HỌC VIỆN NGOẠI GIAO
Tài liệu tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba, chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực”, do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, ngày 4-5 tháng 11 năm 2011
Tài liệu tham luận tại Hội thảo Khoa học Quốc tế lần thứ ba, chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực”, do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, ngày 4-5 tháng 11 năm 2011
Tiến sĩ Renato Cruz De Castro
Giáo sư về Quan hệ Quốc tế, Đại học De La Salle, Manila, Philippines
Bài viết này nghiên cứu hệ luỵ của cách tiếp cận chính trị thực tiễn (realpolitik)
của Trung Quốc trong yêu sách lãnh thổ của nước này ở Biển Đông đối với
an ninh khu vực. Bài viết cho thấy Trung Quốc đang sử dụng các chiến
thuật chính trị cường quyền liên quan đến các yêu sách lãnh thổ của mình
bao gồm: a) trích dẫn yêu sách lịch sử; b) áp dụng cách tiếp cận song
phương để làm suy yếu ASEAN; c) dựa vào kế sách chia để trị trong đối
phó với từng nước thành viên ASEAN và tạo ra một sự chia rẽ giữa ASEAN
và Mỹ; d) củng cố sức mạnh hải quân giúp Trung Quốc giải quyết tranh
chấp lãnh thổ theo cách của mình. Kết luận, bài viết tranh luận rằng
việc Trung Quốc sử dụng cách tiếp cận chính trị thực tiễn trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông sẽ khiến cho tương lai của Đông Á trở thành quá khứ của Châu Âu.
Nằm ở trung
tâm của Đông Nam Á, Biển Đông là một biển nửa kín bao quanh là Trung
Quốc và một vài nước nhỏ và yếu hơn như Philippines, Vietnam, Malaysia
và Brunei. Từ giữa những năm 1970, các quốc gia ven biển này đã rơi vào
cuộc tranh chấp kéo dài khi mỗi quốc gia đều muốn mở rộng các yêu sách
chủ quyền và quyền tài phán đối với hơn một trăm các đảo nhỏ, bãi đá
ngầm và đá cũng như các vùng biển xung quanh. Quốc gia yêu sách lớn nhất
là Trung Quốc đã thể hiện thiên hướng sử dụng ngoại giao cưỡng ép và
ngay cả vũ lực thực sự để theo đuổi yêu sách lãnh thổ của mình. Năm
1974, quân đội Trung Quốc đã đánh đuổi Nam Việt Nam ra khỏi quần đảo
Hoàng Sa, nằm ở phía Bắc quần đảo Trường Sa. Sau đó năm 1988, quân đội
Trung Quốc đánh đuổi quân Việt nam ra khỏi Đá Gạc Ma, sau khi đánh chìm
ba tàu cá Việt nam gần Bãi Chữ Thập. Việc Trung Quốc ban hành luật lãnh
hải yêu sách phần lớn Biển Đông vào năm 1992 và việc Manila phát hiện
các công trình quân sự của Trung Quốc trên đảo Vành Khăn năm 1995 đã dấy
lên cuộc chiến ngoại giao nghiêm trọng giữa Philippines và Trung Quốc
vào giữa thập kỷ 90.
Tuy nhiên, tranh chấp ở Biển Đông tạm
lắng xuống vào cuối những năm 1990 và đầu thế kỷ 21 sau khi Trung Quốc
và Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ký Tuyên bố về Ứng xử của
các Bên trên Biển Đông năm 2002 (DOC). Sau đó Trung Quốc tiến hành chiến
dịch quyến rũ của mình ở Đông Nam Á bằng cách khéo léo sử dụng sức mạnh
kinh tế để ràng buộc hơn nữa các quốc gia thành viên ASEAN. Điều thú vị
là một bài viết của Mỹ đã nhận xét một cách thận trọng rằng “lịch sử
của ngoại giao Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông là một hình thức
tuyên bố hợp tác, tiếp sau đó là các hành vi đơn phương thay đổi nguyên
trạng tranh chấp và tiếp sau nữa là các tuyên bố hợp tác mới”. Nhận xét
này đã chứng tỏ là đúng khi tranh chấp lại bùng phát năm 2009 khi Trung
Quốc có lập trường kiên quyết hơn và bắt đầu thực hiện các yêu sách tài
phán ở Biển Đông bằng việc mở rộng tầm hoạt động của quân đội và theo
đuổi ngoại giao cưỡng ép đối với các quốc gia yêu sách khác.
Từ năm 2008, Trung Quốc đã tăng cường
tuần tra hải quân (sử dụng tàu ngầm, tàu khảo sát và tàu chiến trên mặt
nước) trong vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) và lãnh hải của Nhật Bản, đe
doạ các công ty dầu khí nước ngoài cố gắng hoạt động ở Biển Đông. Vào
ngày 2/3/2011, hai tàu hải giám Trung Quốc đã đe doạ và yêu cầu một tàu
khảo sát của Philippines rời khỏi bãi Cỏ Rong (còn được gọi là Recto),
nằm cách đảo Palawan ở Tây Philippines 80 km. Bộ Ngoại giao Philippine
đã gửi công hàm ngoại giao phản đối cho Đại sứ quán Trung Quốc ở Manila
vào ngày 5/3, và cho biết tính đến thời điểm đó Trung Quốc đã tiến hành 5
đến 7 lần gấy hấn ở Biển Đông. Việt Nam cũng phản đối các hoạt động của
Trung Quốc trong vùng EEZ của mình và buộc tội các tàu tuần tra của
Trung Quốc đe doạ một tàu thăm dò dầu khí đang tiến hành khảo sát địa
chấn cách bờ biển Việt Nam 120 km (80 hải lý). Vào ngày 28/5 và ngày
9/6/2011, các tàu tuần tra của Trung Quốc đã cắt cáp các tàu thăm dò của
Việt Nam. Cho rằng hai sự cố xảy trong vùng EEZ của mình, Việt Nam đã
gửi công hàm ngoại giao phản đối Trung Quốc. Trước các phản đối ngoại
giao của hai quốc gia ASEAN này, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung
Quốc đã ngạo mạn tuyên bố rằng “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh
cãi đối với các đảo ở Biển Đông và vùng biển xung quanh”. Các hành động
đơn phương này của Trung Quốc được xem như là phép thử đối với quyết tâm
của các quốc gia yêu sách khác trong tranh chấp Biển Đông. Hậu quả là
các hành động này đã gây thêm căng thẳng ở khu vực và đặt Trung Quốc vào
mối quan hệ xung đột với hai quốc gia thành viên ASEAN này.
Bài viết này nghiên cứu hệ luỵ cách tiếp
cận “chính trị thực tiễn” của Trung Quốc trong việc giải quyết tranh
chấp ở Biển Đông mang lại cho an ninh và ổn định của khu vực. Cụ thể bài
viết đặt ra câu hỏi – hệ luỵ của cách tiếp cận “chính trị thực tiễn”
của Trung Quốc trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông đối với một tổ
hợp khu vực Đông Á đang phát triển là gì? Bài viết cũng trả lời các câu
hỏi hệ quả sau: Cơ sở pháp lý của yêu sách chủ quyền ở Biển Đông của
Trung Quốc là gì? Chiến thuật chính trị thực tiễn mà Trung Quốc đang áp
dụng trong việc theo đuổi các yêu sách lãnh thổ ở Biển Đông ra sao? Các
quốc gia yêu sách khác phản ứng thế nào đối với cách tiếp cận chính trị thực tiễn của Trung Quốc? Và đâu sẽ là hệ luỵ lâu dài của cách tiếp cận chính trị thực tiễn của Trung Quốc trong giải quyết tranh chấp Biển Đông?
Tranh chấp lãnh thổ, Chính trị thực tiễn và Xung đột
Các tranh chấp lãnh thổ đã trở thành
hiện tượng thường xuyên trong quan hệ quốc tế, và mang lại một hệ quả
tất yếu là xung đột giữa các quốc gia. Tranh chấp lãnh thổ thường diễn
ra trong hai trường hợp: a) hai quốc gia bất đồng trong việc phân định
lãnh thổ hoặc đường biên giới; và b) một quốc gia phản đối quyền của các
quốc gia khác trong việc thực hệin các quyền chủ quyền đối với một số
hay tất cả lãnh thổ của mình hoặc lãnh thổ thuộc địa hay trên biển. Tuy
nhiên, trong cả hai trường hợp, hai hoặc nhiều hơn các quốc gia mong
muốn kiểm soát và có chủ quyền đối với cùng một lãnh thổ. Tuy nhiên, các
tranh chấp lãnh thổ không tự động dẫn đến chiến tranh. Thay vào đó, các
tranh chấp này tạo điều kiện cần, chứ không phải đủ, để dẫn đến xung
đột vũ trang giữa các quốc gia. Các tranh chấp này tạo ra điều kiện cần
vì hai lý do: a) Thay vì trở thành ngòi nổ thực sự của xung đột vũ
trang, các tranh chấp lãnh thổ tạo ra một loạt các sự kiện có thể hoặc
không thể dẫn đến chiến tranh. Các tranh chấp này sẽ dẫn đến chiến tranh
nếu các quốc gia yêu sách áp dụng chiến thuật chính trị thực tiễn làm gia tăng nguy cơ bùng phát các xung đột vũ trang. Chính trị cường quyền hay chính trị thực tiễn
không phải là cách duy nhất giải quyết tranh chấp lãnh thổ, và nếu
tranh chấp tiếp cận nầy, chiến tranh không phải là không thể tránh được.
Và b) Nếu các yêu sách đối với vùng lãnh thổ tranh chấp được giải quyết
một cách hoà bình vào một thời điẻm nào đó trong lịch sử của các quốc
gia yêu sách, sẽ không có khả năng nổ ra xung đột vũ trang giữa hai quốc
gia tiếp giáp nhau bất chấp các vấn đề khác có thể phát sinh trong
tương lai. Điều này có nghĩa là các tranh chấp lãnh thổ có tầm quan
trọng nhân quả, tức là sự tồn tại của tranh chấp này biến xung đột vũ
trang thành một khả năng chứ không phải là một tình huống có thể xảy ra.
Như một nghiên cứu lưu ý rằng “(các tranh chấp) lãnh thổ và đường biên
giới không gây ra chiến tranh, mà ít nhất tạo ra một cấu trúc rủi ro và
cơ hội mà trong đó các hành vi xung đột rõ ràng có khả năng xảy ra”.
Một điều kiện đủ có thể gây ra các xung đột quân sự là nếu các quốc gia tranh chấp áp dụng chiến thuật chính trị thực tiễn hay chính trị cường quyền trong giải quyết tranh chấp của mình. Chính sách chính trị thực tiễn
hay chính trị cường quyền được định nghĩa là các hành vi chính sách đối
ngoại dựa trên bối cảnh một thế giới không an toàn và vô chính phủ, dẫn
đến sự mất tin cậy, đấu tranh giành quyền lực, đăt lợi ích quốc gia lên
trên các quy chuẩn, quy tắc và lợi ích tập thể, sử dụng chiến thuật xảo
quyệt, cưỡng ép, nỗ lực cân bằng quyền lực, dựa vào phương thức tự cứu
lấy mình, và sử dụng vũ lực và chiến tranh như là lựa chọn cuối cùng (ultimo ratio)
trong quan hệ quốc tế. Theo đó, việc bất kỳ quốc gia yêu sách nào áp
dụng chính trị thực tiễn có thể dẫn đến việc các tranh chấp lãnh thổ trở
thành các xung đột vũ trang bởi vì chính sách này tạo ra điều kiện mà
các quốc gia tranh chấp có thể mong đợi để tham gia vào một tranh chấp,
xét cấu trúc của hiện thực thì cách hành xử đó không nhất thiết phải
hướng cho các nhà hoạch định chính sách (và cộng đồng của họ) đến cách
hành xử hợp lý xét đến hiện trạng – một tranh chấp lãnh thổ – và xét
thực tế của quan hệ quốc tế. Cách tiếp cận chính trị thực tiễn đối với
tranh chấp lãnh thổ bao gồm việc dựa vào thử nghiệm quyền lực – thông
qua hình thức xâm chiếm, cưỡng ép phục tùng hay cản trở các bên yêu sách
khác. Đây cũng được xem là một hình thức chính sách của chủ nghĩa phân
lập dựa trên các hành vi đơn phương gây ra sự đối đầu giữa các quốc gia
tranh chấp và hậu quả là xung đột vũ trang.
Tuy nhiên, chính sách chính trị thực tiễn
chỉ là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp. Một cách tiếp
cận khác là thông qua thoả hiệp, hoà giải của bên thứ ba, trọng tài hoặc
một vài phương thức phân xử khác. Nói chung các phương thức này có thể
được gọi là cách tiếp cận thể chế – tự do. Cách tiếp cận thể
chế – tự do nhấn mạnh giải quyết vấn đề hơn là tranh chấp. Theo đó, áp
dụng chính sách này có thể đối phó hiệu quả với các khủng hoảng và/hoặc
có thể giảm căng thẳng trong tranh chấp. Hơn nữa, chính sách này cũng
giúp tạo ra các quy tắc và quy chuẩn dẫn đến sự mong đợi lẫn nhau về
tiêu chuẩn hành xử chung, không những kiểm soát sự leo thang nếu xung
đột gia tăng mà còn thúc đẩy các quốc gia đối phó với các tranh chấp
bằng cách khiến các quốc gia này thử thực hiện như cách tiếp cận chính trị thực tiễn.
Chính sách này nỗ lực giảm thiểu và xoá bỏ một số loại chính sách hay
cách hành xử của quốc gia, cụ thể là các hành vi đơn phương hay chính trị thực tiễn,
đồng thời tạo ra một số phương thức quản lý hay giải quyết xung đột tốt
hơn. Cách tiếp cận này được xem là một cách tác động làm giảm nguy cơ
chiến tranh, ngay cả khi có sự xuất hiện của xung đột.
Chính sách Chính trị thực tiễn của Trung Quốc
Là quốc gia lớn nhất và mạnh nhất trong
số các quốc gia ven biển và là quốc gia duy nhất quản lý các đảo quan
trọng nhất (Hải Nam và quần đảo Hoàng Sa) ở Biển Đông, Trung Quốc đã
tuyên bố rằng Trung Quốc có chủ quyền đầy đủ đối với toàn bộ vùng biển
như bản đồ chính thức của Trung Quốc thể hiện đường ranh giới gồm có 9
đường đứt đoạn tiến xa xuống phía Nam giáp với phần phía Bắc bờ biển của
Malaysiaa và Brunei. Trung Quốc cũng yêu sách hai quần đảo chính Hoàng
Sa và Trường Sa mặc dù bản thân các quần đảo này nhỏ và không phù hợp
cho đời sống con người. Tuy nhiên, hai quần đảo này được cho là có giá
rtị nhờ vào tiềm năng dầu và khí đốt nằm bên dưới và cũng bởi vì hai
quần đảo này nằm dọc các tuyến đường giao thông hàng hải quan trọng. Do
đó, từ quan điểm của Trung Quốc, vấn đề thống nhất yêu sách đối với Biển
Đông là vấn đề tăng cường sự thống nhất lãnh thổ và an ninh quốc gia.
Tuy nhiên, từ quan điểm của các quốc gia Đông Nam Á nhỏ bé hơn, đây là
một hình thức của chủ nghĩa bành trướng đáng lo ngại của Trung Quốc
trong một khu vực có vị trí và các nguồn tài nguyên kinh tế chiến lược.
Yêu sách lịch sử
Vào đầu những năm 1990, Cộng hoà Nhân
dân Trung Hoa đã tuyên bố rằng toàn bộ Biển Đông là vùng lãnh thổ của
mình khi Trung Quốc phát triển tiềm lực để củng cố các yêu sách lãnh thổ
tương ứng của mình trên cơ sở giải thích các điều khoản của Công ước
của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS), yêu sách của Trung Quốc đi
ngược lại hoàn toàn với số còn lại. Trung Quốc sử dụng tập hợp các yêu
sách lãnh thổ rộng lớn bao gồm cả các thành tố kinh tế, chính trị và
quân sự; một lập trường ngoại giao không thoả hiệp đi kèm với các hành
vi đơn phương và áp đặt đã được chính minh; và một yêu sách lịch sử dựa
trên ý tưởng rằng Biển Đông và các đảo nằm trong đó đã thuộc về Trung
Quốc trong hàng thế kỷ tính từ Triều Hán vào thế kỷ thứ 2 sau Công
nguyên. Trung Quốc lập luận rằng quyền chủ quyền của Trung Quốc đối với
Biển Đông đã có từ hàng năm trước. Chính phủ Trung Quốc thường xuyên cho
in các bản đồ trong các báo và sách giáo khoa vẽ đường biên giới biển
mở rộng như hình vây cá ngược tiến đến hầu như các bờ biển của đảo
Borneo và Singapore. Trung Quốc còn biện minh cho yêu sách của mình bằng
cách tạo nên một bảng niên giám lịch sử trích dẫn hành trình của các
nhà hàng hải và ngư dân Trung Quốc đi vào và qua Biển Đông. Và trên cơ
sở niên giám này, các quan chức Trung Quốc lập luận rằng yêu sách rộng
lớn của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông dựa trên các dữ kiện lịch
sử.
Bài viết gần đây “Sự hình thành chủ
quyền của Trung Quốc đối với các đảo ở Biển Đông, nguồn gốc của các vấn
đề Biển Đông”, trên mạng điện tử Quishi cung cấp sự biện minh
gần đây nhất đối với yêu sách lịch sử của Trung Quốc. Bài báo do Li
Guoqiang viết trích dẫn hai bản ghi chép lịch sử của Trung Quốc kể về
các hải trình của các nhà hàng hải triều Hán và Minh ở Biển Đông. Dựa
trên hai bản ghi chép lịch sử này, Li lập luận rằng người Trung Quốc đã
khám phá ra và phát triển các đảo này trước tiên. Và kết quả là, chủ
quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông dần dần được hình thành dựa trên
cơ sở pháp lý liên tục của các chính phủ Trung Quốc trong các triều đại
nối tiếp nhau bất chấp việc các đảo này là đảo nhỏ, cằn cỗi và không
thích hợp cho con người sinh sống. Sau đó ông cho rằng bởi vì người dân
của các quốc gia yêu sách khác không thể đưa ra bất kỳ ghi chép nào liên
quan đến việc tổ tiên của họ tìm thấy và đặt tên cho các đảo đó, Trung
Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với quần đảo Trường Sa. Bài
viết thể hiện chính sách của Trung Quốc trong việc gây áp lực lên các
quốc gia yêu sách khác rằng Biển Đông là lãnh thổ của Trung Quốc trên cơ
sở ghi chép lịch sử mà Trung Quốc có được và từ chối thương lượng với
các quốc gia đó trừ phi họ chấp nhận chủ quyền không thể tranh cãi của
Trung Quốc dựa trên niên giám lịch sử về các hoạt động khai thác biển
tại các vùng biển đã nêu ở trên. Gần đây, một nhà bình luận Trung Quốc
đã cố tình làm giảm vai trò pháp lý của UNCLOS bằng cách lập luận rằng
đây “chỉ là một luật biển quốc tế, không phải là luật biển duy nhất, và
do đó (các quốc gia yêu sách khác) nên ngừng thắc mắc về tính pháp lý
của đường lưỡi bò của Trung Quốc”.
Tuy nhiên, bằng chứng lịch sử của Trung
Quốc không nhất thiết loại bỏ yêu sách của các quốc gia khác ở Đông Nam
Á. Không có gì nghi ngờ rằng các nhà hàng hải và ngư dân Trung Quốc đã
đi qua Biển Đông trong hai nghìn năm qua. Tuy nhiên, cũng có nhiều bằng
chứng rằng tổ tiên của các quốc gia Đông Nam Á ngày nay cũng đã đi qua
và đánh cá ở các hòn đảo đó rất lâu trước bất kỳ ghi chép nào của Trung
Quốc. Xét quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa cằn cỗi và không thích hợp cho
con người sinh sống, dân cư thời tiền sử của các quốc gia Đông Nam Á đã
đánh cá và khai thác kinh tế các nguồn tài nguyên ở Biển Đông thậm chí
trước cả triều Hán và triều Minh. Các quốc gia ven Biển Đông (như
Philippines, Indonesia, và cả Đài Loan) đều được định hình từ những dân
cư đi biển, những người đã đến những vùng đất này qua một số làn sóng
nhập cư từ rất xưa khoảng 25.000 năm trước. Không có gì nghi ngờ rằng
những người đi biển này đã đi qua và đánh cá ở Biển Đông, giống như
những gì mà con cháu họ đang làm hiện nay. Do đó, bình luận về bằng
chứng lịch sử của Trung Quốc về chủ quyền đối với Biển Đông, một chuyên
gia Hoa Kỳ về các vấn đề hàng hải đương đại lưu ý rằng:
“không có bằng chứng nào chỉ ra lợi
ích kinh tế độc nhất của Trung Quốc hay bất kỳ quốc gia nào khác đối với
các đảo hay khu vực xung quanh các đảo ở Biển Đông. Thay vào đó, bằng
chứng chỉ thấy điều ngược lại – rằng các vùng biển ở Biển Đông và các
đảo nằm rải rác ở đó… từ bao thế kỷ nay đã trở thành khu vực đánh các và
các tuyến đường thương mại chung của các cư dân trong khu vực. Thực sự,
việc sử dụng chung lâu đời này cho thấy Biển Đông đã phát triển như một
khu vực chung, ở đó các bên theo đuổi các lợi ích của mình mà không
phải lo sợ bị chính quyền của các quốc gia khác làm phiền”.
Nhấn mạnh cách Tiếp cận Song phương
Tiềm lực ngày càng tăng của Trung Quốc
và bản chất đặc thù của yêu sách lãnh thổ của nước này (xét phạm vi rất
rộng và cơ sở lịch sử của nó) đã biến Trung Quốc ngay lập tức trở thành
quốc gia yêu sách quan trọng nhất trong việc hoặc giải quyết tranh chấp
lãnh thổ hoặc biến tranh chấp này thành xung đột vũ trang. Điều thú vị
là Bắc Kinh lại tự cho mình là một quốc gia cam kết giải quyết hòa bình
các tranh chấp lãnh thổ thông qua các biện pháp ngoại giao. Theo quan
điểm của Trung Quốc, Trung Quốc luôn luôn giữ lập trường kiềm chế, bình
tĩnh và mang tính xây dựng và luôn tích cực kiếm tìm giải pháp để giải
quyết tranh chấp Biển Đông. Thực sự là Trung Quốc đã tích cực kiếm tìm
giải pháp để giải quyết tranh chấp lãnh thổ, nhưng luôn luôn theo điều
kiện của Trung Quốc – chủ nghĩa song phương. Mặc dù Trung Quốc tham gia
ký tuyên bố chung với ASEAN trong việc duy trì nguyên trạng ở Biển Đông,
ý đồ ngoại giao của Trung Quốc thực ra là muốn lôi kéo các quốc gia yêu
sách khác vào bàn đàm phán song phương và ngăn chặn bất kỳ hình thức
giải quyết có sự tham gia của bên thứ 3 nào thông qua các thủ tục của
UNCLOS hay bất kỳ tổ chức quốc tế nào khác. Điều nãy rõ ràng được thể
hiện qua phản ứng tức thì và gây tranh cãi của Trung Quốc trước phát
biểu của Ngoại trưởng Mỹ Hillarry Clinton tháng 7/2010 tuyên bố lợi ích
trong việc giải quyết tranh chấp. Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết
Trì ngay lập trức bác bỏ đề xuất của Ngoại trưởng Clinton, cho rằng Mỹ
không nên quốc tế hóa tranh chấp này. Ông tuyên bố mạnh mẽ rằng bất kỳ
tranh chấp lãnh thổ nào liên quan đến Biển Đông nên được giải quyết song
phương và không nên có sự tham gia của cộng đồng quốc tế. Ông còn lập
luận rằng tranh chấp Biển Đông nên được giải quyết qua đàm phán song
phương giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng, hơn là giữa Trung
Quốc và ASEAN. Ông tuyên bố “Biến một vấn đề song phương thành một vấn
đề quốc tế hay đa phương sẽ chỉ làm xấu đi tình hình và gây thêm nhiều
khó khăn cho vấn đề (hay tranh chấp)”. Theo đó, ưu tiên tiếp cận song
phương hơn là đa phương của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Biển
Đông bắt nguồn từ các vấn đề sau: a) sự coi nhẹ nói chung của Trung
Quốc đối với các chuẩn mực của các quy tắc hàng hải và luật quốc tế được
chấp nhận rộng rãi; và b) sẽ dễ dàng hơn cho một cường quốc như Trung
Quốc bắt nạt và lừa phỉnh các quốc gia yêu sách nhỏ và yếu hơn để Trung
Quốc có thể một mình nắm lấy các đảo san hô, các tuyến đường biển và tài
nguyên thiên nhiên. Xét về tự lực thì các quốc gia nhỏ như Việt Nam,
Philipines, và Malaysia không thể đương đầu một cách hiệu quả với một
cường quốc đang lên và quyết đoán như Trung Quốc.
Áp dụng chiến thuật Chia và Trị
Một chiến thuật chính trị thực tiễn
khác mà Trung Quốc áp dụng chống lại các quốc gia láng giềng bé nhỏ là
tạo sự chia rẽ trong nội bộ ASEAN bằng cách lần lượt chia nhỏ các quốc
gia thành viên. Được một học giả Mỹ gọi là chiến lược Salami, chiến
thuật này bao gồm việc đề xuất một dự án khai thác chung như là một biện
pháp giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Đây là một nhân tố quan trọng
trong chiến lược ngoại giao “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung
Quốc với một quốc gia yêu sách đối với vùng lãnh thổ trên biển đang
tranh chấp mà theo quan điểm của Trung Quốc là thực sự thuộc về Trung
Quốc. Trung Quốc đã có thể thực hiện được chiến thuật này khi thuyết
phục được Việt Nam và Philipines tham gia vào Thỏa thuận Khảo sát Địa
chấn Biển Chung (JMSU) ở Biển Đông. Tuy nhiên, bằng việc tham gia JMSU,
Philipines và Việt Nam đã trở nên đồng lõa với chiến lược Salami của
Trung Quốc bởi 2 lý do: a) thỏa thuận phớt lờ lập trường của hai quốc
gia thành viên ASEAN khác – Malaysia và Brunei – bởi thỏa thuận đã ngầm
trao hiệu lực cho các yêu sách quá trớn của Trung Quốc đối với các đảo
và các vùng biển ở Biển Đông; và b) bằng việc ký thỏa thuận ba bên,
Philippin và Việt Nam đã làm suy giảm sự đoàn kết mà ASEAN đã tạo dựng
được trong việc đối phó với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Theo đó,
việc ký bất kỳ thỏa thuận song phương nào với Trung Quốc bỏ qua bất kỷ
tham vấn nào với các quốc gia thành viên ASEAN có thể được xem như một
sự vi phạm tinh thần của Tuyên bố về Ứng xử của các Bên trên Biển Đông
giữa Trung Quốc và ASEAN năm 2002 (DOC). Như một nhà phân tích Australia
lưu ý rằng: “… chính phủ Philippine đã rời bỏ đội ngũ Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á, tổ chức đang đàm phán với Trung Quốc với tư cách là một
khối về vấn đề Biển Đông. … Qua hành động của mình, Manila đã trao tính
hợp pháp đối với “yêu sách lịch sử” không hề mang tính pháp lý đối với
hầu hết Biển Đông của Trung Quốc.”
Sau bài phát biểu của Ngoại trưởng
Clinton ở Hà Nội tháng 7/2010 về vấn đề Biển Đông, Bắc Kinh đã áp dụng
chiến thuật Salami này chống lại Washington và các quốc gia ASEAN. Trong
suốt Hội nghị thượng đỉnh Lãnh đạo Mỹ – ASEAN lần thứ 2 vào ngày
24/9/2010 ở New York, Tổng thống Obama đã gặp 8 nguyên thủ quốc gia
ASEAN để ký tuyên bố chung kêu gọi cách tiếp cận đa phương để giải quyết
tranh chấp Biển Đông. Mỹ mong muốn rằng ASEAN sẽ giữ vai trò tích cực
trong vấn đề này và thúc đẩy giải quyết hòa bình các tranh chấp. Một
điều được mong đợi đó là Tổng thống Obama và các Lãnh đạo ASEAN sẽ đưa
ra tuyên bố tái khẳng định tự do hàng hải ở Biển Đông và phản đối việc
sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực bởi bất kỳ bên yêu sách nào. Cách thể
hiện của tuyên bố chung được xem là quan trọng bởi vì tuyên bố này được
coi là được xây dựng dựa trên nền tảng tuyên bố trước đó về vấn đề Biển
Đông của Ngoại truonwgr Clinton trong suốt hội nghị ARF năm 2010 tại Hà
Nội. Tuy nhiên, Washington đã thất vọng.
Lo ngại tuyên bố như vậy sẽ làm Trung
Quốc tức giận, các quốc gia thành viên ASEAN đã phản đối một tuyên bố
chung đề cập đến tranh chấp Biển Đông và việc sử dụng vũ lực. Ba ngày
trước khi diễn ả hộ nghị Lãnh đạo Mỹ – ASEAN, Người phát ngôn Bộ Ngoại
giao Trung Quốc đã cảnh báo các quốc gia ASEAN rằng Trung Quốc “lo ngại
về bất kỳ tuyên bố nào có thể được Mỹ và ASEAN đưa ra về vấn đề Biển
Đông” và rằng “Trung Quốc phản đối bất kỳ quốc gia nào không liên quan
đến Biển Đông tham gia vào tranh chấp này”. Do đó, Trung Quốc đã phủ đầu
hội nghị cấp cao bằng việc phản đối bất kỳ đề xuất nào mà Mỹ đưa ra về
vấn đề Biển Đông. Tương tự như vậy, một số quốc gia thành viên nghĩ rằng
ASEAN không nên chọc giận Trung Quốc sau Tuyên bố Hà Nội năm 2010. Với
các mối quan hệ kinh tế cùng có lợi với Trung Quốc, các nước ASEAN cảm
thấy rằng họ không thể đơn giản tham gia vào việc chỉ trích Trung Quốc
và tạo ra một ấn tượng rằng họ sẵn sàng làm bất kỳ những gì mà
Washington bảo. Đối với các quốc gia bé nhỏ này, Trung Quốc không chỉ là
một quốc gia láng giềng, một đối tác thương mại quan trọng nhất, và là
các nhà đầu tư mà còn là một đồng minh chính trị không thường xuyên
chống lại chính bản thân Mỹ.
Xây dựng Vũ trang Hải quân
Với nền kinh tế bùng nổ của mình, Trung
Quốc đã dần dần phát triển một lực lượng hải quân mà không còn tập trung
vào việc chống lại sự can thiệp của Mỹ vào khủng hoảng Eo biển Đài Loan
mà vào việc từ chối sự tiếp cận của hải quân Mỹ vào Biển Hoa Đông và
biển Đông hoặc vào trong khu vực được gọi là Chuỗi đảo thứ nhất chạy từ
Nhật Bản-Okinawa-Đài Loan và xuống Philippines. Hàng năm, Trung Quốc gia
tăng chi tiêu quốc phòng lên 2 con số kể từ năm 2006. Kế quả là, trong
vài năm qua, Hải quân Quân đội Giải Phóng Nhân dân (PLAN) đã có được một
hạm đội ngày càng tăng về số lượng các tàu ngầm hạng Kilo sử dụng điện
năng và diesel do Nga sản xuất và các tàu khu trục hạng Sovremmeny, cùng
với một số tàu khu trục, tàu khu trục nhỏ và các tàu chiến ngầm sử dụng
năng lượng hạt nhân được đóng trong nước. Hải quân Trung Quốc cũng gia
tăng khả năng hoạt động xuyên qua các khu vực biển quanh Đài Loan và đã
triển khai hai loại tàu ngầm và tàu xung kích mới. Không bị hạn chế bởi
tập trung chiến lược vào Đài Loan, Trung Quốc đã phát triển sức mạnh hải
quân để tạo ra căng thẳng ở khu vực bằng cách phản đối các yêu sách
biển của các quốc gia láng giềng bé nhỏ hơn và cuối cùng, thay đổi cấu
trúc chiến lược ở Đông Á và Tây Thái Bình Dương nơi mà Hải quân Mỹ sẽ bị
đẩy ra khỏi các khu vực biển chung này. Điều thú vị là, một vài nhà
bình luận báo chí và phân tích Trung Quốc đã nhấn mạnh vai trò ucar việc
gia tăng sức mạnh hải quân của quốc gia mình và nhu cầu cấp thiết phải
bảo vệ yêu sách biển mở rộng của họ ở Biển Đông. Quan sát sự nổi lên của
hình thức chủ nghĩa dân tộc theo kiểu Mahan (lý thuyết gia về sức mạnh
biển người Mỹ-ND) trong xã hội Trung Hoa, một học giả Nhật Bản lưu ý:
“…Trung Quốc công nhận rằng lợi ích
quốc gia của mình đang ngày càng mở rộng ra ngoài biên giới lãnh thổ,
đến đại dương, không gian vũ trụ và không gian mạng. Trung Quốc cho rằng
bảo vệ các lợi ích quốc gia mở rộng này là nhiệm vụ mới của PLA. Tư
lệnh Hải quân Trung Quốc Ngô Thắng Lợi tuyên bố rằng trong phát triển
lực lượng hải quân của mình, Trung Quốc đang gia tăng phạm vi năng lực
của mình để xây dựng sức mạnh tác chiến trong bối cảnh các vùng lãnh thổ
thuộc lợi ích quốc gia đang ngày càng mở rộng, và Trung Quốc đang tiến
tới những khả năng cốt lõi trong việc xây dựng sức mạnh tác chiến trong
bối cảnh các đe dọa đang nổi lên liên quan đến các lợi ích quốc gia (mở
rộng) này”.
Với sức mạnh hải quân của mình, Trung
Quốc đang trở nên ngày càng quyết đoán hơn ở Biển Đông. Tháng 3/2009,
các tàu hải quân và tàu cá Trung Quốc đã đe dọa tàu hải quân Mỹ U.S.S Impeccable
khi tàu này đang tiến hành các hoạt động khảo sát ở Biển Đông. Ngay năm
sau, Trung Quốc cảnh báo Mỹ tôn trọng các yêu sách biển mở rộng của
Trung Quốc. Tháng 3/2010, các quan chức Trung Quốc đã nói với hai quan
chức cấp cao Bộ Ngoại giao Mỹ rằng Trung Quốc sẽ không khoan nhượng đối
với bất kỳ sự can thiệp nào của Mỹ bởi Biển Đông bây giờ là một phần của
các “lợi ích cốt lõi” về chủ quyền của Trung Quốc, ngang hàng với các
vấn đề Đài Loan và Tây Tạng. Gần đây, chính phủ Trung Quốc tuyên bố gia
tăng ngân sách quốc phòng lên 13% và nâng cao năng lực của Quân đội Giải
phóng Nhân dân (PLA) nhằm đạt được một số nhiệm vụ quân đội bao gồm
“chiến thắng chiến tranh cục bộ trong điều kiện thời đại thông tin”. Sự
tiết lộ này đã gây ra lo ngại ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, và Việt
Nam, các quốc gia đang có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.
Dựa trên cách hành xử gần đây của nước
này liên quan đến các tranh chấp ở vùng biển Đông và Hoa Đông, sự quyết
đoán của Trung Quốc về các yêu sách đối với các vùng biển này đã gia
tăng cùng với quy mô ngày càng tăng của hải quân và các dịch vụ hàng hải
của họ. Với sức mạnh hải quân gia tăng, Trung Quốc đã thể hiện ý định
mở rộng yêu sách biển bằng việc tiến hành rất nhiều các cuộc diễn tập
quân sự có sự tham gia của các tàu chiến trên mặt nước hiện đại hơn và
thậm chí là cả tàu ngầm. Mục đích của các cuộc diễn tập hải quân khác
nhau này là để thể hiện sự quyết tâm của Trung Quốc trong việc giải
quyết đơn phương và bằng quân sự các tranh chấp lãnh thổ khác nhau này
bằng việc phô trương sức mạnh hải quân đang gia tăng của mình, và cũng
để gây ấn tượng với các quốc gia yêu sách khác về sự sở hữu “trên thực
tế” (“de facto”) đối với các vùng lãnh thổ tranh chấp này. Vào
cuối năm 2010, không hài lòng với việc gây áp lực ngoại giao lên các
quốc gia ASEAN trước Hội nghị Thượng đỉnh Lãnh đạo Mỹ-ASEAN, Hải quân
Trung Quốc đã tiến hành tập trận hải quân lần thứ 4 chứng minh rằng
Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với Biển Đông và rằng
Trung Quốc đang phát triển nhanh chóng khả năng để duy trì việc triển
khai các lực lượng hải quân vào sâu trong các vùng biển này. Điều này đã
khiến một nhà phân tích Australia nhận xét rằng:
“Việc biểu dương lực lượng nhằm mục
đích nhắc đi nhắc lại thông điệp rằng Trung Quốc cho rằng Mỹ không có
quyền can thiệp vào khu vực, nơi mà Trung Quốc, Đài Loan, và 4 nước
ASEAN đang vướng vào mạng lưới các yêu sách lãnh thổ và quyền tài phán.
Nhưng rất có khả năng điều này sẽ được hiểu một cách tiêu cực ở khu vực.
Phần lớn các nước Đông Nam Á vốn đang trở nên ngày càng lo ngại đối với
cách hành xử khá là quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông, sẽ xem việc
biểu dương lực lượng đó như là một ví dụ khác cho sự hống hách của Bắc
Kinh”.
Về lâu dài, sức mạnh hải quân ngày càng
gia tăng của Trung Quốc sẽ được định hướng không chỉ giúp mở rọng các
vùng biển mà còn tham gia vào cái mà các nhà phân tích hải quân Mỹ gọi
là các hoạt động chống-tiếp cận/chống-từ chối, nghĩa là các hoạt động
bao gồm việc từ chối sự tiếp cận của hải quân nước ngoài – đặc biệt là
của Mỹ – đối với vùng biển Hoa Đông và biển Đông, đồng thời đạt được khả
năng hạn chế sự tiếp cận đối với khu vực Tây Thái Bình Dương ngoài khu
vực được gọi là Chuỗi Đảo thứ nhất (Nhật Bản-Đại lục-Okinawa-Đài
Loan-Philipines). Kết quả là, một nhà phân tích lưu ý đến tính cảnh giác
đang ngày càng gia tăng ở khu vực đối với khả năng hải quân đang ngày
càng lớn mạnh của Trung Quốc:
Trong khi không chắc chắn về việc
điều này có ý nghĩa như thế nào trên thực tế, nhưng những gì chúng ta đã
biết về yêu sách của Trung Quốc hiện đã đủ để đặt hồi chuông báo động
không chỉ giữa các quốc gia yêu sách ở ASEAN mà còn đối với các quốc gia
không yêu sách, bao gồm Indonesia, Singapore, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Các quốc gia này dựa vào giao thông hàng hải không bị cản trở qua Biển
Đông vì mục đích thương mại, cung cấp năng lượng và quân sự, và không
muốn nhìn thấy Trung Quốc ở một vị thế mạnh hơn để áp đặt sự kiểm soát
đối với các tuyến đường địa chiến lược giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ
Dương.
Trung Quốc cũng đã đầu tư nhiều nguồn
lực hơn để xây dựng hải quân ở Biển Đông. Hải quân Trung Quốc đã xây
dựng một căn cứ tàu ngầm rộng lớn ở đảo Hải Nam như là cảng nội địa giúp
Hạm đội Nam Hải ở vị trí gần hơn với các vùng biển tranh chấp ở Biển
Đông. Tháng 7/2011, Trung Quốc chính thức thừa nhận đang xây dựng lại
một tàu sân bay và sẽ triển khai thử tàu sân bay này vào tháng 8/2011.
Người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc thừa nhận rằng Trung Quốc đang
tập trung nghiên cứu phát triển tàu sân bay và sẽ sử dụng tàu sân bay
đầu tiên (tàu sân bay Varyag của Xô Viết cũ) của mình như là nơi để thực
hiện tân trang lại cho mục đích huấn luyện và nghiên cứu khoa học. Bình
luận của người phát ngôn này dường như để chỉ ra rằng trong khi Trung
Quốc chưa có kế hoạch triển khai tàu sân bày đầu tiên của mình cho việc
tác chiến, tuy nhiên ông thừa nhận rằng Trung Quốc sẽ sử dụng tàu này
như là một bản mẫu cho các tàu sân bay mang tính tự tạo hơn. Phân tích
này được ủng hộ bởi hai báo cáo rằng Trung Quốc đang xây dựng hai tàu
sân bay tự tạo Jiangnan Shipward ở Thượng Hải như là một phần của chương
trình hiện đại hóa quân sự sâu rộng của Hải quân Trung Quốc.
Tuyên bố này được đưa ra vào thời điểm
các quốc gia láng giềng của Trung Quốc vẫn đang còn choáng váng từ một
loạt các cuộc đối đầu với các tàu của Trung Quốc ở các vùng biển tranh
chấp trên Biển Đông. Các nhà phân tích hải quân gần đây đã mong đợi việc
triển khai các tàu sân bay của Hải quân Trung Quốc trong tương lai ở
Biển Đông nơi mà cac tàu này có thể được sử dụng như là một phần của các
cuộc tấn công 3 chiều trong chiến dịch công kích vào các đảo san hô
chống lại các quốc gia yêu sách khác. Hải quân Trung Quốc rõ ràng tin
rằng việc phát triển sức mạnh hải quân sẽ giúp Trung Quốc giải quyết
tranh chấp lãnh thổ với các quốc gia yêu sách bé hơn theo cách của Trung
Quốc, và buộc Hải quân Mxy ra khỏi Biển Đông và các vùng biển tranh
chấp khác xung quanh Trung Quốc. Việc xây dựng hải quân, cùng với các
chiến thuật chính trị thực tiễn khác của Trung Quốc đã gây ra sự gia
tăng căng thẳng ở khu vực. Cách tiếp cận dựa trên sức mạnh ngày càng
quyết đoán của Trung Quốc trong việc nỗ lực áp đặt các yêu sách của mình
ở Biển Đông đã dẫn đến việc Mỹ thay đổi quan tâm và lợi ích chiến lược
đối với tranh chấp lãnh thổ này.
Hệ lụy của Chính sách Chính trị thực tiễn của Trung Quốc
Là quốc gia yêu sách lớn nhất và mạnh
nhất, Trung Quốc đang ở vị thế rất đặc thù, hoặc là đang trở thành người
chơi quan trọng nhất trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở
Biển Đông, hoặc là trở ngại lớn nhất đối với việc giải quyết này. Tuy
nhiên, bằng việc áp dụng chính sách chính trị thực tiễn, Trung Quốc đã
biến Biển Đông thành khu vực bất ổn nguy hiểm nhất ở Đông Nam Á và là
nơi xung đột vũ trang có nguy cơ bùng phát cao. Yêu sách biển mở rộng
của Trung Quốc dựa trên niên giám lịch sử chiếm khoảng 80% Biển Đông và
theo hướng Nam tiến xuống các vùng biển ven đảo Natuna của Indonesia và
Đông Malaysia. Yêu sách biển bành trướng này sẽ mang lại hệ lụy trực
tiếp đối với các quốc gia ven biển, đối với tự do hàng hải và đối với
hoạt động hải quân. Nếu Trung Quốc có thể thực hiện được yêu sách đối
với Biển Đông, điều này sẽ ngay lập tức biến Trung Quốc thành láng giềng
của các quốc gia Indonesia, Malaysia, Philippines và Brunei. Kết quả
là, các quốc gia Đông Nam Á này sẽ phải trở nên nhạy cảm đối với lợi ích
địa chiến lược lâu dài của Trung Quốc trong việc đẩy lực lượng của Mỹ
ra khỏi biên giới biển của mình cũng như yêu sách quyền chủ quyền đối
với toàn bộ vùng biển Đông và biển Hoa Đông trong khi thực thi các chính
sách đối ngoại của họ.
Hơn nữa, các hạm đội thương mại và tàu
cá của các quốc gia này cũng sẽ phải tuân thủ luật và quy định của Trung
Quốc, cũng như bất kỳ hạn chế nào mà Trung Quốc mong muốn áp đặt trong
tương lai. Cuối cùng, hải quân của các quốc gia ven biển này cũng sẽ bị
tác động bởi yêu sách biển bành trướng của Trung Quốc do các tàu chiến
của các quốc gia này khi đi qua Biển Đông sẽ phải đối mặt với những hạn
chế rất chặt chẽ của Trung Quốc. Điều này là do chính sách hiện thời của
Trung Quốc rằng tàu chiến của các quốc gia qua Biển Đông phải có được
sự cho phép của Trung Quốc. Do đó, bình luận về yêu sách biển bành
trướng của Trung Quốc dựa trên niên giám lịch sử, một nhà phân tích
người Mỹ đã đưa ra một câu ví thú vị sau:
Đối với các quốc gia ven Biển Đông,
các yêu sách của Trung Quốc tương tự như việc một trong những người hàng
xóm của bạn tuyên bố rằng toàn bộ con đường ở trước nhà bạn là tài sản
riêng của anh ta. Hơn nữa, anh ta cũng tuyên bố rằng, vỉa hè, đường lái
xe vào nhà bạn và cả sân trước nhà bạn cũng thuộc về anh ta… Nếu bạn hay
các hàng xóm khác phản đối, anh ta chối bỏ hiệu lực danh nghĩa mà bạn
có và từ chối việc ra tòa giải quyết.
Trong việc theo đuổi yêu sách bành
trướng của mình, các quan chức Trung Quốc khẳng định rằng bất kỳ tranh
chấp nào liên quan đến Biển Đông chỉ có thể được giải quyết song phương
và không nên quốc tế hóa hay đa phương hóa. Điều này đã chia rẽ ASEAN
khi Trung Quốc đề xuất nghiên cứu địa chấn chung ở các khu vực ở Biển
Đông với hai quốc gia thành viên ASEAN khác, và điều mà đến lượt nó đã
làm giảm giá trị các yêu sách pháp lý của tất cả các quốc gia Đông Nam Á
và chia rẽ tổ chức khu vực này. Hiện nay, Trung Quốc đang khéo léo sử
dụng viện trợ kinh tế để thắt chặt và mở rộng hơn nữa quan hệ với các
nước láng giềng Đông Nam Á. Bắc Kinh cũng đã thúc đẩy quan hệ hợp tác
kinh tế, quân sự và chính trị ngay cả với các quốc gia ASEAN cũng như
với tổ chức khu vực này. Sự mê hoặc khéo léo này của Trung Quốc đã gây
ra 3 hệ quả trong ASEAN, điều này đã làm sâu sắc hơn sự chia rẽ giữa các
quốc gia thành viên gây ra sự tê liệt nghiêm trọng đối với tổ chức khu
vực này: a) Tạo ra một khuynh hướng giữa các quốc gia ASEAN (đặc biệt là
các quốc gia có lợi ích từ thương mại và đầu tư của Trung Quốc) tăng
cường hơn nữa các khía cạnh hợp tác trong các mối quan hệ giữa hiệp hội
này với Trung Quốc, đồng thời làm giảm nhẹ bất đồng giữa họ; b) Tạo ra
sự chia rẽ giữa các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ trực tiếp (Việt Nam
và Philippin), các quốc gia có tranh chấp gián tiếp (Brunei và
Malaysia) và các quốc gia không có tranh chấp gì với Trung Quốc (Thái
Lan, Indonesia, Campuchia, Lào và Myanmar); và 3) tận dụng sự chia rẽ
này, Trung Quốc đã ngăn không cho ASEAN đưa ra một lập trường thống nhất
tập thể đối với tranh cấp Biển Đông.
Trung Quốc đã có được một số thành công
trong việc chia rẽ ASEAN và Mỹ, ngăn chặn hai bên hình thành một mặt
trận thống nhất chống lại tham vọng lãnh thổ của Bắc Kinh ở Biển Đông.
Trung Quốc đã phản ứng tiêu cực đối với tuyên bố của Ngoại trưởng
Clinton rằng Washington muốn đóng vai trò hỗ trợ các quốc gia trong việc
giải quyết tranh chấp lãnh thổ kéo dài giữa Trung Quốc và các quốc gia
láng giềng nhỏ hơn. Trung Quốc đang cảnh báo Mỹ không được can thiệp vào
xung đột này lập luận rằng điều đó sẽ chỉ gia tăng căng thẳng khu vực.
Bắc Kinh coi nỗ lực của Washington muốn đóng một vai trò hỗ trợ các bên
giải quyết tranh chấp là hành vi kích động và là nỗ lực của các quốc gia
ASEAN yếu hơn (đặc biệt là Việt Nam và ở một mức độ nào đó là
Philippines) nhằm quốc tế hóa và đa phương hóa tranh chấp này. Các quan
chức ngoại giao Trung Quốc liên tục khẳng định rằng tranh chấp Biển Đông
chỉ nên được giải quyết song phương giữa Trung Quốc và các quốc gia
ASEAN yếu hơn – một thủ đoạn rõ ràng có lợi cho một quốc gia yêu sách
mạnh hơn. Gần đây, Trung Quốc đã thành công trong việc tạo ra rạn nứt
trong quan hệ giữa Mỹ và các quốc gia ASEAN nhỏ hơn.
Vài ngày trước thềm hội nghị thường niên
ARF 2011 ở Jakarrta, Trung Quốc và ASEAN đã ký được thỏa thuận về bản
hướng dẫn với ngôn từ rất mơ hồ nhằm mục đích thực hiện Tuyên bố về Ứng
xử của các bên trên Biển Đông 2002. Các quan chức ASEAn cho biết các
hướng dẫn này sử dụng cho các dự án chung mà hai bên sẽ theo đuổi ở Biển
Đông. Các hướng dẫn này bao gồm cac vấn đề đối phó với sự suy thoái về
môi trường và môi trường biển, cứu trợ và cứu nạn trên biển, tội phạm
xuyên quốc gia, hàng hải và đa dạng sinh học. Tuy nhiên, thỏa thuận này
chỉ là một phần của DOC năm 2002 bởi lẽ nó không thể đứng một mình. Hơn
nữa, thỏa thuận này không có bất kỳ điều khoản nào liên quan đến việc
quản lý hay giải quyết tranh chấp như các quy định về sự tham gia sẽ
điều chỉnh cách thức các tàu chiến của các quốc gia yêu sách nên hoạt
động trên các vùng biển tranh chấp ở Trường Sa, và xa hơn là một thỏa
thuận khung mang tính ngoại giao để có thể trực tiếp giải quyết tranh
chấp lãnh thổ này. Rõ ràng rằng động cơ của Trung Quốc trong việc tiến
đến những hướng dẫn này với ASEAn là do cái lợi trước mắt của việc xoa
dịu các quốc gia thành viên của Hiệp hội từ đó các nước này sẽ loại bỏ
vấn đề Biển Đông ra khỏi chương trình nghị sự của ARF trước khi Ngoại
trưởng Clinton đến Bali, Indonesia. Điều này đã dẫn đến nước cờ ngoại
giao đó là tạo ra sự rạn nứt giữa các quốc gia ASEAN và Mỹ, điều sẽ giúp
ngăn chặn hai bên đạt được một tiếng nói chung chống lại kế hoạch đòi
lại lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông. Một nhà báo người Australia đã
thấy được âm mưu này khi ông lưu ý:
Bắc Kinh hầu như chắc chắn đồng ý
với bản hướng dẫn vì cái lợi trước mắt, bởi vì Trung Quốc muốn làm yên
lòng ASEAN sau khi tàu của Trung Quốc liên tục có các hoạt động nguy
hiểm và công khai rộng rãi trong vùng biển của Việt Nam và Philippine
trong năm nay. Việc không đồng ý sẽ đặt Trung Quốc vào tình thế bất lợi
về ngoại giao. Cũng có thể đoán được rằng Trung Quốc không muốn các
thành viên ASEAN khuyến khích người Mỹ can thiệp thêm lần nữa.
Mặc dù Ngoại trưởng Trung Quốc Dương
Khiết Trì tuyên bố rằng Trung Quốc sẵn sàng ký Bộ luật Ứng xử vào một
thời điểm thích hợp, các quan chức Đông Nam Á nghi nghờ về điều đó. Đông
Nam Á đơn giản không tin là Bắc Kinh đã có sự thay đổi về thực chất.
Tuy nhiên, chiến thuật chính trị thực
tiễn cứng rắn nhất và đáng báo động nhất của Trung Quốc đó là việc xây
dựng hải quân ở Biển Đông. Bên cạnh việc Trung Quốc đạt được tàu ngầm và
tàu khu trục mặt nước mới cũng như phát triển không lực trên biển, Hải
quân Trung Quốc đã xây dựng một căn cứ ngầm rộng lớn ở đảo Hải Nam được
xem là cảng nội địa giúp Hạm đội Nam Hải ở vị trí gần hơn với các vùng
biển tranh chấp ở Biển Đông. Rõ ràng PLAN tin rằng việc phát triển sức
mạnh hải quân sẽ thúc đẩy việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ với các
quốc gia yêu sách nhỏ hơn theo cách của Trung Quốc, và buộc Hải quân Mỹ
ra khỏi Biển Đông và các khu vực biển tranh chấp khác xung quanh Trung
Quốc. Việc xây dựng hải quân này cùng với các chiến thuật chính trị thực
tiễn khác của Trung Quốc đã gây thêm căng thẳng cho khu vực. Chính sách
dựa trên sức mạnh ngày càng quyết đoán của Trung Quốc trong nỗ lực áp
đặt yêu sách đối với Biển Đông đã thu hút sự chú ý và quan tâm mới của
Mỹ đối với tranh chấp lãnh thổ này.
Tiến đến một cân bằng quyền lực ở Châu Á?
Trung Quốc hiện tự tin để trở thành
người thay đổi luật chơi ở Đông Á. Các nhà hoạch định chính sách của
Trung Quốc nhận thức được rằng đất nước họ đã trở thành cường quốc về
thương mại và đầu tư trong một nền kinh tế toàn cầu vẫn đang quay cuồng
do hệ quả của khủng hoảng tài chính năm 2008 ở Mỹ. Các quan chức này
cũng phải nhận thức rõ rằng Trung Quốc là một người mua lớn đói với trái
phiếu của Bộ Tài chính Mỹ và là người mua lớn đối với hàng hóa toàn
cầu. Các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc cũng lưu ý rằng bất chấp
sự suy thoái của nền kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Trung Quốc vẫn đang
phát triển nhanh, không chịu tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu và vượt qua nền kinh tế Nhật bản với tư cách là nền kinh tế lớn thứ
hai thế giới. Khi nền kinh tế phát triển, Quân đội giải phóng Nhân dân
Trung Hoa cũng đang hiện đại hóa hải quân và không quân. Hiện tại, khả
năng Trung Quốc tiến hành các hoạt động tác chiến trên diện rộng, tinh
vi, cường độ/công nghệ cao dọc phạm vi các vùng biển của Trung Quốc đã
được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây.
Do đó, các nhà hoạch định chính sách cao
cấp của Trung Quốc đã từ bỏ các chính sách ôn hòa và xoa dịu như trước
đây và thay vào đó trở nên quyết đoán và mang tính dân tộc chủ nghĩa hơn
khi tuyên bố vị thế đang nổi lên của Trung Quốc, sự suy giảm vai trò
của Mỹ, và yêu sách không thể chối cãi của họ đối với vùng biển Đông và
biển Hoa Đông. Bất chấp việc châm ngòi cho căng thẳng khu vực do yêu
sách công khai, bành trướng và quyết đoan đối với hơn 80% Biển Đông, các
quan chức Trung Quốc vẫn tự cho mình là nạn nhân đang phản ứng và tự vệ
khi phải đối mặt với sự lấn chiếm ngày càng tăng các vùng biển của
Trung Quốc từ hai quốc gia nhỏ hơn là Việt Nam Và Philippines – và cái
mà Trung Quốc cho là sự can thiệp của Mỹ đối với các nỗ lực của Trung
Quốc trong việc bảo vệ lợi ích cốt lõi của mình. Sức mạnh hải quân ngày
càng tăng của Trung Quốc đã hỗ trợ cho yêu sách chính thức rằng Biển
Đông là lãnh hải của Trung Quốc do các tàu khảo sát của Việt Nam và
Philippin đã bị các tàu tuần tra của Trung Quốc đe dọa và tàu cá của hai
nước này bị các lực lượng của Trung Quốc bắt giữ hay bị máy bay tuần
tra của Trung Quốc bắn vào. Các sự cố trên biển này đi theo một mô hình
thực tiễn của Trung Quốc đó là việc sử dụng sức mạnh hải quân ưu việt
hơn và ngoại giao cưỡng ép nhằm gây áp lực và buộc các quốc gia yêu sách
khác tránh xa các vùng biển tranh chấp của với Trung Quốc. Thực ra, sức
mạnh, tuyên bố cũng như các hành động của Trung Quốc cho thấy Trung
Quốc đã chiếm vị trí đứng đầu trong trật tự phức tạp ở khu vực và đạt
tất cả các yêu cầu (sức mạnh kinh tế và quân sự, sức mạnh và ý chí ngoại
giao để áp đảo các quốc gia bé hơn) của một cường quốc truyền thống tự
tin và quyết tâm thay đổi trò chơi quyền lực ở Đông Á.
Đối mặt với sức mạnh hải quân đang ngày
càng gia tăng của Trung Quốc, các quốc gia ven biển, ở cả Đông Bắc và
Đông Nam Á đều nhận thức được rằng Trung Quốc có thể lấy một số đảo đang
tranh chấp ở biển Đông và biển Hoa Đông do nguồn dự trữ năng lượng tiềm
năng của các đảo này và vai trò quan trọng của chúng với tư cách là các
tuyến đường gia thông biển (SLOCs). Tháng 6/2011, Việt Nam,
Philippines, và Nhật Bản đã thể hiện quan ngại hay đã đưa ra các phản
đối chính thức đối với các hoạt động trên biển của Trung Quốc ở các vùng
biển tranh chấp ở Biển Đông. Rất nhiều nhà phân tích và quan sát đã
đồng tình rằng Trung Quốc đã tạo ra các căng thẳng nghiêm trọng ở khu
vực và đã đặt Trung Quốc vào thế xung đột trực tiếp với các quốc gia yêu
sách khác. Như một nhà phân tích lưu ý:
Áp đặt chủ quyền của Trung Quốc đối
với các vùng tranh chấp – khắp nơi từ Tây Tạng đến Đài Loan cho đến Biển
Đông – từ lâu đã trở thành vấn đề nghị sự hàng đầu của các nhà dân tộc
chủ nghĩa Trung Quốc, một nỗi ám ảnh làm phức tạp tất cả các mối quan
ngại khác. Nhưng điều này làm phức tạp thêm nỗ lực của Trung Quốc nhằm
chứng minh sự trỗi dậy của mình như một điều may mắn cho cả khu vực và
tạo ra sự chia rẽ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng.
Bất chấp sự quan ngại đang ngày càng gia
tăng đối với sự quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông, các quốc gia này
cũng không thể hy vọng cân bằng sức mạnh quân sự với Trung Quốc. Họ có
thể thỉnh thoảng triển khai tàu hay máy bay đến các vùng biển tranh chấp
một cách riêng lẻ. Tuy nhiên, các quốc gia bé nhỏ này ở Đông Nam Á
không thể đơn giản vượt qua sức mạnh quân sự đang ngày càng gia tăng của
Trung Quốc ngay cả nếu các nước này kết hợp nhân lực, thiết bị và cả
chi tiêu quốc phòng. Điều này còn phức tạp hơn khi nền quân sự của các
quốc gia bé nhỏ này cho thấy ít quan tâm đến việc tập trung các nguồn
lực và tạo nên một sức mạnh phòng vệ tập thể có thể đối phó với Trung
Quốc. Điều này xuất phát từ các mối quan hệ kinh tế và chính trị mà các
nước này có với Trung Quốc và vì họ không muốn gây ảnh hưởng đến lợi ích
thu được bằng việc đối mặt trực tiếp với Trung Quốc thông qua việc xây
dựng quân đội hay hình thành một liên minh an ninh khu vực trực tiếp
chống lại cường quốc đang lên của khu vực. Điều tốt nhất mà các quốc gia
này có thể hy vọng đó là Mỹ đóng vai trò là một quốc gia cân bằng ngoài
khu vực ở Đông Á. Do đó, trong bối cảnh chủ nghĩa dân tộc sục sôi ở
Trung Quốc và các hành vi đơn phương ở Biển Đông, một số quốc gia ở Đông
Nam Á, cùng với Hàn Quốc và Nhật Bản, đang ngả dần về phía Mỹ do các
nhu cầu an ninh của họ.
Thay vì kéo Trung Quốc vào chạy đua vũ
trang, các quốc gia bé nhỏ ở Đông Nam Á thiên về việc cân bằng quyền lực
ở khu vực nơi mà các nước này đảm bảo rằng Mỹ tiếp tục là một cường
quốc Thái Bình Dương và đóng vai trò trọng yếu trên con đường cân bằng
khu vực tiến vào thế kỷ 21. Trong viễn cảnh đó, các quốc gia Đông Nam Á
sẽ xem sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Đông Á là nhân tố quyết định, có
thể là quan trọng nhất không chỉ đảm bảo các tuyến đường giao thông và
thương mại mà còn nhằm cân bằng lại sự bành trướng của hải quân và sự
quyết đoán của Trung Quốc. Về phần mình, Mỹ cũng có lợi ích trong việc
ủng hộ các quốc gia này trong trò chơi cân bằng trong bối cảnh các nỗ
lực của Trung Quốc nhằm thay đổi các quy chuẩn quốc tế liên quan đến tự
do hàng hải vì các mục đích quân sự và nhằm quay trở lại sự cân bằng của
các quốc gia ven biển, và các quyền quốc tế của các quốc gia ven biển
như đã được thương lượng trong quá trình hình thành UNCLOS. Đề xuất một
viễn cảnh cân bằng quyền lực ở Đông Á, Học viện Lowy có trụ sở ở
Australia cho rằng:
Cân bằng quyền lực có thể mang lại
lợi ích cho Washington thông qua việc cho phép khéo léo sử dụng sức mạnh
quốc gia của Mỹ và tập trung vào các nguồn lực đang ngày càng hạn chế
nơi mà chúng có thể được sử dụng hiệu quả nhất… Trong một chiến trường
mà biển đang chiếm ưu thế, Mỹ có thể tiếp tục sử dụng sức mạnh biển của
mình, dựa vào khả năng trinh sát và tấn công tầm xa nhằm duy trì quân
đội trên diện rộng và mở rộng hơn nữa sức mạnh nếu cân bằng khu vực rơi
vào trạng thái mất ổn định.
Trong phân tích cuối cùng, điều nguy
hiểm không phải là sự kiểm soát của Trung Quốc đối với các vùng biển
rộng lớn kết nối Đông Á với Trung Đông và Châu Âu, và được coi là các
tuyến đường biển tấp nập nhất trên thế giới. Điều thực sự nguy hiểm đó
là tương lai của Đông Á. Việc Trung Quốc khẳng định yêu sách biển của
mình sử dụng các chiến thuật chính trị thực tiễn sẽ biến khu
vực Đông Á thành một vũ đài địa chính trị nơi sự cân bằng quyền lực sẽ
là tên gọi của trò chơi. Do đó, điều này sẽ minh chứng cho dự đoán của
Giáo sư Aaron L. Freiberg năm 1993-94 “rằng quá khứ của Châu Âu có thể
là tương lai của Châu Á”. Mô tả viễn cảnh có thể xảy ra này đối với Đông
Á, Viện Lowly Institute dự đoán:
Hệ thống QHQT thừa nhận cuộc đua
giữa các quốc gia và do đó nguy cơ luôn hiện hữu về xâm lược và xung
đột… mà ở đó các bên tham gia đều đồng ý, ngầm thực hiện giảm thiểu cạnh
tranh ảnh hưởng vì lợi ích của việc duy trì sự ổn định trên toàn hệ
thống.
Điểm mấu chốt của hệ thống đó là sự
vận động bên trong của nó. Nếu sức mạnh của một quốc gia tăng một cách
mất cân đối, hệ thống sẽ điều chỉnh thông qua việc tổ chức lại mối quan
hệ giữa các quốc gia. Một số quốc gia – dễ bị tác động nhất bởi lực hút
của quốc gia đang tăng trưởng sẽ bị kéo gần về quốc gia đó. Các quốc gia
khác sẽ phản ứng bằng việc xích lại gần nhau và tiến đến một hay nhiều
cực khác thay thế trong hệ thống. Một số quốc gia sẽ kết hợp cả hai, ví
dụ như ở Đông Nam Á.
Lựa chọn các quốc gia đưa ra nhằm
phản ứng lại một sự cân bằng quyền lực không nhất thiết chỉ dựa vào các
cân nhắc về quyền lực; các vấn đề như các quốc gia này nhận thức về mức
độ ôn hòa của một quốc gia hùng mạnh như thế nào cũng ảnh hưởng đến
quyết định của các quốc gia đó trong việc cân bằng hay ngả theo quốc gia
đó.
Kết luận
Kể từ năm 2009, sự bình ổn tương đối ở
Biển Đông nói riêng và ở Đông Á nói chung đã bị lay động bởi chính sách
chính trị thực tiễn của Trung Quốc nhằm áp đặt yêu sách biển bành trướng
của mình ở Biển Đông. Các căng thẳng trở lại đã bắt đầu khi Trung Quốc
bắt đầu tuyên bố yêu sách biển bành trướng của mình ở Biển Đông, buộc
các quốc gia yêu sách khác phải đàm phán song phương với Bắc Kinh; ngăn
không cho các quốc gia yêu sách nhỏ hơn tận dụng diễn đàn đa phương để
đóng một vai trò trọng yếu trong tranh chấp lãnh thổ này; cảnh báo các
cường quốc khác không được đóng vai trò hỗ trợ; và xây dựng một lực
lượng hải quân lớn mạnh buộc các quốc gia khác chấp nhận các điều kiện
của Trung Quốc về cách thức mà tranh chấp này sẽ được giải quyết. Những
hành động này của Trung Quốc ở Biển Đông đã làm cho căng thẳng quay trở
lại khu vực.
Điều nguy hiểm ở tranh chấp này không
chỉ đơn giản là sự kiểm soát một khu vực biển chiến lược và rộng lớn.
Quan trọng hơn đó là tương lai của Đông Á. Liệu khu vực có tránh được
các cuộc cạnh tranh, xung đột và chiến tranh mà Châu Âu đã trải qua
trước năm 1945? Hay liệu quá khứ của Châu Âu có thể trở thành tương lai
của Đông Á? Chính sách chính trị thực tiễn của Trung Quốc trong giải
quyết tranh chấp Biển Đông đang đẩy khu vực đến viễn cảnh thứ hai nơi mà
“tương lai bất định của châu Á sẽ trở thành quá khứ bạo lực và hiếu
chiến của Châu Âu”. Tuy nhiên, viễn cảnh tệ hại này có thể tránh được
nếu Trung Quốc thay đổi chính sách chính trị thực tiễn của mình trong
việc giải quyết tranh chấp. Thay đổi chính sách này sẽ đòi hỏi Trung
Quốc áp dụng chính sách thể chế – tự do trong việc giải quyết tranh
chấp. Điều này có nghĩa là Trung Quốc sẽ phải đưa yêu sách lãnh thổ mở
rộng của mình ra trước trọng tài hay luật pháp quốc tế, sẽ phải áp dụng
một cách nhìn tích cực, chứ không phải là hoài nghi về chủ nghĩa đa
phương, và quan trọng hơn là thúc đẩy các biện pháp xây dựng lòng tinh
với các quốc gia yêu sách nhỏ hơn. Tuy nhiên, việc áp dụng chính sách
này có nghĩa là cần rất nhiều ràng buộc đối với một cường quốc đang lên
như Trung Quốc và cần phải hiểu quan điểm và lợi ích của các quốc gia
nhỏ hơn trong khu vực. Tuy nhiên, trong thời gian trước mắt, điều này sẽ
giảm nguy cơ chiến tranh, thậm chí khi đang tồn tại một cuộc xung đột,
và về mặt lâu dài, điều này sẽ tạo điều kiện cho Đông Á tìm ra con đường
lịch sử của riêng mình khác với quá khứ bạo lực của Châu Âu.




















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét