Tài liệu tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba, chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực”, do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, ngày 4-5 tháng 11 năm 2011
BẢN NHÁP 1: Vui lòng không trích dẫn
Geoffrey Till
Trung tâm Corbett, King’s College London, Chương trình an ninh hàng hải, RSIS, Singapore Hanoi 2011; HC/Arts Pac
Giới thiệu: Vấn đề toàn cầu hay khu vực?
Hai cách tiếp cận khác nhau đối với vấn
đề Biển Đông vốn đã phức tạp và khó khăn giờ trở nên rõ ràng hơn. Cách
thứ nhất, được Trung Quốc thể hiện một cách kiên định và mạnh mẽ, là vấn
đề này nên được nhìn như một vấn đề khu vực, không phải là vấn đề toàn
cầu. Bắc Kinh đã phản ứng mạnh với bài phát biểu của bà Hillary Clinton
trong đó nêu lợi ích của Mỹ ở thượng đỉnh ASEAN Việt Nam tháng 7 năm
2010.1 Trên website chính thức của mình, Ngoại trưởng Trung
Quốc Dương Khiết Trì liên tục cảnh cáo việc Mỹ dính líu sâu hơn vào vấn
đề Biển Đông khi lập luận rằng điều này sẽ khiến căng thẳng khu vực tăng
lên. “Hậu quả là gì nếu vấn đề này bị biến thành một vấn đề quốc tế
hoặc đa phương? Chỉ làm vấn đề tệ thêm và khó đạt được giải pháp… Người
ta cần đạt được sự đồng thuận để giải quyết hoà bình các tranh chấp
thông qua các cuộc tham vấn thiện chí vì lợi ích hoà bình và ổn định ở
Biển Đông và mối quan hệ láng giềng tốt.”2 Vấn đề Biển Đông
là một vấn đề khu vực, và nó chỉ phụ thuốc vào các nước khu vực để giải
quyết. Với quá nhiều quốc gia yêu sách ở Biển Đông và vấn đề chồng lấn
quyền tài phán phức tạp cần được giải quyết, vấn đề đã đủ căng thẳng và
nhạy cảm; tại sao lại làm cho mọi việc tệ hơn bằng cách lôi kéo thêm các
nước không có yêu sách chủ quyền ở khu vực vào tranh chấp?
Tương phản
với điều này, nhà chiến lược đầu thế kỷ 20 Sir Halford Mackinder rất
nhiều năm trước đã đưa ra luận điểm àm sau này được coi là luận điểm cơ
bản: “Tính thống nhất của đại dương là thực tế tự nhiên đơn giản dùng
làm căn bản cho giá trị cốt yếu của sức mạnh biển trong thế giới toàn
cầu hiện đại.”3 Vì lý do căn bản đó, tranh chấp Biển Đông đã
trở thành một vấn đề toàn cầu và cộng đồng quốc tế có lợi ích trong việc
xử lý hoà bình các tranh chấp này, và hy vọng một ngày nào đó sẽ tìm ra
một giải pháp. Bà Clinton nói, “Một cách đo sức mạnh cộng đồng các quốc
gia, đó là cách thức cộng đồng này phản ứng lại với các mối đe doạ đối
với các quốc gia thành viên, láng giềng, và khu vực.4 Quan
điểm rằng tranh chấp Biển Đông là một vấn đề toàn cầu với những ngụ ý và
hệ quả toàn cầu đã được Robert Gates phát triển xa hơn ở Đối thoại
Shangri-La tháng 6/2011. Theo đó, những ngụ ý và hệ quả của tranh chapá
được xem như biện minh cho Mỹ và các nước bên ngoài khu vực trong việc
cố gắng duy trì vai trò đảm bảo lợi ích lớn ở khu vực.
Ông Gates thậm
chí còn chuẩn bị đặt được 100 đô cho lý do này, “năm năm từ nay trở đi,
ảnh hưởng của nước Mỹ ở khu vực [sẽ] mạnh mẽ hơn hoặc ít nhất là cũng
giữ nguyên như hiện nay,”5 Vì vậy, câu hỏi được đặt ra là,
tại sao Mỹ và tại sao các quốc gia bên ngoài khu vực lại có lợi ích như
vậy ở vấn đề Biển Đông và hệ quả của việc này là gì? Vài lý do có thể
được đưa ra như sau:
An ninh – Là của chung và Không thể chia cắt
Trong thời kỳ toàn cầu hoá, an ninh quốc
tế không thể bị chia nhỏ thành các khu vực địa lý rời rạc. Lợi ích kinh
tế của thế giới bên ngoài ở những điều đang diễn ra trong và xung quanh
Đông Nam Á rất lớn; đây là một thị trường quan trọng, một nguồn hàng
hoá và dịch vụ, và một điểm đến du lịch chính của du khách. Khủng hoảng
tiền tệ châu Á những năm 90, ảnh hưởng của nó lên châu Âu, và thực trạng
kinh tế hiện nay đều thể hiện rằng khối lượng tài sản vật chất của kinh
tế thế giới là không thể chia cắt. Vì những lý do này, phần còn lại của
thế giới có lợi ích lớn trong việc duy trì ổn định và thịnh vượng cho
khu vực, và vì những lý do như vậy, để đảo ngược lại câu nói hay được
dùng, cờ theo sau thương mại. Những cân nhắc chính trị và chiến lược
cũng chỉ ra điều này.
Những nhận thức bên ngoài về việc tăng sức nóng ở khu vực
Được nhìn từ bên ngoài, đúng hoặc sai,
với việc can dự vào các tàu thăm dò hoạt động hỗ trợ lợi ích của Việt
Nam và Philippines trong các khu vực tranh chấp ở Biển Đông, chính sách
của Trung Quốc đầu năm 2011 được xem như trở lại với phong cách quyết
đoán hồi đầu năm 2010. Tháng 6/2011, một tàu chiến Trung Quốc được báo
cáo đã nổ súng vào ba tàu đánh cá của Philippines gần Jackson Atoll.6
Trong Thông điệp Liên bang cuối tháng 7, Tổng thống Philippines Benigno
Aquino đã nói: “Chúng tôi không muốn căng thẳng thêm với bất cứ quốc
gia nào, nhưng chúng tôi phải để thế giới biết rằng chúng tôi thực sự
sẵn sàng để bảo vệ cái thuộc về chúng tôi.” Vì lý do này, con tàu Rajah Humabon hàng đầu của Hải quân Philippines đã được phái đến nơi mà một số người ở Manila giờ đây gọi là “Biển Tây Philippines.”7
Người ta cũng chưa chắc liệu Mỹ có coi nhóm đảo Kalayaan (KIG) nằm
trong Hiệp ước Tương hỗ của Philippines về nhóm đảo này được bàn thảo,
song ít nhất, Mỹ sẽ rất quan tâm đến những bước phát triển mới này.
Vào thời điểm sự việc cắt cáp Việt Nam
ngày 26/05/2011 diễn ra, Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn
Phương Nga đã cảnh báo: “Hải quân Việt Nam sẽ làm mọi thứ cần thiết để
bảo vệ vững chắc hoà bình và độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của
Việt Nam.”8 Sau đó, vụ cắt cáp diễn ra, tàu tuần tra Việt Nam
đã quay lại khu vực, được hộ tống bởi 8 tàu khác. Đỉnh điểm của việc
này, lệnh đơn phương cấm đánh cá của Trung Quốc ở các vùng nước tranh
chấp và việc rất nhiều thuyền đánh cá Trung Quốc xâm nhập vào vùng đặc
quyền kinh tế của Việt Nam đã làm tình huống xấu thêm.9 Những
sự việc như vậy cũng dường như khuấy động tinh thần dân tộc trong các
tầng lớp dân cư, đặc biệt là khi các báo cáo của giới truyền thông
khuyến khích tiếng nói của các cư dân mạng thế kỷ 21, điều mà các chính
quyền cảm thấy không thể xem nhẹ. Trên thực tế, những cuộc tấn công
hacking sau đó có thể khiến bầu không khí càng trở nên căng thẳng hơn.10
Theo sau việc tăng nhiệt độ này, các nhà
quan sát đã chú ý đến mức độ liên kết và hợp tác giữa các quốc gia
thành viên ASEAN, không chỉ ở các cuộc hợp của ASEAN ở Việt Nam, nơi
những nhận xét của bà Hillary Clinton dường như được coi như nhận sự ủng
hộ của các quốc gia khu vực. Cuộc gặp chính thức đầu tiên của tất cả
người đứng đầu hải quân các quốc gia ASEAN được tổ chức bên lề của hội
nghị này, và người ta đã đồng ý thiết lập đường dây nóng để trao đổi
thông tin và bàn tính các hành động với nhau11 Tháng này, Việt Nam và Indonesia đồng ý tổ chức các cuộc tuần tra chung ở phần phía nam Biển Đông.12
Hiện đại hoá và các Hoạt động hải quân khu vực
Thật khó tin rằng việc nhiệt độ ở khu
vực tăng lên dù chậm hoàn toàn không liên quan đến các chương trình hiện
đại hoá hải quân hiện nay đang được thực hiện. Rất nhiều người sẽ tranh
luận rằng trên thực tế đầy là phản ứng của khu vực đối với vấn đề Biển
Đông. Hầu hết các bên nguyên đơn đều đang nâng cấp các cơ sở quân sự mà
họ duy trì ở các đảo trên Biển Đông mà họ chiếm đóng, bao gồm đường băng
và các công trình thuộc nhiều loại khác nhau: Trung Quốc (trên đảo
Subi, Nam Johnson và Bãi đá chữ thập), Đài Loan (trên đảo Itu Aba/đảo
Đài Bình).13
Căng thẳng gia tăng ở khu vực đã thúc
đẩy rất nhiều việc triển khai quân sự và dường như là thúc đẩy việc xây
dựng một lực lượng bảo vệ bờ biển và đáng lo ngại hơn là cả lực lượng
không quân và hải quân. Tháng 7 và tháng 8/2010 (ngay sau những nhận xét
của bà Clinton ở ASEAN), cuộc diễn tập lớn của Trung Quốc mang tên
“Tiên phong 2010” bao gồm việc bắn những tên lửa dẫn đường và thử nghiệm
hệ thống không quân bảo vệ chống tên lửa ở Biển Đông. Sau đó vào tháng
11/2010, Trung Quốc thực hiện một cuộc tập trận lớn cả trên cạn và dưới
nước có đến gần 100 tàu chiến, tàu ngầm và máy bay tham gia. Về việc
này, báo Hoàn cầu đưa tin: “Đây cơ bản là một cuộc diễn tập quân sự
thường kỳ, nhưng nó cũng dựa trên tình hình chiến đấu hiện nay ở Biển
Đông.” Báo này dẫn lời nhà phân tích Bắc Kinh, Li Jie khi ông nhận xét
rằng “Đây không phải là một tín hiệu đặc biệt nhưng chúng tôi đã chọn
một sân khấu để thể hiện khả năng và sức mạnh hải quân của chúng tôi.”
Điều đặc biệt của các lực lượng đánh thuỷ đánh bộ ở Biển Đông sẽ được
ghi chú sau. Việt Nam tổ chức một cuộc diễn tập trực tiếp ở ngoài khơi
Biển Đông, trên hòn đảo Hong Ong, cách tỉnh Quảng Nam 20 dặm vào ngày
13/06/2011.14
Việc mở rộng dần dần tham vọng chiến đấu
và mở rộng Quân đội (Hải quân) Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA[N])
trong vài năm gần đây được người ta chú ý nhiều (không ít hơn Mỹ) và gần
đây còn được nhấn mạnh do chuyến khởi hành đầu tiên của chiếc hàng
không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc Shi Lang. PLA[N] nhìn chung vẫn
kém Hải quân Mỹ rõ rệt, nhưng khoảng cách về khả năng chiến đấu giữa nó
và Hạm đội 7 [có 60-70 tàu và tàu ngầm, khoảng 250 máy bay có thể hạ
cánh trên biển và trên đất liền, và 40.000 người] đang được thu hẹp một
cách đáng kể. Trong một số lĩnh vực, Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản
nhỉnh hơn PLA[N] về mặt công nghệ, nhưng khoảng cách cũng được thu hẹp.
Thêm vào đó, việc mở rộng các cơ sở vật chất có thể tính trước được của
Trung Quốc ở Tam Á, để bao gồm khả năng đặt lực lượng hàng không mẫu hạm
ở đây, cũng dường như đang tăng lợi thế quân sự cho Trung Quốc so với
các nước láng giềng phía Nam. Người ta bắt đầu kháo nhau rằng Trung Quốc
có ý định triển khai DF-21D ASBMs ở căn cứ tên lửa Shaoguan ở tỉnh
Quảng Châu, với tầm bắn có thể chạm tới Biển Đông.
Trung Quốc triển khai chiếc tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo và hạt nhân (SSBN) thế hệ Jin và một vài chiếc tàu ngầm hạt nhân (SSN) thế hệ Han và Shang ở Tam Á cùng với nhiều tàu ngầm chạy diesel hiện đại (SSK) như Kilo và Song,
như một phần trong số 21 chiếc tàu ngầm ở Hạm đội Nam hải của nước này.
Về phần mình, các nước ASEAN dường như đặc biệt quan tâm đến việc đầu
tư SSK; chi phí và tham vọng của dự án này với họ dường như có thể biện
minh được bởi giá trị có thể nhận thấy được của chúng trong các chiến
lược trận đánh trên biển so với những con tàu triển khai trên mặt nước
của kẻ địch tối tân hơn trong khu vực nhiều lợi ích này. Ở đây, ý định
của Việt Nam mua 6 tàu ngầm Kilo 636 tinh vi từ Nga và 2 SSKs Scorpence
từ Pháp đã thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới phân tích. Singapore,
Thái Lan, và Indonesia đã hoàn thành hoặc đang xem xét kế hoạch mua tàu
ngầm.15
Một vài nước trong khu vực dường như
cũng đang mở rộng và hiện đại hoá các hạm đội tàu chiến trên mặt nước,
tàu hộ tống nhỏ và máy bay tuần tra ngoài khơi. Ví dụ, Việt Nam với lực
lượng hải quân nhỏ và cũ kỹ từ những năm 60, 70 thế kỷ trước của mình,
vừa mới nâng cấp hạm đội nhỏ lớp Petya với 2 tàu chiến lớp Gepard. Ở Việt Nam, dường như người ta rất nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ bờ biển.16
Các quốc gia ASEAN tổng cộng đã triển khai 40 tàu chiến so với 20 tàu
chiến (và 8 tàu khu vực) ở Hạm đội Nam hải của PLAN. Thêm vào đó, các
lực lượng không quân khu vực cũng đang được hiện đại hoá. Việt Nam đang
mua các máy bay chiến đấu Sukhoi SU-30. Đài Loan liên tục xem xét việc
mua một thế hệ các máy bay tấn công nhanh để bảo vệ đảo Ba Bình, và đặt
mua 4 tàu khu vực lớp Keelung trong những năm gần đây. Brunei đã có 2
chiếc tàu lớn tuần tra ngoài khơi (OPV) và đang đặt thêm 1 chiếc nữa.
Tương tự như vậy, Philippines cũng đã mua một chiếc cutter lớp Hamilton
và đang xem xét việc mở rộng cơ sở vật chất của lực lượng quốc phòng
nước này.17
Vòng xoáy hiện đại hoá hải quân khu vực
này vẫn chưa chạm tới mức của một cuộc chạy đua vũ trang truyền thống.
Thay vào đó người ta có thể tranh luận rằng hình thức hiện đại hoá hải
quân này là một minh chứng cho khát vọng hoàn toàn “bình thường” của các
quốc gia biển đang ngày càng thịnh vượng hơn để tăng cường sức mạnh và
xây dựng ngành công nghiệp quốc phòng quốc gia mình. Thêm vào đó, tiến
trình này tự nó thực ra không quá nhanh, và trong một số trường hợp
dường như có sự dính líu của Trung Quốc, như khi Trung Quốc đề nghị bán 2
chiếc SSK lớp Song cho Thái Lan. Tuy vậy, những diễn biến này
có thể không kiểm soát được, đặc biệt nếu chúng đưa đến những sự việc
không mong muốn song leo thang nhanh trên biển, và từ đó dẫn đến một
cuộc chạy đua vũ trang hải quân quy mô lớn phức tạp, gây ra những hệ quả
bất lợi cho sự ổn định của thế giới.
Trên lý thuyết, việc xây dựng lực lượng
bảo vệ bờ biển tương ứng và nâng cấp các cơ quan biển dân sự khác nên
được coi là ít có tính kích động và gây lo ngại. Ở đây, Trung Quốc dường
như đang dẫn đầu theo cách hoàn toàn thống nhất với sự khẳng định mới
đây về nhân tố biển trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 12 tháng 3/2011. Lực
lượng giám sát biển Trung Quốc (CMS), mới được thành lập năm 1998, nằm
dưới Cục Đại dương Nhà nước, đã bắt đầu xây dựng 36 tàu thanh tra và 54
xuồng máy, và định hướng đến năm 2015 sẽ có 15.000 nhân lực, 16 máy
bay, và 350 tàu lớn tuần tra.18 Việc di chuyển chiếc tàu chở
máy bay trực thăng 3000 tấn Haixun 31 mới được công bố rộng rãi qua
Biển Đông đến Singapore cũng thu hút rất nhiều sự quan tâm.19 Thêm vào đó, Bộ Chỉ hay Thực thi Luật đánh cá và Cục An toàn Biển cũng xây dựng lực lượng tuần tra riêng của mình.
Những nước khác trong khu vực đang theo
gót các nước trên, trong chừng mực phù hợp với cho phép của nguồn lực
nước họ. Ví dụ, Việt Nam liên tục xem xét việc mở rọng khả năng thông
qua Lực lượng An ninh Biển Việt Nam để bảo vệ tàu đánh cá của Việt Nam
và ngăn chặn tàu lớn của Trung Quốc hoạt động trong vùng đánh cá của
nước này.20 Cơ quan Thực hti Biển Malaysia (MMEA) được thành
lập năm 2005-6, bằng việc chuyển 17 tàu lớn từ Hải quân Hoàng gia
Malaysia sang dù an ninh của 5 đảo của nước này trên Biển Đông vẫn được
giao cho Hải quân, với 2 trong số hạm đội nhỏ lớp Kedah của nước này
đang được triển khai trong khu vực (Khu vực Hải quân II). Dù những con
thuyền này về chức năng thì dường như ít mang tính khiêu khích hơn là
tàu chiến, phần nhiều phụ thuộc vào cách chúng được sử dụng. Người ta
vẫn sẽ còn nhớ rằng sự kiện Impeccable được gây ra bởi các con tàu,
thuyền đánh cá. Một vài nhà phân tích nhận định rằng, vì những lý do
mang tính thể chế hoạt động của tổ chức hơn là lý do mang tính dân tộc
chủ nghĩa, những cơ quan này có thể cảm thấy sự cần thiết “biện minh”
ngân quỹ của họ thông qua các hành động quyết đoán hơn.
Việc kêu gọi bên ngoài nhập cuộc – đê khắc phục sự mất cân bằng khu vực?
Phản ứng thứ hai của khu vực dường như
là lời kêu gọi có cân nhắc mời các nước ngoài khu vực tham gia vào tình
hình đang tiến triển ở Biển Đông. Ví dụ, Việt Nam đã thể hiện xu hướng
kêu gọi ủng hộ chính trị từ các quốc gia bên ngoài Đông Nam Á nưh một
phương tiện để kiềm chế việc tự do hành động của Trung Quốc, cường quốc
lớn nhất khu vực. Tháng 11/2010 việc Việt Nam đề nghị sử dụng căn cứ ở
Vịnh Cam Ranh (được nâng cấp với sự giúp đỡ rộng rãi của Nga) với các
lực lượng hải quân bên ngoài, thu hút rất nhiều sự quan tâm, và dường
như dẫn đến tăng cường sự hiện diện của Nga, Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, và Hàn
Quốc ở khu vực.21 Lực lượng Nhiệm vụ số 5 của Nga có vai trò
mở rộng Hạm đội Viễn đông vẫn duy trì lợi ích liên tục trong khu vực.
Cũng có biểu hiện của việc nối lại tình hữu nghị giữa Việt Nam và Mỹ,
biểu trưng bằng những chuyến thăm của các quan chức hải quân cấp cao của
Mỹ đến nước này; và Việt Nam với Ấn Độ, một nước vì lý do của riêng
mình mà dường như sẵn sàng giữ vai trò lớn hơn trong khu vực, có lẽ muốn
đền bù cho những lo lắng của họ về vai trò ngày càng tăng lên của Trung
Quốc ở Ấn Độ Dương. Trong mối quan hệ này, thách thức liên tục về một
con tàu tấn công INS Airavat của Ấn Độ trên hành trình về nước sau
chuyến thăm Việt Nam tháng 7/2011 dường như chỉ ra những quan ngại của
Bắc Kinh về sự hiện diện “bất hợp pháp/không chính danh” của tàu chiến
nước ngoài ở nơi mà nước này coi như một phần của Biển Đông.22
Mặc dù vậy, các lực lượng hải quân nước
ngoài vẫn tiếp tục duy trì sự hiện diện quan trọng trong khu vực. Thông
qua các cuộc tập trận của nước này như COBRA GOLD, CARAT và chương trình
tập trận Seacat, Hải quân Mỹ thường xuyên tổ chức rất nhiều cuộc diễn
tập với các quốc gia Đông Nam Á.23 Gần đây nhất là việc phái
một chiếc SSN đến tập trận với Hải quân Malaysia, có lẽ là để giới thiệu
tàu ngầm với Hải quân Hoàng gia Malaysia. Quan hệ hải quân tiến triển
vững chắc giữa Việt Nam và Mỹ đã đem lại rất nhiều quan tâm từ cộng đồng
quốc tế.24 Cuộc diễn tập ba bên lần thứ tư giữa Mỹ, Nhật và Úc cũng được thực hiện ở Biển Đông ngoài khơi Brunei.25
Bằng các biện pháp như vậy, Mỹ đã thể hiện được bản thân mình nhiều hơn là sẵn lòng sửa đổi bất cứ ấn tượng nào gây ra bởi sự xao nhãng chiến lược của nước này ở nơi nào đó hoặc là bởi những yếu điểm rõ ràng trong nền kinh tế nước này, rằng Mỹ có thể xem xét việc giảm vai trò của mình ở Tây Thái Bình Dương. Phản ứng như vậy đã được thể hiện bằng hành động tuần sau đó tàu Impeccable đã quay lại chính xác điểm nơi mà sự chạm trán diễn ra với con tàu do thám này, lần này được hộ tống bởi hàng không mẫu hạm DDG USS Chung Hoon. Việc Mỹ tái nhấn mạnh vào châu Á – Thái Bình Dương ít nhất dường như là kết quả của việc họ lý giải các biến chuyển gần đây của chính sách của Trung Quốc và quan ngại về tác động của nó đối với lợi ích dài hạn của Mỹ ở khu vực.
Bằng các biện pháp như vậy, Mỹ đã thể hiện được bản thân mình nhiều hơn là sẵn lòng sửa đổi bất cứ ấn tượng nào gây ra bởi sự xao nhãng chiến lược của nước này ở nơi nào đó hoặc là bởi những yếu điểm rõ ràng trong nền kinh tế nước này, rằng Mỹ có thể xem xét việc giảm vai trò của mình ở Tây Thái Bình Dương. Phản ứng như vậy đã được thể hiện bằng hành động tuần sau đó tàu Impeccable đã quay lại chính xác điểm nơi mà sự chạm trán diễn ra với con tàu do thám này, lần này được hộ tống bởi hàng không mẫu hạm DDG USS Chung Hoon. Việc Mỹ tái nhấn mạnh vào châu Á – Thái Bình Dương ít nhất dường như là kết quả của việc họ lý giải các biến chuyển gần đây của chính sách của Trung Quốc và quan ngại về tác động của nó đối với lợi ích dài hạn của Mỹ ở khu vực.
Ở hội nghị ASEAN năm 2010 ở Việt Nam,
các nước ASEAN đã chuẩn bị để đưa vấn đề Biển Đông ra song song với
những nhận xét được trích dẫn rất nhiều của bà Clinton, bỏ ngoài tai
những yêu cầu của Bắc Kinh.
Sự đồng lòng rõ ràng trong vấn đề này
với Mỹ sẽ có thể khiến Trung Quốc mất tinh thần – thậm chí còn gióng hồi
chuông cảnh báo nước này rằng Bắc Kinh cần nhận thấy Mỹ đã rời khỏi vị
trí trung tập trong quá khứ để ủng hộ vấn đề quyền tài phán.26
Tuy nhiên, đây cũng là điểm mà các nước ASEAN đều nhận thức được, lĩnh
vực biển trong mối quan hệ đôi khi căng thẳng giữa Trung Quốc và Mỹ chỉ
là một phần trong tổng thể và không cần thiết là phần quan trọng nhất
trong mối quan hệ Trung-Mỹ. Quan hệ thương mại, nhân quyền, việc bán vũ
khí cho Đài Loan, hoặc chỉ là một khía cạnh chung trong việc cạnh tranh
chiến lược giữa hai nước này cũng rất quan trọng, và có lẽ thực tế là
một nhân tố mang tính ảnh hưởng hơn đối với chính sách của Washington,
có lẽ ở mức độ mà khiến cho căng thẳng ở Biển Đông là hệ quả chứ không
phải nguyên nhân của mối quan hệ căng thẳng giữa hai nước này. Vì lý do
này, một số nước ASEAN lo lắng bị hút vào một tranh chấp chiến lược
không phải do họ gây ra, rằng tranh chấp này không tập trung ở Biển Đông
nhưng lại đưa lại hậu quả bất lợi cho nền hoà bình và ổn định của các
nước này. Đặc biệt đấy là trường hợp của các nước ASEAN không có lợi ích
trực tiếp trong tranh chấp quyền tài phán ở Biển Đông, như Campuchia,
Lào, Thái Lan, và Myanmar. Một vài nước lo lắng rằng Washington có
chương trình nghị sự riêng cho việc tái dính líu của họ ở Biển Đông. Mục
đích của Mỹ là để cạnh tranh với đối thủ lớn nhất của nước này, Trung
Quốc, hơn là xuất phát từ quan ngại cho lợi ích của các quốc gia khu vực
và hơn là do một cam kết mang tính ý thức hệ vì nền dân chủ và nhân
quyền kiểu Mỹ mà đôi khi hoàn toàn không phù hợp với tình hình ở một vài
quốc gia khu vực.
Đánh giá phản ứng của các cường quốc bên ngoài khu vực
Vì vậy câu hỏi được đặt ra là – tại sao
các cường quốc bên ngoài khu vực dường như dễ chấp nhận quan điểm rằng
họ nên đóng một vai trò nào đó ở tranh chấp Biển Đông? Sau đây là một
vài lý do cho vấn đề này:
1: Tầm quan trọng chính trị của tranh chấp
Bởi lẽ người ta xem an ninh như là của
chung và không thể chia cắt được việc xử lý tranh chấp được xem là quan
trọng do ánh sáng mà nó chiếu lên cấu trúc an ninh tương lai của thế
giới, và ít nhất là trong vai trò tương lai của một nước Trung Quốc hùng
mạnh hơn trong các vấn đề quốc tế. Dù đúng hay sai, chính sách của
Trung Quốc ở Biển Đông được theo dõi cẩn thận bởi những gì nó có thể cho
các nhà quan sát biết về nhận thức của Trung Quốc về chính mình và về
những căng thẳng sắp tới ở khu vực – và rộng hơn. Tất nhiên, đây chỉ là
một trong rất nhiều yếu tố như thế, nhưng nó là một yếu tố có xu hướng
định hướng các nhận thức khác, ít nhất ở các quốc gia láng giềng và có
xu hướng củng cố lợi ích của các cường quốc ngoài khu vực.
Do đó, Ngoại trưởng Nhật Bản Matsumoto tháng 9/2011:
“Nhật có lợi ích lớn ở các tranh chấp
lãnh thổ ở Biển Đông bởi chúng có tác động đến hoà bình và an ninh của
khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và chúng cũng liên quan mật thiết với
việc bảo đảm an ninh hàng hải của khu vực.27”
Bởi vì trong so sánh với nhiều quốc gia
khác, Trung Quốc bị rất nhiều nước coi là thiếu minh bạch trong chính
sách đối ngoại, nên người ta tập trung rất nhiều vào cái mà Trung Quốc
làm, hơn là chú ý vào điều nước này nói. Tuy vậy, ít nhất là với người
ngoài, tờ báo Hoàn cầu có giọng điệu khá diều hâu lại rất khác so với
những nhận xét xoa dịu công chúng của lãnh đạo nước này và thường được
dẫn chứng để hỗ trợ cho việc phân tích những tình huống xấu nhất của các
hành động này.
Việc xử lý tranh chấp cũng được xem như
một biện pháp để nhận rõ quá trình ra quyết định ở Trung Quốc, đặc biệt
liên quan đến chính sách an ninh. Thêm vào đó, trong thời đại công dân
mạng internet – netizen – chính quyền không thể phớt lờ chủ nghĩa dân
tộc đang trỗi đậy của người dân. Người dân Trung Quôc coi những chiến
dịch này là để bảo vệ cái mà họ coi là đảo và quyền tài phán của những
vùng nước mà họ có, đồng thời cũng là chỉ số biểu hiện quan trọng của
dân chúng về việc chính phủ đang quản lý mọi việc như thế nào. Do đó,
những hoạt động bất hợp pháp của nước ngoài trong vùng nước được coi là
lãnh thổ quốc gia sẽ vấp phải sự phản đối mạnh mẽ.28 Điều này có lẽ là nhân tố chính trong vụ Impeccable.29
Gần đây khi được phóng viên báo Asahai Shimbun hỏi tại sao Trung Quốc
lại lo lắng nhiều như vậy về Biển Đông, Đô đốc Ngô Thắng Lợi, Tổng Tư
lệnh PLA[N] trả lời: “Bạn sẽ cảm thấy như thế nào nếu tôi cắt cánh tay
và chân ra khỏi cơ thể bạn? Đó là cách mà Trung Quốc cảm thấy về Biển
Đông.”30
Sự nhạy cảm với các hành động của Trung
Quốc tăng lên do nhận thức chung rằng một sự thay đổi chiến lược lớn
trong quan hệ quốc tế đang diễn ra. Vì tất cả các lý do trên, cái được
coi như là thách thức của Trung Quốc đối với các khái niệm tự do biển cả
của Mỹ là khá đau đầu với Mỹ vì nó dường như là minh chứng cho sự
chuyển dịch quyền lực chiến lược từ thời điểm 15 năm trước đây khi nước
này có thể thoải mái trong sự “không thể thiếu” của mình và khả năng đưa
ra quyết định quan trọng trong hệ thống quốc tế.31 Kể từ đó,
tấn công khủng bố, các cuộc chiến tranh trên bộ kéo dài ở Iraq và
Afghanistan, và cuộc “Đại suy thoái” đã xói mòn sự tự tin của nước Mỹ.
Hiện nay, thậm chí ngay cả sự thống trị lâu dài của nước này ở Thái Bình
Dương dường như cũng đang bị thách thức khi một đối thủ mới đã xuất
hiện trên màn ảnh. Trong mắt Mỹ, Trung Quốc chỉ là một cường quốc lục
địa [và là một cường quốc khá lạc hậu], đang sử dụng sức mạnh biển và
công nghiệp để tiến vào nơi mà Mỹ đã quen coi là sân sau và từ đó mà
giảm bớt ưu thế tuyệt đối trên biển của Mỹ ở Thái Bình Dương. Đến khi
Trung Quốc có thể lợi dụng tốt hơn những điểm dễ tổn thương về hải quân
của Mỹ về lãnh thổ ở khu vực thì vấn đề càng trở nên nghiêm trọng. Do
đó, sự quyết đoán của Trung Quốc trong những vùng biển gần có thể dễ
dàng được coi như biểu tượng của quá trình chuyển đổi quan trọng trong
quan hệ giữa các cường quốc va theo đó dẫn đến hành động quá đà.
Với Mỹ, khi đó, một ván bài lớn đang gặp
rủi ro, ít nhất là việc duy trì khả năng thống trị các không gian chung
của toàn cầu, cái mà Andrew Hart và Bruce Jones gần đây đã nhắc tới…
“trở thành một vật thúc đẩy quan trọng cho vị trí độc tôn của quân đội
Mỹ và bảo kê ảnh hưởng kinh tế của Mỹ cũng như của các đồng minh, và
giúp Washington giảm ảnh hưởng của các kẻ thù.”32
Ở Mỹ, người ta tập trung điều này vào
khái niệm “hiện diện tuyến đầu” một vấn đề mà tầm quan trọng của nó liên
tục được tái khẳng định trong các văn kiện chính thức của Mỹ.
2: Duy trì các mối quan hệ
Năm 2009, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert
Gates đã đưa ra một luận điểm quan trọng mà hạn chế của điều này có thể
làm suy yếu mạng lưới đồng minh và gắn với ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực:
“Khi xem xét các chương trình hiện đại
hoá quân đội của các quốc gia như Trung Quốc, chúng tôi ít quan tâm đến
khả năng tiềm tàng thách thức sức mạnh Mỹ một cách trực diện – máy bay
chiến đấu với máy bay chiến đấu, hoặc tàu với tàu – mà quan tâm nhiều
hơn đến khả năng họ cản trở việc tự do đi lại của chúng tôi và làm giảm
các lựa chọn chiến lược. Đầu tư của họ vào các vũ khí chống tàu và tên
lửa đạn đạo có thể đe doạ con đường quan trọng của Mỹ để trù liệu sức
mạnh và giúp đỡ các đồng minh ở Thái Bình Dương – đặc biệt là các căn cứ
không quân và các nhóm tàu hàng không mẫu hạm.33
Tầm quan trọng của việc tự do đi lại và sự hiện diện tuyến đầu cho các mối quan hệ chính trị của nước này với các đồng minh và đối tác trong khu vực là lý do cho việc nước này đầu tư vào công nghệ đắt đỏ và đòi hỏi là chiến lược Không-Hải quân [được nói đến sau đây], trong khi nhớ rằng một phản ứng chiến lược-quân sự rẻ hơn và hiệu quả hơn đối với thách thức từ Trung Quốc thay vào đó nên là thực sự tạo áp lực cho những tuyến đường giao thông vận tải trên biển của nước này.
Nhóm lý do thứ hai giải thích tại sao Mỹ
cảm thấy tự do hàng hải quan trọng thì chung chung hơn và ít truyền
thống hơn. Mỹ nhận ra rằng nước này sẽ ngày càng bị thôi thúc giải quyết
sự đa dạng của các nguy cơ đối với hệ thống thương mại toàn cầu với
chính nước này. Vấn đề rõ ràng nhất của Hải quân Mỹ là sự giảm chậm số
lượng tàu chiến mà nước này có thể triển khai ở bất cứ thời điểm nào.
Với tất cả tăng trưởng trong sức mạnh quân sự nói riêng, các tàu chiến
vẫn chỉ đặt ở một địa điểm tại một thời điểm. Điều này làm giảm mức độ
bao quát từng ngày và đặt ra một vấn đề thực sự về khoảng cách-thời gian
trong việc đưa tàu đến với khu vực có quan ngại, đặc biệt là khi có
thông báo gấp. Đô đốc Mike Mullen cũng đưa ra luận điểm hợp tác tương tự
vào năm 2005.
“Thực tiễn ngày nay là khi các sắp xếp
và mô thức an ninh trong quá khứ không còn đủ cho tương lai, Và những
thách thức ngày nay quá đa dạng để giải quyết riêng; chúng đòi hỏi nhiều
khả năng và nguồn lực hơn cái mà bất cứ quốc gia đơn lẻ nào có thể đáp
ứng.”34
Bởi lẽ đại dương thế giới nói theo thuật
ngữ của Nga thì rất rộng lớn, việc bảo vệ “những tài nguyên chung”
chống lại những nguy cơ này đòi hỏi sự hợp tác của các lực lượng biển
[cả hải quân và bảo vệ bờ biển] trên toàn thế giới:
“An ninh biển toàn cầu chỉ có thể đạt
được thông qua việc phối hợp hợp tác, nhận thức và các sáng kiến phản
hồi hàng hải ở cấp độ quốc gia và khu vực.”35
Do đó, áp lực thậm chí càng lớn trong
những năm gần đây về việc thuyết phục đối tác và đồng minh cho phép sử
dụng tàu và căn cứ quân sự, có thể tăng cường vị thế của Mỹ.
Hạn chế về ngân sách mà Hải quân Mỹ đang
phải trải qua hiện nay có thể sẽ dẫn đến việc Mỹ coi trọng hơn quan hệ
với các cường quốc biển đang trỗi dậy khác ở châu Á – Thái Bình Dương
hơn là các cường quốc đã có vị thế trong Chiến lược hợp tác của nước này
năm 2007.36
Cùng lúc đó, ở Trung Quốc nhiều người
nhìn nhận rằng, Hải quân Mỹ và Lực lượng Bảo vệ bờ biển đóng vai trò hỗ
trợ cam kết ổn định toàn cầu, bao gồm khu vực châu Á – Thái Bình Dương
nơi sự hiện diện cảu Mỹ có thể được coi là có lợi cho Trung Quốc, ít
nhất là làm giảm sự cần thiết mở rộng các cường quốc hải quân káhc trong
khu vực, và trong việc đóng góp vật chất cho việc quản lý những vấn đề
theo thứ tự ưu tiên như: cướp biển, buôn bán thuốc phiện và người, và
vấn đề ô nhiễm biển.37 Sự hiện diện của Mỹ ở các vùng biển gần Trung Quốc không nhất thiết luôn bị coi là trò chơi có tổng bằng 0.
Yếu tố hàng hải mang tính chiến lược
Chắc chắn có một yếu tố chiến lược lớn
đối với vấn đề Biển Đông, vì rõ ràng ngay từ đầu đây là cuộc tranh chấp
về quyền hàng hải và đây cũng là tuyến đường lưu thông của các tàu
thương mại mà toàn bộ hệ thống thương mại thế giới phụ thuộc vào. Theo
bà Cliton thì ‘Mỹ có lợi ích quốc gia đối với tự do hàng hải, tự do tiếp
cận các tài nguyên biển chung ở châu Á và tôn trọng luật quốc tế ở Biển
Đông’.38
Điều này tóm lại thành hai vấn đề cụ
thể. Vấn đề thứ nhất liên quan đến tuyến đường lưu thông không bị cản
trở của các tàu thương mại mà cả hệ thống thương mại thế giới chắc chắn
phải phụ thuộc vào. Đối với Mỹ, cũng như các nước khác, có một khía cạnh
văn hoá lớn hơn đối với khái niệm tự do ở các vùng biển liên quan.
Trước đây kể từ khi thành lập nền Cộng hoà điều này đã ảnh hưởng rất lớn
đến chính sách của Mỹ, thường có liên quan và bao gồm điểm tranh cãi.
Sự tự do trên biển có thể được mô tả bằng ngôn ngữ hầu như rất chung
hoà:
Tại đây bạn có thể mở rộng không giới
hạn và không có rào cản, tại đây bạn có cả đại dương rộng mỏ, điều mà
hiện nay trở thành phương thức liên lạc tuyệt vời của thiên nhiên. Không
có các ngọn núi khó vượt qua, không có các sa mạc nóng như lửa đốt, con
đường rộng mở… sau đó hãy tưởng tượng ra một con đường dẫn đến mọi nơi
và bạn sẽ có được gợi ý đầu tiên về ý nghĩa của sự tráng lệ này, giao
thông trên biển… Sự an toàn trong thời bình khỏi mọi mối đe doạ, cũng
như các hiểm hoạ thiên nhiên từ biển, với sự tự do của nó, các đường
giao thông lớn nhất, đông nhất, rộng mở cho tất cả, được tất cả mọi
người sử dụng, có ý nghĩa sống còn đối với cấu trúc hiện đại của nền văn
minh, là không bị thách thức.39
Trọng tâm của vấn đề này là khi sự tự do
của tuyến đường lưu thông thương mại trên biển bị cản trở, cộng đồng
thương thuyền quốc tế lớn hơn chắc chắn sẽ ngay lập tức trở nên lo ngại.
Do đó các lo ngại quốc tế về sự quan tâm lớn hơn đáng chú ý của Trung
Quốc đối với các hoạt động thăm dò thương mại của Việt Nam và
Philippines trở nên rõ hơn vào khoảng thời gian đầu năm 2011.40
Vào ngày 2/3/2011, 2 thuyền nhỏ tuần tra của Trung Quốc đã đối đầu với
tàu thăm dò MV Veritas Voyager của Philippin (Tàu của Pháp, được đăng ký
ở Xingapore và được tập đoàn năng lượng Forum Enegy PLC vận hành) ở khu
vực Reed Bank và yêu cầu tàu này rời đi.
Ngày 26/5 và 8/6/2011, tàu của Trung
Quốc đã cắt và phá huỷ các dây cáp địa chấn mà tàu thăm dò của Petro
Vietnam đang kéo đi trong khu vực Việt Nam coi là vùng đặc quyền kinh tế
của nước này.41 Mỹ cũng không đồng tình với sự thúc ép rõ
ràng lên các công ty dầu khí phương Tây như BP và ExxonMobil vào việc
không được tham gia vào các dự án khai thác với Việt Nam.42
Các cuộc tranh chấp khu vực như vậy có một số tác động đối với những
người ngoài cuộc, nhất là công ty nước ngoài thường có liên quan. Ví dụ,
tàu thăm dò Viking-2, có liên quan trong việc cắt dây cáp lần 2 trong tháng 6/2011 theo báo cáo được đăng ký ở Nauy.43
Thêm một minh chứng nữa, một công ty Canada là ‘Talisman Energy’ và
công ty của Pháp CGG Veritas cùng với ‘Forum Energy’ có trụ sở ở Anh đều
là đối tác trong các dự án khai thác của Petro Vietnam. Hơn nữa, Ấn Độ
cũng ngày càng liên quan nhiều hơn đến việc khai thác dầu trong các khu
vực nhạy cảm ở Biển Đông.44 Rõ ràng chính việc quốc tế hoá kinh doanh khai thác dầu đã biến vấn đề ở Biển Đông thành vấn đề toàn cầu.
Không kể đến điều này, thì vấn đề bất
đồng thực sự nằm ở khía cạnh thứ hai của tự do hàng hải, đó là việc di
chuyển và hoạt động của các tàu chiến. Bảo vệ điều này rõ ràng là vấn
đề ưu tiên chiến lược đối với Mỹ. Đô đốc hải quân Mike Mullen nói ‘Chúng
ta nhất định phải có thể tiếp tục phản ứng nhanh trong thời kỳ khủng
hoảng nhân đạo và phải kiên quyết trong thời kỳ có xung đột.’45
Dạng thức hiện diện tiền tiêu phụ thuộc vào hoàn cảnh của các khu vực
cụ thể. “Các lực lượng biến đổi theo sứ mệnh có yêu cầu thấp hơn, các sứ
mệnh ‘thúc đẩy sự ổn định, ngăn chặn khủng hoảng, và chống lại chủ
nghĩa khủng bố.’ Mặt khác yêu cầu phải có ‘khó khăn’ hơn như bảo vệ lợi
ích sông còn của Mỹ, bảo vệ bạn bè của nước này; ‘… và để ngăn cản,
khuyên can và nếu cần thiết thì đánh bại các thế lực thù địch tiềm ẩn.’46 Tuy nhiên, điểm chung của hai loại sứ mệnh này là sự cần thiết phải hoạt động ở các vùng duyên hải.
Tầm quan trọng của quan niệm này trong
tư duy Hàng Hải của Mỹ giải thích tại sao trước đây Mỹ tham gia nhiều
hoạt động tự do hàng hải với ‘thái độ’ trong quá khứ như các cuộc tuần
tra ở Vịnh sidra vào giữa nhữn năm 1980 và lần va chạm mạnh có liên quan
tới USS Caron và tàu chiến của Liên Xô trong biển Đen năm 1988.47
Các cuộc tranh chấp giữa Mỹ và Liên Xô ở Biển Đen, hoặc với Lybia ở khu
vực ‘đường tử thần’ vào những năm 1980, hoặc với Indonesia về cách hiểu
của nước này về quyền của các quốc gia có biển đảo đểu là các cuộc
tranh chấp về tự do hàng hải cùng lúc xuất hiện sự xung đột giữa cách
nhìn của khu vực và quốc tế về vai trò của các cường quốc biển.
Các khẳng định về cái mà Mỹ cho là quyền
của nước này được biện minh trong mắt người Mỹ thông qua một thực tế là
biển thực sự là một “ của chung” và việc chấp nhận sự ép buộc trong tự
do hàng hải ở một khu vực sẽ tạo tiền lệ có thể khiến nước này suy yếu
đáng kể ở các khu vực khác. Cũng có thể đưa ra luận điểm tương tự về
‘không phận quốc tế.’48
Theo đó, tự do hàng hải đã và đang trở
thành vấn đề dai dẳng đối với Trung Quốc và Mỹ. Theo cách Trung Quốc
hiểu về các điều khoản trong UNCLOS, nước này cho rằng tự do hàng hải
trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác thì hạn chế và có điều kiện
hơn so với cách hiểu của Mỹ, đặc biệt là khi các tàu chiến tìm cách sử
dụng quyền đó. Trung Quốc đã nhiều lần cố gắng làm rõ rằng tự do hàng
hải của các tàu thương mại ở Biển Đông không phải là một vấn đề. Do đó
tướng Trần Bỉnh Đức đã cho rằng:
“Ở Biển Đông, từ trước đến nay tự do
hàng hải chưa bao giờ là một vấn đề Tự do hàng hải như một cái cớ nhằm
làm nảy sinh vấn đề.”49
Hiện nay Trung Quốc thực sự cũng đang
gặp nhiều nguy cơ như các nước lớn khác ở hệ thống toàn cầu trong việc
di chuyển an toàn của khoảng 74.000 tàu thương mại chạy qua eo biển
Malacca và đi qua Biển Đông mỗi năm. Hơn nữa, các sự kiện gần đây cũng
cho thấy rằng Trung Quốc cũng dễ bị tổn thương như các nước khác, nhất
là đối với các hoạt động trái phép của Vệ tinh Cách mạng Iran ở vùng
Vịnh, sự cướp bóc của cải hải tặc Xômali hoặc là đối với sự hỗn loạn và
bất ổn ngoài khơi. Là một cường quốc về hàng hải đang lớn mạnh với các
lợi ích quốc gia ngày càng mở rộng và cộng đồng người Do Thái ngay càng
phát triển, Trung Quốc có vẻ như có mối quan tâm ngày càng lớn đối với
tự do hàng hải, đại dương của thế giới như là một ‘nguồn tài nguyên vô
hạn’ và trong việc ‘bảo vệ hệ thống’ toàn cầu. Theo đó, trong cuộc họp
ARF vào tháng 7 năm 2011, các quan chức Trung Quốc đề xuất được chủ trì
cuộc hội thảo về tự do Hàng hải. Trái lại Bắc Kinh lo ngại về tự do hàng
hải của các tàu chiến, đặc biệt là trong vùng Đặc quyền Kinh tế.50
Do đó, thiếu tướng Luo Yuan đã phát biểu: “Cái mà gọi là sự hiện diện
tiền tiêu thực chất là việc Mỹ có thể gửi các tàu chiến của nước này đến
mọi ngóc ngách của thế giới… theo cách này, Mỹ thậm chí có thể tuyên bố
rằng biển Đỏ và Biển Đông đều nằm trong ranh giới an ninh của nước
này.’51 Trung Quốc chỉ ra rằng tàu sân bay USS George
Washington đã chạy trên Hoàng Hải, và máy bay của tàu này có thể vươn
được tới Bắc Kinh. Nếu vậy văn hoá chiến lược bị ảnh hưởng rất lớn bởi
tính dễ bị tổn thương lịch sử của một nước trước các nguy cơ từ biển,
không chỉ ở khu vực cụ thể này, và trước các hậu quả tai hại cho Trung
Quốc nếu các hoạt động như thế này không bị ngăn cản, sự nhạy cảm của
người Trung Quốc đối với sự xuất hiện trái phép trong ‘các khu vực biển
của Trung Quốc’ là hoàn toàn có thể hiểu được.
Sự khác biệt trong góc độ văn hoá dẫn
đến vụ va chạm USNS Impeccable vào tháng 3 năm 2009 và trong thời gian
gần đây, dẫn đến những phản ứng dữ tợn từ phía Bắc Kinh, cho đến các
hoạt động được cho là của các tàu chiến Mỹ trong khu vực đặc biệt quan
ngại như biển Hoàng Hải.
Sự nhạy cảm của Trung Quốc được thể hiện qua phản ứng của Bắc Kinh đối với sự xuất hiện của hàng không mẫu hạm USS George Washington ngay sau tàu chiến ROKS Cheonan
mất tích, mặc dù Mỹ đã cố gắng làm rõ rằng khi đó Bắc Triều Tiên là mục
tiêu của cuộc thao diễn chứ không phải Trung Quốc. Cùng với sự phản
kháng mạnh mẽ về chính trị, PLA theo dõi vụ việc với nhiều hoạt động
phòng vệ vùng duyên hải có sự tham gia của tàu tấn công tên lửa có khả
năng cao Houbei của nước này, coi người Mỹ chịu trách nhiệm chính trị và
tiếp tục xây dựng ngành công nghiệp chống hàng không mẫu hạm. Trung
Quốc vẫn cho rằng hoạt động hàng hải trái phép của các nước khác trong
vùng đặc quyền kinh tế của nước này, kể cả cái mà nước Anh gọi là ‘thu
thập dữ liệu quân sự’ đều là một cách chuẩn bị cho trận chiến, và sẽ
gây tổn hại đến an ninh của Trung Quốc.52 Trung Quốc cho
rằng, điều này đã vi phạm điều 301 UNCLOS, yêu cầu các bên kiềm chế việc
đe doạ đến chủ quyền của bất kỳ nước nào khi thực hiện quyền của các
nước đó trên biển.
Việc PLA mở thêm căn cứ tàu ngầm mới ở
Tam Á, cùng với việc tiếp cận vùng nước sâu, rõ ràng đã củng cố thêm
những nhận thức như vậy. Liệu Trung Quốc có nên từ từ phát triển một
“pháo đài” nhằm tiếp cận việc triển khai SSBNs của nước này trong tưong
lai, tương tự như Liên bang Xô Viết đã làm ở vùng Biển Barents và Biển
Okhotsk trước đây, những vấn đề nhạy cảm trong thời gian đó rõ ràng ngay
càng tăng lên53. Cuối cùng, sự cố tàu Impeccable đã xảy ra chỉ cách 75 dặm hải lý so với căn cứ Hải quân Tam Á.54
Tuy nhiên, điểm gây tranh cãi nằm ở chỗ
mối quan tâm của họ về tự do hàng hải, người Mỹ cảm thấy họ có quyền lợi
lớn từ kết quả của các sự kiện diễn ra trên Biển Đông. Cuối cùng, nếu
những yêu sách về tất cả các điểm đảo ở Biển Hoa Đông và biển Đông của
người Trung Quốc được chấp nhận, nếu những điểm đảo này được phép tạo ra
vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm mà tương tự như “đường 9 đoạn”, và nếu
các viện dẫn của Trung Quốc về hoạt động quân sự nước ngoài được cho
phép trong vùng đặc quyền kinh tế được chấp thuận, thì các hoạt động hải
quân của Mỹ trong toàn bộ vùng này sẽ bị hạn chế tối đa. Trên thực tế,
một phần lớn ở phía Tây Thái Bình Dương sẽ là khu vực cấm Hải Quân Mỹ
xâm phạm ít nhất là dưới cách nhìn nhận của Trung Quốc. Vấn đề thống
nhất với Đài Loan sẽ ngày càng làm trầm trọng thêm vấn đề này.
Tóm lại, những yêu cầu của việc tham gia
lực lượng hải quân đa quốc gia, nhận thức về phạm vi hàng hải và sự
hiện diện tiếp theo đang được Hải quân Mỹ xem xét, phụ thuộc vào phạm vi
rộng lớn của tự do hàng hải. Tự do hàng hải là rất cần thiết trong cách
hiểu về hàng hải và chức năng của lực lượng hải quân. Do đó, sự nhạy
cảm của hải quân Mỹ đối với bất kỳ vấn đề gì mà có thể giới hạn sự tự do
đó, cho dù nó bắt nguồn từ các viện dẫn không mong muốn trong Luật hàng
hải quốc tế,55 hoặc sự xuất hiện của một môi trường chính
trị không được chấp nhận hoặc kiểu như các chiến lược về khu vực cấm xâm
nhập, cấm tiếp cận được cho là đang được PLA chuẩn bị.56
Cũng vì lý do này, gần đây Mỹ đã thay
đổi cách hành động để nhấn mạnh rằng việc duy trì lợi ích an ninh của Mỹ
ở khu vực châu Á vẫn được ưu tiên hàng đầu. Vì vậy, một vị chỉ huy
trưởng mới của lực lượng Hải quân, Đô Đốc Jonathan Greenert đã nhấn mạnh
mặc dù trên thực tế Hải quân Mỹ có lẽ phải tiết kiệm 450 tỷ USD trong
thập kỷ tới, việc xây dựng mối quan hệ vững chắc ở khu vực châu Á – Thái
Bình Dương sẽ vẫn được tiếp tục. Hiện nay, luôn có một tàu vận tải hiện
diện chiếm hơn 70% thời gian ở khu vực này, và các lực lượng Hải quân
đã được xây dựng ở Guam và Nhật Bản. Không khó để nhận thấy rằng đây rõ
ràng là phản ứng của Mỹ trước hành động của Trung Quốc.57
Ví dụ thái độ khó chịu bất ngờ của phản
ứng từ phía Trung Quốc đối với sự hiện diện được lên kế hoạch nhưng sau
đó đã bị huỷ của hàng không mẫu hạm US carrier George Washington trong
một cuộc diễn tập với Hải quân Hàn Quốc ở biển Hoàng Hải và một số bài
xã luận sau đó trên trang thời báo toàn cầu, bản tiếng Anh của tờ Nhân
dân Nhật báo chính thức, diễn tả luận điểm này, Bản tiếng Anh này có đề
cập:
“Trung Quốc chắc chắn cần xây dựng khả
năng chống tàu đáng tin cậy cao… Trung Quốc không chỉ cần một tên lửa
đạn đạo chống tàu, mà còn cần các cách thức triệt tiêu tàu khác… Vì nhóm
hàng không mẫu hạm tham chiến của Mỹ ở Thái Bình Dương tạo nên vật cản
đối với lợi ích chiến lược của Trung Quốc, nên Trung Quốc phải sở hữu
khả năng nhằm đối trọng.”58
Trong bối cảnh hiện nay Trung Quốc có vẻ
như đang bắt đầu tiến hành chiến dịch phát triển khả năng đẩy các lực
lượng của Mỹ vào tình thế nguy hiểm nếu tiến vào các vùng biển gần theo
cách mà Trung Quốc không đồng tình.
Chiến lược chống can thiệp và phong toả
khu vực đề ra sau đó, được đặt tên bởi những người có nguy cơ là nạn
nhân là một hệ thống phức tạp – một chiến lược chống can thiệp biển,
chiến lược này sử dụng các phương tiện tinh vi và có tính đàn hồi C4ISR
để kiểm tra và nhắm tới mục tiêu là các tàu nổi thù địch, và nhằm đe doạ
các tàu này bằng hàng loạt tên lửa đạn đạo và tên lửa chống tàu tuần
tra trên biển, được bắn ra từ các cứ điểm trên đất liền, các chiến hạm
có cứ điểm trên đất liền, các tàu ngầm, và các lực lượng chiến đấu trên
mặt đất cỡ nhỏ và vừa; tất cả kết hợp lại, có vẻ như là mọt cuộc tấn
công với độ chính xác cao nhằm làm suy yếu Hải quân Mỹ và các khả năng
điện tử của lực lượng chính xác không quân nhằm bảo vệ nước này và duy
trì các hoạt động mang tính công kích. Mỹ có vẻ ngạc nhiên trước tốc độ
xuất hiện quá nhanh của thành phần chính của chiến lược này, như khả
năng chống vệ tinh được công bố vào năm 2009, khả năng hoạt động ban đầu
của tên lửa đạn đạo chống tàu DF-21D và máy bay chiến đấu thế hệ 5 J-20
xuất hiện vào tháng 3 năm 2011. Vấn đề là cả hai sự phát triển khoa học
lớn này đều được công bố vào thời gian trùng hợp với các chuyến thăm
viếng quan trọng của Mỹ tới Bắc Kinh gây sự chú ý đối với các nhà quan
sát không chỉ là một chuyến thăm mang tính đối đầu.
Trong cái rõ ràng là một ‘sự đáp trả’
lại chiến lược A2/AD, hiện nay Lầu Năm Góc rõ ràng đang xem xét khái
niệm ‘hải-không chiến’ nhằm đưa ra một giải pháp có tính hệ thống đối
với hàng loạt thách thức công nghệ đặt ra từ chiến lược của Trung Quốc.
Nước này đã gia tăng lực lượng Hải quân ở Thái Bình Dương, và tham gia
vào một số hành động mạnh mẽ cần thiết nhằm ủng hộ lực lượng quân sự và
sự tín nhiệm trong việc ngăn cản ở khu vực. Sự xuất hiện công khai đồng
thời 3 tàu SSGNs lớp Ohio vào tháng 7 năm 2010 đã làm rõ điểm này.59
Các vụ va chạm đáng tiếc này cũng cho
thấy các tác động bất ổn tiềm tàng của các quan điểm khác nhau như vậy.
Đặc biêt vấn đề này có thể sẽ rất rắc rối trong các khu vực phía Tây và
Đông Biển Đông nơi mà vấn đề pháp lý và sự phân định ranh giới ở các
vùng Đặc quyền Kinh tế bị tranh chấp, dù dưới bất kì hoàn cảnh nào thì
hiện nay vẫn chưa được giải quyết. Ít nhất, các quan niệm khác nhau về
hiện trạng các khu vực biển gần đây giữa Trung Quốc và Mỹ có thể sẽ là
sự đánh giá quá thấp mức độ lợi ích của mỗi bên, hoặc có thể là của cả 2
bên, trong khía cạnh của giải pháp cho tranh chấp Biển Đông. Điều này
cũng gây nên các căng thẳng không mong muốn trong việc thực hiện hoạt
động kinh doanh bình thường trên biển ở các khu vực khác. Khi bổ sung
điều này vào một loạt căng thẳng khác giữa 2 nước về các vấn đề như bán
vũ khí cho Đài Loan, người đoạt giải Nobel và nhân quyền, việc định giá
đồng nhân dân tệ, khoáng sản khan hiếm trên trái đất và các vấn đề khác,
thì nhu cầu cần có một sự thấu hiểu gần gũi hơn chứ không phải xa cách
hơn trở nên rõ ràng.60 Trong bối cảnh này, thật dễ để thấy
rằng vấn đề Biển Đông nhìn một cách toàn diện có thể chiếm vị trí thấp
hơn như thế nào (trong tính toán của Mỹ-Trung – ND), rất có thể gây tổn
hại đến lợi ích của tất cả các nước trong khu vực.
Tầm quan trọng chiến lược của các vùng
biển hẹp nói chung và của Biển Đông nói riêng có thể sẽ định dạng chính
sách của 2 nước đối với khu vực bị tranh chấp, dẫn đêế các phản ứng từ
bên còn lại, điều này sẽ khiến tình hình trở nên nghiêm trọng. Tất cả
các phát triển này nhất định sẽ được các nhà quan sát ở trong khu vực
hay ngoài khu vực xem là không có ích đối với việc quản lý hoà bình
tranh chấp Biển Đông, chứ chưa nói đến giải pháp cuối cùng cho vấn đề và
có nguy hiểm tiềm tàng đối với an ninh và triển vọng của khu vực và do
đó đến thế giới rộng lớn hơn.
Tuy nhiên, cũng đáng nêu quan điểm rằng
các quốc gia bên ngoài có vẻ cũng đang phát triển các lợi ích chiến lược
có ý nghĩa đáng kể trong khu vực. Việc dịch chuyển lực lượng và triển
khai quân sự đáng chú ý của Nhật Bản về phía Nam trong những năm gần
đây, và thể hiện rõ gần đây nhất là việc ký hiệp định Đối tác Chiến lược
với Philipin.61
Tương tự, mối quan tâm của Ấn Độ đối với
khu vực này cũng phát triển đáng kể trong những năm gần đây như phần
chiến lược ‘Hướng Đông’ của nước này mà nhiều nhà phân tích cho rằng một
phần là kết quả của sự hiện diện của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương. Ấn Độ đã
và đang xây dựng một số mối liên kết quan trọng với Việt Nam và thách
thức gần đây nhất của INS Airavat có thể khiến Trung Quốc trở nên nhạy
cảm đối với sự phát triển này. Tất cả những điều này cùng với những diễn
biến gần đây trong chính sách hàng hải của Úc thực sự cho thấy rằng vì
một số các lý do khác nhau, biển Đông đang ngày càng trở thành trọng tâm
chiến lược của các cường quốc bên ngoài cho dù là các cường quốc trong
khu vực có thích điều đó hay không, và điều này hầu như cũng không giúp
giải quyết hay quản lý tình hình ở Biển Đông.
Kết luận: Người trong cuộc và người ngoài cuộc: Cần phải làm gì?
Tuy nhiên, các khía cạnh rộng hơn có vẻ
bi quan của bài viết này nên được bù lại bằng một số bài luận mang tính
tích cực mà các bạn có thể tìm thấy. Các ảnh hưởng gia tăng mà các vấn
đề rộng hơn này có thể có đối với việc quản lý và giải quyêt các tranh
chấp về Biển Đông có thể được hoà giải bằng một số các đối trọng trong
chính sách:
Giữ một ý thức về tầm vóc
Rõ ràng, vai trò của Trung Quốc trong
tương lai trong bối cảnh toàn cầu là một trong những vấn đề lớn mà các
nhà lãnh đạo thế giới phải đối diện.62 Dù đúng hay sai, chính
sách của Trung Quốc đối với Biển Đông được xem như là mọt dẫn chiếu về
việc vai trò của nước này trong tương lai có thể như thế nào. Đối với
thế giới bên ngoài, mặc dù họ không tuyên bố chủ quyền đối với vùng bị
tranh chấp này, thì vấn đề này vẫn có nhiều nguy cơ. Nhưng cũng do vậy
mà vấn đề ở Biển Đông được đặt trong bối cảnh quốc tế lớn hơn nhiều. Vấn
đề này không chi phối tu duy của Trung Quốc hay của Mỹ nhưng lại chỉ ra
khía cạnh của một loạt các mối lo ngại phức tạp chồng chéo nhau và cả
sự chiếm đóng trước. Trong nhiều mối quan tâm lớn hơn, đặc biệt là các
mối liên kết giữa hai nước về mặt kinh tế đã khuyến khích việc nhìn nhận
việc trở thành đối tác của nhau hơn trở thành đối thủ của nhau do vậy
gần đây có vẻ như đã có nhiều bù đắp cho các xung đột trong quá khứ về
các bất động quan điểm trong vấn đề Biển Đông. Mục đích chung hơn cần
phải hơn cần phải duy trì sự việc theo định hướng này.63
Điều này cũng đúng đối với các diễn viên
bên ngoài trong vở kịch ở Biển Đông. Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và Liên minh
Châu Âu rõ ràng cũng có nhiều lợi ích quan trọng trng tình trạng nguy
hiểm đối với vấn đề này. Nhưng dù sao các nước này cũng có thể có các
lợi ích quan trọng hơn trong mối quan hệ tích cực với Trung Quốc, không
chỉ trong lĩnh vực thương mại. Nhật Bản, Ấn Độ và Úc – các đồng minh
chiến lược của Mỹ – đều có quan hệ kinh tế quan trọng với Trung Quốc và
do đó có lợi ích bao trùm để giữ cho các lợi ích đó không bị ảnh hưởng.
Theo cách nhìn của những người ngoài cuộc, Biển Đông là một vấn đề nhưng
không phải là trung tâm trong chiến lược của họ. Ví dụ, Ấn Độ có vấn đề
trong quan hệ với Trung Quốc song nhìn chung coi quan hệ liên quan đến
kinh tế và các quan hệ khác nhau giữa hai nước “khá tốt.”64 Tương tự như vậy, Úc có lý do để nghĩ nước mình là “một người bạn với hai siêu cường.”65
Tham gia tranh luận thực sự về tự do hàng hải
Vấn đề tự do hàng hải không tĩnh và bất
biến như bản thân nhữn vùng biển; trong những năm qua cuộc tranh luận về
điều này đã thay đổi về mặt nội dung để tương ứng với hoàn cảnh quốc tế
đang thay đổi, và có lẽ sẽ tiếp tục như vậy. Nhìn lại lịch sử hàng hải
rốt cuộc thì chúng ta có thể thấy thái độ của Mỹ về vai trò toàn cầu của
mình đã thay đổi trong những năm qua. Trong khi các cuộc khai thác xa
bờ của John Paul Jones ngoài khơi Anh trong chiến tranh độc lập Mỹ hoặc
là các chiến dịch chống lại cướp biển Bắc Phi đầu thế kỷ 19 là một phần
trong lịch sử hải quân Mỹ, cách tiếp cận của Washington đối với các vùng
biển gần trong thời đại học thuyết Monroe không khác cách tiếp cận ngày
nay của Trung Quốc. Dường như mọi chuyện đã thay đổi rất nhiều!
Khi đó, tính minh bạch và sự sẵn sàng
lớn hơn để giải quyết, xác định và làm rõ các cách hiểu khác nhau về các
quy định của UNCLOS về vùng đặc quyền kinh tế cũng như việc tuân thủ
mang tính sách lược hơn đối với quy trình an toàn trên biển đặc biệt
trong cuộc đụng độ gần đây như kiểu của Impeccable sẽ cải thiện bầu
không khí rất nhiều. Rất nhiều người cho rằng việc Trung Quốc minh bạch
hơn về các vấn đề pháp lý như đường 9 đoạn sẽ làm sáng tỏ vấn đề và giảm
nguy cơ phân tích tình huống xấu nhất về động cơ và ý định của Trung
Quốc. Người ta ít chú ý rằng, điều tương tự cũng sẽ áp dụng cho các
tuyên bố và chính sách của Trung Quốc về vấn đề tự do hàng hải cũng sẽ
báo động Mỹ và đóng vai trò trong tham vọng của nước này khẳng định lợi
ích một cách mạnh mẽ. Ví dụ, khi cố gắng xoa dịu các cuộc tranh cãi vào
mùa hè năm 2010, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Đại tá Geng
Yansheng rõ ràng nhận xét: “Phù hợp với yêu cầu của luật pháp quốc tế,
chúng tôi sẽ tôn trọng sự tự do đi lại của tàu thuyền hoặc máy bay từ
những nước liên quan với điều kiện các nước này cũng tôn trọng luật phát
quốc tế.”66 Điều này trên thực tế rất mơ hồ, không rõ ràng.
Tuyên bố này có bao gồm tàu và máy bay quân sự hay không? Chữ “đi lại”
(passage) có nghĩa là gì? Tuyên bố này có nghĩa rằng Trung Quốc bảo lưu
quyền xem xét hành động của tàu thuyền để xem liệu tàu đó có phù hợp với
các lý giải của Trung Quốc về luật quốc tế không? Các nước liên quan
(relevant countries) nghĩa là gì? Và vân vân. Tất nhiên điều này có thể
do vấn đề trong cách dịch, hoặc do việc phản ánh thông tin của báo chí,
thiếu sự thống nhất và hợp tác giữa các cơ quan khác nhau của chính phủ
Trung Quốc chứ ít có khả năng là một kế hoạch tính toán nào đó để hưởng
lợi từ sự mập mờ, nhầm lẫn mà người tiếp nhận thông điệp gặp phải. Tuy
nhiên, cách này cũng không giúp giải quyết vấn đề. Một sự rõ ràng hơn
dường như cũng lợi ích của tất cả các bên liên quan, bao gồm cả Trung
Quốc. Sự rõ ràng sẽ cho phép các nước tranh chấp nói chuyện với nhau, chứ không phải nói chuyện thông qua nhau về vấn đề nan giải này.
Tiết chế việc hiện đại hóa hải quân
Một điểm nữa có thể để cho thế giới hoặc
ít nhất là các quốc gia khu vực không phản ứng thái quá về các chương
trình hiện đại hoá hải quân của các bên ở tranh chấp Biển Đông. Theo rất
nhiều cách các chương trình này dường như là bước phát triển tự nhiên
của các nước đang tăng trưởng kinh tế tốt và nhận thấy mức độ mà hoà
bình và thịnh vượng của mình phụ thuộc vào chính mình. Thêm vào đó, tốc
độ hiện đại hoá hải quân dường như không nhanh như các chuẩn mực trong
lịch sử – so sánh với việc hiện đại hoá hải quân của Đức đầu thế kỷ
trước hoặc của Nhật và Mỹ. Ngoại trừ Trung Quốc và Mỹ, tốc độ chi tiêu
quốc phòng so với tỉ lệ tăng trưởng GNP của các nước khu vực là khá
thấp, và thực tế còn đi xuống trong rất nhiều trường hợp. Ví dụ, tỉ lệ
của Malaysia giảm từ 3,3% năm 1991 xuống còn 2,1% năm 2007. Trong các
thuật ngữ công khai, các chính trị gia và lãnh đạo hải quân thường tránh
căn bệnh và các giọng điều bài ngoại vốn đi kèm với các lực lượng hải
quân trước đây. Họ dường như thực sự muốn phát triển khả năng hải quân
mạnh để thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau hơn là răn đe một vài quốc
gia trong khu vực. Vì tất cả các lý do trên, các mối nguy hiểm vẫn còn
đó và có chút động lực cho việc tăng cường tập trung vào hợp tác hải
quân đa quốc gia, điều trên thực tế phát triển chậm, cùng với những căng
thẳng trên. Ví dụ, ở Đối thoại Shangri-La tháng 6/2011, Tướng Phùng
Quang Thanh chỉ ra thành công của cách tiếp cận đa phương với vấn đề ở
Eo Malacca, và nói:
“Tương tự như vậy, Hải quân Việt Nam gần
đây tăng cường các hoạt động hợp tác với các cuộc tuần tra chung, thiếp
lập đường dây nóng với hải quân Trung Quốc, Thái Lan và Camphuchia cũng
như các cuộc tuần tra phối hợp với Malaysia và Indonesia.”67
Trong khi đó, nhiệm vụ của các bên là cố
gắng tìm kiếm giải pháp hạ nhiệt, và trong tình huống này, việc gần đây
thiết lập “đường dây nóng” giữa Việt Nam và Trung Quốc, tổ chức các
cuộc tuần tra hải quân chung giữa Việt Nam và Trung Quốc, nối lại các
đoàn trao đổi quân sự giữa Mỹ và Trung Quốc và các chuyến thăm đa dạng
gần đây của Bộ trưởng Gates, Đô đốc Mike Mullen đến Bắc Kinh nên được
gọi là các bước phát triển đầy hứa hẹn.68 Tính đến những tác
động có thể có của quan hệ đối đầu chiến lược Trung-Mỹ trong tranh chấp
Biển Đông, việc tăng cường quan hệ giữa các quốc gia này và đặc biệt là
mối quan hệ giữa quân đội các nước thông qua các thể chế như Hiệp định
Tham vấn Quân sự Biển cần được coi trọng hơn nữa.
CHÚ THÍCH:
1. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là rất nhiều điểm trong diễn văn của bà
Cliton có thể đoán trước được trong một tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ
ngày 10/05/1995. Rất ít điểm trong bài diễn văn này thực sự gây bất ngờ.
2. ‘China Warns US to Stay Out of Islands Dispute’ New York Times, 26 July 2010.
3. Halford Mackinder, Britain and the British Seas (London: D. Appleton & Co Ltd., 1914) p 12.
4. ‘US takes on Maritime Spats’ Wall Street Journal 24 July 2010.
5. ‘Not Littorally Shangri-La’ The Economist 9 June 2011.
6. ‘Behind recent gunboat diplomacy in the South China Sea’ IISS Strategic Comments, August 2011.
7. ‘Navy Flagship to patrol PH waters only, says Palace, Philippine Daily Inquirer 21 June 2011.
8. ‘Vietnam demands China stop sovereignty violations’ Thanh Nien Daily, 30 May 2011.
9. ‘Chinese fishing boats violate Vietnam waters: gov’t mulls patrol boats’ Thanh Nien Daily, 29 May 2011.
10. ‘Japan tarpeted by cyber attacks “from China”’ The Telegraph,
20 Sep 2011. Việc các cuộc tấn công vào các nhà thầu vũ khí của tập
đoàn công nghệ nặng IHI và Mitsubishi trùng với ngày kỷ niệm của sự kiện
Mãn Châu năm 1931, khiến cho các phương tiện truyền thông đổ thêm dầu
vào lửa rằng các hacker Trung Quốc chính là người thực hiện chuyện này.
Chính phủ Trung Quốc phủ nhận việc dính líu này, chỉ ra rằng nước này là
mục tiêu của rất nhiều vụ hacking.
11. ‘ASEAN Navy Chiefs to Set up hotline amid maritime territory dispute’ Bangkok Post, 5 August 2011.
12. ‘Indonesia/Vietnam Agree Joint maritime Patrols’ AFP 15 Sept 2011.
13. Christian Le Miere, Waves of Concern: Southeast Asian States Plan Naval Defences, Jane’s Intelligence Review, May 2011, pp 8-13; ABC Asia pacific News, ‘China criticzes Vietnam’s decision to renovate airtrip on Spratlys.’
14. ‘Cbina launches more large-scale military exercises’ AFP 3 Aug
2010; ‘Chinese military holds naval drills in South China Sea’ The Straits Times, 4 November, 2010; ‘Tensions rise in South China Sea’ Jane’s Defence Weeky, 22 June 2011.
15. Christian Le Miere, Waves of Concern: Southeast Asian States Plan Naval Defences, Jane’s Intelligence Review,
May 2011, pp 8-13. Tuy nhiên, khát vọng của Hải quân Thái Lan theo
hướng này đã bị kéo chậm trở lại. ‘Submarine plan torpedoed,’ Bangkok Post, 20 Sep 2011.
16. ‘Vietnam looks to expand coastal defence assets’ Jane’s Defence Weekly 24 Aug 2011.
17. ‘Phillippines to boost S. China Sea Defences’ Straits Times, 8 Sep 2011.
18. Yang Fang, China’s new marine Interests: implications for Southeast Asia RSIS Commentary,
China’s new marine Internests: impliucations for Southeast Asia China’s
new marine Interests: impliucations for Southeast Asia, June 2011.
19. ‘Chinese marine patrol ship Haixun 31 arrives in Singapore for visit,’ Xinhuanet 19 June 2011.
20. ‘Chinese fishing boats violate Vietnam waters: gov’t mulls patrol boats’ Thanh Nien Daily, 29 May 2011.
21. ‘Twist of fate sees old foes as allies in power tussle’ Financial Times, 15 June 2011.
22. “China confronted Indian warship off Vietnam’ Financial Times,
1 Sep 2011. Mặc dù còn chưa rõ ràng song đây cũng là một sự kiện quan
trọng. Vì con tàu (của Ấn Độ) này dường như đang trên đường di chuyển và
chưa thực hiện cuộc diễn tập nào, hay thu thấp các thông tin quân sự,
hoặc đang trong bất kỳ dạng chiến dịch nào, điều này gây hoài nghi cho
các tuyên bố trước đây của Trung Quốc rằng nước này sẽ “tôn trọng sự tự
do đi lại của tàu thuyền hoặc máy bay từ các nước liên quan, miễn là
điều này phù hợp với luật pháp quốc tế.” Ben Blanchard, ‘China says Will
Respect South Seas Navigation Freedom’ Reuters, 31 July 2010.
23. ‘US Joins Naval Drill in Southeast Asia’ Xinhuanet 17 June 2011.
24. ‘US Vietnam in Exercises Amid Tensions with China’ Wall Street Journal 16 July 2011.
25. ‘Joint Drill to be held in S China Sea’ The Yomiuri Shimbun, 9 July 2011.
26. Mark Valencia trong bài viết của mình ở Hội nghị năm 2010 đã chỉ
ra tầm quan trọng của cụm từ trong tuyên bố của Clinton: “những yêu sách
chủ quyền hợp pháp ở Biển Đông nên chỉ đến từ các tuyên bố chủ quyền
hợp pháp đối với các đảo đất” như là minh chứng cho điều này. ‘The South
China Sea: Back to the Future.’ ‘Obama Administration Takes a Tougher
Tone with China’ Washington Post 30 July 2010.
27. Quoted in ‘South China Sea Dispute: Harbinger of regional Strategic Shift? Asahi Shimbun, 10 Sep 2011.
28. ‘China warns US to Stay of Islands Disputte’ New York Times
28 July 2010. Tất nhiên, “Hiệu ứng Netizen” cũng tác động đến các nước
yêu sách trong tranh chấp Biển Đông. Với Việt Nam, những thay đổi trong
các sự kiện đầu năm 2011 đã chứng tỏ điều này. Thomas J. Christensen,
“Posing Problems without Catching Up: China’s Rise and Challenges for US
Security Policy’ International Security, Spring 2011, pp 5-40.
29. Mastro, op cit, p 225. Li Mingjiang, China’s new security posture: Non-confrontational assertiveness, The Straits Times, 19 May 2011.
30. Quoted in William Choong, “Mistrusts hurts naval cooperation in region’ The Straits Times, 27 May 2011.
31. Charkles Kruathammer, ‘America Rules: Thank God’ and James Chace ‘A Sunlit America Summer’ both in Time, 4 Aug 1997.
32. Andrew F. Hart and Bruce D. Jones, ‘How Do Rising Powers Rise?’ Survival Dec 2010-January 2011.
33. ‘Race on for next generation of anti-ship missiles’ The Straits Times 11 Jan 2011.
34. Admiral Mike Mullen, in John B. Hatttendorf, Seventeenth Annual Seapower Symposium: Report of Proceedings [Newport: Naval war College Press, 2005] p 5.
35. NOC2010, op cit p 36.
36. Address of Admiral Jonathan W Greenert to the 20th International Seapower Symposium, 19 Oct 2011.
37. Wu Xinbo ‘The End of the Silver Lining: A Chinese View of the US-Japanese Alliance, The Washington Quarterly 29, no 1 2005-06.
38. ‘Walker’s World: US draws line in sea’ United Press International, 26 tháng 7 2010.
39. Dixon, W. MacNeile, The Fleets Behind the Fleet (London: Hodder & Stoughton, ?1917) trang 94.
40. Carlyle A. Thayer, China’s New Wave of Aggressive Assertiveness in the South China Sea bài nghiên cứu trong hội nghị về An ninh hàng hải ở Biển Đông, CSIS, Washington DC thán 6 20-21 2011. Tháng 6
41. ‘Tensions rise in South China Sea’ Jane’s Defence Weekly,
22 tháng 6 2011; Luận điểm này được nhắc lại trong cuộc đối thoại năm
2011. Một trong ba vụ việc trên do đại tướng Phùng Quang Thanh báo cáo,
vụ việc xảy ra ‘trong vùng Đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam.’
Nhận xét tại cuộc đối thoại Shangri-La cả IISS ngày 5 tháng 6 năm 2011.
Vụ việc được báo cáo xảy ra cách bờ biển Việt Nam 120 hải lý.
42. Alluded to in Robert Gates’ statement at the Shangri-La Dialogue
of 2008. See Clive Schofield and Ian Storey ‘The South China Sea
Dispute: Increasing Stakes and Rising Tensions’ Jamestown Foundation,
thán 11 2009, trang 39. Luận điểm này được nhắc lại trong cuộc đối thoại
năm 2011. Mức độ áp lực của Trung Quốc lên các công ty dầu khí nước
ngoài, được báo cáo càng ngày càng rõ trong thời gian gần đây. Wikileaks
cho hay. “Beijing pressure intense in South China Sea row” South China Morning Post 23 tháng 9 2011.
43. ‘Vietnam accuses China of harassing another boat’ Reuters, 9 tháng 6 2011.
44. ‘India, Vietnam Explore Waters Claimed by China’ Defense News 10 tháng 10 2011.
45. ‘What I believe: Eight Tenets That Guide my vision for the 21st Century Proceedings of the USNI, thán 1 2006, trang 14.
46. NOC2010, op cit, trang 32.
47. Vấn đề này sau đó đã được giải quyết thông qua Hiệp định Xô-Mỹ
được ký ngày 23/09/1989 tại Jackson Hole, Wyoming trong đó Liên Xô đồng ý
về quyền của Tàu chiến nước ngoài được qua lại “vô hại” những vùng nước
có chủ quyền và đổi lại Mỹ đã đồng ý không tham gia thêm nữa vào các
hoạt động tự do hàng hải như vậy nữa. Vấn đề gây tranh cãi ở đây là
quyền của nước ngoài trong vùng Biển có chủ quyền không phải vùng đặc
quyền kinh tế.
48. ‘Chinese jets cannot chase spy planes away says US admiral’ The Independent, 27 tháng 7 2011.
49. ‘China warns US to stay out of South China sea dispute’ Jane’s Defence Weekly, 20 tháng 7 2011. Indeed,
50. Michael Parkinson, ‘Collision Course: China and US make waves in South China Sea’ Jane’s Intelligence Review May 2009. ‘China navy criticizes dispatch of US destroyers: state media’ AFP electronic report accessed in http:// www.spacewar.com/reports 16 Mar 2009. For a balanced review of this complex issue see Klein, Natalie, Maritime Security and the Law of the Sea
(Oxford: OUP, 2011) pp 2217-224. Klein argues that intelligence
gathering in the EEZ is legal, but wonders whether this is desirable (p
221). This was also the 2005 view of the regional experts who reviewed
the issue in 2005. See Sam Bateman’s ỉntoduction to ‘Prospective
Guidelines for Navigation and Overflight in the Exclusive Economic Zone’
144 Maritime Studies, trang 17, 23.
51. Luyo Yuan, ‘PLA General: US engaging in gunboat diplomacy’ People’s daily, 12 tháng 8 2010. Trích nguồn tại Manicom, op cit.
52. Ren Xiaofeng và Cheng Xizhong, ‘A Chinese Perspective’ Marine Policy 29, số 2, 2005, trang 139-146.
53. Tetsuo Kotani, What China Wants South China Sea, The Diplomat, 18 tháng 7 2011.
54. Oriana Skylar Mastro, ‘Signalling and Military Provocation in Chinese National Security Strategy’ Journal of Strategic Studies, tháng 4 2011, trang 219-244. P 220. Mark Valencia, “the Impeccable Incident: truth and Consequences,’ China Security Spring 2009.
55. Ủng hộ một tuyên bố mạnh mẽ vị trí của Mỹ về vấn đề này liên quan đến USNS Impeccable, xem James Kraska, ‘Sovereignty at sea’ Survival Vol 51, số 3, tháng 6-7/2009, trang 13-18.
56. Office of the Secretary of Defense, Military Power of the People’s Republic of China,
2009 (Washington D.C.: Department of Defense, 2009) trang 20-24. Xem
thêm Andrew S Erickson and David D Yang, Using the Land to Control the
Sea? Chinese Analysts Consider the Antiship Ballistic Missile’ in US Naval War College Review,
Autumn 2009, trang 37-86. This discusses the significance of a number
of papers produced to this effect by China’s National Defence
University. Eric Hagt and Mathew Durnin, China’s Anti-ship Ballistic
Missiles, US Naval War College Review Autumn 2009, trang 87-115. trang 91.
57. ‘For US Navy, Asia is crucial priority: admiral’ AFP ngày 19/10/2011.
58. Staff Writers AFP Beijing, 7 Sep 2010 ‘China Needs ‘carrier-killer missile: press’ citing Global Times 6 Sep 2010. This was unexpected since China did not protest against the presence of the George Washington in the Yellow Sea in 2009.
59. ‘Missiles Deployed near China Send a Message’ Time magazine, 8 tháng 7 2008.
60. ‘Washington adds China to Clinton’s Asia-Pacific Tour’, Global Times, 28 tháng 10 2010.
61. Japan, Philippines agree ‘strategic’ ties, Jane’s Defence Weekly, 5 tháng 10 2010.
62. Timothy Garton Ash, ‘Europe’s crisis is China’s opportunity. No wonder niec Mr Wen in on his way’ The Guardian, 23 tháng 6 2011.
63. ‘Panetta praise China’s response to Taiwan arms sale’ AFP 23 tháng 10 2010.
64. ‘India PM concedes problems in China relation’s AFP 20 Oct 2011.
65. ‘Malcolm Turnbull, ‘A friend to two giants, The Guardiam, 6 Oct 2011.
66. Được trích trong Ben Blanchard, ‘China says Will Respect South Seas Navigation Freedom’ Reuters, 31 July 2010.
67. Phát biểu tại Đối thoại IISS Shangri-La, 5/6/2011.
68. Hotline to ease Vietnam-China tensions, Jane’s Defence Weekly, 7 Sep 2011; ‘Vietnam Holds navy Drill Amid China Spat’ Washington Post, 20 June 2011; ‘China, US Agree on navy Drills, Dispute over South China Sea’ Beijing Review 12 July 2011.




















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét