Vào thập kỷ trước, Trung Quốc thúc đẩy các công ty của họ mở rộng với khẩu hiệu "tiến ra bên ngoài". Đến nay điều đó đang thực sự diễn ra.

Vài năm trước, hai giám đốc của một công ty dầu mỏ quốc tế làm việc muộn tại một văn phòng vắng vẻ tại Anh. Và rồi một phụ nữ Trung Quốc trẻ đẹp xuất hiện tại khu lễ tân.
Một người kể lại: "Cô ấy mặc đồ Gucci, trông quyến rũ lắm". Cô trao một bức thư từ Sinopec, một trong những tập đoàn năng lượng nhà nước khổng lồ của Trung Quốc, đề suất mua lại công ty dầu mỏ đó với giá hàng tỷ đô la.
Vị giám đốc đó nói thêm có phần tiếc nuối rằng sau đó cô ta đi ngay trên 1 chiếc xe mang biển địa phương (Anh) và không còn gặp lại nữa.
Không lâu sau đó, công ty của ông đã bị một công ty Trung Quốc khác mua lại. Kể từ đó, các công ty Trung Quốc tiếp cận các ông chủ phương Tây tại các hội thảo ở Toronto và Cape Town hay trong các cuộc đi dạo tại Scandinavi.
Các công ty khắp châu Âu cố gắng thu hút đầu tư từ Trung Quốc. Giới ngân hàng khắp thế giới thì đưa ra các công ty phương Tây sáng giá cho những hãng lớn của Trung Quốc mua lại.
Trong năm nay, 1/10 giá trị các thương vụ M&A quốc tế thuộc về các công ty tại Trung Quốc và Hồng Kông, bao gồm cả các khoản đầu tư vào dầu mỏ và các vụ mua lại lớn trong ngành công nghiệp, ví dụ như Geely mua lại hãng ô tô Volvo của Thụy Điển.
Vào thập kỷ trước, Trung Quốc thúc đẩy các công ty của họ mở rộng với khẩu hiệu "tiến ra bên ngoài". Đến nay điều đó đang thực sự diễn ra.
Những đợt mua sắm đầu tiên
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc thì ngày càng có nhiều thương vụ như vậy là điều đương nhiên. Tỷ lệ FDI của một nước đối với toàn thế giới, bao gồm các vụ mua lại doanh nghiệp và đầu tư mới của các công ty, thường sẽ phản ánh tiềm lực kinh tế của một quốc gia.
Năm 1914, Anh chiếm 45% FDI thế giới. Năm 1967, tỷ lệ đó của Hoa Kỳ chạm đỉnh ở mức 50%. Hiện nay tỷ lệ này của Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông và Macao) chỉ ở mức 6%.
Các công ty Trung Quốc đã niêm yết phần lớn là các doanh nghiệp nhà nước và chúng nằm trong số những công ty lớn nhất thế giới, chiếm tới hơn 1/10 giá trị thị trường chứng khoán toàn cầu nhưng hầu hết vẫn là những công ty thiên về nội địa.
Mức tiết kiệm cao của Trung Quốc sẽ càng thúc đẩy các vụ mua lại. Các công ty dư thừa tiền mặt còn ngân hàng dư thừa tiền gửi.
Hiện nay các khoản tiết kiệm này đang được tái chu chuyển sang các nước giàu qua các quỹ tài sản quốc gia (SWF) và ngân hàng trung ương bằng cách mua chủ yếu là trái phiếu như những nhà đầu tư gián tiếp.
Nhưng Trung Quốc có thể và có lẽ nên đa dạng hóa. Sự chuyển dịch đó sẽ được thúc đẩy bởi các mục đích chính trị của Trung Quốc: có được các đầu vào như nguyên liệu thô, lao động và đất đai; tăng cường chuyên môn kĩ thuật và thương mại; và xâm nhập vào các thị trường nước ngoài.
Thông báo chính thức về những thương vụ như vậy có gì đó thật khiên cưỡng. Các giám đốc người Trung Quốc vụng về khẳng định họ chỉ có mục đích thương mại. Các ông chủ phương Tây thì kêu gọi một kỷ nguyên mới của sự hợp tác.
Tuy nhiên những giao dịch này sẽ phần nào gặp khó khăn bởi sự khác biệt về văn hóa và phần nào bởi vai trò của nhà nước Trung Quốc. Đã có những thất bại xảy ra.
Vào năm 2005, Hãng dầu mỏ Trung Quốc CNOOC đã rút lại lời chào mua Công ty dầu mỏ Unocal tại California, sau khi có can thiệp từ giới chính trị Hoa Kỳ.
Năm 2009, Công ty khai khoáng Anh-Úc Rio Tinto đã rút khỏi một thương vụ bán cổ phần thiểu số cho Công ty kim loại Trung Quốc Chinalco. Những cổ đông của Rio đã phản đối vụ mua bán này và nhiều người cho rằng chính phủ Australia cũng vậy.
The Economist đã phỏng vấn một số giám đốc giấu tên của 11 công ty phương Tây mà đã bán cổ phần hay bán hẳn công ty cho các hãng Trung Quốc hoặc đã đàm phán (bàn bạc) để làm như vậy.
10 vụ trong số đó có trị giá hơn 1 tỷ đô la. Những điều mà họ nói sẽ cung cấp một cái nhìn thấu đáo về khả năng bành trướng ra nước ngoài của các công ty Trung Quốc và những việc làm thiếu minh bạch của các công ty nhà nước.
Ấn tượng mà họ tạo ra là một sự pha trộn giữa lo ngại về tham vọng và chuyên môn kỹ thuật của Trung Quốc cùng với đánh giá chuẩn xác về khả năng điều hành các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty Trung Quốc.
Quá trình đàm phán thường có 2 giai đoạn: giai đoạn marathon tại văn phòng của một ngân hàng đầu tư, thường là ở London, và giai đoạn sau là các chuyến thăm Trung Quốc đại lục hay Hồng Kông của giám đốc các hãng được mua lại.
Tại đó, họ sẽ được trông chờ đưa ra những bài thuyết trình tuyệt vời cho nhiều người nghe, dự tiệc chiêu đãi và nói chuyện thân mật, thường là ở những khách sạn mà do bên mua Trung Quốc làm chủ.
Hầu hết các vị khách đều ấn tượng với sự khéo léo của các công ty Trung Quốc. Cả 2 bên đều cố gắng để thiết lập mối quan hệ. Một GĐ người Anh nói rằng: "Cảm xúc và sự tin tưởng là rất quan trọng" bởi quyền lực trong các công ty Trung Quốc là rất độc đoán và không rõ ràng.
Các nhà đàm phán Trung Quốc thường dùng rượu để phá bỏ rào cản giữa 2 bên và cố gắng chiếm được lợi thế. Một GĐ người châu Âu cho đây là một chiến thuật phổ biến khi kể lại về những ngày say khướt ở một khách sạn khi bàn bạc về các điều khoản phụ trong hợp đồng. "Họ sẽ cho người cố chuốc bạn say… Tôi chắc họ sẽ gọi cả “các em” đến."
Hầu hết giám đốc các công ty mà Trung Quốc muốn mua lại đều cần một người phiên dịch. Đó là điều bạn nên lo lắng. Chủ tịch một công ty khai khoáng nói rằng ông ta đã thích cô phiên dịch viên của mình nhưng lại đùa rằng: "Cô ta rõ ràng là nội gián".
Hầu hết các giám đốc nói rằng họ tin tưởng chủ nhà. Nhưng không phải là tất cả. Một giám đốc người châu Âu nói rằng: "Họ biết mọi thứ về tôi" và "có 52 lượt truy cập vào máy tính nhà tôi từ Trung Quốc".
Một giám đốc khác đàm phán một thương vụ gây tranh cãi về tài nguyên thiên nhiên thì cảm thấy bầu không khí thật ngột ngạt. "Bạn phải tháo pin khỏi điện thoại di động bởi các căn phòng đều được cho là bị nghe trộm"
Cơ cấu quyền lực trong các công ty Trung Quốc khá bí ẩn đối với người ngoài, kể cả số ít những người phương Tây trong HĐQT của những công ty lớn do nhà nước hậu thuẫn.
Một giả thuyết phổ biến là các công ty này bị điều khiển bởi một thể chế song song của các cơ quan Đảng. Bí thư Đảng ủy trong một công ty không nhất thiết phải là Tổng giám đốc.
Mặc dù một giám đốc phương Tây nói rằng sự khác biệt này là rất rõ rệt ("Có những người trong đảng và những người làm một số chuyện khác"), hầu hết mọi giám đốc khác đều bị choáng ngợp trước số người mà họ gặp tại Trung Quốc.
Ông ta kể lại rằng một lần ông đến London 1 mình còn phía đối tác Trung Quốc thì có tới 30-40 người. "Tôi thật sự bị shock", ông cười nói.
Các cuộc họp tại Trung Quốc có thể có rất nhiều người tham dự, và mọi người thì ra vào liên tục. Một nhóm người chính đặt ra một số câu hỏi hay nhưng nhiều vị khách cho rằng họ thiếu quyền lực hoặc động lực để ra quyết định.

Vài năm trước, hai giám đốc của một công ty dầu mỏ quốc tế làm việc muộn tại một văn phòng vắng vẻ tại Anh. Và rồi một phụ nữ Trung Quốc trẻ đẹp xuất hiện tại khu lễ tân.
Một người kể lại: "Cô ấy mặc đồ Gucci, trông quyến rũ lắm". Cô trao một bức thư từ Sinopec, một trong những tập đoàn năng lượng nhà nước khổng lồ của Trung Quốc, đề suất mua lại công ty dầu mỏ đó với giá hàng tỷ đô la.
Vị giám đốc đó nói thêm có phần tiếc nuối rằng sau đó cô ta đi ngay trên 1 chiếc xe mang biển địa phương (Anh) và không còn gặp lại nữa.
Không lâu sau đó, công ty của ông đã bị một công ty Trung Quốc khác mua lại. Kể từ đó, các công ty Trung Quốc tiếp cận các ông chủ phương Tây tại các hội thảo ở Toronto và Cape Town hay trong các cuộc đi dạo tại Scandinavi.
Các công ty khắp châu Âu cố gắng thu hút đầu tư từ Trung Quốc. Giới ngân hàng khắp thế giới thì đưa ra các công ty phương Tây sáng giá cho những hãng lớn của Trung Quốc mua lại.
Trong năm nay, 1/10 giá trị các thương vụ M&A quốc tế thuộc về các công ty tại Trung Quốc và Hồng Kông, bao gồm cả các khoản đầu tư vào dầu mỏ và các vụ mua lại lớn trong ngành công nghiệp, ví dụ như Geely mua lại hãng ô tô Volvo của Thụy Điển.
Công nhân Trung Quốc ở châu Phi
Vào thập kỷ trước, Trung Quốc thúc đẩy các công ty của họ mở rộng với khẩu hiệu "tiến ra bên ngoài". Đến nay điều đó đang thực sự diễn ra.
Những đợt mua sắm đầu tiên
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc thì ngày càng có nhiều thương vụ như vậy là điều đương nhiên. Tỷ lệ FDI của một nước đối với toàn thế giới, bao gồm các vụ mua lại doanh nghiệp và đầu tư mới của các công ty, thường sẽ phản ánh tiềm lực kinh tế của một quốc gia.
Năm 1914, Anh chiếm 45% FDI thế giới. Năm 1967, tỷ lệ đó của Hoa Kỳ chạm đỉnh ở mức 50%. Hiện nay tỷ lệ này của Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông và Macao) chỉ ở mức 6%.
Các công ty Trung Quốc đã niêm yết phần lớn là các doanh nghiệp nhà nước và chúng nằm trong số những công ty lớn nhất thế giới, chiếm tới hơn 1/10 giá trị thị trường chứng khoán toàn cầu nhưng hầu hết vẫn là những công ty thiên về nội địa.
Mức tiết kiệm cao của Trung Quốc sẽ càng thúc đẩy các vụ mua lại. Các công ty dư thừa tiền mặt còn ngân hàng dư thừa tiền gửi.
Hiện nay các khoản tiết kiệm này đang được tái chu chuyển sang các nước giàu qua các quỹ tài sản quốc gia (SWF) và ngân hàng trung ương bằng cách mua chủ yếu là trái phiếu như những nhà đầu tư gián tiếp.
Nhưng Trung Quốc có thể và có lẽ nên đa dạng hóa. Sự chuyển dịch đó sẽ được thúc đẩy bởi các mục đích chính trị của Trung Quốc: có được các đầu vào như nguyên liệu thô, lao động và đất đai; tăng cường chuyên môn kĩ thuật và thương mại; và xâm nhập vào các thị trường nước ngoài.
Thông báo chính thức về những thương vụ như vậy có gì đó thật khiên cưỡng. Các giám đốc người Trung Quốc vụng về khẳng định họ chỉ có mục đích thương mại. Các ông chủ phương Tây thì kêu gọi một kỷ nguyên mới của sự hợp tác.
Tuy nhiên những giao dịch này sẽ phần nào gặp khó khăn bởi sự khác biệt về văn hóa và phần nào bởi vai trò của nhà nước Trung Quốc. Đã có những thất bại xảy ra.
Vào năm 2005, Hãng dầu mỏ Trung Quốc CNOOC đã rút lại lời chào mua Công ty dầu mỏ Unocal tại California, sau khi có can thiệp từ giới chính trị Hoa Kỳ.
Năm 2009, Công ty khai khoáng Anh-Úc Rio Tinto đã rút khỏi một thương vụ bán cổ phần thiểu số cho Công ty kim loại Trung Quốc Chinalco. Những cổ đông của Rio đã phản đối vụ mua bán này và nhiều người cho rằng chính phủ Australia cũng vậy.
The Economist đã phỏng vấn một số giám đốc giấu tên của 11 công ty phương Tây mà đã bán cổ phần hay bán hẳn công ty cho các hãng Trung Quốc hoặc đã đàm phán (bàn bạc) để làm như vậy.
10 vụ trong số đó có trị giá hơn 1 tỷ đô la. Những điều mà họ nói sẽ cung cấp một cái nhìn thấu đáo về khả năng bành trướng ra nước ngoài của các công ty Trung Quốc và những việc làm thiếu minh bạch của các công ty nhà nước.
Ấn tượng mà họ tạo ra là một sự pha trộn giữa lo ngại về tham vọng và chuyên môn kỹ thuật của Trung Quốc cùng với đánh giá chuẩn xác về khả năng điều hành các hoạt động kinh doanh quốc tế của các công ty Trung Quốc.
Quá trình đàm phán thường có 2 giai đoạn: giai đoạn marathon tại văn phòng của một ngân hàng đầu tư, thường là ở London, và giai đoạn sau là các chuyến thăm Trung Quốc đại lục hay Hồng Kông của giám đốc các hãng được mua lại.
Tại đó, họ sẽ được trông chờ đưa ra những bài thuyết trình tuyệt vời cho nhiều người nghe, dự tiệc chiêu đãi và nói chuyện thân mật, thường là ở những khách sạn mà do bên mua Trung Quốc làm chủ.
Hầu hết các vị khách đều ấn tượng với sự khéo léo của các công ty Trung Quốc. Cả 2 bên đều cố gắng để thiết lập mối quan hệ. Một GĐ người Anh nói rằng: "Cảm xúc và sự tin tưởng là rất quan trọng" bởi quyền lực trong các công ty Trung Quốc là rất độc đoán và không rõ ràng.
Các nhà đàm phán Trung Quốc thường dùng rượu để phá bỏ rào cản giữa 2 bên và cố gắng chiếm được lợi thế. Một GĐ người châu Âu cho đây là một chiến thuật phổ biến khi kể lại về những ngày say khướt ở một khách sạn khi bàn bạc về các điều khoản phụ trong hợp đồng. "Họ sẽ cho người cố chuốc bạn say… Tôi chắc họ sẽ gọi cả “các em” đến."
Hầu hết giám đốc các công ty mà Trung Quốc muốn mua lại đều cần một người phiên dịch. Đó là điều bạn nên lo lắng. Chủ tịch một công ty khai khoáng nói rằng ông ta đã thích cô phiên dịch viên của mình nhưng lại đùa rằng: "Cô ta rõ ràng là nội gián".
Hầu hết các giám đốc nói rằng họ tin tưởng chủ nhà. Nhưng không phải là tất cả. Một giám đốc người châu Âu nói rằng: "Họ biết mọi thứ về tôi" và "có 52 lượt truy cập vào máy tính nhà tôi từ Trung Quốc".
Một giám đốc khác đàm phán một thương vụ gây tranh cãi về tài nguyên thiên nhiên thì cảm thấy bầu không khí thật ngột ngạt. "Bạn phải tháo pin khỏi điện thoại di động bởi các căn phòng đều được cho là bị nghe trộm"
Cơ cấu quyền lực trong các công ty Trung Quốc khá bí ẩn đối với người ngoài, kể cả số ít những người phương Tây trong HĐQT của những công ty lớn do nhà nước hậu thuẫn.
Một giả thuyết phổ biến là các công ty này bị điều khiển bởi một thể chế song song của các cơ quan Đảng. Bí thư Đảng ủy trong một công ty không nhất thiết phải là Tổng giám đốc.
Mặc dù một giám đốc phương Tây nói rằng sự khác biệt này là rất rõ rệt ("Có những người trong đảng và những người làm một số chuyện khác"), hầu hết mọi giám đốc khác đều bị choáng ngợp trước số người mà họ gặp tại Trung Quốc.
Ông ta kể lại rằng một lần ông đến London 1 mình còn phía đối tác Trung Quốc thì có tới 30-40 người. "Tôi thật sự bị shock", ông cười nói.
Các cuộc họp tại Trung Quốc có thể có rất nhiều người tham dự, và mọi người thì ra vào liên tục. Một nhóm người chính đặt ra một số câu hỏi hay nhưng nhiều vị khách cho rằng họ thiếu quyền lực hoặc động lực để ra quyết định.
Các ngân hàng nhà nước của Trung Quốc, đã mở rộng ra nước ngoài, thường được mô tả như là những nhà cấp vốn bừa bãi cho sự bành trướng ra nước ngoài của Trung Quốc.
Buông rèm nhiếp chính
Buông rèm nhiếp chính
Sự mù mờ về quyền lực cũng được thể hiện bởi vai trò của những người đứng đầu trên danh nghĩa tại các công ty Trung Quốc. Có giám đốc thì thấy rằng đối tác của ông ta là một người rất quyền lực, bao quanh bởi các kẻ bợ đỡ.
"Bạn có thể cảm thấy sự tôn kính đối với người này. Khi ông ta nói không hề có bất kỳ ai xen vào". Tuy nhiên hầu hết những vị khách đến Trung Quốc đều nói về những người "bù nhìn", ví dụ như ở Sinopec:
"Có 2 chiếc ghế ở giữa cho bạn và ông ta ngồi .. Bạn nói những điều đã được chuẩn bị từ trước và rồi mọi người vỗ tay .. Các cô gái phục vụ trà .. Người cấp cao nhất không đàm phán. Ông ta chỉ chúc cho thương vụ may mắn."
Một giám đốc khác thì lại nói rằng chủ tịch của Huawei, một hãng thiết bị viễn thông, là một "quý ông tuyệt vời", người mà "chỉ biết dựa vào trợ lí của mình đề biết về các thông tin". Một ông chủ trong ngành tài nguyên thiên nhiên thì cho rằng chủ tịch của Minmetals, một hãng khai khoáng lớn của Trung Quốc, chỉ ở đó để "giữ nghi lễ".
Vậy thì ai mới là người đưa ra các quyết định? Một trợ lí sống ngoài Trung Quốc có thể là người đứng đầu cuộc hội đàm với các giám đốc cấp cao của phía đối tác.
Ảnh minh họa
Một GĐ phương Tây nói rằng Chinalco đã sử dụng một người khéo ứng xử có khả năng nói song ngữ tầm tuổi 40 trong vài ngày: và anh ta quả là "rất, rất giỏi". Nhưng tất cả các giám đốc được phỏng vấn (chỉ trừ một người) đều nghĩ rằng nhà nước nắm quyền kiểm soát tối cao.
Một giám đốc nói rằng "Bạn có thể cảm thấy được điều đó. Ở Trung Quốc bạn đang đàm phán với chính phủ, ở Ấn Độ bạn mới đàm phán với các công ty."
Tuy nhiên chính phủ không phải là một thể chế có thể lường trước được. Thông thường sẽ có vài hãng Trung Quốc cùng nhắm tới một mục tiêu.
Họ cạnh tranh để giành được sự hữu hảo của công ty phương Tây và trở thành "nhà thầu ưa thích" đối với các quan chức chính phủ nước nhà. Quá trình này có thể rất hỗn loạn.
Chủ tịch một công ty nói rằng ông ta đã đàm phán hàng tháng trời với một hãng khai mỏ Trung Quốc, bao gồm cả các chuyến thăm thực địa với hàng trăm nhân viên bên họ nhưng rồi thương vụ thất bại vì thiếu sự đồng thuận chính trị.
Cũng như vậy, các ngân hàng nhà nước của Trung Quốc (hiện đã mở rộng ra nước ngoài) thường được mô tả như là những nhà cấp vốn bừa bãi cho sự bành trướng ra nước ngoài của Trung Quốc.
Tuy nhiên ông chủ tịch trên nhớ lại về chuyến đi Cuba để gặp một giám đốc cấp cao của ngân hàng China Development Bank (cha người này dường như có mối quan hệ với gia đình Fidel Castro) và nhận được một thông điệp rõ ràng rằng thương vụ đang được cân nhắc.
Một giám đốc khác nói trong thương vụ với ZTE, một nhà sản xuất thiết bị viễn thông, ngân hàng nhà nước phải vật lộn mới được chính thức phê chuẩn. Ông ta nói các lãnh đạo ZTE đã phải có một vài “tác động” lên chính phủ trung ương.
Khi mà "nhà thầu ưa thích" đã được chọn thì có thể sẽ có thừa nguồn tín dụng rẻ. Một người liên quan tới thương vụ Rio nhớ lại cuộc họp với một ngân hàng ở Trung Quốc và đã bị choáng bởi sự bừa bãi của họ. "Họ nói rằng 'Phía các vị cần bao nhiêu tiền: 10 tỷ $ hay 20 tỷ $?'. Thật là không thể tin nổi."
Các nhà đàm phán của công ty được chọn thường có một vài quyền hạn để thay đổi các điều khoản của thỏa thuận nhưng các quyết định quan trọng phải chuyển tới Bắc Kinh.
Giám đốc một công ty được mua lại nói rằng trong buổi đấu giá một công ty dầu mỏ phương Tây, một tập đoàn nhà nước về năng lượng của Trung Quốc "đã phải hỏi ý kiến cấp bộ để đặt giá thầu".
Dù vậy tại những thời điểm quan trọng thì hệ thống phân cấp phiền phức này có thể lại mang tính quyết định.
Giám đốc một công ty dầu mỏ điều hành phiên đấu giá công ty của mình và 2 ứng viên còn lại là một công ty Ấn Độ và một công ty Trung Quốc (cả 2 đều là công ty nhà nước).
Ông kể lại rằng bên Ấn Độ "không có khái niệm về thứ trọng yếu" và bị vướng vào các tiểu tiết. Và cuối cùng họ đã đưa lại dự thảo hợp đồng với rất nhiều chỗ sửa đổi. Còn bên Trung Quốc thì không hề có bất cứ thay đổi nào và đã thắng thầu.
Mặc dù để tổ chức một cuộc đấu giá quốc tế thì một công ty Trung Quốc phải thông qua rất nhiều thủ tục nhưng khi thành công thì những ưu thế được hưởng là rất lớn.
Công ty sẽ được tiếp cận với nguồn tài chính giá rẻ và có thể không cần quan tâm tới giá cổ phiếu của họ nữa bởi cổ đông chính của họ là chính phủ. Các chính trị gia cũng có thể làm cho mọi thứ thuận lợi hơn nhiều.
PetroKazakhstan, một công ty Canada có các tài sản tại Trung Á, là mục tiêu của một công ty Nga. Vụ mua lại PetroKazakhstan của hãng CNPC (Trung Quốc) suôn sẻ là nhờ có chuyến viếng thăm của chủ tịch Hồ Cẩm Đào tới Astana, thủ đô của Kazakhstan.
Hệ thống nhà nước hậu thuẫn của Trung Quốc cũng có những điểm bất lợi. Một trong số đó là các chính phủ nước ngoài đang ngày càng thận trọng về những vụ mua lại của các công ty Trung Quốc.
Trong đó có Canada và Úc, từng là 2 thị trường cởi mở nhất trên thế giới trong việc kiểm soát doanh nghiệp. Một điểm bất lợi khác khó thấy hơn: đó là phương thức ra quyết định có thể dẫn tới việc các công ty Trung Quốc trả giá quá cao và sẽ phải vật lộn để hợp nhất với công ty mà họ mua.
Một vài giám đốc cảm thấy rằng những người mua Trung Quốc mặc cả rất khôn ngoan. Một người đã từng bán 4 công ty khai khoáng nói rằng những người mua Trung Quốc chẳng thua kém gì phương Tây.
Những người khác không ca tụng đến vậy. Để đạt được mục đích của việc thực hiện thương vụ mua lại thì một công ty Trung Quốc phải xây dựng được một đầu tầu khổng lồ.
Một vài người cho rằng những công ty TQ phải vật lộn để kiềm chế những ngân hàng đầu tư của họ. Một CEO châu Âu nói rằng "Họ đã không còn kiểm soát được tình hình". Trong tương lai, "tôi mong họ sẽ đàm phán tốt hơn vì chính lợi ích của họ"
Các hãng Trung Quốc cũng có nguy cơ đối mặt với các hậu quả về chính trị nếu họ thất bại. Một giám đốc châu Âu, dựa vào kinh nghiệm đã bán công ty của mình, nói rằng ý thức về sứ mệnh khiến họ trở nên "rất rõ ràng".
"Họ không thể chấp nhận việc mất hợp đồng". Một vị giám đốc châu Âu khác nói rằng đối tác Trung Quốc (bên mua) của họ phải vật lộn với thị trường chứng khoán phương Tây.
Nguyên tắc công bố thông tin ở đây là các sai lầm sẽ được đưa ra công khai và những tổ chức đầu tư khác nhau thì rất khó đoán trước.
Vì vậy mà những người mua Trung Quốc quan tâm hơn đến các công ty có một cổ đông lớn mà họ có thể đàm phán song phương. Dù vậy thì mua lại những công ty như thế này sẽ tốn kém hơn bởi họ đòi giá cao hơn.
Mức giá mà Trung Quốc chi trả thường được xem là không quan trọng: Vài tỷ đô la thì có ý nghĩa gì trong cả một kế hoạch lớn?
Nhưng thậm chí với cả các nước giàu có thì việc trả giá quá cao cho những tài sản nước ngoài một cách hệ thống là một ý tưởng tồi. Điển hình là các công ty Nhật Bản đã phải giảm bớt chi tiêu sau thời kỳ phung phí quá độ vào cuối những năm 80 và đầu những năm 90.
(Theo Economist)




















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét