Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

9/12/11

TƯƠNG LAI CỦA TRUNG QUỐC TẠI MIANMA SẼ RA SAO?

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ năm, ngày 8/12/2011

TTXVN (Băng Cốc 4/12)

Theo nhà phân tích Aung Zaw, tổng biên tập báo “Irrawaddy” có trụ sở tại tỉnh Chiang Mai của Thái Lan, vào thời điểm Ngoại trưởng Mỹ có chuyến thăm lịch sử tới Mianma, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã lên tiếng bày tỏ ủng hộ việc cải thiện quan hệ giữa Mỹ và Mianma. Tuy nhiên, tiềm ẩn sau biểu hiện bề nổi này là lo ngại đang tăng lên của Bắc Kinh khi Mianma vươn tới Mỹ.


Tổng thống Mianma Thein Sein và lãnh đạo đối lập Aung San Suu Kyi đều khẳng định Mianma sẽ duy trì quan hệ hữu hảo với Trung Quốc. Người phát ngôn Hạ viện Mianma, ông Shwe Mann cũng nói rằng mọi cải thiện quan hệ với Mỹ sẽ không làm giảm tầm quan trọng của mối quan hệ hữu nghị giữa Mianma và Trung Quốc vì “chúng ta sẽ tiếp tục đường hướng đối ngoại cùng tồn tại hòa bình với mọi quốc gia trên thế giới”. Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng “với làn gió bất lợi đối với Trung Quốc đang thổi ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, những lời đảm bảo đó của Nâypiđô dường như không đủ làm yên lòng người khổng lồ phương Bắc”.

Kể từ khi Mianma giành được độc lập năm 1948 đến nay, quan hệ giữa Mianma với Trung Quốc cũng đã trải qua nhiều thăng trầm. Đầu những năm 1950, hai nước nhất trí tuân thủ 5 nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình trong quan hệ trong quan hệ quốc tế, gồm tôn trọng chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược lẫn nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, và cùng tồn tại hòa bình. Thế nhưng trong những năm 1960 Trung Quốc đã gọi nhà lãnh đạo Mianma, ông Ne Win là “phát xít” và ra sức ủng hộ lực lượng du kích cộng sản lật đổ chính quyền của ông Ne Win. Nỗ lực này của Trung Quốc sau đó thất bại và dẫn đến cuộc bạo động chống lại người Hoa năm 1967. Sau khi Mao Trạch Đông qua đời, Bắc Kinh giảm dần ủng hộ lực lượng du kích cộng sản và từng bước cải thiện quan hệ với chính phủ xã hội chủ nghĩa do ông Ne Win lãnh đạo. Từ cuối những năm 1980, Trung Quốc đã bắt đầu thúc đẩy quan hệ với lãnh đạo quân sự tại Mianma và gia tăng ảnh hưởng chính trị và Kinh tế tại Mianma. Năm 1988, sau khi chính quyền quân sự mới ở Mianma lên nắm quyền và tiến hành trấn áp những người biểu tình đòi dân chủ, bắt giữ bà Aung San Suu Kyi và phớt lờ kết quả cuộc tổng tuyển cử năm 1990, các nước phương Tây đã ngừng mọi trợ giúp cho Mianma và áp đặt các biện pháp chống nước này. Trung Quốc đã lập tức nhảy vào thế chân bằng cách cung cấp vũ khí, trợ giúp tài chính, cơ hội kinh tế và che chắn ngoại giao cho chính quyền Mianma. Đáp lại, giới tướng lĩnh Mianma đã giành cho Trung Quốc nhiều cơ hội kinh doanh và hợp đồng béo bở tại Mianma, đặc biệt là quyền khai thác nguồn tài nguyên ở Mianma. Trung Quốc giờ đây đã trở thành đối tác kinh tế lớn nhất của Mianma, với giá trị thương mại đạt 4,4 tỷ USD trong năm 2010 và tổng vốn đầu tư đến thời điểm này đạt gần 16 tỷ USD. Mianma cũng dần trở thành đồng minh địa chính trị đáng tin cậy nhất của Trung Quốc và các nhà lãnh đạo Mianma thậm chí còn công khai ủng hộ Trung Quốc trong nhiều vấn đề, kể cả vụ đàn áp biểu tình ở Thiên An Môn. sự ủng hộ lẫn nhau này đã củng cố mối quan hệ mà hai nước gọi là “anh em” với các chuyến thăm cấp nhà nước diễn ra thường xuyên.

Tuy nhiên, đối với phần lớn người dân Mianma, khái niệm “tình hữu nghị anh em chẳng có ý nghĩa gì”. Trên thực tế, họ phản đối Trung Quốc ủng hộ chính quyền quân sự độc tài, cho rằng Trung Quốc đã không giúp ích gì cho việc cải thiện đời sống của người dân Mianma, không ủng hộ các nỗ lực thúc đẩy dân chủ của phe đối lập và đáng sợ hơn là họ lo hại Mianma có nguy cơ trở thành thuộc địa của Trung Quốc. Kết quả, làn sóng bài Hoa ngày càng gia tăng trong giới tướng lĩnh quân đội và nhiều người tin rằng sự ủng hộ của Trung Quốc đối với chính quyền Mianma chẳng qua nhằm khai thác nguồn tài nguyên của Mianma và khai thông con đường chiến lược tiếp cận Ấn Độ Dương. Trái ngược với Trung Quốc, trong hai thập kỷ qua Mỹ và phương Tây không ngừng chỉ trích và cô lập Chính quyền quân sự Mianma cả về chính trị lẫn kinh tế và ủng hộ các nố lực đấu tranh đòi dân chủ và quyền con người của người dân Mianma. Tuy nhiên, trong khi các nỗ lực cô lập và cấm vận của phương Tây đối với Chính quyền quân sự Mianma được những người dân bị đàn áp hoan nghênh thì các nỗ lực đó cũng đồng thời đẩy các tướng lính trong giới quân sự Mianma gắn chặt hơn vào vòng tay Trung Quốc.

Nếu như phương Tây đã trao cho Trung Quốc cơ hội gần gũi với Mianma sau cuộc đảo chính quân sự năm 1988 thì trong những năm gần đây, sự thái quá của Bắc Kinh trong các nỗ lực thống trị nền kinh tế cũng như các nguồn tài nguyên của Mianma và việc Bắc Kinh cũng ngộ nhận sự trung thành của các tướng lĩnh Mianma đối với họ đã trao cho Mỹ và các nước phương Tây cơ hội đảo ngược tình thế. Nền tảng làm xuất hiện cơ hội này xuất hiện năm 2009 khi chính quyền Obama áp dụng chính sách mới, vừa can dự xây dựng vừa duy trì cấm vận chống Nâypiđô. Ban đầu chính sách này tỏ ra không hiệu quả khi Thống tướng Than Shwe “chế nhạo” Mỹ bằng cách tổ chức một cuộc bầu cử mà nhiều người cáo buộc gian lận trong năm 2010 nhằm đảm bảo các tướng lĩnh và cựu sĩ quan quân đội tiếp tục nắm giữ quyền lực dưới sắc áo dân sự. Tuy nhiên, khi tân Tổng thống Thein Sein nhận nhiệm sở và phát đi thông điệp rõ ràng rằng ông muốn tìm kiếm sự công nhận của quốc tế và muốn phương Tây dỡ bỏ các cấm vận, chính sách ngoại giao mới của ông Obama bắt đầu phát huy hiệu quả mà bằng chứng là những chuyển biến và cải cách tích cực gần đây ở Mianma. Chuyển biến quan trọng nhất là việc ông Thein Sein và chính phủ của ông mời bà Suu Kyi tham dự một cuộc họp ở Nâypiđô, dỡ bỏ nhiều hạn chế đối với truyền thông, trả tự do cho gần 200 tù chính trị, ngừng dự án thủy điện do Trung Quốc đầu tư xây dựng, bắt tay thảo luận ngừng bắn với các nhóm vũ trang thiểu số, thông qua luật lao động mới và sửa đổi Luật đăng ký chính đảng để cho phép bà Suu Kyi và đảng Liên minh Quốc gia vì dân chủ (NLD) của bà được đăng ký tham gia tranh cử trong các cuộc bầu cử tương lai. Bên cạnh đó, ông Thein Sein cũng phái ngoại trưởng tới Oasinhtơn và nồng nhiệt chào đón đặc phái viên Mỹ Derek Mitchell tới Nâypiđô. Các nỗ lực của ông Thein Sein đã nhận được một số đền đáp, trong đó có việc hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) nhất trí trao cương vị Chủ tịch luân phiên cho Mianma vào năm 2014; bà Suu Kyi và đảng NLD nhất trí đăng ký tham gia tranh cử trong cuộc bầu cử bổ sung sắp tới, ông Obama quyết định cử bà Clintơn tới Mianma và trong chuyến thăm Mianma cuối tuần qua bà Clintơn đã dành cho Mianma một số cam kết, trong đó có việc nới lỏng các hạn chế về viện trợ nước ngoài và ngừng phong tỏa Mianma tiếp cận các ngân hàng và các tổ chức tài chính quốc tế.

Trong tất cả các diễn biến mới nhất, ông Thein Sein đều tìm cách phát đi tới Trung Quốc các tín hiệu lẫn lộn có chủ đích. Đầu tiên, ông “thả quả bom tấn” khi đột ngột thông báo ngừng dự án thủy điện Myitsonne, sau đó cử tân Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang, Tướng Min Aung Hlaing tới thăm Việt Nam, đối thủ của Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông, để ký thỏa thuận hợp tác quốc phòng, trước khi tới thăm Bắc Kinh. các động thái này diễn ra vào thời điểm Chính quyền Obama triển khai kế hoạch tăng cường hiện diện ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và tỏ rõ ý đồ biến Mianma thành một trong các trọng tâm của kế hoạch, đã khiến Bắc Kinh có lý do thích đáng để lo ngại về nguy cơ ảnh hưởng của họ tại Mianma có thể suy tàn. Thế nhưng các tướng lĩnh Mianma cũng tỏ ra là những người giỏi về nghệ thuật sử dụng các siêu cường đối chọi và cân bằng nhau. Ngay trước khi bà Clintơn đặt chân đến Nâypiđô, Mianma đã gửi tới Mỹ một “thông điệp về cân bằng quan hệ” khi cử Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Min Aung Hlaing tới Trung Quốc qặp Phó Chủ tịch Tập Cận Bình – người dự kiến sẽ trở thành chủ tịch Trung Quốc vào năm 2012. Phát biểu trong buổi tiếp bà Clintơn tại Nâypiđô, ông Thein Sein cũng nêu rõ “Mianma sẽ duy trì mối quan hệ hữu nghị với Trung Quốc song song với các nỗ lực tăng cường quan hệ hữu nghị với tất cả các nước khác và đây là một phần trong chính sách đối ngoại độc lập và chủ động của Mianma, dựa trên nền tảng 5 nguyên tắc quốc tế về cùng tồn tại hòa bình’’. Ông Thein Sein nhấn mạnh với phía Mỹ rằng Bắc Kinh là một đối tác địa chính trị quan trọng của Mianma và Bắc Kinh đã khích lệ và giúp Mianma cải thiện quan hệ với các nước phương Tây.

Một số nhà phân tích chỉ ra rằng Trung Quốc thừa hiểu Mianma hòa bình và ổn định sẽ có lợi cho tất cả các nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc và khi Mianma đẩy mạnh cải cách, Trung Quốc sẽ có một đối tác ổn định hơn và vì thế sẽ giảm gánh nặng phải che chở cho Mianma. Mianma hiện muốn xây dựng quan hệ với Mỹ và phương Tây để tạo đối trọng với mối quan hệ quá gần gũi với Trung quốc và để cảnh báo Bắc Kinh về nguy cơ mất đi nhiều ảnh hưởng tại Mianma nếu tiếp tục quan hệ với Nâypiđô một cách thiếu tôn trọng và bình đẳng. Tuy nhiên ít nhất trong thời gian trước mắt và trung hạn Mianma sẽ không quay lưng lại với nước láng giềng khổng lồ Trung Quốc. Nhà sử học Mianma, ông Thant – Myint – U nói: “Hoàn toàn không có lý do gì để Mianma phải hi sinh mối quan hệ với Trung Quốc để bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Mianma sẽ tránh tình huống lựa chọn một trong hai cường quốc”. Hiện các nhà lãnh đạo Mianma đều hiểu rằng Trung Quốc có mối quan hệ kinh tế sâu rộng với Mianma và các cường quốc khác sẽ phải mất nhiều năm nữa mới có thể theo kịp. Việc xa lánh một láng giềng khổng lồ quá gần gũi về địa lý sẽ là một bất lợi về địa chính trị cho Mianma. Bên cạnh đó, giới lánh đạo Mianma cũng lo ngại gây tức giận cho Bắc Kinh có thể phải trả giá bằng việc quốc gia lãng giềng này nối lại sự ủng hộ cho nhóm vũ trang thiểu số để gây bất ổn và làm suy yếu Mianma.

Tuy nhiên nhà phân tích Aung Zaw cho rằng nhìn dài hạn hơn, khi mianma cải thiện dân chủ và nhân quyền, Nâypiđô sẽ không còn phải dựa vào Trung Quốc làm lá chắn ở Liên Hợp Quốc và khi đầu tư quốc tế vào Mianma nhiều hơn, Nâypiđô sẽ có trong tay nhiều quyền mặc cả hơn trong giải quyết các vấn đề song phương với Trung Quốc. Nếu Mianma tiếp tục đẩy mạnh lộ trình cải cách dân chủ và Mỹ tiếp tục thâm nhập ảnh hưởng sâu rộng tại Mianma, Trung Quốc sẽ đến lúc phải điều chỉnh chính sách đối ngoại để thích ứng với tình hình mới, trong đó Trung Quốc suy yếu cả về ảnh hưởng lẫn quyền mặc cả tại Mianma. Người dân Mianma sẽ tiến tới cân nhắc nhiều hơn về các giá trị mà từng siêu cường mang đến cho họ trong cải cách chính trị và sự phát triển hướng tới một xã hội thịnh vượng, tự do và dân chủ. Lúc đó Mianma sẽ phải xác định mối quan hệ nào, với Mỹ hay Trung Quốc, có lợi nhất cho Mianma và kết cục của những cân nhắc này tất yếu sẽ là chiến thắng của người Mỹ và sự thất bại của Trung Quốc tại Mianma.

***

(Đài RFI 3/12)

Trong những tháng gần đây, Chính quyền Mianma đã có những thay đổi bất ngờ, cả trong lĩnh vực đối nội - cho người dân nhiều quyền tự do dân chủ hơn – lẫn đối ngoại – mở cửa hướng về Ấn Độ hay phương Tây, đặc biệt là về phía Mỹ. Một biện pháp mang ý nghĩa biểu tượng là quyết định hoãn xây dựng công trình thủy điện Myisone do Trung Quốc tiến hành.

Theo ông Ngô Nhân Dụng, bình luận gia báo người Việt tại California (Mỹ), có rất nhiều nguyên nhân thúc đẩy Chính quyền của Tống thống Mianma Thein Sein thay đổi, nhưng quan trọng nhất là tác động của dân chúng trong nước đòi tự do dân chủ và bảo vệ chủ quyền quốc gia.

“Trong thời gian qua, người dân Mianma đã rất nhiều lần phản đối chính sách của chính phủ, đòi tự do dân chủ. Phong trào phản đối mạnh nhất, được nhiều người ủng hộ nhất là việc chống lại sự bành trướng của Trung Quốc, vào Mianma khai thác tài nguyên. tình trạng Trung Quốc bành trướng tại Mianma xảy ra từ hàng chục năm nay, từ khi nước này bị cô lập và phải dựa vào Bắc Kinh sau khi bị các nước phương Tây tẩy chay.

Phong trào dân chủ phản đối đó có lẽ là giọt nước cuối cùng làm tràn ly, khiến Chính quyền Mianma phải thay đổi chính sách ngoại giao của họ.

Không thể dựa dẫm vào Trung Quốc nhiều quá.

Họ đã phải bắt đầu hướng về những nước khác, như Ấn Độ và các nước phương Tây. Nhưng các nước như Mỹ, châu Âu hay Ấn Độ, luôn đắt điều kiện là chỉ có thể thân thiện nếu chính phủ Mianma cải tổ để người dân được tự do nhiều hơn. Chính một phần do các áp lực đó, mà chính phủ Mianma, khi muốn thân hơn với phương Tây thì phải thay đổi cả nguồng máy chính trị của họ.

Chúng ta cũng có thể nói rằng giới lãnh đạo mới của Mianma, từ khi ông Thein Sein lên làm Tổng thống, thì ông cũng đã có xu hướng muốn cải tổ, cho nên sau cuộc bầu cừ quốc hội năm ngoái, Mianma đã lập chính phủ dân sự thay vì để cho một vị tướng cầm quyền.

Đó là những dấu hiệu đầu tiên chứng tỏ rằng những vị tướng già trong hàng ngũ quân phiệt ở Mianma đã thấy rằng họ không thể nào tiếp tục duy trì chế độ lỗi thời của họ, và cần phải cho người dân tham dự vào chính quyền nhiều hơn.

Tất cả những yếu tố đó – áp lực từ ngoài, khát vọng của dân chúng, và sự thức tỉnh của giới lãnh đạo quân sự – đã làm cho Mianma bắt đầu thay đổi. Một trong những dấu hiệu thay đổi lớn nhất là họ đã trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi, người bị quản thúc tại gia từ 15 năm nay”.

Áp lực từ bối cảnh chống Trung Quốc ở vùng Đông Nam Á

“Chuyện chính quyền Mianma thay đổi do áp lực bên ngoài nên được đặt vào khung cảnh toàn thể vùng Đông Nam Á. Trong thời gian vừa qua cả Đông Nam Á đã sôi động, vì những áp lực của Trung Quốc đối với các nước láng giềng, đặc biệt là về vấn đề Biển Đông.

Áp lực Trung Quốc đã gây ra phản ứng chống đối từ phía các nước Đông Nam Á. Khi các nước Đông Nam Á họp lại, họ cảm thấy mạnh hơn, và có thể Chính quyền Mianma bắt đầu cảm thấy họ cũng có thể cứng rắn đối với Trung Quốc, một phần vì họ nghĩ rằng như vậy là họ đã hòa nhập vào một phong trào chung của các nước Đông Nam Á.

Ngoài ra chúng ta cũng phải công nhận là chính sách ngoại giao của chính phủ Mỹ trong 2 năm qua đã thay đổi, qua đó ảnh hưởng đến chính quyền Mianma. Từ năm ngoái bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao của Mỹ đều đã lên tiếng xác định là nước Mỹ trở lại vùng Thái Bình Dương.

Năm nay, từ Hội nghị Honolulu cho đến Bali, Tổng thống Obama cũng nhẫn mạnh là nước Mỹ sẽ trở lại, thường trực có mặt ở châu Á và Thái Bình Dương. Những tín hiệu đó khiến cho tất cả các nước Đông Nam Á cảm thấy vững tâm hơn khi đối đầu với Trung Quốc. Tất cả những tin tức đều được các nhà lãnh đạo Mianma tiếp nhận.

Ngoài áp lực của dân chúng đòi phải độc lập hơn với Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Mianma cũng có thể chịu ảnh hưởng của chính sách ngoại giao quay trở lại châu Á của Mỹ. Cho nên họ mới tìm cách mở cửa đòn tiếp Ngoại trưởng Mỹ đến Mianma trong mấy ngày qua.

Tất cả những phong trào thế giới đó, chắc chắn là có ảnh hưởng đến quyết định dân chủ hóa của chính quyền Mianma”.

Đập thủy điện Trung Quốc trên sông Irrawaddy: Giọt nước tràn ly

“Vụ đập thủy điện Myitsone là giọt nước làm tràn ly vì trong vòng 20 năm qua, Trung Quốc đã lợi dụng tình trạng Mianma bị cô lập, để xâm lấn vào nước này một cách mạnh mẽ.

Về kinh tế, họ sang khai thác tài nguyên: gỗ, rừng, khoáng sản, ngọc thạch, rồi sau đó đến tài nguyên về thủy điện. Ở Mianma có một nguồn tài nguyên khác mà Trung Quốc thèm muốn: đó là dầu lửa và khí đốt.

Không những khai thác dầu lửa và khí đốt ở Mianma, Trung Quốc còn ép để đặt đường ống dẫn khí từ bờ biển Mianma, phía vịnh Bengan dẫn về tỉnh Vân Nam. Đấy là một đường tiếp tế giúp Bắc Kinh có thể chuyển dầu khí nhập từ Iran hay Trung Đông, đi qua Ấn Độ Dương, rồi từ đó vào thẳng Trung Quốc, không cần qua Biển Đông. Đó là hành động có tính chất chiến lược của Trung Quốc.

Cùng với việc lập đường ống dẫn dầu khí đó, Trung Quốc còn xây dựng những hải cảng quân sự cho Mianma ở vùng vịnh Bengan. Những hải cảng đó, Trung Quốc có Quyền sử dụng. Điều này gây mâu thuẫn với Ấn Độ vì các quân cảng này nhắm vào bờ biển miên Đông Ấn Độ.

Trung Quốc đã lợi dụng việc Chính quyền Mianma phải lệ thuộc vào họ, để khai thác, không những tai nguyên mà cả vị trí địa dư của nước này nhằm củng cố cho Trung Quốc.

Trong thời gian trước đây, Từ thời Mao Trạch Đông, Trung Quốc đã ủng hộ những nhóm thiểu số ở Mianma, tại các tỉnh như Kachin, hay Shan, là những tỉnh giáp giới với Vân Nam. Những người cộng sản Mianma do Trung Quốc bảo trợ đã nổi lên chống Chính phủ Mianma.

Từ khi Trung Quốc giao thiệp với Chính quyền quân sự Mianma, họ dẹp các đám nổi loạn đó đi, nhưng những nhà thiểu số trong hai tỉnh đó, phần lớn là những người gốc Vân Nam qua, và họ tiếp tục có những giao dịch thương mại với Vân Nam. Hiện nay, người từ Vân Nam sang hai tỉnh này khai thác về thương mại, kỹ nghệ rất mạnh mẽ.

Tất cả những hành động đó làm cho không những người thành thị, người trí thức Mianma lo sợ và oán giận, mà ngay cả những nhà lãnh đạo quân sự trong Chính quyền Mianma cũng quan ngại, tinh thần dân tộc của họ nổi dậy và họ cũng lo sợ trước ảnh hưởng của Trung Quốc.

Thành ra việc Chính quyền Mianma cho ngưng xây dựng đập trên sông Irrawaddy là một hành động có thể coi là tính cách tượng trưng mạnh nhất, để cho thấy rằng Mianma muốn thay đổi.

Nhưng Mianma bây giờ có khi phải mất hàng chục năm hay nhiều hơn mới thoát được khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc, bởi vì ảnh hưởng đó hiện giờ rất mạnh. Nước buôn bán với Mianma nhiều nhất là Trung Quốc.

Tóm lại, Mianma mạnh tay với Trung Quốc có thể do một phần là do dân chúng đòi hỏi, một phần khác là do tinh thần các nước Đông Nam Á bây giờ đang lên, và có một phong trào chung trong cả vùng Đông Nam Á đề phòng sự bành trướng của Trung Quốc.

Nhưng có lẽ chính lòng ái quốc của các nhà quân sự ở Mianma đã nổi lên, và họ nhận thấy rằng phải thay đổi để thoát khỏi ảnh hưởng Trung Quốc. Ngoài ra, còn có việc các nước phương Tây vấn đòi hỏi Mianma là chỉ giao thiệp với họ nếu có dân chủ hóa, và điều kiện đó đã giúp Chính quyền Mianma mạnh dạn bước vào con đường trả lại tự do cho dân chúng.

Đây là dấu hiệu rất tốt và chúng ta hy vọng là chính quyền Mianma trong vòng một thế hệ tới sẽ dần dần ngày càng được dân chủ tự do hơn”./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...