1. Việt Nam thu thập bản đồ lãnh thổ các thời kỳ
2. Đẩy mạnh xuất bản tài liệu tuyên truyền về biên giới và chủ quyền biển đảo
Sáng 7-7, tại TP.Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức hội nghị đánh giá công tác xuất bản 6 tháng đầu năm 2011.
Ông Lý Bá Toàn - Phó Cục trưởng Cục Xuất bản (Bộ TT&TT) cho biết, 6 tháng đầu năm toàn ngành đã xuất bản và nộp lưu chiểu 9.567 cuốn sách với 159.769 triệu bản; về văn hóa phẩm đã xuất bản 495 loại với 946 triệu bản. Trong đó, có nhiều tác phẩm có giá trị như sách "Hồ Chí Minh – Hành trình tới thắng lợi”, "Tám triều vua Lý”, những tác phẩm phục vụ cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”…
Ông Toàn cũng cho biết, từ nay đến cuối năm sẽ tiếp tục xuất bản sách, tài liệu nghiên cứu, học tập, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI để sớm đưa Nghị quyết đi vào hiện thực cuộc sống. Đẩy mạnh việc lựa chọn và xuất bản các đề tài bảo vệ an ninh biên giới và chủ quyền biển đảo quốc gia… nhằm khẳng định chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
HỒNG YẾN
3. Sẽ có công trình nghiên cứu về chủ quyền Việt Nam với Hoàng Sa và Trường Sa
"Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đang khẩn trương hoàn chỉnh bản thảo để xuất bản một công trình nghiên cứu về chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” - GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam cho biết.
Trước hành động Trung Quốc cắt cáp của tàu thăm dò địa chấn của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ngày 26/5 và 9/6, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam nhận định: Những hành động của Trung Quốc đang làm cho tình hình Biển Đông nóng dần lên. Dĩ nhiên Việt Nam phải theo dõi sát sao, xây dựng chiến lược ứng phó lâu dài, đồng thời cần chủ động đối phó kịp thời với từng việc cụ thể. Tôi muốn nêu lên mấy suy nghĩ và đề xuất sau đây:
1. Lập trường bất biến của chúng ta là coi việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, lãnh thổ toàn vẹn của đất nước là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Trên lĩnh vực này, mọi quốc gia – dân tộc đều bình đẳng, không có phân biệt nước lớn – nước nhỏ và càng không có quyền nước lớn áp đặt cho nước nhỏ.
Lịch sử Việt Nam còn ghi lại bao lời tuyên bố vang vọng mãi với non sông đất nước, thấm sâu trong tâm trí các thế hệ con người Việt Nam như lời thề non nước. Đó là lời thơ thần "Nam quốc sơn hà Nam đế cư” thời chống Tống thế kỷ XI, lệnh của hoàng đế Lê Thánh Tông "Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại vứt bỏ… Kẻ nào dám đem một thước, một tấc đất của vua Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di” năm 1473, lời kêu gọi "Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ (đánh cho biết rằng nước Nam anh hùng và có chủ)” của Quang Trung Nguyễn Huệ trong chống Thanh thế kỷ XVIII, lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tuyên ngôn độc lập năm 1945 "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập”.
Lịch sử Việt Nam cũng chứng tỏ rằng Việt Nam tuy là nước nhỏ (so với nhiều nước xâm lược, nhỏ hơn nhiều lần về lãnh thổ, dân số, tiềm lực kinh tế, quân sự) nhưng vẫn có thể tạo nên sức mạnh để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Đó là chiến lược giữ nước "dĩ đoạn chế trường (lấy ngắn chế dài)” theo Trần Quốc Tuấn, "dĩ nhược chế cường, dĩ quá địch chúng (lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều)”, "dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, dĩ chi nhân nhi địch cường bạo (lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo)” theo lời Nguyễn Trãi.
2. Hết sức coi trọng việc giữ gìn hòa bình, ổn định cho đất nước và khu vực, biết tự kiềm chế, kiên trì sử dụng các giải pháp ngoại giao, chính trị để giải quyết các vụ đụng độ, tranh chấp trên Biển Đông bằng công pháp quốc tế và bằng con đường đấu tranh ngoại giao, bằng đàm phán giữa các nước có quyền lợi liên quan. Cần triển khai mạnh mẽ, chủ động mặt trận đấu tranh ngoại giao, nhất là ngoại giao pháp lý, trên các diễn đàn và trong các tổ chức khu vực và quốc tế, làm cho dư luận thế giới thấy rõ lẽ phải và chính nghĩa của Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng ASEAN và các nước trên thế giới. Trong cuộc đấu tranh này, không phải sức mạnh quân sự mà là sức mạnh của lẽ phải, của chính nghĩa và của trí tuệ có sức thuyết phục cao nhất.
3. Bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia không chỉ là trách nhiệm của Đảng cầm quyền và Nhà nước Việt Nam mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của nhân dân, của mọi người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. Vì vậy cần thông tin kịp thời, công khai mọi diễn biến tình hình Biển Đông cho nhân dân biết để tạo nên sự đồng thuận và tham gia của toàn dân, của cả dân tộc Việt Nam.
4. Lịch sử hàng nghìn năm bảo vệ đất nước cho thấy sức mạnh tiềm tàng lớn lao nhất của dân tộc Việt Nam là sức mạnh của lòng yêu nước, sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy hay bị đe dọa, mọi người Việt Nam đều sẵn sàng gạt bỏ lợi ích riêng, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết để chung sức bảo vệ đất nước. Chúng ta không bao giờ được quên những tổng kết của tổ tiên như lời Trần Quốc Tuấn, muốn giữ nước phải lo "trên dưới một dạ, lòng dân không lìa”, "vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức”, "chúng chí thành thành (ý chí của dân chúng là bức thành giữ nước)”, lời Nguyễn Trãi "sức dân như nước”, "thuyền bị lật mới thấy dân như nước”…
Sức mạnh quốc phòng rất quan trọng, sự liên kết quốc tế rất cần thiết nhưng sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và đoàn kết dân tộc luôn luôn là nền tảng giữ vai trò định đoạt. Vì vậy, nâng cao hiểu biết của nhân dân về quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa trên Biển Đông và cơ sở lịch sử - pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là rất cần thiết và quan trọng. Rất tiếc, cho đến nay, những ấn phẩm nghiên cứu và phổ cập về những vấn đề này còn quá ít, chưa đáp ứng yêu cầu tìm hiểu của nhân dân.
Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đang khẩn trương hoàn chỉnh bản thảo để xuất bản một công trình nghiên cứu về chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng nằm trong mong muốn đóng góp một phần giải quyết nhu cầu này.
Theo bee.net.vn
Cục trưởng Cục Đo đạc Bản đồ Việt Nam, ông Nguyễn Tuấn Hùng cho biết, hiện đơn vị này đang xây dựng đề án cơ sở dữ liệu bản đồ cổ Việt Nam, qua đó sẽ thu thập bản đồ biên giới lãnh thổ các thời kỳ để phục vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia.
"Chúng tôi dự định sẽ kêu gọi các tổ chức cá nhân ở Việt Nam, cũng như ở nước ngoài đóng góp tư liệu. Ngoài ra, Cục Đo đạc Bản đồ Việt Nam sẽ liên hệ với các thư viện lớn ở các nước như Pháp, Mỹ, Anh..., hợp tác tìm nguồn tư liệu ở đó".
Ông Hùng cho biết: Thời gian triển khai đề án chưa được xác định. Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có cả vấn đề kinh phí.
Cục Đo đạc Bản đồ Việt Nam đã hoàn thành giai đoạn đầu việc xây dựng trang web về bản đồ trực tuyến Việt Nam. Theo ông Nguyễn Tuấn Hùng, từ nay đến cuối năm, sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trang web sẽ chính thức được công khai trên mạng Internet.
Hoàng Hạnh - bee.net.vn
An Nam Đại quốc họa đồ
"Chúng tôi dự định sẽ kêu gọi các tổ chức cá nhân ở Việt Nam, cũng như ở nước ngoài đóng góp tư liệu. Ngoài ra, Cục Đo đạc Bản đồ Việt Nam sẽ liên hệ với các thư viện lớn ở các nước như Pháp, Mỹ, Anh..., hợp tác tìm nguồn tư liệu ở đó".
Ông Hùng cho biết: Thời gian triển khai đề án chưa được xác định. Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có cả vấn đề kinh phí.
Cục Đo đạc Bản đồ Việt Nam đã hoàn thành giai đoạn đầu việc xây dựng trang web về bản đồ trực tuyến Việt Nam. Theo ông Nguyễn Tuấn Hùng, từ nay đến cuối năm, sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, trang web sẽ chính thức được công khai trên mạng Internet.
Hoàng Hạnh - bee.net.vn
2. Đẩy mạnh xuất bản tài liệu tuyên truyền về biên giới và chủ quyền biển đảo
Sáng 7-7, tại TP.Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức hội nghị đánh giá công tác xuất bản 6 tháng đầu năm 2011.
Ông Lý Bá Toàn - Phó Cục trưởng Cục Xuất bản (Bộ TT&TT) cho biết, 6 tháng đầu năm toàn ngành đã xuất bản và nộp lưu chiểu 9.567 cuốn sách với 159.769 triệu bản; về văn hóa phẩm đã xuất bản 495 loại với 946 triệu bản. Trong đó, có nhiều tác phẩm có giá trị như sách "Hồ Chí Minh – Hành trình tới thắng lợi”, "Tám triều vua Lý”, những tác phẩm phục vụ cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”…
Ông Toàn cũng cho biết, từ nay đến cuối năm sẽ tiếp tục xuất bản sách, tài liệu nghiên cứu, học tập, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI để sớm đưa Nghị quyết đi vào hiện thực cuộc sống. Đẩy mạnh việc lựa chọn và xuất bản các đề tài bảo vệ an ninh biên giới và chủ quyền biển đảo quốc gia… nhằm khẳng định chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
HỒNG YẾN
3. Sẽ có công trình nghiên cứu về chủ quyền Việt Nam với Hoàng Sa và Trường Sa
"Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đang khẩn trương hoàn chỉnh bản thảo để xuất bản một công trình nghiên cứu về chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” - GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam cho biết.
GS Phan Huy Lê Ảnh: TTXVN
Trước hành động Trung Quốc cắt cáp của tàu thăm dò địa chấn của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam ngày 26/5 và 9/6, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam nhận định: Những hành động của Trung Quốc đang làm cho tình hình Biển Đông nóng dần lên. Dĩ nhiên Việt Nam phải theo dõi sát sao, xây dựng chiến lược ứng phó lâu dài, đồng thời cần chủ động đối phó kịp thời với từng việc cụ thể. Tôi muốn nêu lên mấy suy nghĩ và đề xuất sau đây:
1. Lập trường bất biến của chúng ta là coi việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, lãnh thổ toàn vẹn của đất nước là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Trên lĩnh vực này, mọi quốc gia – dân tộc đều bình đẳng, không có phân biệt nước lớn – nước nhỏ và càng không có quyền nước lớn áp đặt cho nước nhỏ.
Lịch sử Việt Nam còn ghi lại bao lời tuyên bố vang vọng mãi với non sông đất nước, thấm sâu trong tâm trí các thế hệ con người Việt Nam như lời thề non nước. Đó là lời thơ thần "Nam quốc sơn hà Nam đế cư” thời chống Tống thế kỷ XI, lệnh của hoàng đế Lê Thánh Tông "Một thước núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại vứt bỏ… Kẻ nào dám đem một thước, một tấc đất của vua Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di” năm 1473, lời kêu gọi "Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ (đánh cho biết rằng nước Nam anh hùng và có chủ)” của Quang Trung Nguyễn Huệ trong chống Thanh thế kỷ XVIII, lời tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tuyên ngôn độc lập năm 1945 "Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập”.
Lịch sử Việt Nam cũng chứng tỏ rằng Việt Nam tuy là nước nhỏ (so với nhiều nước xâm lược, nhỏ hơn nhiều lần về lãnh thổ, dân số, tiềm lực kinh tế, quân sự) nhưng vẫn có thể tạo nên sức mạnh để bảo vệ độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Đó là chiến lược giữ nước "dĩ đoạn chế trường (lấy ngắn chế dài)” theo Trần Quốc Tuấn, "dĩ nhược chế cường, dĩ quá địch chúng (lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều)”, "dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn, dĩ chi nhân nhi địch cường bạo (lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo)” theo lời Nguyễn Trãi.
2. Hết sức coi trọng việc giữ gìn hòa bình, ổn định cho đất nước và khu vực, biết tự kiềm chế, kiên trì sử dụng các giải pháp ngoại giao, chính trị để giải quyết các vụ đụng độ, tranh chấp trên Biển Đông bằng công pháp quốc tế và bằng con đường đấu tranh ngoại giao, bằng đàm phán giữa các nước có quyền lợi liên quan. Cần triển khai mạnh mẽ, chủ động mặt trận đấu tranh ngoại giao, nhất là ngoại giao pháp lý, trên các diễn đàn và trong các tổ chức khu vực và quốc tế, làm cho dư luận thế giới thấy rõ lẽ phải và chính nghĩa của Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng ASEAN và các nước trên thế giới. Trong cuộc đấu tranh này, không phải sức mạnh quân sự mà là sức mạnh của lẽ phải, của chính nghĩa và của trí tuệ có sức thuyết phục cao nhất.
3. Bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia không chỉ là trách nhiệm của Đảng cầm quyền và Nhà nước Việt Nam mà còn là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của nhân dân, của mọi người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. Vì vậy cần thông tin kịp thời, công khai mọi diễn biến tình hình Biển Đông cho nhân dân biết để tạo nên sự đồng thuận và tham gia của toàn dân, của cả dân tộc Việt Nam.
4. Lịch sử hàng nghìn năm bảo vệ đất nước cho thấy sức mạnh tiềm tàng lớn lao nhất của dân tộc Việt Nam là sức mạnh của lòng yêu nước, sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy hay bị đe dọa, mọi người Việt Nam đều sẵn sàng gạt bỏ lợi ích riêng, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết để chung sức bảo vệ đất nước. Chúng ta không bao giờ được quên những tổng kết của tổ tiên như lời Trần Quốc Tuấn, muốn giữ nước phải lo "trên dưới một dạ, lòng dân không lìa”, "vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức”, "chúng chí thành thành (ý chí của dân chúng là bức thành giữ nước)”, lời Nguyễn Trãi "sức dân như nước”, "thuyền bị lật mới thấy dân như nước”…
Sức mạnh quốc phòng rất quan trọng, sự liên kết quốc tế rất cần thiết nhưng sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và đoàn kết dân tộc luôn luôn là nền tảng giữ vai trò định đoạt. Vì vậy, nâng cao hiểu biết của nhân dân về quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa trên Biển Đông và cơ sở lịch sử - pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là rất cần thiết và quan trọng. Rất tiếc, cho đến nay, những ấn phẩm nghiên cứu và phổ cập về những vấn đề này còn quá ít, chưa đáp ứng yêu cầu tìm hiểu của nhân dân.
Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đang khẩn trương hoàn chỉnh bản thảo để xuất bản một công trình nghiên cứu về chủ quyền Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng nằm trong mong muốn đóng góp một phần giải quyết nhu cầu này.
Theo bee.net.vn




















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét