Evan A. Laksmana
Ngày 23-2-2011
Indonesia chuẩn bị làm chủ tịch ASEAN. Với vấn đề Trung Quốc luôn lởn vởn trong đầu, họ sẽ tìm cách giải quyết tranh chấp trên Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông – ND).
Ngày 23-2-2011
Indonesia chuẩn bị làm chủ tịch ASEAN. Với vấn đề Trung Quốc luôn lởn vởn trong đầu, họ sẽ tìm cách giải quyết tranh chấp trên Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông – ND).

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn tờ Asahi Shimbun gần đây, Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono tuyên bố rằng trên cương vị chủ tịch Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm nay, một trong những quan tâm hàng đầu của Indonesia sẽ là phải làm sao để đạt được tiến bộ trong tranh chấp Biển Đông bằng cách kéo Trung Quốc vào các cuộc đàm phán đa phương.
Mối lo ngại đối với yêu sách của Bắc Kinh ở Biển Đông phản ánh bốn suy tính ngầm của Jakarta về tranh chấp này, liên quan đến Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Đài Loan, Philippines, và Brunei.
Suy tính trước hết là, Indonesia, về mặt nguyên tắc, không nằm trong số những nước đưa ra yêu sách, nhưng họ lại có quan tâm rõ ràng đến vấn đề Biển Đông, đặc biệt khi yêu sách của Trung Quốc cùng bản đồ “đường chín đoạn” tai tiếng lại đe dọa vùng nước xung quanh quần đảo Natuna – một quần đảo bao gồm xấp xỉ 300 đảo nhỏ, vốn là nơi có trữ lượng khí tự nhiên lớn nhất Indonesia. Kể từ thập niên 90 của thế kỷ trước, Jakarta đã tìm cách yêu cầu Bắc Kinh làm rõ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc, nhưng cho đến nay vẫn chưa nhận được một phản hồi nhất quán và rõ ràng nào.
Sự mơ hồ về một khu vực chiến lược chủ chốt như thế có lẽ là nguyên nhân giải thích tại sao vào năm 1996 và 2008, Indonesia đã tiến hành hai trong số những cuộc tập trận chung lớn chưa từng có của họ trong khu vực. Yêu sách của Trung Quốc chắc chắn cũng là yếu tố nằm đằng sau quyết định của Indonesia đẩy mạnh quan hệ đối tác an ninh chiến lược với Australia, Ấn Độ và Mỹ trong những năm gần đây.
Vấn đề thứ hai, cũng có liên quan, là mối bang giao đang mở rộng hơn giữa Indonesia và Trung Quốc. Sau một thời kỳ đóng băng quan hệ ngoại giao từ năm 1967 đến năm 1990, quan hệ toàn diện giữa hai đối thủ địa chính trị đã và đang được cải thiện: bắt đầu ấm lên nhờ Hiệp ước Đối tác Chiến lược năm 2005 và nhờ sự tăng lên không ngừng thương mại, đầu tư, quốc phòng và giáo dục.
Người ta nói rằng, ít nhiều vẫn tồn tại nỗi nghi ngờ trong nội bộ tầng lớp lãnh đạo cao cấp của Jakarta, đặc biệt khi nghĩ đến công cuộc hiện đại hóa hải quân nhanh chóng, sự thiếu minh bạch trong quốc phòng, và thái độ quyết liệt ngày càng tăng lên của Trung Quốc trên Biển Đông. Điểm cuối cùng trong ba khía cạnh kể trên có lẽ thật sự là giấy quỳ tím để thử quan hệ Trung Quốc – Indonesia trong dài hạn, đặc biệt khi Bắc Kinh không còn tung ra những “tuyên bố lo ngại” về tình hình người Hoa thiểu số ở Indonesia. Thêm vào đó, cũng đã có những bất ổn khi Trung Quốc trở thành đối thủ cạnh tranh về kinh tế: Chẳng hạn, Jakarta lưu ý rằng thâm hụt thương mại với Bắc Kinh vào năm 2010 của họ đã là từ 5 đến 7 tỷ USD.
Nguyên nhân thứ ba khiến Indonesia muốn giải quyết những tranh chấp là nguy cơ xung đột tiềm ẩn ở khu vực biển phía bắc đất nước họ, nơi vốn là “phao cứu sinh” của Indonesia xét về mậu dịch, nghề cá và tài nguyên khoáng sản. Indonesia không thích thú gì nếu phải chứng kiến tranh chấp sa vào một vòng xoáy dâng lên, vượt khỏi tầm kiểm soát, nhất là nếu tranh chấp ấy lại liên quan đến những quốc gia có thế lực trong khu vực như Trung Quốc và Mỹ.
Với tư duy ấy, kể từ năm 1990, Bộ Ngoại giao Indonesia đã có sáng kiến thực hiện một số hội thảo không chính thức và không chính thống (track-two: từ chỉ những quan hệ không chính thức và nằm ngoài cơ cấu quyền lực Nhà nước, nhằm xúc tiến trao đổi và hiểu biết lẫn nhau, tiến tới giải quyết xung đột – ND) và các cuộc trao đổi chuyên môn về việc quản lý tranh chấp trên Biển Đông. Các cuộc hội thảo, hội nghị này đều có sự tham dự của quan chức chính phủ (một cách cá nhân) và giới học giả từ những nước có liên quan, cũng như các nhà quan sát bên ngoài khác. Hội thảo đã tạo điều kiện cho các bên thảo luận về những lĩnh vực hợp tác “thực tiễn” như hoạt động tìm kiếm cứu hộ và nghiên cứu khoa học hàng hải.
Chủ nhân của sáng kiến hội thảo, một chuyên gia luật quốc tế lừng danh, là cựu đại sứ Indonesia Hashim Djalal. Ông tin rằng thảo luận phi chính thức dần dần sẽ tạo ra một tinh thần cảm thông giữa những bên có liên quan trong tranh chấp, và cuối cùng có thể sẽ dẫn tới một thỏa thuận cũng nên. Quả thật, một số người đã nói rằng Tuyên bố ASEAN-Trung Quốc 2002 về Quy tắc ứng xử của các bên (DoC) – thỏa thuận ràng buộc không có tính pháp lý đầu tiên trên Biển Đông – đã được xây dựng dựa trên kết quả của những hội thảo đó.
Cuối cùng, và một cách khái quát, Biển Đông đã luôn luôn là một trong những vấn đề gây tranh cãi và chia rẽ nhất giữa các nước trong khu vực, đe dọa sự gắn kết và đôi khi còn sinh ra trò giễu nhại “giải quyết tranh chấp một cách hòa bình theo kiểu ASEAN”.
Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng, đã có 17 cuộc giao tranh quân sự ở Biển Đông tính từ năm 1974 cho đến năm 2002, liên quan tới một loạt nước: Trung Quốc, Philippines, Malaysia và Vietnam. Những con số này nhấn mạnh một sự thực, rằng đây không chỉ là vấn đề cư xử với Trung Quốc như thế nào, mà còn là chuyện hòa giải giữa những lợi ích và yêu sách chồng lấn giữa tất cả các quốc gia có liên quan.
Làm chủ tịch ASEAN năm nay, Indonesia không còn lựa chọn nào khác ngoài thúc đẩy việc triển khai DoC 2002, và thậm chí hình thành một bộ Quy tắc Ứng xử có tính ràng buộc về pháp lý. Tất nhiên Jakarta có đủ năng lực chính trị để giải quyết những vấn đề kéo dài đã lâu này hay không thì còn phải xem.
Người dịch: Thủy Trúc




















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét