QĐND Online - Trời xanh xanh thắm biển xanh xanh thắm những luống rau xanh của người lính đảo Trường Sa/Chúng tôi là bộ đội Trường Sa, xa quê hương vẫn nhớ cuốc nhớ cày/Như ngày nào An Tiêm tạo lập, gieo xuống đất những hạt giống yêu thương…Tạm biệt Trường Sa rồi mà những giai điệu của bài hát Chúng tôi là những An Tiêm của Trường Sa như vẫn còn đọng mãi trong tôi cùng sự cảm phục ý chí tự lực, tự cường, sự sáng tạo của những người lính trong tổ chức cuộc sống, bảo đảm hậu cần…
Vượt khó
Trước khi ra Trường Sa, tôi đã đọc rất kỹ Đảo chìm của Trần Đăng Khoa - một trong những tác phẩm rất hay nói về Trường Sa. Từng trang, từng trang hiện lên mồn một cuộc sống kham khổ nhưng đầy ý chí của bộ đội Trường Sa: nào là ngày 4 lít nước, nào là chỉ ngửi thấy mùi thịt hộp đã…kinh, nào là thiếu xà phòng, anh nào anh nấy đầu trọc như…sư cụ…Nhưng Trần Đăng Khoa viết Đảo chìm cách nay đã mấy chục năm. Giờ đây, cuộc sống ở Trường Sa, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, quân đội và sự nỗ lực vươn lên của những người lính, đã không còn dấu ấn kham khổ như xưa. Nhưng như thế không có nghĩa là không còn khó khăn vất vả. Năm ngoái, Đại tá Nguyễn Văn Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Chính trị Tổng cục Hậu cần được giao phụ trách kiểm tra, theo dõi, tổng hợp báo cáo tình hình công tác hậu cần, kỹ thuật trong chuyến công tác ra thăm và kiểm tra đảo. Đi tới từng điểm đảo, mỗi con số anh đọc lên, đều làm mọi người kinh ngạc và cảm phục.
Trước khi ra Trường Sa, tôi đã đọc rất kỹ Đảo chìm của Trần Đăng Khoa - một trong những tác phẩm rất hay nói về Trường Sa. Từng trang, từng trang hiện lên mồn một cuộc sống kham khổ nhưng đầy ý chí của bộ đội Trường Sa: nào là ngày 4 lít nước, nào là chỉ ngửi thấy mùi thịt hộp đã…kinh, nào là thiếu xà phòng, anh nào anh nấy đầu trọc như…sư cụ…Nhưng Trần Đăng Khoa viết Đảo chìm cách nay đã mấy chục năm. Giờ đây, cuộc sống ở Trường Sa, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, quân đội và sự nỗ lực vươn lên của những người lính, đã không còn dấu ấn kham khổ như xưa. Nhưng như thế không có nghĩa là không còn khó khăn vất vả. Năm ngoái, Đại tá Nguyễn Văn Thuận, nguyên Phó chủ nhiệm Chính trị Tổng cục Hậu cần được giao phụ trách kiểm tra, theo dõi, tổng hợp báo cáo tình hình công tác hậu cần, kỹ thuật trong chuyến công tác ra thăm và kiểm tra đảo. Đi tới từng điểm đảo, mỗi con số anh đọc lên, đều làm mọi người kinh ngạc và cảm phục.
"Đũa cả” dùng nhiều thập kỷ của bộ đội đảo Đá Đông
Điểm A đảo Đá Tây là một hòn đảo chìm giữa mênh mông sóng nước đại dương. Đất không có, nhà cửa chật chội, ấy vậy mà anh em vẫn trồng, thu hoạch được hơn 2000 kg rau xanh/ năm, nuôi hàng trăm con vịt, thu hàng ngàn quả trứng. Quân số khoẻ luôn trên 99.7%.
Đảo chìm Tiên Nữ nằm ở cực đông xa nhất của Tổ quốc, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt không kém; bộ đội làm những vườn rau nhỏ dạng “vườn treo Babilon”, cũng thu được gần 900 kg rau xanh mỗi năm. Ở đây, anh em còn tích cực thả lưới bắt cá, mỗi năm thu 300-400 kg cá biển. Và cũng như nhiều đảo khác, chó nuôi được rất nhiều, vừa để giữ đảo, vừa là nguồn thực phẩm “chất lượng cao”. Mỗi năm, cả đảo đã có tới hơn 200-250 kg thịt chó. Tính ra, số tiền tăng gia, đưa vào bữa ăn tính trên đầu người không hề nhỏ: hơn 1,3 triệu đồng/ người/ năm. Tính ra, cứ mỗi người lính có tới hơn 6 cái khay trồng rau, mỗi tháng 1,2 kg thịt chó/ người.
Đảo An Bang hàng chục năm trước còn vắng vẻ, chỉ có cát và dày đặc một lớp phân chim. Bây giờ đã tràn ngập màu xanh của cây, của rau, cho dù có lúc, sóng biển xô cao tận mái nhà. Mỗi năm, cả đảo thu hoạch hơn 4000 kg rau xanh, đánh bắt hơn 1200 kg cá biển, bình quân tiền tăng gia hơn 1,2 triệu đồng/ người.
Ở đảo Trường Sa Lớn, Thượng tá Nguyễn Xuân Phùng, đảo trưởng cho biết: mỗi năm, toàn đảo đã thu hoạch được gần 24 nghìn -25 nghìn kg rau, chế biến được hơn 3.500kg đậu phụ… Trên đảo Trường Sa đã đào được 10 giếng nước ngọt, không chỉ bảo đảm nhu cầu nước ngọt cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên đảo mà còn giúp đỡ cho bà con ngư dân khi cần.
Đảo Trường Sa Đông tuy là đảo nổi nhưng không rộng và nhiều đất màu như Trường Sa Lớn, nhưng “mùa nào thức ấy”, đủ chủng loại rau không khác gì một vùng rau chất lượng cao trong đất liền: rau muống, mùng tơi, cải xanh, bầu, bí, mướp đắng, thậm chí còn có dọc mùng, lá lốt, lá mơ... “Từ đầu năm 2009 đến nay, rau thu hoạch mỗi tháng thường tính bằng đơn vị tạ. Ban đầu chỉ có rau muống chịu được khí hậu nhưng nhờ khéo che chắn gió, muối biển và chăm sóc tốt, đến nay, mùa nào thức ấy, chúng tôi đã có đủ loại rau” – trung tá Vũ Quốc Cờ, chính trị viên đảo cho biết.
Sáng tạo
Ra Trường Sa, đi đâu cũng gặp dấu ấn sáng tạo của những người lính để vượt khó, tự lực tự cường, bảo đảm cuộc sống. Đảo Thuyền Chài, nơi hàng chục năm trước các nhà văn, nhà báo đã viết về sự thiếu thốn trăm bề thì nay không chỉ nhiều rau xanh, nhiều thịt chó mà còn có một “công cụ” tăng gia sản xuất rất hay: những khẩu “súng”…bắn cá! Gọi là “súng”, nhưng dụng cụ này được chế tạo rất đơn giản và sáng tạo, dựa trên nguyên lý và hoạt động của những chiếc “ná, nỏ” mà đồng bào dân tộc miền núi thường hay sử dụng.
Thân “súng” làm bằng gỗ lấy từ những thùng hàng, dây “cung” làm bằng cao su bện lại. Còn “đạn” là những thanh inox ngắn được mài nhọn. Súng dài gần 1 mét nhưng có thể bắn xa 5-6 mét. Bộ đội dùng để săn, bắn những con cá vào thềm san hô gần bờ, nhất là khi về đêm. Có khi, đứng trên bờ cũng có thể bắn được cá, con to nhất mà loại súng này hạ được lên tới gần 10 kg. Đại tá Nguyễn Văn Thuận nói với chúng tôi: khẩu súng bắn cá là một trong những dẫn chứng điển hình, sinh động nhất về sáng tạo trong công tác bảo đảm hậu cần tại chỗ của bộ đội Trường Sa. Đó không phải là một sự sáng tạo “cho vui” mà có ý nghĩa rất lớn. Có ở vị trí của những người tổ chức cung cấp bảo đảm hậu cần mới hiểu ở những nơi xa xôi, gian khổ như Trường Sa thì dù công tác bảo đảm của trên là đúng, đủ nhưng vẫn cần hậu cần tại chỗ càng nhiều bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu, vừa đảm bảo cuộc sống, vừa bảo đảm sức mạnh, khả năng chiến đấu tại chỗ.
Đảo trưởng đảo Trường Sa Đông, thiếu tá Đỗ Thế Tuyến được mọi người đặt cho biệt danh “kỹ sư nông nghiệp”. Ra Trường Sa Đông hai lần, Tuyến trăn trở vì đảo có nhiều cây, nuôi được nhiều động vật nhưng anh em vẫn thèm một tiếng gà cục tác. Thời tiết khắc nghiệt, gà vịt mang ra nuôi mười thì chết chín, con nào còn sống thì chỉ béo quay béo tròn, không chịu sinh sản. Làm thế nào để Trường Sa Đông nuôi được gà vịt thực sự là bài toán khó? Tuyến đọc sách mới vỡ ra phải nhân giống để chúng lớn lên trong nắng gió Trường Sa thì mới ổn! Nhưng ở Trường Sa đào đâu ra gà mẹ để ấp trứng. Thế là anh mày mò, chế ra “máy” ấp trứng rất đơn giản: đóng một chiếc thùng gỗ, bên dưới có thắp 4 ngọn đèn dầu và ống dẫn nhiệt đẩy nhiệt lên trên. Có “máy”, Tuyến nhờ anh em từ đất liền gửi ra hơn 30 quả trứng ấp thử. Tỷ lệ trứng đậu tới 70%. Lứa gà con đầu tiên ra đời, trưởng thành, sinh sản ngoài đảo, trở thành những con giống mới khoẻ mạnh, quen với thời tiết, khí hậu trên đảo. “Quân số” gà ngày một phát triển. Thành công, anh chuyển sang ấp cả vịt. Đến nay Trường Sa Đông đã rộn rã tiếng gà...
Những kỷ vật hậu cần từ quần đảo bão tố
Trở lại câu chuyện về Đại tá Nguyễn Văn Thuận. Ngày nào, các báo cáo của ông cũng được đoàn công tác và anh em phóng viên báo chí chăm chú lắng nghe với sự thích thú. Bởi nó không chỉ đầy ắp thông tin về nghị lực vượt khó của người lính mà ông Thuận còn có một “sáng kiến” rất hay. Đi tới đảo nào, ông cũng ngó nghiêng, kiếm tìm để “sưu tầm” những kỷ vật độc đáo về công tác Hậu cần của bộ đội Trường Sa. Ông bảo: những kỷ vật ấy là dẫn chứng sinh động chứng minh ý chí và sự sáng tạo của người lính; cùng với thời gian, nó sẽ “đi vào lịch sử”.
Đảo chìm Tiên Nữ nằm ở cực đông xa nhất của Tổ quốc, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt không kém; bộ đội làm những vườn rau nhỏ dạng “vườn treo Babilon”, cũng thu được gần 900 kg rau xanh mỗi năm. Ở đây, anh em còn tích cực thả lưới bắt cá, mỗi năm thu 300-400 kg cá biển. Và cũng như nhiều đảo khác, chó nuôi được rất nhiều, vừa để giữ đảo, vừa là nguồn thực phẩm “chất lượng cao”. Mỗi năm, cả đảo đã có tới hơn 200-250 kg thịt chó. Tính ra, số tiền tăng gia, đưa vào bữa ăn tính trên đầu người không hề nhỏ: hơn 1,3 triệu đồng/ người/ năm. Tính ra, cứ mỗi người lính có tới hơn 6 cái khay trồng rau, mỗi tháng 1,2 kg thịt chó/ người.
Đảo An Bang hàng chục năm trước còn vắng vẻ, chỉ có cát và dày đặc một lớp phân chim. Bây giờ đã tràn ngập màu xanh của cây, của rau, cho dù có lúc, sóng biển xô cao tận mái nhà. Mỗi năm, cả đảo thu hoạch hơn 4000 kg rau xanh, đánh bắt hơn 1200 kg cá biển, bình quân tiền tăng gia hơn 1,2 triệu đồng/ người.
Ở đảo Trường Sa Lớn, Thượng tá Nguyễn Xuân Phùng, đảo trưởng cho biết: mỗi năm, toàn đảo đã thu hoạch được gần 24 nghìn -25 nghìn kg rau, chế biến được hơn 3.500kg đậu phụ… Trên đảo Trường Sa đã đào được 10 giếng nước ngọt, không chỉ bảo đảm nhu cầu nước ngọt cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên đảo mà còn giúp đỡ cho bà con ngư dân khi cần.
Đảo Trường Sa Đông tuy là đảo nổi nhưng không rộng và nhiều đất màu như Trường Sa Lớn, nhưng “mùa nào thức ấy”, đủ chủng loại rau không khác gì một vùng rau chất lượng cao trong đất liền: rau muống, mùng tơi, cải xanh, bầu, bí, mướp đắng, thậm chí còn có dọc mùng, lá lốt, lá mơ... “Từ đầu năm 2009 đến nay, rau thu hoạch mỗi tháng thường tính bằng đơn vị tạ. Ban đầu chỉ có rau muống chịu được khí hậu nhưng nhờ khéo che chắn gió, muối biển và chăm sóc tốt, đến nay, mùa nào thức ấy, chúng tôi đã có đủ loại rau” – trung tá Vũ Quốc Cờ, chính trị viên đảo cho biết.
Sáng tạo
Ra Trường Sa, đi đâu cũng gặp dấu ấn sáng tạo của những người lính để vượt khó, tự lực tự cường, bảo đảm cuộc sống. Đảo Thuyền Chài, nơi hàng chục năm trước các nhà văn, nhà báo đã viết về sự thiếu thốn trăm bề thì nay không chỉ nhiều rau xanh, nhiều thịt chó mà còn có một “công cụ” tăng gia sản xuất rất hay: những khẩu “súng”…bắn cá! Gọi là “súng”, nhưng dụng cụ này được chế tạo rất đơn giản và sáng tạo, dựa trên nguyên lý và hoạt động của những chiếc “ná, nỏ” mà đồng bào dân tộc miền núi thường hay sử dụng.
Thân “súng” làm bằng gỗ lấy từ những thùng hàng, dây “cung” làm bằng cao su bện lại. Còn “đạn” là những thanh inox ngắn được mài nhọn. Súng dài gần 1 mét nhưng có thể bắn xa 5-6 mét. Bộ đội dùng để săn, bắn những con cá vào thềm san hô gần bờ, nhất là khi về đêm. Có khi, đứng trên bờ cũng có thể bắn được cá, con to nhất mà loại súng này hạ được lên tới gần 10 kg. Đại tá Nguyễn Văn Thuận nói với chúng tôi: khẩu súng bắn cá là một trong những dẫn chứng điển hình, sinh động nhất về sáng tạo trong công tác bảo đảm hậu cần tại chỗ của bộ đội Trường Sa. Đó không phải là một sự sáng tạo “cho vui” mà có ý nghĩa rất lớn. Có ở vị trí của những người tổ chức cung cấp bảo đảm hậu cần mới hiểu ở những nơi xa xôi, gian khổ như Trường Sa thì dù công tác bảo đảm của trên là đúng, đủ nhưng vẫn cần hậu cần tại chỗ càng nhiều bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu, vừa đảm bảo cuộc sống, vừa bảo đảm sức mạnh, khả năng chiến đấu tại chỗ.
Đảo trưởng đảo Trường Sa Đông, thiếu tá Đỗ Thế Tuyến được mọi người đặt cho biệt danh “kỹ sư nông nghiệp”. Ra Trường Sa Đông hai lần, Tuyến trăn trở vì đảo có nhiều cây, nuôi được nhiều động vật nhưng anh em vẫn thèm một tiếng gà cục tác. Thời tiết khắc nghiệt, gà vịt mang ra nuôi mười thì chết chín, con nào còn sống thì chỉ béo quay béo tròn, không chịu sinh sản. Làm thế nào để Trường Sa Đông nuôi được gà vịt thực sự là bài toán khó? Tuyến đọc sách mới vỡ ra phải nhân giống để chúng lớn lên trong nắng gió Trường Sa thì mới ổn! Nhưng ở Trường Sa đào đâu ra gà mẹ để ấp trứng. Thế là anh mày mò, chế ra “máy” ấp trứng rất đơn giản: đóng một chiếc thùng gỗ, bên dưới có thắp 4 ngọn đèn dầu và ống dẫn nhiệt đẩy nhiệt lên trên. Có “máy”, Tuyến nhờ anh em từ đất liền gửi ra hơn 30 quả trứng ấp thử. Tỷ lệ trứng đậu tới 70%. Lứa gà con đầu tiên ra đời, trưởng thành, sinh sản ngoài đảo, trở thành những con giống mới khoẻ mạnh, quen với thời tiết, khí hậu trên đảo. “Quân số” gà ngày một phát triển. Thành công, anh chuyển sang ấp cả vịt. Đến nay Trường Sa Đông đã rộn rã tiếng gà...
Những kỷ vật hậu cần từ quần đảo bão tố
Trở lại câu chuyện về Đại tá Nguyễn Văn Thuận. Ngày nào, các báo cáo của ông cũng được đoàn công tác và anh em phóng viên báo chí chăm chú lắng nghe với sự thích thú. Bởi nó không chỉ đầy ắp thông tin về nghị lực vượt khó của người lính mà ông Thuận còn có một “sáng kiến” rất hay. Đi tới đảo nào, ông cũng ngó nghiêng, kiếm tìm để “sưu tầm” những kỷ vật độc đáo về công tác Hậu cần của bộ đội Trường Sa. Ông bảo: những kỷ vật ấy là dẫn chứng sinh động chứng minh ý chí và sự sáng tạo của người lính; cùng với thời gian, nó sẽ “đi vào lịch sử”.
Trường Sa đã rộn rã tiếng gà
Vì vậy, ông Thuận không quản ngại vất vả, “cõng” tất cả những kỷ vật ấy mang về tận Hà Nội, rồi ông sẽ tặng cho Bảo tàng Hậu cần mới được thành lập. Nhờ những hiện vật này, toàn quân, rộng hơn là cả nước sẽ biết đến câu chuyện bộ đội Trường Sa đã vượt khó và sáng tạo như thế nào? Chúng tôi xin được ghi lại câu chuyện về một vài hiện vật. Ở đảo Đá Đông, thiếu tá Hoàng Minh Sơn, đảo trưởng đã gửi tặng Bảo tàng Hậu cần hiện vật là một chiếc…đũa cả. Nhưng đây không phải là một đũa cả bình thường mà nó to, dài, nhìn giống một con dao, lại “nhang nhác” một thanh gươm. Sơn lý giải: nắng, gió biển Trường Sa như thế này thì khó mà có loại đũa gỗ nào “trụ” lâu được. Anh em tự chế một mảnh nhôm đặc chủng, vừa dùng đảo cơm, lật cá khi rán, vừa có thể đảo rau, múc cơm…. Cái “đũa cả” này không rõ ai làm từ bao giờ, nhưng nghe nói đã được “lưu truyền” trên đảo hàng chục năm qua, đã gắn bó với bữa ăn của biết bao thế hệ người lính từng công tác trên đảo.
Còn ở đảo Phan Vinh, hiện vật mà những người lính gửi tặng đại tá Nguyễn Văn Thuận lại là một chiếc quạt điện chỉ có ở…Trường Sa bởi nó không thể…nhỏ hơn được nữa. Cái quạt này cũng có đầy đủ bộ phận như một chiếc quạt bình thường nhưng thân quạt chỉ nhỏ bằng quả quýt và cánh của nó thì là một miếng nhôm mỏng tang, y như 2 cái lá tre ghép lại. Cũng có công tắc, khi bật lên chỉ mát lơ phơ thoang thoảng.
“Thuyết trình” về sản phẩm độc đáo này, chủ nhân của nó, đại uý Đinh Trọng Bảy cho biết: thời tiết ở Trường Sa rất nóng, nhất là vào mùa hè, các đảo đều thiếu điện, nhất là những năm trước đây. Điện dùng sinh hoạt phải phát máy nổ, mỗi ngày 5 giờ (buổi trưa 2 giờ, buổi tối 3 giờ). Mặc dù anh em đã được cấp quạt loại tích điện nhưng cũng không đủ điện để dùng, để nạp. Thế là anh em đã chế ra loại quạt “mi-ni” của riêng mình. Cần quạt được lấy từ bát bếp dầu Trường Sa đã hư hỏng, không sử dụng được. Còn cánh quạt được lấy từ vỏ thịt hộp cắt nhỏ, uốn “tạo thế”. Dĩ nhiên là quạt sẽ chỉ sử dụng nguồn điện ắc quy khô. Vậy thì mô-tơ ở đâu ra? Anh em suy ngẫm rồi kiếm từ những chiếc ra-đi-ô hỏng, lấy luôn mô-tơ của nó thế vào. Những chiếc quạt như thế đã ra đời và gắn bó với anh em đảo Phan Vinh từ năm 1999 đến nay. Hiện nay, nhiều đảo khác anh em cũng làm loại quạt tự chế tương tự. Tuy nhiên, những “hậu duệ” quạt đời sau có được cải tiến linh hoạt hơn. Như ở đảo Tiên Nữ, anh em kiếm luôn quạt làm mát của máy vi tính đưa ra thế vào, khá là…hữu dụng.
Còn rất nhiều, rất nhiều câu chuyện sáng tạo của bộ đội Trường Sa mà chúng tôi chưa ghi hết được ra đây do khuôn khổ bài báo có hạn như: cách bảo quản thịt hộp, rau quả; cách bảo vệ, phương thức tổ chức một bữa ăn; “nghệ thuật” câu cá, dự trữ cá, ốc để cải thiện; bảo quản hạt giống, “công nghệ trồng rau”; “công nghệ” nuôi từng loại bò, lợn, gà, chó…trên đảo…Một Trường Sa thiếu thốn đến mức cơ cực đã lùi xa cho một Trường Sa trẻ đầy tự tin, nghị lực. Một Trường Sa chưa hết gian lao nhưng bằng sức trẻ, sự sáng tạo của người lính thì mọi gian khó sẽ luôn bị đẩy lùi và họ luôn vững vàng tay súng. Thật đúng như lời một bài hát: Chúng tôi là bộ đội Trường Sa, giữ biên cương và yêu lao động/Như cha ông thuở nào đi trước vừa đánh giặc vừa cày cuốc tăng gia…
Ghi chép của Nguyên Minh






















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét