Tác giả: Richard A. Bitzinger
Bài đã được xuất bản.: 25/05/2010 06:00 GMT+7
PHẦN 1:
Có một mối lo ngại ngày càng lớn dần là Đông Nam Á đang bị cuốn vào của một cuộc chạy đua vũ trang cấp khu vực. Thực tế cho thấy nhiều quốc gia trong khu vực này đang thực sự ở trong “ngày hội mua sắm” vũ khí thông thường tân tiến, và kế hoạch này được thúc đẩy bởi sự gia tăng tương ứng chi tiêu cho quân sự.
Vậy nên hiểu hiện tượng này là gì? Xin giới thiệu bài phân tích của tác giả Richard A. Bitzinger, một thành viên Đại học Nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam của Singapore.
Phải chăng Đông Nam Á đang bị hút vào một cuộc chạy đua vũ trang (CĐVT) khu vực? Nhìn bề ngoài, có năm diễn biến chính cho phép kết luận rằng khả năng xảy ra CĐVT như vậy là không thể phủ nhận và là một điềm dữ.
Đầu tiên, Singapore vừa mua máy bay chiến đấu F-15 của Mỹ, trong khi Malaysia và Indonesia tậu Su-30 của Nga, còn Thái Lan đặt mua Gripen của Thụy Điển. Thứ hai, Singapore và Malaysia đều đã mua nhiều tàu ngầm mới hoặc trang bị mới cho các tàu ngầm sẵn có của mình.
Phải chăng Đông Nam Á đang bị hút vào một cuộc chạy đua vũ trang (CĐVT) khu vực? Nhìn bề ngoài, có năm diễn biến chính cho phép kết luận rằng khả năng xảy ra CĐVT như vậy là không thể phủ nhận và là một điềm dữ.
Đầu tiên, Singapore vừa mua máy bay chiến đấu F-15 của Mỹ, trong khi Malaysia và Indonesia tậu Su-30 của Nga, còn Thái Lan đặt mua Gripen của Thụy Điển. Thứ hai, Singapore và Malaysia đều đã mua nhiều tàu ngầm mới hoặc trang bị mới cho các tàu ngầm sẵn có của mình.
Tên lửa chống hạm
Chưa hết, các thương vụ mua vũ khí mới đây đi kèm với việc gia tăng đáng kể chi tiêu quốc phòng trong khu vực. Theo số liệu do Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI) cung cấp, ngân sách quốc phòng của Malaysia đã tăng gấp đôi trong 8 năm (2000-2008), từ 1,7 tỷ USD lên 3,5 tỷ (theo tỷ giá USD năm 2005). Chi tiêu cho quốc phòng của Indonesia trong cùng thời gian này cũng tăng từ 2,2 tỷ USD lên 3,8 tỷ (tăng 72%) trong khi các con số tương ứng của Thái Lan là 2,1 tỷ lên 3 tỷ (tăng 43%).
Cùng thời gian này, ngân sách quốc phòng của Singapore tăng 26%, từ 4,6 tỷ USD lên 5,8 tỷ (theo tỷ giá USD năm 2005, nếu tính theo tỷ giá hiện nay thì ngân sách quốc phòng năm 2008 của nước này là 7,5 tỷ USD). Nếu gộp chung, chi tiêu cho quốc phòng của khu vực này tăng ít nhất 50% trong thời gian từ năm 2000 - 2008.
Việt Nam cũng đã ký kết một hợp đồng với Nga mua 6 tàu ngầm Kilo-class. Thứ ba, năm 2002, Malaysia đã đặt mua 63 xe tăng chiến đấu hạng nặng của Ba Lan; và để đuổi kịp thương vụ này, Singapore năm 2007 mua gần 100 xe tăng Leopard-2 của Đức. Thứ tư, Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan mới đây đều đã có những đơn đặt hàng lớn gồm những xe bọc thép (APC) hiện đại từ một loạt các nhà cung cấp trong và ngoài nước. Thứ năm, Singapore đã đuổi kịp vụ Malaysia mua hệ thống bệ phóng tên lửa đa năng ASTROS-II (MRL) của Brazil bằng việc mua hệ thống HIMARS MRL của Mỹ.
Chưa hết, các thương vụ mua vũ khí mới đây đi kèm với việc gia tăng đáng kể chi tiêu quốc phòng trong khu vực. Theo số liệu do Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm (SIPRI) cung cấp, ngân sách quốc phòng của Malaysia đã tăng gấp đôi trong 8 năm (2000-2008), từ 1,7 tỷ USD lên 3,5 tỷ (theo tỷ giá USD năm 2005). Chi tiêu cho quốc phòng của Indonesia trong cùng thời gian này cũng tăng từ 2,2 tỷ USD lên 3,8 tỷ (tăng 72%) trong khi các con số tương ứng của Thái Lan là 2,1 tỷ lên 3 tỷ (tăng 43%).
Cùng thời gian này, ngân sách quốc phòng của Singapore tăng 26%, từ 4,6 tỷ USD lên 5,8 tỷ (theo tỷ giá USD năm 2005, nếu tính theo tỷ giá hiện nay thì ngân sách quốc phòng năm 2008 của nước này là 7,5 tỷ USD). Nếu gộp chung, chi tiêu cho quốc phòng của khu vực này tăng ít nhất 50% trong thời gian từ năm 2000 - 2008.
Tất nhiên, các diễn biến này cho thấy xu hướng phần nhiều rối loạn trong các tính toán an ninh của khu vực. Một số người thậm chí cho rằng Đông Nam Á có thể đang là trọng tâm của một cuộc chạy đua vũ trang có nguy cơ gây bất ổn toàn khu vực. Vì vậy, dễ thấy trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều lời kêu gọi hạn chế chuyển giao vũ khí cho khu vực này hoặc khuyến khích các chính quyền địa phương tự kiềm chế việc mua sắm vũ khí mới, cũng như phải chế ngự hoặc ngăn cản tình trạng được cho là một cuộc CĐVT này. Vậy liệu có đúng đắn không khi mô tả việc mua vũ khí nói trên là mầm mống của một cuộc CĐVT? Nếu đó không phải là CĐVT thì phải giải thích hiện tượng này thế nào? Rõ ràng quy mô và cường độ của việc mua sắm vũ khí của một số quốc gia Đông Nam Á không chỉ đơn giản là việc thay thế các trang thiết bị quân sự đã cũ bằng những hệ thống tân tiến hơn. Kết quả là cuộc cạnh tranh vũ khí kiểu "rượt đuổi nhau" cũng gây ra không ít lo lắng và nguy cơ gây bất ổn khu vực trong thời gian dài. Trong bối cảnh này, sẽ có ích khi nghiên cứu kỹ các thương vụ mua sắm vũ khí đặc biệt của các quốc gia chính trong khu vực.
Indonesia
Nhiều năm qua, Indonesia đã vực dậy từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á những năm 1990 để bắt đầu đầu tư các nguồn lực mới vào các lực lượng vũ trang của mình. Quân đội Indonesia (TNI) chủ yếu được giao nhiệm vụ đảm bảo an ninh nội địa và bảo vệ Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng hơn 6 triệu km2 của đất nước. Vì vậy, khi nói đến các khả năng quân sự, ưu tiên hàng đầu là đối phó với các mối đe dọa bờ biển và trên không.
Lực lượng Hải quân của TNI được giao nhiệm vụ xây dựng được một khả năng "biển xanh" vào năm 2020, vì vậy đã mở rộng quy mô bằng cách thay các tàu cũ bằng những chiến hạm mới đa năng hơn. Jakarta mới đây đã mua thêm 4 tàu hộ tống Sigma-class của Hà Lan, ít nhất 1 tàu đổ bộ của Triều Tiên và trang bị các tàu chiến Exocet của Pháp và C-802 ASCMs của Trung Quốc. Các tàu cũ được chuyển sang dùng cho công tác tuần tra bờ biển. Indonesia cũng thông báo ý định mua 4 tàu ngầm Kilo-class và 2 tàu ngầm Lada-class của Nga, tuy nhiên thỏa thuận chưa được ký vì hai bên chưa nhất trí về vấn đề tài chính. Ngoài Nga, Indonesia cũng dự định mua thêm nhiều tàu ngầm của Đức, Hàn Quốc và Pháp.
Lực lượng Không quân của TNI (TNI-AU) vẫn ở quy mô nhỏ với 72 máy bay, chủ yếu là F-16 và F-5E/F đã cũ, cùng một số Su-27 và Su-30 của Nga. Quyết định mua 24 chiếc máy bay ném bom Su-30 năm 1997 đã bị hoãn lại vì khủng hoảng tài chính châu Á, nhưng năm 2003, Jakarta cuối cùng đã ký được hợp đồng mua 2 chiếc Su-27 và 2 chiếc Su-30, thêm vào đó là 6 Sukhoi đặt mua năm 2009. TNI-AU hy vọng mua hơn 40 chiếc Su-27 hoặc Su-30.
Sự hiện đại hóa lực lượng Bộ binh của TNI tương đối ít, với việc mua những trực thăng Mi-17 và Mi-35, và xe bọc thép BTR-80 của Nga. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp vũ khí của Indonesia đã tự chế tạo loại xe bọc thép Panser bánh 6x6, và sản xuất loại súng bắn tỉa theo bản quyền mua của Bỉ, súng tiểu liên của Italy, súng cối của Phần Lan và Israel, hay máy phóng lựu của Singapore.
Malaysia
Quân đội Malaysia (MAF) đã chuyển đổi từ một lực lượng chống quân nổi dậy thành một lực lượng quân sự thông thường từ cuối những năm 1980. Quá trình này xuất phát từ nhu cầu an ninh, trong đó có việc bảo vệ các vùng EEZ, bảo vệ eo biển Malacca chống lại khủng bố và hải tặc, cũng như mối lo ngại ngày càng lớn về các hoạt động quân sự tăng cường của Trung Quốc ở biển Đông. Năm 2005, Malaysia đã thành lập Lực lượng bảo vệ bờ biển (MMEA).
Hiện, nước này đang thực hiện chương trình kéo dài nhiều năm nhằm mở rộng và hiện đại hóa các lực lượng vũ trang, mang tên Các lực lượng vũ trang linh hoạt Malaysia trong thế kỷ 21 (VMAF21), cùng với các Kế hoạch Malaysia thứ Tám và Chín.
Từ cuối những năm 1990, Malaysia là một trong những nhà nhập khẩu vũ khí lớn nhất Đông Nam Á. Kuala Lumpur đã chi hơn 5 tỷ USD mua xe tăng chiến đấu, MRL, APC, máy bay chiến đấu, máy bay vận tải đường dài, tàu ngầm và tàu hộ tống tuần tra. Năm 2003, Không quân Hoàng gia Malaysia (RMAF) đặt mua 18 chiếc Su-30 MKM của Nga - trị giá 900 triệu USD - để thêm vào lực lượng hiện có gồm 18 chiếc MiG-29 Fulcrums (được trang bị tên lửa không đối không AA-12 có radar dẫn đường), 8 chiếc F/A-18D, 13 chiếc F-5E/F và 25 máy bay tấn công Hawk.
Hiện, RMAF cũng muốn mua thêm 18 máy bay chiến đấu và 4 máy bay AEW. Các thương vụ khác bao gồm 4 máy bay vận tải quân sự của Airbus A400M và có thể cả các tên lửa không đối không tầm trung tiên tiến (AMRAAM). Mới đây, Hải quân Hoàng gia Malaysia (RMN) đã nhận hàng gồm hai tàu ngầm Scorpene-class liên doanh giữa Pháp và Tây Ban Nha, cùng 6 tàu tuần tra ngoài khơi (OPV) loại MIKO A100 do Đức thiết kế và 2 tàu khu trục nhỏ Lekiu-class của Anh.
Cuối cùng, quân đội Malaysia đang đặt mua 48 xe tăng chiến đấu PT-91M Twardy của Ba Lan, 15 phương tiện hỗ trợ, phương tiện chiến đấu trên bộ (IFV) của Thổ Nhĩ Kỳ và Hàn Quốc, cùng các hệ thống pháo tự hành từ Nam Phi và bệ phóng tên lửa đa năng ASTROS-II của Brazil.
Myanmar
Sau cuộc đảo chính quân sự năm 1988, Myanmar đã mở rộng lực lượng vũ trang Tatmadaw của mình về số lượng, lên tới 400.000 lính. Song, lực lượng này chủ yếu được cấu trúc và trang bị vũ khí cho các chiến dịch chống nổi dậy và kiểm soát quân sự trong nước. Hầu hết các đơn mua sắm vũ khí trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ trước chủ yếu đặt của Trung Quốc (thiết giáp Type-69II, Type-63 và Type-85), trong khi nước này cũng tự sản xuất một lượng lớn thiết giáp hạng nhẹ BTR-3U theo mẫu thiết kế của Ukraine.
Không quân Myanmar cũng chủ yếu mua phi cơ chiến đấu của Trung Quốc, hiện có 60 chiếc F-7M và 42 chiếc A-5. Bên cạnh đó, họ đã mua máy bay phản lực huấn luyện/tấn công hạng nhẹ G4 Super Galeb của Nam Tư cũ và những phi cơ huấn luyện K-8 của Trung Quốc. Mới đây, Không quân cũng đã mua 10 chiếc MiG-29 của Nga thêm vào 20 chiếc đã có.
Hải quân Myanmar chủ yếu sở hữu các tàu hộ tống nhỏ cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Đơn đặt hàng ba chiếc tàu khu trục nhỏ đã không được thực hiện, tuy nhiên Myanmar đã tự sản xuất tàu khu trục Aung Zay Ya, được trang bị những ASCM C-802 của Trung Quốc và hiện đang tự chế tạo tàu hộ tống nhỏ của mình.
Singapore
Singapore đang bước vào "thế hệ thứ ba" (3G) trong lĩnh vực quân sự. Các lợi ích của Lực lượng vũ trang Singapore (SAF) trong sự chuyển đổi quốc phòng xuất phát từ ba nhân tố. Thứ nhất, quan niệm về các mối đe dọa phi thông thường - như khủng bố, hải tặc, tình trạng nổi dậy và bất ổn tại một nước láng giềng - kéo theo nhiều loại chiến tranh, như chiến tranh đô thị và sự cần thiết phải bảo vệ các cơ sở trọng yếu. Thứ hai, sự yếu kém về chiến lược truyền thống của Singapore là vì chưa có tầm chiến lược, một dân số nhỏ và già, cộng với các nguồn lực quốc phòng tương đối hạn chế.
Thứ ba, lực lượng lao động lành nghề và sức mạnh công nghệ thông tin, mà SAF coi là một lực đẩy quan trọng. Vì vậy, các nỗ lực chuyển đổi quốc phòng tập trung vào mua vũ khí mới, phát triển và hòa nhập với các loại công nghệ điều khiển và kiểm soát với hệ thống ISR và các loại vũ khí điều khiển từ xa chính xác. Hiện, SAF tập trung phát triển 3G trong các lĩnh vực như hệ thống tín hiệu điện tử, an ninh thông tin, hệ thống điều khiển tân tiến, chiến tranh điện tử, máy cảm ứng và các phương tiện không người lái.
Indonesia
Nhiều năm qua, Indonesia đã vực dậy từ cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á những năm 1990 để bắt đầu đầu tư các nguồn lực mới vào các lực lượng vũ trang của mình. Quân đội Indonesia (TNI) chủ yếu được giao nhiệm vụ đảm bảo an ninh nội địa và bảo vệ Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) rộng hơn 6 triệu km2 của đất nước. Vì vậy, khi nói đến các khả năng quân sự, ưu tiên hàng đầu là đối phó với các mối đe dọa bờ biển và trên không.
Lực lượng Hải quân của TNI được giao nhiệm vụ xây dựng được một khả năng "biển xanh" vào năm 2020, vì vậy đã mở rộng quy mô bằng cách thay các tàu cũ bằng những chiến hạm mới đa năng hơn. Jakarta mới đây đã mua thêm 4 tàu hộ tống Sigma-class của Hà Lan, ít nhất 1 tàu đổ bộ của Triều Tiên và trang bị các tàu chiến Exocet của Pháp và C-802 ASCMs của Trung Quốc. Các tàu cũ được chuyển sang dùng cho công tác tuần tra bờ biển. Indonesia cũng thông báo ý định mua 4 tàu ngầm Kilo-class và 2 tàu ngầm Lada-class của Nga, tuy nhiên thỏa thuận chưa được ký vì hai bên chưa nhất trí về vấn đề tài chính. Ngoài Nga, Indonesia cũng dự định mua thêm nhiều tàu ngầm của Đức, Hàn Quốc và Pháp.
Lực lượng Không quân của TNI (TNI-AU) vẫn ở quy mô nhỏ với 72 máy bay, chủ yếu là F-16 và F-5E/F đã cũ, cùng một số Su-27 và Su-30 của Nga. Quyết định mua 24 chiếc máy bay ném bom Su-30 năm 1997 đã bị hoãn lại vì khủng hoảng tài chính châu Á, nhưng năm 2003, Jakarta cuối cùng đã ký được hợp đồng mua 2 chiếc Su-27 và 2 chiếc Su-30, thêm vào đó là 6 Sukhoi đặt mua năm 2009. TNI-AU hy vọng mua hơn 40 chiếc Su-27 hoặc Su-30.
Sự hiện đại hóa lực lượng Bộ binh của TNI tương đối ít, với việc mua những trực thăng Mi-17 và Mi-35, và xe bọc thép BTR-80 của Nga. Bên cạnh đó, ngành công nghiệp vũ khí của Indonesia đã tự chế tạo loại xe bọc thép Panser bánh 6x6, và sản xuất loại súng bắn tỉa theo bản quyền mua của Bỉ, súng tiểu liên của Italy, súng cối của Phần Lan và Israel, hay máy phóng lựu của Singapore.
Malaysia
Quân đội Malaysia (MAF) đã chuyển đổi từ một lực lượng chống quân nổi dậy thành một lực lượng quân sự thông thường từ cuối những năm 1980. Quá trình này xuất phát từ nhu cầu an ninh, trong đó có việc bảo vệ các vùng EEZ, bảo vệ eo biển Malacca chống lại khủng bố và hải tặc, cũng như mối lo ngại ngày càng lớn về các hoạt động quân sự tăng cường của Trung Quốc ở biển Đông. Năm 2005, Malaysia đã thành lập Lực lượng bảo vệ bờ biển (MMEA).
Hiện, nước này đang thực hiện chương trình kéo dài nhiều năm nhằm mở rộng và hiện đại hóa các lực lượng vũ trang, mang tên Các lực lượng vũ trang linh hoạt Malaysia trong thế kỷ 21 (VMAF21), cùng với các Kế hoạch Malaysia thứ Tám và Chín.
Từ cuối những năm 1990, Malaysia là một trong những nhà nhập khẩu vũ khí lớn nhất Đông Nam Á. Kuala Lumpur đã chi hơn 5 tỷ USD mua xe tăng chiến đấu, MRL, APC, máy bay chiến đấu, máy bay vận tải đường dài, tàu ngầm và tàu hộ tống tuần tra. Năm 2003, Không quân Hoàng gia Malaysia (RMAF) đặt mua 18 chiếc Su-30 MKM của Nga - trị giá 900 triệu USD - để thêm vào lực lượng hiện có gồm 18 chiếc MiG-29 Fulcrums (được trang bị tên lửa không đối không AA-12 có radar dẫn đường), 8 chiếc F/A-18D, 13 chiếc F-5E/F và 25 máy bay tấn công Hawk.
Hiện, RMAF cũng muốn mua thêm 18 máy bay chiến đấu và 4 máy bay AEW. Các thương vụ khác bao gồm 4 máy bay vận tải quân sự của Airbus A400M và có thể cả các tên lửa không đối không tầm trung tiên tiến (AMRAAM). Mới đây, Hải quân Hoàng gia Malaysia (RMN) đã nhận hàng gồm hai tàu ngầm Scorpene-class liên doanh giữa Pháp và Tây Ban Nha, cùng 6 tàu tuần tra ngoài khơi (OPV) loại MIKO A100 do Đức thiết kế và 2 tàu khu trục nhỏ Lekiu-class của Anh.
Cuối cùng, quân đội Malaysia đang đặt mua 48 xe tăng chiến đấu PT-91M Twardy của Ba Lan, 15 phương tiện hỗ trợ, phương tiện chiến đấu trên bộ (IFV) của Thổ Nhĩ Kỳ và Hàn Quốc, cùng các hệ thống pháo tự hành từ Nam Phi và bệ phóng tên lửa đa năng ASTROS-II của Brazil.
Myanmar
Sau cuộc đảo chính quân sự năm 1988, Myanmar đã mở rộng lực lượng vũ trang Tatmadaw của mình về số lượng, lên tới 400.000 lính. Song, lực lượng này chủ yếu được cấu trúc và trang bị vũ khí cho các chiến dịch chống nổi dậy và kiểm soát quân sự trong nước. Hầu hết các đơn mua sắm vũ khí trong hai thập kỷ cuối của thế kỷ trước chủ yếu đặt của Trung Quốc (thiết giáp Type-69II, Type-63 và Type-85), trong khi nước này cũng tự sản xuất một lượng lớn thiết giáp hạng nhẹ BTR-3U theo mẫu thiết kế của Ukraine.
Không quân Myanmar cũng chủ yếu mua phi cơ chiến đấu của Trung Quốc, hiện có 60 chiếc F-7M và 42 chiếc A-5. Bên cạnh đó, họ đã mua máy bay phản lực huấn luyện/tấn công hạng nhẹ G4 Super Galeb của Nam Tư cũ và những phi cơ huấn luyện K-8 của Trung Quốc. Mới đây, Không quân cũng đã mua 10 chiếc MiG-29 của Nga thêm vào 20 chiếc đã có.
Hải quân Myanmar chủ yếu sở hữu các tàu hộ tống nhỏ cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Đơn đặt hàng ba chiếc tàu khu trục nhỏ đã không được thực hiện, tuy nhiên Myanmar đã tự sản xuất tàu khu trục Aung Zay Ya, được trang bị những ASCM C-802 của Trung Quốc và hiện đang tự chế tạo tàu hộ tống nhỏ của mình.
Singapore
Singapore đang bước vào "thế hệ thứ ba" (3G) trong lĩnh vực quân sự. Các lợi ích của Lực lượng vũ trang Singapore (SAF) trong sự chuyển đổi quốc phòng xuất phát từ ba nhân tố. Thứ nhất, quan niệm về các mối đe dọa phi thông thường - như khủng bố, hải tặc, tình trạng nổi dậy và bất ổn tại một nước láng giềng - kéo theo nhiều loại chiến tranh, như chiến tranh đô thị và sự cần thiết phải bảo vệ các cơ sở trọng yếu. Thứ hai, sự yếu kém về chiến lược truyền thống của Singapore là vì chưa có tầm chiến lược, một dân số nhỏ và già, cộng với các nguồn lực quốc phòng tương đối hạn chế.
Thứ ba, lực lượng lao động lành nghề và sức mạnh công nghệ thông tin, mà SAF coi là một lực đẩy quan trọng. Vì vậy, các nỗ lực chuyển đổi quốc phòng tập trung vào mua vũ khí mới, phát triển và hòa nhập với các loại công nghệ điều khiển và kiểm soát với hệ thống ISR và các loại vũ khí điều khiển từ xa chính xác. Hiện, SAF tập trung phát triển 3G trong các lĩnh vực như hệ thống tín hiệu điện tử, an ninh thông tin, hệ thống điều khiển tân tiến, chiến tranh điện tử, máy cảm ứng và các phương tiện không người lái.
Hải quân Cộng hòa Singapore (RSN) cũng đã được mở rộng đáng kể trong thập kỷ vừa qua. Đặc biệt mới đây, họ vừa đưa vào sử dụng 6 tàu khu trục Formidable-class chủ yếu nhằm kiểm soát các đường thông tin trên biển (SLOC) xung quanh Singapore, và sẽ được trang bị Harpoon ASCM và các tên lửa phòng không Aster-15 của Pháp, có khả năng tạo một lá chắn tên lửa đạn đạo. Quan trọng hơn, các tàu khu trục Formidable-class sẽ được trang bị loại máy cảm ứng tân tiến nhất và các hệ thống thông tin và xử lý chiến đấu. Bên cạnh các tàu khu trục mới, giữa những năm 1990, RSN cũng đã mua 4 tàu ngầm đã qua sử dụng của Thụy Điển, đổi tên là Challenger-class.
Năm 2009, Singapore nhận thêm 2 tàu ngầm Västergötland-class của Thụy Sĩ, đổi tên là Archer-class và trang bị thêm động cơ đẩy không dùng không khí (AIP), cho phép tàu lặn lâu hơn các loại tàu ngầm điện tử chạy bằng động cơ điện - diesel. Đây là tàu đầu tiên ở Đông Nam Á được trang bị AIP. Cuối cùng, RSN đã đưa vào sử dụng hai tàu sân bay Endurance-class, mỗi tàu có khả năng chở 350 lính, 18 xe tăng, 4 trực thăng và 4 sân bay.
Không quân Singapore (RSAF) được xếp vào loại tân tiến nhất Đông Nam Á. Trong thập kỷ qua, RSAF đã mua 74 chiếc F-16. Năm 2005, RSAF đã đặt mua 24 chiến đấu cơ F-15SG; 12 chiếc trong số này đã được giao hàng và đang đặt tại Mỹ để tập luyện. Bên cạnh đó là 9 máy bay tiếp dầu trực tiếp trên không. Hiện RSAF đang thay thế những máy bay E-2C Hawkeye AEW của mình bằng 4 chiếc Gulfstream G550, được trang bị Hệ thống kiểm soát và cảnh báo trên không (AWACS) Phalcon của Israel. Singapore cũng đặt mua 20 trực thăng tấn công AH-64D Apache Longbow.
Cuối cùng, Singapore là đối tác duy nhất ở Đông Nam Á của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm (JSF). RSAF có thể sẽ đặt mua khoảng một chục chiếc JSF nhằm thay thế hoặc nâng cấp những chiếc F-16 của mình. Ngoài ra, ngành công nghiệp quốc phòng của Singapore cũng rất phát triển. Nước này có thể tự sản xuất các loại vũ khí nhỏ, quân nhu cho bộ binh như các hệ thống pháo, đạn và súng trường.
Thái Lan
Cho đến gần đây, việc hiện đại hóa quân đội Thái Lan vẫn bị ngăn cản do chưa có cơ sở vững chắc. Theo thống kê của Tổ chức tình báo quốc phòng Australia (DIO), ngân sách quốc phòng của Thái Lan giảm hơn 30% trong những năm 1996 - 1999 do khủng hoảng tài chính châu Á. Tuy nhiên, ngay trước cuộc đảo chính tháng 9/2006, chi tiêu cho quân đội đã tăng vọt. Năm 2006, ngân sách quốc phòng đạt khoảng 2,4 tỷ USD khi Thủ tướng Thaksin Shinawatra thông qua kế hoạch hiện đại hóa lâu dài cho quân đội tổng trị giá 6,6 tỷ USD từ năm 2005-2015, cộng với khoản ngân sách quốc phòng hàng năm là 20 tỷ bạt (gần 700 triệu USD).
Việc trang bị vũ khí mới đã được tiến hành với những máy bay chiến đấu, trực thăng vận tải, xe tăng chiến đấu, APC, pháo tự hành, các hệ thống phòng không, các loại máy bay không người lái (UAV), tàu khu trục, OPV, máy bay tìm kiếm và cứu hộ (SAR)... đồng thời cải tiến mạng lưới kiểm soát, điều hành, thông tin, tình báo và vi tính hóa quân đội. Nói cách khác là mọi thứ.
Dù là một nước mạnh trong đất liền hơn, nhưng Thái Lan cũng rất quan tâm đến các lợi ích ngoài biển, trong đó có việc bảo vệ các mỏ dầu và khí đốt ngoài khơi, chống khủng bố, hải tặc và buôn bán bất hợp pháp tại các vùng lãnh hải của mình. Hải quân Hoàng gia Thái Lan (RTN) chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh bờ biển và các EEZ ngoài khơi. Mới đây, RTN đã mua mới và sử dụng nhiều tàu khu trục từ Mỹ và Anh, cũng như 2 chiếc OPV của Trung Quốc. RTN cũng muốn mua tàu ngầm nhưng ngân sách hiện chưa cho phép.
Hiện, RTN đang vận hành chiếc hàng không mẫu hạm duy nhất trong khu vực - nặng 10.000 tấn, loại Chakri Nareubet của Tây Ban Nha - được trang bị máy bay phản lực AV-8A Harrier và 6 trực thăng S-70B Seahawk đang được sử dụng của họ. Chiếc hàng không mẫu hàm này có nhiệm vụ bảo vệ vùng trời và tiến hành các chiến dịch chống tàu ngầm trong thời chiếc và khi gặp thảm họa trong thời bình. Kể từ khi Chakri Nareubet được chuyển giao cho RTN năm 1997, hàng không mẫu hạm này hầu như chỉ "ngủ" trong cảng vì chi phí vận hành cao, ngoài lần được huy động duy nhất trong các hoạt động cứu hộ sau vụ sóng thần ở Ấn Độ Dương ngày 26/12/2004.
Không quân Hoàng gia Thái Lan (RTAF) đã chịu đựng cảnh liên tiếp thiếu vốn sau cuộc khủng hoảng châu Á. Cuối những năm 1990, RTAF có ý định mua chiến đấu cơ F/A-18, nhưng đơn đặt hàng này đã bị hoãn lại vì khủng hoảng tài chính. Những nỗ lực sau này nhằm mua phiên bản "C/D" của F-16 cũng lại bị bỏ qua để nhường chỗ cho việc mua thêm những F-16A/B đã qua sử dụng. Tuy nhiên, năm 2007, RTAF cuối cùng đã quyết định mua 6 chiếc (sau này tăng lên 12) chiến đấu cơ Gripen của Thụy Điển. Các đơn mua hàng gần đây của quân đội Thái bao gồm súng trường TAR-21 của Israel, trực thăng M-17 của Nga, pháo xe tải CAESAR 155mm của Pháp, và xe bọc thép BTR-3E1 của Ukraine.
Việt Nam
Việt Nam có lợi ích rõ ràng trong việc bảo vệ các EEZ của mình trên biển và thúc đẩy việc đòi chủ quyền lãnh thổ ở quần đảo Trường Sa. Hải quân Việt Nam đang gia tăng đáng kể các khả năng quốc phòng trong những năm gần đây. Hải quân đã mua 3 tàu hộ tống nhỏ mới, được trang bị động cơ của Đức và các radar của Anh và Mỹ; cùng một chục tàu tuần tra cao tốc Svetlyak-class. Việt Nam cũng ký một thỏa thuận vũ khí lớn với Ba Lan năm 2005 về việc mua 10 máy bay tuần tra trên biển M-28 và 40 máy bay Su-22M. Bên cạnh đó, Việt Nam đang tự chế tạo 40 tàu tuần tra ngoài khơi nặng 400 tấn và 6 tàu tuần tra ven biển nặng 150 tấn.
Đặc biệt, Hải quân Việt Nam mới đây tuyên bố ý định mua 6 tàu ngầm Kilo-class chạy bằng động cơ điện - diesel của Nga trị giá 2 tỷ USD. Trong cùng thời gian này, Không quân Việt Nam là một lực lượng mạnh nhưng lạc hậu, chủ yếu sở hữu những chiếc MiG-21 và Su-22. Lực lượng này đã hiện đại hóa trong những năm 1990 bằng việc mua các chiến đấu cơ Sukhoi Su-27, và sau đó mua loại Su-30MKK đa năng hơn vào năm 2003, nhưng quá trình này vẫn còn chậm và khiêm tốn. Cho đến năm 2009, họ mới chỉ mua 12 chiếc Su-27 và 12 chiếc Su-30MKK. Gần đây, họ đã tuyên bố có thể mua thêm một chục chiếc Su-30.
PHẦN 2:
Năm 2009, Singapore nhận thêm 2 tàu ngầm Västergötland-class của Thụy Sĩ, đổi tên là Archer-class và trang bị thêm động cơ đẩy không dùng không khí (AIP), cho phép tàu lặn lâu hơn các loại tàu ngầm điện tử chạy bằng động cơ điện - diesel. Đây là tàu đầu tiên ở Đông Nam Á được trang bị AIP. Cuối cùng, RSN đã đưa vào sử dụng hai tàu sân bay Endurance-class, mỗi tàu có khả năng chở 350 lính, 18 xe tăng, 4 trực thăng và 4 sân bay.
Không quân Singapore (RSAF) được xếp vào loại tân tiến nhất Đông Nam Á. Trong thập kỷ qua, RSAF đã mua 74 chiếc F-16. Năm 2005, RSAF đã đặt mua 24 chiến đấu cơ F-15SG; 12 chiếc trong số này đã được giao hàng và đang đặt tại Mỹ để tập luyện. Bên cạnh đó là 9 máy bay tiếp dầu trực tiếp trên không. Hiện RSAF đang thay thế những máy bay E-2C Hawkeye AEW của mình bằng 4 chiếc Gulfstream G550, được trang bị Hệ thống kiểm soát và cảnh báo trên không (AWACS) Phalcon của Israel. Singapore cũng đặt mua 20 trực thăng tấn công AH-64D Apache Longbow.
Cuối cùng, Singapore là đối tác duy nhất ở Đông Nam Á của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm (JSF). RSAF có thể sẽ đặt mua khoảng một chục chiếc JSF nhằm thay thế hoặc nâng cấp những chiếc F-16 của mình. Ngoài ra, ngành công nghiệp quốc phòng của Singapore cũng rất phát triển. Nước này có thể tự sản xuất các loại vũ khí nhỏ, quân nhu cho bộ binh như các hệ thống pháo, đạn và súng trường.
Thái Lan
Cho đến gần đây, việc hiện đại hóa quân đội Thái Lan vẫn bị ngăn cản do chưa có cơ sở vững chắc. Theo thống kê của Tổ chức tình báo quốc phòng Australia (DIO), ngân sách quốc phòng của Thái Lan giảm hơn 30% trong những năm 1996 - 1999 do khủng hoảng tài chính châu Á. Tuy nhiên, ngay trước cuộc đảo chính tháng 9/2006, chi tiêu cho quân đội đã tăng vọt. Năm 2006, ngân sách quốc phòng đạt khoảng 2,4 tỷ USD khi Thủ tướng Thaksin Shinawatra thông qua kế hoạch hiện đại hóa lâu dài cho quân đội tổng trị giá 6,6 tỷ USD từ năm 2005-2015, cộng với khoản ngân sách quốc phòng hàng năm là 20 tỷ bạt (gần 700 triệu USD).
Việc trang bị vũ khí mới đã được tiến hành với những máy bay chiến đấu, trực thăng vận tải, xe tăng chiến đấu, APC, pháo tự hành, các hệ thống phòng không, các loại máy bay không người lái (UAV), tàu khu trục, OPV, máy bay tìm kiếm và cứu hộ (SAR)... đồng thời cải tiến mạng lưới kiểm soát, điều hành, thông tin, tình báo và vi tính hóa quân đội. Nói cách khác là mọi thứ.
Dù là một nước mạnh trong đất liền hơn, nhưng Thái Lan cũng rất quan tâm đến các lợi ích ngoài biển, trong đó có việc bảo vệ các mỏ dầu và khí đốt ngoài khơi, chống khủng bố, hải tặc và buôn bán bất hợp pháp tại các vùng lãnh hải của mình. Hải quân Hoàng gia Thái Lan (RTN) chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh bờ biển và các EEZ ngoài khơi. Mới đây, RTN đã mua mới và sử dụng nhiều tàu khu trục từ Mỹ và Anh, cũng như 2 chiếc OPV của Trung Quốc. RTN cũng muốn mua tàu ngầm nhưng ngân sách hiện chưa cho phép.
Hiện, RTN đang vận hành chiếc hàng không mẫu hạm duy nhất trong khu vực - nặng 10.000 tấn, loại Chakri Nareubet của Tây Ban Nha - được trang bị máy bay phản lực AV-8A Harrier và 6 trực thăng S-70B Seahawk đang được sử dụng của họ. Chiếc hàng không mẫu hàm này có nhiệm vụ bảo vệ vùng trời và tiến hành các chiến dịch chống tàu ngầm trong thời chiếc và khi gặp thảm họa trong thời bình. Kể từ khi Chakri Nareubet được chuyển giao cho RTN năm 1997, hàng không mẫu hạm này hầu như chỉ "ngủ" trong cảng vì chi phí vận hành cao, ngoài lần được huy động duy nhất trong các hoạt động cứu hộ sau vụ sóng thần ở Ấn Độ Dương ngày 26/12/2004.
Không quân Hoàng gia Thái Lan (RTAF) đã chịu đựng cảnh liên tiếp thiếu vốn sau cuộc khủng hoảng châu Á. Cuối những năm 1990, RTAF có ý định mua chiến đấu cơ F/A-18, nhưng đơn đặt hàng này đã bị hoãn lại vì khủng hoảng tài chính. Những nỗ lực sau này nhằm mua phiên bản "C/D" của F-16 cũng lại bị bỏ qua để nhường chỗ cho việc mua thêm những F-16A/B đã qua sử dụng. Tuy nhiên, năm 2007, RTAF cuối cùng đã quyết định mua 6 chiếc (sau này tăng lên 12) chiến đấu cơ Gripen của Thụy Điển. Các đơn mua hàng gần đây của quân đội Thái bao gồm súng trường TAR-21 của Israel, trực thăng M-17 của Nga, pháo xe tải CAESAR 155mm của Pháp, và xe bọc thép BTR-3E1 của Ukraine.
Việt Nam
Việt Nam có lợi ích rõ ràng trong việc bảo vệ các EEZ của mình trên biển và thúc đẩy việc đòi chủ quyền lãnh thổ ở quần đảo Trường Sa. Hải quân Việt Nam đang gia tăng đáng kể các khả năng quốc phòng trong những năm gần đây. Hải quân đã mua 3 tàu hộ tống nhỏ mới, được trang bị động cơ của Đức và các radar của Anh và Mỹ; cùng một chục tàu tuần tra cao tốc Svetlyak-class. Việt Nam cũng ký một thỏa thuận vũ khí lớn với Ba Lan năm 2005 về việc mua 10 máy bay tuần tra trên biển M-28 và 40 máy bay Su-22M. Bên cạnh đó, Việt Nam đang tự chế tạo 40 tàu tuần tra ngoài khơi nặng 400 tấn và 6 tàu tuần tra ven biển nặng 150 tấn.
Đặc biệt, Hải quân Việt Nam mới đây tuyên bố ý định mua 6 tàu ngầm Kilo-class chạy bằng động cơ điện - diesel của Nga trị giá 2 tỷ USD. Trong cùng thời gian này, Không quân Việt Nam là một lực lượng mạnh nhưng lạc hậu, chủ yếu sở hữu những chiếc MiG-21 và Su-22. Lực lượng này đã hiện đại hóa trong những năm 1990 bằng việc mua các chiến đấu cơ Sukhoi Su-27, và sau đó mua loại Su-30MKK đa năng hơn vào năm 2003, nhưng quá trình này vẫn còn chậm và khiêm tốn. Cho đến năm 2009, họ mới chỉ mua 12 chiếc Su-27 và 12 chiếc Su-30MKK. Gần đây, họ đã tuyên bố có thể mua thêm một chục chiếc Su-30.
PHẦN 2:
Đúng là nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đang ở trong “ngày hội mua sắm” các loại vũ khí thông thường tân tiến, và kế hoạch này được thúc đẩy bởi sự gia tăng tương ứng chi tiêu quốc phòng. Tuy nhiên, việc mua vũ khí này không trùng khớp với khái niệm một "cuộc chạy đua vũ trang" theo cách hiệu phổ biến từ trước tới nay, mà thực chất là quá trình hiện đại hóa lực lượng vũ trang khu vực và có thể làm thay đổi bản chất và đặc tính của các cuộc xung đột tiềm ẩn trong khu vực.
Rõ ràng Đông Nam Á đang trải qua một giai đoạn nở rộ mạnh mẽ các đơn đặt hàng mua vũ khí thông thường tân tiến. Điều này có nghĩa là gì? Một trong các cách giải thích dễ dãi nhất cho rằng hiện tượng này là mầm mống của một cuộc chạy đua vũ trang (CĐVT). Một cách giải thích khác: đây đơn giản là một phần của một quá trình tái vũ trang bình thường. Cách giải thích thứ ba và đúng hơn, là khu vực này đang trong thời điểm "năng động vũ khí", tức là một cuộc cạnh tranh về vũ khí, chưa phải là CĐVT, song nhiều hơn việc hiện đại hóa quân đội thông thường.
Mầm mống của chạy đua vũ trang?
Sẽ là quá đơn giản khi kết luận rằng quá trình mua vũ khí hiện nay ở Đông Nam Á là một "cuộc chạy đua vũ trang". Khái niệm CĐVT có những nét nghĩa của riêng nó: đó là một phần của chu kỳ "hành động - hành động đáp trả" của việc mua vũ khí. Nước A mua một phần mềm quân sự đặc biệt, nước B cũng mua nó, và cứ thế. Bên cạnh đó, các cuộc CĐVT tạo cho những nước tham gia một cái cớ khéo léo để biện hộ hành động của mình. Đơn giản là họ chạy theo một cái vòng luẩn quẩn không có lối thoát nào không làm tổn hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia.
Tuy nhiên, nếu gọi tiến trình mua sắm vũ khí hiện nay ở Đông Nam Á là một cuộc CĐVT mà không định nghĩa thế nào là CĐVT thì sẽ là một sự lừa gạt. Trên thực tế, nếu mô tả đơn giản chu kỳ hành động - hành động đáp lại trong mua sắm vũ khí là CĐVT thì quá ngây thơ, chẳng khác nào nói hai hoặc nhiều nước đang CĐVT vì họ đều mua vũ khí. Rõ ràng, để quá trình mua sắm này tạo thành một cuộc CĐVT, cần có nhiều yếu tố khác.
Theo Colin Grey, một cuộc CĐVT cần có bốn đặc điểm: một là sự tồn tại của từ hai bên trở lên, ý thức về sự đối đầu nhau; hai là các bên chủ ý cấu trúc lực lượng quân đội với một sự "ý thức đầy đủ" về các hành động chính trị và quân sự của bên kia; ba là, cuộc cạnh tranh giữa họ phải liên quan đến cả số lượng và chất lượng mua sắm vũ trang; và cuối cùng là mỗi bên phải tăng cường hoặc nâng cấp kho vũ khí của mình với một tốc độ "nhanh chóng". Gray nhấn mạnh cả bốn yếu tố này phải được thể hiện đầy đủ mới có thể khẳng định một quan hệ nào đó là cuộc CĐVT.
Đông Nam Á đang trải qua một giai đoạn nở rộ mạnh mẽ các đơn đặt hàng mua vũ khí thông thường tân tiến
Việc mua sắm vũ khí hiện nay của Đông Nam Á dường như phù hợp nhất với khái niệm một cuộc cạnh tranh vũ khí hay năng động vũ khí. Trong khi nhiều nước mua các vũ khí rất tinh vi, số vũ khí mua được lại không đủ lớn để ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự cân bằng quân sự trong khu vực (dù trường hợp Singapore có thể là ngoại lệ). Nhiều nước mua vũ khí chỉ để bảo vệ, như mua tàu để tuần tra vùng nước và đảm bảo quyền ở EEZ. Cuối cùng, phải ghi nhận rằng nhiều nước trong khu vực sở hữu ít vũ khí có thể có nguy cơ gây chiến tranh (ví dụ họ mua máy bay chiến đấu mới nhưng lại không trang bị cho nó vũ khí mới hoặc không trang bị các hệ thống điều hành/giám sát hiện đại).
Tuy nhiên, việc đưa các loại vũ khí mới vào quân đội và nâng cao khả năng của quân đội chưa từng thấy như hiện nay trong khu vực có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Dù không phải là một cuộc CĐVT, nhưng cuộc cạnh tranh vũ khí này vẫn có thể dẫn tới một môi trường an ninh không đảm bảo trong khu vực. Đặc biệt, việc mua sắm liên tục các loại vũ khí tân tiến có thể tạo ra một "thế tiến thoái lưỡng nan trong an ninh" truyền thống - tình huống trong đó các hành động mà một quốc gia làm có thể ảnh hưởng đến an ninh và ổn định của chính họ. Trong trường hợp này, việc mua sắm vũ khí của một nước, dù không có ý định đe dọa láng giềng của mình, cũng có thể khiến các nước gần đó lo ngại và cảm thấy bất an. Hành động đáp lại của các nước láng giềng nhằm "lấy lại" an ninh bằng cách cũng mua vũ khí tân tiến, chỉ làm gia tăng căng thẳng khu vực.
Hơn nữa, dù việc mua vũ khí chỉ nhằm bảo vệ nhưng cũng có thể bị coi là một mối đe dọa bởi chúng có thể được sử dụng trong các chiến dịch khi có xung đột. Cuối cùng, ngay cả khi việc đua nhau mua vũ khí không dẫn tới xung đột, chúng cũng có thể làm gia tăng sự bất an và nghi ngại giữa các quốc gia, và rốt cục gây tác động xấu tới an ninh toàn khu vực.
Tuy nhiên, dù không nhất thiết dẫn tới CĐVT, cuộc cạnh tranh vũ khí mới này có thể vẫn rất đắt đỏ và thậm chí bất cẩn. Tất nhiên, việc mua sắm vũ khí như vậy cần được xem là sự chuyển hướng ngân sách nhà nước vốn eo hẹp ra khỏi các nhu cầu xã hội khẩn cấp hơn như giáo dục, y tế và phát triển kinh tế. Song, cũng có lý khi đặt câu hỏi liệu một số trong những nước này có "cần" đến những vũ khí ngày càng tinh vi hơn như vậy không, nhất là khi ngân sách quốc phòng của họ rất hạn chế và lại cần rất nhiều tiền mới thực hiện được việc này.
Cuối cùng, một vấn đề tất yếu là liệu các nhà cung cấp vũ khí nước ngoài có bán các loại vũ khí nào đó - như tàu ngầm hiện đại hay tên lửa AMRAAM - cho các nước trong khu vực hay không khi việc bán các hệ thống vũ khí đó có thể được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực an ninh khu vực. Tất nhiên, các nhà cung cấp khó kiềm chế khi nghĩ đến sự phụ thuộc cao độ của các nước sản xuất vũ khí vào việc xuất khẩu vũ khí - nhất là với bán vũ khí cho châu Á- Thái Bình Dương. Hơn nữa, buôn bán vũ khí là ví dụ điển hình cho tình thế "tiến thoái lưỡng nan của người bị phụ thuộc": liệu Mỹ có quyết định không bán vũ khí cho Đông Nam Á hay không khi các nước khác như Pháp, Nga hay Trung Quốc sẵn lòng lấp vào chỗ trống này. Khách quan mà nói, hoàn toàn có thể lập luận rằng việc mua bán vũ khí như vậy giúp tăng cường an ninh và ổn định bằng cách củng cố liên minh quân sự và giúp đỡ lẫn nhau (như trường hợp phối hợp với các lực lượng của Mỹ trong nhiệm vụ gìn giữ hòa bình hay trong các chiến dịch chống hải tặc).
Kết luận
Nếu Đông Nam Á đang ở trong một sự năng động vũ khí, hiện tượng này có thể vẫn tác động xấu đến an ninh khu vực. Những khoản tiền khá lớn được chi cho mua sắm vũ khí, có thể vô hại trong tình hình quân sự hiện nay trong khu vực. Song việc huy động các vũ khí như vậy không phải không có nguy cơ gây lo ngại đối với an ninh khu vực, nhất là khi có sự kiện nào đó đẩy khu vực vào một cuộc xung đột. Mặt khác, cho rằng khu vực đang ở trong sự năng động vũ khí chứ không phải là một cuộc CĐVT đồng nghĩa với việc cho rằng tình hình không thể thay đổi và vấn đề phổ biến vũ khí trong khu vực là có thể giải quyết được. Nhưng ngược lại, một cuộc CĐVT có thể xuất hiện và trở thành một cái vòng luẩn quẩn không thể thoát ra, một sự năng động vũ khí không còn là cách duy trì nguyên trạng sự cân bằng quân sự, và như vậy nó có thể dễ dàng vượt quá giới hạn. Cái vòng luẩn quẩn này có thể bị phá vỡ hoặc giảm nhẹ, và chắc chắn chỉ các cường quốc trong khu vực mới có thể làm như vậy nếu họ muốn thế.
Quốc Thái theo FPRõ ràng Đông Nam Á đang trải qua một giai đoạn nở rộ mạnh mẽ các đơn đặt hàng mua vũ khí thông thường tân tiến. Điều này có nghĩa là gì? Một trong các cách giải thích dễ dãi nhất cho rằng hiện tượng này là mầm mống của một cuộc chạy đua vũ trang (CĐVT). Một cách giải thích khác: đây đơn giản là một phần của một quá trình tái vũ trang bình thường. Cách giải thích thứ ba và đúng hơn, là khu vực này đang trong thời điểm "năng động vũ khí", tức là một cuộc cạnh tranh về vũ khí, chưa phải là CĐVT, song nhiều hơn việc hiện đại hóa quân đội thông thường.
Mầm mống của chạy đua vũ trang?
Sẽ là quá đơn giản khi kết luận rằng quá trình mua vũ khí hiện nay ở Đông Nam Á là một "cuộc chạy đua vũ trang". Khái niệm CĐVT có những nét nghĩa của riêng nó: đó là một phần của chu kỳ "hành động - hành động đáp trả" của việc mua vũ khí. Nước A mua một phần mềm quân sự đặc biệt, nước B cũng mua nó, và cứ thế. Bên cạnh đó, các cuộc CĐVT tạo cho những nước tham gia một cái cớ khéo léo để biện hộ hành động của mình. Đơn giản là họ chạy theo một cái vòng luẩn quẩn không có lối thoát nào không làm tổn hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia.
Tuy nhiên, nếu gọi tiến trình mua sắm vũ khí hiện nay ở Đông Nam Á là một cuộc CĐVT mà không định nghĩa thế nào là CĐVT thì sẽ là một sự lừa gạt. Trên thực tế, nếu mô tả đơn giản chu kỳ hành động - hành động đáp lại trong mua sắm vũ khí là CĐVT thì quá ngây thơ, chẳng khác nào nói hai hoặc nhiều nước đang CĐVT vì họ đều mua vũ khí. Rõ ràng, để quá trình mua sắm này tạo thành một cuộc CĐVT, cần có nhiều yếu tố khác.
Theo Colin Grey, một cuộc CĐVT cần có bốn đặc điểm: một là sự tồn tại của từ hai bên trở lên, ý thức về sự đối đầu nhau; hai là các bên chủ ý cấu trúc lực lượng quân đội với một sự "ý thức đầy đủ" về các hành động chính trị và quân sự của bên kia; ba là, cuộc cạnh tranh giữa họ phải liên quan đến cả số lượng và chất lượng mua sắm vũ trang; và cuối cùng là mỗi bên phải tăng cường hoặc nâng cấp kho vũ khí của mình với một tốc độ "nhanh chóng". Gray nhấn mạnh cả bốn yếu tố này phải được thể hiện đầy đủ mới có thể khẳng định một quan hệ nào đó là cuộc CĐVT.
![]() |
Grant Hammond còn chính xác hơn Gray. Đối với Hammond, một cuộc CĐVT xảy ra khi (1) có một quan hệ song phương (2) trong đó mỗi bên xác định rõ rằng bên kia là địch thủ, (3) giữa hai bên có sự thù hận công khai và ở mức cao, (4) việc hoạch định về chính trị/quân sự của mỗi bên trực tiếp dựa trên khả năng và ý định của bên kia, (5) dẫn đến việc "gia tăng một cách bất thường và liên tục" trong chi tiêu quốc phòng và mua sắm vũ khí, (6) nhằm tìm cách chế ngự đối thủ của mình bằng sự hăm dọa. Một cuộc CĐVT như vậy sẽ làm rối loạn nghiêm trọng hoặc gây hại cho sự cân bằng về quân sự song phương cũng như trong khu vực, dẫn tới sự bất ổn và mất an ninh trong khu vực. Xét theo góc độ này, việc mua sắm các loại vũ khí thông thường tối tân có thể có một tác động không thuận đối với môi trường an ninh khu vực, nơi căng thẳng vốn đã cao. Nếu nhìn việc mua sắm vũ khí hiện nay ở Đông Nam Á theo cách hiểu này, thì chắc chắn đây không phải là một cuộc CĐVT. Trong khi các quốc gia trong khu vực đương nhiên có những mối thù lịch sử hoặc nghi ngại lẫn nhau, chúng lại không được thể hiện ra trong một tuyên bố về "sự đối đầu công khai ở mức cao", mà chỉ là sự đối đầu như giữa Thái Lan và Campuchia xung quanh ngôi đền cổ Preah Vihear. Nói cách khác, Đông Nam Á chưa bao giờ ổn định hơn hiện nay. Không hề có các cuộc xung đột lãnh thổ lớn, mà chỉ là các cuộc tranh chấp về các vùng chồng lấn EEZ và quần đảo Trường Sa.
Trên thực tế, cách giải thích hợp lý hơn, đó là các quốc gia Đông Nam Á đang tái vũ trang chống lại các cường quốc ngoài khu vực, đặc biệt là Trung Quốc. Hơn nữa, các nước này luôn tuyên bố quan hệ láng giềng thân thiện và mong muốn ứng xử quan hệ khu vực trên cơ sở không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và giải quyết hòa bình các tranh chấp. Tuyên ngôn này nghe có vẻ sáo rỗng, nhưng cũng không có bằng chứng nào để khẳng định rằng các nước trong khu vực đang "công khai và trực tiếp" quyết định mua sắm vũ khí dựa trên hành động hay ý định nào đó của các nước láng giềng, và cũng không có dấu hiệu nào cho thấy một nước Đông Nam Á nào đó đang có ý định tìm cách "chế ngự" nước khác thông qua "sự hăm dọa". Cuối cùng, quá trình mua sắm vũ khí hiện nay trong khu vực chỉ nên được mô tả là đang diễn ra "nhanh chóng" hoặc "rộng rãi": một số nước, như Malaysia, đã phải mất nhiều năm để kết thúc các thỏa thuận vũ khí, trong khi các nước khác, như Thái Lan và Indonesia, thường xuyên phải hoãn hoặc hủy các đơn đặt hàng vũ khí của mình vì eo hẹp tài chính hoặc tranh cãi hợp đồng.
Về số lượng cũng vậy, hầu hết các nước Đông Nam Á ít khi mua vũ khí để tích trữ. Ngoài Singapore, hầu hết các nước khác trong khu vực đang mua các vũ khí tân tiến hơn để thay thế cái đã lỗi thời; Thái Lan chẳng hạn, chỉ mua 12 chiến đấu cơ Gripen mới, Malaysia chỉ mua 18 chiếc Su-30MKM Flankers và Indonesia chỉ có 10 chiếc Sukhoi - hoàn toàn không phải là kiểu mua sắm ồ ạt. Hơn nữa, nhiều nước trong khu vực thậm chí không tham gia cái gọi là CĐVT này.
Brunei, Campuchia, Lào, Philippines và Đông Timor gần đây hầu như không mua một loại vũ khí mới nào. Các nước này chi tiêu cho quốc phòng rất hạn chế. Xét tổng thể, dù gần đây có sự gia tăng ngân sách quốc phòng của một số nước đơn lẻ, nhưng Đông Nam Á vẫn là khu vực chi rất ít cho lĩnh vực này. Năm 2008, ngân sách quốc phòng của toàn Đông Nam Á (600 triệu dân) còn ít hơn của riêng Hàn Quốc (49 triệu dân), với mức tương ứng là 18 tỷ USD và 24 tỷ.
Quá trình tái vũ trang thông thường?
Có thể lập luận rằng, khác với một cuộc CĐVT, các quốc gia Đông Nam Á đơn giản đang tham gia vào một quá trình bình thường và mang tính chu kỳ của việc thay mới thải cũ các trang thiết bị trong kho vũ khí của mình. Các hệ thống vũ khí lâu năm cần được thay thế khi chúng trở nên lỗi thời hoặc khi việc sử dụng chúng gây ra nguy hiểm cho người sử dụng. Hơn nữa, nếu việc tái vũ trang "mạnh" đến mức có vẻ như một cuộc CĐVT, thì đó chỉ là vì các nước này đang thực hiện các hợp đồng mua sắm vũ khí mà họ đã phải hoãn lại từ nhiều năm qua.
Hơn nữa, khu vực này cũng là một trong những thị trường thực sự mở và cạnh tranh đối với các nhà buôn bán vũ khí (không giống như Trung Quốc hoặc Ấn Độ hầu như chỉ mua vũ khí của Nga, hay Nhật Bản và Hàn Quốc hầu như trở thành thị trường "ruột" của ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ). Kết quả là các nhà cung cấp đã sẵn sàng bán mọi loại hệ thống vũ khí thông thường mà khu vực này cần, cộng với việc sẵn sàng chuyển giao công nghệ để thực hiện các hợp đồng bán vũ khí. Các hợp đồng "ngọt ngào" như vậy có thể tác động tới loại vũ khí mà quân đội các nước Đông Nam Á chọn mua, chứ không tùy thuộc vào các mối đe dọa hay đòi hỏi quân sự nào.
Sự năng động vũ khí?
Trở ngại lớn nhất đối với việc khái niệm hóa CĐVT là rất khó đưa ra định nghĩa chính xác: ít tình huống hội tụ đủ các tiêu chí để gọi là CĐVT. Tuy nhiên, gọi cuộc "đại hội mua sắm" vũ khí hiện nay ở Đông Nam Á là quá trình tái vũ trang thông thường cũng chưa làm hài lòng tất cả mọi người. Nó đã bỏ qua thực tế là các quốc gia này đang tham gia cái gì đó vượt xa hơn quá trình hiện đại hóa lực lượng vũ trang. Thực vậy, trong thập kỷ vừa qua, họ đã mở rộng khả năng của quân đội nước mình hơn nhiều trước đây, bao gồm các cuộc tấn công chính xác từ xa, tấn công dưới biển và trên không tầm xa, và trên tất cả là các khả năng mới liên quan đến các mạng lưới điều hành, kiểm soát, thông tin, vi tính, tình báo, giám sát và trinh thám. Ít nhất, các loại vũ trang mới hứa hẹn nâng cấp và hiện đại hóa đáng kể phạm vi chiến tranh trong khu vực. Chắc chắn, các lực lượng vũ trang Đông Nam Á đang mua các loại vũ khí chính xác và gây sát thương cao hơn, nâng cao hiểu biết chiến trường và điều hành cũng như kiểm soát, và tăng cường sự mau lẹ cũng như khả năng tác chiến của quân đội.
Các máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư (4G), những xe tăng chiến đấu hiện đại, hệ thống phóng rocket đa năng và vũ khí điều khiển từ xa (PGM), hay hệ thống tên lửa không đối không điều khiển từ xa... đã làm gia tăng đáng kể hỏa lực và hiệu quả chiến đấu. Việc mua mới các tàu ngầm (trang bị AIP) và các tàu chiến hiện đại, tàu đổ bộ, máy bay chiến đấu tiếp nhiên liệu trên không và máy bay vận tải... cũng đã mở rộng quy mô về lý thuyết của các hoạt động quân sự.
Như vậy, cuộc xung đột trong khu vực, nếu xảy ra, sẽ mang tính công nghệ cao hơn, nhanh hơn và với khoảng cách xa hơn, chính xác hơn và có thể mang tính hủy diệt hơn. Hơn nữa, một số lực lượng quân đội trong khu vực - nhất là Singapore và có thể Malaysia hay Indonesia - đang mua các loại vũ vũ khí mà nếu được sử dụng đồng thời có thể làm thay đổi cơ bản khái niệm và cách thức tiến hành chiến Xem ra, các nước trong khu vực đang sở hữu ngày càng nhiều những cái đòi hỏi phải "biến đổi" lực lượng vũ trang của mình. Trong khi các lý thuyết về CĐVT có xu hướng thổi phồng bản chất vốn đã bất ổn của việc mua sắm vũ khí kiểu anh có tôi cũng có, thì lập luận cho rằng đây là cuộc hiện đại hóa vũ trang lại không nói được tác động của việc đưa các khả năng mới vào bầu không khí địa chính trị. Việc mua sắm vũ khí như vậy không hoàn toàn trung tính, và nó cũng có thể ảnh hưởng tới an ninh khu vực. Nó có vẻ gần hơn với cách hiểu của Buzan và Herring về "sự năng động vũ khí".
Trên thực tế, cách giải thích hợp lý hơn, đó là các quốc gia Đông Nam Á đang tái vũ trang chống lại các cường quốc ngoài khu vực, đặc biệt là Trung Quốc. Hơn nữa, các nước này luôn tuyên bố quan hệ láng giềng thân thiện và mong muốn ứng xử quan hệ khu vực trên cơ sở không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và giải quyết hòa bình các tranh chấp. Tuyên ngôn này nghe có vẻ sáo rỗng, nhưng cũng không có bằng chứng nào để khẳng định rằng các nước trong khu vực đang "công khai và trực tiếp" quyết định mua sắm vũ khí dựa trên hành động hay ý định nào đó của các nước láng giềng, và cũng không có dấu hiệu nào cho thấy một nước Đông Nam Á nào đó đang có ý định tìm cách "chế ngự" nước khác thông qua "sự hăm dọa". Cuối cùng, quá trình mua sắm vũ khí hiện nay trong khu vực chỉ nên được mô tả là đang diễn ra "nhanh chóng" hoặc "rộng rãi": một số nước, như Malaysia, đã phải mất nhiều năm để kết thúc các thỏa thuận vũ khí, trong khi các nước khác, như Thái Lan và Indonesia, thường xuyên phải hoãn hoặc hủy các đơn đặt hàng vũ khí của mình vì eo hẹp tài chính hoặc tranh cãi hợp đồng.
Về số lượng cũng vậy, hầu hết các nước Đông Nam Á ít khi mua vũ khí để tích trữ. Ngoài Singapore, hầu hết các nước khác trong khu vực đang mua các vũ khí tân tiến hơn để thay thế cái đã lỗi thời; Thái Lan chẳng hạn, chỉ mua 12 chiến đấu cơ Gripen mới, Malaysia chỉ mua 18 chiếc Su-30MKM Flankers và Indonesia chỉ có 10 chiếc Sukhoi - hoàn toàn không phải là kiểu mua sắm ồ ạt. Hơn nữa, nhiều nước trong khu vực thậm chí không tham gia cái gọi là CĐVT này.
Brunei, Campuchia, Lào, Philippines và Đông Timor gần đây hầu như không mua một loại vũ khí mới nào. Các nước này chi tiêu cho quốc phòng rất hạn chế. Xét tổng thể, dù gần đây có sự gia tăng ngân sách quốc phòng của một số nước đơn lẻ, nhưng Đông Nam Á vẫn là khu vực chi rất ít cho lĩnh vực này. Năm 2008, ngân sách quốc phòng của toàn Đông Nam Á (600 triệu dân) còn ít hơn của riêng Hàn Quốc (49 triệu dân), với mức tương ứng là 18 tỷ USD và 24 tỷ.
Quá trình tái vũ trang thông thường?
Có thể lập luận rằng, khác với một cuộc CĐVT, các quốc gia Đông Nam Á đơn giản đang tham gia vào một quá trình bình thường và mang tính chu kỳ của việc thay mới thải cũ các trang thiết bị trong kho vũ khí của mình. Các hệ thống vũ khí lâu năm cần được thay thế khi chúng trở nên lỗi thời hoặc khi việc sử dụng chúng gây ra nguy hiểm cho người sử dụng. Hơn nữa, nếu việc tái vũ trang "mạnh" đến mức có vẻ như một cuộc CĐVT, thì đó chỉ là vì các nước này đang thực hiện các hợp đồng mua sắm vũ khí mà họ đã phải hoãn lại từ nhiều năm qua.
Hơn nữa, khu vực này cũng là một trong những thị trường thực sự mở và cạnh tranh đối với các nhà buôn bán vũ khí (không giống như Trung Quốc hoặc Ấn Độ hầu như chỉ mua vũ khí của Nga, hay Nhật Bản và Hàn Quốc hầu như trở thành thị trường "ruột" của ngành công nghiệp quốc phòng Mỹ). Kết quả là các nhà cung cấp đã sẵn sàng bán mọi loại hệ thống vũ khí thông thường mà khu vực này cần, cộng với việc sẵn sàng chuyển giao công nghệ để thực hiện các hợp đồng bán vũ khí. Các hợp đồng "ngọt ngào" như vậy có thể tác động tới loại vũ khí mà quân đội các nước Đông Nam Á chọn mua, chứ không tùy thuộc vào các mối đe dọa hay đòi hỏi quân sự nào.
Sự năng động vũ khí?
Trở ngại lớn nhất đối với việc khái niệm hóa CĐVT là rất khó đưa ra định nghĩa chính xác: ít tình huống hội tụ đủ các tiêu chí để gọi là CĐVT. Tuy nhiên, gọi cuộc "đại hội mua sắm" vũ khí hiện nay ở Đông Nam Á là quá trình tái vũ trang thông thường cũng chưa làm hài lòng tất cả mọi người. Nó đã bỏ qua thực tế là các quốc gia này đang tham gia cái gì đó vượt xa hơn quá trình hiện đại hóa lực lượng vũ trang. Thực vậy, trong thập kỷ vừa qua, họ đã mở rộng khả năng của quân đội nước mình hơn nhiều trước đây, bao gồm các cuộc tấn công chính xác từ xa, tấn công dưới biển và trên không tầm xa, và trên tất cả là các khả năng mới liên quan đến các mạng lưới điều hành, kiểm soát, thông tin, vi tính, tình báo, giám sát và trinh thám. Ít nhất, các loại vũ trang mới hứa hẹn nâng cấp và hiện đại hóa đáng kể phạm vi chiến tranh trong khu vực. Chắc chắn, các lực lượng vũ trang Đông Nam Á đang mua các loại vũ khí chính xác và gây sát thương cao hơn, nâng cao hiểu biết chiến trường và điều hành cũng như kiểm soát, và tăng cường sự mau lẹ cũng như khả năng tác chiến của quân đội.
Các máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư (4G), những xe tăng chiến đấu hiện đại, hệ thống phóng rocket đa năng và vũ khí điều khiển từ xa (PGM), hay hệ thống tên lửa không đối không điều khiển từ xa... đã làm gia tăng đáng kể hỏa lực và hiệu quả chiến đấu. Việc mua mới các tàu ngầm (trang bị AIP) và các tàu chiến hiện đại, tàu đổ bộ, máy bay chiến đấu tiếp nhiên liệu trên không và máy bay vận tải... cũng đã mở rộng quy mô về lý thuyết của các hoạt động quân sự.
Như vậy, cuộc xung đột trong khu vực, nếu xảy ra, sẽ mang tính công nghệ cao hơn, nhanh hơn và với khoảng cách xa hơn, chính xác hơn và có thể mang tính hủy diệt hơn. Hơn nữa, một số lực lượng quân đội trong khu vực - nhất là Singapore và có thể Malaysia hay Indonesia - đang mua các loại vũ vũ khí mà nếu được sử dụng đồng thời có thể làm thay đổi cơ bản khái niệm và cách thức tiến hành chiến Xem ra, các nước trong khu vực đang sở hữu ngày càng nhiều những cái đòi hỏi phải "biến đổi" lực lượng vũ trang của mình. Trong khi các lý thuyết về CĐVT có xu hướng thổi phồng bản chất vốn đã bất ổn của việc mua sắm vũ khí kiểu anh có tôi cũng có, thì lập luận cho rằng đây là cuộc hiện đại hóa vũ trang lại không nói được tác động của việc đưa các khả năng mới vào bầu không khí địa chính trị. Việc mua sắm vũ khí như vậy không hoàn toàn trung tính, và nó cũng có thể ảnh hưởng tới an ninh khu vực. Nó có vẻ gần hơn với cách hiểu của Buzan và Herring về "sự năng động vũ khí".
![]() |
Dù không phải là một cuộc CĐVT, nhưng cuộc cạnh tranh vũ khí này vẫn có thể dẫn tới một môi trường an ninh không đảm bảo trong khu vực.
Theo hai tác giả này, năng động vũ khí là trường hợp việc mua sắm vũ khí của hai nước không phải nhằm vượt trội hơn đối thủ mà chủ yếu để "duy trì nguyên trạng". Như vậy, việc mua sắm vũ khí hiểu trong năng động vũ khí, dù giống với một cuộc CĐVT, nhưng thực tế là một quá trình "không hề thay đổi" mà duy trì sự cân bằng về quân sự trong khu vực. Để phân biệt hiện tượng này với một cuộc CĐVT, có thể gọi đây là một "cuộc cạnh tranh vũ khí".
Việc mua sắm vũ khí hiện nay của Đông Nam Á dường như phù hợp nhất với khái niệm một cuộc cạnh tranh vũ khí hay năng động vũ khí. Trong khi nhiều nước mua các vũ khí rất tinh vi, số vũ khí mua được lại không đủ lớn để ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự cân bằng quân sự trong khu vực (dù trường hợp Singapore có thể là ngoại lệ). Nhiều nước mua vũ khí chỉ để bảo vệ, như mua tàu để tuần tra vùng nước và đảm bảo quyền ở EEZ. Cuối cùng, phải ghi nhận rằng nhiều nước trong khu vực sở hữu ít vũ khí có thể có nguy cơ gây chiến tranh (ví dụ họ mua máy bay chiến đấu mới nhưng lại không trang bị cho nó vũ khí mới hoặc không trang bị các hệ thống điều hành/giám sát hiện đại).
Tuy nhiên, việc đưa các loại vũ khí mới vào quân đội và nâng cao khả năng của quân đội chưa từng thấy như hiện nay trong khu vực có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Dù không phải là một cuộc CĐVT, nhưng cuộc cạnh tranh vũ khí này vẫn có thể dẫn tới một môi trường an ninh không đảm bảo trong khu vực. Đặc biệt, việc mua sắm liên tục các loại vũ khí tân tiến có thể tạo ra một "thế tiến thoái lưỡng nan trong an ninh" truyền thống - tình huống trong đó các hành động mà một quốc gia làm có thể ảnh hưởng đến an ninh và ổn định của chính họ. Trong trường hợp này, việc mua sắm vũ khí của một nước, dù không có ý định đe dọa láng giềng của mình, cũng có thể khiến các nước gần đó lo ngại và cảm thấy bất an. Hành động đáp lại của các nước láng giềng nhằm "lấy lại" an ninh bằng cách cũng mua vũ khí tân tiến, chỉ làm gia tăng căng thẳng khu vực.
Hơn nữa, dù việc mua vũ khí chỉ nhằm bảo vệ nhưng cũng có thể bị coi là một mối đe dọa bởi chúng có thể được sử dụng trong các chiến dịch khi có xung đột. Cuối cùng, ngay cả khi việc đua nhau mua vũ khí không dẫn tới xung đột, chúng cũng có thể làm gia tăng sự bất an và nghi ngại giữa các quốc gia, và rốt cục gây tác động xấu tới an ninh toàn khu vực.
Tuy nhiên, dù không nhất thiết dẫn tới CĐVT, cuộc cạnh tranh vũ khí mới này có thể vẫn rất đắt đỏ và thậm chí bất cẩn. Tất nhiên, việc mua sắm vũ khí như vậy cần được xem là sự chuyển hướng ngân sách nhà nước vốn eo hẹp ra khỏi các nhu cầu xã hội khẩn cấp hơn như giáo dục, y tế và phát triển kinh tế. Song, cũng có lý khi đặt câu hỏi liệu một số trong những nước này có "cần" đến những vũ khí ngày càng tinh vi hơn như vậy không, nhất là khi ngân sách quốc phòng của họ rất hạn chế và lại cần rất nhiều tiền mới thực hiện được việc này.
Cuối cùng, một vấn đề tất yếu là liệu các nhà cung cấp vũ khí nước ngoài có bán các loại vũ khí nào đó - như tàu ngầm hiện đại hay tên lửa AMRAAM - cho các nước trong khu vực hay không khi việc bán các hệ thống vũ khí đó có thể được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực an ninh khu vực. Tất nhiên, các nhà cung cấp khó kiềm chế khi nghĩ đến sự phụ thuộc cao độ của các nước sản xuất vũ khí vào việc xuất khẩu vũ khí - nhất là với bán vũ khí cho châu Á- Thái Bình Dương. Hơn nữa, buôn bán vũ khí là ví dụ điển hình cho tình thế "tiến thoái lưỡng nan của người bị phụ thuộc": liệu Mỹ có quyết định không bán vũ khí cho Đông Nam Á hay không khi các nước khác như Pháp, Nga hay Trung Quốc sẵn lòng lấp vào chỗ trống này. Khách quan mà nói, hoàn toàn có thể lập luận rằng việc mua bán vũ khí như vậy giúp tăng cường an ninh và ổn định bằng cách củng cố liên minh quân sự và giúp đỡ lẫn nhau (như trường hợp phối hợp với các lực lượng của Mỹ trong nhiệm vụ gìn giữ hòa bình hay trong các chiến dịch chống hải tặc).
Kết luận
Nếu Đông Nam Á đang ở trong một sự năng động vũ khí, hiện tượng này có thể vẫn tác động xấu đến an ninh khu vực. Những khoản tiền khá lớn được chi cho mua sắm vũ khí, có thể vô hại trong tình hình quân sự hiện nay trong khu vực. Song việc huy động các vũ khí như vậy không phải không có nguy cơ gây lo ngại đối với an ninh khu vực, nhất là khi có sự kiện nào đó đẩy khu vực vào một cuộc xung đột. Mặt khác, cho rằng khu vực đang ở trong sự năng động vũ khí chứ không phải là một cuộc CĐVT đồng nghĩa với việc cho rằng tình hình không thể thay đổi và vấn đề phổ biến vũ khí trong khu vực là có thể giải quyết được. Nhưng ngược lại, một cuộc CĐVT có thể xuất hiện và trở thành một cái vòng luẩn quẩn không thể thoát ra, một sự năng động vũ khí không còn là cách duy trì nguyên trạng sự cân bằng quân sự, và như vậy nó có thể dễ dàng vượt quá giới hạn. Cái vòng luẩn quẩn này có thể bị phá vỡ hoặc giảm nhẹ, và chắc chắn chỉ các cường quốc trong khu vực mới có thể làm như vậy nếu họ muốn thế.
























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét