Đất nước chỉ có một. Chủ quyền là vô giá. Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo. Đối với người Việt Nam, dù đang sống ở trong hay ngoài nước, dù quan điểm chính trị khác nhau như thế nào, thì tình yêu đối với tổ quốc, sự quan tâm sâu sắc đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là trên hết. Tất cả người Việt Nam phải đặt sự an nguy của tổ quốc trên và trước tất mọi quyền lợi cá nhân hay phe nhóm. Mất Tổ quốc thì dầu cho chúng ta có mọi thứ thì cũng coi như không. Sẵn sàng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh thổ,lãnh hải Việt Nam.

Trường khúc nghìn năm Thăng Long Hà Nội

Vua Trần Nhân Tông: "Các người chớ quên nước lớn thường làm điều trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa muôn đời của ta là họa Trung Hoa. Họ không tôn trọng quy ước và biên giới. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được thì gặm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn: "Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu". Vua Lê Thánh Tông: “Một thước núi, một tấc sông của ta không nên vứt bỏ, ngươi nên cố cãi, chớ cho họ lấn dần, nếu họ không nghe, còn có thể sai quan sang xứ Bắc triều bày tỏ phải trái. Nếu ngươi dám lấy một thước, một tấc đất của Thái Tổ mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di.”

Những lời nói

TS Nguyễn Nhã: "Bất cứ ai có hành động làm cho dân tộc suy vong, yếu hèn, kẻ đó là có tội với tổ tông, dân tộc". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi". GS Carl Thayer, Cố vấn học viện Quốc phòng Úc: "Việt Nam đã đi đến điểm mà giới học thuật gọi là phải tự cứu mình bằng cách tăng cường khả năng quốc phòng cho tương lai dài hạn. Việt nam cũng phải tìm những đồng minh ngoại giao. Nếu Việt nam không tự bảo vệ chủ quyền của mình thì không ai có thể làm điều đó cho Việt Nam. Đây là vấn đề mà các nhà phân tích cho là đang dần xấu đi và có thể còn tiếp tục như vậy". GS Vũ Cao Đàm: "Xin hãy ghi nhận thêm một ngày giỗ những người con của Tổ Quốc đã hy sinh trong trận chiến chống lại quân đội của Trung Cộng xâm lược Hoàng Sa". Blogger Mr. Do: "Góp một tiếng nói trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo là điều đáng hoan nghênh". Đại biểu Quốc hội - Nhà sử học Dương Trung Quốc: "Bài học lịch sử cho thấy, chỉ một sai sót của chính phủ, dân tộc phải chịu đựng hậu quả lâu dài". Đặng Công Ngữ - Chủ tịch huyện Hoàng Sa:"Tôi sẽ tiếp tục cùng toàn dân cả nước đấu tranh để khẳng định chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam, tiếp tục thu thập tư liệu liên quan đến Hoàng Sa để làm kỷ yếu và hồ sơ lưu trữ". Dương Danh Dy, Nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, Trung Quốc: "Trung Quốc sợ đa phương hóa, muốn giải quyết song phương để bẻ từng que đũa cho dễ. Ta càng phải đa phương hóa, tận dụng tối đa đối tác. Trung Quốc ngại công khai hóa, ta càng phải nêu rõ cái sai của Trung Quốc đối với chủ quyền Việt Nam, để được sự ủng hộ của quốc tế. Việt Nam không thể im lặng để chịu cảnh lấn lướt trên biển Đông, cần công khai hóa cho thế giới biết những hành động sai trái của bên kia và quan trọng hơn, phải công khai với người dân mình trước”. Tướng Đồng Sỹ Nguyên: "ngay từ bây giờ, bất cứ cấp nào đều phải trân trọng từng tấc đất của quốc gia. Hám lợi nhất thời, vạn đại đổ vào đầu cháu chắt. Mất của cải có thể làm lại được, còn mất đất là mất hẳn". Lục Giả thời nhà Hán Trung Quốc nói: "Giống dân Việt ấy không thể khuất phục được". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: "Không để bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình… Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng". Nhà sử học Dương Trung Quốc:"Sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ có vai trò ngoại giao của chính phủ, có sức mạnh quốc phòng, và quan trọng hơn hết là lòng yêu nước và tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh của người dân". Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Quân đội Mỹ: "Chúng tôi phản đối bất cứ bên nào đòi quyền sở hữu toàn bộ khu vực này thông qua các biện pháp không hòa bình và không tuân theo các công ước quốc tế". Tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ (1995-2004):"Trung Quốc thì luôn luôn dùng các thủ thuật, thủ đoạn để gán ghép các sự kiện lại với nhau nhằm giành lấy một sự công nhận mặc nhiên về chủ quyền ở đây. Họ đã làm thế nhiều lần chứ không chỉ một lần." Nguyễn Cộng Hòa - Chuẩn đô đốc Hải quân Việt Nam:"Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng và tối thượng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam đều sẵn sàng hy sinh một khi chủ quyền tối thượng ấy bị xâm phạm". Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam:"không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào có sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, đồng thời Việt Nam có đủ khả năng để đối phó và chúng ta đang sống trong thế giới văn minh thế kỷ 21, khi đã có các văn bản luật pháp quốc tế rõ ràng và không quốc gia nào có thể gây chiến một cách dễ dàng." TS Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Việt Nam coi trọng Trung Quốc, coi trọng mối quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai với Trung Quốc nhưng nó không có nghĩa Việt Nam từ bỏ chủ quyền quốc gia". Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết:"Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, công lý, trọng nhân nghĩa, thủy chung, nhưng không bao giờ khuất phục trước cường quyền, bạo lực" Ngư dân Trương Minh Quang:"Bỏ vùng biển Hoàng Sa là có tội với cha ông". Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh:"Trung Quốc luôn nhắc "16 chữ" và "4 tốt" giả dối, nói trăm lời "hữu hảo", nhưng không ngừng lấn át, đe dọa và triển khai nhiều hoạt động thâm hiểm đối với ta". Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện khoa học Chiến lược Bộ Công an:"Chúng ta không xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào nhưng ai xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ta thì ta cũng đủ sức giáng trả tương xứng".Tân Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: 'Chủ quyền biển đảo là bất khả xâm phạm'. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: "Việt Nam chúng ta khẳng định có đủ căn cứ về pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam."
Trần Hưng Đạo: "Giặc cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh, dùng đoản chế trường là sự thường của binh pháp". Quang Trung: "Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ". Hồ Chí Minh "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi"

13/2/11

Hải tặc biển Đông

Viết cho những nạn nhân của vụ thảm sát trong Vịnh Bắc Việt ngày 8 tháng 1 năm 2005


Đọc tiếp:
  1. Tội ác của người bạn "tốt" Trung Quốc
  2. Một sự sỉ nhục đối với nền tri thức Trung Quốc.
  3. Tội ác và âm mưu của Trung Quốc
  4. Bốn bước lấn chiếm biển đảo và ngoại giao câu giờ 
  5. Trung Quốc chưa bao giờ từ bỏ âm mưu thôn tính Việt Nam
  6. Trung Quốc muốn "thống nhất" Việt Nam. Cách tốt nhất: Hãy làm nó (Việt Nam) chết còn hơn sống?
    Biến cố vịnh Bắc Việt ngày 8 tháng 1 năm 2005, hải quân Trung Quốc xả súng bắn chết 9 ngư dân Việt Nam, bắt đi 8 người khác và tịch thu một thuyền đánh cá là một vấn đề lớn thuộc về pháp luật. Theo lời khai của các nạn nhân chạy thoát về được thì hải quân Trung Quốc đã nổ súng bắn xối xả vào thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam tại điểm có tọa-độ 19° 16’ vĩ độ Bắc và 107° 06’ kinh độ Ðông. Theo Hiệpđịnh Phân Ðịnh Vịnh Bắc Bộ thì điểm nầy ở phía Tây và cách đường phân định lãnh hải là 10 hải lý, nhưng so với Công Ước 1887 thì điểm nầy cách đường biên giới trên biển (tức là đường kinh tuyến 105° 45’ kinh độ Ðông Paris hay 108° 03’ 18’’ kinh độ Ðông Greenwich) đến 57’ 18’’, tức khoảng 57 hải lý. Có nghĩa là biến cố xảy  ra ở sâu trong hải phận của Việt Nam. Chiếu theo luật Quốc Tế về Biển thì Hải quân Trung  Quốc đã vi phạm nhiều điều, nổi bật là các việc xâm phạm hải phận Việt Nam, nổ súng bắn giết, bắt cóc và chiếm đoạt tài sản của ngư dân Việt Nam. Như thế, hành vi của hải quân Trung Quốc nếu không phải là một hành vi gây hấn để mở đầu cho chiến tranh thì đây phải là một hành vi hải tặc chiếu theo các điều 101, 103, 104 … của Luật  về Biển Quốc Tế 1988 (còn gọi là Convention de Montego Bay).

    Hải tặc và đạo tặc là hai danh từ thường dùng của người Việt để chỉ cho người, hay nhóm người, có hành vi chiếm hữu đồ vật của người khác bằng sức mạnh hay bằng vũ khí trên biển thì gọi là hải tặc và trên bộ thì gọi là đạo tặc. Những vụ này, ngoài việc chiếm đoạt của cải, bọn cướp có thể giết chết, hãm hiếp và bắt cóc nạn nhân. Lịch sử Việt Nam cho ta thấy dân tộc chúng ta ngày xưa thường xuyên là nạn nhân của những đảng cướp ở trên vùng biên giới, trong vịnh Bắc Việt cũng như ở miền Nam sau này. Biến cố 8 tháng 1 có đủ các hành vi cướp của (lấy thuyền của nạn nhân), giết người (9 người bị giết) và bắt cóc nạn nhân (8 người), vì vậy nếu không phải là hành vi "hải-tặc" thì là hành vi chiến tranh. Thuyền của hải quân Trung  Quốc là đại diện cho nước Trung Quốc xâm phạm lãnh hải VN và nổ súng giết người VN. Không thể có vấn đề "rủi ro",  "không cố ý giết người" trong biến cố nầy.

    Tuy nhiên, theo phát ngôn nhân của Trung Quốc thì lại cho rằng những ngư phủ Việt Nam mới là "hải-tặc". Theo họ thì biến cố xảy ra trong vùng biển của Trung  Quốc và hải quân Trung Quốc nổ súng bắn chết những người này để bảo vệ các thuyền đánh cá của người Hoa. Vậy giả thuyết gây hấn, tạo chiến tranh tạm thời để sang một bên. Cho đến hôm nay, thì chưa thấy phía Trung Quốc cũng như Việt Nam trưng bày bằng chứng về tọa độ vị trí mà biến cố đã xảy ra, ngoài lời khai của nhân chứng Việt Nam đã ghi trên.

    Ai là hải tặc ? Bằng chứng về "vũ khí" để hành nghề "hải tặc", tàu hải quân Trung Quốc vũ trang tận răng, bắn vào thuyền đánh cá của dân VN, chiếc chạy thoát được về bến đếm thấy có trên 400 vết đạn thì không cần phải chứng minh, còn thuyền "hải tặc Việt Nam" hiện ở trong tay nhà nước Trung Quốc. Nếu muốn, phe Trung Quốc có thể bỏ vào thuyền này bao nhiêu súng đạn lại không được? Bản chất là như vậy.

    Yếu tố quyết định để kết luận  "ai là hải tặc" là vị trí đã xảy ra biến cố. Thực tế thì việc trưng bằng  chứng sẽ rất đơn giản cho cả hai bên, nếu hai bên đều có thiện chí. Những chuyên viên kỹ thuật chỉ cần xem lại cuốn băng thâu tín hiệu phát ra từ những chiếc tàu liên quan đến biến cố thì họ có thể biết được tọa độ vị trí của những chiếc tàu nầy (theo hệ thống GPS hay phát sóng VHF). Chắc chắn tàu hải quân Trung Quốc có trang bị các loại máy móc như thế, nhưng tại sao đến nay họ không trưng ra bằng chứng ? Còn thuyền của ngư dân VN thì sao?

    Nhà nước Việt Nam phải có trách nhiệm đưa ra bằng chứng rõ rệt về tọa độ vị trí xãy ra biến cố. Khi biến cố xãy ra, theo lời kể của nạn nhân thoát được, thì thuyền bị nạn có đánh điện kêu cứu. Việc nầy rất quan  trọng vì nó củng cố thêm cho lời khai của những ngư dân Việt Nam chạy thoát được. Còn không có bằng chứng cụ thể, nếu chỉ dựa vào lời khai của nạn nhân thì sẽ khó tranh cãi với kẽ mạnh.

    Như đã viết trên, đây là một vấn đề thuộc pháp lý. Phát ngôn nhân Trung Quốc ra tuyên bố cho rằng những ngư dân Việt Nam bị thảm sát là "hải tặc". Nếu không trưng bằng chứng thì rõ ràng nhà nước Trung Quốc không những đã phỉ nhổ vào công lý mà còn nhục mạ cả dân tộc Việt Nam. Ðương nhiên không một người nào có thể cho rằng chủng tộc mình không có người trộm cướp. Dân Việt Nam cũng thế, chắc chắn tệ nạn này phải có. Nhưng vấn đề là trước khi kết luận thì phải trưng bằng chứng. Hải quân Trung Quốc xâm phạm hải phận Việt Nam giết người, cướp của, bắt cóc người rồi cho những người Việt đó là hải tặc. Ðiều nầy tương tự như kẻ cướp từ đâu xông vào nhà dân, giết người, chiếm của cải, bắt cóc người đi theo, sau đó vu cho những nạn nhân là kẻ cướp. Bọn sát nhân phải trả lời trước công lý. Ðó là phải đưa  sự việc ra một tòa án quốc tế để phân xử. Không lẽ  cuộc sống này công lý không còn hiện hữu hay sao? Trong khi chờ diễn diến sự việc, người viết xin đưa ra một số dữ kiện để thử tìm hiểu hiện tượng hải tặc trong biển Ðông, thực tế sẽ cho ta thấy kẻ ngậm máu phun người trước hết sẽ dơ miệng mình và cho chúng ta thấy được bản chất của chúng.


    Hải tặc ở Biển Ðông: Nạn hải tặc tại biển Ðông bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, những nguyên nhân chính là: sự nghèo đói, luật pháp lỏng lẻo tạo nhiều cơ hội đánh cướp và vấn đề truyền thống.

    Bần cùng sinh đạo tặc, vấn đề nghèo đói xưa nay được xem là nguyên nhân chính đem đến tạn trộm cướp. Ngày xưa, nước Việt ta được Tàu đặt tên là An Nam. Hai chữ An Nam có lẽ đến từ  "An-Nam Ðô-Hộ Phủ " ; An Nam có nghĩa là vùng đất phía Nam bình yên, Phủ là môt đơn vị hành chánh như huyện, phủ, tỉnh… còn Ðô Hộ có nghĩa là chế-ngự. Quả thật Việt Nam là một vùng đất bình yên cho dân tị nạn ở bên Tàu. Bỏ qua các biến cố xa xưa đã làm cho nhiều sắc dân thiểu số từ Trung Hoa phải chạy sang sinh sống trên vùng biên giới Việt Nam. Khoảng thập niên 50-60 của thế kỷ 19, các tỉnh Nam và Tây Nam Trung Hoa bị tàn phá dữ dội do sự nổi loạn của Thái Bình Thiên Quốc và của những người theo Hồi giáo. Số người chết trong những vụ nầy ước lượng lên tới 50 triệu người. "Trên lãnh thổ Việt Nam, trong vòng một góc tư thế kỷ là cảnh thanh bình an lạc. Vì thế mà vùng thượng du Bắc Kỳ đã bị tràn ngập những nhóm người xa lạ đến từ bên Trung Hoa: đợt di cư của dân tộc Mèo lần thứ ba (và cũng là lần cuối cùng), dân số trên 10.000 người đến từ các tỉnh Quý Châu, Vân Nam và Quảng Tây; những nhóm vũ trang là những đầu lĩnh nổi loạn như Lý Dương Tài (1878-1879), hay những nhóm nhỏ thuộc Thái Bình Thiên Quốc như giặc Cờ Ðen, Cờ Vàng v.v.. và cuối cùng là khối nạn nhân, những người khốn khổ, chạy trốn sự giết chóc và chết đói – hôm nay chúng ta gọi là dân tị nạn. Ðể sống còn, nhóm người nầy phải gia nhập vào các đảng cướp. "  Những cuộc xâm nhập bất hợp pháp này đã tạo cho Việt Nam những khó khăn về chính trị và kinh tế. Những đảng cướp Cờ Ðen, Cờ Vàng cũng như đám dân chạy loạn chiếm cứ và nhũng loạn cả vùng thượng du Bắc Việt. Lưu Vĩnh Phúc, thủ lĩnh giặc Cờ Ðen thì chiếm cứ Lào Cai ; Hoàng Sùng Anh, thủ lĩnh Cờ Vàng thì quấy phá vùng thung lũng sông Hồng. Dân ta sinh sống ở những vùng nầy phải bỏ làng, vào rừng tìm hốc núi để ẩn trốn. Những đám cướp Tàu đi đến đâu là đem lại hoang dã đến đó, bọn chúng đốt phá làng xóm, lùa bắt không những thú vật mà còn bắt luôn cả người. Cho đến năm 1888 Móng Cái không còn một người Việt Nam và trở thành một khu chợ buôn bán đồ ăn cướp của bọn cướp Tàu (cướp biển cũng như cướp đường), trong đó hai món chánh là đàn bà và trẻ em bắt được tại các làng mạc trên vùng thượng du Bắc Việt. Trong thời Tự Ðức từ 1848 đến 1877 số suất đinh, tức người khoẻ mạnh có khả năng sản xuất, của dân Việt Nam từ 858.790 xuống còn 757.325 (giảm 11,81%). Các tỉnh thượng du ảnh hưởng nặng nhất. Tỉnh Lạng Sơn mất ¾ dân số. Tỉnh Cao Bằng mất 2/3 dân-số. Hai tỉnh Thái Nguyên và Hưng Hóa mất phân nửa dân số. Quả là một tai họa kinh khủng cho dân tộc Việt Nam.

    Đọc tiếp: Luận án Tiến Sĩ lịch sử CHÍNH SÁCH CÁC VƯƠNG TRIỀU VIỆT NAM ĐỐI VỚI NGƯỜI HOA của Huỳnh Ngọc Đáng.

    Trên bộ thì cướp Tàu hoành hành như thế, trên biển cũng không kém. Trên các đảo cận bờ trong vịnh Bắc Việt thì nhung nhúc sào huyệt của bọn cướp biển Tàu. Danh từ Tàu Ô là do dân Việt Nam chỉ bọn cướp Tàu đến từ biển, mà thuyền của chúng có buồm màu đen.

    "Vừa khi đặt chân tại Việt Nam thì người Pháp đã lo lắng về sự phân định biên giới trên biển giữa thuộc địa mới của họ với Trung Hoa. Bởi vì trong vịnh Bắc Việt, rải rác có rất nhiều đảo dùng làm sào huyệt cho bọn cướp. Bọn nầy không những chỉ tấn công và cướp bóc các tàu buôn ở ngoài biển khơi mà chúng còn mở ra các cuộc đánh phá trên bờ. Bởi thế, mong muốn cho thuộc địa mới của họ tránh xa bọn cướp  này mà sự đông đảo của chúng đem lại từ sự hỗn loạn thời đó đã làm khủng hoảng nuớc Trung Hoa, Pháp quốc muốn xác định nhanh chóng giới hạn lãnh hải của Việt Nam và Trung Hoa ở vịnh Bắc-Việt. Vấn đề nầy được nhập chung vào với công việc thương thảo về biên giới giữa hai bên Pháp và Trung-Hoa, cuối cùng đuợc cụ thể hóa vào ngày 26 tháng 6 năm 1887 qua việc ký kết một công ước, được biết qua tên Công Ước Constans, mà qua điều 2 của nó, đường kinh-tuyến 105° 45’ kinh độ Ðông so với kinh độ Paris, có nghĩa là đường kinh tuyến 108° 03’ 18’’ kinh-độ Ðông Geenwich, là đường biên-giới trong vịnh Bắc-Việt ".

    Các tỉnh ven bờ, nhất là tỉnh Hải Ninh (nay là Quảng Ninh), cũng có nhiều sào huyệt của bọn cướp biển. Việc nầy ông Chiniac de Labastide, chủ tịch Ủy Ban Phân Giới (1889-1891) có ghi lại trong một bản tường trình.

    Qua tài liệu nầy ta thấy làng mạc, thị trấn của Việt Nam, sau khi cướp xong thì bị bọn cướp Tàu phá hủy : "chợ Bắc Luân, rất quan trọng, và nó vẫn còn hiện hữu hiện nay, nhưng chợ Ðộng Trung, chắcchắn ngày xưa quan trọng hơn, thì đã bị bọn cướp Tàu tàn phá từ nhiều năm nay. Vào năm 1887 nó đã không còn nữa". Và trong bọn cướp đó có cả lính Tàu : "Linh mục R.P Grandpierre, là một nhà truyền giáo ở Trúc Sơn du hành bằng xuồng (ltg: nhà truyền giáo nầy được Dr Néis nhắc tới qua biến cố tấn công Móng Cáy 1887 trong loạt bài của ông), cho biết là vài ngày trước đây ông đã bị quân cướp tấn công lúc đi ngang qua giữa hai đảo Trà Cổ và Sư Tử Lãnh mà trong đám cướp nầy có quân lính chính qui của Trung Hoa đóng tại Lục Lâm".

    Tài liệu trên còn tố cáo: "Chúng ta đã có thể biết một cách chắc chắn đường thông thương nầy rất hữu dụng cho quân cướp Tàu hoành hành trong vùng Hải Ninh, và bọn này thì được sự bảo vệ của các quan văn võ thuộc Phủ Khâm Châu. Những đảng cướp tàn phá thung lũng Ha-Koi và thung- ũng sông Bắc Thị Ðông Hưng, sau khi sang đánh cướp các làng An Nam gần biên-giới, trở lại con đường  này cùng với vật cướp bằng nhiều đường mòn nhỏ đi qua vùng Hải Ninh, và đi theo nó cho đến Na Lương hay đến Ðông Hưng, tại nơi đây việc buôn bán đàn bà và con nít bị bắt cóc thì công-khai.". " Bên bờ Trung Hoa, ngôi làng lớn Li Hoa, dân ở đây đều là ăn cướp hay có liên hệ đến ăn cướp, được dùng là nơi tiếp tế và tồn trữ phẩm vật ăn cướp được ở An Nam ».

    Ta biết Bắc Luân, Ðông Hưng, Móng Cáy… cùng những địa phương ghi trên là vùng cận biển. Sào huyệt của hải tặc, đạo tặc thì ở những nơi đây và quan quân Tàu thì che chở cho chúng và họ thường xuyên sang quấy nhiễu dân ta.

    Ngày hôm nay bọn cướp Tàu (đạo tặc cũng như hải tặc) đã chuyển qua một hình thức khác, qui mô hơn và không kém phần tàn nhẫn. "Mafia" Tàu hiện nay không chỉ là đối tượng chánh cho cảnh sát trên khắp thế giới truy nã, đối phó mà đã là chủ đề nghiên cứu của nhiều quyển sách giá trị, trong đó cuốn  "The Chinese Mafia " của Fenton Bresler, bản dịch Pháp ngữ "La Mafia Chinoise", editions Philippe Picquier, 1991 là tiêu biểu. Ðọc giả có thể tìm đọc để biết.

    Riêng hải tặc trên Biển Ðông thì có vài con số và vài dữ kiện đáng chú ý :

    - Dân Việt Nam trong khoảng từ 1979 đến 1989 là nạn nhân của hải tặc Thái Lan. Những tên hải tặc này hầu hết là dân đánh cá, nhưng gặp cơ hội dễ dàng thì họ trở thành cướp biển. Ðôi lúc cả một làng đánh cá đều là hải tặc. Theo thống kê của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, chỉ tính những trường hợp nghiêm trọng, thì từ năm 1983-1985 cứ hai thuyền vượt biên thì có 1 thuyền bị hải tặc, 400 người bị giết, 700 phụ nữ bị hãm hiếp và 600 người khác bị bắt cóc.

    - Tại biển Ðông, mafia Hồng Kông đã móc nối với "cựu" lính hải quân Trung Quốc để đánh cướp các thương thuyền. Hàng hóa sau khi được đồng bọn chuyển đi thì chiếc tàu được đăng ký lại dưới những hiệu kỳ "dỏm" Panama, Honduras hoặc Belize và trở thành những chiếc "tàu ma, phantom ships". Những chiếc tàu ma nầy được đưa vào tiếp tục hoạt động lường gạt. Bọn "mafia" gạ chuyên chở cho những khách hàng dễ dãi. Ðương nhiên hàng hóa đợt nầy cũng sẽ bị lấy mất và chiếc tàu lại được đưa đi đăng ký lần nữa. Chu kỳ lường gạt, cướp bóc  như thế mà luân chuyển. Những chiếc tàu nào chưa bị khám phá thì tiếp tục làm tàu cò mồi cho những cuộc ăn cướp khác hay chuyên chở ma túy, vũ khí hay di dân lậu. Cuối cùng thì chiếc tàu nầy sẽ bán làm sắt vụn. Những chiếc tàu ma đã được điều tra viên của hãng bảo hiểm Lloyds  phát hiện thì đến 99% trường hợp chúng được đậu trong một hải cảng của Trung Quốc.

    - Hầu hết các vụ hải tặc cướp tàu trên thế giới đã xảy ra tại vùng biển Ðông Nam Á và biển Ðông, nhất là tại vùng eo biển Malacca. Việc nầy cho thấy yếu tố nghèo đói không đúng vì dọc bờ biển Châu Phi hay Nam Mỹ là những nước nghèo, nghèo nhiều hơn các nước Ðông-Nam Á, nhưng nạn cướp biển tại đây không hoành hành mạnh. Vì thế yếu tố truyền thống và cơ hội là hai yếu tố chính. Hải tặc cướp tàu phần lớn là dân Indo, Philip nhưng vai chánh là "mafia Tàu" đóng vai tiêu thụ hàng hóa. Bọn cướp biển Thái Lan thực sự chỉ là dân đánh cá, nhưng có cơ hội dễ dàng là họ trở thành hải tặc.

    - Nguyên nhân nạn hải tặc tại biển Ðông phát triển rộng lớn và có hệ thống là sự vắng mặt của một hạm đội mạnh tuần tiễu nơi đây. Sau khi Hoa Kỳ rút khỏi Cam Ranh (1975) và Subic Bay (1993) và khi Liên Xô sụp đổ phải bỏ Cam Ranh thì hải tặc biển Ðông không còn trở ngại nào. Thái độ của nhà cầm quyền Trung Quốc thì rõ rệt. Ta thấy ghi trên, hầu hết các con "tàu ma" đều tìm thấy trong một hải cảng của Trung Quốc. Thỉnh thoảng có một vài cán bộ tham nhũng bị bắt và bị trừng phạt, nhưng hàng hóa của những chiếc tàu bị cướp thì chưa bao giờ nhà cầm quyền Trung Quốc trả lại cho khổ chủ. Thậm chí, chiếc tàu chỉ được trả lại cho chủ sau khi đóng một món tiền chuộc lớn. Việc nầy cho thấy nhà cầm quyền Trung Quốc vi phạm Công Ước Rome 1988 mà Trung Quốc đã có ký-kết.

    - Có nhiều dữ kiện cho thấy có thể có sự tham dự của hải quân biên phòng trong các vụ cướp tàu tại biển Ðông. Theo lời khai của nạn nhân thì hải tặc mặc đồng phục hải quân hay công an biên phòng. Khó mà phân biệt hải tặc cải trang thành cảnh sát và hải quân hay chính cảnh sát và hải quân là hải tặc? Nhưng cho dầu thế nào thì hải quân Trung-Quốc thường xuyên có những hành vi bóc lột thương thuyền. Họ có thể phạt nặng những thương thuyền đi ngang qua vùng biển nước họ dưới lý do chở hàng cấm. Tệ hơn, họ áp tải thương thuyền về một hải cảng của Trung Quốc rồi tịch thu hàng hóa, bắt giam thủy thủ đoàn nhiều ngày và những người nầy chỉ được thả ra sau khi đóng một món tiền phạt cự lớn.

    Ðây không phải là hành vi hải tặc ở cấp độ quốc gia hay sao?

    Kết-luận: Qua những tài liệu có công bố, các nước như Philippin, Indonexia, Thái Lan và Trung Quốc đều có hải tặc. Quy mô hải tặc ở Trung Quốc đặc biệt quan trọng vì nó liên quan với  "mafia" ở trên đất liền và liên hệ đến cả hải quân và cảnh sát biên phòng. Mafia Trung Quốc được nhiều sách mô tả là một hệ thống tội phạm nguy hiểm nhất thế giới, mafia Ý không sánh được. Chúng có cả một mạng lưới trải rộng khắp các nước trên thế-giới. Có thể nói nơi nào có "china town" là nơi đó có "chinese mafia ". Chưa thấy một tài liệu nào nói đến "hải tặc Việt Nam" mà chỉ thấy rất nhiều tài liệu nói về người Việt Nam là nạn nhân của hải tặc.

    Vì thế lời tuyên bố của phát ngôn viên Trung Quốc cho rằng ngư dân Việt Nam là "hải tặc" là  hoàn toàn không có cơ sở, là một hiện tượng hoàn toàn mới.  Có thể thấy bản chất  nguy hiểm của Trung Quốc. Chắc chắn đây là thủ thuật vu cáo, vừa ăn cướp vừa la làng của Trung Quốc, mà những nạn nhân đã chết không thể biện minh và người còn sống thì thấp cổ bé miệng không thể biện minh cho mình. Cho nên dân tộc ta phải tự đùm bọc bảo vệ lẫn nhau, bảo vệ danh dự nòi giống và tranh đấu để sinh tồn. Chúng ta không thể để vụ này xảy ra như những vụ xâm lược Hoàng Sa hay cưỡng chiếm một số đảo của Việt Nam tại Trường Sa. Chuyện nầy không phải mới mẻ gì. Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố là họ đã tìm thấy được những bằng chứng không thể chối cãi để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa là những tấm bản đồ cổ do tổ tiên họ vẽ, nhưng đã hơn ba mươi năm qua không ai thấy  những tấm bản đồ đó. Những  người  Việt Nam mỉa mai rằng tại họ in chưa xong !

    Chúng ta chờ đợi những phản ứng tích cực của  người có thẩm quyền, hy vọng họ ý thức được trách nhiệm và bổn phận đối với Tổ quốc, đối với  dân tộc Việt Nam.  Đồng thời,  những luật gia Việt Nam ở các nơi nên nghiên cứu về một biện pháp khả thi để giải quyết sự việc trước một tòa án quốc tế. Ðây là một việc phải làm  vì nó thể tinh thần của dân tộc chúng ta và cũng để khôi phục lại danh dự những nạn nhân đã bị thải quân Trung Quốc thảm sát. Danh dự này cũng là danh dự của cả dân tộc.

    Trương Nhân Tuấn

    Không có nhận xét nào:

    Đăng nhận xét

    Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...