan trọng nhất: dù người đọc có quan điểm thế nào về Kissinger thì đây vẫn là một cuốn sách không thể thiếu cho những người nghiên cứu mối quan hệ Trung-Mỹ. 
 


Về đất nước Trung Hoa
Tác giả: Henry Kissinger
Nhà xuất bản: Penguin Press, 608 trang, giá $ 36

Ôi cái đất nước Trung Hoa gần gũi mà sao bí ẩn thế: nào là bỏ tù và tra tấn bất cứ ai có ý kiến bất đồng, nào là ăn trộm tài khoản của những người sử dụng Gmail, nào là lén lút chơi với những chế độ tồi tệ nhất trên trái đất này, từ chối thả nổi đồng nhân dân tệ, rồi thì nhả khí fluocarbon vào tầng ozone, rồi xây dựng hải quân và ăn cắp bí mật quân sự của nước khác – nhưng mà trong lúc ấy vẫn cứ mua tất tần tật T-Bill khiến cho nền tài chính của nước Mỹ không thể nhịn được [T-Bill là trái phiếu do Bộ Tài chính Mỹ phát hành có thời hạn đáo hạn không quá một năm, có khi chỉ một tuần lễ]. Câu hỏi một nghìn tỉ đô la mở đầu cho cái điều được gọi là “Thế kỷ của Trung Quốc” thật đơn giản: Trung Quốc là bạn hay thù? Hay vừa là bạn vừa là thù?

Mặc dù Henry Kissinger không trích dẫn câu châm ngôn của bố già Don Corleone của Mario Puzo, “Luôn giữ bạn bè ở gần bên ta, nhưng hãy giữ kẻ thù ở gần ta hơn nữa,” song câu châm ngôn này cứ như văng vẳng trong suốt cuốn sách xuất sắc mang tính truyền nghề của ông: Về đất nước Trung Hoa. Kể từ sau lần gặp bí mật tại Trung Quốc hồi năm 1979, Kissinger đã trở thành một người uyên thâm về Trung Hoa đáng tin cậy nhất. Và trong nhiều thập niên kể từ đó đến nay ông đã quay trở lại đó có lẽ đến hơn 50 lần, nhiều lần ông đã chuyển những thông điệp chỉ trích giữa nguyên thủ hai nước, tháo ngòi nổ các cuộc khủng hoảng hoặc thuyết phục bên này cảm thông cho lập trường của bên kia. Với vai trò như là một đại sứ lưu động suốt đời, ông đã cho độc giả cái cơ hội cứ như thể đang ngồi trong căn phòng chuyện trò với Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và Hồ Cẩm Đào.

Cuốn sách ứ đầy những quan sát của cả một đời được hưởng đặc ân mà ít ai có được. Đây là một nhận xét rất hay: Tại sao Trung Quốc lại xâm lược Việt Nam năm 1979? Để “dạy cho Việt Nam một bài học,” Kissinger viết, do những xung đột ở biên giới Việt Nam và Campuchia thời Khơ Me Đỏ. Nhưng khi Liên Xô không thể giúp được Việt Nam thì Trung Quốc bèn kết luận là họ đã “sờ đít cọp” mà không bị trừng phạt, ông viết. “Hồi tưởng lại mới thấy,” Kissinger lý giải, “thái độ tương đối thụ động của Moscow… có thể được xem là triệu chứng đầu tiên của sự suy tàn của Liên bang Xô Viết. Người ta tự hỏi không biết có phải quyết định xâm lược Afghanistan một năm sau đó của Liên Xô có phải phần nào là sự cố gắng bù đắp lại sự bất lực không hỗ trợ được Việt Nam chống lại Trung Quốc.” Hiểu theo cách thông thường, Kissinger khẳng định, cuộc xung đột năm 1979 “có thể được coi là một bước ngoặt của Chiến tranh Lạnh mặc dù vào thời điểm đó không ai nhận ra đầy đủ điều này.” Dĩ nhiên rồi! Y như điều xảy ra trong trò chơi domino mà ai cũng biết — các quân domino đã tách rời hẳnnhau rồi. Còn về cái tâm lý đằng sau con số thương vong rất lớn của Trung Quốc ở Việt Nam thì tôi sẽ bàn thêm ngay sau đây.

Mặc dù Kissinger có vẻ như là một người biện hộ – hoặc một người thanh minh cho cách cư xử không dễ chịu của Trung Quốc, song ông đã chứng tỏ một sự am hiểu sâu sắc những động năng đằng sau cách cư xử đó. Và ông cho rằng những động năng đó có nguồn gốc từ hàng ngàn năm trước. Trong một cuộc gặp vào những năm 1990, chủ tịch nước khi đó là Giang Trạch Dân đã bình luận với Kissinger bằng vẻ giễu cợt rằng 78 thế hệ đã trôi qua kể từ khi Không Tử chết vào năm 449 trước Công nguyên. Theo cách tính của tôi thì bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ mới ra đời được tám thế hệ. Phần nào đó là cách đặt sự việc trong viễn cảnh của nó.

Theo Kissinger thì có bốn chìa khóa quan trọng để hiểu được tâm thức của người Trung Hoa: [một], Khổng giáo (“một chân lý duy nhất có thể áp dụng chung cho toàn vũ trụ là tiêu chuẩn để đánh giá cách cư xử của cá nhân và sự khoan hòa với mọi người”); [hai], Tôn Tử (khôn khéo hơn Khổng Tử: nhân từ; đối đầu trực tiếp là hạ sách); [ba], người Trung Quốc có một trò chơi truyền thống từ thời cổ xưa gọi là cờ vây [wei qi ](trò chơi này đề cao “chiến thuật hoãn binh ” [theo luật chơi cờ vây thì người chơi được phép nhường lượt đi của mình cho đối phương nếu thấy điều đó có lợi, hai bên có thể “nhường nhau” và phân định thắng thua bằng cuối cùng cách đếm xem ai chiếm được nhiều “đất” hơn!); và [bốn], giai đoạn những năm 1800 được gọi là “thế kỷ nhục nhã” của Trung Quốc (Nghiệp chướng, bọn Đế quốc!). Cuối cùng thì thực sự cũng nên thêm một yếu tố thứ 5 nữa đó là Wei Yuan – một nhà Nho cỡ trung ở thế kỷ 19, người đã xây dựng khái niệm ”kiểm soát bọn rợ Phương Tây,” [Trung Quốc ở Thế kỷ 19 trước mối nhục vì bị Phương Tây bắt nạt đã vin vào quá khứ huy hoàng của họ để gọi người Phương Tây là “barbarian” [rợ] mà sau này đã làm thành cốt lõi chính sách ngoại giao của Mao với Hoa Kỳ và Liên Bang Xô Viết. Giờ đây giá như Bộ Ngoại giao Trung Quốc cân nhắc đổi tên thành Bộ Kiểm soát Rợ Tây Phương.

Ấy không, xin lỗi, còn yếu tố thứ sáu nữa: lúc nào cũng lo sợ trong nước bị mất ổn định và rối loạn. Theo tâm lý học gestalt [tâm lý học hình thức] thì hệ quả của những điều trên là thái độ tuyệt đối trơ lỳ trước áp lực của nước ngoài. Kissinger kể lại một thời điểm ông thấy ớn lạnh sau khi cuộc thảm sát trên Quảng trường Thiên An Môn xảy ra thì Đặng Tiểu Bình đã nói với ông rằng sự phản ứng thái quá của Hoa Kỳ “có thể thậm chí dẫn đến chiến tranh.” Ớn lạnh hơn nữa ấy là khi Mao nhắc đã nhắc lại trong lúc suy nghĩ đăm chiêu với vẻ gần như hân hoan về viễn cảnh của cuộc chiến tranh hạt nhân. “Nếu các nước đế quốc gây chiến tranh với chúng tôi,” Kissinger hồi tưởng lại lúc Mao nói, “chúng tôi có thể tổn thất hơn ba trăm triệu người. Thế thì đã sao cơ chứ? Chiến tranh là chiến tranh mà. Năm tháng sẽ qua đi rồi chúng tôi sẽ bắt tay vào việc sinh sản nhiều trẻ em hơn trước.” Mặc dù những lời thành thật đến tàn nhẫn này nghe như được lấy từ cảnh cuối của bộ phim Dr. Strangelove [bộ phim hài “đen” của Mỹ được sản xuất năm 1964 giễu nhại nỗi sợ hãi bom hạt nhân] song Kissinger nhắc chúng ta nhớ lại là trong cuộc đối đầu lần thứ nhất ở Eo biển Đài Loan hồi năm 1955 thì chính Hoa Kỳ mới là nước đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân.

Một số tình tiết xảy ra kể từ dạo đó được Kissinger kể lại – dù đúng hoặc sai – đã khiến cho công luận ở Trung Quốc đổi hướng thành chống lại Mỹ: vụ Quảng trường Thiên An Môn; sự cố Mỹ ném bom nhầm vào sứ quán Trung Quốc ở Belgrade; và sự cố ở Đảo Hải Nam năm 2001 khi một chiếc máy bay tiêm kích của Trung Quốc đâm vào một chiếc máy bay do thám của Mỹ và đã khiến George Bush hấp tấp tuyên bố cuộc khủng hoảng chính sách ngoại giao đầu tiên của ông. Gần đây lại có thêm những sự kiện rõ rành rành. Sự sụp đổ của thị trường tài chính của Mỹ và châu Âu vào năm 2007 và năm 2008 đã lấy đi hầu hết ánh hào quang rực rỡ của hình ảnh của chúng ta như là những nền kinh tế dẫn đầu thế giới. Và cũng trong năm đó trong khi các vận động viên điền kinh Olympic của cả thế giới đang tập hợp ở Bắc Kinh trong một buổi lễ có tính biểu tượng cho sự xuất hiện của đất nước Trung Quốc thì Washington đang đối phó với một Phố Wall đang lâm nguy, hai cuộc chiến tranh đang sa lầy [chiến tranh ở I-rắc và Afghanistan] và ba tập đoàn sản xuất xe hơi đang lâm bệnh.

Liệu Kissinger có lạc quan về mối quan hệ trong tương lai giữa Mỹ và Trung Quốc? Nói ngắn gọn thì vừa có lại vừa không. “Không” là bởi vì một “tinh thần thượng võ” mới hồi sinh nên thích gây sự nên nó mường tượng mối xung đột với Mỹ như là một hậu quả tất yếu của sự trỗi dậy của Trung Quốc – gần như giống hệt với việc sự lớn mạnh về hải quân của Hoàng đế Đức đã dẫn đến Thế chiến I. Theo quan điểm này của Trung Quốc thì Mỹ không phải là “con hổ giấy” trứ danh của Mao, nhưng, Kissinger viết, “mà là một quả dưa chuột héo được sơn lại cho tươi.” Hồi tưởng lại quá khứ thì giờ đây tôi thích Mỹ là con hổ giấy hơn.

Trong một đoạn có giọng lạc quan hơn Kissinger đã giải thích rằng bất chấp sự nổi lên về kinh tế như chưa từng thấy, song Trung Quốc có một vài vấn đề của riêng họ. Nền kinh tế của Trung Quốc buộc phải tăng trưởng với tốc độ 7 phần trăm mỗi năm – một mục tiêu mà bất cứ một nước công nghiệp Phương Tây nào cũng phải ao ước – nếu không Trung Quốc sẽ đối mặt với tình trạng rối loạn trong nước cực kỳ đáng sợ. Trong lúc đó thì tham nhũng đã ăn sâu vào văn hóa làm ăn ở nước này. “Quả là một trong những điều trớ trêu của lịch sử,” ông viết, “đó là chủ nghĩa Cộng sản quảng cáo là đem lại một xã hội không có giai cấp ấy thế nhưng nó lại nhắm tới việc sản sinh ra một giai cấp có đặc quyền có thể sánh với chế độ phong kiến “Rồi vấn đề thứ hai là dân số Trung Quốc ngày càng già, nếu so với điều này thì cuộc khủng hoảng An sinh Xã hội đang lơ lửng của Mỹ trở thành vấn đề quá nhỏ.

Song, người Trung Quốc có lẽ được chuẩn bị tốt hơn so với tất cả chúng ta, cả về mặt tâm lý lẫn triết học, để chịu đựng được những cú sốc sắp xảy ra. Một đất nước đã từng chịu đựng không biết bao nhiêu cuộc chiến tranh và biến động trong 4000 năm, đã vượt qua cuộc nội chiến trong những năm 1850 (mười triệu người bị giết) và những thảm họa do con người gây ra như Cuộc Đại Nhảy Vọt của Mao (thêm hai mươi triệu người nữa bị giết) và cuộc Cách mạng Văn hóa, thì đất nước đó dẻo dai vô cùng. Tôn Tử đã dùng một từ, đó là “trí” [shi], có thể dịch đại khái là “nghệ thuật nắm bắt được vấn đề lúc chúng trong trạng thái luôn biến đổi.” Kissinger viết: “Một lịch sử luôn bất ổn đã dạy cho những nhà lãnh đạo Trung Quốc một điều rằng không phải mọi vấn đề đều có một giải pháp ” Nói cách khác, lúc đó phải dùng shi.

Thật khó tưởng tượng được là một Tổng thống Mỹ còn giữ được một cái nhìn như Kissinger, lại càng khó hơn nữa nếu nói dõng dạc điều đó ra cho mọi người biết. Nhưng vào lúc chúng ta đã tới bến bờ bên kia của cuốn sách quan trọng này thì hầu như chẳng còn nghi ngờ gì nữa ấy là cái ông Henry Kissinger, nhà chép sử và cũng là người làm ra lịch sử, cố vấn của bố già Nixon [consigliere], và Bộ trưởng Bộ Kiểm soát Rợ Tây Phương, quả là người nhìn xa thấy rộng. Có lẽ từ đỉnh cao nơi ông ngồi, bất chấp hậu quả thế nào, đó là cái nhìn duy nhất của ông.

Người dịch: Hiền Ba

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011
 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...